NH̀N LẠI HAI CUỘC CHIẾN Ở VIỆT NAM

CUỘC CHIẾN 20 NĂM CHỐNG MỸ : 1955-1975


Một Khảo Luận Qua Các Tài Liệu

 

 
Trần Chung Ngọc
 
 
 
 
 

 

LTS : Sẽ thật là vô cùng ích kỷ nếu chỉ nhớ đến hận thù và chỉ nhắc những thiệt tḥi, những tủi nhục của một số người, không v́ lợi ích cho đất nước, mà bỏ qua những thiệt tḥi, những oan khiên của cả một số đông, chịu hy sinh cả đời để đổi lấy ngày vinh quang của dân tộc và sự thống nhất đất nước.

Thử nghĩ, Việt Nam đă có bao giờ đến Pháp hay Mỹ để tàn phá, gây hại, hay chọc giận những nước này, để rồi chịu đựng bom đạn hàng mấy chục năm chiến tranh, để lănh nhiều tai họa cho đến ngày nay, và để bị cái tôn giáo ác ôn của họ ngộ độc một phần dân tộc và gây chia rẽ măi măi trong đất nước nhỏ xíu này? Thế mà, than ôi, bây giờ có người c̣n hô hố "Ai thắng ai?", ư vui mừng rằng Mỹ đă thắng, v́ gần đây Việt Nam đă chịu để cho Mỹ b́nh thường hóa ngoại giao!

Thử nghĩ, những khổ cực hay tủi nhục khó tránh cho một số người, trong một giai đoạn hậu chiến (đổi đời, trại cải tạo, kinh tế mới,..) và hoàn cảnh đất nước bị cấm vận lúc bấy giờ, làm sao có thể so với mức độ và thời gian một số đông dân chúng ở cả hai miền chịu cảnh bị đốt nhà, bị tàn phá dưới 7 triệu tấn bom đạn, bị tiêu diệt mầm sống với 77 triệu lít chất độc Da Cam, bị đổ gạo, chịu bắt bớ, chịu đ̣n bọng, chịu đói khát trong lao tù, chịu tan tác gia đ́nh,... v́ ngoại nhân, và chịu đánh đập tra tấn ác độc ở những nhà tù thật kinh khiếp của chế độ Ngô Đ́nh.

Thử nghĩ, làm sao có thể đem cái nư "dân chủ, nhân quyền" của bọn lái buôn chính trị ra để đánh đổi với cái thắng lợi năm 1975 của của đất nước vang dội khắp địa cầu? Thế mà, có một số người đă nhẫn tâm muốn xóa bỏ lịch sử này, đă đánh giá sai lầm sự hy sinh vô giá của những anh hùng liệt sĩ, đă phê phán một cách tàn ác, vong ân bội nghĩa, rằng những hy sinh đó "vô nghĩa!" chỉ v́ quan niệm hưởng thụ cá nhân. Họ bi thảm hóa những bất toàn trong xă hội ngày nay để lập luận bội bạc những công ơn của các bậc cha ông ngày xưa.

Có những sự thật khiến cho ta đau ḷng, nhưng chính những sự thật đó lại có tác dụng giải thoát những vướng mắc trong đầu óc chúng ta v́ chúng ta chỉ nh́n các vấn đề đă bị méo mó biến dạng qua lăng kính của thiên kiến.

Đọc những cái nh́n về lịch sử cuộc chiến 20 năm qua từ những nhà trí thức khắp nơi mà GS Trần Chung Ngọc tóm gọn trong 2 phần của bài viết này, chúng tôi tin rằng bạn sẽ có nhiều suy nghĩ chính chắn hơn, cũng như chính tác giả đă suy nghĩ rất nhiều về giai đoạn đau thương này.(SH)

 

 

 

 

 

Tóm tắt Phần I.

 

Trong Phần I của bài “Nh́n Lại Hai Cuộc Chiến Ở Việt Nam http://sachhiem.net/TCN/TCNls/TCNls16.php, tôi đă chứng minh vài điểm sau đây:

1. Việt Nam là Cộng sản hay Quốc gia không phải là nguyên nhân của cuộc chiến thứ nhất, mà nguyên nhân chỉ là Pháp muốn trở lại để tái lập nền đô hộ trên đất nước Việt Nam và Việt Nam kháng chiến, thế thôi.

2. Giải pháp Quốc Gia của Pháp chỉ là mánh khóe vận động những người không Cộng sản thiếu hiểu biết chính trị, hoặc có thể thân Pháp, không biết rằng chiêu bài chống Cộng của Pháp chỉ để che đậy mục đích chính là tái lập thuộc địa của Pháp ở Việt Nam. : Giải pháp này do Vatican chủ trương đưa ra. Chính Đạo, Việt Nam Niên Biểu 1939-1975 – Tập A: 1939-1946 (Houston, TX: Văn Hóa, 1996), tr. 295.

3. Mỹ thực sự không quan tâm đến việc giúp Việt Nam, tất cả những hành động tự quyết của Mỹ ở Việt Nam chỉ là để phục vụ cho quyền lợi và đường hướng chính trị của Mỹ. Do đó, Mỹ đă quyết định đơn phương giúp Pháp đủ mọi thứ vũ khí, từ máy bay, xe thiết giáp, đại bác cho đến các loại súng nhỏ, tổng số lên tới 80% quân phí, trong mưu đồ tái lập nền đô hộ của Pháp ở Việt Nam bằng quân sự.  Không ai có thể nói là giúp Pháp tái lập nền đô hộ ở Việt Nam là giúp dân Việt Nam.

4. Trong triều đại Eisenhower, khi hai anh em ngoại trưởng và giám đốc CIA, John Foster Dulles và Allen Dulles, đều là người Ca-tô giáo, cùng với Hồng Y Spellman và Giáo hoàng Pius XII hoạch định chính sách Mỹ, Quân lực Mỹ đă dự định thả từ 1 tới 6 quả bom nguyên tử nặng 31 ngàn tấn xuống lực lượng Việt Nam. Lẽ dĩ nhiên, nếu kế hoạch này thực hiện th́ những nạn nhân của bom nguyên tử ở Điện Biên Phủ không chỉ là Cộng sản mà c̣n có (1/3) lính Quốc Gia và (2/3) lính Pháp trong đó. V́ vậy, Pháp và Anh đều phản đối kế hoạch này.

5. Mỹ đă đánh giá sai lầm Hồ Chí Minh v́ Mỹ cho rằng Hồ Chí Minh là tay sai theo lệnh của Nga Sô trong cuộc chiến chống Pháp, trong khi Mỹ không có một bằng chứng nào chứng tỏ như vậy nhưng cứ cho là như vậy. Mặt khác, chúng ta biết rằng ông Hồ đă viết 8 lá thư cho Tổng Thống và Ngoại Trưởng Mỹ mà nội dung chỉ là yêu cầu Mỹ ủng hộ tinh thần cho nền độc lập mới thu hồi của Việt Nam, nhưng Mỹ đă không trả lời và có những hành động đẩy ông Hồ về phía Cộng sản khi ông Hồ không có sự chọn lựa nào khác để thực hiện cuộc chiến đấu giành lại nền độc lập và thống nhất quốc gia.

Về chuyện này, giáo sư Loren Baritz viết trong cuốn “Backfire: Vietnam – The Myths that made us fight, the illusions that helped us lose, the legacy that haunts us today”, trang 343: “Có phải là v́ tiếc giá tiền của một con tem (để trả lời Hồ Chí Minh) Mỹ đă bắt buộc Hồ Chí Minh phải t́m sự giúp đỡ ở Moscow” (In saving the cost of a postage stamp did America force Ho Chi Minh to find help in Moscow?) và giáo sư hỏi: “Có đáng được ǵ không, với 50.000 lính Mỹ chết?” (Was it worth anything, including 50,000 dead American soldiers?)

6. Hiệp định Geneva không hề chia cắt đất nước làm hai miền riêng biệt Bắc và Nam. Vĩ tuyến 17 chỉ là một phân định tạm thời để hai bên, Pháp và Việt Minh, rút quân và người dân được tự do chọn lựa nơi ḿnh muốn sinh sống, chờ ngày Tổng Tuyển Cử vào năm 1956 để thống nhất đất nước bằng giải pháp chính trị. Có những luận cứ cho rằng Hiệp Định Geneva “có ư định” chia cắt đất nước vĩnh viễn, hoặc Trung Cộng và Nga Sô đều không muốn Việt Nam thống nhất. Đây là những luận cứ ngớ ngẩn v́ Nước Việt Nam của người Việt Nam, và quyền quyết định về đất nước là của Việt Nam, không phải quyền của bất cứ thế lực nào khác. Một luận điệu khác là chính quyền Ngô Đ́nh Diệm phản đối việc chia cắt đất nước, nhưng chính Ngô Đ́nh Diệm lại không thi hành điều khoản về việc tổ chức Tổng Tuyển Cử ghi trong Hiệp Định Geneve 1954 để thống nhất đất nước.

Vậy th́ tại sao lại xẩy ra cuộc chiến bất đắc dĩ kéo dài 20 năm để chống Mỹ. Chúng ta biết, về Hiệp Định Geneva, Mỹ tuyên bố:

“Mỹ sẽ tự kiềm chế không đe dọa hoặc dùng vơ lực để phá những thỏa hiệp trong Hiệp Định Geneva…

Trong trường hợp những quốc gia nay bị chia đôi ngoài ư muốn, chúng tôi sẽ tiếp tục t́m kiếm giải pháp thống nhất qua bầu cử tự do, giám sát bởi Liên Hiệp Quốc để bảo đảm là bầu cử được thi hành nghiêm chỉnh”. (1)

Mỹ tuyên bố như vậy, nhưng rồi Mỹ đă làm ǵ? Trong cuốn The United States In Vietnam: An Analysis In Depth Of The History Of America’s Involvement In Vietnam, hai Giáo sư đại học Cornell, George McTurnan Kahin và John W. Lewis, viết, trang 59:

“Tuy Mỹ nói rằng “sẽ tự kiềm chế, không đe dọa hay dùng vơ lực để phá những điều khoản Thỏa Hiệp” nhưng điều hiển nhiên chúng ta thấy ngay sau đó là Mỹ đă sửa soạn dùng mọi phương cách khác để ủng hộ chế độ Saigon [do Mỹ dựng lên] trong việc không tôn trọng những điều khoản trong Thỏa Hiệp” (2)

Vậy th́ v́ lư do ǵ mà Mỹ lại nuốt lời và trắng trợn can thiệp vào Việt Nam?

Có vài lư do chính yếu, tuy vô giá trị, chúng ta có thể nói không sợ sai:

- Thứ nhất, Mỹ đă dùng “cường quyền thắng công lư”. Từ xưa tới nay, Mỹ, v́ là một cường quốc bậc nhất trên thế giới về quân sự và kinh tế, nhất là sau Đệ Nhị Thế Chiến, nên Mỹ muốn làm ǵ th́ làm, bất chấp dư luận, bất chấp công lư, và bất chấp liêm sỉ, đạo đức, nói một đàng, làm một nẻo, nhưng bao giờ cũng nấp sau chiêu bài bảo vệ tự do, dân chủ, nhân quyền.

- Thứ nh́, Mỹ theo đuổi chính sách thực dân mới để phục vụ nền kinh tế Mỹ. Chính sách thực dân mới của Mỹ là chính sách đa phương (multilateral), ép mọi nước phải mở cửa (open door) để cho Mỹ và các cường quốc tự do vào khai thác tài nguyên, tự do giao thương, tiêu thụ hàng hóa và sử dụng nhân công rẻ, ở các nơi đây nền kinh tế của Mỹ chắc chắn chiếm ưu thế..

- Và thứ ba, huyền thoại về nước Mỹ là “một thị trấn trên một ngọn đồi” nh́n xuống tất cả các quốc gia khác, hay là một “cái đầu tầu” kéo cả thế giới theo sau, đă ăn sâu vào trong tâm khảm đa số người Mỹ theo Ki Tô Giáo, Ca-tô cũng như Tin lành, cho nên Mỹ tự cho là dân chủ, đạo đức nhất, nên phải truyền bá những thứ mà Mỹ tự tin, dù không đúng sự thật, trên thế giới.  

Lẽ dĩ nhiên tôi không có khả năng viết về tất cả những ǵ liên quan đến một cuộc chiến kéo dài trong 20 năm. Do đó tôi xin tự giới hạn trong một số chủ đề, xin quư vị đọc giả thông cảm. Phần tài liệu tham khảo chọn lọc cuối bài có thể giúp cho quư đọc giả nào muốn đào sâu vào những vấn đề xung quanh cuộc chiến mà ḿnh muốn biết.

 

Thực Chất Cuộc Can Thiệp Của Mỹ Vào Việt Nam.

 

Mỹ không có bất cứ một lư do chính đáng nào để can thiệp vào Việt Nam, một nước nhỏ, nghèo, chưa phát triển và không có bất cứ một khả năng nào có thể gây hại cho nước Mỹ. Do đó, việc Mỹ can thiệp vào Việt Nam là bất chấp dư luận, bất chấp cả công pháp quốc tế, nghĩa là dùng “cường quyền thắng công lư” của một cường quốc, tự cho Mỹ có quyền can thiệp vào bất cứ đâu mà Mỹ muốn, bất kể lư lẽ. Đó là thái độ của những kẻ côn đồ chuyên đi ăn hiếp, bắt nạt những kẻ yếu. Sau đây là vài tài liệu của chính người Mỹ nói về cuộc can thiệp của Mỹ vào Việt Nam.

Mỹ và những chính quyền tay sai đă đưa ra nhiều lư do để biện minh cho vai tṛ của Mỹ trong cuộc chiến Việt Nam. Nhưng giáo sư Mortimer Cohen đă có một nhận định rất chính xác về những lư do biện minh cho sự can thiệp vào Việt Nam của Mỹ trong cuốn From Prologue To Epilogue In Vietnam, Publisher Retriever Bookshop, N.Y., 1979, trang 208:

Trong 21 năm bị lôi cuốn vào Đông Dương, Chính Phủ Mỹ đă đưa ra những “lư do” về những hành động của ḿnh. Những lư do này vô giá trị. Lư do duy nhất mà Mỹ vào Đông Dương là để ngăn chận vùng này khỏi rơi vào tay Cộng Sản bằng một cuộc bầu cử, một cuộc cách mạng nội bộ... [nghĩa là dùng cường quyền xía vào chuyện nội bộ của Việt Nam] Và đó cũng đủ để gọi là lư do.

Thêm nhiều lư do. Và thêm nhiều lư do nữa. Chúng mọc lên như măng tháng 5. Trước khi chiến tranh Đông Dương chấm dứt, những lư do có thể chứa đầy một cuốn sách. Không lư do nào hợp lư.

Một trong những lư do Mỹ viện ra để biện minh cho chuyện Mỹ can thiệp vào Việt Nam là Mỹ đến Việt Nam v́ những mục đích cao thượng, chính đáng, để bảo vệ tự do dân chủ cho miền Nam Việt Nam, để ngăn chặn Cộng sản vô thần bành trướng. Nhưng thực ra có phải như vậy không?

Miền Nam nào yêu cầu Mỹ mang quân vào Việt Nam để bảo vệ tự do dân chủ cho miền Nam.? Như sẽ được chứng minh qua các tài liệu sau đây, Mỹ đă dựng lên miền Nam rồi tự tiện xâm lăng miền Nam, nói là để bảo vệ tự do dân chủ cho miền Nam, nhưng thực chất chỉ để chứng tỏ Mỹ, không như Pháp, có khả năng đánh bại du kích chiến, đồng thời duy tŕ uy tín,  ảnh hưởng và quyền lợi của Mỹ ở Á Châu. Ngoài ra Mỹ cũng c̣n những mục đích tôn giáo và kinh tế mà chúng ta sẽ nói tới sau.

Trong cuốn The Vietnam War and American Culture, Columbia University Press, 1991, của hai giáo sư John Carlos Rowe & Rick Berg, chúng ta có thể đọc đoạn sau đây, trang 72:

Bảo vệ sự “tự do” của người dân Việt Nam ư? Trong những tài liệu nội bộ (của Mỹ) những sự thực ác nghiệt về những mục đích của Mỹ về cuộc chiến tranh (ở Việt Nam) đă nói ra rơ ràng – không ǵ rơ hơn là trong một bản ghi của Thứ Trưởng Quốc Pḥng John McNaughton, viết thay cho Bộ Trưởng McNamara (với một bản sao chỉ để cho George Bundy đọc) về những mục đích chiến tranh của Mỹ: 70% để duy tŕ danh dự quốc gia của chúng ta, 20% để cho Nam Việt Nam khỏi bị Trung Quốc chiếm đóng, và 10% để cho người dân Việt Nam được hưởng một lối sống tốt hơn và tự do hơn. (4)

Chúng ta có thể thấy một đoạn tương tự trong cuốn Cuộc Chiến Bất Tận: Cuộc Đấu Thanh Của Việt Nam Để Giành Độc Lập (The Endless War: Vietnam.s Struggle For Independence, Columbia University Press, New York, 1989) Giáo Sư James P. Harisson viết, trang 4:

“Ngày 24 tháng 3, 1965, Thứ Trưởng Quốc Pḥng John T. McNaughton tuyên bố là trong khi thực ra chỉ có 10%  nỗ lực của Mỹ để giúp người dân Nam Việt Nam, 20% có mục đích giữ Nam VN (và những lănh thổ lân cận) khỏi rơi vào tay Trung Quốc, và phần lớn nhất, 70%, là để “tránh một cuộc thất bại nhục nhă của Mỹ.” (5)

Mỹ can thiệp vào Việt Nam nhưng không biết ǵ về lịch sử Việt Nam. Làm sao mà Việt Nam có thể rơi vào tay Trung Quốc được? Xét đến những hành động của Mỹ tại Việt Nam, cách đối xử của Mỹ đối với Việt Nam, những chiến dịch vô nhân đạo mà Mỹ tung ra ở Việt Nam, số thường dân thương vong ở Việt Nam v..v.. mà ngày nay chúng ta có rất nhiều tài liệu về tội ác chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam, tài liệu của chính Mỹ, th́ 10% để giúp dân Việt Nam không thể để trên cán cân đối với 90% có tính cách tàn phá, hủy diệt Việt Nam, và tuyệt đối không phải để bảo vệ tự do dân chủ hay tôn trọng nhân quyền của người dân Việt Nam. Chúng ta hăy đọc thêm vài tài liệu.

Cuốn Việt Nam: Sự Khủng Khoảng của Lương Tri  (Vietnam: Crisis of Conscience, Association Press, N.Y., 1967) viết bởi ba giới chức tôn giáo: Mục sư Tin Lành Robert McAfee Brown, Giáo sư Tôn Giáo Học, đại học Stanford; Linh mục Michael Novak, Giáo sư về Nhân Bản Học, đại học Stanford; và Tu sĩ Do Thái Abraham J. Heschel, giáo sư về đạo đức và huyền nhiệm Do Thái tại trường Thần Học Do Thái ở Mỹ, mở đầu bằng câu:

Những trang sách sau đây xuất sinh từ sự cùng quan tâm của chúng tôi rằng: quốc gia của chúng ta (Mỹ) bị lôi cuốn vào cuộc xung đột ở Việt Nam mà chúng tôi thấy không thể nào biện minh được trong ánh sáng thông điệp của các nhà tiên tri hay Phúc Âm của Giê-su ở Nazareth. (6)

Trong cuốn sách này, Mục sư Tin Lành Robert McAffee Brown viết, p. 67:

Ngay cả quyền hiện diện của chúng ta ở đó (Việt Nam) cũng bị chất vấn, trong ánh sáng của luật quốc tế, bởi những người có địa vị cao trong chính phủ của chúng ta, trong đó có các Thượng Nghị Sĩ Morse, Church, Gore, và Gruening. Nhưng ngay cả khi có quyền, bản chất những ǵ chúng ta đang làm ở Việt Nam cũng phải lên án. (7)

Mặt khác, trong thời điểm đó, hầu như toàn thể Đông Âu đều theo Cộng Sản, Cuba ở ngay sát nách Mỹ là Cộng Sản, và hai Cộng Sản lớn nhất là Nga và Tàu, tại sao Mỹ không chống Cộng ở những nơi đó mà lại đi chống ở một nước nghèo, nhỏ, xa xôi như Việt Nam, vừa mới giành được độc lập sau một cuộc chiến đấu gian khổ dài 9 năm, nhân dân mệt mỏi, tài nguyên kiệt quệ, và nhất là không có khả năng gây bất cứ sự nguy hại nào cho Mỹ?

Mục Sư Tin Lành Robert McAfee Brown viết trong cuốn Việt Nam: Sự Khủng Khoảng của Lương Tri  (Vietnam: Crisis of Conscience, Association Press, N.Y., 1967), trang 79:

Thật là khôi hài, ngay khi mà chúng ta nói rằng chúng ta phải “chặn đứng Cộng Sản” ở Việt Nam, th́ ở những nơi khác chúng ta lại sống chung với Cộng Sản, soạn thảo những hiệp ước với Nga Sô, mở rộng giao thương với Đông Âu, ủng hộ Tito ở Nam Tư. Ở những nơi khác, chúng ta rơ ràng quyết định là sống chung ḥa b́nh với Cộng Sản, và khuyến khích những xă hội Cộng Sản độc lập, không cần đến sự liên kết với nhau trong khối Cộng sản.(8)

Walter J. Rockler, nguyên công tố viên ṭa án xử tội phạm chiến tranh Nuremberg, đă viết như sau về quan niệm nhân quyền của Mỹ:

"Cái mà chúng ta gọi là quan tâm đến nhân quyền thật là lố bịch. Chúng ta đă thả xuống Việt Nam một số lượng bom gấp đôi số lượng bom mà các quốc gia liên hệ đến cuộc Đệ Nhị Thế Chiến thả lên đầu nhau. Trong cuộc chiến này, chúng ta đă giết hàng trăm ngàn thường dân. Ngay gần đây, chúng ta bảo trợ, huấn luyện và ủng hộ những đoàn quân địa phương của Guatamala, El Salvadore, và Nicaragua Contras ở Trung Mỹ, trong sự tàn sát ít nhất là 200 ngàn người..." (9)

Robert Scheer cũng viết như sau trên tờ Times:

"Chẳng phải là chúng ta có một lịch sử "diệt chủng" hay sao, mới đầu là thổ dân Mỹ, và sau là ở Việt Nam, khi quân đội Hoa Kỳ lùa những dân làng trung thành, hầu hết là Công Giáo, vào sống an toàn trong những Ấp Chiến Lược, trong khi biến những vùng Phật Giáo ở thôn quê Nam Việt Nam thành những vùng tự do thả bom một cách toàn diện?"  (10)

Chúng ta hăy đọc thêm vài nhận định của tướng lănh, chính khách Mỹ:

Tướng David Sharp, Nguyên Chỉ Huy Trưởng Thủy Quân Lục Chiến Mỹ, phát biểu, năm 1966:

“Tôi tin rằng nếu chúng ta đừng xía những bàn tay dơ bẩn, đẫm máu, nắm đầy đô-la, vào việc của những quốc gia trong Thế Giới Thứ Ba đầy những người thất vọng, bị khai thác, th́ những quốc gia này sẽ t́m ra giải pháp cho chính họ. Và nếu bất hạnh là cuộc cách mạng của những quốc gia này phải dùng đến bạo lực là v́ những người có của từ chối không chịu chia sẻ với những người không có bằng phương pháp ḥa b́nh nào, th́ những ǵ họ chiếm được sẽ là của chính họ, không phải là của kiểu Mỹ mà họ không muốn và nhất là không muốn bị nhét xuống cổ họng bởi người Mỹ.” (11)

Thượng Nghị Sĩ Wayne Morse, Đảng dân Chủ - Oregon, nhận định, năm 1967:

“Theo sự phán xét của tôi, chúng ta sẽ trở thành kẻ có tội v́ là sự đe dọa lớn nhất cho nền ḥa b́nh thế giới. Đó là một sự thực xấu xa, và người Mỹ chúng ta không thích đối diện với nó. Tôi thật không muốn nghĩ rằng một trang sử của Mỹ sẽ được viết ra liên quan đến chính sách vô pháp của chúng ta ở Đông Nam Á. (12)

 

Từ những tài liệu điển h́nh ở trên của chính những người Mỹ có chức vụ cao cấp trong tôn giáo, trong chính quyền, và các bậc trí thức khoa bảng trong các đại học Mỹ, chúng ta thấy Mỹ không có bất cứ một lư do nào chính đáng để có thể can thiệp vào Việt Nam. Nếu không có lư do nào chính đáng th́ bản chất cuộc can thiệp của Mỹ vào Việt Nam là một cuộc xâm lăng để cho những mục đích chính trị, kinh tế và tôn giáo của Mỹ. Và nếu đó là một cuộc xâm lăng th́ chuyện chống xâm lăng là chuyện đă thành nếp trong lịch sử Việt Nam với bao cuộc chiến thắng quân ngoại xâm. Do đó, không có ngày 30 tháng 4, 1975 th́ cũng sẽ có ngày 30 tháng 4 khác.

Thật vậy, chiến tranh Việt Nam chấm dứt nhưng 27 năm sau Daniel Ellsberg c̣n viết trong cuốn Secrets: A Memoir of Vietnam and the Pentagon Papers, Viking, 2002, p.255:

“Không làm ǵ có chiến tranh Đông Dương thứ nhất và thứ nh́, chỉ có một cuộc xung đột nối tiếp trong một phần tư thế kỷ..

Dùng ngôn từ thực tế, đứng về một phía (Mỹ), ngay từ đầu nó đă là một cuộc chiến của Mỹ: mới đầu là Pháp-Mỹ, sau đến toàn là Mỹ. Trong cả hai trường hợp, nó là một cuộc đấu tranh của người Việt Nam – không phải là tất cả người Việt Nam nhưng cũng đủ để duy tŕ cuộc đấu tranh – chống chính sách của Mỹ và những kinh viện, ủy nhiệm, kỹ thuật gia, hỏa lực, và cuối cùng, quân đội và phi công, của Mỹ.

Cuộc chiến đó không có ǵ là “nội chiến”, sau 1956 hay 1960, như nó đă không từng là nội chiến trong cuộc tái chiếm thuộc địa của Pháp được Mỹ ủng hộ. Một cuộc chiến mà trong đó một phía hoàn toàn được trang bị và trả lương bởi một quyền lực ngoại quốc – một quyền lực nắm quyền quyết định về bản chất của chế độ địa phương v́ những quyền lợi của ḿnh – th́ không phải là một cuộc nội chiến.

Bảo rằng chúng ta “xía vào” cái gọi là “đích thực là một cuộc nội chiến”, như hầu hết các tác giả Mỹ, và ngay cả những người có khuynh hướng tự do chỉ trích cuộc chiến cho rằng như vậy cho đến ngày nay, đơn giản chỉ là che dấu một sự thực đau ḷng hơn, và cũng chỉ là một huyền thoại như là luận điệu chính thức về một “cuộc xâm lăng từ miền Bắc”.

Theo tinh thần Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và theo những lư tưởng mà chúng ta công khai thừa nhận, đó là một cuộc ngoại xâm, sự xâm lăng của Mỹ.” (13)

Trong cuốn Chiến Tranh Việt Nam Và Văn Hóa Mỹ (The Vietnam War and American Culture, Columbia University Press, New York, 1991), hai Giáo sư đại học, John Carlos Rowe và Rick Berg, viết, trang 28-29:

Cho tới năm 1982 – sau nhiều năm tuyên truyền liên tục mà hầu như không có tiếng nói chống đối nào được phép đến với đại chúng – trên 70% dân chúng vẫn coi cuộc chiến (ở Việt Nam) “căn bản là sai lầm và phi đạo đức”, chứ không chỉ là “một lỗi lầm.”

