Thần học Ky-tô giáo dựa trên một tín điều căn bản, khó hiểu và … bí mật là “Một Chúa ba Ngôi”, c̣n gọi là Tam Vị Nhất Thể (The mystery of the Most Holy Trinity is the central mystery of Christian faith and life). Bí mật và khó hiểu v́ nó ẩn náu trong Chúa. Bí mật và khó hiểu đến nỗi chỉ người nào được chính Chúa “bật mí” mới hiểu được (one of the "mysteries that are hidden in God, which can never be known unless they are revealed by God"). Do đó, mọi khẳng định có thể giải thích “bí mật khó hiểu” nầy bằng lời và bằng chữ của các Linh mục và các Mục sư là vô ích, trừ ra bản thân họ chính là Chúa. Và như một hệ luận, có bao nhiêu người giảng th́ có bấy nhiêu … Chúa ba ngôi dưới thế nầy!

 

Bài viết dưới đây, chủ  yếu dựa vào Kinh Thánh và những phát biểu của một số học giả trong và ngoài Ki-tô giáo, sẽ tŕnh bày hai trong ba thành tố (Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần) của …câu thần chú  “một là ba, ba là một nầy”: Thiên Chúa là “ai” ? Giê-su là “ai” ? GDOL

 

 

 

ĐÂY !! 

THIÊN CHÚA CỦA NHỮNG NGƯỜI

THEO ĐẠO THIÊN CHÚA

 

Trần Chung Ngọc

 

          

      Thiên Chúa của những người theo đạo Thiên Chúa là Thiên Chúa trong Cựu Ước, bố của Giê-su nhưng cũng là Giê-su, mà Giê-su cũng là Con Ma Thánh [Holy Ghost] đă làm cho mẹ của ḿnh là bà Mary mang thai rồi đẻ ra chính ḿnh, theo thuyết “tam vị nhất thể, Ba Ngôi Thiên Chúa” của Công Giáo. [Xin đọc: http://en.wikipedia.org/wiki/Trinity]  Sách Giáo Lư Công Giáo (Katholischer Katechismus) do Hoài Chiên dịch sang tiếng Việt giảng, trang 102: “Nhưng ba ngôi chỉ là một Chúa…Chúa duy nhất mà có ba ngôi như vậy, ta gọi là Ba Ngôi chí thánh…  Chân lư về một Chúa mà có Ba Ngôi là mầu nhiệm cao cả nhất của Đức Tin ta..”   Cái gọi là mầu nhiệm cao cả nhất của đức tin Công giáo là Chúa làm cho mẹ của ḿnh mang thai đẻ ra chính ḿnh.

 

    V́ cả ba đều là một, cho nên chúng ta chỉ cần nghiên cứu về “một ngôi Thiên Chúa” là có thể biết cả “ba ngôi Thiên Chúa”.  Chúng ta khá quen thuộc với những câu người Ki Tô Giáo nói về Thiên Chúa của họ, trong khi họ thực sự không biết Thiên Chúa là cái chi chi.  Những câu ca tụng Thiên Chúa vô căn cứ và trái ngược với những ǵ viết về Thiên Chúa trong Thánh Kinh như: “Thiên Chúa quá thương yêu thế gian”, “Thiên Chúa là t́nh yêu”, hoặc “Giê-su yêu bạn”, "Giê-su đến để mang một tin vui, tin vui t́nh thương, tin vui tự do...", “Tin Mừng Phúc Âm” v..v…  chẳng qua chỉ là những lời khoa trương bịp bợm đă được nhồi vào đầu óc của đám tín đồ thấp kém ở dưới, và thảm thay, thời buổi này mà người ta vẫn c̣n tiếp tục nhai đi nhai lại mấy câu vô nghĩa, sai sự thực đó trên các diễn đàn truyền thông, trong khi những câu đó chỉ nên nói trong khuôn viên các nhà thờ để các linh mục và con chiên nghe với nhau mà thôi.

  

   Tôi nghĩ rằng, chúng ta nên t́m hiểu ít nhiều về Thiên Chúa của Ki Tô Giáo, và muốn t́m hiểu về Thiên Chúa của Ki Tô Giáo th́ không đâu bằng cuốn “Kinh Thánh”, đặc biệt là Cựu Ước.  Thực ra, như được viết rơ trong cuốn Thánh Kinh, Thiên Chúa của Ki Tô Giáo chỉ là Thiên Chúa của dân tộc Do Thái, tuyệt đối không có liên quan ǵ đến các dân tộc khác trên thế giới. 

 

Ki Tô Giáo, bành trướng ở Âu Châu bằng bạo tàn, cưỡng bách v..v.. và sau đó bành trướng trên thế giới song song với chính sách thực dân của Tây phương có ưu thế về vũ khí, cho nên đă reo rắc vào đầu óc của những người vốn không có đầu óc, niềm tin là Thiên Chúa của người Do Thái chính là Thiên Chúa của cả nhân loại, dựa theo huyền thoại “Sáng Thế” trong Cựu Ước và cho Thiên Chúa là “Cha chung của nhân loại”.  Nhưng ngày nay, trước những tiến bộ trí thức của con người về vũ trụ và nguồn gốc loài người, huyền thoại “Sáng thế” của Ki Tô Giáo đă không c̣n chỗ đứng trong đầu óc của những con người văn minh tiến bộ.  Chính Giáo hoàng John Paul II của Công giáo, khi chấp nhận thuyết Tiến Hóa, khẳng định là con người không phải do Thiên Chúa sinh ra trong một khoảnh khắc, đă dứt khoát loại bỏ huyền thoại “Sáng Thế” trong Cựu Ước.  Tuy nhiên các con chiên Việt Nam trí thức của ông ta trên tiengnoigiaodan.net vẫn đưa ra luận điệu thần học của thời bán khai: Thiên Chúa là “cha chung của nhân loại”. Đă có nhiều công cuộc nghiên cứu về Thiên Chúa của Ki Tô Giáo, sau đây là vài cuốn điển h́nh:

 

- “The Existence of God”, The Macmillan Company, New York 1972, do chủ biên Paul Edwards biên tập.

- “The Case Against God”, Prometheus Books, New York, 1989, của George H. Smith.

- “Critiques of God: Making The Case Against Belief In God”, Prometheus Books, New York, 1997, do Chủ Biên Peter A. Angeles biên tập.

The Dark Side of God, Element Books, Boston, USA, 1999, của Douglas Lockhart

- “The Impossibility of God”, Prometheus Books, New York, 2003, do chủ biên Michael Martin và Ricki Monnier biên tập.

“Atheist Universe: The Thinking Person’s Answer To Christian Fundamentalism”, Ulysses Press, Berkeley, 2006, của David Mills [Sử dụng lô-gíc giản dị, thẳng thắn, cuốn sách này bác bỏ mọi lư luận dùng để “chứng minh” là có God (This book rebuts every argument that claims to “prove” God’s existence)]

- “God Is Not Great: How Religion Poisons Everything”, Twelve Hachette Book, New York, 2007, của Christopher Hitchens [God không sáng tạo ra chúng ta.  Chúng ta sáng tạo ra God.  Chúng ta làm hại con cháu chúng ta – và làm nguy hại đến thế giới – bằng cách nhồi sọ chúng (God did not make us.  We made God.  We damage our children – and endanger our world – by indoctinating them)]

“God’s Problem: How The Bible Fail To Answer Our Most Important Question – Why We Suffer?”, HarperOne, New York, 2008, của Bart D. Ehrman

“The God Delusion”, First Mariner Books, New York, 2008, của Richard Dawkins.

 

   Trong bài này, tôi không bàn đến vấn đề Thiên Chúa có hiện hữu hay không.  Đối với đầu óc có một thói xấu “vô thần” [Voltaire: Atheism is the vice of a few intelligent people, vô thần là  thói xấu của một số ít người thông minh] như tôi th́ tôi không quan tâm mấy đến chuyện Thiên Chúa có hiện hữu hay không, mà chỉ quan tâm đến vấn đề Thiên Chúa của Ki-Tô-Giáo như được viết trong cuốn Bible là cái chi chi, có đáng để cho những con người có đôi chút đầu óc tin và tôn thờ hay không. Đây chính là mục đích của bài viết này.

 

    Đọc ít nhiều về Thiên Chúa của Ki Tô Giáo mà các tín đồ Ki Tô Giáo thường ca tụng là “Thiên Chúa ḷng lành” (Le bon Dieu), là “Thiên Chúa quá thương yêu thế gian” v..v… như trên tôi cảm thấy ngỡ ngàng khi đọc những nhận định sau đây về Thiên Chúa đó, và đây chỉ là vài nhận định điển h́nh:

 

1)  Tổng Thống Thomas Jefferson của Mỹ, sau khi đọc cuốn “Thánh Kinh”, đă nhận định về Thiên Chúa của Ki Tô Giáo là “một nhân vật có tính t́nh khủng khiếp – độc ác, ưa trả thù, đồng bóng, và bất công” [Thomas Jefferson describes The God of Moses as “a being of terrific character – cruel, vindictive, capricious and unjust].

 

2)   James A. Haught:     Qua luận lư, chúng ta có thể thấy quan niệm của giáo hội về một Thiên Chúa ở trên trời với ḷng “quá thương yêu thế gian” không đứng vững.  Nếu có một đấng thần linh sáng tạo ra mọi thứ hiện hữu th́ ông ta đă làm ra ung thư vú cho phái nữ, bệnh hoại huyết cho trẻ con, bệnh cùi, bệnh AIDS, bệnh mất trí nhớ (Alzheimer), và hội chứng Down (khuyết tật tinh thần).  Ông ta ra lệnh cho những con cáo cắn xé nát những con thỏ ra từng mảnh, những con báo giết những hươu nai.  Không có một con người nào độc ác đến độ hoạch định những sự khủng khiếp như vậy.  Nếu một đấng siêu nhiên làm như vậy, ông ta là một con quỷ, không phải là một người cha nhất mực nhân từ.

   [Haught, James A., 2000 Years of Disbelief: Famous People with the Courage to Doubt, p. 324: Through logic, you can see that the church concept of an all-loving heavenly creator doesn't hold water.  If a divine Maker fashioned everything that exists, he designed breast cancer for women, childhood leukemia, leprosy, AIDs, Alzheimer's disease, and Down's syndrome.  He madated foxes to rip rabbits apart and cheetahs to slaughter fawns.  No human would be cruel enough to plan such horrors.  If a supernatural being did so, he's a monster, not an all-merciful father.]

 

3)  Giám mục John Shelby Spong: Cuốn Thánh Kinh đă làm cho tôi đối diện với quá nhiều vấn đề hơn là giá trị.  Nó đưa đến cho tôi một Thiên Chúa  mà tôi không thể kính trọng, đừng nói đến thờ phụng.   [ John Shelby Spong, Rescuing The Bible From Fundamentalism, p. 24:     A literal Bible presents me with far more problems than assets.  It offers me a God I cannot respect, much less worship.]

 

4)  Linh mục Công giáo James Kavanaugh viết về “Huyền Thoại Cứu Rỗi” trong cuốn Sự Sinh Ra Của Thiên Chúa (The Birth of God), xin đọc: http://sachhiem.net/TCNtg/TCN36.php :

   Nhưng đối với con người hiện đại. chuyện hi sinh của Giê-su chẳng có ư nghĩa ǵ mấy, trừ khi hắn đă bị reo rắc sự sợ hăi và bị tẩy năo từ khi mới sinh ra đời (But to modern man, it makes far less sense unless he has been suitably frightened and brainwashed from birth). Đối với tôi (Linh mục James Kavanaugh), đó là một huyền thoại “cứu rỗi” của thời bán khai, miêu tả một người cha giận dữ [Thiên Chúa], chỉ nguôi được cơn giận bằng cái chết đầy máu me của chính con ḿnh. Đó là một chuyện độc ác không thể tưởng tượng được của thời bán khai (It is a primitive tale of unbelievable cruelty).

 

5)  Nhưng đặc biệt hơn cả là khi đọc Richard Dawkins trong cuốn “The God Delusion”, ấn bản 2008, tôi thấy tác giả đưa ra tới 16 nhận định về Thiên Chúa của Ki Tô Giáo rất đáng để chúng ta nghiên cứu để t́m hiểu sự thật. Mở đầu Chương 2, trang 51, về “Giả Thuyết Về Thiên Chúa” [The God Hypothesis], tác giả Richard Dawkins viết:

 

    Không cần phải bàn căi ǵ nữa, Thiên Chúa trong Cựu Ước là nhân vật xấu xa đáng ghét nhất trong mọi chuyện giả tưởng: ghen tuông đố kỵ và hănh diện v́ thế; một kẻ nhỏ nhen lặt vặt, bất công, có tính đồng bóng tự cho là có quyền năng và bất khoan dung; một kẻ hay trả thù; một kẻ khát máu diệt dân tộc khác; một kẻ ghét phái nữ, sợ đồng giống luyến ái, kỳ thị chủng tộc, giết hại trẻ con, chủ trương diệt chủng, dạy cha mẹ giết con cái, độc hại như bệnh dịch, có bệnh tâm thần hoang tưởng về quyền lực, của cải, và toàn năng [megalomaniacal], thích thú trong sự đau đớn và những tṛ tàn ác, bạo dâm [sadomasochistic], là kẻ hiếp đáp ác ôn thất thường.

   [The God of the Old Testament is arguably the most unpleasant character in all fiction: jealous and proud of it; a petty, unjust, unforgiving control-freak; a vindictive, bloodthirsty ethnic cleanser; a misogynistic, homophobic, racist, infanticidal, genocidal, filicidal, pestilential, megalomaniacal, sadomasochistic, capriciously malevolent bully.]

 

   Tôi nghĩ rằng, tất cả những tác giả trên phải có lư do ǵ mới dám viết ra những điều như vậy, v́ có tới gần 1/3 nhân loại, nghĩa là khoảng 2 tỷ người, tuyệt đại đa số thuộc thành phần thấp kém, ít hiểu biết trong xă hội, tin và thờ phụng Thiên Chúa của Ki Tô Giáo, và nhất là viết ngay trên nước Mỹ, một nước văn minh tiến bộ nhất nhưng lại lạc hậu nhất về niềm tin Ki Tô Giáo c̣n sót lại trên thế giới.  Và khá lạ lùng, cuốn The God Delusion của Richard Dawkins lại là một cuốn sách thuộc loại bán chạy nhất ở phương trời Âu Mỹ.  Đối với tôi th́ tôi không lấy ǵ làm lạ khi đọc những ḍng chữ trên của Richard Dawkins v́ tôi đă đọc kỹ cuốn “Kinh Thánh”, đă thấy “Thiên Chúa quá thương yêu thế gian” hay “Thiên Chúa ḷng lành” như thế nào trong Cựu Ước, và đă thấy những “Tin Mừng Phúc Âm” trong Tân Ước khó có thể gọi là “tin mừng”, ít nhất là qua những cuốn sau đây:

 

“The Bad News Bible: The New Testament”  của Giáo sư David Voas, cuốn sách chứng minh Tân Ước mang tin xấu đến cho nhân loại chứ không phải là tin mừng.

“The X-Rated Bible: An Irreverent Survey of Sex in the Scripture” của Ben Edward Akerley: cuốn sách dày hơn 400 trang, liệt kê những chuyện t́nh dục dâm ô, loạn luân trong Thánh Kinh.

“All The Obscenities in the Bible” của Kasmar Gene: cuốn sách dày hơn 500 trang, liệt kê tất cả những chuyện tục tĩu, tàn bạo, giết người, loạn luân, độc ác đối với trẻ con v..v.. (Human sacrifice, murder and violence, hatred, sex, incest, child cruelty etc..) trong Thánh Kinh.

“The Bible Handbook” của W. P. Ball, G.W.Foote, John Bowden, Richard M. Smith et...: Liệt kê những mâu thuẫn (contradictions), vô nghĩa (absurdities), bạo tàn (atrocities) v..v.. trong Thánh Kinh.

“The Born Again Skeptic’s Guide to the Bible” của Bà Ruth Hurmence Green: B́nh luận những chuyện tàn bạo, dâm ô, kỳ thị phái nữ trong Thánh Kinh.

“One Hundred Contradictions in the Bible” của Marshall J. Gauvin: Liệt kê 100 điều mâu thuẫn trong Thánh Kinh.

“The Bible Unmasked” của Joseph Lewis:  Lột mặt nạ Thánh Kinh, đưa ra những sai lầm trong Thánh Kinh.

“Christianity Cross-Examined” của William Floyd:  Phân tích từng quyển một trong Thánh Kinh.

“Christianity and Incest” của Annie Imbens & Ineke Jonker:  Viết về Ki Tô Giáo và vấn đề loạn luân, những sự kiện về loạn luân và kỳ thị phái nữ bắt nguồn từ Thánh Kinh.

“The Dark Bible” trên http://www.nobeliefs.com/DarkBible/DarkBibleContents.htm

 

và nhiều tác phẩm của các học giả khác nghiên cứu về Thiên Chúa của Ki Tô Giáo.   Muốn chứng minh là những nhận định của Richard Dawkins không sai, chúng ta chỉ cần chịu khó đọc kỹ cuốn Cựu Ước nhưng tôi nghĩ ít người ngoại đạo muốn bỏ ra th́ giờ để làm công việc này, và những người trong đạo rất ít đọc kỹ “Kinh Thánh”, họ chỉ đọc những đoạn họ muốn đọc, hoặc được giáo hội bảo đọc, với những lời diễn giải của các “bề trên”, thường là lắt léo.. 

 

   Rất may là trên Internet có Steve Wells, ngày 3 tháng 12, 2008, đă giúp chúng ta rất nhiều để giải quyết vấn nạn này trên trang nhà http://dwindlinginunbelief.blogspot.com/  bằng cách đưa ra những câu trong “Thánh Kinh” để chứng minh là những nhận định của Richard Dawkins không phải là sai.  Để giúp các độc giả Việt Nam hiểu rơ về Thiên Chúa của Ki Tô Giáo tôi sẽ dựa theo công cuộc nghiên cứu của Steve Wells để đưa ra những câu trong “Thánh Kinh” bằng tiếng Việt.    Các tín đồ Ki Tô Giáo được dạy rằng: Con người là sản phẩm ưu ái của Thiên Chúa, được Thiên Chúa sáng tạo ra giống như Thiên Chúa, cho nên chúng ta phải biết ơn, phải sợ hăi và thờ phụng Thiên Chúa, và hết ḷng hết sức yêu Thiên Chúa.  Nhưng các tín đồ, nhất là các tín đồ Ki Tô Giáo Việt Nam, rất ít người biết rằng, chính Giáo Hoàng John Paul II  đă phát biểu năm 1996:

 

   Thân xác con người có thể không phải là sự sáng tạo tức thời của Thượng đế, mà là kết quả của một quá tŕnh tiến hóa dần dần... Những kiến thức mới nhất dẫn đến việc phải chấp nhận Thuyết Tiến Hóa hơn chỉ là một giả thuyết.

   (The human body may not have been the immediate creation of God, but is the product of a gradual process of evolution...Fresh knowledge leads to recognition of the theory of evolution as more than just a hypothesis).  

 

    Như vậy, Thiên Chúa của Ki Tô Giáo không phải là “cha chung của nhân loại”, sáng tạo ra tổ cha Adam của chúng ta từ đất bụi (earth dust), và tổ mẹ Eve, từ cái xương sườn của Adam.  Nếu đă không có cái ǵ là tổ cha Adam và tổ mẹ Eva th́ cũng chẳng làm ǵ có cái gọi là “tội tổ tông” mà chúng ta phải cần đến một anh thợ mộc Do Thái để cứu chuộc cái tội không hề có đó.  Và do đó, chuyện Giê-su bị đóng đinh trên cây thập giá cùng một lượt với hai tên ăn trộm chỉ là chuyện của một người Do Thái bị xử cùng một loại h́nh phạt trong thời cách đây 2000 năm của La Mă đối với các tội phạm xă hội.  Và huyền thoại “cứu rỗi”, theo Linh mục James Kavanaugh, chỉ là một huyền thoại độc ác không thể tưởng tượng được của thời bán khai, chẳng c̣n ư nghĩa ǵ mấy.  

 

   Mặt khác, nếu chúng ta không phải là hậu duệ của Adam và Eve, th́ chúng ta không cần phải nhớ ơn Thiên Chúa về sự “sáng tạo” không hề có của ông ta ra chúng ta.  Tất nhiên những lời các “bề trên” dạy giáo dân là Thiên Chúa sáng tạo ra con người chỉ là những lời bịp bợm, sai sự thực, cho nên chính giáo hoàng John Paul II và nhiều nhà lănh đạo Ki Tô Giáo đă bác bỏ..  Quư vị nào không đồng ư, xin mời lên tiếng.

 

   Bây giờ chúng ta hăy đi vào từng điểm một của Richard Dawkins viết về Thiên Chúa của Ki Tô Giáo ở trên để xem v́ lư do ǵ mà tác giả lại viết như vậy.  Những ai nghi ngờ những ǵ tôi viết xin hăy có một cuốn “Kinh Thánh” ở trước mặt để kiểm chứng.  Tôi dùng cuốn Holy Bible, The New King James Version, cuốn được dùng nhiều nhất trong thế giới Tây phương, song song với cuốn Thánh Kinh bằng tiếng Việt do Thánh Kinh Hội Quốc tế xuất bản năm 1994.  Đọc cuốn “Thánh Kinh” bằng tiếng Việt chúng ta thấy rất nhiều chỗ dịch sai, sai văn, sai ư, và cố ư làm nhẹ bớt cái mặt xấu xa của Thiên Chúa, thí dụ như “jealous” dịch là “kỵ tà” trong khi nguyên nghĩa của “jealous” là “ghen tuông, đố kỵ”.

 

1)  Thiên Chúa có phải là một kẻ ghen tuông, đố kỵ hay không? 

 

Xuất Ê-Díp-Tô Kư 20: 5 và Phục Truyền 5:9:  Ta, Thiên Chúa của các ngươi, là một Thiên Chúa ghen tuông đố kỵ, sẽ trừng phạt tới ba bốn thế hệ sau của những kẻ nào ghét Ta (nghĩa là những người đi thờ phụng Thần khác hay h́nh ảnh khác)

Xuất Ê-Díp-Tô Kư 34: 14:  … các ngươi không được thờ phụng Thần nào khác, v́ Thiên Chúa, tên ông ta là “Ghen Tuông, Đố Kỵ”, là một Thiên Chúa Ghen Tuông, Đố Kỵ [for the Lord, whose name is Jealous, is a jealous God]

Phục Truyền 6: 15: V́ Thiên Chúa của ngươi là một Thiên Chúa ghen tuông đố kỵ trong đám các ngươi [For the Lord your God is a jealous God among you]

Phục Truyền 29: 20:  Cơn thịnh nộ của Thiên Chúa và ḷng ghen tuông đố kỵ của Người sẽ đốt cháy người đó, và mọi sự nguyền rủa trong cuốn sách này sẽ đổ lên đầu hắn [trong cuốn “Kinh Thánh”, Cựu Ước cũng như Tân ước, có rất nhiều lời nguyền rủa.  TCN]

Phục Truyền 32: 16: Chúng khiêu khích Thiên Chúa ghen tuông, đố kỵ với các Thần khác [They provoked Him to jealousy with other gods]

 

   Đó chỉ là vài câu điển h́nh mô tả tính ghen tuông, đố kỵ của Thiên Chúa.  Trong “Kinh Thánh” c̣n nhiều câu nói về tính ghen tuông đố kỵ của Thiên Chúa.  V́ quá nhiều, tôi không thể kể hết ra đây được.  Nhưng độc giả, nếu có cuốn “Kinh Thánh” trong nhà, th́ có thể đọc những đoạn sau đây trong “Kinh Thánh” viết về tính ghen tuông đố kỵ của Thiên Chúa: Deuteronomy 32:21; Joshua 24:19; 1 Kings 14:22; Ezekiel 8:3, 5; Ezekiel 16:38; Ezekiel 16:42; Ezekiel 23:25; Ezekiel 36:5; Ezekiel 38:19; Nahum 1:2; Zechariah 1:14; Zechariah 8:2; Zephaniah 3:8

 

2)  Thiên Chúa có phải là một kẻ nhỏ nhen lặt vặt (petty) không?

 

Xuất Hành 28:33,35:  Dùng chỉ xanh, tím, đỏ thắt h́nh trái lựu xung quanh gấu áo, xen kẽ với những chuông vàng.  Aaron sẽ mặc áo đó và chuông vàng sẽ khua mỗi khi Aaron vào nơi thánh trước Chúa và khi đi ra, như vậy hắn sẽ không bị chết [Không làm theo lời này th́ sẽ bị Chúa vật chết]

Lê-Vi 19: 19:  Phải giữ luật của Ta:  không được cho các thú vật khác giống giao hợp cùng nhau, không được gieo hai thứ hạt giống trong cùng một đám ruộng, không được mặc áo may bằng hai thứ vải.

Phục Truyền 17:1: Không được dâng tế Thiên Chúa của các ngươi các vật hi sinh như ḅ, cừu nào có tật, v́ đó là điều ghê tởm đối với Thiên Chúa

Phục Truyền 23:1:  Một người bị thương dập vào đá, hoặc dương vật bị cắt, sẽ không được vào cộng đồng của Thiên Chúa.

Phục truyền 23:2:  Một đứa con hoang không được vào cộng đồng của Thiên Chúa, cả 10 thế hệ sau của hắn cũng vậy.

Phục Truyền 23: 13-14:  Mỗi người phải có một cái xuổng nhỏ trong hành trang của ḿnh để khi đi cầu xong phải đào lỗ lấp lại.  Trại phải giữ sạch sẽ, v́ Chúa đi đi giữa trại quân để cứu giúp các ngươi đánh kẻ thù, không muốn nh́n thấy những thứ dơ bẩn giữa các ngươi mà bỏ đi.

 

   Thiên Chúa không có cái ǵ hay hơn để dạy con người mà dạy những chuyện nhỏ nhen lặt vặt như trên.  Nhưng theo đúng luật trong Phục truyền 23:2 th́ rất có thể chính Giê-su, một đứa con hoang, cũng không được vào cộng đồng của Thiên Chúa.  Thật vậy, Giám mục John Shelby Spong viết trong cuốn Sinh Ra Từ Một Người Đàn Bà: Một Giám Mục Nghĩ Lại Chuyện Sinh Ra Đời Của Giê-su (Born of a woman: A Bishop Rethinks The Birth of Jesus, Harper, SanFrancisco, 1992), trang 41:

 

    Giê-su đă được “ sinh ra từ một người đàn bà”.  Nguồn gốc sinh ra đời của Giê-su cũng gây nhiều tai tiếng như cách ông ta chết.  Ông ta (Giê-su) không là ai cả, một đứa trẻ ở Nazareth, chẳng có ǵ tốt đẹp có thể rút tỉa ra từ sự sinh ra đời này.  Chẳng có ai biết cha ông ta là ai.  Rất có thể ông ta là một đứa con hoang.  Rải rác trong miền đất truyền thống Ki Tô lúc đầu (4 Phúc Âm), có những chi tiết chứng tỏ như vậy, giống như những thỏi ḿn chưa kiếm ra và chưa nổ .

   (But he was “born of a woman”…  His origins were as scandalous as his means of death.  He (Jesus) was a nobody, a child of Nazareth out of which nothing good was thought to come.  No one seemed to know his father.  He might well have been illegitimate.  Hints of that are scattered like undetected and unexploded nuggets of dynamite in the landscape of the the early Christian tradition.)

 

   Thật vậy, trong thời đại ngày nay, nếu không c̣n mấy người tin vào chuyện hoang đường là Thánh Linh, nguyên thủy chỉ là một con Ma Thánh (Holy Ghost), một thực thể phi vật chất, có thể làm cho mẹ của Giê-su là Mary mang thai, th́ tất nhiên Giê-su phải là đứa con hoang.  Và không phải chỉ có Giám mục John Shelby Spong mới nhận định như trên, mà nhiều học giả khác và cả những nhà thần học trong Ki Tô giáo, thí dụ như Giáo sư thần học Công giáo Uta Ranke-Heinemann hay Mục sư Ernie Bringas, một nhà thần học Tin Lành, v..v.. cũng đă loại bỏ huyền thoại về Giê-su sinh ra từ một nữ trinh do ân sủng của Thánh Linh (The fairy tale of Virgin birth).

 

3)  Thiên Chúa có bất công, tự cho là có quyền năng làm ác và bất nhân không?

 

Xuất Hành 4:23:  Nếu ngươi (Vua Ai Cập) không để cho người Do Thái ra đi, Ta sẽ giết con của ngươi, và ngay cả đứa con đầu ḷng của ngươi.

Xuất Hành 13:15:  Thiên Chúa giết mọi đứa con đầu ḷng trên đất Ai cập, con đầu ḷng của người cũng như con đầu ḷng của các súc vật.

Xuất Hành 20: 5 và Phục Truyền 5:9:  Ta, Thiên Chúa của các ngươi, là một Thiên Chúa ghen tuông đố kỵ, sẽ trừng phạt tới ba bốn thế hệ sau của những kẻ nào ghét Ta (nghĩa là những người đi thờ phụng Thần khác hay h́nh ảnh khác)

Isaiah 14: 21:  Hăy sẵn sàng để giết những đứa con v́ tội của cha chúng.

Xin đọc trong http://skepticsannotatedbible.com/inj/ot_list.html,  có liệt kê 878 vụ bất công của Thiên Chúa trong Cựu ước.

Joshua 24:19:  Ông ta là một Thiên Chúa ghen tuông, đố kỵ; ông ta không tha thứ cho những sự phạm pháp [nghĩa là thờ các thần khác] cũng như những tội lỗi của ngươi.

Jeremiah 11:14: Vậy ngươi (Jeremiah) chớ cầu nguyện thay cho dân này (dân Giu-đa); chớ v́ chúng nó mà lên tiếng cầu nguyện; v́ khi chúng nó cầu nguyện Ta khi bị hoạn nạn Ta sẽ không nghe chúng.  [Điều này: “Ta sẽ không nghe chúng” thật đă rơ ràng ở Ṭa Khâm Sứ và Thái Hà,  v́ Thiên Chúa không hề biết đến dân Việt, và trong chương tŕnh “cứu rỗi” của Giê-su không hề có người Việt như Tân Ước đă viết rơ]

Jeremiah 14:12:  Khi chúng nó (dân Giu-đa) nhịn ăn, và khi chúng nó dâng cúng đồ nướng và bánh trái, Ta sẽ không nhận: nhưng ta sẽ diệt chúng nó bằng gươm giáo, nạn đói và ôn dịch.

Ezekiel 8:18:  Vậy Ta sẽ làm theo cơn giận của Ta: mắt ta sẽ không đoái thương chúng nó, Ta cũng chẳng có ḷng thương xót; và dù chúng kêu van vào tai Ta, Ta cũng không thèm nghe chúng.

 

   Chúng ta hăy đọc vài câu trích từ Phục Truyền 28:15-68:

 

    15-24: Nếu ngươi không nghe theo lời phán của Thiên Chúa ngươi, không làm theo các lời răn và luật pháp của Ngài th́ mọi sự rủa sả sẽ giáng xuống trên ḿnh ngươi.

   Ngươi sẽ bị rủa sả ở trong thành và ngoại đồng ruộng, cái giỏ và thùng nhồi bột của ngươi cũng bị rủa sả…bông trái của đất ruộng ngươi, luôn với những con ḅ con, chiên con của ngươi đều bị rủa sả.

   Ngươi sẽ bị rủa sả khi đi ra và lúc đi vào.. Thiên Chúa sẽ giáng xuống ngươi sự rủa sả, kinh khủng, và hăm dọa cho đến khi ngươi bị hủy diệt..  Ngài sẽ khiến cho ôn dịch theo đuổi ngươi cho đến khi ngươi bị hủy diệt khỏi trái đất…  Ngài sẽ giáng bịnh lao, bịnh nóng lạnh, bịnh phù, hạn hán, binh đao và sâu bọ trong đồng lúa cho đến khi ngươi chết.  Thay v́ mưa, Ngài sẽ khiến cát bụi từ trên trời sa xuống trên đất ngươi cho đến khi ngươi bị hủy diệt.

 27:  Thiên Chúa sẽ giáng cho ngươi ghẻ chốc của xứ Ai Cập, trĩ lậu, ghẻ ngứa và lác, mà ngươi không thể chữa lành..

 53:  Ngươi sẽ ăn hoa quả của thân thể ḿnh, tức là ăn thịt con trai và con gái ḿnh, mà Thiên Chúa ban cho ngươi.

 

    Trong Phục Truyền 28:15-68:  c̣n có nhiều đoạn khác Thiên Chúa phán rất ác ôn và ghê tởm mà tôi nghĩ không có một ác quỷ nào có thể độc ác và tàn bạo như vậy.

 

4)  Thiên Chúa có ưa trả thù không?