Tưởng cũng nên nhớ lại vài sự kiện. Mỹ đă dính sâu vào nỗ lực của Pháp để tái chiếm thuộc địa cũ của họ, biết rằng kẻ thù là phong trào quốc gia của Việt Nam. Số tử vong vào khoảng nửa triệu. Khi Pháp rút lui, Mỹ lập tức hiến thân vào việc phá hoại Hiệp Định Genève năm 1954, dựng lên ở miền Nam một chế độ khủng bố, cho đến năm 1961, giết có lẽ khoảng 70000 “Việt Cộng”, gây nên phong trào kháng chiến mà từ 1959 được sự ủng hộ của nửa miền Bắc tạm thời chia đôi bởi Hiệp Định Genève mà Mỹ phá ngầm. Trong những năm 1961-62, Tổng thống Kennedy phát động cuộc tấn công thẳng vào vùng quê Nam Việt Nam với những cuộc thả bom trải rộng, thuốc khai quang trong một chương tŕnh được thiết kế để lùa hàng triệu người dân vào những trại (ấp chiến lược?) nơi đây họ được bảo vệ bởi những lính gác, giây thép gai, khỏi quân du kích mà Mỹ thừa nhận rằng được dân ủng hộ. Mỹ khẳng định là đă được mời đến, nhưng như tờ London Economist đă nhận định chính xác, “một kẻ xâm lăng là một kẻ xâm lăng trừ phi được mời bởi một chính phủ hợp pháp.” Mỹ chưa bao giờ coi những tay sai ḿnh dựng lên là có quyền hợp pháp như vậy, và thật ra Mỹ thường thay đổi những chính phủ này khi họ không có đủ thích thú trước sự tấn công của Mỹ hay t́m kiếm một sự dàn xếp trung lập được mọi phía ủng hộ nhưng bị coi là nguy hiểm cho những kẻ xâm lăng, v́ như vậy là phá ngầm căn bản cuộc chiến của Mỹ chống Nam Việt Nam. Nói ngắn gọn, Mỹ xâm lăng Nam Việt Nam, ở đó Mỹ đă tiến tới việc làm ngơ tội ác xâm lăng với nhiều tội ác khủng khiếp chống nhân lọại trên khắp Đông Dương. (14)

Noam Chomsky viết trong cuốn The Chomsky Reader, Edited by James Peck, năm 1984, dưới đầu đề Cuộc Xâm Lược Nam Việt Nam [The Invasion of South Vietnam]:

Cuộc xâm lược của Mỹ vào Nam Việt Nam là tiếp theo sự ủng hộ của chúng ta trong toan tính của Pháp tái chinh phục thuộc địa cũ, sự phá “quá tŕnh ḥa b́nh” năm 1954 [Hiệp định Geneva] của chúng ta, và một cuộc chiến tranh khủng bố chống dân chúng Nam Việt Nam.

Có một sự dàn xếp chính trị vào năm 1954, Hiệp định Geneva… Chúng ta tiến ngay vào việc phá ngầm Hiệp định, đặt ở Nam Việt Nam một chế độ hung bạo, khủng bố, lẽ dĩ nhiên là bác bỏ (với sự ủng hộ của chúng ta) cuộc tổng tuyển cử đă được dự phóng. Rồi chế độ đó trở thành một cuộc tấn công khủng bố chống dân chúng ở Nam Việt Nam, đặc biệt đối với lực lượng kháng chiến chống Pháp mà chúng ta gọi là Việt Cộng. Chế độ đó đă giết có thể vào khoảng 80000 (SH -tám chục ngàn người) khi mà John F. Kennedy lên làm Tổng Thống năm 1961.

Trong những năm 1961 và 1962 Kennedy khởi sự một cuộc chiến chống Nam Việt Nam. Có nghĩa là, trong 1961 và 1962 , không lực Mỹ bắt đầu bỏ bom và trải thuốc khai quang rộng răi ở Nam Việt Nam, nhắm trước hết vào những vùng nông thôn mà 80% dân chúng sống trong đó. Đây là một phần của chương tŕnh lùa nhiều triệu người dân vào trong những trại tập trung mà chúng ta gọi là “ấp chiến lược” nơi đó họ bị bao vây bởi các lính canh gác và giây thép gai, được “bảo vệ”, như chúng ta nói vậy, trước quân du kích mà chúng ta thừa nhận rằng người dân tự nguyện ủng hộ. Đây là điều mà chúng ta gọi là “xâm lược” hay “tấn công bằng vũ khí” khi một nước nào đó làm như vậy. Chúng ta gọi đó là “tự vệ” khi chúng ta làm như vậy. (15)

Và trong cuốn The Vietnam Wars: 1945-1990, Marilyn B. Young cũng để cả một chương, chương 8, để viết về “Cuộc Xâm Lăng của Mỹ vào Nam Việt Nam” (The American Invasion of South Vietnam).

 

Từ những tài liệu trên của chính những tác giả Mỹ gồm đủ mọi thành phần trí thức trong xă hội Mỹ, thật rơ ràng là Mỹ đă dùng “cường quyền thắng công lư” để xâm lăng Việt Nam trong khi Việt Nam không có bất cứ một khả năng nào để có những hành động xâm hại đến nước Mỹ. Do đó cuộc chiến 20 năm, 1955-1975 đích thực là một cuộc chống Mỹ xâm lăng. Sau đây, chúng ta hăy t́m hiểu tŕnh tự xâm lăng của Mỹ vào Việt Nam như thế nào.

Nghiên cứu kỹ vấn đề, chúng ta thấy cuộc xâm lăng của Mỹ vào Nam Việt Nam có nguồn gốc từ chính nền văn hóa của Mỹ. Sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam là sự hội tụ của 3 yếu tố: chính trị, thần học Ki-tô Giáo, và kinh tế. Những yếu tố này đan quyện với nhau tạo thành chính sách và hành động của Mỹ, không riêng ǵ ở Việt Nam mà c̣n ở trên khắp thế giới.

 

A. Yếu Tố Chính Trị.

Dựng lên chế độ Ngô Đ́nh Diệm ở miền Nam, không thi hành khoản Tổng Tuyển Cử qui định vào năm 1956 trong Hiệp Định Geneva và xâm hại Bắc Việt:

Trước hết, vào năm 1954, sau khi cố gắng giúp Pháp với 80% quân phí để tái lập nền đô hộ ở Việt Nam bị thất bại, ngay từ khi Hiệp Định Geneva chưa được kư kết, Mỹ đă có kế hoạch can thiệp vào Việt Nam: 1) Đưa Ngô Đ́nh Diệm về làm tay sai, dựng lên một chính quyền miền Nam để chống Cộng cho Mỹ, và 2) phá ngầm Bắc Việt, gửi đại tá CIA Edward Geary Lansdale ra ngoài Bắc để phá hoại, tuyên truyền, và khai thác sự mê tín của giáo dân Ca-tô để kéo họ vào Nam làm hậu thuẫn cho Ngô Đ́nh Diệm. Cả hai kế hoạch này đều thất bại như chúng ta sẽ thấy trong một phần sau.

Nếu Pháp gọi Bảo Đại từ Hồng Kông về để lập nên một chính phủ độc lập trên h́nh thức và mang tên “Quốc Gia Việt Nam” (Marilyn B. Young, The Vietnam Wars: 1945-1990, p. 42), dùng người Việt đánh người Việt để che đậy nỗ lực tái lập thuộc địa của Pháp nấp sau chiêu bài  thánh chiến chống Cộng (Boettcher, The Valor and the Sorrow, p. 80), th́ Mỹ cũng đưa Ngô Đ́nh Diệm về, đẻ ra một đứa con ở miền Nam mang cùng tên “Quốc Gia Việt Nam” để che đậy chính sách “cường quyền thắng công lư” và “thực dân mới” của Mỹ.

Mỹ chọn Diệm v́ Mỹ biết Diệm là một tín đồ Ca-tô cuồng tín, qua sự khảo xát của Hồng Y Spellman, Ngoại Trưởng John Foster Dulles và một số nhân vật Ca-tô trong chính quyền Mỹ, hăng say chống Cộng cho Chúa, thực ra là cho Giáo hoàng Pius XII, v́ năm 1949, Giáo hoàng đă ra sắc lệnh tuyệt thông mọi tín đồ hợp tác với Cộng sản, bỏ phiếu bầu cho người Cộng sản, đọc sách báo của Cộng sản v…v.. Ngày nay chúng ta biết rằng vạ tuyệt thông chẳng qua chỉ là cái tṛ hù dọa trẻ con vô tác dụng, nhưng đối với các tín đồ cuồng tín Ca-tô mê mẩn về một cái bánh vẽ trên trời th́ đó là một lưỡi gươm treo trên đầu họ. Mỹ cũng biết thành tích của Ca-tô Giáo Việt Nam trong cuộc xâm lăng của Pháp cho nên có thể tin cậy người Ca-tô trong cuộc thánh chiến chống Cộng của Mỹ. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, quân đội Pháp chỉ có thể cảm thấy an toàn trong các khu vực Ca-tô. Và sau này cũng vậy, Mỹ chỉ có thể tin tưởng ở người Ca-tô, những người v́ một đức tin mù quáng tôn giáo, sẵn sàng làm tay sai cho những ngoại nhân.

 

I. Lá bài Ngô Đ́nh Diệm.

Trong bài “Vài Nét Về Cụ Diệm” trên http://sachhiem.net/TCN/TCNls/TCNls06.php. tôi đă viết chi tiết về việc Mỹ dùng lá bài Ngô Đ́nh Diệm và đă thất bại ra sao. Chúng ta biết rằng Ông Ngô Đ́nh Diệm không phải là một khuôn mặt chính trị có tầm vóc ở Việt Nam, được nhiều người biết đến trước khi được đưa về Việt Nam làm Thủ Tướng vào tháng 6, 1954. Thành tích của ông trong thời Pháp thuộc không lấy ǵ làm sáng sủa, chưa kể ông thuộc ḍng họ ba đời làm Việt Gian. Chúng ta cũng biết, từ năm 1950, trong khi toàn dân kháng chiến chống Pháp th́ ông ta đă rời quê hương đất tổ để sống trong các Trường Ḍng Ca-tô Giáo ở Mỹ và ở Bỉ.

Một câu hỏi được đặt ra: với một thành tích “yêu nước” và chính trị không có ǵ, với một khả năng rất giới hạn, tài và đức đều không có, khoan kể là ông Diệm thuộc gia đ́nh ba đời phục vụ cho thực dân Pháp, vậy tại sao ông Diệm lại được chọn để làm Thủ Tướng ở miền Nam?

Vatican đă góp phần lớn trong kế hoạch này qua những hoạt động của Hồng Y Francis Spellman và hai anh em ngoại trưởng người Ca-tô John Foster Dulles và Allen Duless cùng một số Linh mục Mỹ và nghị sĩ Ca-tô  trong chính quyền Mỹ như Kennedy, Mansfield v…v… Cái đạo ác ôn buôn thần bán thánh này đă gây tác hại cho đất nước Việt Nam không ít, từ đầu khi các thừa sai dẫn đường cho Pháp đánh chiếm Việt Nam với sự hỗ trợ rất đắc lực của giáo dân Việt Nam, cho đến tận ngày nay khi giáo hội Ca-tô giáo Việt Nam luôn luôn khích động giáo dân làm loạn, coi thường luật pháp quốc gia.

Có lẽ những chi tiết trong cuốn “The American Pope: The Life and Times of Francis Cardinal Spellman”, A Dell Book, NY, 1985, của John Cooney, tạm gọi là đầy đủ nhất về tiến tŕnh đưa Ngô Đ́nh Diệm về Nam Việt Nam. Để viết cuốn sách này, tác giả Cooney đă xử dụng những nguồn tài liệu từ chính Nhật Kư của Spellman, những hồ sơ mật của FBI, và qua những cuộc phỏng vấn, nên tác phẩm của Cooney là một nguồn tài liệu rất có giá trị [By using Spellman’s personal diary, FBI classified files, and interviews, Cooney’s volume is an engrossing, valuable document]. Vậy sau đây, tôi xin trích dẫn (từ trang 307 đến trang 314) vài nét trong phần nói về những thế lực nào đă toa rập với nhau để đưa người Ca-tô Ngô Đ́nh Diệm về cai trị miền Nam, nơi mà, kể cả gần 800000 (SH -tám trăm ngàn) người Ca-tô từ Bắc di cư vào, Ca-tô giáo cũng chỉ chiếm có 10% dân số miền Nam.

“Tuy rằng không có mấy người biết điều này, Hồng Y Spellman đă đóng một vai tṛ rất quan trọng trong việc tạo nên sự nghiệp chính trị của một người đă ở trong một Trường Ḍng ở New York trước đây, vừa trở thành Thủ Tướng của miền Nam Việt Nam: Ngô Đ́nh Diệm. Ở Diệm, Spellman nh́n thấy những đặc điểm mà ông ta muốn có trong mọi người lănh đạo: Ca-tô cuồng nhiệt và chống Cộng điên cuồng…

Một tín đồ Ca-tô trung thành, Diệm ở trong Trường Ḍng do sự cầu xin của người anh, Ngô Đ́nh Thục, một Giám mục Ca-tô. Là một người độc thân rất sùng tín, Diệm đă tự tách ḿnh ra khỏi thế giới, đặc biệt là ra khỏi quốc gia tan tác bởi chiến tranh của ông ta. Và ông ta chỉ được biết đến bởi một nhóm nhỏ hoạt động chính trị ở Mỹ. Ở Việt Nam tên ông ta không gây nên một hứng thú nào…

Sau Điện Biên Phủ, Eisenhower muốn ủng hộ một chính phủ mở rộng hơn là chính phủ của ông Vua, người không được quần chúng ủng hộ mấy v́ đă từ lâu bị coi như là một bù nh́n của Pháp và Mỹ. Do đó Mỹ muốn có một người Quốc Gia ở địa vị cao ở Nam Việt Nam để làm giảm sự hấp dẫn của Hồ Chí Minh. Kết quả là Bảo Đại đă cho Diệm một chức vụ mà Diệm vẫn muốn – Thủ Tướng. [Về chuyện này Bernard Fall viết trong The Two Viet-Nams, trang 244: “Ư thức được rằng ḿnh đang ném ngai vàng đi, Bảo Đại bắt Diệm phải thề (Theo Stanley Karnow, trang 218, Bảo Đại bắt Diệm thề trước cây Thập ác [before the crucifix]) trung thành với ông, và nhiều nhân chứng có thẩm quyền quả quyết là Diệm cũng c̣n quỳ xuống trước Hoàng Hậu Nam Phương thề là sẽ làm hết sức trong phạm vi quyền lực của ḿnh để “giữ ngai vàng cho Hoàng Tử Bảo Long, con của Bảo Đại” (Fully realizing that he was throwing his throne away, Bao Dai allegedly made Diem swear a solemn oath of allegiance to him, and several authorative witnesses affirm that Diem also swore on his knees to Empress Nam-Phuong that he would do everything in his power “to preserve the throne of Viet-Nam for Crown Prince Bao-Long”, son of Bao Dai.) Nhưng chúng ta đă biết, chỉ hơn 1 năm sau, Diệm đă dùng tiền của CIA để tổ chức cuộc Trưng Cầu Dân Ư gian lận để phế bỏ Bảo Đại và tự phong lên làm Tổng Thống. Về vụ này Bernard Fall cũng viết, trang 257: “Trong hầu hết các nơi bỏ phiếu, có nhiều ngàn phiếu nhiều hơn là số cử tri đă bỏ cho Diệm . Thí dụ, Ở vùng Saigon-Chợ Lớn, đếm được 605205 phiếu trên số 450000 cử tri ghi danh”. (In nearly all electoral areas, there were thousands more “Yes” votes than voters. In the Saigon-Cholon area, for example, 605,025 votes were cast by 450,000 registered voters)

Diệm trở về Saigon ngày 26 tháng 6, 1954, sau Edward Lansdale vài tuần. Lansdale là trùm CIA về quân sự ở Saigon, đặc trách cuộc chiến không theo quy ước [có nghĩa là đánh phá ngầm]

“Giáo hoàng quan tâm đến sự càng ngày càng thắng lợi của Cộng sản do đó làm suy yếu giáo hội,” “Giáo hoàng ra lệnh cho Spellman khuyến khích Mỹ tham chiến ở Việt Nam.”

Do đó Spellman xếp đặt một chiến dịch ḥa điệu kỹ càng để dựng lên chế độ Diệm. (16)

 

Qua tài liệu trên, và phối hợp với nhiều tài liệu khác, thí dụ như của Joseph L. Daleiden, một học giả Ca-tô Giáo trong cuốn The Final Superstition, chúng ta thấy rơ vai tṛ then chốt của Vatican đă dự phần đưa tới việc Mỹ tham chiến ở Việt Nam. Chúng ta cũng c̣n biết, Hồng Y Spellman đă đến Việt Nam nhiều lần, đi tới các tiền đồn để khuyến khích lính Mỹ chiến đấu cho Chúa:

“Trong một bài học thuộc Giáo hội thời Trung Cổ, Spellman bảo với binh sĩ Mỹ là họ là những “thánh chiến quân” tham gia vào cuộc chiến của Chúa Ki Tô chống Việt Cộng và dân chúng Bắc Việt” (John Cooney, p.384: In a lesson from the medieval Church, Spellman told the troops they were “holy crusaders” engaged in “Christ’s war against the Viet-cong and the people of North Vietnam).

Nhưng tại sao Chúa lại chống Cộng ở một nước nhỏ bé xa xôi như Việt Nam, sao Chúa không chống Cộng ở Nga, ở Tàu, hay ở Ba Lan, Tiệp Khắc ngay bên Âu Châu, hay ở Cuba sát nách Mỹ? Vatican, thêm một lần nữa, đă mang tội với dân tộc Việt Nam và các tín đồ Ca-tô Giáo Việt Nam phải gánh cái hậu quả này. Các bậc lănh đạo Ca-tô luôn luôn đưa Chúa Ki Tô ra làm cái bung xung để đẩy mạnh sự cuồng tín của đám tín đồ ngu dốt.  Chúng ta cũng thấy rơ, Ngô Đ́nh Diệm chẳng qua chỉ là một con cờ của liên minh Mỹ-Vatican. Và Ngô Đ́nh Diệm không thể ngờ được rằng về sau, v́ quyền lợi của Vatican và của Mỹ, cả Vatican và Mỹ đều bỏ rơi ḿnh, đưa đến một kết quả quá bi thảm cho chính bản thân. Thật là tội nghiệp. Dưới h́nh thức nào th́ thực dân cũng đều như nhau. Ngày nay, những tàn dư của Cần Lao Ca-tô c̣n cố gắng “phục hồi tinh thần Ngô Đ́nh Diệm” mà không biết rằng họ đang phục hồi tinh thần Tam Đại Việt Gian của ḍng họ Ngô Đ́nh.

Trên đây chúng ta thấy rơ những vận động của Vatican và Ca-tô giáo Mỹ để đưa Ngô Đ́nh Diệm về, đẻ ra một đứa con ở miền Nam mang cùng tên “Quốc Gia Việt Nam” nằm trong sự chăn nuôi của Mỹ. Mỹ không ngần ngại nói thẳng ra chính quyền miền Nam là đứa con Mỹ đẻ ra.

Chúng ta hăy đọc một đoạn trong cuốn The Vietnam Wars: 1945-1990 của Marilyn B. Young, p. 58:

“Mỹ đă tạo nên Nam Việt Nam và người lănh đạo (Ngô Đ́nh Diệm); thật là rơ ràng là mọi chống đối Diệm đều được coi là hành động thù nghịch, một sự tấn công vào đứa con mới đẻ của Mỹ. Thượng nghị sĩ Kennedy nói vào năm 1956, “Đây là đứa con đẻ của chúng ta, và nếu nó rơi vào ṿng nạn nhân của bất cứ sự hiểm nghèo nào đe dọa sự hiện hữu của nó – Cộng sản, chính trị vô chính phủ, sự nghèo khó v..v… - th́ Mỹ sẽ chịu trách nhiệm; và uy tín của chúng ta ở Á Châu sẽ ch́m xuống thấp hơn.”

Nhưng thật ra th́, cái mà Mỹ đă hết sức dặn ra [như dặn đẻ, labored] không phải là một quốc gia dân chủ, độc lập mới mà là một gia đ́nh cai trị độc tài được giữ tại vị bởi một quyền lực ngoại quốc.” (17)

 

Trong cuốn America’s Longest War 1950-1975 của George C.Herring, John Wiley & Sons, New York, 1979, có cả một Chương, Chương II, với đầu đề: Đứa Con Đẻ Của Chúng Ta: Sự Dựng Lên Một Quốc Gia ở Nam Việt Nam, 1954-1961 (Our Offspring: Nation-Building in South Vietnam, 1954-1961). Tác giả trích dẫn lời phát biểu của Thượng Nghị Sĩ Kennedy, trang 43: “Đó là đứa con đẻ của chúng ta, chúng ta không thể bỏ nó, chúng ta không thể không để ư đến nhũng nhu cầu của nó” (It is our offspring, we cannot abandon it, we cannot ignore its needs).

Và trong cuốn Cuộc Chiến Bất Tận: Cuộc Đấu Thanh Của Việt Nam Để Giành Độc Lập (The Endless War: Vietnam.s Struggle For Independence, Columbia University Press, New York, 1989) Giáo Sư James P. Harisson viết, trang 210:

Dù sao th́, vị Tổng Thống tương lai Kennedy có thể phát biểu trong ngày 1 tháng 6, 1956: “Nếu chúng ta không phải là cha mẹ của đứa nhỏ Nam Việt Nam, th́ chắc chắn chúng ta là cha đỡ đầu của nó. Chúng ta chủ tọa khi khai sinh ra nó, chúng ta giúp đỡ để cho nó sống, chúng ta đă giúp để tạo thành tương lai của nó.” Rồi ngay trong ngày ông ta bị ám sát chết, 23 tháng 11, 1963, Kennedy lại nói thêm: “Không có Mỹ th́ chỉ qua đêm là Nam Việt Nam sụp đổ”. (18)

Nhưng trên thực tế, Mỹ đă đẻ ra một đứa con đầu óc bất b́nh thường, bị mê hoặc bởi những sự hoang đường của một tổ chức buôn thần bán thánh là Ca-tô Rô-ma Giáo và trở thành cuồng tín. Đứa con này tự nhận là một phán quan Tây Ban Nha (Spanish Inquisitor), nghĩa là một người không ngại tàn nhẫn tra tấn rồi mang đi giết những người không chịu chấp nhận đức tin Ca-tô giáo. Bởi thế cho nên khi thấy đứa con đẻ ra không thể trưởng thành theo ư muốn của ḿnh, Mỹ đă bật đèn xanh để cho các tướng tá dưới quyền đứa con này bóp mũi cho nó chết yểu chỉ sau có 9 năm. Đó thường là số phận của những tay sai vô trí, phục vụ cho quyền lợi của ngoại bang.

Tại sao lá bài Ngô Đ́nh Diệm lại thất bại? Đă có quá nhiều sách viết về chế độ Ngô Đ́nh Diệm và tại sao Mỹ phải thay ngựa giữa ḍng. Ở đây tôi chỉ nêu ra vài lư do chính, qua nhận định của chính người Mỹ về thực chất chính quyền Ngô Đ́nh Diệm và những chính sách thất nhân tâm của ông ta và gia đ́nh..

Thật vậy, chúng ta có thể đọc Bernard B. Fall trong cuốn The Two Viet-Nams", Frederik A. Praeger Publisher, New York 1967, trang 236:

Tính hiếu chiến của Ngô Đ́nh Diệm thuộc loại như thế này: Đức tin của ông ta ít có tính chất từ ái của các tông đồ hơn là tính hiếu chiến tàn nhẫn của một Đại Phán Quan Tây Ban Nha của Ṭa Án Dị Giáo (Torquemada); và Quan điểm của ông ta về chính quyền th́ ít có tính chất của một tổng thống theo hiến định của một nước cộng ḥa hơn là một bạo chúa theo truyền thống quan lại phong kiến . Một người Pháp theo Ca tô Giáo khi nói chuyện với ông ta muốn nhấn mạnh về ảnh hưởng văn hóa Pháp đối với ông Diệm đă nhấn mạnh những từ ngữ như "tín ngưỡng của chúng ta", th́ Diệm thản nhiên trả lời rằng: "Ông biết mà, tôi tự coi tôi như là một người Ca-tô Tây Ban Nha", có nghĩa là, ông ta là một đứa con tinh thần (của Giáo Hội La Mă) của một đức tin hung hăng, hiếu chiến hơn là một tín đồ dễ dăi và khoan dung giống như người Pháp theo hệ phái Ca-tô Gallican." (19)

Joseph L. Daleiden, một người Ca-tô, viết trong cuốn “The Final Superstition”,  Prometheus Books, New York, 1994, p. 62:

"Spelllman là người chủ chốt của giáo hoàng làm cho Mỹ tham chiến sâu đậm ở Việt Nam. Theo một bức thư chính thức của Vatican, giáo hoàng "dùng Spellman để khuyến khích Mỹ tham chiến ở Việt Nam."

Mọi viện trợ nhân đạo cho miền Nam đều đi qua các cơ sở của giáo hội Ca-tô. Tuy rằng những chính sách như vậy đưa đến việc cải đạo hàng loạt, số tín đồ Ca-tô chỉ chiếm vào khoảng từ 12 tới 13 phần trăm của dân số miền Nam. Không lạ lùng ǵ mà khối đa số Phật Giáo bất b́nh đưa đến việc công khai chống đối chính sách của Diệm. T́nh trạng ngày càng suy kém, Diệm đă dùng đến biện pháp bắt giữ hàng loạt, đàn áp Phật tử, đóng cửa chùa chiền và tu viện. Qua kinh nghiệm quá khứ, Giáo hội chắc hẳn đă biết rằng sự đàn áp chỉ làm cho lư tưởng mạnh hơn. Trước sự quan sát kinh hoàng của thế giới, giới Phật tử đă phải dùng tới hành động chống đối tiêu cực rốt ráo và nhiều tăng sĩ đă tự thiêu. Trong những khoảng thời gian đáng sợ đó, tôi, một tín đồ Ca-tô, không nhớ có một lời chỉ trích chính sách của Diệm từ một linh mục hay giám mục Ca-tô nào. Tuy nhiên, sự việc đă lên quá mức đối với Tổng Thống John Kennedy, ông ta thôi không ủng hộ Diệm nữa. Ít lâu sau đó Diệm bị hành quyết trong một cuộc lật đổ chính quyền. Qua cái diễn tiến kinh khủng này vai tṛ của giáo hội Ca-tô đă theo đúng cái tiến tŕnh lịch sử nhơ nhớp của giáo hội."(20)

Sau đây là nhận định của Giáo sư Mortimer T. Cohen trong cuốn From Prologue To Epilogue In Vietnam, trang 240, 41, 61:

Diệm là một người Ca-tô thuộc thời Trung Cổ - ông ta đúng, mọi người khác đều sai. Chân lư (Phúc Âm) có quyền ưu tiên, những sự sai lầm không có quyền này. Và, biết rơ bản chất bất ổn định của quyền cai trị của ông ta, ông ta bị ám ảnh bởi ư tưởng là người nào phê b́nh bất cứ điều ǵ về chế độ của ông ta cũng là những kẻ thù thâm căn cố đế.

Ông ta là thánh Dominique (Người được Giáo Hội Ca-tô Giáo giao cho nhiệm vụ phát động những Ṭa Án Xử Dị Giáo (The Inquisition) trong thời Trung Cổ).

Tháng 5 1955, ông ta mở chiến dịch Tố Cộng. Hiệp Định Genève đặc biệt cấm không được trả thù chính trị.

Do đó, Diệm đă khởi sự những sự thù nghịch. Chính hắn, bằng chính sách tấn công tiêu diệt Việt Minh, đă khởi sự cuộc chiến ở miền Nam. Và chúng ta cần nhấn mạnh là, hắn ta hành động như vậy không phải là để trả đũa bất cứ sự khiêu khích nào của Việt Minh, nhưng từ sự thúc đẩy là phải tiêu diệt Cộng đỏ - tinh thần của một tên Ca-tô thời Trung Cổ đi săn lùng kẻ lạc đạo... (21) [Chúng ta nên nhớ, không phải những người kháng chiến đều là Cộng sản và đa số không hiểu Cộng sản là ǵ. Họ theo Việt Minh chống Pháp v́ ḷng yêu nước, thế thôi.]

Giáo sư Cohen viết không sai, cuộc chiến ở miền Nam phát khởi là từ chính sách của Ngô Đ́nh Diệm làm cho một số người ở miền Nam bị dồn đến đường cùng, cho nên nổi giậy để chống những chính sách của chính quyền gia đ́nh trị, tôn giáo trị Ngô Đ́nh Diệm. Sự nổi giậy này dần dần bành trướng thành Mặt Trận Giải Phóng Quốc Gia, và sau đó, để đối phó với sự đàn áp của chính quyền Diệm do Mỹ đứng đàng sau, đă phải chịu sự chi phối và chỉ đạo của Bắc Việt từ năm 1960. Về Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam chúng ta có thể đọc trong vài cuốn sách điển h́nh như của Jean Lacouture với cuốn Vietnam: Between Two Truces, Vintage Book, 1966, Chương 3: The Birth of The National Liberation Front; Frances Fitzgerald với cuốn Fire In The Lake, 1972, Chương 4: The National Liberation Front, Phần The Origins Of The National Liberation Front; và nhất là cuốn The Pentagon Papers, Published by The New York Times, 1971, Chapter 2, pp. 67-78:

Sau đây là vài đoạn điển h́nh trong cuốn The Pentagon Papers, tài liệu của Ngũ Giác Đài, hiển nhiên không phải thuộc loại phản chiến hay thiên Cộng:

Tài liệu Ngũ Giác Đài nói, t́nh báo Mỹ ước tính trong thập niên 1950 là chiến tranh phát khởi phần lớn là do sự nổi giậy ở miền Nam để chống chế độ tham nhũng và càng ngày càng đàn áp dân chúng của Ngô Đ́nh Diệm .

Tài liệu Ngũ Giác Đài nói về những năm 1956-1959, khi mà cuộc nổi giậy bắt đầu, hầu hết những người đứng lên cầm vũ khí là những người Việt miền Nam và những nguyên nhân họ chiến đấu không có cách nào có thể bảo đó là do kế hoạch tính toán trước ở Bắc Việt.

Chỉ có rất ít bằng chứng là Bắc Việt đă chỉ đạo, hoặc có khả năng để chỉ đạo, những sự bạo động ở miền Nam (3 tháng cuối 1957: 75 viên chức địa phương bị ám sát. Ngày 22 tháng 10, 1957, 13 người Mỹ bị thương trong 3 cuộc nổ bom ở Saigon)

Từ năm 1954 đến năm 1958 Bắc Việt tập trung vào sự phát triển nội bộ, hiển nhiên là hi vọng vào một cuộc thống nhất đất nước hoặc qua cuộc bầu cử theo như Hiệp Định Genève hoặc là kết quả của sự sụp đổ đương nhiên của chế độ Diệm yếu ớt. Cộng sản để lại ở miền Nam một bộ phận ṇng cốt khi họ đi tập kết ra Bắc năm 1954 sau cuộc chiến với Pháp chấm dứt, nhưng những cán bộ được lệnh chỉ được “tranh đấu chính trị” [để sửa soạn kiếm phiếu trong cuộc bầu cử mà Bắc Việt hi vọng, và điều này không vi phạm hiệp định Genève].

Tháng 5, 1959, các nhà lănh đạo Bắc Việt quyết định nắm quyền cuộc nổi giậy càng ngày càng lớn mạnh ở miền Nam.

Tài liệu Ngũ Giác Đài nói, cả t́nh báo Mỹ và các tù binh Việt Cộng đều cho sự thành công nhanh chóng của Việt Cộng sau 1959 là do những sai lầm của Diệm.

Tài liệu Ngũ Giác Đài mô tả trạng thái tâm lư của Ngô Đ́nh Diệm như là của một “Đại Phán Quan Tây Ban Nha). (22)

Phê b́nh chiến dịch Tố Cộng với những kết quả khủng khiếp của nó qua một vài con số trích dẫn mà tôi không muốn kê ra ở đây, Avro Manhattan viết trong cuốn Vietnam: Why Did We Go, 1984, trang 99, như sau:

Đằng sau cái bề mặt (Tố Cộng), mục tiêu thực sự của nó là Ca-tô hóa quốc gia. Sự đàn áp của Ca-tô ở Nam Việt Nam không phải là sự tác động của một cá nhân cuồng tín, hay của một nhóm cá nhân thí dụ như ba anh em của Diệm, hiến thân cho chính sách Ca-tô hóa một nước Phật Giáo. Nó là phó sản của một chính sách dài hạn đă được tính toán cẩn thận, nhận thức và đẩy mạnh bởi những bộ óc mà những mục tiêu căn bản là bằng mọi giá, bành trướng một tôn giáo mà họ tin chắc rằng là một tôn giáo chân thật duy nhất trên thế giới.

 Người gây cảm hứng chính và theo đuổi chính sách này, như chúng ta đă thấy, là Giáo Hoàng Pius XII. Chính sách đó hoàn toàn hợp điệu với chiến lược toàn cầu của ông ta, nhắm tới hai mục tiêu căn bản: tiêu diệt Cộng Sản, và bành trướng Giáo Hội Ca-tô. (23)

Trên đây chỉ là vài nhận định điển h́nh. Trong bài “Vài Nét Về Cụ Diệm” độc giả có thể đọc thêm nhiều nhận định tương tự, không kể 100 danh nhân trí thức Việt Nam cũng nhận định về chế độ Ngô Đ́nh Diệm trong cuốn “Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi” của cựu Thiếu Tướng Đỗ Mậu.

 

Sự thất bại của lá bài Ngô Đ́nh Diệm

Chúng ta có thể tóm tắt sự thất bại của lá bài Ngô Đ́nh Diệm như sau:

1). V́ Mỹ đă chọn lầm người. Mỹ phải biết rằng, đối với tuyệt đại đa số người Việt Nam, Ca-tô giáo đă mang một bộ mặt “phi dân tộc”, một tôn giáo ngoại lai theo nghĩa có những sắc thái xa lạ với truyền thống dân tộc Việt Nam, đă có thành tích giúp thực dân Pháp lập được chế độ nô lệ ở Việt Nam. Mặt khác, Mỹ cũng phải biết là Ca-tô giáo chỉ là một thiểu số ở Việt Nam, trong khoảng 5 – 7%. Ngay cả khi 7, 8 trăm ngàn người Ca-tô từ Bắc di cư vào Nam năm 1954, tỷ số ở miền Nam cũng không quá 10%. Đưa một người Ca-tô như Ngô Đ́nh Diệm, vô tài, vô đức, nhu nhược, tuyệt đối không có thành tích yêu nước nào, làm quan cho Pháp, và trong khi cả nước kháng chiến th́ nằm an vị trong các nhà Ḍng Ca-tô ở ngoại quốc, th́ thử hỏi Diệm làm sao có được sự hậu thuẫn của người dân miền Nam, ngoài đám giáo dân di cư từ miền Bắc và một số gia nô ủng hộ Diệm v́ quyền lợi nhưng sẵn sàng quay mặt chống Diệm như lịch sử đă chứng tỏ. Diệm được Hồng Y Spellman, với sự phụ giúp của ngoại trưởng John Foster Dulles cùng một vài chính khách Ca-tô Mỹ khác, theo lệnh của Vatican, vận động với Mỹ đưa Diệm về cầm quyền ở Nam Việt Nam v́ Diệm thuộc loại người Ca-tô cuồng tín khát máu Tây Ban Nha trong thời Trung Cổ, chống Cộng điên dại nên đương nhiên có thể tin cậy để chống Cộng cho Mỹ và cho Vatican. Nhưng đây lại chính là nguyên nhân thất bại của lá bài Ngô Đ́nh Diệm. Ngoài ra Vatican cũng c̣n góp phần vận động, thuyết phục Mỹ tham chiến ở Việt Nam. Cái tội này của Vatican cộng thêm với cái tội của Ca-tô giáo Việt Nam đối với dân tộc Việt Nam sẽ được ghi vào sử sách

2). Chế độ Ngô Đ́nh Diệm là một chế độ bạo ngược, chuyên chế, gia đ́nh trị, tôn giáo trị, không có sự hậu thuẫn của quần chúng. Chính sách “Tố Cộng” của Ngô Đ́nh Diệm là một chính sách tàn bạo, ngu xuẩn, đă làm người dân càng ngày càng oán ghét, v́ giết người bừa băi không phân biệt, cho rằng cứ theo kháng chiến đương nhiên phải là Cộng Sản. Hơn nữa, chính sách này c̣n cho phép Ca-tô giáo vu khống những người có máu mặt là Cộng sản để chiếm đoạt tài sản ở nhiều nơi, đặc biệt là ở miền Trung dưới quyền lănh chúa Ngô Đ́nh Cẩn. Đó là một chế độ mà hầu hết những người nắm quyền hành chánh, quân sự và những nghị sĩ Quốc hội là những gia nô bất tài, vô liêm sỉ. Trong cuốn “Tyrants, History’s 100 Most Evil Despots and Dictators”, Barnes & Noble, NY, 2004, Nigel Cawthorne đă đưa Ngô Đ́nh Diệm vào danh sách 100 bạo chúa trên thế giới.

3). Chính cái chất Ca-tô Giáo cuồng tín, tổng hợp của ngu dốt, kiêu căng, huênh hoang, hợm hĩnh [theo giáo sư Nguyễn Mạnh Quang] của Diệm đă làm hại Diệm. Sách lược Ca-tô hóa miền Nam bằng thủ đoạn tiêu diệt các giáo phái khác của Diệm trong một nước mà Ca-tô giáo chỉ chiếm có 7% là một sách lược ngu xuẩn, đi ngược lại tinh thần Tam Giáo Đồng Nguyên của dân tộc, đă đưa đến sự oán ghét của tuyệt đại đa số người dân Việt Nam. Sách lược này đă ghi thêm một chương ô nhục vào lịch sử giáo hội Ca-tô giáo Việt Nam, một giáo hội vốn đă nổi tiếng là: “Hễ phi dân tộc th́ thể nào cũng phản bội dân tộc.”

4). V́ Diệm vi phạm Hiệp định Geneva, được Mỹ hỗ trợ trong chính sách “cường quyền thắng công lư” của Mỹ, phá cuộc Tổng Tuyển Cử qui định vào năm 1956 v́ biết ḿnh sẽ thua đậm, nên nếu Bắc Việt có xâm nhập miền Nam th́ lư do của họ cũng chính đáng, v́ Nam Bắc không phải là hai nước riêng biệt, chỉ là tàm thời là hai miền rút quân, chờ ngày Tổng Tuyển Cử để quyết định tương lai của đất nước qua giải pháp chính trị.

Hăy để tâm suy nghĩ một chút.  Trước t́nh trạng Ngô Đ́nh Diệm không chịu thi hành điều khoản Tổng Tuyển Cử trong hiệp Định Geneva, Việt Minh phải làm ǵ? Việt Minh động viên người dân, tốn bao xương máu trong cuộc kháng chiến chống Pháp, cuối cùng đi đến chiến thắng Điện Biên Phủ, chấm dứt nền đô hộ của thực dân Pháp, thu hồi độc lập cho đất nước, phải chăng chỉ để chia nước Việt Nam thành hai miền riêng biệt, để cho miền Nam trù phú thóc gạo, lâm, ngư sản v…v… vào tay một kẻ không hề có một công trạng ǵ với đất nước như Ngô Đ́nh Diệm, một người thuộc ḍng họ Tam Đại Việt Gian như Giáo sư sử Nguyễn Mạnh Quang đă chứng minh, và nằm yên trong vài Trường Ḍng Công Giáo ở ngoại quốc trong khi đa số người dân đang kháng chiến chống Pháp, tự nhiên ở đâu được Mỹ mang về? Người miền Nam không ai biết đến Diệm. Khi Diệm về, chỉ có Lansdale và một số viên chức Mỹ cùng một số người Ca-tô đón. Hai bên đường từ phi trường Tân Sơn Nhứt về không có một ai mang cờ hoan hô. Trong chính quyền Diệm, người quốc gia theo Diệm chỉ là một số sĩ quan cao cấp đă t́nh nguyện theo học các trường sĩ quan do Pháp thành lập để giúp Pháp chống lại Việt Minh kháng chiến, và một số bị cưỡng bách động viên để chiến đấu dưới quyền Pháp trong cuộc chiến Đông Dương thứ nhất, 1945-1954. Nếu không tin ở giải pháp chính trị để tiết kiệm xương máu người dân thay v́ theo đuổi giải pháp quân sự, là đất nước sẽ thống nhất qua cuộc Tổng Tuyển Cử vào năm 1956 theo quy định của Hiệp định Genève th́ Việt Minh có chịu kư Hiệp định Genève không khi đang thắng thế. Thống nhất đất nước là mục tiêu tối hậu không thể thay đổi của Việt Minh và rất hợp với ḷng dân, với truyền thống dân tộc, và xóa bỏ chính sách chia Việt Nam làm ba Kỳ để trị của Pháp.. Nhưng Mỹ đă v́ những quan niệm sai lầm về chính trị nên đă dùng miền Nam làm tiền đồn chống Cộng cho Mỹ, vi phạm Hiệp định Genève, và đưa Việt Nam vào một cuộc chiến tàn khốc vô ích v́ kết cục không thay đổi: Việt Nam vẫn đi đến thống nhất dù bắt buộc phải dùng đến giải pháp quân sự.

 

II. Những hoạt động ngầm để phá Bắc Việt.

Tưởng chúng ta không nên quên là ngay từ sau Hiệp Định đ́nh chiến 1954, Mỹ đă gửi Lansdale ra ngoài Bắc để phá hoại, tuyên truyền, khai thác sự ngu dốt, mê tín và cuồng tín của người Ca-tô, cổ vơ họ di cư vào Nam làm hậu thuẫn cho Ngô Đ́nh Diệm với những khẩu hiệu như “Chúa đă vào Nam” và “Đức Mẹ đă bỏ miền Bắc vào Nam” v..v.. để dụ đám giáo dân thấp kém. V́ vậy, khoảng trên dưới 800 ngàn Giáo dân Công Giáo đă ào ào kéo vào Nam, không buồn để ư đến chuyện những khẩu hiệu lố bịch trên đă chứng tỏ là nếu tin như vậy th́ thành ra Ông Mác đă đuổi Chúa và Đức Mẹ chạy từ Bắc vào Nam, tuy rằng Chúa và Đức Mẹ đều là những bậc toàn năng, toàn trí, quyền phép vô cùng, làm ǵ cũng được, cùng lúc chứng minh tŕnh độ và ư thức tôn giáo của giáo dân Ca-tô Việt Nam. Thật là tội nghiệp cho đầu óc của họ. Chúng ta hăy đọc một đoạn trong cuốn The Vietnam Wars: 1945-1990 của Marilyn B. Young về những hoạt động phá hoại của Lansdale và toán bán quân sự (paramilitary) của ông ta ở ngoài Bắc, trang 45:

Hoạt động phá ngầm những thỏa hiệp ở Geneva bắt đầu cùng lúc với sự kư kết Hiệp Định vào ngày 21 tháng 7, 1954. Lansdale đă có mặt tại chỗ. Nhiệm vụ lúc đầu của Lansdale là, qua mặt Pháp và hoạt động với những cảm t́nh viên Việt Nam trong cuộc chiến bất quy ước, nay chuyển sang hướng những “chiến dịch bán quân sự trong những vùng Cộng sản.” Ở Hà-Nội, toán của ông ta phát tán những tờ truyền đơn phao tin bịa đặt sai lầm về t́nh trạng kinh tế và điều chỉnh tiền tệ ở ngoài Bắc, gây nên sự hoảng sợ trong giới có tiền; chúng đổ đường vào b́nh xăng của các xe buưt ở Hà Nội, làm khó khăn phương tiện giao thông gây nên sự bất măn; chúng dùng những chiêm tinh gia tiên đoán về những thiên tai sẽ xẩy ra, phao tin là quân Tàu (của Lư Hán) cướp bóc và hăm hiếp.

Một giá trị tuyên truyền đặc biệt cho Diệm là cuộc di dân của gần một triệu người Ca-tô từ Bắc vào Nam được tuyên truyền là “bỏ phiếu bằng chân” cho tự do. Khuyến khích bởi các bề trên Ca-tô và tổ chức bởi Lansdale và toán của hắn ta, toàn thể các xứ đạo được các tầu hải quân Mỹ chở vào Nam, đi theo các linh mục đă bảo họ Chúa Ki Tô đă vào Nam, và hứa hẹn sẽ được cung cấp đất đai và mức sống.

Một trong những chiến dịch phao tin đồ hữu hiệu mà Lansdale phát triển là Mỹ sẽ ủng hộ một cuộc chiến mới, trong đó vơ khí nguyên tử chắc chắn sẽ được dùng. Điều này đă làm gia tăng số người di cư vào Nam. Với sự thích thú của trẻ con, Lansdale phúc tŕnh cho CIA những chiến thắng như vậy, tất cả đều vi phạm Hiệp Định Geneva. Ở trong Nam, Mỹ cũng bận bịu không kém, đưa lậu vào súng ống, đạn dược, máy phát thanh, một số dùng trong Nam, một số để gửi ra ngoài Bắc. (24)

Đọc cuốn “Cuộc Chiến Bí Mật Chống Hà Nội: Kennedy và Johnson Sử Dụng Những Điệp Viên, Nhân Viên Phá Hoại Ngầm, Quân Nhân Hoạt Động Ngầm ở Bắc Việt” (The Secret War Against Hanoi: Kennedy’s and Johnson’s Use of Spies, Saboteurs, and Covert Warriors in North Vietnam) của Richard H. Shultz, Jr., Harper Collins Publishers, N.Y., 1999, chúng ta thấy Mỹ đă cố t́nh phá ngầm Bắc Việt từ 1954 đến 1972.

Đây là một cuốn sách dày 400 trang, nói về những chiến dịch ngầm (covert operations) của Mỹ ở Bắc Việt và Nam Việt. Sách phân tích kỹ những hoạt động ngầm của Lansdale và CIA ở Bắc Việt từ năm 1954 đến năm 1972, và phân tích tại sao tất cả những chiến dịch phá ngầm này đều thất bại. Những nguyên nhân chính để cho những hoạt động của các toán bán quân sự (paramilitary) xâm nhập Bắc Việt bằng máy bay, tàu hải quân hay bằng đường bộ, không làm được ǵ là: hoặc bị bắt ngay (captured soon after landing); mất liên lạc (no contact; lost contact); không có đồng chí (no friendly elements); không có hệ thống t́nh báo (no intelligence networks); không có căn cước giả và giấy chứng minh để sống trong những nơi bị kiểm soát an ninh chặt chẽ ở Bắc Việt (no false identification and documentation to survive in the controlled-security environment of North Vietnam).

Vậy thực chất cuộc can thiệp của Mỹ vào Việt Nam là như thế nào. Ngày nay chúng ta đă có khá nhiều tài liệu bạch hóa vấn đề này. Rơ ràng, chẳng phải là Mỹ đến để bảo vệ tự do dân chủ cho ḿền Nam. Chính quyền Ngô Đ́nh Diệm do Mỹ dựng lên tuyệt đối không phải là một chính quyền tôn trọng tự do dân chủ. Mỹ tự ban cho ḿnh quyền của một cảnh sát quốc tế, ép buộc mọi quốc gia phải theo sự xếp đặt của ḿnh, nghĩa là, áp dụng luật rừng và cường quyền thắng công lư của kẻ mạnh, muốn can thiệp vào nước nào th́ can thiệp. Theo những tài liệu hiện hữu của một số học giả Mỹ, cuộc can thiệp của Mỹ vào Việt Nam nằm trong chủ trương bá quyền của Mỹ trên khắp thế giới chứ không phải chỉ riêng ở Việt Nam. Mỹ đă can thiệp vào nội bộ của nhiều nước: El Salvador, Nicaragua, Guatamala, Dominican Republic, Indonesia, Philippines, Thailand v..v.. (Xin đọc cuốn 9-11 , Seven Stories Press, New York, 2001, của Noam Chomsky, hoặc cuốn “The Chomsky Reader, Edited by James Peck, Pantheon Books, New York, 1987).

Muốn hiểu về nguyên nhân cuộc chiến tranh Việt Nam, về tại sao dù không có một lư do nào chính đáng mà Mỹ lại can thiệp vào Việt Nam, chúng ta cần hiểu rơ hơn về nước Mỹ, hay nói đúng hơn, về “ư tưởng quốc gia của Mỹ” (idea of America). Tôi đă đọc rất nhiều sách viết về cuộc chiến ở Việt Nam nhưng tôi không thấy cuốn nào đào sâu khía cạnh này như cuốn Kết Quả Ngược Chiều: Việt Nam – Những Huyền Thoại Khiến Chúng Ta Chiến Đấu, Những Ảo Tưởng Giúp Chúng Ta Thua, Cái Di Sản Vẫn Ám Ảnh Chúng Ta Ngày Nay (Backfire: Vietnam – The Myths That Made Us Fight, The Illusions That Helped Us Lose, The Legacy That Haunted Us Today, Ballantine Books, New York, 1985) của Giáo sư Loren Baritz, Trưởng Khoa Lịch Sử, Đại Học Rochester và cuốn  “Chiến tranh chưa chấm dứt: Việt Nam và lương tâm nước Mỹ” (The Unfinished War: Vietnam and the American Conscience, Beacon Press, Boston, 1982) của Walter H. Capps, Giáo sư Đại Học Santa Barbara, California, nguyên Giám đốc trung tâm nghiên cứu các định chế dân chủ Robert Hutchins (Former director of the Robert Hutchins Center for the study of Democratic Institutions).

   

Đây là vài  cuốn sách cần phải đọc để hiểu rơ người Mỹ và hiểu thái độ kiêu căng tự tôn của Mỹ, đưa đến những hành động bất chấp đạo đức, bất chấp luật lệ quốc tế. Vấn đề chính là chính sách ngăn chận Cộng sản không phải là v́ tự thân lư thuyết Cộng sản mà là để duy tŕ vị thế tối cao cầm đầu thế giới như Mỹ vẫn tự cho Mỹ cái vị thế đó.

Ở trên chúng ta đă nói về chính trị của Mỹ, chính trị của “cường quyền thắng công lư”, chính trị của kẻ mạnh ăn hiếp kẻ yếu. Sau đây chúng ta sẽ đi vào hai yếu tố tôn giáo và kinh tế. Ki tô giáo đă tạo nên một huyền thoại về nước Mỹ, và yếu tố kinh tế của Mỹ th́ theo như nhận định của Alexis de Tocqueville khi quan sát nước Mỹ: “Khi chúng ta đào sâu vào đặc tính quốc gia của người Mỹ, chúng ta thấy rằng họ chỉ t́m kiếm giá trị của mọi thứ ở trên thế giới này trong một câu hỏi này: nó sẽ mang lại bao nhiêu tiền?” (As one digs deeper into the national character of the Americans, one sees that they have sought the value of everything in this world only in the answer to this single question: how much money will it bring in?)

http://www.brainyquote.com/quotes/authors/a/alexis_de_tocqueville.html#WbCwRTOy0IIGUEej.99

 

B. Yếu Tố Tôn Giáo:

Có thể nói, yếu tố tôn giáo đă ăn sâu vào tâm khảm của người Mỹ, cho nên những hành động chính trị, ngoại giao và xă hội của Mỹ trên thế giới và ở trong nước Mỹ, không ít th́ nhiều, bao giờ cũng có ảnh hưởng của màu sắc tôn giáo. Nhưng đây chính lại là một loại khuyết tật tinh thần (handicap) của nước Mỹ. Mỹ cũng như Âu Châu, bị ảnh hưởng nặng nề của cuốn Thánh Kinh của Ki Tô Giáo. Ảnh hưởng này đă tạo nên trong thế giới Tây phương một tâm cảnh đại chúng “sợ Gót”, nghĩa là sợ một cái ǵ do chính ḿnh tưởng tượng ra. Cũng v́ cái “sợ” này mà con người Âu Mỹ trở thành vô nhân tính, vô cùng tàn bạo nhưng vẫn tự cho ḿnh là thánh thiện v́ những hành động tàn bạo đó là để phục vụ Gót, vinh danh Gót,  để truyền bá Phúc Âm trong khi Tân ước không hề có Phúc Âm.

Phúc Âm chỉ là điều tín đồ tin vào một cuộc sống đời đời trên thiên đường sau khi chết, một cái bánh vẽ trên trời theo Mục sư Ernie Bringas, trên một thiên đường giả tưởng mà chính Giáo hoàng John Paull II đă phủ nhận sự hiện hữu của một thiên đường trên các tầng mây. Là dân của Gót, với tâm cảnh sợ Gót, cho nên phải tuân theo những lời dạy của Gót.

Lịch sử cho thấy, trong nhiều thế kỷ, Ca-tô La-mă giáo nắm quyền sinh sát ở Âu Châu, đă gây nên 7 núi tội ác, giết hại hơn 200 triệu người vô tội, thuộc mọi tầng lớp Nam, Phụ, Lăo, Ấu. Và những hành động của Mỹ trên khắp thế giới cũng phản ánh cái huyền thoại về dân Mỹ là dân của Gót cho nên không ít th́ nhiều cũng phần nào theo những lời dạy của Gót trong Cựu Ước. Jerry Falwell, một nhà truyền giáo trên TV nổi tiếng của Mỹ và có nhiều ảnh hưởng trên xă hội và chính trường Mỹ, đă đưa lên những quan điểm có thể nói là chung cho nhiều người Ki Tô Mỹ: “Gót đă nâng nước Mỹ lên mức vĩ đại mà không có nước nào đă từng được hưởng v́ gia sản của Mỹ là một nền Cộng Ḥa cai quản bởi những luật được xác định trong cuốn Thánh Kinh” [The Unfinished War, p. 124: God promoted America to a greatness no other nation has ever enjoyed because her heritage is one of a republic governed by laws predicated on the Bible.] và “Tính theo đầu người, nước Mỹ có nhiều công dân sợ Gót hơn bất cứ nước nào khác” [Ibid., p. 127: America has more God-fearing citizens per capita than any other nation on earth.]. Là một nhà truyền đạo Ki Tô trên TV cực kỳ bảo thủ, những tư tưởng của Falwell chứng tỏ hắn là một kẻ ngu đạo quá khích một cách điên rồ. Sau đây là vài đoạn điển h́nh nói lên quan điểm của một kẻ tin tất cả vào Thánh Kinh như Jerry Falwell, Ibid., p.129:

Nhà thờ địa phương là một đạo binh có tổ chức được trang bị để cho trận chiến, sẵn sàng tấn công kẻ thù. Lớp học ngày chủ nhật là tiểu đội tấn công. Nhà thờ phải là một đạo binh có kỷ luật, sẵn sàng tấn công. Tín đồ Ki Tô Giáo, giống như các nô lệ và binh lính, không được chất vấn. (25)

Falwell đưa ra kế hoạch mà các tín đồ Ki Tô phải làm để rao giảng “phúc âm” [sic] trên khắp thế giới:

Điều quan trọng là phải oanh tạc lănh thổ, đến gần bờ biển và oanh tạc kẻ thù. Điều quan trọng là phải gửi đến những tài liệu [để truyền đạo]. Điều quan trọng là phải đưa đến những chương tŕnh phát thanh và dùng tiện nghi gọi điện thoại để nghe lời cầu nguyện. Điều quan trọng là phải dùng mọi ảnh hưởng bên ngoài đó tràn ngập trên thành tŕ của kẻ thù.

Nhưng sau cùng Thủy Quân lục chiến phải tiến vào, mặt đối mặt với kẻ thù, và kéo lên ngọn cờ, nghĩa là, xây nhà thờ ở địa phương.