 

  Phục Truyền 32: 35: Sự báo thù sẽ thuộc về ta, phần đối trả sẽ qui về ta, v́ ngày khốn khổ của chúng đă gần kề.

Phục Truyền 32:39-43:  Ta giết cho chết…Ta làm cho bị thương…Ta sẽ báo thù kẻ cừu địch ta… Ta sẽ làm cho các mũi tên của ta đẫm máu.. những lưỡi gươm của ta đính đầy thịt… V́ Đức Chúa Trời sẽ trả thù máu của tôi tớ Ngài, trả thù kẻ cừu địch Ngài.

 Jeremiah 11:22 : Này, Ta sẽ phạt chúng nó; những người trai tráng sẽ chết bởi gươm đao, con trai con gái của chúng sẽ chết bởi đói kém.

Jeremiah 46:10: Ngày đó thuộc về Chúa.., ấy là ngày báo thù, Ngài sẽ báo thù kẻ thù nghịch ḿnh.

Micah 5:14: Ta sẽ báo thù những nước không nghe theo ta, trong cơn thịnh nộ và căm tức của ta.

 

5) Thiên Chúa có khát máu không?

 

Leviticus 4:17: Và Thầy tế lễ sẽ nhúng ngón tay vào máu [của con ḅ bị giết để tế Thiên Chúa] và rảy bảy lần trước Thiên chúa.

Leviticus 26:28-29:  Ta sẽ nổi giận, phạt tội các ngươi nặng gấp 7 lần. Và các người sẽ ăn thịt con trai và con gái các ngươi. [And ye shall eat the flesh of your sons, and the flesh of your daughters shall ye eat.]

Phục Truyền 32:39-42:  Ta giết cho chết…Ta làm cho bị thương…Ta sẽ báo thù kẻ cừu địch ta… Ta sẽ làm cho các mũi tên của ta đẫm máu.. những lưỡi gươm của ta đính đầy thịt…

Thi Thiên 68: 21-23:  Thiên Chúa sẽ dẫm nát đầu kẻ thù của ông ta.. Và chân các người sẽ ngập máu kẻ thù.

Isaiah 34: 6-8:  Lưỡi gươm của Chúa dính đầy máu… Đất đai của chúng sẽ ngập máu… V́ đó là ngày trả thù của Thiên Chúa.

 

   Độc giả nào thích ăn thịt uống máu Chúa th́ có thể đọc thêm những hành động khát máu của Thiên Chúa trong cuốn Thánh Kinh như sau: Isaiah 49: 26; Isaiah 63: 2-6; Jemeriah 19: 9; Jeremiah 46: 10; Jeremiah 48: 10; Ezekiel 39: 17, 18, 19; Zephaniah 1: 17.  Cũng xin đọc ở đây: http://skepticsannotatedbible.com/cruelty/ot_list.html danh sách 769 hành động độc ác trong Cựu Ước. [See here for a list of 769 Old Testament cruelties.]

 

6)  Thiên Chúa có phải là một kẻ khát máu diệt dân tộc khác không?

 

Deutoronomy 13:15:  Các ngươi phải dùng kiếm tận diệt tất cả dân chúng trong thành (v́ họ đi thờ thần khác), phá hủy hoàn toàn tất cả những ǵ trong đó, và cả mọi súc vật trong đó.

1 Samuel 15: 2-3:  Ta sẽ trừng phạt dân Amalek và phá hủy tất cả những ǵ chúng có và giết hết không chừa ai: đàn ông, đàn bà, con trẻ, con nít mới sinh, ḅ, cừu, lạc đà và lừa của chúng.

 

7)  Thiên Chúa có ghét phái nữ không?

 

Sáng Thế 19: 8: “Thánh” Lot (người được Thiên Chúa chọn là người công chính duy nhất trong thành Sô-đôm) phán:  “Nay, tôi có hai đứa con gái c̣n trinh trắng.  Tôi sẽ dẫn chúng ra cho anh em muốn làm ǵ th́ làm….”  [Sau đó, chuyện “Thánh” Lot c̣n tệ mạt hơn: ngủ với cả hai con gái và sinh con (Sáng Thế 19: 33-38)]

Lê-Vi 21: 9:  Nếu con gái của thầy tế lễ làm nghề măi dâm, xúc phạm cha ḿnh, người con gái ấy phải bị thiêu sống.

Dân Số 31: 15-18:  Moses hỏi thuộc hạ: “Tại sao các ngươi để cho tất cả phụ nữ Ma-đi-an c̣n sống?..Ta phải giết hết những đứa con trai và tất cả đàn bà đă ngủ với đàn ông, nhưng để cho các trinh nữ sống..”  Tại sao vậy?  V́ Thiên Chúa không thích đàn bà, chỉ thích trinh nữ.  Trong các chiến lợi phẩm, Moses theo lệnh Thiên Chúa, đă dâng cho Thiên Chúa 2 phần ngàn của tất cả các chiến lợi phẩm trong đó có 32 gái trinh (Dân Số: 31: 40), 2 phần ngàn của số 16000 trinh nữ.  Làm Thiên Chúa của đạo Thiên Chúa kể ra cũng sướng thật, nhưng cũng chưa sướng bằng những người Hồi Giáo tử v́ đạo, v́ trên thiên đường (mù) lúc nào cũng có 72 trinh nữ chờ đón họ. 

Phục Truyền 22: 23-24:  Luật của Thiên Chúa: Nếu một người đàn ông thông dâm với một gái trinh đă đính hôn làm vợ người khác, phải mang cả hai ra cổng thành và ném đá cho chết.  [Tân Ước viết: Trinh nữ Mary đă đính hôn làm vợ của Joseph, nhưng con Ma Thánh, cũng là Thiên Chúa, cũng là Giê-su, đă thông dâm với Maria để sinh ra Giê-su, vậy mà chẳng có ai mang họ ra cổng thành để ném đá cho chết.  Làm Chúa của Thiên Chúa Giáo kể cũng sướng thật, tha hồ làm bậy mà chẳng sao cả.  Chẳng vậy mà khi Vatican phong thánh cho một tên Linh mục dâm tặc ở Trung Quốc th́ Trung Quốc đă lên tiếng phản đối và Vatican đă phải xin lỗi.  Lư do: tên Linh mục này tự cho là Chúa Thứ Hai, bắt chước Thiên Chúa, và ra lệnh cho con chiên Tàu, người con gái nào trước khi lên xe hoa về nhà chồng cũng phải để cho ông ta hưởng trước, v́ đó là ân sủng của Chúa.  Chuyện này không chỉ xảy ra ở Trung Quốc, mà c̣n xảy ra nhiều ở Âu Châu.  Không hiểu Việt Nam ra sao, nhưng h́nh như trong một cuốn hồi kư của ai đó có kể là đi ở các miền xa xôi trong nước thấy nhiều con lai trong các xứ đạo.  Người dân ở đó giải thích, khi có mang luôn luôn tưởng nhớ và cầu nguyện Đức Mẹ nên sinh ra con đẹp đẽ như Đức Mẹ.]

 

   Độc giả nào muốn biết về Thiên Chúa đối với phái nữ như thế nào xin hăy đọc thêm Phục Truyền 20: 13-14; Phục truyền 21: 11-13, 15; Phục truyền 22: 13, 14-21; Phục truyền 25: 11-12; Thẩm Phán 5: 30; 2 Samuel 12: 11; Ezekiel 26: 6.

 

8) Thiên Chúa có kỵ đồng giống luyến ái không?  

 

Lê-vi 18: 22: Không được đồng giống luyến ái, đó là một tội đáng tởm.

Lê-vi 20: 13:  Hai người đồng giống luyến ái phải bị xử chết v́ họ phạm tội đáng tởm [Như vậy th́ gần nửa dân San Francisco ngày nay đều phải lên ghế điện, nếu Ki Tô Giáo ở Mỹ có quyền như Công Giáo trong thời trung Cổ.]

 

9) Thiên Chúa có kỳ thị chủng tộc không?

 

Phục truyền 7: 6: Thiên Chúa của các ngươi đă chọn các ngươi làm dân tộc của Người,  một kho báu đặc biệt đứng trên mọi dân tộc khác trên mặt đất.

Phục truyền 23: 2-3: Một người con hoang (như Giê-su về sau) không được vào cộng đồng dân Chúa.  Con cháu người này đến 10 đời sau cũng không được vào cộng đồng dân Chúa. Người Am-môn, người Mô-áp không được vào cộng đồng dân Chúa.  Con cháu chúng đến 10 đời sau cũng không bao giờ được vào cộng đồng dân Chúa (even to the tenth generation none of his descendants shall enter the congregation of the Lord forever).  [Xin nhớ, dân Chúa là dân Do Thái chứ chẳng phải là dân tộc nào khác, kể cả Việt Nam] 

 

10)  Thiên Chúa có phải là kẻ thích giết hại con cái không?  

 

Xuất Hành 12: 29:  Vào nửa đêm Thiên Chúa giết chết mọi đứa con đầu ḷng trên đất Ai Cập, từ đứa con đầu ḷng của Vua Ai Cập (Pharaoh) cho đến các con đầu ḷng của các tù nhân trong ngục tối, và luôn cả những đứa con đầu ḷng của súc vật.

Lê-vi 26: 22:  Ta sẽ sai các ác thú đến giữa các ngươi để xé nát con cái các ngươi và giết hết súc vật của các ngươi.

Lê-vi 26: 29:  Các ngươi sẽ ăn thịt con trai con gái các ngươi [You shall eat the flesh of your sons, and you shall eat the flesh of your daughters]

2 Samuel 12: 15-18:  Và Thiên Chúa làm cho đứa con của David, sinh ra bởi vợ của Uriah, đau nặng…Và bảy ngày sau đứa bé chết.

Ezekiel 5: 10:  Vậy những người cha sẽ ăn thịt các con trai của ḿnh, các con trai sẽ ăn thịt những người cha của ḿnh [Therefore fathers shal eat their sons, and sons shall eat their fathers]

Jeremiah 19: 9:  Ta sẽ làm cho chúng nó ăn thịt các con trai, con gái của ḿnh …

 

11)  Thiên Chúa có chủ trương diệt chủng không?

 

Phục truyền 13: 15:  Các ngươi phải dùng kiếm tận diệt tất cả dân chúng trong thành (v́ họ đi thờ thần khác), phá hủy hoàn toàn tất cả những ǵ trong đó, và cả mọi súc vật trong đó.

Phục Truyền 20: 16-17: Nhưng  đối với những thị trấn của các dân tộc mà Thiên Chúa cho các ngươi thừa hưởng, các ngươi không được để cho một sinh vật có hơi thở nào được sống sót.  Mà các ngươi phải tận diệt các dân Hittite, Amorite, Canaanite, Perizzite, Hivite và Jebusite như Thiên Chúa đă ban lệnh cho các ngươi.

Joshua 10: 40:  Vậy Joshua chinh phục mọi miền đất, miền núi, đồi giốc cũng như miền đồng bằng phía Nam,  tiêu diệt các Vua ở các nơi này, tận diệt mọi sinh vật có hơi thở, theo đúng lệnh của Thiên Chúa của Do Thái.

1 Samuel 15: 2-3:  Ta sẽ trừng phạt dân Amalek và phá hủy tất cả những ǵ chúng có và giết hết không chừa ai: đàn ông, đàn bà, con trẻ, con nít mới sinh, ḅ, cừu, lạc đà và lừa của chúng.

 

12)  Thiên Chúa có dạy cha mẹ giết con không?

 

Lê-vi 20: 9:  Đứa con nào rủa cha hay mẹ ḿnh th́ phải mang ra giết đi.

Lê-Vi 21: 9:  Nếu con gái của thầy tế lễ làm nghề măi dâm, xúc phạm cha ḿnh, người con gái ấy phải mang đi thiêu sống.

Phục truyền 13: 6-10:  Nếu anh em ngươi, con trai hay con gái ngươi, vợ ngươi hay bạn ngươi, khuyến dụ ngươi đi thờ các thần khác, thần của các nước lân bang hay xa xôi.., th́ ngươi phải giết nó đi, trước hết là đích thân tay ngươi phải ném đá để cho nó chết,  rồi sau mới đến tay của dân chúng.  [Nếu luật này cũng được áp dụng đối với các tôn giáo khác th́ mọi nhà truyền giáo Ki Tô, từ Alexandre de Rhodes cho tới Puginier v..v…, và các nhà truyền đạo Tin Lành trên thế giới đều phải bị ném đá cho chết đi.  Nhưng mừng thay, chẳng có đạo nào ở Á Đông lại ác ôn như đạo Thiên Chúa]

Psalm 137: 9: Phúc cho kẻ nào đem những con trẻ của ngươi đập vào đá cho chết [Happy shall he who takes and dashes your little ones against the rock]

 

13)  Thiên Chúa có độc hại như bệnh dịch không?

 

Dân Số 11: 33:  Nhưng khi miếng thịt c̣n giữa hai hàm răng, trước khi kịp nhai, th́ cơn thịnh nộ của Thiên Chúa nổi lên đối với dân tộc đó, và Thiên Chúa giáng cho dân tộc đó bệnh dịch thật lớn. (and the Lord struck the people with a very great plague)

Dân Số 21: 6:  Do đó Thiên Chúa sai rắn lửa đến dân tộc đó và nhiều người bị rắn cắn chết

1 Samuel 5: 9:  Bàn tay của Thiên Chúa giáng xuống thị trấn một sự tàn phá lớn lao, và Thiên Chúa giáng cho mọi người lớn nhỏ đều bị bệnh trĩ.

2 Samuel 24: 15:  Vậy, Thiên Chúa cho bệnh dịch hoành hành khắp nước Israel, Từ Dan cho đến Beersheba, từ sáng cho đến thời gian ấn định, có đến 70,000 người chết.

Ezekiel 5: 17:  Ta sẽ đem nạn đói và thú dữ đến cho các ngươi, chúng sẽ cắn xé các ngươi.  Bệnh dịch và chiến tranh sẽ tàn phá các ngươi, ta sẽ mang gươm giáo đến giết các ngươi.

 

14)  Thiên Chúa có bệnh tâm thần hoang tưởng về quyền lực, của cải, và toàn năng không? [megalomaniacal]

 

2 Samuel 22: 8-11:  Rồi mặt đất rung chuyển, nền tảng trời chuyển động và lung lay, v́ Thiên Chúa nổi giận.  Khói ph́ ra từ mũi ông ta, và lửa phun ra từ miệng ông ta, đốt cháy than củi, Thiên Chúa xé trời ngự xuống với bóng tối dưới chân, cưỡi trên một thiên thần và bay, người ta thấy ông ta trên những cánh gió

Ezekiel 38: 23:  Ta sẽ tán dương thổi phồng ta (magnify myself) và tự thánh hóa ta (sanctify myself, và nhiều quốc gia sẽ biết đến ta.  Và rồi chúng sẽ biết ta là Chúa.

 

15) Thiên Chúa có thích thú trong sự đau đớn và những tṛ tàn ác, bạo dâm không? (sadomasochistic)

 

Ezekiel 22: 20-22:  Thiên Chúa phán: Ta sẽ đem các ngươi đến ḷ nấu bạc, ch́, đồng, sắt để náu cho ngươi chảy tan ra trong sự phẫn nộ của ta.  Ta sẽ gom các ngươi lại, thổi hơi lửa phẫn nộ của ta và các ngươi sẽ bị nấu chảy tan.  Cũng như bạc sẽ bị chảy tan trong ḷ nấu, các ngươi cũng sẽ bị nấu chảy tan trong đó, rồi các ngươi sẽ thấy rằng Ta, Thiên Chúa, đă đổ cơn phẫn nộ lên các ngươi.

Ezekiel 23: 34:  Ngươi sẽ uống chén thống khổ ấy, rồi đập vỡ nó, lấy mảnh rạch nát ngực ngươi ra.  V́ ta đă nói như vậy.  Thiên Chúa xác nhận như vậy.

 

16)  Thiên Chúa có phải là kẻ hiếp đáp ác ôn thất thường không?  

 

Ezekiel 8: 18:  Vậy ta sẽ hành động trong cơn giận:  mắt ta sẽ không dung thứ, ta cũng chẳng có ḷng thương hại, và dù chúng có kêu van lớn vào tai ta, ta cũng không thèm nghe chúng.

Ezekiel 9: 5-7: Tôi nghe Chúa bảo đối với những người không có dấu trên trán, hăy đi theo chúng khắp thành phố và giết chúng, đừng tiếc thương ǵ hết, cũng đừng thương hại ǵ hết.  Hăy giết sạch chúng, già và trẻ, đàn bà, con gái, trẻ con..