Tôi muốn nói đến những Thủy quân lục chiến đă được Gót kêu gọi để tiến qua sự oanh tạc và hốc cá nhân và, với lưỡi lê trong tay, đối đầu với kẻ thù mặt đối mặt và từng người một đem chúng vào sự quy phục Phúc Âm của Ki-tô, đưa họ vào ngôi nhà của Gót, kéo lên ngọn cờ và coi đó như là an toàn.. Các ngươi và Ta được kêu gọi để chiếm hữu cho đến khi Ông ta (Giê-su) trở lại. (26)

Có lẽ đọc xong đoạn trên ai mà không cho rằng Jerry Falwell chỉ là một tên điên, không hơn không kém, th́ chính người đó cũng điên. Nhưng điều thê thảm là, theo Giáo sư Capps, những quan điểm của Falwell đáng chú ư v́ chúng tiêu biểu cho cảm nghĩ chung của nhiều nhóm Ki Tô Giáo (They are significant because they represent the general feeling of a host of Christian groups). Giáo sư Capps viết không sai. Trong cuộc chiến ở Việt Nam, lính Mỹ đă  viết trên mũ sắt những câu: “Giết một tên Á Đông cho Gót” (Kill a gook for God), “A good VC is a dead one”, “we have to destroy it to save it” ở Bến Tre, và Hồng Y Spellman sang Việt Nam nhiều lần, ủy lạo binh sĩ Mỹ rằng họ đang chiến đấu cho Chúa để chống Cộn sản và để bảo vệ nền văn minh Ki-tô Giáo, một nền văn minh quy thần, hạ thấp phẩm giá con người, rất xa lạ đối với nền văn minh nhân bản và nhân chủ của Việt Nam, nhưng lại tự cho là cao cả. Và Bush con đă theo đúng kế hoạch của Falwell ở Iraq. Sau cuộc tấn công ở Iraq, dựa trên những lư do ngụy tạo như Iraq liên hệ tới quân khủng bố ở Mỹ ngày 9/11, và Iraq có những vũ khí giết người hàng loạt, và Bush tuyên bố “nhiệm vụ đă hoàn thành” [mission accomplished] th́ các nhà truyền giáo Tin Lành đă đổ xô vào Iraq với “Viện trợ Ki-Tô” (Christian aid) để rao bán phúc âm, mua linh hồn cho Chúa. Falwell, một người tuyệt đối tin vào Gót, chết năm 2007, khi 73 tuổi. Bertrand Russell, một học giả vô thần, sống tới 98 tuổi (1872-1970).

Cái huyền thoại về nước Mỹ và niềm hoang tưởng vào “dân của Gót” đă khiến cho Mỹ lâm vào cuộc chiến Việt Nam để cuối cùng đi đến thất bại... Trong cuốn Kết Quả Ngược Chiều: Việt Nam – Những Huyền Thoại Khiến Chúng Ta Chiến Đấu, Những Ảo Tưởng Giúp Chúng Ta Thua, Cái Di Sản Vẫn Ám Ảnh Chúng Ta Ngày Nay (Backfire: Vietnam – The Myths That Made Us Fight, The Illusions That Helped Us Lose, The Legacy That Haunted Us Today, Ballantine Books, New York, 1985) của Giáo sư Loren Baritz, Trưởng Khoa Lịch Sử, Đại Học Rochester, đă viết một đoạn, có thể nói là giải thích tại sao Mỹ lại can thiệp vào Việt Nam và tại sao Mỹ thất bại, trang 10-11:

Người Mỹ không biết ǵ về người Việt Nam, không phải là chúng ta đần độn, mà v́ chúng ta tin vào một số điều về chính chúng ta... Muốn hiểu sự thất bại của chúng ta, chúng ta cần phải suy nghĩ về thế nào là một người Mỹ... Huyền thoại về Mỹ như là một thị trấn trên một ngọn đồi uẩn hàm Mỹ là gương mẫu đạo đức cho phần c̣n lại của thế giới, một thế giới cho rằng sẽ đặc biệt ngưỡng mộ chúng ta. Điều này có nghĩa là chúng ta là một dân tộc được [Gót, lẽ dĩ nhiên của Ki Tô Giáo] chọn, mỗi người trong đó, v́ được sự ưu đăi và sự hiện diện của Gót, có thể vật chết dễ dàng 100 kẻ thù ngoại đạo...

Có vô số cách để người Mỹ biết trong ḷng – nơi duy nhất mà những huyền thoại có thể sống được – là chúng ta được chọn để dẫn giắt thế giới trong vấn đề đạo đức công cộng và dạy cho thế giới về đức tính chính trị. Chúng ta tin rằng những sự tốt đẹp trong nước chúng ta kết thành sức mạnh đủ để triệt hạ đối thủ của chúng ta, những người, theo định nghĩa, là kẻ thù của đạo đức, của tự do, và của Gót. (27)

Mỹ tự cho rằng Mỹ là khuôn mẫu “thiện” của cả thế giới, v́ Mỹ tin tưởng ở Gót (In God We Trust), v́ Mỹ là “quốc gia của Gót” (God’s Country), và Mỹ là “dân của Gót” (God’s people). Theo tinh thần Ki Tô Giáo và lịch sử Ki Tô Giáo: kẻ nào không tin Gót của Ki-tô Giáo là kẻ ác, cho nên với quan niệm trắng đen, thiện chống ác, và đă tin vào ưu thế của vũ khí, và kinh tế, Mỹ đă tự tạo cho ḿnh một huyền thoại về nước Mỹ. Là một nước mà 80% theo Ki Tô Giáo, Mỹ bị ảnh hưởng của cuốn Thánh Kinh rất nhiều. Nhưng đây lại là một nghịch lư, v́ trên thực tế, xét đến những tệ đoan xă hội, tội phạm xă hội mà theo thống kê của chính Mỹ, Mỹ chiếm giải quán quân trên thế giới, khoan kể là Mỹ đă dùng “cường quyền thắng công lư” can thiệp vào nội bộ nhiều nước trên thế giới, gây nên bao cảnh tang tóc, th́ khó có thể coi Mỹ là một khuôn mẫu thiện trên thế giới. Như là một nguồn tâm linh và đạo đức để chỉ đạo xă hội, Ki Tô Giáo đă thất bại ở Âu Châu và hiện trạng xă hội Mỹ cũng đă chứng tỏ là Ki Tô Giáo cũng thất bại ở Mỹ, tuy Mỹ là nước có đa số theo Ki Tô Giáo, trong đó có 23% theo Ca-tô La-mă Giáo.

Không ai hiểu Mỹ bằng người Mỹ, nhất là giới trí thức Mỹ. Linh mục Michael Novak, Giáo sư đại học Stanford, viết trong cuốn Việt Nam: Sự Khủng Khoảng Của Lương Tri (Vietnam: Crisis of Conscience) trang 14, về khía cạnh tôn giáo của cuộc chiến ở Việt Nam theo quan niệm của Mỹ:

Đối với những người với một sự hiểu biết thần học đơn giản, th́ ư nghĩa của cuộc chiến thật là rơ ràng. Đây là cuộc chiến của “những kẻ tốt chống kẻ xấu”, “những kẻ tin Gót chống những kẻ vô thần”, “ánh sáng chống sự man rợ”. Cuộc chiến chúng ta đối diện trong thế kỷ của chúng ta là cuộc chiến cho nền văn minh của chúng ta mà “hai phe đối đầu là những quốc gia nô lệ và những quốc gia trong thế giới tự do”, cuộc chiến chống “những kẻ man rợ đe dọa những dân tộc văn minh, luật pháp và trật tự, và lối sống của người Mỹ”. Đó là cách nh́n lịch sử của những người tin vào một cuộc chiến giữa thiện và ác trong ngày tận thế...

Trong những phim “cao-bồi”, bao giờ cũng có hai phe riêng biệt. Một phe chiến đấu cho luật pháp và trật tự, phe kia vô luật pháp và vô trật tự. Nếu trong chuyện phim có những dân da đỏ, sự xung đột là giữa những người da màu dă man và những người da trắng văn minh, yêu ḥa b́nh. Kết cục bao giờ cũng là cảnh tàn bạo. Phe thắng là phe có nhiều vũ khí tối tân hơn hoặc rút súng nhanh hơn. Khi mà, trong vài trường hợp, những kẻ xấu (da màu) tiêu diệt một nhóm nhỏ những kẻ tốt (da trắng), th́ đó là một sự tàn sát độc ác và tàn nhẫn; khi mà những kẻ tốt (da trắng) giết vô số những kẻ xấu (da màu), đó là một sự chiến thắng của công lư và văn minh. (28)

Như trên chúng ta đă biết, Mỹ tự cho là một thị trấn trên một ngọn đồi, và là cái đầu tầu kéo cả thế giới theo ư định của Mỹ. Nhưng sự thực không như vậy, Mỹ là một cường quốc, và bất kể tiến bộ về những ǵ, nhưng trên thực tế lại rất ấu trĩ về tâm linh. Thật vậy, ảnh hưởng của cuốn Thánh Kinh vẫn đè nặng trên tâm tư người Mỹ, từ nguyên thủ quốc gia xuống đến thường dân, trong khi cuốn Thánh Kinh đă không c̣n mấy giá trị tôn giáo cũng như trí thức trong thế giới Tây phương, khoan nói đến thế giới Hồi giáo và thế giới Đông phương. Mỹ vẫn tin rằng sự giầu mạnh của Mỹ là do sự ân sủng của Gót [God] tuy rằng không có một người Mỹ nào biết Gót là cái ǵ. Chúng ta hăy đọc vài đoạn trong cuốn “The Unfinished War: Vietnam and the American Conscience” của Giáo sư Walter H. Capps để hiểu rơ hơn ảo tưởng và ư thức tôn giáo của người Mỹ.

Phương pháp giải quyết của Do Thái-Ki tô là đặt căn bản trên ư tưởng an ủi là, chừng nào mà một người giữ vững đức tin th́ Gót sẽ đứng về phía họ và hắn ta, hoặc ít nhất là chính nghĩa của hắn ta sau cùng sẽ thắng. (29)

Trong cuốn Sự Xung Đột Giữa Các Nền Văn Minh Và Sự Tái Lập Trật Tự Thế Giới (The Clash of Civilizations and the Remaking of World Order), Samuel P. Huntington, lư thuyết gia chính trị thế giới nổi tiếng của Mỹ, viết trong tập san Foreign Affairs: Vào đầu thế kỷ 20, vị thế của Tây phương bao trùm thế giới, tạo nên một tâm cảnh chung trong thế giới Tây phương là “văn minh thế giới là văn minh Tây phương, luật quốc tế là luật Tây phương”.

Sự bành trướng của Tây phương trên thế giới từ thế kỷ 16 là dựa trên sự phát triển kỹ thuật: kỹ thuật hàng hải để đi tới các nơi xa xôi, và kỹ thuật vũ khí để chiến thắng quân sự v..v..”Tây phương thắng trên thế giới không phải là v́ sự ưu việt của những ư tưởng, hoặc giá trị, hoặc tôn giáo Tây phương mà là ưu thế trong sự áp dụng bạo lực một cách có tổ chức.” (Huntington, p. 51: The West won the world not by the superiority of its ideas or values or religion but rather by its superiority in applying organized violence).

Người Tây phương thường quên đi sự kiện này; người các nước khác, nhất là các nước đă một thời bị Tây phương đô hộ, không bao giờ quên. Thật vậy, Tây phương là nơi sản xuất ra nhiều lư tưởng xă hội như tự do, phát xít, dân chủ theo quan niệm Ki Tô (Christian democracy), dân chủ xă hội (social democracy), đoàn thể, kinh tế tự do v..v.. nhưng Tây phương chưa bao giờ có được một tôn giáo lớn (theo nghĩa là chủ lực tinh thần hướng dẫn đạo đức và tính thiện của con người. TCN). Những tôn giáo lớn trên hoàn cầu đều là sản phẩm của những nền văn minh ngoài Tây phương, và trong hầu hết các trường hợp, đă có trước nền văn minh Tây phương. (Huntington, Ibid., p. 54: The West, however, has never generated a major religion. The great religions of the world are all products of non-Western civilizations and, in most cases, antedate Western civilization). So sánh giáo lư, lịch sử Ki Tô Giáo (Chính Thống, Ca Tô, Tin Lành) với các tôn giáo Á Đông như Thích, Nho, Lăo và Ấn Giáo, chúng ta thấy rơ ngay điều này.

Uy tín của Huntington không ai có thể phủ nhận. Ông ta là giáo sư đại học Harvard, giữ chức vụ Giám Đốc Viện Nghiên Cứu Chiến Lược John M. Olin và Chủ Tịch Học Viện Harvard Nghiên Cứu Các Địa Phương Trên Thế Giới. Ông cũng từng là Giám Đốc Kế Hoạch An Ninh cho Hội Đồng An Ninh Quốc Gia dưới thời Tổng Thống Carter, và Chủ Tịch Hội Chính Trị Khoa Học Hoa Kỳ. Cho nên giá trị nghiên cứu trong tác phẩm của ông ta chúng ta có thể tin tưởng. Nhưng điều thê thảm là Ki Tô Giáo vẫn tự cho là một tôn giáo có giá trị nhất trên thế giới bất kể sự phá sản tâm linh và đạo đức của Ki Tô Giáo trên thế giới như lịch sử đă chứng minh.

Người Mỹ tự cho là thánh thiện v́ là con dân của Gót. Nhưng sự thực giá trị xă hội của Mỹ  ra sao? Không ai có thể phủ nhận Mỹ là nước giàu nhất và mạnh nhất về quân sự. Nhưng c̣n về các vấn đề đạo đức xă hội, đạo đức thế giới, đức tính của con người, th́ Mỹ không có ǵ để so sánh với các quốc gia Á Châu. Một số thống kê của chính Mỹ, chứng tỏ rằng về những tệ đoan xă hội, tội ác trong xă hội v…v…, Mỹ chiếm giải quán quân trên thế giới.

1. Thống kê năm 2000: 14 triệu người tuổi từ 12 trở lên dùng ma túy (6.3% dân số).

2. Năm 2001: 15.980 vụ giết người, 90.491 vụ hiếp dâm. Cứ 2 phút lại có một người bị hiếp (tài liệu của bộ Tư Pháp)

3. Trên 1 triệu gái măi dâm hành nghề trên đường phố, nhà tắm hơi (sauna), pḥng tẩm quất (massage parlor) và qua điện thoại, trong đó có 300.000 vị thành niên. Thành phố New York tốn $43 triệu mỗi năm để kiểm soát các vấn đề liên quan đến măi dâm.

4. 14.000.000 người nghiện rượu.

5. Có 2.200.000 tù nhân Mỹ đang ngồi tù. Cả thế giới có 9.000.000 người đang ngồi tù, Mỹ chiếm 22% trong khi tỷ lệ dân số của Mỹ trên thế giới chỉ có 5%.

6. Ở Trung Quốc th́ cứ trong 100.000 người có 111 người ngồi tù, ở Mỹ là 686 người, gấp hơn 6 lần trong khi dân số Mỹ chỉ bằng 24% dân số Trung Quốc.

7. Hơn 50% các cặp vợ chồng do Chúa kết hợp đi đến ly dị.

8. Từ 4% đến 10% dân chúng đồng tính luyến ái.

9. Trên 5 ngàn linh mục Công Giáo bị truy tố về tội cưỡng dâm trẻ em phụ tế và nữ tín đồ.

 Mỹ can thiệp vào Việt Nam cũng không phải v́ ông Hồ là cộng sản, hay ông Hồ là con bài của Nga sô. Trong Phần I, tôi đă đưa ra vài tài liệu của chính quyền Mỹ là không t́m thấy bất cứ một bằng chứng nào chúng tỏ Ông Hồ Chí Minh là tay sai, theo sự chỉ đạo của Nga sô hay Trung Quốc để kháng chiến mà một số người chống Cộng cực đoan và một vài tác giả ngoại quốc ngu ngơ gọi là “gây chiến” ở Việt Nam. Kháng chiến không phải là “gây chiến”.

Không có bằng chứng nhưng cứ cho là có, đó là cái cớ để Mỹ can thiệp vào Việt Nam. Chúng ta đă biết, Mỹ tự cho ḿnh cái quyền can thiệp vào bất cứ nước nào mà Mỹ muốn. Mỹ chỉ cần đưa ra một cớ nào đó, dù không phải là sự thật, và điều đó cũng đủ để Mỹ can thiệp vào nội bộ bất cứ nước nào. Nhưng Mỹ chỉ dám đụng đến các nước nhỏ, ít khả năng phản kháng, chứ Mỹ không dám đụng đến các cường quốc khác như Nga sô, Trung Quốc. Ngày nay khí thế của Trung Quốc đang càng ngày càng lên, lan sang cắm dùi, gây ảnh hưởng ở Phi Châu, những thuộc địa trước của khối Tây phương và Mỹ. Trước t́nh trạng như vậy Mỹ chỉ c̣n có thể phàn nàn và than phiền.

Trong cuốn Can Thiệp Và Cách Mạng: Mỹ Đối Đầu Với Những Phong Trào Nổi Giậy Trên Khắp Thế Giới (Intervention and Revolution: America’s Confrontation With Insurgent Movements Around The World, A Meridian Book, New York, 1972), Sử gia kiêm nhà khoa học chính trị (historian and political scientist) Richard J. Barnet, đă từng là nhân viên Bộ Ngoại Giao cũng như Bộ Quốc Pḥng Hoa Kỳ, viết, trang 301:

Sự hiện diện của một sự đe dọa của Cộng Sản, ngay chỉ là có thể có sự đe dọa của Cộng Sản (như ở Cộng Ḥa Dominique) cũng đủ để cho Mỹ biện minh cho những sự can thiệp của Mỹ. Nhận định là có sự đe dọa cũng đủ để ngăn ngừa mọi chất vấn có thể đặt ra về sự cần thiết hay đạo đức để dẹp bỏ sự đe dọa. Mỹ càng ngày càng nói trắng ra khi tuyên bố là Mỹ có quyền đơn phương quyết định là một sự xung đột ở bất cứ nơi nào trên thế giới là sự đe dọa đối với nền an ninh quốc gia của Mỹ hay trật tự thế giới và Mỹ sẽ làm ǵ để đối phó. (30)

Một trong những lư do Mỹ đưa ra để biện minh cho sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam là Mỹ đơn phương quyết định là chế độ Cộng Sản ở Việt Nam sau Genève là sự đe dọa cho nền an ninh quốc gia của Mỹ, trong khi không có bất cứ một bằng chứng nào chứng tỏ như vậy. Cộng sản hay không th́ Việt Nam cũng là một quốc gia nhỏ, nghèo, kém phát triển và ở xa Mỹ nửa ṿng trái đất, làm sao có thể đe dọa nền an ninh của Mỹ được. Cho nên Mỹ đă chọn Việt Nam làm tiền đồn chống Cộng, chống Cộng cho chỗ đứng và uy tín của Mỹ trong vùng, bất kể là sau ngày tuyên bố đất nước độc lập, 2 tháng 9, 1945, Ông Hồ Chí Minh đă viết 8 bức thơ gửi Tổng Thống Truman và Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, yêu cầu Hoa Kỳ ủng hộ tinh thần nền độc lập của Việt Nam và c̣n ngỏ ư Việt Nam có thể là một thị trường lớn cho những sản phẩm của Mỹ, nhưng Mỹ không hề trả lời.. Mỹ chọn Việt Nam làm tuyến đầu chống Cộng, làm pḥng tuyến cuối cùng chống sự bành trướng của Cộng Sản ở Á Châu, v́ cho rằng Việt Nam là một nước nhỏ yếu không có khả năng chống lại ư định của Mỹ, cho nên Mỹ sẽ thành công trong mục đích chống Cộng cùng lúc tạo uy tín của Mỹ trên thế giới. Mặt khác Mỹ c̣n muốn chứng tỏ cho thế giới biết là vũ khí và chiến thuật của Mỹ có thể đối phó với chiến thuật du kích của Cộng Sản. Và Việt Nam cũng là chiến trường để cho Mỹ dùng hết vũ khí cũ, thử các vũ khí mới kể cả vũ khí hóa học.

 

C. Yếu Tố Kinh Tế:

Viết về chiến tranh Việt Nam, chúng ta không thể bỏ qua yếu tố kinh tế. Phải chăng những lư do Mỹ đưa ra về sự can thiệp vào Việt Nam chỉ là, như Tướng Telford TayLor, cố vấn trưởng của Mỹ tại Ṭa Án Nuremberg để xử các tội phạm chiến tranh Đức quốc Xă (Chief counsel for the prosecution, with the rank of Brigadier General, at the Nuremberg war-crimes trials), đă viết trong cuốn: “Nuremberg Và Việt Nam: Một Tấn Thảm Kịch Của Mỹ” (Nuremberg and Vietnam: An American Tragedy, New York Times Book, 1970, trang 103): “che dấu ư định khai thác Nam Việt Nam như là một căn cứ quân sự Mỹ để “ngăn chặn” Cộng Sản, hay thống trị Đông Nam Á và những tài nguyên thiên nhiên khổng lồ ở đó” [only to conceal the intention to exploit South Vietnam as an American military base to “contain” Communism, or to dominate Southeast Asia and its enormous natural resources].

Tây phương đă đến Á Châu như là những đế quốc thực dân, Á Châu không có mấy lư do để tin tưởng rằng Mỹ nhân đạo hơn những người da trắng đă đến trước. Những hành động của quân lực Mỹ đối với người dân ba miền Việt Nam có thể nói là c̣n tàn bạo và vô nhân tính hơn những thế lực thực dân trước, do đó không thể nói là Mỹ nhân đạo hay có ư tốt đối với người dân Việt Nam. Và chúng ta đă biết, mục đích chính của Mỹ không phải là giúp dân Việt Nam.

Hành động can thiệp vào Việt Nam của Mỹ không nằm ngoài chủ trương của Mỹ là thiết lập một trật tự thế giới ổn định (a stable world order), theo ư định của Mỹ, mà trong cái gọi là trật tự thế giới này, Mỹ nắm Ngân Hàng Quốc Tế (World Bank), Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF = International Monetary Fund). Mỹ đă dùng những cơ quan này để cho các nước nhỏ đang mở mang vay nhẹ lăi, hỗ trợ những dự án có lợi cho Mỹ, và khi cần có thể làm sụp đổ nền kinh tế địa phương. Thật vậy, theo Mục sư Robert McAfee Brown (Ibid., trang 24) th́:

Trật tự thế giới ngày nay rất lợi lộc cho những nhà tư bản Mỹ, những người ngồi trên chóp của đống lợi nhuận. Ngoại viện của Mỹ cho những kém mở mang được coi như là một chủ nghĩa đế quốc mới; không phải là đế quốc quân sự mà là đế quốc đô-la. Đế quốc đô-la không hiển nhiên như đế quốc thực dân; nó không toan tính thiết lập một văn pḥng chính trị thực dân. Nó mua chuộc những chính trị gia bản xứ sẵn sàng bán linh hồn và xen vào nội bộ của quốc gia qua những phương pháp kinh tế chứ không phải là chính trị. Nó cũng có hiệu lực như là thực dân quân sự nhưng khó mà có thể lột mặt nạ của nó ra. (31)

Trong cuốn Turning Points in World History: The Vietnam War, yếu tố kinh tế cũng được nói tới ở trang 50:

Trong ngôn từ chiến lược và kinh tế, Đông Nam Á cũng là vấn đề quan trọng đối quyền lợi của Mỹ. Đông Nam Á rơi vào tay Cộng Sản sẽ đe dọa chuỗi đảo trải dài từ Nhật tới Phi Luật Tân, cắt đường hàng không của Mỹ tới Ấn Độ và Nam Á và dẹp bỏ pḥng tuyến pḥng vệ đầu ỡ Thái B́nh Dương. Úc và Tân Tây Lan (New Zealand) sẽ bị cô lập. Vùng (Đông Nam Á) có nhiều tài nguyên thiên nhiên và chiến lược, gồm có thiếc, cao su, gạo, nguồn dầu dừa, quặng sắt, đồng, tungsten, và dầu hỏa. Mỹ không chỉ bị cắt đứt, không tơ hào ǵ được những nguồn tài nguyên đó, mà tiềm năng về những thị trường to lớn để tiêu thụ những sản phẩm của Mỹ cũng bị đe dọa. (32)

Ở trên tôi đă đưa ra sơ lược ba yếu tố chính trị, tôn giáo, và kinh tế đă góp phần trong cuộc can thiệp của Mỹ vào Việt Nam. Căn bản là Mỹ đă chọn Việt Nam làm địa bàn chống Cộng ở Đông Nam Á, bất kể là người Việt Nam có muốn hay không. Mỹ đă quyết định dùng vũ lực để chống Cộng ở Việt Nam, Nam Việt Nam là pḥng tuyến không cho Cộng Sản vượt qua, vậy những “nếu” hay “tại v́” đặt ra để giải thích cuộc can thiệp của Mỹ vào Việt Nam đều không thích hợp. Mỹ sẽ nhảy vào can thiệp nếu có nguy cơ miền Nam rơi vào tay Cộng Sản, bất kể là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam gồm 100% người Nam hay 100% người Bắc. Nguy cơ này càng ngày càng hiện rơ từ năm 1961 đến cao điểm vào những năm 1964-1965, cho nên Mỹ đă tự tiện ồ ạt đem quân vào Việt Nam. Nhưng nỗ lực quân sự của Mỹ cũng không đi đến đâu trước ư chí cương quyết chống xâm lăng của người dân Việt Nam cả hai miền. Mỹ biết vậy cho nên đă có những chính sách có thể nói là “diệt chủng”, giết dân không phân biệt, kể cả người già, phụ nữ và trẻ con. Nhưng cuối cùng Mỹ cũng phải giải quyết bằng cách tháo chạy (run), được gọi bằng mỹ danh “Ḥa b́nh với danh dự” (Peace with honor), qua Thỏa Hiệp Ḥa B́nh Paris năm 1973.

 

Thỏa Hiệp Ḥa B́nh Paris 1973: Chiến Tranh Chấm Dứt

Giáo sư Loren Baritz viết trong cuốn Backfire, trang 275: Điều Bắc Việt tin chắc là văn hóa Mỹ sẽ không thể kéo dài cuộc chiến đă chứng tỏ rằng đúng. (The North’s conviction that American culture would not be able to sustain the war proved to be correct.). Cuộc chiến ở Việt Nam đă quá tốn kém đối với Mỹ, và Nixon muốn bảo đảm cái ghế Tổng Thống của ḿnh, nên bằng mọi cách phải đi đến giải pháp “ḥa b́nh với danh dự”, danh dự trong sự bỏ cuộc, tháo chạy, v́ không thể thắng. Và chúng ta đă biết, Thỏa Hiệp Ḥa B́nh Paris 1973 cuối cùng đă được kư kết giữa Mỹ và Bắc Việt, trên thực tế, sau nhiều cuộc bàn thảo giữa Kissinger và Lê Đức Thọ.

Đối với Mỹ, Thỏa Hiệp Ḥa B́nh Paris 1973 chỉ là để cho Mỹ vuốt mặt với dân chúng Mỹ qua chiêu bài “Ḥa b́nh với danh dự” (Peace with honor), quan niệm danh dự của Mỹ: Mỹ rút hết quân ra, không c̣n lính Mỹ chết, và lấy lại các tù binh bị Bắc Việt bắt. Số phận VNCH Mỹ không mấy quan tâm, và Mỹ biết rơ là Bắc Việt không bao giờ từ bỏ mục tiêu thống nhất đất nước. Thỏa Hiệp Paris c̣n tệ hơn là Hiệp Định Geneva, cho phép 150000 quân Bắc Việt ở lại miền Nam cùng với 150000 quân thuộc Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, nấp sau danh xưng Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời miền Nam VN (PRG). Câu đầu trong bản Thỏa Hiệp Ḥa B́nh, mở đường cho Bắc Việt thống nhất đất nước và giữ toàn vẹn lănh thổ. Đây chính là câu mà Kissinger định để trong một đoạn sau của bản Thỏa Hiệp nhưng Bắc Việt cương quyết đ̣i phải để đầu tiên và Kissinger đă nhượng bộ:

Điều 1. Mỹ và mọi nước khác tôn trọng nền độc lập, chủ quyền, sự thống nhất, và sự toàn vẹn lănh thổ của Việt Nam như đă được công nhận bởi Hiệp Định Geneva 1954 về Việt Nam.