Ezekiel 12: 20:  Các thành phố đông dân sẽ bị hoang vắng,, đất đai tiêu điều, và các ngươi sẽ biết ta là Thiên Chúa.

Jeremiah 15: 3:  Ta sẽ giáng trên chúng bốn tai họa: gươm giáo sát hại chúng, chó xé xác chúng, chim trời rỉa thịt và thú dữ cắn nát chúng.

Ezekiel 38: 21-22:  Thiên Chúa phán: Ngươi sẽ bị đủ thứ khủng khiếp, kinh hoàng; mọi người sẽ giết lẫn nhau.  Ta sẽ mang nó đến phán xét với gươm giáo và bệnh dịch.  Ta sẽ giáng trên nó,  trên quân đội của nó, và trên mọi người cùng ở với nó, mưa ngập lụt, mưa đá lớn, lửa cháy, mưa lưu huỳnh [Thánh Kinh tiếng Việt dịch “brimstone” là “súng đạn” trong thời mà David chỉ có cái ná cao su để bắn ḥn cuội vào trán Goliah]

 

   Trên đây tôi đă trích dẫn những câu trong Cựu Ước để chứng minh là Richard Dawkins không viết sai về 16 đặc tính ác ôn, côn đồ, tàn bạo, khát máu, vô nhân đạo v..v.. của Thiên Chúa của những người theo Thiên Chúa Giáo.  Tôi không hiểu những bậc lănh đạo trong Thiên Chúa Giáo đă dạy dỗ tín đồ của họ về Thiên Chúa của Thiên Chúa Giáo như thế nào, nhưng đối với tôi, khi đọc về những hành động của Thiên Chúa qua một số câu điển h́nh trích dẫn ở trên từ trong Thánh Kinh, tôi nghĩ tôi không thể nào lại có thể thờ phụng hay tôn vinh một Thiên Chúa như vậy.  Trái lại, một Thiên Chúa như vậy cần phải lên án và loại bỏ ra khỏi đầu óc con người, để đầu óc con người không bị ô nhiễm bởi những hành động của Thiên Chúa như trên mà không một người nào c̣n có chút đầu óc c̣n có thể chấp nhận ông ta là Thiên Chúa.  Và tôi thực t́nh không hiểu là người ta tôn thờ một Thiên Chúa như vậy là v́ cái ǵ.  Không biết có ai đó có thể giải đáp cho cái thắc mắc như trên của tôi hay không.

 

   Tôi cũng hi vọng quư vị Giáo hoàng, Hồng Y, Tổng Giám Mục, Giám Mục, Linh mục, Mục sư và các bậc trí thức trong Ki Tô Giáo hăy giảng cho chúng tôi biết tại sao “Kinh Thánh” lại dạy chúng tôi phải “hết ḷng hết sức yêu” và thờ một Thiên Chúa như vậy mà không được thờ thần nào khác, trong khi thần Cây Đa hay thần B́nh Vôi của nước tôi chưa hề làm hại bất cứ một sinh mạng nào..

 

   Nhưng thật ra th́ Thiên Chúa đă giết bao nhiêu người vô tội, gồm cả già, trẻ, lớn, bé.  Không có ai biết rơ v́ có những vụ mà số nạn nhân không thể biết được, thí dụ như trong nạn Hồng Thủy, hay trong các tai họa mà Thiên Chúa giáng xuống dân Ai Cập. Nhưng có một người có đủ kiên nhẫn để đếm số nạn nhân có thể đếm được trong Cựu Ước.  Và ông ta đă đăng trên trang nhà: http://dwindlinginunbelief.blogspot.com/2009/01/who-has-killed-more-satan-or-god.html dưới đầu đề “Ai giết nhiều hơn, Thiên Chúa hay Satan?”  (Who has killed more, Satan or God?).

Kết quả thật là bất ngờ, con số mà ông ta đếm được là, Thiên Chúa giết tất cả là 2,301,417 (2 triệu 300 lẻ 1 ngàn và 417 người) trong khi Satan chỉ giết có 10 người và được Thiên Chúa chấp thuận trong một cuộc thách thức với Satan trong vụ gia đ́nh ông Job.  Sau đó ông ta c̣n lập một bảng ước tính (estimate) các vụ giết người của Thiên Chúa hay theo lệnh của Thiên Chúa và con số ước tính là Thiên Chúa giết tất cả khoảng 33 triệu người (33 million).

 

   Có phải v́ vậy mà ngay từ cuối thế kỷ 19, Robert G. Ingersoll đă viết:

 

    Ngày nay, nếu một người làm  theo những lời dạy trong Cựu Ước th́ hắn ta là một  tên  phạm tội ác.  Nếu hắn theo sát những lời dạy trong Tân ước th́ hắn là một tên điên.

  [If a man would follow, today, the teachings of the Old Testament, he would be a criminal. If he would follow strictly the teachings of the New, he would be insane.]
                                                                                                                           

 

 

ĐÂY !!

CHÚA GIÊ-SU CỦA

NHỮNG NGƯỜI THEO ĐẠO GIÊ-SU

 

Trần Chung Ngọc

 

 

Lời Nói Đầu:  Trong bài trước: “Đây!  Thiên Chúa Của Những Người Theo Đạo Thiên Chúa”, http://www.sachhiem.net/TCNtg/TCN64.php  tôi đă đưa ra h́nh ảnh thực sự của Thiên Chúa như được viết trong Cựu Ước, thuần túy từ trong Cựu Ước..  H́nh ảnh này, đúng như Richard Dawkins đă nhận định trong cuốn “The God Delusion”, trang 51, như sau:

 

Thiên Chúa trong Cựu Ước là nhân vật xấu xa đáng ghét nhất trong mọi chuyện giả tưởng: ghen tuông đố kỵ và hănh diện v́ thế; một kẻ nhỏ nhen lặt vặt, bất công, có tính đồng bóng tự cho là có quyền năng và bất khoan dung; một kẻ hay trả thù; một kẻ khát máu diệt dân tộc khác; một kẻ ghét phái nữ, sợ đồng giống luyến ái, kỳ thị chủng tộc, giết hại trẻ con, chủ trương diệt chủng, dạy cha mẹ giết con cái, độc hại như bệnh dịch, có bệnh tâm thần hoang tưởng về quyền lực, của cải, và toàn năng [megalomaniacal], thích thú trong sự đau đớn và những tṛ tàn ác, bạo dâm [sadomasochistic], là kẻ hiếp đáp ác ôn thất thường.

   [The God of the Old Testament is arguably the most unpleasant character in all fiction: jealous and proud of it; a petty, unjust, unforgiving control-freak; a vindictive, bloodthirsty ethnic cleanser; a misogynistic, homophobic, racist, infanticidal, genocidal, filicidal, pestilential, megalomaniacal, sadomasochistic, capriciously malevolent bully.]

 

   Đây là vấn đề nghiên cứu trong lănh vực học thuật, chỉ có mục đích t́m hiểu sự thật về Thiên Chúa của những người theo đạo Thiên Chúa, không có nghĩa là không tôn trọng tự do tín ngưỡng của bất cứ ai.  Quyền tin và tôn thờ một Thiên Chúa mà thực chất như trên là một quyền được tôn trọng trong thế giới văn minh tiến bộ Âu, Mỹ.  Nhưng nghiên cứu trí thức về tôn giáo cũng là một quyền được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ ở trong thế giới này.  Bởi vậy chúng ta thấy trong thế giới Âu Mỹ đă xuất hiện hàng ngàn tác phẩm nghiên cứu về mọi khía cạnh của Ki Tô Giáo nói chung, Công giáo nói riêng, nhiều đến độ có lẽ không ai có thể biết hết.

 

   Chúng ta đă biết, Thiên Chúa của những người theo đạo Thiên Chúa là Thiên Chúa trong Cựu Ước, bố của Thiên Chúa trong Tân Ước, Giê-su.  Chúng ta đă có một h́nh ảnh thực sự về Ông Bố trong Cựu Ước.  Tôi nghĩ có lẽ chúng ta cũng nên biết đến h́nh ảnh thực sự của Ông Con trong Tân Ước.  Ông Con thường được ca tụng nhiều hơn là ông Bố. Có vẻ như ngày nay, trước những kết quả nghiên cứu về Ông Bố như trên, Ki Tô Giáo nói chung, Công giáo nói riêng, lờ đi Cựu Ước, và chỉ nhắc đến Tân Ước, đến bốn Phúc Âm, với những câu tuyên truyền cho đám tín đồ ở dưới như “Giê-su yêu bạn”, "Giê-su đến để mang một tin vui, tin vui t́nh thương, tin vui tự do...", “Giê-su mang đến Tin Mừng Phúc Âm”, Giê-su là “Chúa Trời”, là “Ông Hoàng Của Ḥa B́nh”, là “Ánh Sáng Của Nhân Loại” v..v…

 

   Thế NHƯNG, một chữ NHƯNG rất đậm nét, trước những lời ca tụng Giê-su như trên, chúng ta lại đọc được những nhận định về Giê-su như sau:

 

      Giám mục John Shelby Spong, sau khi nghiên cứu Tân ước, đă đưa ra một nhận định về Giê-su như sau:

 

    Có những đoạn trong bốn Phúc Âm mô tả Giê-su ở Nazareth như là một con người thiển cận, đầy hận thù, và ngay cả đạo đức giả.

   (John Shelby Spong, Rescuing The Bible From Fundamentalism, p. 21: There are passages in the Gospels that portray Jesus of Nazareth as narrow-minded, vindictive, and even hypocritical).

 

   Và Jim Walker cũng viết trên Internet trong bài http://www.nobeliefs.com/jesus.htm: Chúng Ta Có Nên Kính Ngưỡng Giê-su Không? (Should We Admire Jesus?):

 

       Nhiều tín đồ Ki-Tô-giáo không hề biết đến là nhiều đoạn trong các Phúc Âm trong Tân Ước, Giê-su được mô tả như là một con người đầy hận thù, xấu xa, bất khoan dung, và đạo đức giả.

   [Unbeknownst to many Christians, many times the Gospels of the New Testament portray Jesus as vengeful, demeaning, intolerant, and hypocritical.]

 

   Và Russell Shorto, một học giả Ki Tô Giáo, đă tổng hợp những tác phẩm nghiên cứu về Giê-su trong ṿng 200 năm nay, trong kết luận như sau trong cuốn Sự Thật Của Phúc Âm (Gospel Truth):

 

    Các học giả đă biết rơ sự thật từ nhiều thập niên nay – rằng Giê-su chẳng ǵ khác hơn là một người thường sống với một ảo tưởng  – họ đă dạy điều này cho nhiều thế hệ các linh mục và mục sư.  Nhưng những vị này vẫn giữ kín không cho đám con chiên biết v́ sợ gây ra những phản ứng xúc động dữ dội trong đám tín đồ. Do đó, những người c̣n sống trong bóng tối là những tín đồ Ki Tô b́nh thường.

   [Scholars have known the truth – that Jesus was nothing more than a man with a vision – for decades; they have taught it to generations of priests and ministers, who do not pass it along to their flocks because they fear a backlash of anger.  So the only ones left in the dark are ordinary Christians.]

 

   Thật là ngỡ ngàng đối với tôi.  V́ Giê-su là một nhân vật được cả tỷ người trên thế giới tôn xưng là “Chúa Trời” và t́nh nguyện làm tôi tớ hầu việc Chúa..  Vậy nếu những nhận định trên về Giê-su là đúng th́ chẳng lẽ cả tỷ người đó ngu hay sao mà lại đi tôn thờ “một Chúa mà bản chất chẳng qua chỉ là một người thường, sống với một ảo tưởng, và bản chất chỉ là một con người đầy hận thù, xấu xa, bất khoan dung, và đạo đức giả.”  Trong lănh vực học thuật, chúng ta không nên vội tin những nhận định tiêu cực về Giê-su như trên, dù đó là những nhận định của của các học giả và của một bậc lănh đạo có uy tín trong Ki Tô Giáo, mà phải t́m hiểu kỹ xem những nhận định đó có đúng sự thực hay không, hay đó chỉ là những luận điệu chống Chúa, chống đạo?  Bài viết này không ra ngoài mục đích t́m hiểu đó.

 

    Tuy nhiên, trong lănh vực nghiên cứu, nghiên cứu về Thiên Chúa trong Cựu Ước th́ tương đối dễ hơn, v́ chỉ cần dựa hoàn toàn vào những ǵ viết trong Cựu Ước, v́ Thiên Chúa đó là sản phẩm tưởng tượng của người dân Do Thái để giải thích phần nào lịch sử của dân tộc họ.  Trái lại, nghiên cứu về nhân vật Giê-su th́ rộng hơn nhiều, v́ rất có thể Giê-su là một nhân vật lịch sử có thật.  Tuy rằng tất cả những ǵ chúng ta biết về Giê-su là ở trong bốn Phúc Âm và Sách Khải Huyền trong Tân Ước, nhưng v́  Giê-su đă vượt trên cha ông ta về vấn đề tín ngưỡng cho nên đă có rất nhiều học giả, ở trong cũng như ở ngoài các giáo hội Ki Tô nghiên cứu về nhân vật Giê-su.  Do đó, trong bài nghiên cứu này về nhân vật Giê-su, tôi không chỉ giới hạn những điều viết trong Tân Ước mà c̣n sử dụng những kết quả nghiên cứu về Giê-su trong một số tác phẩm đă xuất bản.  Tôi cũng xin nhắc lại, đây là vấn đề nghiên cứu trí thức trong lănh vực học thuật và dựa trên các tài liệu đă thành văn.  Người nào c̣n cho rằng sự nghiên cứu trí thức này là chống tôn giáo hay không tôn trọng tín ngưỡng tôn giáo th́ người đó, ít ra phải vạch ra là tôi đă chống tôn giáo như thế nào, ở chỗ nào, và có thật đúng là chống hay không. 

 

   Để vấn đề rơ ràng hơn, tôi lấy vài thí dụ.  Nếu tôi viết: “Trong lịch sử Công Giáo, có những giáo hoàng loạn dâm, loạn luân, trụy lạc, giết người v..v..” th́ không phải là tôi “chống Công giáo”, mà đó chỉ là những sự kiện lịch sử.  Nếu Giáo sư sử Nguyễn Mạnh Quang viết: “Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm thuộc gia đ́nh “Ba Đời Làm Việt Gian” (Tam Đại Việt Gian) là do Vatican toa rập với tư bản Mỹ đưa về Nam Việt Nam để chống Cộng cho Mỹ và chống Cộng cho Chúa”  th́ không phải là Giáo sư Quang “chống ông Diệm” mà đó chỉ là một sự kiện lịch sử.   Mặt khác, nếu tôi viết: “Ông Hồ Chí Minh, Cộng sản hay không, đă lănh đạo người dân kháng chiến chống Pháp đi đến chấm dứt chế độ thực dân Pháp ở Việt Nam, một chế độ không thể h́nh thành, theo Giám mục Puginier, nếu không có sự giúp đỡ của giáo dân Công giáo Việt Nam” th́ không phải là tôi ủng hộ ông Hồ Chí Minh hay Cộng sản, mà đơn giản đó chỉ là một sự kiện lịch sử.  Do đó, trong lănh vực học thuật, chúng ta cần phân biệt những kết quả nghiên cứu với những cảm tính phe phái cá nhân.  Không hiểu được điều này th́ chưa đủ tư cách để đi vào lănh vực học thuật.  Chúng ta nhận thấy ở hải ngoại, phần lớn những luận điệu vu vơ chụp mũ hay lên án người khác là thân Cộng, hay chống đạo Thiên Chúa, là dựa trên cảm tính phe phái cá nhân, của những người, đúng như Mục sư Ernie Bringas đă nhận định, có một đầu óc khuyết tật.  Sự hiểu biết tôn giáo của họ thuộc thế kỷ 17, hoặc rất có thể họ có gốc từ Bùi Chu, Phát Diệm, Hố Nai, Gia Kiệm và đang sống trong các xóm đạo cờ vàng…

 

 

*

  

Vào Đề:

 

…TRONG THỜI HIỆN ĐẠI, TÔN GIÁO CỦA NHIỀU NGƯỜI RẤT CÓ THỂ ĐƯỢC XẾP VÀO LOẠI “ĐẠO
GIÊ-SU”           

Bishop JAMES A. PIKE:   IN MODERN TIMES THE RELIGION OF MANY COULD WELL BE  CATEGORIZED AS “JESUSISM”) [A Time For Christian Candor, p. 108]

 

   Giám Mục James A. Pike, Trưởng Ban Tôn Giáo, Đại Học Columbia [Chairman of the Department of Religion, Columbia Universsity], nhận định như trên, dựa trên sự kiện là các tín đồ Ki Tô Giáo [Christians] thực sự chỉ là những tín đồ tôn thờ Giê-su v́ tin vào những huyền thoại mà Ki Tô Giáo đă cấy vào đầu họ, và tin rằng Giê-su là Chúa Trời tuy rằng hầu hết các tín đồ của “đạo Giê-su” không biết rơ “Trời” là cái ǵ..