[Article 1:  The United States and all other countries respect the independence, sovereignty, unity, and territorial integrity of Viet-Nam as recognized by the 1954 Geneva Agreements on Viet- Nam.]

Nixon và Kissinger là những chính trị gia xảo quyệt, đều biết rơ là Thỏa Hiệp không kiến tạo ḥa b́nh ở Nam Việt Nam. Và đối với Mỹ, VNCH không là ǵ, chỉ là tay sai để cho Mỹ thao túng. Hăy đọc những bức thư của Nixon gửi cho Thiệu, đe dọa, ép Thiệu phải kư vào Thỏa Hiệp Paris 73, mà chính Kissinger đă công nhận là có tính cách tàn bạo (brutality) trong cuốn Ending The Vietnam War. Nixon viết thẳng, Thiệu không kư th́ Nixon sẽ kư tay đôi với Bắc Việt và chấm dứt ủng hộ, viện trợ cho Thiệu. “Văn khố quốc gia Mỹ giải mật 150 giờ đồng hồ những lời nói của Nixon trong những cuốn băng ghi âm. Nixon bảo Kissinger nói với Thiệu – rằng Quốc hội Mỹ sẽ cắt viện trợ cho Sài G̣n trừ phi Thiệu ủng hộ Thỏa Hiệp.. Nixon nói “Tôi không biết là sự đe dọa đó đi đến đâu nhưng tôi sẽ làm bất cứ điều nào nghĩa là – nếu cần lấy đầu của hắn.” (The National Archives released more than 150 hours of new tapes from Nixon.. Nixon asked Kissinger to tell the South Vietnamese -- truthfully or not -- that the US Congress would cut off aid to the Saigon government unless it supported the accords. "I don't know whether that threat goes far enough or not but I'd do any damn thing that is -- or cut off his head if necessary," Nixon said.)

Nixon cũng biết rơ là thực chất Thỏa Hiệp chỉ là một tờ giấy lộn, như Wilfred Burchett viết trong cuốn Grasshoppers & Elephants; Why Viet Nam Fell, trang 169, về lời hứa hẹn viết trên giấy tờ của Nixon đối với Thiệu: “Đây chỉ là một mảnh giấy không đáng để ư. Kư đi. Sau đó ông muốn làm ǵ th́ làm, và chúng tôi sẽ ủng hộ ông hết ḿnh” (It’s a scrap of paper. Sign it. Do what you want later, and we’ll back you to the hilt. And he (Thieu) had it in writing from Nixon). Nixon c̣n viết cho Thiệu, hứa như sau mà Thiệu tin tưởng nên đă phổ biến lời hứa hẹn này vào năm 1975 khi Bắc Việt tấn công: “Ông hăy tin lời bảo đảm tuyệt đối của tôi là nếu Hà Nội không theo đúng những điều khoản trong bản thỏa hiệp, th́ tôi sẽ có những hành động nghiêm khác trả đũa ngay.” (Kissinger, Ibid., p. 385: You have my absolute assurance that if Hanoi fails to abide by the terms of this agreement it is my intention to take swift and severe retaliatory action). Nhưng ông Thiệu và Hoàng Đức Nhă, người luôn luôn có mặt bên ông Thiệu trong những cuộc gặp gỡ với Tướng Haig, sứ giả của Nixon, không biết là lời của Tổng Thống Mỹ chỉ có giá trị cam kết khi được Quốc hội phê chuẩn. Và khi đó th́ Quốc hội Mỹ đă quyết định cắt kinh phí chiến tranh ở Đông Dương.

Kissinger viết rơ, Ibid., 457:

Những lá thư của Tổng Thống không phải là những cam kết hợp pháp mà chỉ là những biểu thị của ư định của vị Tổng Thống đương quyền đối với những bất trắc dự đoán có thể xẩy ra. Chúng đặt trên những vị Tổng thống kế tiếp một trách nhiệm tinh thần chứ không phải là pháp lư. Và lẽ dĩ nhiên, không có Tổng Thống nào có thể làm cho quốc hội cam kết bằng một lời tuyên bố đơn phương.” (33)

Như trên đă nói, không có phe nào tin tưởng là Thỏa Hiệp Ḥa B́nh Paris 73 có giá trị mang lại ḥa b́nh cho Nam Việt Nam. Đặc biệt là Mỹ, Mỹ muốn người Việt tiếp tục cuộc chiến, cho nên trước khi Thỏa Hiệp được kư kết Mỹ đă thúc đẩy VNCH chiếm thêm nhiều đất và cung cấp cho VNCH một số quân cụ lớn lao. Marilyn B. Young viết, Ibid., p. 275:

Kissinger khuyên Đại sứ Bunker là hăy thúc đẩy những vị chỉ huy quân lực VNCH hăy tiến chiếm nhiều đất bao nhiêu hay bấy nhiêu trong những tuần lễ tới v́ có thể sẽ có cuộc ngưng bắn. Cùng và thời gian đó một chiến dịch tái vũ trang tên là “Nâng Cấp” được gọi lại là “Nâng Cấp Lên Nữa”. Với những cung cấp của “Nâng Cấp Lên Nữa”, Saigon được đăi ngộ bởi một không vận những đại bác 105 ly và 155 ly, máy bay trực thăng, máy bay chiến đấu (làm cho không quân của VNCH trở thành lực lượng không quân lớn thứ tư trên thế giới), xe thiết giáp, xe tăng, xe vận tải, và đại pháo cho thủy quân. Một tướng lănh Mỹ nói đùa: “Nếu chúng ta cho những thứ này cho Bắc Việt, chúng có thể đánh chúng ta cho đến hết thế kỷ” (34)

Và chúng ta đă biết, ngay sau cuộc kư kết Thỏa Hiệp Ḥa B́nh Paris 73, chính quyền miền Nam, với số lượng vũ khí và quân cụ mới, đă mở những cuộc hành quân lớn ở Cửa Việt và vùng Quảng Trị để chiếm đất dành dân. Edwin E. Moise viết năm 1998:

Chiến tranh không ngưng ngay cả trong một ngày. Hầu hết những cuộc đụng chạm trong những tháng đầu sau cuộc ngưng bắn đều do Quân Đội VNCH, muốn có thể chiếm được càng nhiều đất càng tốt trước khi CS có thể tái dựng lực lượng quá nhiều. Những phương thức để đi đến một cuộc dàn xếp chính trị cho tương lai Nam Việt Nam quy định trong Thỏa Hiệp Paris bị ngăn chận bởi chính quyền Thiệu ở Sài G̣n. (35)

Và ông Thiệu th́ chủ trương đuổi hết quân Bắc Việt và cả quân của PRG về Bắc. Vậy th́ làm sao có được ḥa b́nh. Chẳng vậy mà ngay ngày hôm sau Hiệp Định Paris được kư kết, ông Thiệu ra lệnh phải tôn trọng Thỏa Hiệp như thế này: “Thấy CS ở đâu là bắn bỏ ngay, thấy ai tuyên truyền cho CS cũng bắn bỏ ngay” [Marilyn B. Young, The Vietnam Wars: 1945-1990, p. 279: The next day Thieu issued clear orders on how the cease-fire was to be observed. If “Communists come into your village, you should immediately shoot them in the head”. Those who “begin talking in a Communist tone… should be immediately killed”.]

Để đáp lại, phía Bắc Việt cũng bành trướng thế lực của họ trong nhiều vùng ở miền Nam. Và cuối cùng th́ chiến tranh cũng kết thúc, ḥa b́nh thực sự có trên đất nước sau ngày 30.4.1975. Tôi không muốn nói đến vấn đề với lực lượng quân, dân, cán, chính hăng say chống Cộng như thế và với số vũ khí quân cụ như thế mà tại sao chỉ có 55 ngày là miền Nam sụp đổ.

Thỏa Hiệp Paris năm 1973, trên thực tế được kư kết giữa Bắc Việt và Mỹ, giúp cho Mỹ “rút lui trong danh dự” và xóa sổ Nam Việt Nam, nhưng theo quan điểm của môt Linh mục Việt Nam th́ đó là  “kế hoạch mầu nhiệm” trong sự quan pḥng của Thiên Chúa đă được an bài để hợp với ḷng người Ca Tô Giáo Việt Nam. Linh mục Peter Hoàng Omi nhận định: Nếu chúng ta có một đức tin mạnh mẽ vào sự Quan Pḥng của Thiên Chúa th́ chúng ta phải biết cảm tạ Thiên Chúa v́ tất cả những sự kiện xảy ra trong đời ta và trong Giáo Hội. Quí anh chị em nên biết một điều là chẳng có ǵ xảy ra ngoài sự xếp đặt trong T́nh Yêu Quan Pḥng của Thiên Chúa. Chẳng có thế lực trần gian nào có thể lèo lái Thiên Chúa theo ư của ḿnh được!... Thiên Chúa có chương tŕnh cho mỗi người và mỗi dân nước, và chương tŕnh của Thiên Chúa th́ tuyệt hảo. Vậy th́ không hiểu tại sao người Ca-tô giáo lại chống chính quyền Cộng sản. Họ không sợ làm nghịch ư Chúa, chương tŕnh của Chúa cho dân nước Việt Nam, rồi sẽ phải đầy đọa xuống hỏa ngục để cho ngọn lửa vĩnh hằng của Chúa thiêu đốt không bao giờ dứt hay sao.

Mỹ nói là đến Việt Nam để giúp Việt Nam, tuy chẳng có Việt Nam nào nhờ giúp. Vậy Mỹ đă làm những ǵ ở Việt Nam để giúp Việt Nam? Nhiều lắm ! Đại Cương là tàn phá đất nước Việt Nam, về sinh mạng cũng như về vật chất, gọi là để bảo vệ quan niệm về tự do, dân chủ của Mỹ ở Việt Nam. Vậy chúng ta hăy xem Mỹ thực hiện mục đích cao cả đó như thế nào.

 

Sơ Lược Những Tội Ác Chiến Tranh Của Mỹ Ở Việt Nam

 David Lamb (UPI reporter 1960’s; Los Angeles Time’s first peacetime bureau in VN) đă đưa ra một nhận định khá đúng trong cuốn Vietnam, Ngày Nay (“Vietnam, Now” , Public Affairs, NY, 2002) trang 91:

Mỹ đă tới Việt Nam để xây dựng nhưng rút cuộc là phá hủy.

(The US had come to Vietnam to build and ended up destroying.)

Trong cuốn “What Are Our Herbicides Doing To Us? Defolation” của Thomas Whiteside, George Wald viết trong Lời Nói Đầu, trang xiii, xvi:

Tôi thấy không có cách nào ra khỏi kết luận là ở Nam Việt Nam chúng ta đă phá hủy một cách có hệ thống một quốc gia và dân chúng của quốc gia đó – chính cái quốc gia mà chúng ta nói rằng chúng ta chiến đấu để duy tŕ quốc gia đó..

Những phương thức của chúng ta ngày nay ở Việt Nam gồm có những cuộc hành quân chống quần chúng dân sự gần như là có tính cách diệt chủng hơn là khởi một cuộc chiến như người Mỹ thường hiểu trong quá khứ, được chấp nhận bởi những nước văn minh và qui định trong Luật Quốc Tế. Sự dùng bừa băi những chất hơi cay, chất sát trùng và chất khai quang nổi bật trong những phương thức đó. (36)

Mục đích chính của Mỹ không phải là để tạo nên một miền Nam dân chủ tự do. Người Mỹ không có thực tâm, không có ư tốt giúp Việt Nam, tất cả chỉ v́ chính trị và quyền lợi của Mỹ. Người nào tin rằng Mỹ thực tâm giúp Nam Việt Nam để bảo vệ những giá trị tự do dân chủ cho người dân Nam Việt Nam là đang nằm mơ. Hăy xét đến thực chất của các chính quyền Ngô Đ́nh Diệm và “Diệm không Diệm” của Nguyễn Văn Thiệu. Hăy xét đến những chiến dịch quân sự dă man nhất của Mỹ ở Việt Nam đối với người dân trong cuộc chiến.

Tội ác chiến tranh của Mỹ trên thế giới và ở Việt Nam th́ không có cách nào tả xiết. Nó thuộc loại vô nhân tính hay nói đúng hơn, đó là nhân tính Ki Tô, một nhân tính bắt nguồn từ sự tự tin nước Mỹ là nước của Gót (God’s country) và người dân Mỹ là dân của Gót "(God’s people). Tài liệu về những tội ác chiến tranh của Mỹ trên thế giới ngày nay có rất nhiều. Ở đây tôi chỉ nói đến một phần nhỏ những tội ác chiến tranh (war crimes) của Mỹ ở Việt Nam. Có vài cuốn sách điển h́nh về tội ác chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam chúng ta cần đọc:

- Cuốn “Kill Anything That Moves: The Real American War In Vietnam” của Nick Turse, mới xuất bản ngày 15 tháng 1, 2013, đă đưa ra những h́nh ảnh thực của quân đội Mỹ đối với người dân Việt Nam và đất nước Việt Nam.

-  Cuốn: The War Behind Me: Vietnam Veterans Confront The Truth About U.S. War Crimes, Inside the Army’s Secret Archive of Investigation” của Deborah Nelson.

- Cuốn Không Thể Chuộc Lỗi [Failure to Atone] của Bác sĩ Allen Hassen, đă từng phục vụ ở Việt Nam.

- Cuốn : The CIA and the Political Defeat of the U.S. in Vietnam, của Zalin Grant.

- Cuốn The Phoenix program của Douglas Valentine.

Và một vài trang nhà trên Internet:

http://mwcnews.net/focus/analysis/24112-us-war-crimes-in-vietnam.html

US War Crimes in Vietnam

http://www.latimes.com/la-na-vietnam20aug20-sg,0,1877284.storygallery

Vietnam – The War Crimes Files

 

Chúng ta hăy đọc vài đoạn điển h́nh trên Internet, và đây chỉ là đại cương, phần chi tiết những sự kiện trong bài này nằm trong rất nhiều tài liệu hiện hữu, và chúng ta hăy tự vấn lương tâm xem người Quốc gia chúng ta có trách nhiệm ǵ về những sự kiện lịch sử này hay không.

http://www.intellnet.org/resources/american_terrorism/Vietnamesevictims.html

American Terrorism and Genocide of the Vietnamese People, 1945-1974

(Chủ Nghĩa Khủng Bố Và Diệt Chủng Dân Việt Nam Của Mỹ: 1945-1974)

Bài này với nhiều chi tiết hơn có trên: http://www.sachhiem.net/TCN/TCNts/TCNts25.php

Những tội phạm chiến tranh thuộc Thủy, Lục, Không quân Hoa Kỳ đă tàn sát 3 triệu người ở Việt Nam, trong rất nhiều nơi như Mỹ Lai. Hầu hết các nạn nhân là đàn bà và trẻ con.

CIA có ngay cả một chương tŕnh khủng bố chính thức của quốc gia Mỹ ở Việt Nam, được biết là “Chiến Dịch Phụng Hoàng” hay “Kế Hoạch Phụng Hoàng”. [Kế hoạch Phụng Hoàng c̣n được biết dưới tên “Kế Hoạch Ám Sát” (Douglas Valentine, The Phoenix Program, p. 191: “Phoenix was labeled an Assassination Program”).] Qua Kế Hoạch Phụng Hoàng, nhiều trăm ngàn người đă bị tra tấn đến chết trong những “trung tâm thẩm vấn” trên khắp Nam Việt Nam. Những trung tâm tra tấn này được dựng lên bởi Mỹ rơ ràng cho mục đích đó. Phụ nữ luôn luôn bị hăm hiếp như là một phần của tra tấn trước khi bị giết. Khủng bố, hăm hiếp và giết người hàng loạt một cách đại qui mô trên khắp miền quê là chính sách của tập thể Lục Quân, Không Quân, Thủy Quân Lục Chiến, Thủy Quân Hoa Kỳ. Cuộc tàn sát ở Mỹ Lai là một chiến dịch trong Kế Hoạch Phụng Hoàng.

Chính sách diệt chủng dân Việt Nam của Mỹ có nguồn gốc từ ngay sau Đệ Nhị Thế Chiến.

Mỹ đă ủng hộ Pháp trong toan tính lấy lại quyền cai trị đẫm máu của thực dân Pháp ở Đông Nam Á.

Ngoài việc liên minh với những thế lực thực dân đàn áp dân Việt Nam, Mỹ đă thực sự phối hợp lực lượng với những kẻ đă từng cộng tác với Nhật Bản. Và ai là kẻ thù mới của Mỹ? Hồ Chí Minh và những người theo ông ta – Việt Minh – những người đă cộng tác chặt chẽ trong nỗ lực chống Nhật của Mỹ và Đồng Minh. Việt Minh c̣n cứu cả những phi công Mỹ bị bắn rơi thuộc Phi Đoàn 14 của Mỹ. Nhưng những điều này không đáng kể ǵ đối với những tên tài phiệt trong công ty Mafia nằm trong chính quyền Mỹ. Cái thủ đoạn cổ điển của Mỹ đâm sau lưng đồng minh của ḿnh đă đặt điệu cho cơn ác mộng khủng khiếp ở Đông Nam Á trong 35 năm tới.

Hồ Chí Minh đă bị cái Công Ty Mafia trong chính quyền Mỹ phản bội v́ họ đơn giản khoác cho ông ta cái nhăn hiệu “Cộng sản”.

John Kerry, Trung Úy Thủy Quân, làm chứng trước Ủy Ban Ngoại Giao của Thượng Viện năm 1971.

“Tôi muốn nói rằng vài tháng trước ở Detroit chúng tôi có một cuộc điều tra trong đó có 150 quân nhân đă được giải ngũ trong danh dự đă làm chứng cho những tội ác chiến tranh phạm ở Đông Nam Á. Họ nói những câu chuyện của thời đó là chính họ đă hăm hiếp, cắt tai, chặt đầu, kẹp giây điện từ những bộ máy truyền tin vào nhưng cơ quan sinh dục rồi quay điện, chặt chân tay, làm nổ tan xác, bắn chơi vào các thường dân, triệt hạ cả làng theo kiểu của Thành Cát Tư Hăn, bắn trâu ḅ, chó, làm tṛ chơi, đầu độc các kho lương thực và hầu như là tàn phá toàn diện miền quê Nam Việt Nam, ngoài sự tàn phá thông thường của chiến tranh và sự tàn phá thông thường và đặc biệt của những cuộc bỏ bom trên đất nước này.”

Những hành động tàn bạo của Quân Đội Mỹ và những kỹ thuật tra tấn của Lực Lượng Đặc Biệt:

Trong thời những chính quyền thời Kennedy và Johnson số quân sát nhân xâm lăng của quân đội Mỹ nhảy vọt từ 23000 năm 1963 lên tới 184000 năm 1966. Con số này cao nhất trong năm 1969 mà Nixon làm Tổng Thống, với 542000 binh sĩ Mỹ chiến đấu chống Việt Cộng.

Nhưng đó không phải là tất cả những ǵ họ đă làm.

Quá nhiều “con em của chúng ta” đă phạm phải những tội ác cuồng dâm chống nhân loại. Lính Mỹ tra tấn tù binh. Lính Mỹ hiếp người qua đường hậu môn, hăm hiếp và bạo sát đàn bà và con gái. Lính Mỹ tàn sát toàn thể đàn ông, đàn bà, trẻ con trong nhiều làng – kể cả con nít - ở nhiều, nhiều nơi như Mỹ Lai và Thạnh Phong.

[Thạnh Phong là cái làng mà Nguyên Thượng Nghị Sĩ Robert Kerrey (không phải là John Kerry) đă chỉ huy một toán SEALS 7 người vào tàn sát 21 người đàn ông, đàn bà và trẻ con trong làng vào tháng 2, 1969. Vào căn nhà lá đầu tiên, toán này đă cắt cổ một ông lăo, vợ ông ta và 3 đứa cháu nhỏ.

["Former US Senator Robert Kerrey, newly inaugurated as the president of the New School University, one of the most prestigious positions in American academia, has admitted participating in a death squad attack on a Vietnamese village [Thanh Phong] 32 years ago, in which he and six soldiers under his command killed 21 women, children and elderly men. "In the course of the nighttime assault, the American raiders [U.S. Navy SEALS] killed every Vietnamese they encountered — men, women, children. They used every weapon in their arsenal, from knives to rifles and grenades to light anti-tank weapons, expending more than 1,200 rounds of ammunition on a village where only a few dozen people lived. "...the SEALS slit the throats of an elderly man, his wife and three grandchildren in the first hut they encountered when they entered the village. The graves of these five victims, marked with a common date of death, can be seen in the village today." TCN]

Tài liệu trong  cuốn Rogue State: A Guide to the World’s Only Superpower của William Blum cho thấy vài chi tiết về chính sách tàn bạo, diệt chủng của Mỹ:

Lực Lượng Đặc Biệt dạy binh sĩ của ḿnh thi hành nhiệm vụ ở Việt Nam phải dùng tra tấn như thế nào là một phần trong sự thẩm vấn.

Chiến dịch Phụng Hoàng nổi tiếng, dựng lên bởi CIA để quét sạch hạ tầng cơ sở của Việt Cộng, đă tra tấn những người bị t́nh nghi như sau:

- Quay điện vào các bộ phận sinh dục của nam và nữ.

- Cắm vào tai một cái đũa gỗ dài 15 cm rồi đập dần đũa vào óc cho đến khi nạn nhân chết.

- Những người bị t́nh nghi cũng bị ném từ trên trực thăng xuống để làm gương cho những người t́nh nghi quan trọng khác phải khai, tuy đây có thể coi như là sát nhân đối với nạn nhân bị ném, nhưng cũng là một h́nh thức tra tấn đối với những người khác.

- Vi phạm Quy Ước Geneva, Mỹ trao tù binh cho đồng minh Nam Việt Nam của họ biết rơ rằng nhưng người này sẽ bị tra tấn, viên chức Mỹ thường có mặt trong cuộc tra tấn.

Cuộc Tàn Sát Bắt Đầu Trong Sự Sốt Sắng:

Cương quyết thi hành dịch vụ diệt chủng, Không Quân Mỹ phát động chiến dịch “Rolling Thunder” tấn công dân Việt Nam năm 1964. Riêng cuộc tấn công này đă thả xuống dất nước nhỏ bé nhiều bom hơn là toàn thể số bom dùng trong Đệ Nhị Thế Chiến.

Trong 5 năm tiếp theo, nhiều trăm ngàn người dân Việt Nam, đàn ông, đàn bà, trẻ con bị nghiền nát và thiêu sống bởi những phi hành đoàn của Không Quân Mỹ. Đất nước Việt Nam phải chịu đựng 22 tấn thuốc nổ cho mỗi 1.6 km vuông. Nghĩa là 660 kg chất nổ mạnh cho mỗi người, đàn ông, đàn bà và trẻ con.

Trong 13 năm chiến tranh ác ôn của Mỹ chống dân tộc Việt Nam, tổng cộng là 8 triệu tấn bom (bom Napalm và bom chùm) và chất độc khai quang màu Cam đă thả trên đất nước – và ít ra là 3 triệu người đă bị tàn sát.

Hầu hết người Mỹ có lẽ không thể nào hiểu nổi điều này nghĩa là ǵ.

BA – TRIỆU – NGƯỜI !

Cùng với ḷ nướng thịt thổ dân Mỹ, ḷ nướng thịt người Việt Nam của Mỹ đă xếp Mỹ xuống đáy của địa ngục – cùng với những công ty nổi tiếng như Nazi của Đức, chính quyền Công Giáo Ustashi ở Croatia, quân lực Nhật Bản, quân lực Thổ Nhĩ Kỳ, những đoàn quân bạo dâm chiến thắng của Tây Ban Nha, những đoàn quân Mông Cổ, La Mă và những con quỷ diệt chủng như trên.

 Không chỉ những con quỷ Nazi Đức mới phạm tội diệt chủng. Chính quyền ác ôn và quân lực Mỹ của chúng ta cũng phạm tội diệt chủng. Hằng triệu người. Và tuyệt đại đa số nạn nhân là người dân thường không có ai bảo vệ.

[Vậy mà có tên chống Cộng ngu đến độ đ̣i đưa Cộng Sản ra Ṭa Án Xử Tội Phạm Chiến Tranh v́ vụ Tết Mậu Thân ở Huế]

Dân thường Đàn Ông . Đàn Bà. Trẻ Con.

Hăy coi câu chuyện ở Mỹ Lai như là một thí dụ về người lính Mỹ anh hùng của chúng ta khi hành sự - tàn sát trẻ con và hăm hiếp con gái Việt Nam để làm cho thế giới yên ổn cho những công ty như Coca Cola và hăng dầu Standard.

Sau cuộc tàn sát …bệnh tật và chết thêm:

Nhờ có sự kỳ thị chủng tộc kiêu căng, tự cho là công chính và không quan tâm của Mỹ mà người Việt Nam tiếp tục bị đau khổ. Năm 1985 người ta ước tính là một phần ba đất đai [Nam] Việt Nam bị nhiễm độc, v́ Không Quân Mỹ đă dùng thuốc khai quang như Chất Độc Màu Cam. Điều này đă khiến cho Việt Nam nghèo nàn, đất đai bị ô nhiễm nặng và có đầy những trái bom chùm chưa nổ - và người dân bị khủng khoảng tâm lư. 30 năm chiến tranh diệt chủng được nối tiếp bởi gần 20 năm cấm vận của Mỹ.

[Giáo sư Noam Chomsky cũng đă châm biếm, cho rằng Mỹ đă thắng một phần ở Việt Nam (A partial victory) v́ đă thành công để lại cho Việt Nam một di sản tan hoang đất nước, khó có cơ hội phục hồi về xă hội và kinh tế… (Nhưng CS đă phục hồi được về xă hội và kinh tế, và c̣n tiến xa hơn trước)]

Trong những năm từ khi những binh sĩ Mỹ giết người, hăm hiếp, lực lượng SEALS [Sea, Air and Land Forces], của Thủy Quân bị đá ra khỏi Việt Nam một cách ô nhục, cái di sản ác ôn của Mỹ để lại vẫn tiếp tục có ảnh hưởng đến người dân. Chất độc Da Cam đă đưa đến nhiều vụ khuyết tật bẩm sinh trong những thế hệ người dân Việt Nam và nhiều trăm ngàn trường hợp chết về ung thư đă xẩy ra trong những người sống trong những vùng bị trải thuốc khai quang..

Những trái bom chùm chưa nổ đă tạo ra những băi ḿn không có họa đồ, làm cho mọi người sợ hăi không dám canh tác trong những cánh đồng có thể trồng trọt được và ruộng lúa. Những trái bom đó của Mỹ vẫn tiếp tục giết hại, làm chân tay tàn phế và bị tàn tật suốt đời cho nhiều ngàn trẻ con và người lớn Việt Nam. (37)

Năm nay, cuốn “Kill Anything That Moves: The Real American War In Vietnam” của Nick Turse, mới xuất bản ngày 15 tháng 1, 2013, đă đưa ra những h́nh ảnh thực của quân đội Mỹ đối với người dân Việt Nam và đất nước Việt Nam.  Nick Turse cho chúng ta thấy sự phát hiện khủng khiếp của ông ta là, sự tàn sát ở Mỹ Lai không phải là một việc xẩy ra một cách đơn độc, mà chỉ là một vụ điển h́nh trong nhiều vụ tàn sát như vậy, mà trong một số vụ những người bị tàn sát là trẻ con, người già và phụ nữ. Trước khi giết, bao giờ cũng là hăm hiếp, tra tấn nhiều cách khác nhau, mà không có một quân nhân nào bị trừng phạt. Trong cuốn sách mới, “Giết mọi thứ di động”, Nick Turse đă chứng minh, sau một thập niên khảo cứu về những điều khó chấp nhận, là không quân và lục quân Mỹ đă giết nhiều thường dân ở ngoài Bắc và ở trong Nam như là một chính sách – lặp đi lặp lại, ngày này qua ngày khác, tuần này qua tuần khác, tháng này qua tháng khác, năm này qua năm khác.