 

   Thật vậy, Giám mục John Shelby Spong đă đặt vấn đề như sau:

 

   Trời là cái ǵ?  Đâu là trời?  Điều rơ ràng là trong cái thế giới cổ xưa này, trời mà Thiên Chúa trong Cựu Ước dựng nên được nghĩ là nơi ăn chốn ở của Thiên Chúa và nó ở trên quá ṿm trời.  Nhưng chúng ta trong thế hệ này biết rơ rằng ṿm trời không phải là mái của thế giới mà cũng chẳng phải sàn nhà của cơi trời.  Vậy chúng ta muốn nói ǵ khi chúng ta khẳng định là Thiên Chúa toàn năng toàn trí đă dựng nên trời? Phải chăng chúng ta muốn nói đến một vũ trụ vô biên mà trong thời Thánh Kinh được viết ra, không một người nào hiểu ǵ về cái vũ trụ đó như thế nào?

    [John Shelby Spong, Why Christianity Must Change or Die, p. 10:  What is heaven?  Where is heaven?  It is clear that in this ancient world the heaven that God created was thought of as God's home, and it was located beyond the sky.  But those of us in this generation know that the sky is neither the roof of the world nor the floor of heaven.  So what are we referring to when we assert that this almighty God created heaven?  Are we talking about that almost infinite universe that no one living knew anything about when the Bible was written?]

 

   Những tín đồ Ki Tô Giáo thường mơ tưởng là sau khi chết sẽ được lên thiên đường, sống cuộc sống đời đời bên Chúa Giê-su của họ,  tuy rằng Tân Ước viết rất rơ, Giê-su rất ghét những người phi Do Thái, không bao giờ có ư định cứu chuộc những người phi Do Thái, khoan nói đến chuyện muốn ở cùng với họ trên thiên đường.  Nhưng thực ra cái thiên đường đó là như thế nào.  Thiên đường của Chúa ở trên một "Ṿm" (vault) gọi là "Trời" (Heaven) mà Thiên Chúa trong Cựu Ước tạo ra trong ngày thứ hai của 6 ngày "Sáng Thế", cách đây khoảng 6000 năm.   Muốn hiểu ṿm Trời trên có h́nh dạng ra sao, chúng ta hăy đọc lời giải thích của Bác Sĩ Nguyễn Văn Thọ, một tín đồ Công giáo trong khoảng 30 năm hồi thiếu thời, viết trong bài "Ít Nhiều Nhận Định về Thiên Chúa Giáo", đăng trong cuốn “Tại Sao Không Theo Đạo Chúa”, Tập I, trang 16:

 

   "The New Jerusalem Bible của Công Giáo dịch là Vault (ṿm), và chú rằng người dân Semites xưa coi cái ṿm trời đó cứng chắc, có thể giữ nước ở phía trên, không cho rơi xuống trần gian.  Nó h́nh nửa ṿng cầu, hoặc như cái chảo úp, như ta thường trông thấy.  Nó chắc chắn là phải hết sức cứng v́ có thể chứa được một số nước khổng lồ bên trên.  Ṿm trời đó, theo Job, đă được đúc bằng "đồng thau" (Job 37:18).  Ṿm đó có những cửa.  Khi muốn có Hồng Thủy, những "cửa trời" đó sẽ được mở ra cho nước trên trời tuôn xuống (Gen 7:11)...Cung đ́nh Chúa và ṭa ngôi ngài đặt trên ṿm trời đó (Psalm 11:4), v́ Sáng Thế Kư đă định nghĩa cái ṿm đó là "trời" (Gen 1:8).

   Chúa Giêsu cũng xác quyết Chúa Cha ở trên đó, khi Ngài dạy cầu xin: Lạy Cha chúng tôi ở trên trời (Mat. 6:9).  Thánh Joan dạy rằng lúc thế mạt ṿm trời đó sẽ bị cuộn lại, cuốn đi, như một trang sách (Rev 6:14).  Chúng ta cũng nên nhớ rằng ṿm trời đó có nhiều cột chống đỡ (Job 27:11); và trái đất cũng có nhiều cột chống đỡ (Job 9:6).  Đất đă được Chúa đặt vững trên mặt nước (Psalm 136:6).  Đất muôn đời đứng yên một chỗ (terra in aeternum stabat, Vulgate, Eccl. 1:4)."

 

   Người Công giáo hiểu rằng Trời là trụ xứ của Thiên Chúa của họ, như được mô tả trong Thánh Kinh, nghĩa là ở trên các tầng mây một chút, v́ vậy họ thường ngẩng mặt cầu nguyện "Lạy Cha chúng tôi ở trên Trời".  Cũng v́ vậy mà họ gọi cái "nhà ở trên trời", nơi Chúa ngự, là "Thiên đường", đường tiếng Hán có nghĩa là cái nhà.  Ngày nay, cái ṿm Trời như được mô tả trong Thánh Kinh đă tan vỡ ra thành từng mảng trước những khám phá của khoa học về vũ trụ.   Khi con người bắt đầu ư thức được rằng, qua những khám phá của Copernicus và Galileo, chẳng có ṿm Trời nào để cho "Chúa Trời" ngự trên đó mà phán xét, thưởng phạt con người, th́ những nhà bảo vệ tín lư Ki Tô Giáo (apologists) bèn thay đổi chỗ ở của "Chúa Trời", sửa lại là "Chúa Trời" không ở "trên đó" (up there) mà ở  "ngoài đó" (out there), hàm ư ở khắp mọi nơi, hi vọng sự thay đổi này sẽ làm cho con người tin vào "Chúa Trời" hơn.  Nhưng, với một vũ trụ được cả thế giới, kể cả Ṭa Thánh Vatican, công nhận là vô biên, thiên hà Andromeda gần giải ngân hà của chúng ta nhất cũng cách xa chúng ta khoảng 2 triệu năm ánh sáng, và vũ trụ gồm cả tỷ thiên hà như vậy, có thiên hà cách xa chúng ta cả 13 tỷ năm ánh sáng, mỗi năm ánh sáng là một khoảng cách vào khoảng 9,460,800,000,000 cây số (9 ngàn 4 trăm 60 tỷ 8 trăm triệu), th́ "Chúa Trời" ngự ở đâu?  Cả "trên đó" và "ngoài đó" đều không có ư nghĩa. Chưa kể là thay đổi từ "trên đó" thành "ngoài đó" hàm ư bác bỏ một điều tin trong Kinh Tin Kính: "Sau khi chết Chúa Con lên trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha".   Khoa học tiến tới đâu th́ "Chúa Trời" lui tới đó, và hiện nay "Chúa Trời" đă bị đẩy ra khỏi "ṿm Trời" tưởng tượng của những người viết Thánh Kinh, và rơi vào cơi hoang tưởng của những người có đầu mà không có óc. Trước khi đi vào chi tiết vấn đề này, tưởng chúng ta cũng nên t́m hiểu về nguồn gốc đức tin Công giáo về một "Chúa Trời".

 

   Trải qua 16 thế kỷ, niềm tin tất cả là do "Chúa Trời" tạo ra đă tạo thành đức tin của Ki Tô Giáo nói chung, Công giáo nói riêng, ở phương trời Âu Mỹ.  Nhưng khi nền văn minh hiện đại bắt đầu ló dạng vào đầu thế kỷ 16 th́ quan niệm về một Thiên Đường nơi đó "Chúa Trời" ngồi để phán xét những việc thế gian cũng bắt đầu chao đảo và hiện nay th́ trở thành Hoang Đường (cái nhà hoang), ít ra là đối với đa số dân chúng trên thế giới, nhất là đối với tuyệt đại đa số những người trong giới trí thức hiểu biết.

 

   Chúng ta đă biết, dựa trên những tư tưởng của Nicolaus Copernicus (1473-1573) và trên những kết quả quan sát thực nghiệm, xác định lại quan niệm về vũ trụ và vị thế của trái đất trong vũ trụ,   Galilei đi tới kết luận là không phải mặt trời quay xung quanh trái đất như đă viết trong Thánh Kinh mà chính là trái đất quay xung quanh mặt trời.  Kết luận này làm thay đổi toàn bộ hệ thống tư tưởng của con người về vũ trụ, và làm "lạnh xương sống" giới giáo sĩ Công Giáo, những kẻ buôn bán quyền lực (power brokers) thời đó, những kẻ xây dựng quyền lực trên sự "không thể sai lầm của Thánh Kinh" và trên sự hiểu biết vô cùng giới hạn của quần chúng Tây phương.  Nói rơ hơn, trái đất không c̣n được coi như là đứng yên, trung tâm của vũ trụ như là "lời không thể sai lầm" của "Chúa Trời" trong Thánh Kinh, và v́ thực tế là trái đất luôn luôn di chuyển trong không gian với một vận tốc trên 1 trăm ngàn cây số một giờ, đồng thời quay xung quanh trục Nam Bắc với vận tốc quay khoảng 1600 cây số một giờ cho nên không có chỗ nào để cho "Chúa Trời" ngồi yên "trên đó" hay "ngoài đó" mà can thiệp vào việc hàng ngày của thế gian.  Muốn theo dơi sự việc trên thế gian để mà can thiệp, "Chúa Trời" cũng phải điên đảo, đảo điên như là trái đất đang điên đảo, đảo điên trong không gian.  Cũng v́ vậy mà, năm 1999, chính Giáo Hoàng John Paul II, trước sự tiến bộ của khoa học, cũng đă phải thú nhận là: "Không làm ǵ có Thiên đường ở trên các tầng mây."

 

   Theo nhận định của Giám mục Pike th́ những người Công Giáo hay Tin Lành đều có thể coi như là theo “đạo Giê-su”.  Đạo Giê-su, thường được gọi dưới vài tên khác là Cơ-Đốc Giáo, Ki-Tô-Giáo, Thiên Chúa Giáo, nhưng có lẽ gọi là đạo Giê-su th́ thích hợp nhất, v́ là đạo giáo dân tôn thờ Giê-su như là một Chúa Trời, và tin vào khả năng cứu chuộc và cứu rỗi của Giê-su mà nền thần học của đạo Giê-su đă đă cấy vào đầu óc tín đồ.  Cho nên, vai tṛ của Giê-su trong Ki Tô Giáo th́ dính liền với những cái gọi là “ơn cứu chuộc” và “cứu rỗi”.  Nhưng thế nào là “cứu chuộc” và thế nào là “cứu rỗi”? 

 

   Ư tưởng về nhân loại cần “ơn cứu chuộc” bắt nguồn từ huyền thoại về “tội tổ tông” trong Cựu Ước.  Sách Giáo Lư Công Giáo (Katholischer Katechismus) do Hoài Chiên và Nguyễn Khắc Xuyên dịch sang tiếng Việt giảng, trang 51, 54, nguyên văn: 

 

   “Adong (Adam) và Evà (Eve) phạm tội kiêu ngạo muốn nên bằng Chúa cho nên đă ăn trái cấm. Họ đă lỗi phạm tới Chúa một cách nặng nề.  Thứ tội mà Adong và Evà phạm đó, ta gọi là “tội tổ tông”.  Bởi tội tổ tông đó nên Adong và Evà đă mất hết đời sống ân sủng và không thể vào thiên đàng được nữa.  Bởi v́ Adong là đầu đoàn thể nhân loại đă phạm tội, cho nên lỗi lầm của Adong lưu truyền cho hết thảy con cháu của ông sau này (tội tổ tông)…Sau khi Adong và Evà phạm tội, th́ Chúa liền hứa: Một Đấng Cứu Tinh sẽ từ nhân loại mà sinh ta.  Ngài sẽ cứu chuộc loài người cho khỏi tội (tổ tông) và các hậu quả khốc liệt của nó.”

 

   Những người viết sách Giáo Lư Công Giáo không có người nào lương thiện, toàn một thứ bịp bợm, lừa dối để mê hoặc đám tín đồ ngu dốt.  Đọc Cựu Ứớc chúng ta không thấy chỗ nào viết là “Sau khi Adong và Evà phạm tội, Chúa liền hứa: Một Đấng Cứu Tinh sẽ từ nhân loại mà sinh ra.” 

 

    Câu trên không phải là câu “Chúa hứa” mà là nền thần học Ki Tô Giáo về sau, lấy một câu trong Phúc Âm Matthew, một câu mà Matthew lấy ngoài ngữ cảnh (out of context) trong Isaiah 7 trong Cựu Ước làm lời tiên tri về Giê-su sẽ ra đời như một Đấng Cứu Tinh để cứu chuộc nhân loại, nhưng thủ đoạn thần học lắt léo này đă bị tất cả những người nghiên cứu Thánh Kinh bác bỏ.  Chứng minh?

 

   Matthew lấy một câu trong Cựu Ước, Isaiah 7: 14, để chứng minh rằng Giê-su sinh ra đúng như lời tiên tri trong Cựu Ước.  Ông ta biết rằng dân thường thời đó chẳng bao giờ đọc Cựu Ước, cũng như ngày nay, các linh mục lấy những đoạn trong Thánh Kinh, ngoài toàn bộ vấn đề, để giảng cho tín đồ v́ biết tín đồ không bao giờ đọc Thánh Kinh.  Thật vậy, câu trong Isaiah 7:14, “Cho nên, chính Thiên Chúa sẽ cho ngươi một dấu hiệu: Này, một trinh nữ sẽ mang thai và sinh ra con trai, và đặt tên nó là Immanuel.”  chẳng phải là lời tiên tri chuyện Giê-su ra đời mà là Isaiah nói ra trong một trường hợp khác hẳn.  Đây là trường hợp vua Ahaz của xứ Judah (Nam Do Thái) đang bị hai kẻ thù, Syria và Israel (Bắc Do Thái) tấn công.  Nhà “tiên tri” Isaiah của xứ Judah thời đó trấn an nhà vua bằng một lời “tiên tri”, rằng hai kẻ thù kia sẽ bị đánh bại.  Khi nào?  Lời “tiên tri” của Isaiah đă nói lên rơ ràng, Isaiah 7: 14-16:

 

  Cho nên, chính Thiên Chúa sẽ cho ngươi một dấu hiệu: Này, một một người đàn bà trẻ sẽ mang thai và sinh ra con trai, và đặt tên nó là Immanuel.

   Đứa trẻ đó sẽ ăn bơ và mật cho đến khi biết bỏ điều ác chọn điều thiện.

   Nhưng trước khi đứa trẻ ấy biết bỏ điều ác, chọn điều thiện, th́ đất nước của hai vua mà ngài đang sợ hăi sẽ bị hoang vu.

  

   Chúng ta thấy ngay  sự xảo quyệt của Matthew trong việc trích dẫn Cựu Ước trên với mục đích truyền bá niềm tin riêng của ḿnh.  Truyền thống này kéo dài trong giáo hội Công giáo cho tới ngày nay với những câu thêm thắt, ngụy tạo trong Tân Ước, cùng những lời diễn giảng cắt xén chọn lọc ngoài ngữ cảnh [out of context]. 

 

   Từ tiểu xảo của Matthew, trích dẫn nửa vời một câu trong Cựu Ước để chứng tỏ là Giê-su sinh ra đời phù hợp với lời tiên tri (dỏm) của Isaiah trong Cựu Ước, niềm tin Giê-su là Đấng Cứu Tinh ra đời chịu khổ nạn hi sinh bị đóng đinh trên cây thập giá để chuộc tội cho dân Do Thái đă được các giáo hội Ki Tô cấy vào đầu các tín đồ có đầu mà không có óc là Giê-su chịu khổ nạn hi sinh để chuộc tội cho cả nhân loại trong khi, cho đến thế kỷ 16, giáo hội không biết cả sự kiện là trái đất có h́nh cầu, nghĩa là không biết là ở nửa ṿng trái đất bên kia c̣n có nhiều quốc gia khác..  Mặt khác, giáo hội dạy th́ giáo dân nghe chứ có biết ǵ đâu, v́ thực ra ông Giê-su đâu có hi sinh cái ǵ.  Theo như chính luận điệu thần học của Ki Tô Giáo th́ ông ta chỉ giả vờ chết trong một ngày và hai đêm, từ chiếu thứ Sáu đến sáng Chủ Nhật, rồi sống lại.  Vậy th́ hi sinh ở chỗ nào.