Tất cả những tội ác chiến tranh như trên của Mỹ ở Việt Nam, mỗi tội chỉ xảy ra trong một thời gian và không gian nào đó và đă qua. Nhưng c̣n một tội ác chiến tranh khác vẫn c̣n di hại ở Việt Nam cho tới ngày nay mà không biết bao giờ mới hết. Đó là di hại của chất độc màu da cam [agent orange] dùng trong chiến tranh hóa học của Mỹ ở Việt Nam. Chúng ta hăy đọc một đoạn trong cuốn Không Thể Chuộc Lỗi [Failure to Atone] của Bác sĩ Allen Hassen, trang 271, nội dung là những “Sự thật chưa từng được tiết lộ của một bác sĩ t́nh nguyện người Mỹ tại Việt Nam”:

Thảm Kịch Và Di Họa: Trong suốt một thập kỷ, từ năm 1961 đến năm 1971. Quân đội Mỹ đă tiến hành một cuộc chiến tranh hóa học lớn nhất trong lịch loài người tại miền Nam Việt Nam. Theo số liệu thống kê, trong cuộc chiến tranh hóa học này, khoảng 3 triệu hecta rừng cây và đồng ruộng Việt Nam đă phải hứng chịu 80 triệu lít chất diệt cỏ và làm rụng lá cây (hay c̣n gọi là chất khai quang). Cho đến ngày nay, khi mà cuộc chiến tranh đă lùi vào dĩ văng hơn 30 năm, nhưng những “cơn mưa hóa chất” do những chiếc máy bay Mỹ phun từ trên trời xuống vẫn để lại hậu quả nặng nề: cuộc sống của hàng triệu người Việt Nam đă, đang và vẫn sẽ c̣n bị âm thầm hủy hoại không biết đến bao giờ!

Về ảnh hưởng của chất độc da cam, ngày nay chúng ta đă có rất nhiều tài liệu. Chính quyền Mỹ đă để ra nhiều triệu đô-la để đền bù cho những cựu quân nhân Mỹ bị ảnh hưởng của chất độc da cam. Nhưng Mỹ từ chối trách nhiệm đối với những nạn nhân người Việt Nam. Đó là đạo đức của Mỹ. Chúng ta có thể đọc một số chi tiết trong bài:

ĐẠO ĐỨC CHÍNH QUYỀN MỸ Trong Vấn Nạn CHẤT ĐỘC MÀU DA CAM Và Sự Vô Sỉ Của Một Số Người Việt Lưu Vong, trên: http://www.sachhiem.net/TCN/TCNkh/TCNkh18.php

Quư độc giả cũng có thể đọc cuốn “Chất Độc Màu Da Cam” của Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn, Giao Điểm xuất bản năm 2005. Đây là một công tŕnh nghiên cứu nghiêm túc của một khoa học gia người Việt ở Úc. Cuốn sách viết về mức độ tác hại to lớn của chất độc màu da cam trên đất đai, mùa màng, môi trường và con người ở Việt Nam với những dữ kiện khoa học khó ai có thể phủ bác, nhất là càng ngày càng có nhiều nghiên cứu về chất độc màu da cam trong thế giới Tây phương mà những kết quả nghiên cứu không những đồng thuận với công cuộc nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Tuấn mà c̣n tiến xa hơn nữa trong việc khẳng định ảnh hưởng của chất độc màu da cam trên con người và môi sinh. Nội dung cuốn sách, ngoài việc đưa ra những tác hại của chất độc màu da cam và lên án chính sách diệt chủng của Mỹ, chúng ta c̣n thấy trong đó tiềm tàng ḷng yêu dân tộc của tác giả.

 

Hậu Chiến.

Một tính toán chính trị sai lầm, đan quyện với một ư đồ đế quốc thực dân mới (thực dân kinh tế), cộng với ảo tưởng của “một thị trấn trên một ngọn đồi” của những dân “cao-bồi bắn dân Da Đỏ” (cowboys shooting Indians) trong những phim về Miền Tây nước Mỹ “Westerns”, đă đưa nước Mỹ vào vũng lầy Việt Nam bất kể lư do, bất kể đạo đức, bất kể công pháp quốc tế, nhưng rồi phải gánh chịu một cuộc thảm bại đầu tiên trong quân chính sử nước Mỹ, sau khi tàn phá đất nước Việt Nam một cách man rợ, vô nhân tính. Noam Chomsky đă châm biếm, cho rằng Mỹ đă thắng một phần ở Việt Nam (A partial victory) v́ đă thành công để lại cho Việt Nam một di sản tan hoang đất nước, khó có cơ hội phục hồi về xă hội và kinh tế, cộng với cuộc cấm vận của Mỹ kéo dài trong 19 năm. Trong cuốn The Political Economy of Human Rights - Volume II, Noam Chomsky and Edward S. Herman, South End Press, 1979, hai tác giả viết:

Mục đích chính của Mỹ ở Thế Giới Thứ Ba là đảm bảo rằng thế giới này phải mở cửa để cho sự xâm nhập kinh tế và kiểm soát chính trị. Không chịu như vậy th́ Mỹ sẽ dùng mọi nỗ lực để đảm bảo là những quốc gia muốn đi theo con đường độc lập tự quyết… th́ sẽ phải gánh chịu những điều kiện khó khăn nhất mà quyền lực của Mỹ có thể áp đặt lên. (38)

Giáo sư Loren Baritz viết chi tiết hơn trong cuốn “Backfire…”, trang 274:

Sau bao nhiêu điều nói láo, bao nhiêu sự tàn sát, huyền thoại về “thị trấn trên một ngọn đồi” không c̣n có thể đưa ra để biện minh cho đạo đức của Mỹ để can thiệp vào Việt Nam. Sau bao sự thất vọng, sự thử thách về kiên nhẫn, đức tin vào nền văn hóa kỹ thuật đă trở nên ít thuyết phục hơn là sự mong muốn giảm sự tổn thất của chúng ta và tháo chạy. Quân lực Mỹ không bị đánh bại ở chiến trường; văn hóa Mỹ bị đánh bại trước những chiến thắng.. Benjamin Franklin dạy chúng ta “th́ giờ là tiền bạc”. Như chúng ta đă tiêu phí nhiều triệu đô-la, họ (Bắc Việt) chịu đựng trong nhiều năm. Họ đă phải trả một giá cao về những đời sống. Sự đầu tư của họ đă thành công.

Trang 341: Một hậu quả khác của sự dùng kỹ thuật một cách hoang phí là sự thỏa măn khi chúng ta khám phá ra rằng Cộng sản không thể giải quyết được những vấn nạn về kinh tế và xă hội sau khi thắng. Chúng ta đă xử sự để đảm bảo rằng họ chỉ thắng được một đất nước tan tành, không c̣n một giá trị kinh tế nào c̣n tồn tại ở ngoài Bắc, với hàng ngàn mẫu rừng chết khô ở miền Nam, cùng với sự lụt lội và đất đai mất khả năng trồng trọt. Chúng ta để lại cho họ một mặt đất lỗ chỗ như mặt trăng với những vũng nước độc, một mảnh đất chết, và một dân miền Nam đồi bại mà Thượng nghị sĩ Fulbright đă từng nhận định: “Một xă hội của gái điếm và lính đánh thuê.” (39) [Fulbright không nghĩ đến nguyên nhân từ đâu mà xă hội Nam Việt Nam, ít ra là ở các thành thị, trở thành như vậy. Nếu là người có đầu óc một chút th́ Fulbright không bao giờ nên nói như vậy. V́ nguyên nhân chính là Mỹ đă nhập cảng những giá trị của lính tráng Mỹ vào Nam Việt Nam. TCN]

Chúng ta hăy đọc một tài liệu của Marilyn Young trong cuốn The Vietnam Wars (1945-1990), trang 301, về t́nh trạng Việt Nam sau cuộc chiến:

Sau cuộc chiến: Nhu cầu rất cần viện trợ của Việt Nam ở mức độ cao nhất: Ở trong Nam, 9000 trong số 15000 thôn xă, 25 triệu mẫu đất trồng trọt, 12 triệu mẫu rừng bị phá hủy, và 1.5 triệu gia súc bị giết; có khoảng 200000 gái điếm, 879000 trẻ mồ côi, 181000 bị tàn phế, và 1 triệu phụ nữ góa chồng; tất cả 6 thành phố kỹ nghệ ở ngoài Bắc bị hư hại nhiều, cũng như nhiều tỉnh lỵ khác, và 4000 trong số 5800 phường nông nghiệp. Bắc và Nam, đất đai bị lỗ chỗ bởi những hố bom và c̣n nhiều bom chưa nổ, cho nên sau cuộc chiến lâu mà các nông dân và gia đ́nh vẫn bị trọng thương khi họ muốn khai phá trồng trọt lại trên những cánh đồng. 75 triệu lít chất diệt trừ sâu bọ đă được trải trên miền Nam trong cuộc chiến, và dù ảnh hưởng lâu dài của những chất độc không được rơ vào năm 1975, nhiều dị tật bẩm sinh và trụy thai đă xẩy ra từ sớm. (40)

Hăy nghĩ tới xă hội Việt Nam sau cuộc chiến, mọi mặt đều kiệt quệ đến tận xương tủy, cộng với chính sách cấm vận trong 19 năm để trả thù của Mỹ (Ấn Độ muốn viện trợ cho Việt Nam 100 con trâu cũng bị Mỹ ngăn chận), Trong hoàn cảnh của cả đất nước như vậy, những khó khăn trong cuộc sống là điều làm sao tránh được. Số người vượt biên gia tăng là chuyện dễ hiểu dù rằng tuyệt đại đa số, dù họ có ở lại, cũng không thuộc thành phần bị đàn áp, trả thù chính trị hay phải đi học tập cải tạo. Việt Nam không có cây đũa thần, nhưng tôi không hiểu với ư chí nào mà  Việt Nam vươn lên được tới t́nh trạng ngày nay, phải chăng đó là một phép lạ. Trong phép lạ này cũng có phần của một số người Việt hải ngoại, những người không chịu nghe theo lệnh của bọn người áo đen, bọn bán phở và viết báo chống Cộng, yêu cầu Mỹ đừng bỏ cấm vận, hô hào dân tỵ nạn đừng gửi tiền về, đừng về Việt Nam, đừng mua hàng Việt Nam v..v... Tôi khuyên những người Việt ở ngoại quốc nghĩ láo, nói láo về Việt Nam, hăy về Việt Nam một chuyến để xem đất nước ngày nay mở mang như thế nào. C̣n chuyện suy thoái đạo đức cách mạng hay những tệ đoan trong xă hội là những chuyện mà chúng ta phải cố gắng giải quyết ngày nay, chúng không liên quan ǵ đến bản chất hai cuộc chiến chống xâm lăng trước và sau Geneva.

 

Kết Luận.

 Giáo sư Baritz viết một câu hơi khó hiểu: Bắc Việt quan niệm “Không thua là thắng” nếu họ kiên tŕ, c̣n cấp lănh đạo Mỹ th́ quan niệm “Không thắng là thua” (Backfire…, p. 275: The North Vietnamese believed they would win if they did not lose, if they could hang on. The American war leaders believed they would lose if they did not win.) Và Bắc Việt đă kiên tŕ tranh đấu để cho Mỹ không thắng. Sau đây tôi sẽ không bàn về vấn đế thắng hay thua mà thử giải thích tại sao cuộc chiến lại có một kết cục như vậy.

Tôi muốn giải thích dựa trên quan điểm của tôi, một người đă từng tham dự cuộc chiến và đă sống ở miền Nam cho đến vài ngày trước ngày 30 tháng 4, 1975, và dựa trên những điều tôi biết về các chế độ miền Nam, nhưng tôi sẽ không đi vào những chi tiết mà tôi không muốn nói đến v́ dù sao tôi cũng là người theo phe miền Nam. Tôi cũng sẽ đưa ra một số quan điểm của người Mỹ về kết cục của cuộc chiến.

Những yếu tố quyết định một cuộc chiến giữa hai phe là ǵ? Theo tôi th́ có bốn: chính nghĩa làm động cơ chiến đấu, khả năng và tư cách của cấp lănh đạo quân chính, ư chí chiến đấu của binh sĩ, và tất nhiên, lực lượng quân sự. Về chính nghĩa và khả năng và tư cách của cấp lănh đạo quân chính th́ Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang đă có những bài phân tích khá đầy đủ.

Đọc giả có thể đọc các bài sau đây của GS Quang:

- Quan Niệm Về Chính Thống Hay Chính Nghĩa Của Người Lên Cầm Quyền, [http://sachhiem.net/index.php?content=showrecipe&id=5044];

- Tính cách thuận lư và nghich lư của một chính quyền [http://sachhiem.net/index.php?content=showrecipe&id=7] ;

- Các nhân vật lănh đạo [http://giaodiemonline.com/nov/chuong18.htm]

Ở đây, tôi chỉ đưa ra vài nét chính. Về những yếu tố quyết định này, có những sự thật khá đau ḷng đối với người Việt Quốc Gia. Dù chúng ta có chấp nhận hay không th́ những sự thật lịch sử vẫn là những sự thật. Chúng ta có thể viết lịch sử theo ư chúng ta muốn. Nhưng trước những sự thật hiển nhiên mà chúng ta cứ cố t́nh xuyên tạc để nói lên những điều không đúng sự thật th́ đó chỉ chứng tỏ tư cách không lương thiện trí thức của chúng ta mà thôi.

Như trên tôi đă chứng minh, hai cuộc chiến tiền và hậu Geneva thực chất là chống xâm lăng, trước là Pháp, sau là Mỹ.. Cho nên, Bắc Việt, dù mang cái vỏ Cộng sản, vận động quần chúng chống xâm lăng th́ chúng ta cũng không thể phủ nhận là họ có chính nghĩa. Chúng ta không thể nói một cách vô trách nhiệm: V́ họ là Cộng sản nên họ không có chính nghĩa. Về phía Quốc Gia th́ bất kể lư tưởng ra sao, nhưng thực chất đều là nằm dưới quyền của những thế lực ngoại quốc, với quân đội ngoại quốc nằm trên đất nước, mới đầu là Pháp, sau là Mỹ, cho nên khó có thể gọi là có chính nghĩa, ít ra là đối với đa số người dân Việt Nam hai miền. Cộng hay không là vấn đề nội bộ của Việt Nam, người ngoài đừng có xía vào. Người Mỹ có câu “không phải chuyện của anh” (none of your business). Nhưng chúng ta đă biết, Mỹ dùng “cường quyền thắng công lư”, cùng tay sai Ngô Đ́nh Diệm phá cuộc Tổng Tuyển Cử năm 1956 quy định bởi Hiệp Định Geneva.

Về các cấp lănh đạo hai miền th́ khó mà có thể so sánh, đối chiếu. Hầu hết những cấp lănh đạo của Bắc Việt trong hai cuộc chiến ở Việt Nam là những người yêu nước, chống Pháp, chống Nhật, vào tù ra khám. Giáo sư Harrison viết trong cuốn The Endless War, Ibid., trang 20: “Trong 42 người trong Ủy Ban Trung Ương Đảng th́ 14 người bị giết bởi Pháp từ năm 1930, và những người sống sót đă ngồi tù tổng cộng là 222 năm, trung b́nh mỗi người hơn 7 năm” (Of the Party’s Central Committee (there were the 42 full members), 14 had been killed by the French since 1930, and the survivors had spent 222 years in prison, an average of over 7 year each). Thử đối chiếu giữa hai khuôn mặt chính trong cuộc chiến chống Mỹ: Hồ Chí Minh và Ngô Đ́nh Diệm.

Bất kể Ngô Đ́nh Diệm có chống Cộng cho Chúa hay tự nhận là một phán quan Tây Ban Nha để diệt những người mọi rợ không tin Chúa hay không, nhưng trên thực tế đối với đa số người dân Việt th́: một đàng suốt đời sống gian khổ, tổ chức, tập họp những người yêu nước chống Pháp, mong giành lại độc lập và thống nhất cho đất nước [Cụ Hồ], một đàng làm quan cho Pháp, bắt người yêu nước chống Pháp tra khảo, rồi trong khi nước nhà sôi bỏng v́ chiến tranh, kháng chiến chống Pháp trở lại Đông Dương th́ nằm yên vị trong các Trường Ḍng Công Giáo ở Mỹ, Bỉ rồi được Mỹ bốc về làm “chí sĩ cứu tinh dân tộc” [Cụ Diệm].

 

http://richgibson.com/HoChiMinh.htm

Trên đây là các h́nh ảnh tiêu biểu của Cụ Hồ với dân chúng

 

Và dưới đây là vài h́nh ảnh tiêu biểu của ông Diệm.

Cảnh năm 1961, quân đội VNCH đẩy thuyền đưa Cụ đi thăm nước lụt và đứng dưới nước để dàn chào Tổng Thống. Ảnh từ video clip http://www.youtube.com/watch?v=mqd2ccc5N_o&feature=youtu.be

 

http://www.youtube.com/watch?v=mqd2ccc5N_o&feature=youtu.be

 

Hai h́nh ảnh trái ngược khác: một đàng thường chỉ mặc chiếc quần cụt Kaki, chân đi đôi dép, sống thân thiện ḥa ḿnh với binh sĩ, dân chúng, trẻ em bá vai bá cổ; một đàng th́ luôn luôn mang bộ âu phục màu trắng, sống quan liêu, xa cách dân chúng, đi đâu là tiền hô hậu ủng, sợ dân, cảnh sát bắt dân phải quay mặt đi chỗ khác v…v…

Về các tướng tá miền Nam th́ khỏi nói. Họ là những ai? Thành tích yêu nước ra sao? Khả năng quân sự và đạo đức ra sao? Ông Thiệu? Đặng Văn Quang? Ngô Dzu? Trần Thiện Khiêm? v…v… và v…v…Chúng ta không nên nhắc đến họ th́ hơn.

Tôi cũng không muốn bàn đến tác phong, ư chí chiến đấu của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa. Không phải trong Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa không có người thanh liêm và có khả năng quân sự, nhưng vài con én không thể làm nổi mùa xuân. Tôi chỉ kể một điều phản ánh tâm trạng của một số người khi Mỹ đổ quân vào Việt Nam, khi đó tôi c̣n ở trong quân đội. Câu tôi thường nghe ở nhiều cấp trong quân đội là “Kệ mẹ nó, để cho nó đánh”. Tôi có thể nói rằng, phần lớn quân đội VNCH đánh chỉ để tự vệ, là vấn đề sống c̣n. Chẳng có mấy người, kể cả cấp tướng tá, hăng say chống Cộng v́ lư tưởng Quốc Gia, trừ những người Ca-tô chống Cộng cho Chúa chứ không phải cho Quốc Gia.

Cuối cùng là một nghịch lư:

“Miền Nam, tương đối vượt trội hơn miền Bắc về kinh tế, tổ chức xă hội, tự do, giáo dục v…v…, có hơn một triệu quân, một thời cộng với hơn nửa triệu quân Mỹ, với đầy đủ vũ khí, đạn dược, và có ưu thế tuyệt đối về máy bay chiến đấu, về B52 để trải thảm bom từ trên thượng tầng không khí, xe tăng, tàu chiến, và cả thuốc khai quang Agent Orange để cho Việt Cộng không c̣n chỗ ẩn núp v..v.. nhưng tại sao vẫn không thắng nổi đối phương để rồi Mỹ phải t́m cách Việt Nam hóa cuộc chiến, rồi “tháo chạy” [từ của Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng]. Với số quân cụ, máy bay, vũ khí được cung cấp ngay trước Thỏa Hiệp Paris 1973, một số lượng mà nếu cung cấp cho Bắc Việt th́ họ có thể đánh Mỹ cho đến hết thế kỷ, mà tại sao cuối cùng, Việt Cộng vẫn “cưỡng chiếm” được miền Nam?

Mỗi người hăy t́m câu trả lời cho chính ḿnh. Câu trả lời của riêng tôi là, sự phân tích rất sơ lược về bốn yếu tố quyết định trên và những tài liệu trong những phần trên là những câu trả lời rơ ràng nhất.

Bây giờ chúng ta hăy đọc vài nhận định của người Mỹ về tại sao Mỹ không thắng ở Việt Nam và kết quả của cuộc chiến đă ảnh hưởng đến nước Mỹ như thế nào.

Tại sao Mỹ thất bại ở Việt Nam? David Lamb (UPI reporter 1960’s; Los Angeles Time’s first peacetime bureau in VN) đă đưa ra một nhận định khá đúng trong cuốn Vietnam, Ngày Nay (“Vietnam, Now” , Public Affairs, NY, 2002) trang 91:

Sai lầm lớn của người Mỹ là không hiểu lịch sử, văn hóa và trạng thái tâm lư đặc trưng của Việt Nam. Họ quá tin chắc vào sức mạnh quân sự sẽ thắng cuộc chiến, không bao giờ buồn để ư đến chuyện t́m hiểu là họ chiến đấu với ai... Mỹ đă tới Việt Nam để xây dựng nhưng rút cuộc là phá hủy. Mỹ tới rừng rú Việt Nam để chiếm ḷng dân, nhưng trong cuộc chiến lâu dài nhất – cuộc chiến đầu tiên mà Mỹ thất trận –đă khám phá ra rằng những dụng cụ chiến tranh không thể thay thế cho sinh khí của tinh thần quốc gia. [của người dân Việt]. (41)

Một h́nh ảnh điển h́nh trong cuộc chiến cho chúng ta thấy tại sao người Mỹ không thể thắng được ở Việt Nam. Tôi xin dịch một đoạn trong trang 209 của một cựu quân nhân Mỹ trong cuốn Nh́n Lại Việt Nam: Những Bài Học Từ Một Cuộc Chiến (Vietnam Reconsidered: Lessons From A War, Edited by Harrison E, Salisbury, Harper & Row, Publishers, New York, 1984):

Sau khi được lệnh tấn công vào một làng qua một ruộng lúa, một binh sĩ Mỹ đă tham dự cuộc tấn công viết lại như sau:

“Trong làng chỉ có vài dân làng và vài gia súc. Một người đàn bà đang kêu khóc và nguyền rủa chúng tôi khi chúng tôi đi qua. Tôi không hiểu bà ta nói cái ǵ. Không phải là những lời khen tặng. Tại sao bà ta lại hét vào mặt tôi? Tôi đến từ mười sáu ngàn cây số, đi trong mưa, mưa rầm, sức nóng vùng nhiệt đới, cánh đồng lúa, sông ng̣i, lội bùn đến hông, ngă lên ngă xuống, bị mọi thứ sâu bọ cắn, luôn luôn mệt mỏi, bị tiêu chảy, sống bằng thức ăn mà tôi không cho cả chó ăn, bị bắn, phục kích, bị ném lựu đạn v..v.. để giải thoát bà ta – mà bà ta đang đứng kia nhổ vào mặt tôi và nguyền rủa tôi?

Một tiếng nói th́ thầm trong óc tôi. Nó nói rằng: “Này, ngươi, người đàn bà này cóc cần biết là ngươi cao quư như thế nào khi đến từ ngàn dậm để giải thoát bà ta khỏi Cộng sản; tất cả bà ta biết là nhà ngươi, hay là người nào đó giống ngươi, vừa mới đốt nhà bà ta. Nhà ngươi có thể gọi đó chỉ là cái nhà tranh và cười v́ nó không có cửa, nhưng đó là nhà của bà ta và nó vừa bị đốt cháy, bất kể là v́ những lư do cao quư nào. Đó là tại sao bà ta đang nguyền rủa nhà ngươi cũng như tổ tiên ba đời nhà ngươi. V́ chính ngươi, chứ không phải là những người Cộng sản, vừa mới đốt nhà bà ta và hủy diệt tất cả những ǵ đáng quư trong đời của bà ta. Về vấn đề nhà không có cửa, bà ta tiến bộ hơn các ngươi nhiều, điều mà có thể nhà ngươi không bao giờ biết được. Bà ta có một xă hội mà nhà không cần đến cửa, đừng nói đến một lô những khóa cửa, đối với cái xă hội cao quư của nhà ngươi. Đúng vậy, đồ ăn mày, nhà ngươi nghĩ rằng nhà ngươi quá văn minh đi; nhà ngươi nghĩ rằng nhà ngươi đă làm nhiều để giúp những dân nghèo, những dân man rợ ngu dốt này. Có thể trong một ngàn năm nữa, nếu xă hội của nhà ngươi c̣n tồn tại, nó sẽ tiến hóa đến mức nó có thể sống không sợ hăi để đến nỗi phải khóa cửa. Và rồi sau một ngàn năm nữa, nó sẽ tiến tới độ nhà không cần cửa. Hăy chịu khó để th́ giờ nghĩ về điều đó đi, đồ cứt chim”(42)

George C. Herring, trong cuốn America’s Longest War, The United States and Vietnam, 1950-1975, viết,  p. 271:

Việt Nam cho thấy rơ chính sách ngăn chận Cộng sản trên thế giới không thể thành công. Mỹ có một vị thế chưa từng có về sức mạnh quân sự và ảnh hưởng, và đă đạt được vài kết quả đáng kể ở Âu Châu trước đây. Tuy nhiên, sức mạnh quân sự của Mỹ là từ sự yếu kém của các nước khác chứ không phải là sức mạnh nội tại của Mỹ, và Việt Nam, không c̣n nghi ngờ ǵ nữa, đă chứng tỏ sức mạnh của Mỹ, bất kề là lớn lao đến đâu, cũng có giới hạn. Việt Nam cho thấy rơ ràng là Mỹ không thể duy tŕ quan niệm về trật tự thế giới của ḿnh trước sự kiên quyết của một kẻ thù yếu kém hơn nhiều. Cuộc chiến sẽ không đưa đến sự suy thoái sức mạnh của Mỹ, như một vài người cho rằng như vậy, nhưng đó là triệu chứng của những giới hạn về sức mạnh quốc gia của Mỹ trong thời đại nguyên tử và những sự khác biệt trên thế giới.

Chủ đích cuộc can thiệp của Mỹ vào Việt Nam không phải để đảm bảo một cuộc sống tốt đẹp hơn cho người Việt Nam. Một số lớn người Việt Nam không muốn sống dưới dạng chính quyền Cộng sản. Mặt khác, người Việt Nam cũng không hồ hởi để ôm vào – có thể là ngay cả không hiểu – lối sống của người Mỹ. (43)

Mỹ đă thất bại ở Việt Nam trong những mục đích tham chiến, sau những chiêu bài như bảo vệ nền văn minh Ki Tô Giáo, hay nhân danh thế giới tự do chống Cộng sản, hay giúp dân Việt Nam để có tự do dân chủ. Nhưng chúng ta đă biết, tất cả những chiêu bài Mỹ đưa ra đều không có giá trị. Kết cục của cuộc chiến đă khiến cho trước thế giới, Mỹ không c̣n là “một thị trấn trên một ngọn đồi”. Nhưng không phải chỉ có vậy. Morris Dickstein viết trong Gates of Eden: American Culture in the Sixties, Basic Books, New York, 1977, trang 271:

Ở Việt Nam chúng ta không chỉ thua một cuộc chiến tranh và mất đi một tiềm lục địa, chúng ta cũng c̣n mất đi ḷng tự tin lan tràn khắp xă hội rằng vũ khí và mục tiêu của Mỹ bằng cách nào đó nối kết với công lư và đạo đức, không chỉ với sự theo đuổi quyền lực. Mỹ đă thất bại về quân sự, nhưng “ư tưởng quốc gia” của Mỹ, huyền thoại về nước Mỹ mà chúng ta ấp ủ, c̣n bị một cú làm cho tiêu tan hơn…Việt Nam đă tước đi mất một h́nh ảnh về quốc gia này mà chúng ta hết sức cần đến  (44)

Paul Potter viết trong bài Mỹ không có bảo vệ tự do ở Việt Nam” (The United States is not defending freedom in Vietnam) trong cuốn “Perspective on Modern World History: The Vietnam War”, Greenhaven Press, MI, 2011, p. 114:

Cuộc chiến tranh không thể tin được ở Việt Nam đă cung cấp lưỡi dao cạo, cạnh cắt sắc đáng sợ cuối cùng đă làm tổn thương đến dấu vết của ảo tưởng là đạo đức và dân chủ là những nguyên tắc chỉ đạo của chính sách ngoại giao Mỹ. Tự cho là công chính, nền đạo đức bọc đường hứa hẹn giúp kinh tế Việt Nam một tỷ đô-la ngay mà lúc chúng ta gửi đến nhiều tỷ để phá hủy kinh tế và xă hội và đàn áp chính trị th́ nhanh chóng mất đi quyền năng nào đă từng có để bảo đảm với chúng ta về sự đứng đắn của chính sách ngoại giao của chúng ta. Chúng ta càng đào sâu vào thực tế những ǵ nước này đang làm và hoạch định ở Việt Nam th́ chúng ta càng đi đến kết luận của Thượng Nghị Sĩ Wayne Morse, rằng Mỹ rất có thể là sự đe dọa lớn nhất cho ḥa b́nh thế giới ngày nay..