 

   Người Công giáo Việt Nam thường gọi ngày Chủ Nhật là ngày Chúa Nhật, tin rằng đó là ngày của Chúa.  Họ tưởng gọi như vậy là để vinh danh Chúa của họ nhưng lại không biết rằng ḿnh hơi dốt, v́ ngày Chủ Nhật là ngày Mặt Trời, Mặt Trời là Chủ trong Thái Dương Hệ (Sunday). Thật vậy, những tên ngày trong tuần đều là dựa trên Mặt Trời, Mặt Trăng và các Hành Tinh Mars, Mercury, Jupiter, Venus, và Saturn. Do đó, trong “ngày Chủ Nhật” th́ Nhật là Mặt Trời chứ Nhật không phải là Ngày. V́ nếu Nhật là Ngày th́ “ngày Chúa Nhật” có nghĩa là “ngày Chúa ngày”, chẳng có nghĩa ǵ hết.  Điều lạ là cho tới ngày nay mà người Công giáo, kể cả mấy ông chăn chiên, vẫn cứ thích dùng từ “Chúa Nhật”.

 

    Rồi th́ Công giáo nhập nhằng cho rằng Giê-su, không những có khả năng chuộc cái tội không hề có của nhân loại là “tội tổ tông” mà c̣n có khả năng tha mọi tội lỗi của thế gian về sau bất kể là Giê-su đă chết đi và không hề biết những tội lỗi của thế gian là những tội lỗi như thế nào.  Và các giám mục, linh mục cũng dựa vào lư thuyết thần học hoang đường này, tự nhận là các “Chúa thứ hai” để mà “Cha tha tội cho con” trong những màn xưng tội kín mà mục đích chính là để nắm giữ đầu óc của đám tín đồ ở dưới.  Thời buổi này, cha phạm tội th́ cha cũng vào tù ngồi, khoan nói là có thể tha tội cho bất cứ ai khác.

 

   C̣n về “cứu rỗi” th́ giáo hội dạy rằng: nếu ai tin Chúa th́ sau khi chết, đến ngày tận thế, Chúa sẽ làm cho phần hồn của người ấy nhập lại với phần xác, bất kể là chết đă bao lâu và chết như thế nào, và sẽ được bốc lên thiên đàng để sống đời đời bên Chúa của họ v..v.., c̣n nếu không tin sẽ bị Chúa đầy đọa xuống hỏa ngục để bị ngọn lửa vĩnh hằng thiêu đốt.

 

   Đó là đại cương về ơn cứu chuộc và cứu rỗi trong Công giáo.  Chúng ta thấy, tất cả những giải thích trên về sự sinh ra của Giê-su chỉ là những giải thích thần học dựa trên những huyền thoại trong Thánh Kinh, Cựu Ước cũng như Tân Ước, để huyễn hoặc những đầu óc thấp kém.  Thử hỏi ngày nay, với những khám phá về vũ trụ nhân sinh, về thuyết Big Bang, về thuyết Tiến Hóa, mà chính Giáo hoàng John Paul II đă phải công nhận, có c̣n ai tin vào thuyết sáng tạo của Thượng đế, vào chuyện tội tổ tông v..v.. ngoài những người ít học và kém hiểu biết, đầu óc mù mịt sống trong những ốc đảo mê tín ngu dốt.  Chứng minh?

 

   Malachi Martin, giáo sư tại viện nghiên cứu Thánh Kinh của giáo hoàng tại Rô-ma dưới triều đại giáo hoàng John XXIII (Professor at the Pontifical Biblical Institute of Rome, served in the Vatican under Pope John XXIII), đă viết trong cuốn “Sự Suy Thoái Và Sụp Đổ của Giáo Hội Rô-Ma” (The Decline and Fall of the Roman Church) như sau, trang 230:

 

    Giáo Hoàng John XXIII nói trong buổi khai mạc Công Đồng Vatican II  ngày 11 tháng 10, 1962, rằng “những giáo lư và quan niệm sai lầm vẫn c̣n tồn tại nhiều, nhưng ngày nay con người đă tự ư loại bỏ chúng… Nhưng nếu Roncalli (John XXIII)  không thấy là điều giảng dạy mới của ḿnh dẫn tới đâu, th́ hàng trăm nhà thần học và giám mục đă thấy.  Trong những thập niên 1960-70, sau khi Roncalli chết, họ đă từ bỏ niềm tin về tội tổ tông, về quỷ Satan, và về nhiều giáo lư căn bản khác.

    [Martin, Malachi, The Decline and Fall of the Roman Church, p. 230: Pope John XXIII told the opening session of his council on October 11, 1962, that “false doctrines and opinions still abound,” but that “today men spntaneously reject” them…  But if Roncalli did not see where his new teaching was leading, hundreds of theologians and bishops did.  In the sixties and the seventies after Roncalli’s death, they drew these conclusions and abandoned belief in original sin, in the Devil, and in many other fundamental doctrines.]

 

   Tại sao các  nhà  thần học và  giám mục lại  từ  bỏ những niềm tin về tội tổ tông, về quỷ Satan và về nhiều giáo lư khác như “ơn cứu chuộc của Chúa”, “Chúa sống lại”, hay “Đức Mẹ đồng trinh” v..v..?  V́ ngày nay, những niềm tin này không c̣n phù hợp với tŕnh độ hiểu biết tiến bộ của nhân loại, hơn nữa lại c̣n chứa những mâu thuẫn mà không nhà thần học nào có thể biện minh được.  Những niềm tin này chỉ c̣n sót lại trong những đầu óc của đám tín đồ u mê ít học, và của các “bề trên” bất lương xảo quyệt, cố duy tŕ chúng để cho những quyền lợi vật chất và tinh thần cá nhân trên đám tín đồ ở dưới.  Tuy nhiên, không phải tất cả những bậc lănh đạo trong Ki Tôi Giáo đều thuộc loại bất lương trí thức.

 

   Thật vậy, nhận rơ được tính chất hoang đường, vô hiệu, lỗi thời của “bí tích rửa tội”, của vai tṛ “chuộc tội” và “cứu rỗi” của Giê-su, nên trong cuốn Tại Sao Ki Tô Giáo Phải Thay Đổi Không Th́ Chết (Why Christianity Must Change or Die), Giám mục John Shelby Spong đă dành riêng chương 6 để viết về đề tài Giê-su Như Là Đấng Cứu Thế: Một H́nh Ảnh Cần Phải Dẹp Bỏ (Jesus as Rescuer: An Image That Has To Go).  Trong chương này, Giám Mục Spong viết như sau,  trang 98-99:

 

   “Nhân loại chúng ta không sống trong tội lỗi.  Chúng ta không sinh ra trong tội lỗi.  Chúng ta không cần phải rửa sạch cái t́ vết tội tổ tông trong lễ rửa tội.  Chúng ta không phải là những tạo vật sa ngă, mất đi sự cứu rỗi nếu chúng ta không rửa tội.  Do đó, một đấng cứu thế có nhiệm vụ khôi phục t́nh trạng trước khi sa ngă của chúng ta chỉ là một sự mê tín trước thời Darwin và một sự vô nghĩa sau thời Darwin.”

   [We human beings do not live in sin.  We are not born in sin.  We do not need to have the stain of our original sin washed away in baptism.  We are not fallen creatures who will lose salvation if we are not baptized… A savior who restores us to our prefallen status is therefore pre-Darwinian superstition and post-Darwinian nonsense.]

       

   Và trong cuốn “Thiên Chúa Vẫn Sống: Từ Sợ Hăi Tôn Giáo Đến Tự Do Tâm Linh” (God Lives: From Religious Fear To Spiritual Freedom, Steven J. Nash Publishing, IL., 1993), trang 114, Linh mục James Kavanaugh cũng đưa ra nhận xét sau đây về tín điều “chuộc tội” trong Ca Tô Giáo:

  

   “Đối với bất cứ người nào trong thế giới cổ xưa đứng trước Thiên Chúa  như là một nạn nhân bất lực, tin rằng ḿnh là một người có tội một cách vô vọng, coi Thiên Chúa như là một ông quan ṭa giận dữ không thể tới gần được, cái chết có tính cách hi sinh của đức Ki Tô là một huyền thoại với đôi chút thực tế.  Nhưng đối với con người hiện đại, nó chẳng c̣n ư nghĩa ǵ mấy trừ khi hắn đă bị làm cho sợ hăi và tẩy năo một cách thích hợp từ khi mới sinh ra đời.  Đối với hắn, hắn là một nạn nhân tuyệt đối thụ động của sắc luật của Thiên Chúa trong Thánh Kinh.  Đối với tôi, đó là một huyền thoại “cứu rỗi” thuộc thời sơ khai miêu tả một người cha lấy cái chết của chính con ḿnh để bớt đi cơn giận dữ.  Đó là một chuyện ác độc không thể tưởng tượng được…

 

   Tôi chấp nhận sự kiện là đức Ki Tô đă chết, ngay cả chuyện ông ta bị đóng đinh trên thập giá.  Nhưng tôi không thể chấp nhận huyền thoại cho rằng cái chết của ông ta là để chuộc tội cho tôi.  Huyền thoại cứu rỗi như được viết trong Tân Ước chỉ là một lối diễn giải.  Đó là một huyền thoại của thời sơ khai, bản chất của nó tương đương với nhiều huyền thoại cứu rỗi của nhiều dân tộc trong thời sơ khai ở khắp mọi nơi, nhưng nó lại độc ác một cách không tưởng hơn là hầu hết các huyền thoại khác.  Nó phản ánh một thế giới mà con người có thể làm nguôi cơn giận của những thần sấm sét trong một cơn giông tố.  Ngày nay, chó và mèo vẫn c̣n sợ sấm sét, nhưng con người th́ ngồi yên trong nhà và hiểu rơ cái hiện tượng thiên nhiên đang xảy ra…

   Tôi sẽ không chấp nhận cái huyền thoại về một Chúa Cha khắt khe đối xử với chính con của ḿnh, Giêsu, bằng một công lư vô t́nh cảm, và đ̣i hỏi con ḿnh phải chết trên thập giá cho những tội lỗi của tôi.  Cái huyền thoại này cũng chẳng trở thành hấp dẫn hơn v́ Chúa Cha đă làm cho con ông ta sống lại, đội mồ mà lên một cách vinh quang. Tôi không thể yêu mến một người cha như vậy hoặc phải biết ơn một người con như vậy trong một câu chuyện mượn từ một câu chuyện truyền tụng của nền thần học Do Thái cổ lỗ và thay đổi nó đi.  Tôi không hề yêu cầu Giêsu phải chịu khổ thay cho tôi và ngay cả muốn ông ta làm như vậy…” 

   [To any man in the ancient world who stood before God as a helpless victim, who believed himself a hopeless sinner, who considered God an unapprochable and angry judge, the sacrificial death of Christ was a myth of some substance.  But to modern man, it makes far less sense unless he has been suitably frightened and brainwashed from birth.  To him, he is a voiceless victim of God’s decree in the Bible.  To me, it is a primitive ‘salvation” myth which portrays an angry father appeased by the death of his own son.  It is a tale of unbelievable cruelty…   I  accept the fact that Jesus died, even that he was crucified.  But I cannot accept the myth that his death was an atonement for my sins.  The salvation myth as it appears in the New Testament is an interpretation.  It is a primitive myth, in essence parallel to the salvation myths of primitive peoples everywhere, but it is more unbelievable and cruel than most myths.  It rings of a world in which man could appease the gods of thunder during a storm.  Now cats and dogs are frightened during storms; man stays inside and understands the natural phenomenon that is taking place… I will not accept this mythical God-the-demanding-Father Who could treat His own son Jesus in unfeeling justice and demand his death on the cross to pay for my sins.  Nor is the myth more appealing because He brought His son gloriously from the tomb.  I cannot love such a Father or even be grateful for such a son in this borrowed and modified tale of archaic semitic theology.  I did not ask him to suffer for me or even want him to..]

  

   Sự từ bỏ những niềm tin về tội tổ tông, về quỷ Satan, và về nhiều giáo lư căn bản khác không đâu rơ hơn trong những thú nhận của Vatican trong vài thập niên qua. Thật vậy, từ năm 1981, ṭa thánh Vatican đă mời một số chuyên gia đến để cố vấn cho ṭa thánh về vũ trụ học.  Cuối cuộc hội thảo, các chuyên gia được giáo hoàng John Paul II tiếp kiến.  Ông ta nói với các khoa học gia là “cứ tự nhiên nghiên cứu sự tiến hóa của vũ trụ sau sự nổ lớn (big bang), nhưng không nên t́m hiểu về chính lúc nổ v́ đó là lúc sáng tạo, do đó là tác phẩm của Thượng đế.” (Stephen Hawking, A Brief History of Time, p. 116: He told us that it was all right to study the evolution of the universe after the big bang, but we should not inquire into the big bang itself because that was the moment of Creation and therefore the work of God).  Chúng ta nên để ư, trong khoa học, Big Bang là hiện tượng nổ bùng của một dị điểm (singularity) vô cùng đặc, vô cùng nóng, nguồn gốc của vũ trụ ngày nay, và đă xảy ra cách đây khoảng 13.7 tỷ năm chứ không phải là chỉ có từ 6000-10000 năm do sự “sáng tạo” (sic) trong 6 ngày của Thượng đế Ki-tô giáo như được viết trong Kinh Thánh, được coi như những lời không thể sai lầm của Thượng đế.  Và giáo hoàng nói câu trên chẳng qua chỉ để vớt vát phần nào mặt mũi của Thượng đế, Thượng đế của những khoảng trống (God of the Gaps), một mặt mũi đă không c̣n chỗ đứng trong thế giới tiến bộ trí thức và khoa học của nhân loại.

 

   Rồi, trước những khám phá khoa học liên hệ đến thuyết Tiến Hóa bất khả phủ bác trong nhiều bộ môn của khoa học, năm 1996, Giáo hoàng John Paul II đă thú nhận trước thế giới là:

 

    “thân xác con người có thể không phải là một sự sáng tạo tức thời của Thượng đế, mà là kết quả của một quá tŕnh tiến hóa dần dần”.  Ngài nói: “những kiến thức mới nhất dẫn đến việc phải chấp nhận thuyết tiến hóa hơn là một giả thuyết”.

   (Pope John Paul II has put the teaching authority of the Roman Catholic Church firmly behind the view that “the human body may not have been the immediate creation of God, but is the product of a gradual process of evolution.. The pope said that “fresh knowledge leads to recognition of the theory of evolution as more than just a hypothesis”). 

 

    C̣n nữa, tháng 7 năm 1999, trước những khám phá xác tín nhất của khoa vũ trụ học, và trước những hiểu biết của con người ngày nay về cấu trúc của trái đất, Giáo Hoàng đă bắt buộc phải tuyên bố:

 

   “thiên đường không phải là một nơi trừu tượng mà cũng chẳng phải là một nơi cụ thể ở trên các tầng mây” (Heaven is neither an abstraction nor a physical place in the clouds), và “Hỏa ngục không phải là sự trừng phạt áp đặt từ bên ngoài bởi Thượng đế, mà là trạng thái hậu quả của những thái độ và hành động mà con người đă làm trong đời này” (Hell is not a punishment imposed externally by God, but the condition resulting from attitudes and actions which people adopt in this life).

 

   Chấp nhận thuyết Big Bang, thuyết tiến hóa, chấp nhận con người không phải là do Thượng đế tạo ra tức thời mà chính là kết quả của một quá tŕnh tiến hóa dần dần và lâu dài, thú nhận không làm ǵ có thiên đường (một cái bánh vẽ trên trời để dụ những người đầu óc mê mẩn, yếu kém), và hỏa ngục (một nơi để hù dọa những người không tin Chúa),  Giáo hoàng đă chính thức bác bỏ thuyết “sáng tạo” của Ki Tô Giáo, phá tan huyền thoại về Adam và Eve là tổ tông loài người do Thượng đế tạo dựng từ đất sét, và kéo theo không làm ǵ có chuyện Adam và Eve sa ngă tạo thành tội tổ tông.  Do đó, vai tṛ “chuộc tội” và “cứu rỗi” của Giê-su chỉ là những luận điệu thần học lừa dối của giới giáo sĩ Ki Tô Giáo khi xưa, được tiếp tục đưa ra không ngoài mục đích khai thác ḷng mê tín của một số người, huyễn hoặc và khuyến dụ họ tin vào những điều không thực.  Thật vậy, sự kiện là, Giáo hoàng đă bác bỏ đức tin quan trọng nhất trong Ki-tô giáo:   Quyền năng “cứu chuộc”, “cứu rỗi” , “luận phạt” của Giê-su, và cũng bác bỏ sự hiện hữu của một thiên đường, do đó hi vọng của các tín đồ Ki-tô về một cuộc sống đời đời trên thiên đường cùng Giê-su chẳng qua chỉ là một ảo vọng, bắt nguồn từ một sự mù ḷa tin bướng tin càn, và sự luận phạt của Giê-su đối với những người không tín Giê-su chẳng qua chỉ là một sự hù dọa đă không c̣n ư nghĩa.