Tổng thống Johnson nói rằng chúng ta đang bảo vệ tự do ở Việt Nam. Tự do của ai? Không phải là tự do của người Việt Nam. Hành động đầu tiên của tên độc tài đầu tiên Mỹ đặt ở Việt Nam, Ngô Đ́nh Diệm, đă bắt đầu khủng bố một cách có hệ thống mọi đối lập chính trị, Cộng sản cũng như không Cộng sản..

Mô thức đàn áp và phá hủy mà chúng ta đă phát triển và biện minh trong cuộc chiến th́ quá rốt ráo đến 1965 chúng ta chỉ có thể gọi đó là “văn hóa diệt chủng”. Tôi không chỉ nói về bom napalm hay chất phá hủy mùa màng hay tra tấn đă giáng vô tội vạ lên đầu các phụ nữ và trẻ em, những quân nổi giậy hay trung lập, khi chỉ nghi ngờ là có hoạt động của quân nổi giậy. Những thứ này đă đủ khủng khiếp ngoài sức tưởng tượng. Nhưng đó chỉ là một phần trong một mô thức lớn hơn để phá hủy toàn bộ cơ cấu xă hội của Việt Nam. Chúng ta đă làm mất gốc rễ người dân khi kéo họ ra khỏi đất đai của họ để cầm tù họ trong những trại tập trung (ấp chiến lược). Qua sự cưỡng bách ṭng quân và trực tiếp can thiệp và kiểm soát chính trị, chúng ta đă phá hủy tục lệ và truyền thống địa phương, chà đạp lên những thứ có giá trị đối với người dân về phẩm cách và mục đích của sự sống.

Làm sao mà ai có thể lấy làm ngạc nhiên khi thấy một dân tộc phải gánh chịu cuộc chiến toàn diện tiến hành trên đất nước họ và nền văn hóa của họ, nên càng ngày càng có nhiều người nổi lên chống lại sự chuyên chế bạo ngược đó? Có cách giải quyết nào khác? Vậy mà sự đáp ứng của chúng ta trước sự nổi giậy đó là đàn áp mạnh mẽ hơn, chống đối tàn nhẫn hơn những thể chế xă hội và văn hóa có tác dụng duy tŕ phẩm giá con người và ư chí đối kháng.

Ngay cả Tổng thống cũng không thể nói là cuộc chiến tranh này là để bảo vệ sự tự do của người dân Việt Nam. Có thể khi Tông thống nói về tự do th́ đó là tự do của người Mỹ. Nhưng có một lô-gíc kỳ cục nào có thể nói là sự tự do của một dân tộc (Mỹ) chỉ có thể duy tŕ được bằng cách nghiền nát sự tự do của dân tộc khác (Việt Nam).? (45)

Trong cuốn “The Endless War”, Ibid., trang 316, Giáo sư James P. Harrison viết:

Không ai có thể bàn căi về những cuộc tranh đấu thắng lợi của những bậc lănh đạo trong Đảng và Chính Quyền Việt Nam trong nhiều thập niên trước năm 1975. Muốn hiểu những cuộc tranh đấu này, điều cần là phải bắt đầu từ trước năm 1945, khi mà những người Cộng sản đă nắm được một phần quyền lực ở Việt Nam. Chỉ nh́n một cách bao quát như vậy mới mở r cho chúng ta hiểu về sự bền chí và kiên cường của những người Cộng sản Việt Nam. Từ đó mới có thể nh́n thấy là những đặc tính đó là sản phẩm, có thể hầu như là sản phẩm duy nhất, của một sự hiến thân có gốc rễ trong nền văn hóa lịch sử của đất nước, trong những khía cạnh tôn giáo của sự cam kết cách mạng cho tinh thần quốc gia và chủ nghĩa Marx, và trên hết là sự tổ chức của họ mà trong 50 năm đă động viên được sự ủng hộ của giới trẻ, phụ nữ và các nông dân để lập lên những “thành đồng” và “lũy thép” để có thể chịu đựng được những sự bất lợi lớn lao nhất trong lịch sử... Dù sao th́, bất kể những ǵ đă xẩy ra ở Việt Nam, chúng cũng nhắc nhở cho chúng ta đó cuộc một chiến cách mạng đáng lưu ư nhất trong lịch sử.. (46)

Và trong cuốn “The Limits of Intervention”, Ibid., trang 127, Thứ Trưởng Bộ Không Lực Hoa Kỳ, Townsend Hoopes, nhận định:

Ḷng khao khát về quốc gia là mệnh lệnh lịch sử để giải thích con người Hồ Chí Minh. Những phát biểu về Cộng sản quốc tế [của ông Hồ] đều có thực, nhưng chỉ là thứ yếu. Duy tŕ một nền tảng ủng hộ rộng răi cho cuộc chiến trong nhiều thập niên; làm thấm nhuần trong những cấp chỉ huy trong quân đội sự kiên cường, sáng kiến giải quyết các vấn đề, và sẵn sàng hi sinh trước những bất lợi to lớn; nuôi dưỡng sự bền chí trước những thất bại; tổ chức lại nền kinh tế và hệ thống phân phối dưới áp lực của những trận bom Mỹ - nói ngắn gọn, đánh bại một sức mạnh quân sự nổi tiếng và thách thức quốc gia mạnh nhất trên thế giới – những thành đạt như vậy, nh́n một cách khác quan, sẽ khiến cho ông Hồ đi vào lịch sử như là một lănh tụ kỳ diệu. Nhưng điểu này chỉ có thể giải thích được trong tinh thần của chủ nghĩa quốc gia; lư tưởng là một nhiên liệu không có đủ chất octane.

(Điều này có nghĩa là lư tưởng Cộng sản không đủ để cho Việt Nam có được những thành đạt như vậy).

Nhưng chủ nghĩa quốc gia mới là lực thúc đẩy chính,  do đó cuộc chiến ở Việt Nam không phài là cuộc thử thách về ư chí của hai phe – Hà nội và Washington – có cùng mục đích như nhau. Đối với Bắc Việt, đó là một cuộc tranh đấu căn bản, một nhiệm vụ bao trùm mọi vấn đề khác, vấn đề sống c̣n. Đối với Mỹ, nó có tính cách ngoại vi, một sự cạnh tranh cần thiết cho sự chú ư của thế giới và cho tiềm lực kinh tế và quân sự với nhiều quyền lợi khác của một cường quốc trên hoàn cầu. (47)

 

Hậu Kết

Việt Nam kháng chiến chống Pháp, cũng như chống Mỹ, không phải để bành trướng chủ nghĩa Cộng Sản của Tàu và Nga như nhiều người đă nh́n theo quan điểm thiển cận của ḿnh với mục đích chống Cộng. Việt Nam không có khả năng như vậy, dù muốn. Thật vậy, tuyệt đại đa số những nhà nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam đều công nhận rằng thuyết Domino của Mỹ là sai, và Việt Nam không lệ thuộc Nga và Tàu như người ta thường tưởng.

Đối với Cộng sản Việt Nam, chủ nghĩa quốc gia là chính yếu, chủ thuyết Cộng sản là thứ yếu.  Hơn nữa, khối Cộng Sản không phải là thống nhất, đoàn kết muôn người như một và lư tưởng Cộng Sản của những quốc gia bị áp bức dưới chế độ thực dân mỗi nước một khác và chủ đích áp dụng là để giải phóng quốc gia. Trong cuộc chiến 30 năm, từ 1945 đến 1975, Việt Nam chỉ ở trong thế bắt buộc để tự vệ trong mục đích giành độc lập và thống nhất cho nước nhà mà tôi tin rằng tuyệt đại đa số người dân Việt khao khát, lẽ dĩ nhiên không thể không có sự trợ giúp ở bên ngoài, từ các nước bạn. Nhiều sử gia đă cho rằng chính Mỹ đă đẩy ông Hồ Chí Minh hẳn về phía Cộng Sản, v́ ông Hồ Chí Minh không có con đường nào khác để thực hiện hoài băo giải phóng đất nước, giành độc lập và thống nhất cho nước nhà. Trên b́nh diện quốc tế, kết quả cuộc chiến ở Việt Nam đă góp phần không nhỏ cho sự cáo chung của chủ nghĩa thực dân trên thế giới.

Mỹ quên đi rất nhanh những tội ác chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam, như Bác Sĩ Allen Hassan nhận định: “Nước Mỹ nhớ rất kỹ những ǵ người khác gây cho họ - nhưng lại quên rất nhanh những ǵ họ đă gây ra cho người khác…” Mọi chính sách của Mỹ đều có tính cách lưỡng chuẩn. Mỹ tự cho quyền phán xét nhân quyền của nước khác nhưng không bao giờ nh́n đến vấn đề nhân quyền của Mỹ trên thế giới và bỏ qua những vi phạm nhân quyền trầm trọng trong các nước đồng minh của Mỹ. V́ vậy mà ngày nay mấy dân biểu cắc ké của Mỹ, thực chất không có bất cứ một quyền nào và không đủ tư cách, nhưng vẫn xía vào chuyện nội bộ Việt Nam một cách trơ trẽn trịch thượng mà không biết xấu hổ. Mỹ đền bù cho các cựu quân nhân Mỹ bị nhiễm chất độc màu da cam ở Việt Nam nhưng không thừa nhận tội ác dùng chiến tranh hóa học ở Việt Nam và không có sự đền bù nào cho những nạn nhân của chất độc màu da cam người Việt Nam.

Tôi quan niệm rằng, nếu những tài liệu mà tôi dẫn chứng trong bài viết này hiện có đầy trong các thư viện của các trường đại học, trong các thư viện công cộng, trong các tiệm sách, trong Internet v...v.., viết bởi các học giả Âu Mỹ, những người mà tôi tin rằng không có lư do ǵ để bị ảnh hưởng bởi cuộc xung đột Quốc Cộng ở Việt Nam, tuy cũng có vài tác giả hạng hai vẫn cố t́nh biện hộ cho cuộc can thiệp của Mỹ vào Việt nam.

Những tác phẩm này không tạo thành "vấn đề" đối với người Mỹ th́ không có lư do ǵ lại có vấn đề đối với những người Việt di cư. Tuyệt đại đa số những tác phẩm viết nghiêm chỉnh về cuộc chiến ở Việt Nam đều viết bởi các tác giả có uy tín trong xă hội như học giả, giáo sư đại học, bộ trưởng, cựu tướng lănh, chính trị gia v..v.., những người đặt sự lương thiện trí thức lên hàng đầu. Trường phái gọi là “chính thống” này thường viết sau khi tham khảo rất nhiều tài liệu và dựa trên những sự kiện lịch sử, và phân tích sự việc như chúng là như vậy. Phần lớn những tác phẩm thuộc loại này viết sau năm 1975, có khi cả nhiều năm sau. Không có lư những học giả của Mỹ trong các đại học lớn lại viết về chiến tranh Việt Nam với mục đích xuyên tạc sự thật để bôi nhọ quốc gia của họ. Kết luận của trường phái gọi là “chính thống” (orthodox) này là: “Cuộc can thiệp (intervention) hay xâm lăng (invasion) của Mỹ vào Việt Nam là bất chính và là một sự sai lầm lớn lao.” Điều này đúng hay sai? Những tài liệu trích dẫn trong phần trên đă có câu trả lời rơ ràng.

Bài viết này không phải là để chống Mỹ mà chỉ đưa ra một số sự thực về nước Mỹ liên quan đến vấn đề Mỹ can thiệp vào Việt Nam và những ǵ Mỹ đă làm ở Việt Nam. Nhiều trí thức Mỹ đă lên tiếng về những vấn đề này và ngày nay chúng ta không thiếu những tài liệu khả tín.

Có những sự kiện lịch sử mà tôi tin rằng rất ít người dân Mỹ b́nh thường biết đến, khoan nói đến những người Việt di cư. Quần chúng Mỹ thường ít để tâm đến những vấn đề này, họ chỉ quan tâm đến đời sống cá nhân sao cho thoải mái. Những người Mỹ thuộc thế hệ trước thường không muốn nhắc đến chiến tranh Việt Nam. Nhưng đối với người Việt th́ khác.

Chiến tranh đă chia rẽ ḷng người, thù hận một chiều của những kẻ chiến bại kéo dài, do đó những thông tin trong bài viết này là những thông tin mà tôi cho rằng chúng ta nh́n lại hai cuộc chiến như chúng thực là như vậy. “Rồi các ngươi sẽ biết sự thật, và sự thật sẽ cởi trói cho các ngươi”: đó là một câu trong Tân Ước. Đầu óc chúng ta thường bị trói chặt trong thiên kiến, trong thù hận, v́ chúng ta không biết đến sự thật, hay cố chấp bác bỏ những sự thật không phù hợp với sự hiểu biết hay thiên kiến của chúng ta. Hi vọng những sự thật trong bài viết này sẽ cởi trói cho chúng ta thoát khỏi những quan niệm cố chấp một chiều về hai cuộc chiến ở Việt Nam. Ngày 30/4 lại sắp tới, những người Việt lưu vong ngày nay c̣n nói đến những cụm từ “Mất nước” hay “Quốc hận” xin hăy nghĩ lại, Nước và Quốc của họ là cái ǵ?

Trần Chung Ngọc

Grayslake, IL.

Ngày 15 tháng 2, 2013.

 

 


 

Chú Thích Phần II:

 

1. The Government of the United States will refrain from the threat or the use of force to disturb them…

 In the case of nations now divided against their will, we shall continueto seek to achieve unity through free elections supervised by the United Nations to insure that they are conducted fairly.

2. Though the US said it would “refrain from the threat or the use of force to disturb” the agreements, it soon become evident that it was prepared to use every other means to back up the Saigon regime in its departure from their central provisions.

3.  During the course of its 21 years of involvement in Indochina, the United States Government offfered “reasons” for its actions.  These reasons were worthless.  The only reason for the American being in Indochina was to prevent the area from going Communist by an election, by an internal revolution... And this was reason enough...

More reasons.  And more reasons.  They sprouted like asparagus in May.  Before the Indochina War came to an end, a book could have filled with reasons.  None of them were valid.

4.  Protecting the “freedom” of the people of South Vietnam?  In internal documents the harsh realities of US War aims were spelled out – none more succinctly than a memorandum prepared by Assistant Secretary of Defense for Secretary McNamara (with an eyes-only copy to George Bundy) on US War aims:  70% to preserve our national honor,; 20% to keep South VN territory from being occupied by the Chinese; and 10% to the South VN to enjoy a better and freer way of life.

5.  On March 24, 1965, Assistant Secretary for Defense John T. McNaughton stated that whereas in effect only 10% of US efforts aimed to help Vietnamese people, 20% aimed “to keep South VN (and adjacent territory) from Chinese hands”, and the greatest part, or 70%, aimed “to avoid a humiliating US defeat”.

6. The pages that follow grow out of our shared concern that our nation is embroiled in a conflict in Vietnam which we find it impossible to justify, in the light of either the message of the prophets or the gospel of Jesus of Nazareth.

7.  Our very right to be there is questioned, in the light of international law, by men highly placed in our government, among them Senators Morse, Church, Gore, and Gruening.  But even if there is a clearcut “right”, the nature of what we are doing in Vietnam must be increasingly condemned.

8. It is ironic that at precisely the moment we are saying that we must “halt communism” in Vietnam, we are coming to terms with it elsewhere, working out new treaty agreements with Russia, extending trade in Eastern Europe, giving support to Tito in Yougoslavia.  Elsewhere, we have clearly decide to coexist with communism, and to encourage independent Communist societies that will be increasingly free of the need for alliance with one another.

9.  Our alleged concern with human rights borders on the ludicrous.  We dropped twice as many bombs on Vietnam as all the countries involved in World War II dropped on each other.  We killed hundreds of thousands of civilians in the course of that war.  Very recently, in Central America, we sponsored, trained, and endorsed the local armies - Guatemalan, Salvadoran, and Nicaraguan Contras - in the killing of at least 200000 people.)

10.  Don't we have our own history of "ethnic cleansing", first of the Native American population and later in Vietnam, when U.S. troops herded loyal, mostly Catholic villagers into so-called "strategic hammers" for safety while turning the mostly Buddhist countryside of South Vietnam into a saturation bombing zone?

11.  I believe that if we had and would keep our dirty, bloody, dollar soaked fingers out of the business of these [Third World] nations so full of depressed, exploited people, they will arrive at a solution of their own. And if unfortunately their revolution must be of the violent type because the "haves" refuse to share with the "have-nots" by any peaceful method, at least what they get will be their own, and not the American style, which they don't want and above all don't want crammed down their throats by Americans." [General David Sharp, former U.S. Marine Commandant, 1966.]

12. We're going to become guilty, in my judgement, of being the greatest threat to the peace of the world. It's an ugly reality, and we Americans don't like to face up to it. I hate to think of the chapter of American history that's going to be written in the future in connection with our outlawry in Southeast Asia." [Senator Wayne Morse, (D-OR), 1967]

13. There had been no First and Second Indochina Wars, just one continuous conflict for almost a quarter of century.

In practical terms, on one side, it had been an American war almost from its beginning: at first French-American, eventually wholly American.  In both cases it was a struggle of Vietnamese – not all of them but enough to persist – against American policy and American financing, proxies, technicians, firepower, and finally, troops and pilots.

It was no more a “civil war” after 1955 or 1960 than it had been during the US-supported French at colonial reconquest.  A war in which one side was entirely equipped and paid by a foreign power – which dictated the nature of the local regime in its own interest – was not a civil war.  To say that we had “interfered” in what is “really a civil war”, as most American writers and even liberal critics of the war  do to this day, simply screened a more painful reality and was as much a myth as the earlier official one of “agression from the North”.  In terms of the UN Charter and our own avowed ideals, it was a war of foreign agression, American aggression.

14. As late as 1982 – after years of unremitting propaganda with virtually no dissenting voice permitted expression to a large audience – over 70% of the general population (but far fewer “opinion leaders”) still regarded the war as “fundamentally wrong and immoral,’ not merely “a mistake”..

It is worth recalling a few facts.  The US was deeply committed to the French effort to reconquer their former colony, recognizing throughout that the enemy was the nationalist movement of Vietnam.  The death toll was about half a million.  When France withdrew, the US dedicated itself at once to subverting the 1954 Geneva settlement, installing in the south a terrorist regime that killed perhaps 70000 “Viet Cong” by 1961, evoking resistance which, from 1959, was supported from the northern half of the country temporarily divided by the Geneva settlement that the US had undermined.  In 1961-1962, President Kennedy launched a direct attack against rural South Vietnam with large-scale bombing and defoliation as part of a program designed to drive millions of people to camps where they would be “protected” by armed guards and barbed wire from the guerillas whom, the US conceded, they were willinggly supporting.  The US maintained that it was invited in, but as the  London Economist accurately observed, “an invader is an invader unless invited in by a government with a claim to legitimacy.”  The US never regarded the clients it installed as having any such claim, and in fact it regularly replaced them when they failed to exhibit sufficient enthusiam for the American attack or sought to implement the neutralist settlement that was advocated on all sides and was considered the prime danger by the aggressors, since it would undermine the basis for their war against South Vietnam.  In short, the US invaded South Vietnam, where it proceeded to compound the crime of aggression with numerous and quite appalling crimes against humanity throughout Indochina.

15.  The direct U.S. invasion of South Vietnam followed our support for the French attempt to reconquer their former colony, our disruption of the 1954 “peace process”, and a terrorist war against the South Vietnamese population.. (p. 224)

There was a political settlement, the Geneva Accords, in 1954…  We immediately proceeded to undermine them, installing in South Vietnam a violent, terrorist regime, which of course rejected (with our support) the elections which were projected.  Then the regime turned to a terrorist attack against the population, particularly against the anti-French resistance, which we called the Vietcong, in South Vietnam.  The regime had probably killed about 80,000 people (that means we had killed, through our arms and mercenaries) by the time John F. Keenedy took over in 1961…  [p. 323]

In 1961 and 1962 Kennedy simply launched a war against South Vietnam.  That is, in 1961 and 1962 the U.S. Air Force began extensive bombing and defoliation in South Vietnam, aimed primarily against the rural areas where 80% of the population lived.  This was part of a program designed to drive several million people in concentration camps, which we called “strategic hamlets” where they would be surrounded by armed guards and barbed wire, “protected”, as we put it, from the guerrillas whom, we conceded, they were willingly supporting.  That what we call “aggression’ or “armed attack” when some other country does it.  We call it “defense” when we do it.

16. Though few people knew this, the Cardinal played a prominent role in creating the political career of a former seminary resident in New York who had just become Premier of South Vietnam, Ngo Dinh Diem.  In Diem, Spellman had seen the qualities he desired in any leader: ardent Catholicism and rabid anti-Communist.

A staunch Catholic from a patrician family, Diem was at seminary at the intercession of his brother, Ngo Dinh Thuc, a Roman Catholic bishop.  A lay celibate and deeply religious, Diem had cut himself off from the world, especially his war-shredded nation, and had been known only to a small, politically active circle in the United States.  In his homeland his name had hardly evoked enthusiasm. 

After Dien Bien Phu, Eisenhower wanted to support a broader-based government than that of Emperor, who enjoyed little popular support and had long been considered a puppet of the French and the Americans.  Thus US officials wanted a nationalist in high office in South Vietnam to blunt some of Ho Chi Minh’s appeal.  The result was that Bao Dai offered Diem the job he had always wanted – Prime Minister.  Diem returned to Saigon on June 26, 1954, or several weeks after the arrival of Edward Lansdale, the chief of the CIA’s Saigon Military Mission, who was in charge of unconventional warfare..

“The Pope was concerned about Communism making more gains at the expense of the Church,” “He turned to Spellman to encourage American commitment to Vietnam”.

Thus Spellman embarked on a carefully orchestrated campaign to prop up the Diem regime. 

17. The United States had created South Vietnam and its leader; it was now clear that any opposition to Diem would be understood as a hostile act, an attack on America’s baby.  “This is our offspring”, Senator Kennedy said in 1956, “and if it falls victim to any of the peril that threaten its existence – Communism, political anarchy, poverty and the rest – then the United States, with some justification, will be held responsible; and our prestige in Asia will sink to a new low.” 

But, in fact, what the United States had labored mightily to produce was not a democratic, independent new nation-state but an autocratic ruling family held in place by foreign power.)

18. In any case, future President John F. Kennedy could justly state on June 1, 1956: “If we are not the parents of little Vietnam, then surely we are the godparents.  We presided at its birth, we gave assistance to its life, we have helped to shape its future.”  Then on the very day of his own death, November 23, 1963, Kennedy went further to state, ‘Without the United States, South Vietnam would collapse overnight.

19. Ngo Dinh Diem's militancy is of that kind: His faith is made less of the kindness of the apostles, than of the ruthless militancy of the Grand Inquisitor; and his view of government is made less of the constitutional strength of a President of the republic than of the petty tyranny of a tradition-bound mandarin. To a French Catholic interlocutor who wanted to emphazise Diem's bond with French culture by stressing "our common faith," Diem was reported to have answered calmly: "You know, I consider myself rather as a Spanish Catholic," i.e., a spiritual son of a fiercely aggressive and militant faith rather than of the easygoing and tolerant approach of Gallican Catholicism.

20.  Spellman was the papal point man to lead America into  deeper  involvement  in  Vietnam.  According  to  a Vatican official letter, the pope "turned to Spellman to encourage American commitment to Vietnam."

All US relief to the South was funneled through the Catholic Church's agencies.  Although these policies resulted in a wave of conversions, Catholics still made up only about 12 to 13 percent of the South Vietnamese population.  Not surprisingly, the resentment among the Buddhist majority soon resulted in their open resistance to Diem's policies.  As the situation deteriorated, Diem resorted to mass arrests and suppression of the Buddhists, closing shrines and monateries.  As the Church should have known from its own early experience, persecution can only strengthen a cause.  As a horrified world watched, the Buddhists resorted to the ultimate act of passive resistance and several monks set themselves ablaze.  During these terrible times, when I, too, was a Catholic, I don't recall one word of criticism of Diem's policies from a Catholic priest or bishop.  However, it finally became too much for President John Kennedy, who withdrew US support for Diem.  Diem was soon executed in a coup.  Throughout this dreadful ordeal the role of the Church followed true to the course of its sordid history.)

21.  Diem was a medieval Catholic – he was right, the others were wrong.  Truth has privileges, error đoes not have.  And, well aware of the precarious nature of his rule, he was obsessed with the idea that all who criticized anything about his regime were inveterated enemies.

He was St. Dominick.

June of ’55 he opened an “Anti-Communist Denunciation Program”.  The Geneva Accord specifically forbade political reprisals.

Thus, Diem began the hostilities.  It was he, who by his assault on the Vietminh, began the fighting in the South.  And, it must be emphasized, that he did this not in response in any Vietminh provocations, but out of his compulsion to exterminate the Reds – the spirit of the Medieval Catholic heretic-hunter.

22.  American Intelligence estimates during the 1950s show, The Pentagon account says, that the war began largely as a rebellion in the South against the increasingly oppressive and corrupt regime of Ngo Dinh Diem.

“Most of those who took up arms were South Vietnamese and the causes for which they fought were by no means contrived in North Vietnam,” the Pentagon account says of the years from 1956 to 1959, when the insurgency began.

There is only sparse evidence that North Vietnam was directing, or was capable of directing, that violence (Last quarter of 1957: 75 local assassinated or kidnapped.  On October 22, 1957, 13 Americans were wounded in three bombings in Saigon)

From 1954 to 1958 North Vietnam concentrated on its internal development, apparently hoping to achieve reunification either through the election provided for in the Geneva settlement or through the natural collapse of the weak Diem regime.  The Communist left behind a skeletal apparatus in the South when they regrouped to North Vietnam in 1954 after the war with the French ended, but the cadre members were ordered to engage only in “political struggle.”

North Vietnam’s leaders formally decided in May, 1959, to take control of the growing insurgency.

The Pentagon account says that both American intelligence and Vietcong prisoners attributed the Vietcong’s rapid success after 1959 to the Diem’s mistakes.

Diem’s mentality is described in the account as like that of a “Spanish Inquisitor”.)

23. Behind its facade its real objective was the Catholicization of the Country.  The Catholic repression of South Vietnam was not the work of a fanatical individual, or a group of individuals, like the three Diem brothers, dedicated to the Catholicization of a Buddhist country.  It was the by-product of a well calculated long range policy conceived and promoted by minds whose basic objectives were the expansion at all costs, of a religion which they were convinced was the only true religion on earth.

The main inspirer and prosecutor of such a policy, as we have seen, was Pope Pius XII.  Such policy was totally consonant with his globl strategy, directed at two fundamental objectives: the destruction of Communism, and the expansion of the Catholic Church.

24. Covert American subversion of the Geneva Agreements began simultaneously with their final signing on July 21, 1954.  Lansdale was already in place.  His original mission, to bypass the French and work with sympathetic Vietnamese in unconventional warfare, was now readily redirected to “paramilitary operations in Communist areas.”  In Hanoi, his team distributed leaflets that spread misinformation about new economic and monetary regulations, causing some panic among more affluent residents; they poured sugar into the gas tanks of Hanoi buses, impeding public transporation and creating consumer dissatisfaction; they suborned astrologers who predicted dire disasters; they spread rumors of ramparing, raping Chinese Communist troops.