 

   Tôi tự hỏi, có bao nhiêu tín đồ Ki-tô, Công giáo cũng như Tin Lành, biết đến những thay đổi trong nội bộ các giáo hội Ki-tô về căn bản tín ngưỡng trong Ki-tô Giáo, biết đến những sự kiện lịch sử này, và biết đến những quan niệm sai lầm bắt nguồn từ Kinh Thánh?  Tôi nghĩ đa số chưa bao giờ nghe đến tên Copernicus hay Galileo, chưa bao giờ nghe đến những lời tuyên bố trước thế giới của giáo hoàng John Paul II.  Tôi cũng nghĩ tuyệt đại đa số tín đồ Ki-tô chưa từng đọc đến Kinh Thánh và lẽ dĩ nhiên không có một kiến thức nào, dù là tối thiểu, về những tiến bộ của khoa học và đầu óc con người trên thế giới.  Và lẽ dĩ nhiên, các tín đồ cũng chưa bao giờ được nghe các linh mục, mục sư cho biết những điều này trong nhà thờ, dù có thể chính họ cũng đă biết nhưng vẫn dấu kín trước đám tín đồ thấp kém ở dưới để giữ đức tin của tín đồ không bị chao đảo. 

 

   Thật vậy, Russell Shorto đă viết trong cuốn Sự Thật Của Phúc Âm (Gospel Truth) như sau:

 

     Điều quan trọng nhất là, tác động của quan điểm khoa học ngày nay đă khiến cho các học giả, ngay cả những người được giáo hội Ca-Tô bảo thủ cho phép nghiên cứu, cũng phải đồng ư là phần lớn những điều chúng ta biết về Giê-su chỉ  là huyền thoại… Các học giả đă biết rơ sự thật từ nhiều thập niên nay – rằng Giê-su chẳng ǵ khác hơn là một người thường sống với một ảo tưởng  – họ đă dạy điều này cho nhiều thế hệ các linh mục và mục sư.  Nhưng những vị này vẫn giữ kín không cho đám con chiên biết v́ sợ gây ra những phản ứng xúc động dữ dội trong đám tín đồ. Do đó, những người c̣n sống trong bóng tối là những tín đồ Ki Tô b́nh thường.

   [Most important, the impact of the scientific perspective is having now that even scholars working under a conservative Catholic imprimatur agree that much of what we know of Jesus is myth… Scholars have known the truth – that Jesus was nothing more than a man with a vision – for decades; they have taught it to generations of priests and ministers, who do not pass it along to their flocks because they fear a backlash of anger.  So the only ones left in the dark are ordinary Christians.]

  

   Nếu chính Giê-su chẳng ǵ khác hơn là một người thường sống với một ảo tưởng  th́ những người theo đạo Giê-su sống với một ảo tưởng cũng không phải là chuyện lạ.  Chuyện lạ chính ở chỗ tại sao ngày nay c̣n có nhiều người sống với các ảo tưởng đó.  Đầu óc của họ thuộc loại đặc biệt, có lẽ không nằm trong quá tŕnh tiến hóa của nhân loại.

 

   Tuy rằng ngày nay chúng ta đă biết là những huyền thoại cứu chuộc và cứu rỗi của Giê-su chẳng c̣n một giá trị nào trong cộng đồng những giới hiểu biết, ở trong cũng như ở ngoài các giáo hội Ki Tô, nhưng có lẽ chúng ta cũng không nên dứt khoát bác bỏ khả năng Giê-su là một nhân vật lịch sử rất đáng để cho chúng ta kính ngưỡng như nhiều nhân vật khác trong lịch sử nhân loại.  Vậy th́, chúng ta cần t́m hiểu xem, dù chỉ là một người thường, Giê-su có những ǵ đáng để cho chúng ta kính ngưỡng và tôn vinh hay không.  Trong dân gian chúng ta cũng đă từng kính ngưỡng và tôn vinh nhiều nhân vật, thường thường là những bậc đạo cao, đức trọng hay những anh hùng dân tộc, hay những vị xuất chúng trong một bộ môn kiến thức, nghệ thuật v..v.. nào đó của nhân loại.  Vấn đề đặt ra là Chúa Giê-su có phải là một nhân vật đáng để cho chúng ta kính ngưỡng và tôn vinh không? Về nhân vật Giê-su, tất cả chúng ta biết về ông ta là ở trong Tân Ước: trong 4 Phúc Âm và trong Sách Khải Huyền.  Do đó,  để có cái nh́n trung thực về Giê-su, chúng ta không có cách ǵ khác là t́m hiểu những tư tưởng, đạo đức, trí tuệ của Giê-su mà chúng ta có thể thấy trong cuốn Tân Ước. 

 

   Tuy nhiên, hầu như chắc chắn là các tín đồ Ki Tô Giáo không mấy người đọc Thánh Kinh, và ḷng “kính Chúa mà không phải là Chúa” của họ bắt nguồn từ những lời giảng của các linh mục, mục sư trong các nhà thờ về Giê-su qua những đoạn chọn lọc một chiều rất kỹ trong Tân ước để chỉ đưa ra một khía cạnh về con người của Giê-su mà họ tôn lên làm Chúa.  V́ không đọc Thánh Kinh, và phần lớn v́ kém hiểu biết nên tuyệt đại đa số tín đồ không có khả năng để biết là những điều họ nghe giảng trong nhà thờ, hay những đoạn trích dẫn vụn vặt trong Thánh Kinh có nhất quán hay không, hay nói khác đi, có đúng với những sự thực về Giê-su như được viết rơ trong Thánh Kinh hay không.

 

   Để bổ túc kiến thức về Thánh Kinh, và nhất là về nhân vật Giê-su trong Tân Ước, bài viết này chỉ có mục đích đưa ra những đoạn trong Thánh Kinh, thuần túy ở trong Thánh Kinh, viết về Giê-su [với vài lời b́nh luận ngắn cho thêm rơ nghĩa], những đoạn mà tôi tin chắc là rất hiếm khi được giảng trong các nhà thờ.  Phần kết luận và câu trả lời cho câu hỏi trên xin để phần độc giả.

 

1.  Mục Đích “Giáng Trần” Của Giê-su.

 

   Trước hết, chúng ta hăy bỏ qua chuyện ông ta xuống thế gian bằng cách nào, qua đường thụ thai sinh nở b́nh thường của một người mẹ, hay qua đường bất thường của một con Ma Thánh (Holy Ghost) trong nền thần học Ki Tô Giáo.  Chúng ta hăy đọc vài lời do chính Giê-su nói ra về mục đích của ông ta xuống thế gian.  

 

a)  Trong Matthew 10: 34-36, Giê-su khẳng định:

 

   Đừng tưởng rằng Ta xuống trần để mang lại ḥa b́nh trên trái đất.  Ta không xuống đây để mang lại ḥa b́nh mà là gươm giáo.  V́ Ta xuống đây để làm cho con chống lại cha, con gái chống lại mẹ, con dâu chống lại mẹ chồng, và kẻ thù của con người ở ngay trong nhà hắn.

 

 b)  Và Luke 12: 51-53 cũng xác định lại khẳng định của Giê-su như sau:

 

   Đừng tưởng Ta đến để đem ḥa b́nh cho thế giới.  Không, Ta đến để chia loài người làm hai.  Từ đây, một nhà có năm người sẽ chia rẽ chống đối nhau: hai chống ba, và ba chống hai.  Mâu thuẫn sẽ diễn ra giữa con trai với cha, con gái với mẹ, con dâu với mẹ chồng.

 

   Trong những lời của Giê-su trong Thánh Kinh th́ chỉ có những điều trên là được ứng nghiệm, v́ đi đến đâu, đạo Giê-su cũng đưa đến những cảnh chia rẽ, đối nghịch nhau, trong quốc gia, trong cộng đồng , và trong gia đ́nh.  Bất hạnh thay, Việt Nam cũng nằm trong các quốc gia này.

 

   Thật vậy, Linh mục Lương Kim Định đă đưa ra nhận xét sau đây trong cuốn Cẩm Nang Triết Việt:

 

    “Sự truyền đạo Thiên Chúa vào Việt Nam đă đưa đến sự chia khối dân tộc đang thống nhất thành hai phe Lương, Giáo làm cho sự liên lạc giữa đôi bên trở nên nhức nhối đầy e dè nghi kỵ.  Đấy là một tai nạn lịch sử mà thời gian tuy có làm giảm đi nhưng xem ra không sao  xóa sạch được.”

 

   Và Nicole-Dominique Lê cũng viết trong cuốn Những Hội Truyền Giáo Hải Ngoại Và Sự Xâm Nhập Vào Việt Nam (Les Missions Étrangères et la Pénétration Francaise au Vietnam) như sau:

 

   “Các thừa sai đă phạm tội thúc đẩy giáo dân bất tuân luật lệ quốc gia.  Từ bỏ những thờ phượng tôn giáo, những giá trị xă hội đă khiến cho họ sống ở ngoài lề của xă hội truyền thống.  Nhưng nghiêm trọng hơn là, người ta trách cứ các giáo sĩ và giáo dân đă tạo nên sự phân chia quốc gia thành 2 khối tôn giáo đối nghịch nhau.”

   (Les missionaires étaient coupables de pousser les Chrétiens à rejeter les lois de leur pays.  Rejet des cultes religieux, des valeurs sociales qui les faisaient vivre en marge de la socíeté traditionnelle.  Mais chose plus grave, on reprochait au prêtres et aux chrétiens la scission du pays en deux clans religieux opposés)

 

   Như vậy, chúng ta thấy rằng, mục đích “giáng trần” của Giê-su, qua chính lời phán của Giê-su, đă ứng nghiệm trên khắp thế giới, ở bất cứ nơi nào mà đạo Giê-su lan đến, đặc biệt là ở Việt Nam.  Vậy Giê-su có đáng để chúng ta ngưỡng mộ không?  Câu trả lời nằm trong câu hỏi.

 

   Nhưng mục đích giáng trần của Giê-su không chỉ có vậy.  Ông ta khẳng định trong Matthew 5: 17-18: 

 

   Các ngươi đừng tưởng ta đến để phá luật [của Cha ta] hoặc các lời tiên tri [trong Cựu Ước]; ta đến không phải để phá, mà để hoàn thành.  V́ ta nói thật cùng các ngươi, cho đến khi trời đất không c̣n nữa, một chấm một nét cũng không được ra ngoài luật cho đến khi tất cả đều hoàn thành.

   [Do not think that I came to destroy the Law or the Prophets.  I did not come to destroy but to fulfill.  For assuredly, I say to you, till heaven and earth pass away, one jot or one little will by no means pass from the law till all is fulfilled.]

 

   Fulfill là “thực hiện” hay “hoàn thành” và cuốn Thánh Kinh bằng tiếng Việt cũng dịch như vậy.  Thế mà có người Công giáo c̣n lắt léo dịch nó là “kiện toàn”, nghĩa là thay đổi cho tốt đẹp hơn các luật của Cha Giê-su,  để vớt vát mặt mũi của Giê-su.  Nhưng đây chỉ là một trong vô số “lư luận” biện giải lắt léo của Công giáo mà chúng ta thường thấy họ dùng để bảo vệ đức tin của họ.  Nhưng họ chỉ có thể bịp được đám tín đồ thấp kém ở dưới v́ “hoàn thành” đi đôi với “không phải để phá”, c̣n “kiện toàn” có nghĩa là phá đi làm lại cho tốt đẹp hơn.

 

   Câu trên, Matthew 5: 17-18, có nghĩa là Giê-su tôn trọng và muốn hoàn thành những luật của cha ông ta trong Cựu Ước.  Những luật của Cha Giê-su trong Cựu Ước là những luật như thế nào?  Có bao nhiêu tín đồ Ki Tô Giáo biết rằng trong Cựu Ước, Cha của Giê-su ta đă nhiều lần ra lệnh hay đích thân giết người tập thể (mass killing) vô số người vô tội: đàn ông, đàn bà, trẻ con, [con số lên đến hàng nhiều triệu] và hủy diệt nhà cửa, thị trấn, và các tôn giáo khác. Xin đọc thêm: http://www.sachhiem.net/TCNtg/TCN64.php

 

   Luật đầu tiên của Cha Giê-su trong 10 điều răn trong Cựu Ước, là “Ngươi không được thờ thần nào khác ngoài ta”. Và để củng cố cái luật này, Cha của Giê-su c̣n ra lệnh trong Phục truyền 13: 6-10Nếu anh em ngươi, con trai hay con gái ngươi, vợ ngươi hay bạn ngươi, khuyến dụ ngươi đi thờ các thần khác, thần của các nước lân bang hay xa xôi.., th́ ngươi phải giết nó đi, trước hết là đích thân tay ngươi phải ném đá để cho nó chết,  rồi sau mới đến tay của dân chúng.  

   [Nếu luật này cũng được áp dụng đối với các tôn giáo khác th́ mọi nhà truyền giáo Ki Tô, từ Alexandre de Rhodes cho tới Puginier v..v…, và các nhà truyền đạo Tin Lành trên thế giới đều phải bị ném đá cho chết đi hay là cho lên ghế điện thời nay.  Nhưng mừng cho các nhà truyền giáo Ki Tô, chẳng có đạo nào ở Á Đông lại ác ôn như đạo Thiên Chúa.  V́ thế nên đạo Thiên Chúa mới có thể xâm nhập vô sự vào các quốc gia khác, và các thừa sai mới có thể huyễn hoặc đầu óc người dân ngu bằng những chuyện hoang đường phi lư.  Điều này chứng tỏ các tôn giáo ở Á Đông vượt xa Thiên Chúa Giáo về đạo đức tôn giáo.]

 

    Sau đây là vài luật ác ôn khác của cha Giê-su đối với các tôn giáo khác như sau:

 

Phục Truyền 12: 2-3:  Phàm nơi nào những dân tộc, mà các người sẽ tước quyền, đă thờ các thần của chúng nó, hoặc trên núi cao, hoặc trên đồi, hoặc dưới bóng cây xanh, th́ các ngươi phải phải hủy sạch đi.  Và các ngươi phải phá hủy bàn thờ của chúng, triệt hạ những cây trụ thiêng liêng của chúng, và thiêu những pho tượng gỗ của chúng; các ngươi phải chặt những h́nh tượng đă được khắc lên của các thần và xóa bỏ tên các thần ở nơi đó.

   (You shall utterly destroy all the places where the nations which you shall dispossess served their gods, on the high mountains and on the hills and under every green tree.

   And you shall destroy their altars, break their sacred pillars, and burn their wooden images with fire; you shall cut down the carved images of their gods and destroy their names from that place)

 

I Samuel 15:3:  Bây giờ hăy tấn công Amalek, và hủy sạch tất cả mọi thứ mà chúng có, và giết sạch đừng chừa một ai.  Hăy giết cả đàn ông, đàn bà, trẻ nít và trẻ sơ sinh, trâu cừu, lạc đà và lừa.

   (Now go and attack Amalek, and utterly destroy all that they have, and do not spare them.  But kill both man and woman, infant and nursing child, ox and sheep, camel and donkey.)

 

   Và trong lịch sử Việt Nam, chúng ta thấy các tín đồ Công Giáo cũng đă phần nào theo những luật ác ôn này.  Thật vậy, trong cuốn The Vietnam Response to French Intervention, 1862-1874 của  Mark W. McLeod, chúng ta có thể đọc được những đoạn sau đây:

 

   Trang 45: khi nghe tin thành Saigon thất thủ, những tín đồ Công giáo Việt Nam ở miền Nam đă lợi dụng t́nh thế để khủng bố người "lương" hay "tốt" (nghĩa là, người phi- Công giáo) và đi làm "tay sai và mật thám cho Tây Dương "

   Trang 114:  Sự phân tích những hành động này cho thấy, trong những cuộc tấn công vào những cứ điểm của chính quyền Việt Nam, quân đội Pháp đă nhận được một mức độ hỗ trợ rất đáng kể từ những thừa sai và những tín đồ Công giáo Việt Nam.  Hơn nữa, những phương pháp mà các sĩ quan Pháp và những cộng tác viên Công giáo dùng tuyệt đối không thể coi là có đạo đức cao theo những tiêu chuẩn đương thời của ngay chính họ, v́ những phái bộ truyền giáo Công giáo đă dùng sức lao động (của tín đồ Công giáo bản xứ; TCN), tài nguyên, và tin tức t́nh báo, đổi lấy hậu thuẫn của Pháp để thực hiện sự tàn sát liên miên người "lương", mạo phạm những công tŕnh xây dựng của Phật Giáo, thiêu hủy những làng mạc phi- Công giáo, và cướp bóc những thành phố của nhà Vua.  Sự cộng tác với chủ nghĩa đế quốc Pháp của những tín đồ Gia Tô thường không được các sử gia nhận biết đầy đủ, nhưng đó chính là một yếu tố đáng kể góp phần thắng lợi cho Pháp ở Bắc Kỳ."