Of particular propaganda value to Diem was the exodus of almost 1 million Catholics from north to south who were said to have “voted with their feet” for freedom.  Encouraged by the Catholic hierarchy and organized by Lansdale and his team, entire parishes were carried south in American ships, following priests who told them Christ had moved south, as well as making promises of land and livelihood…

One of the more effective rumor campaigns Lansdaled developed was that the U.S. would back a new war, one in which atomic weapons would certainly be used.  Widely believed, this added to the flow of refugees south.  With boyish enthusiasm, Lansdale reported these triumphs, all of them in direct violation of the Geneva Accords, to the CIA.  In the South the team was equally busy, smuggling in arms, ammunition, radios, some for use on spot, the rest destined to be shipped North.

25. The local church is an organized army equipped for battle, ready to charge the enemy.  The Sunday school is the attacking squad.  The Church should be a disciplined, charging army.  Christians, like slaves and soldiers, ask no questions.

26.  It is important to bombard the territory, to move out near the coast and shell the enemy.  It is important to send in the literature.  It is important to send that radio broadcast and to use that dial-a-prayer telephone.  It is important to have all those external forces being set loose on the enemy stronghold.

But ultimately some Marines have to march in, encounter face to face, and put the flag up, that is, build the local church.

I am speaking of Marines who have been called of God to move in past the shelling, the bombing and the foxholes and, with bayonet in hand, encounter the enemy face to face and one-on-one bring them under submission to the Gospel of Christ, move them into the household of God, put up the flag and call it secured… You and I are called to occupy until He comes.

27.  Americans were ignorant about the Vietnamese not because we were stupid, but because we believe certain things about ourselves... To understand our failure we must think about what it means to be an American...  The myth of America as a city on a hill implies that America is a moral example to the rest of the world, a world that will presumably keep its attention riveted on us.  It means that we are a Chosen People, each of whom, because of God’s favor and presence, can smite one hundred of our heathen enemies hip and thigh...

In countless ways Americans know in their gut – the only place myths can live – that we have been Chosen to lead the world in public morality and to instruct it in political virtue.  We believe that our own domestic goodness results in strength adequate to destroy our opponents who, by definition, are enemies of virtue, freedom, and God.]

28. For those with a very simple theology, this meaning is limpid.  It is good guys versus bad guys, the godly versus the ungodly, the forces of light against the forces of barbarism. The battle we face in our century is the battle for civilization itself, and the antagonists are the “slave nations” and the nations of the “free world”, a battle against   barbarians threaten civilized peoples, law and order, and the American way of life.  Their view of history is apocalyptic.. 

In cowboy stories, one side is clearly distinguished from the other side – sometimes even by the color of their hats.  One side fights for law and order, the other side is lawless.  If the plot includes Indians, racial overtones are usually present; then the conflict is between savages (nonwhites) and civilized, peace-loving pioneers (whites, who represent the forces of progress.  The showdown almost always comes through violence.  Those win who have the more sophisticated weapons or the faster draw.  The good guys always win.  When, temporarily, the bad guys wipe out a group og good guys, it is a cruel and heartless massacre; when the good guys kill huge numbers of bad guys, it is a victory for justice.

29.  Trang 112: The Judeo-Christian approach is based on the comforting idea that, so long as a man keeps faith, God will be on his side and he, or at least his cause, will eventually triumph.

30. The presence of a Communist threat, even the possibility of a Communist threat (as in the Dominican Republic) has supplied adequate justification for a variety of interventions.  To identify the threat has been enough to preclude any further challenge to the necessity or morality of its suppression.  The US has become increasingly outspoken in claiming the unilateral right to make the determination whether a conflict anywhere in the world constitutes a threat to its national security or international order and what should be done about it.

31. The present world order is very profitable for capitalists in the United States, who are sitting on top of the heap.  The foreign aid given by the United States to underdeveloped nations is regarded as a new kind of imperialism: not military but dollar imperialism; it does not attempt to set up a colonial political office.  Instead, it buys out willing native politicians and interferes in the country through economic rather than political methods.  It is just as effective as colonial imperialism, though harder to unmask.

32. In strategic and economic terms, Southeast Asia was also critical to American interests.  The fall of Southeast Asia would threaten the island chain stretching from Japan to Philippines, cutting off American air routes to India and South Asia and eliminating the first line of defense in the Pacific.  Australia and New Zealand would be isolated.  The region was loaded with important natural and strategic resources, including tin, rubber, rice, copra, iron core, copper, tungsten, and oil.  Not only would be the US be cut off from those resources, but huge potential markets for American products would be threatened.

33. Presidential letters are not legal commitments but expressions of the intent of the incumbent President with respect to the foreseeable contingencies.  They impose a moral, not a legal, obligation on his successors.. And of course, no President is able to commit Congress by a unilateral declaration)  

34. Kissinger advised Ambasador Bunker to urge ARVN military commanders to secure as much territoty as they could in the coming weeks in the light of a possible cease-fire.  At about the same time a resupply operation code-name ENHANCE was renamed ENHANCE PLUS.  Under  the provisions of ENHANCE PLUS, Saigon was treated to an airlift of 105mm and 155mm howitzers, helicopters, fighter aircraft (making its air force the fourth largest in the world), armored personnel carriers, tanks, trucks and naval artillery.  “If we had been giving this aid to the North Vietnamese,” an American general joked, “they could have fought us for the rest of the century.”)

35. The shooting did not stop for so much as a single day. Most combat incidents in the first few months after the supposed cease-fire were initiated by the ARVN, which wanted to take as much territory as possible before the Communists could rebuild their forces too much.

The processes for a political settlement of South Vietnam's future that had been specified in the Paris Agreement were blocked by the Thieu Administration in Saigon.

(Copyright © 1998 Edwin E. Moïse. Revised November 6, 1998.)

36.  I see no way to escape the conclusion that in South Vietnam we are systematically destroying a country and its people – the very country and people that we say we are fighting to preserve…

Our present procedures in Vietnam include operations against the civilian population that come closer to genocide than to the waging of war as Americans have understood it in the past, as generally accepted by civilized nations and embodied in International Law.  The wide and indiscriminate use of tear gases, herbicides and defoliants looms large among those procedures.

37. The war criminals of the United States Army, Navy, Marines and Air Force murdered three million people in Vietnam, in countless places like My Lai. Most of the victims were women and children.

The CIA even had an official program of state terrorism in Vietnam, known as "Operation Phoenix" or the " Phoenix Program. " Through the Phoenix Program, hundreds of thousands of people were tortured to death in provincial "interrogation centers" all over South Vietnam. These torture centers were built specifically for that purpose by the United States. Women were always raped as part of the torture before being murdered. The large-scale terrorism, rape and mass-murder throughout the countryside was the collective policy of the CIA, the U.S. Army, the U.S. Air Force, the U.S. Marines and the U.S. Navy. The My Lai massacre itself was an operation of the Phoenix Program.

The American genocide of the Vietnamese people had it's origins immediately following World War II. America supported France in its attempt to regain its bloody colonial rulership over all Southeast Asia.

In addition to allying itself with the colonial oppressors of the Vietnamese people, America actually joined forces with those who had collaborated with the Japanese! And who was the new enemy? Ho Chi Minh and his followers, the Viet Minh — who had worked closely with America and the Allied war effort against the Japanese. The Viet Minh had even rescued downed American pilots of the U.S. Fourteenth Air Force.

But that counted for nothing with the plutocrats of the United States Corporate Mafia Government. This classic American backstabbing of a former ally set the tone for the appalling nightmare in Southeast Asia that would overwhelm the next 35 years.

Ho Chi Minh was betrayed by the U.S. Corporate Mafia Government because they simplistically labeled him a "Communist."

John Kerry, Navy lieutenant, in testimony before the Senate Foreign Relations Committee 1971:  

"I would like to say that several months ago in Detroit we had an investigation at which over 150 honorably discharged veterans testified to war crimes committed in Southeast Asia. They told stories that at times they had personally raped, cut off ears, cut off heads, taped wires from portable telephones to human genitals and turned up the power, cut off limbs, blown up bodies, randomly shot at civilians, razed villages in a fashion reminiscent of Genghis Khan, shot cattle and dogs for fun, poisoned food stocks and generally ravaged the countryside of South Vietnam, in addition to the normal ravage of war and the normal and very particular ravaging which is done by the applied bombing power of this country."

U.S. Army atrocities and Green Beret torture techniques:

During the Kennedy and Johnson administrations the number of murderous U.S. military personnel invading Vietnam jumped from 23,000 in 1963 to 184,000 in 1966. They reached their peak during Dickhead Nixon's presidency in 1969, with 542,000 American soldiers fighting the Viet Cong.

But that's not all they were doing.

Too many of "our boys" committed sadistic crimes against humanity. American soldiers tortured prisoners. American soldiers sodomized, raped and murdered women and girls. American soldiers slaughtered entire villages of civilian men, women, children — even infants — in many, many places like My Lai and Thanh Phong.

    From Rogue State: A Guide to the World's Only Superpower by William Blum:

   The Green Berets taught its members who were slated for duty in Vietnam in the 1960s how to use torture as part of an interrogation.

The notorious Operation Phoenix, set up by the CIA to wipe out the Vietcong infrastructure, subjected suspects to torture such as:

· electric shock to the genitals of both men and women

· insertion into the ear of a six-inch dowel, which was tapped through the brain until the victim died

· suspects were also thrown out of airborne helicopters to persuade the more important suspects to talk, although this should probably be categorized as murder of the ones thrown out, and a form of torture for those not.

In violation of the Geneva Convention, the US turned prisoners over to their South Vietnamese allies in full knowledge that they would be tortured, American military personnel often being present during the torture.

The slaughter begins in earnest.

Meaning genocidal business, the United States Air Force launched the "Rolling Thunder" air assault on the people of Vietnam in 1964. This assault alone dropped more bombs on the little country than were used in all of World War II.

During the next five years, unknown hundreds of thousands of Vietnamese civilian men, women and children were butchered and burned alive by United States Air Force bomber crews. Vietnam was pounded with the equivalent of 22 tons of explosives for every square mile of territory.

That's 300 pounds of high explosive for every man, woman and child.

During 13 years of America's cruel war against the people of Vietnam eight million TONS of bombs (like Napalm and cluster bombs) and defoliants (Agent Orange) were dropped in total — and at least 3 MILLION Vietnamese people were slaughtered.

Most Americans cannot possibly even comprehend what that means.

   THREE — MILLION — PEOPLE!

Along with the Indian Holocaust, the Vietnamese Holocaust ranks America right down there in the pits of hell — with such fine company as the German Nazis, the Croatian Ustashi, the Japanese military, the Turkish military, the sadistic Conquistadors, the Mongols, the Romans and all such genocidal monsters.

The vast majority of Americans have absolutely nothing in their experience to compare it to.

It wasn't just the demonic Nazis who committed genocide. Our own evil American government and military have committed genocide too. By the MILLIONS.

And the overwhelming majority of the victims were helpless, innocent civilian people.

Civilian men. Women. Children.

See the story of My Lai for an example of our heroic American soldiers on the job — murdering Vietnamese babies and raping Vietnamese girls to make the world safe for corporations like Coca Cola and Standard Oil.

After the slaughter... disease and more death

Thanks to racist American arrogance, self-righteousness and indifference, the Vietnamese people have continued to suffer. In 1985 it was estimated that fully one-third of the Vietnam was a toxic wasteland, thanks to the U.S. Air Force use of chemical defoliants like Agent Orange. All of this left Vietnam impoverished, the land severely polluted and covered with deadly cluster bombs — and the people psychologically traumatized. Thirty years of genocidal war were then followed by almost 20 years of a U.S.-led embargo.

In the years since the murdering, raping U.S. soldiers, Navy SEALS and airmen were finally defeated and kicked ignominiously out of Vietnam, America's evil legacy has continued. Agent Orange has led to large-scale birth defects in succeeding generations of Vietnamese people and hundreds of thousands of cancer deaths among those the who were living in the areas sprayed with the defoliant.

The unexploded cluster bombs have created uncharted minefields, terrorizing everybody and preventing farmers from working in many arable fields and rice paddies. These American bombs continue to murder, dismember and cripple for life thousands of Vietnamese children and young adults.

38. The primary U.S. goal in the Third World is to ensure that it remains open to U.S. economic penetration and political control. Failing this the United States exerts every effort to ensure that societies that try to strike an independent course ... will suffer the harshest conditions that U.S. power can impose

39. After so many lies, so much carnage, the myth of the city on a hill no longer provided the moral justification for American involvement in Vietnam.  After so may disappointments, so much tested patience, the cultural faith in technology became weaker than the desire to cut our losses and run…  The military was not beaten in battle; American culture was beaten in the face of victories…Benjamin Franklin taught us that time is money.  As we spent billions, they spent years.  They paid a high price in lives.  Their investment succeeded.

p. 341: Another  consequence of our prodigal use of technology was the satisfaction, such as it could be, of discovering  that the Communists could not solve  Vietnam’s economic and social problem after they won.  We  had conducted ourselves in a way that guaranteed that they would win a broken country, with nothing of economic value left standing in the North, with thousand of square miles of dead forests in the South, along with the flooding and erosion of the top soil that follows.  We left them  a moonscape of poisoned water, dead land, and a corrupted southern population, that Senator Fulbright once called “a society of prostitutes and mercenaries”.

40. After the war:  Vietnam need for aid was extreme: in the South, 9000 out of 15000 hamlets, 25 million acres of farmland, 12 million acres of forest were destroyed, and 1.5 million farm animal had been killed; there were an estimated 200000 prostitutes, 879000 orphans, 181000 disabled people, and 1 million widows; all six of the industrial cities in the North had been badly damaged, as were provincial and district towns, and 4000 out 5800 agricultural communes.  North and South the land was cratered and planted with tons of unexploded ordnance, so that long after the war farmers and their families suffered serious injuries as they attempted to bring the field back to cultivation. 19 million gallons of herbicide had been sprayed on the South during the war, and while the longterm effects were unkown in 1975 (and are not clear now), severe birth defects and multiple miscarriages were apparent early on.

41. The big mistake the Americans made was not understanding the Vietnamese’s history, culture, mentality.  They were so sure military strength sould win the war, they never bothered to learn who they were fighting.... The US had come to Vietnam to build and ended up destroying. It came to the jungles of VN to win hearts and minds, and in fighting its longest war – the first war the US had ever lost – discovered the tools of war were no substitute for the vitality of nationalism..

42. There were only a few villagers and some domesticated animals.. A woman was screaming and cursing at us as we filed through the village.  I do not know for sure what she was saying.  It was not complimentary.  Why is she yelling at me?  I com ten thousand miles, march in the rain, monsoons, tropical sun, rice paddies, rivers, hip-deep in slime, tripping over vines, falling over dikes, being bitten by uncounted species of bugs, always tired, getting diarrhea, living on crap I wouldn’t have given a dog, getting shot at, ambushed, hand grenaded...to save her – and she is going to stand there and spit and curse at me?  A voice in the back of my head started speaking softly, very softly.  It was saying: “Hey, man, this woman doesn’t care how noble you are from coming all this way to save her from the communists; all she knows is that you or someone like yoi just set her house on fire.  You may call it a hooch and laugh because it dosen’t have a door, but it is her house and it has just been torched, for whatever noble reasons.  That’s why this woman is cursing you and all your ancestors.  Because you, and not her evil communist, just Zippoed her home and destroyed all the things valuable in her life.  As far as having no door goes, she is so far ahead of you, you will probably never know.  She has a society that does not need a door, let alone a series of locks on the door, as opposed to the noble society you come from.  That’s right, asshole, you thought you were so civilized, you thought you were going to do so much for these poor, ignorant savages.  Maybe in a thousand years, if your society lasts that long, it will have evolved to the point where it can live without the fear that causes people to put locks on doors.  And then after another thousand years, it will get to the point where even the doors won’t be necessary.  Think about that for a while, shitbird.”

43.   Vietnam made clear the inherent unworkability of a policy of global containment.. The US enjoyed a position of unprecedented power and influence, and achieve some notable early successes in Europe.  Much of America’s power derived from the weakness of other nations rather than from it own intrinsic stregth, however, and Vietnam demonstrated conclusively that its power, however great, had limits… Vietnam makes clear that the US cannot uphold its own concept of world order in the face of a stubborn and resolute, although much weaker, foe.  The war did not bring about the decline of American power, as some have suggested, but was rather symptomatic of the limits of national power in an age of international diversity and nuclear weaponry.

The US did not intervene in Vietnam primarily to ensure a better life for the Vietnamese.  That large number of Vietnamese did not want to live under a Communist form of government seems clear.  On the other hand, the Vietnamese did not eagerly embrace – probably did not even understand – American ways. 

44. In Vietnam we lost not only a war and a subcontinent we also lost our pervasive confidence that American arms and American aims were linked somehow to justice and morality, not merely to the quest of power.  America was defeated militarily, but the “idea” of America, the cherished myth of America, received an even more shattering blow… Vietnam robbed us of an image this nation we desperately needed.

45. The incredible war in Vietnam has provided the razor, the terrifying sharp cutting edge that has finally severed the last vestige of illusion that morality and democracy are the guiding principles of American foreign policy.  The saccharine self-righteous moralism that promises the Vietnamese a billion dollars of economic at the very moment we are delivering billions for economic and social destruction and political repression is rapidly losing what power it might ever have had to reassure us about the decency  of our foreign policy.  The further we explore the reality of what this country is doing and planning in Vietnam, the more we are driven toward the conclusion of Senator  Wayne Morse that the U. S. may well be the greatest threat to peace in the world today…

President Lyndon Johnson says that we are defending freedom in Vietnam.  Whose freedom?  Not the freedom of the Vietnamese.  The first act of the first dictator Ngo Dinh Diem, the U. S. installed in Vietnam,  was to systematically begin the persecution of all political opposition, non-Communist as well as Communist…

The pattern of repression and destruction that we have developed and justified in the war is so thorough that it can only be called cultural genocide.  I am not simply talking about napalm or gas or crop destruction or torture, hurled indicriminately on women and children, insurgent and neutral, upon the first suspicion of rebel activity.  That in itself is horrendous and incredible beyond belief.  But it is only part of a larger pattern of destruction to the very fabric of the country.  We have uprooted the people from the land and imprisoned them in concentration camps (Ấp chiến lược).  Through conscription (cưỡng bách ṭng quân) and direct political intervention and control, we have destroyed local customs and traditions, trampled upon those things of value which give dignity and purpose to life…

How can anyone be surprised that people who have had total war waged on themselves and their culture rebel in increasing number against that tyranny?  What other course is available?  And still our only response to rebellion is more vigorous repression, more merciless opposition to the social and cultural institutions which sustain dignity and will to resist.

Not even the president can say that this is a war to defend the freedom of the Vietnamese people.  Perhaps what the president means when he speaks of freedom is the freedom of the American people…By what weird logic can it be said that the freedom of one people can only be maintained by crushing another?

46. No one can dispute the victorious struggles of the Party and the government of Vietnam leaders in the decades before 1975.  To understand those struggles, it is necessary to start before 1945, when the Communists already took partial power in Vietnam.  Only such a larger perspective opens the way to an understanding of the incredible perseverance and resilience of the Vietnamese Communists.  It then becomes possible to see that those qualities were a product, perhaps an almost unique product, of a dedication rooted in the country’s historial culture, in the religious aspects of the revolutionaries commitment to nationalism and Marxism, and above all in their organization, which for 50 years mobilized youth, women, and peasant-worker activists to form the “brass citadels’ and “steel fortresses” that withstood some of the greatest odds in history…What happened in Vietnam, nonetheless, will be recalled as one of history’s most remarkable revolutionary wars.

47. National aspiration was the historical imperative that explained Ho Chi Minh.  The international Communist overtones were real enough, but secondary.  Maintaining a broad base of support for the war over several decades; instilling the Army cadres with tenacity, ingenuity, and readiness for sacrifice in the face of enormous odds; nurturin resiliency in the face of repeated disappointment; reorganizing the economy and distribution system under the heavy pressure of U.S. bombing – in short, defeating one renowned military power and holding at bay the most powerful nation in the world – these were achievements which, viewed objectively, would cause Ho Chi Minh to go down in history as an extraordinary leader.  But they were explainable primary in term of nationalism; ideology was a fuel of insuffivient octane rating.  But nationalism was the principal driving force, it follwed that the war in Vietnam was not a test of wills between the two parties – Hanoi and Washington – with equal interest at stake.  For North Vietnam it was a fundamental struggle, the priority task that embraced all others, a matter of survival.  To the United States, it was far more peripheral, necessarily competing for attention and resources with the other manifold interests and commitments of a global power.

Tài Liệu Tham Khảo Chọn Lọc:

Archer, Jules. Ho Chi Minh, Legend of Hanoi, Crowell-Macmillan Limited, London, 1971.

Baritz, Loren. Backfire: Vietnam – The Myths That Made Us Fight, The Illusions That Helped Us Lose, The Legacy That Haunted Us Today, Ballantine Books, New York, 1985.

Barnet, Richard J. Intervention and Revolution: America’s Confrontation With Insurgent Movements Around The World, A Meridian Book, New York, 1972.

Boettcher, Thomas D. Vietnam: The Valor and the Sorrow.  From the Home Front to the Front Lines in Words and Pictures”, Little, Brown and Company,  Boston-Toronto-London, 1985.

Bowman, John S. General Editor, The Vietnam War Almanac, Barnes & Noble,  New York, 2005.

Brown, Robert McAfee, Abraham J. Heschel & Michael Novak. Vietnam: Crisis of Conscience, Association Press, New York, 1967.

Burchett, Wilfred, 1. Ho Chi Minh: An Appreciation (pipeline.com); 2. Vietnam Will Win; 3. Grasshoppers and Elephants: Why Vietnam Fell.

Capps, Walter H. The Unfinished War: Vietnam and the American Conscience, Beacon Press, Boston, 1982. 

Cawthorne, Nigel. “Tyrants, History’s 100 Most Evil Despots and Dictators”, Barnes & Noble, NY, 2004.,  

Chomsky, Noam & Edward S. Herman, The Washington Connection and Third World Fascism, The Political Economy of Human Rights: Volume I, South End Press, Boston, 1979.

Cohen, Mortimer T. From Prologue To Epilogue In Vietnam, Publisher Retriever Bookshop, N.Y., 1979.

Daughterty, Leo G. & Gregory Louis Mattson, NAM: A photographic History, Barnes & Noble, New York, 2004.

Dellinger, David. Vietnam Revisited: From Covert Action to Invasion to Reconstruction, South End Press, Boston 1986.

Dickstein, Morris Gates of Eden: American Culture in the Sixties, Basic Books, New York, 1977

Duiker, William J. The Communist Road to Power in Vietnam, West View Press, Colorado, 1981.

Ellsberg, Daniel. Papers on the War, Simon and Schuster, New York, 1972.

----------, Daniel. Secrets: A Memoir of Vietnam and the Pentagon Papers, Viking, 2002.

Emerson, Gloria.  Winners & Losers, A Harcest/HBJ Book, New York, 1976.

Fitzgeral, Frances.  Fire in the Lake: The Vietnamese and the Americans in Vietnam, Random House, New York, 1972.

Fulbright, William J.  The Arrogance of Power, Random House, New York, 1966.

Gallucci, Robert L. Neither Peace Nor Honor: The Politics of American Military in Vietnam, The John Hopkins University Press, Baltimore, Mryland, 1975.

Gettleman, Marvin E.  Vietnam: History, Documents and Opinions on a Major World Crisis,  A Fawcett Premier Book, New York, 1965.

Grant, Zalin. Facing the Phoenix: The CIA and the Political Defeat of the U.S. in Vietnam, W. W. Norton & Company, New York, 1991.

Halberstam, David.  The Making of a Quagmire, Ballantine Books, New York, 1965.

Harrison, James P. The Endless War: Vietnam Struggle For Independence, Columbia University Press, New York, 1989.

Hassler, Alfred.  Saigon, U.S.A., Richard W. Baron, New York, 1970.

Herring, George C. America’s Longest War: The United States and Vietnam 1950-1975, John Wiley & Sons, New York, 1979.

Hoopes, Townsend. The Limits of Intervention, W.W. Norton & Co., New York 1987.

Joseph, Paul. Cracks In The Empire: State Politics in the Vietnam War, South End Press, Boston, 1981.

Kahin, George McTurnan & John W. Lewis, The United States in Vietnam: An Analysis in Depth Of The History of America’s Involvement in Vietnam, A Delta Book, New York, 1967.

Karnow, Stanley.  Vietnam: A History, The Viking Press, New York, 1983.

Kinnard, Douglas. The War Managers: American Generals Reflect on Vietnam, A Da Capo Paperback, Da Capo Press, New York, 1991.

Kissinger, Henry.  Ending The Vietnam War, Simon & Schuster, New York, 2003.

Kolko, Gabriel.  Anatomy of a War, Pantheon Books, New York, 1985.

Kutler, Stanley I. Review:“Ho Chi Minh, A Life” By William J. Duiker.

Lacouture, Jean. Vietnam: Between Two Truces, Vintage, New York, 1966.

Lamb,  David.  Vietnam, Now, Public Affairs, NY, 2002

Maclear, Michael.  Vietnam: A Complete Photographic History, More than 2000 photographs and maps, Black Dog & Leventhal Publishers, Inc., New York 2003.

Macdonald, Peter.  The Victor in Vietnam: Giap, Norton & Company, London, 1993.

McNamara, Robert. In Retrospect, Random House, New York, 1995.

------------   Argument Without End , Public Affairs, New York, 1999.

Nelson, Deborah.  The War Behind Me: Vietnam Veterans Confront The Truth About U.S. War Crimes, Inside the Army’s Secret Archive of Investigation, Persus Book, New York, 2008.

Porter, Gareth.  Vietnam: A History in Documents, A Meridian Book, Maas., 1981.

Prochnau, William. “Once Upon a Distant War: Reporting from Vietnam”, Mainstream Publishing, London,  1996.

Rowe, John Carlos and Rick Berg, The Vietnam War and American Culture, Columbia University Press, New York, 1991.

Salisbury, Harrison E. Vietnam Reconsidered: Lessons From A War, Edited by Harper & Row, Publishers, New York, 1984.

Sheehan, Neil.  A Bright Shining Lie, Vintage Books, New York, 1989.

Shultz, Jr., Richard H. The Secret War Against Hanoi: Kennedy’s and Johnson’s Use of Spies, Saboteurs, and Covert Warriors in North Vietnam, HarperCollinsPublishers, New York, 1999.

Taylor, Telford (U.S. Chief Counsel at Nuremberg), Nuremberg and Vietnam: An American Tragedy, A New York Times Book, New York, 1970.

Tiziano Terzani, Giai Phong: The Fall and Liberation of Saigon, Ballantine Books, New York, 1976.

Turse, Nick. Kill Anything That Moves – The Real American War in Vietnam, The Metropolitan Books, New York, 2013.

Valentine, Douglas.  The Phoenix program, William Morrow & Co., New York, 1990.

Whiteside, Thomas. Defolation: What Are Our Herbicides Doing To Us?”, Ballantine Books; First Canadian edition, 1970.

Wiest, Andrew.  Rolling Thunder in a Gentle Land, Osprey Publishing, London, 2006.

Williams, William Appleman, Thomas McCormick, Lloyd Gardner and WalterLaFeber, America in Vietnam: A Documentary History, Anchor Books, New York, 1985.

Young, Marilyn B. The Vietnam Wars: 1945-1990, HarperPerennial, New York, 1991,

“Les Collections de L’Histoire”, số 23, Avril-Juin 2004, một tuyển tập về “Indochine Vietnam: Colonisation, Guerres et Communisme”

Trần Chung Ngọc

Grayslake, IL.

Ngày 15 tháng 2, 2013.

 

 

http://sachhiem.org/print.php?id=5619