 

   Cũng v́ vậy mà Ông Lư Chánh Trung, một nhà trí thức Công giáo, trong cuốn Tôn Giáo và Dân Tộc đă nhận định rằng:

 

   "Tuy nhiên lịch sử đă cho thấy rằng từ khi Giáo hội (Công giáo Rô-ma) đă trở thành quốc giáo th́ cây gươm tinh thần của Thánh Phao-Lồ đă luôn luôn bị cám dỗ để biến thành cây gươm thép thực sự.  Kể từ dạo ấy, mỗi khi hoàn cảnh cho phép, giáo hội đă không ngần ngại để dùng thế lực tiêu diệt các tôn giáo khác, đập phá các đền thờ "Tà Thần", đốt sách vở ngoại đạo, và đốt luôn bọn người bị xem là "lạc đạo" nếu không chịu sửa sai.”Rô-ma) đă trở thành quốc giáo th́ cây gươm tinh thần của Thánh Phao-Lồ đă luôn luôn bị cám dỗ để biến thành cây gươm thép thực sự.  Kể từ dạo ấy, mỗi khi hoàn cảnh cho phép, giáo hội đă không ngần ngại để dùng thế lực tiêu diệt các tôn giáo khác, đập phá các đền thờ "Tà Thần", đốt sách vở ngoại đạo, và đốt luôn bọn người bị xem là "lạc đạo" nếu không chịu sửa sai.”

 

     Đọc Cựu Ước chúng ta thấy Cha của Giê-su cũng c̣n ra  nhiều luật rất buồn cười và quái gở.  Thí dụ như trong trại lính, quân sĩ đi cầu phải chôn phân v́ “Ngài” không muốn nh́n thấy hay hít hà những đống phân đó khi đi dạo trong trại.  Ngài chưa bao giờ tưởng tượng được là con người lại tiến bộ đến độ phát minh ra cái cầu tiêu máy, giật đến x̣e một cái là xong chuyện.  Ngài cũng c̣n kỳ thị nam nữ một cách quái gở như phụ nữ sinh xong bao nhiêu ngày sau th́ sạch, sinh con trai th́ 7 ngày và phải thanh tẩy trong 33 ngày tiếp theo trước khi được bước vào nhà thờ, nhưng sinh con gái th́ là 14 ngày và phải thanh tẩy trong 66 ngày v… v….  66 ngày không được buớc vào nhà thờ th́ mấy ông cha hơi phiền, v́ cái rỏ đưa ra để hứng tiền thiếu mất một phần.  Nhưng cũng may là chẳng có ai buồn theo những luật này của Cha Giê-su mà Giê-su khẳng định không được thay đổi một chấm, một nét cho đến ngày tận thế, và muốn hoàn thành, nhưng không có cách nào có thể hoàn thành v́ nhân loại không phải là “dân Chúa” và trong thời đại tiến bộ ngày nay, nhửng luật của cha Giê-su đă không c̣n bất cứ một giá trị nào.

 

2.  Trí Tuệ Và Đạo Đức Của Giê-su.

 

   Trước hết, có lẽ chúng ta cần phải trích dẫn nhận định về Giê-su của Bertrand Russell, một thiên tài toán học và triết lư, đă được giải thưởng Nobel năm 1950:

 

   “Xét về trí tuệ hay đức hạnh tôi không thể nào cho rằng Đức Ki-Tô cũng cao cả như vài người khác được biết trong lịch sử.  Tôi nghĩ rằng, về trí tuệ hay đức hạnh, tôi phải đặt Đức Phật và Socrates lên trên Đức KiTô.”

 

   Nhận định như trên, Bertrand Russell quả đă đánh giá quá cao Giê-su khi so sánh với Socrates và Đức Phật, v́ nghiên cứu kỹ về hai thuộc tính của Giê-su: trí tuệ và đạo đức, chúng ta thấy Giê-su không có ǵ có thể so sánh với Socrates và Đức Phật.  Tại sao?  V́ trí tuệ của Giê-su không thể gọi là trí tuệ, và đạo đức của Giê-su cũng không thể gọi là đạo đức.  Chứng minh?

 

   Trước hết là về trí tuệ.  Trí tuệ phản ánh trong bộ kiến thức, trong những lời giảng dạy hay giáo lư của Giê-su.  Vậy th́, Giê-su giảng dạy những ǵ?  Nhận định sau đây của Joseph L. Daleiden, một học giả Công giáo, trong cuốn The Final Superstition, trg. 174, về cái gọi là giáo pháp của Giê-su có thể giúp chúng ta nh́n rơ vấn đề một cách tổng quát:

 

   Có rất ít, nếu có, điều sáng tác độc đáo trong giáo pháp mà người ta cho là của Giêsu.  Giống như chính huyền thoại về Giêsu, những quan điểm mà Giêsu diễn đạt chỉ là một mớ hổ lốn những ngụ ngôn và luân lư mà chúng ta có thể thấy trong những đạo cổ xưa của Ai Cập, Babylon, Ba Tư, Hi Lạp, Phật, Khổng, Ấn Độ…  Một điều rơ ràng:  Ki Tô Giáo, một tôn giáo sinh sau đẻ muộn trong lịch sử các tôn giáo, chỉ cóp nhặt những quan điểm, ư kiến của Do Thái Giáo và các tôn giáo gọi là dân gian.  Trong cuốn “Nguồn Gốc Luân Lư Trong các Phúc Âm”, Joseph McCabe (Một Linh Mục Công giáo. TCN) đă trích dẫn những quan điểm luân lư trong Phúc Âm mà người ta cho là của Giêsu song song với những quan điểm luân lư tương đương và y hệt của các tác giả Do Thái và dân gian.

   [Daleiden, Joseph L., The Final Superstition, p. 174:  There is very little, if anything, that is original in the teaching attributed to Jesus.  Like the myth of Jesus itself, the sentiments he expresses are a hodgepodge of aphorisms and moral convictions that can be found in the ancient Egyptian, Babylonian, Persian, Greek, Buddhist, Confucian, and Hindu religions…  But one thing is certain:  Christianity, a late-comer in the history of religion, merely plagiarized sentiments from Judaism and the so called pagan religions.  In his book Sources of Morality in the Gospels, Joseph McCabe quoted the moral views attributed to Jesus in the gospels and in parallel columns gave exact moral equivalents from Jewish and pagan writers.]

 

   Thật vậy, đọc Thánh Kinh và với một chút kiến thức về triết học và tôn giáo, chúng ta có thể thấy rơ là nhận định của Daleiden không phải là sai.  Và chúng ta nên nhớ, Joseph L. Daleiden chỉ nói về những điều mà người ta cho là có ư nghĩa phần nào về đạo đức và luân lư, chứ không kể đến những điều vô đạo đức và phi luân lư của Giê-su trong Tân ước như tôi sẽ chứng minh trong một phần sau.

 

   Trong cuốn sách có tên là Một Thời Để Cho Sự Ngay Thẳng Của Ki Tô Giáo [A Time For Christian Candor], Giám Mục Pike đă thảo luận về các niềm tin của tín đồ đối với Giê-su, và chứng minh rằng Giê-su chỉ là một người thường, trang 108, như sau:

 

    “Cuốn Tân Ước thật là rơ ràng.  Thật vậy, những sự kiện (trong Tân Ước. TCN) tự bao giờ vẫn luôn luôn rơ ràng cho bất cứ ai nh́n thấy chúng.  Giê-su sinh ra ở một  địa phương đặc biệt, vào một thời điểm đặc biệt.  Mẹ và các em ông ta không cho rằng ông ta có một nhiệm vụ nào khác với nhiệm vụ của một con người.”

  (The new Testament is clear enough.  Indeed, the facts have always been clear enough for any man to behold.  Jesus was born in a particuliar place at a particular time.  His mother and brothers did not understand that He had more than a human role to perform.),

 

và Giê-su có những giới hạn về hiểu biết, trang 109:

 

    “Giê-su có một đầu óc giới hạn – điều này cũng đúng cho mọi người.  Thí dụ, giống như các thầy tu Do Thái cùng thời, Giê-su cho rằng David đă viết tất cả bộ Thi Thiên cho nên ông ta đă viện dẫn thi thiên số 110 mà ông ta cho là của Vua David (thực ra là bài thơ này được viết sau thời của David), khi tranh luận với người dân Pharisees.  Và ông ta nghĩ, cũng như mọi người trong thời đó, là ngày tận thế đă sắp đến.

    [He had a limited mind – as is true of every man.  For example, like his fellow rabbis He thought that David wrote all the Psalms and hence He quotes as of Davidic authorship Psalm 110 (which in fact is of later date) in an argument with the Pharisees.  And He thought, in accord with the apocalyptic temper of his day, that the end of the world is near]. 

 

   Ngoài ra chúng ta cũng c̣n biết, Giê-su tin rằng Ngũ Kinh (trong Cựu Ước) là do Moses viết, nhưng tất cả các học giả nghiên cứu Thánh Kinh ngày nay đă chứng minh rằng Ngũ Kinh được viết trong nhiều thời kỳ khác nhau, bởi nhiều môn phái khác nhau, và sau khi Moses đă chết.

 

   Qua vài tài liệu trên, chúng ta đă thấy về nhân vật Giê-su, trí tuệ là một cái ǵ không đáng để bàn tới v́, ngoài vài điều cóp nhặt từ các truyền thống Do Thái và dân gian,  tất cả cái gọi là giáo pháp của Giê-su, đă được một số học giả nghiên cứu, nhận định rơ ràng.  Sau đây là hai thí dụ điển h́nh:

 

   a) “Tất cả những điều Giê-su nói, giáo lư, bài giảng đều đưa tới một đơn từ: “Ta””

(William Hirsch:  All his sayings, his teachings, his sermons culminated in a single word: “I”)

 

   Vậy th́ chúng ta hăy thử xem những khẳng định về "cái Ta" của Giê-su là như thế nào.  Chúng ta cũng nên biết là chính những khẳng định này đă được giáo hội khai thác, cho đó là những chân lư để cấy vào đầu tín đồ từ khi c̣n nhỏ, tạo nên một đức tin không cần biết không cần hiểu.    Sau đây chỉ là vài trích dẫn những lời của Giê-su trong Thánh Kinh với vài lời phân tích của tôi dựa trên lô-gic.

 

John 6:35: Ta là thức ăn của đời sống. (I am the bread of life)

John 8:12, 9:5: Ta là ánh sáng của thế gian (I am the light of the world)

John 10: 11, 14: Ta là người chăn chiên chí thiện  (I am the good shepherd)

John 11:25: Ta là Sự Sống Lại và là Sự Sống (I am the resurrection and the life)

John 14:6:  Ta là Con Đường, là Sự Thật và là Sự Sống (I am the way, the truth, and the life)

John 10:30: Ta với Cha Ta là một. (I and My Father are one).

John 10:36: Ta là Con Thiên Chúa (I am the Son of God).

John 12:49:  Ta không nói theo ư Ta; Chính người Cha sai Ta xuống đây đă cho lệnh Ta phải nói những ǵ và nói như thế nào. (I have not spoken on my own authority; the Father who sent me has himself given me commandment what to say and what to speak)

 

   Những lời tự nhận trên, và nhiều lời tự nhận khác về cái "Ta" của Giê-su trong Tân Ước, rơ ràng là bắt nguồn từ một căn bệnh hoang tưởng như chúng ta sẽ thấy trong phần phân tích sau đây.  Đó không phải là những lời dạy có tính cách giáo dục đạo lư.  Trong lịch sử nhân loại, chúng ta không hề thấy bất cứ một nhân vật nổi danh nào như Đức Phật, Đức Khổng Tử, Lăo Tử, Socrates v..v.. tự quảng cáo cho "cái Ta" của ḿnh nhiều, huênh hoang, và hoang đường như Giê-su.  Huênh hoang, hoang đường v́ không phải là sự thật, v́ mâu thuẫn, và v́ chúng trái ngược với con người thực của Giê-su như được mô tả trong Thánh Kinh.   Nó cũng huênh hoang và hoang đường như các ông giáo hoàng tự nhận là “đại diện của Chúa” trên trần, hay như các ông linh mục tự nhận là “Chúa thứ hai” trong khi “Chúa” hay “Chúa thứ nhất” chỉ có trong nền thần học của Ki Tô Giáo chứ không phải là một thực thể như chúng ta đă biết ngày nay, qua vô vàn những công cuộc nghiên cứu về chính nhân vật Giê-su của các học giả ở trong cũng như ở ngoài các giáo hội Ki Tô Giáo..

 

    Những "cái Ta" của Giê-su đă đặt trước chúng ta khá nhiều vấn đề, và bắt buộc chúng ta phải có một sự chọn lựa dứt khoát, không thể nhập nhằng.

   Thật vậy, Ta là Con Thiên Chúa khẳng định vai vế của Giê-su đối với Thiên Chúa, và lẽ dĩ nhiên hoàn toàn mâu thuẫn với Ta với Cha Ta là một.  Dù chúng ta có nhắm mắt tin bừa thuyết điên rồ toán học (mathematical insanity)  Chúa Ba Ngôi của giáo hội Công giáo đưa ra nhiều thế kỷ sau khi Giê-su đă qua đời đi chăng nữa th́ các câu trên cũng c̣n đưa tới vài vấn đề khác.  Thí dụ:

   Chúng ta hăy xét đến câu John 12: 49 ở trên: Ta không nói theo ư Ta; Chính người Cha sai Ta xuống đây đă cho lệnh Ta phải nói những ǵ và nói như thế nào.

   Thứ nhất, câu trên chứng tỏ Giê-su chỉ tự nhận, v́ không có bất cứ bằng chứng nào chứng tỏ đó là sự thật, là một sứ giả của Thiên Chúa, được sai xuống trần để nói cho dân Do Thái, tuyệt đối không phải cho dân Việt,  những ǵ mà Thiên Chúa muốn nói.  Điều này hoàn toàn mâu thuẫn với lời tự nhận khác của Giê-su: John 10:30: Ta với Cha Ta là một.

   Thứ nh́, nếu chúng ta chấp nhận câu John 12: 49 ở trên như là sự thực, th́ những lời Giê-su nói đều là những lời của Thiên Chúa.  Mà Thiên Chúa th́ không thể sai lầm, v́ Thiên Chúa, theo niềm tin của các tín đồ Ki-Tô, là bậc toàn năng, nghĩa là làm ǵ cũng được, và toàn trí, nghĩa là cái ǵ cũng biết, kể cả quá khứ vị lai, hai thuộc tính của Thiên Chúa có tính cách loại trừ hỗ tương (mutual exclusive), nghĩa là có cái này th́ không thể có cái kia, mà giáo hội đă thành công cấy vào đầu óc tín đồ từ khi c̣n nhỏ, khi họ chưa phát triển về trí tuệ cũng như về thân xác.  Điều  này khiến chúng  ta bắt buộc phải chọn một trong hai điều sau đây chứ không thể chọn cùng lúc cả hai. 

 

-   Nếu những lời Giê-su nói không hề sai lầm, đúng trong mọi thời đại, th́ vai tṛ Thiên Chúa của Giê-su có thể tạm chấp nhận được. 

 -  Nếu trong những lời nói và hành động của Giê-su có những sai lầm th́ Giê-su không thể nào là Thiên Chúa. 

  

   Nhưng Thánh Kinh lại chứng tỏ rằng Giê-su có rất nhiều sai lầm.  Vậy thực ra những lời nói của Giê-su cũng chỉ là những lời nói của một người thường, với sự hiểu biết giới hạn của một người thường, ở tŕnh độ của một người dân thường trong vùng dân Do Thái cách đây 2000 năm, như Giám mục Pike đă nhận định ở trên..  Và như vậy, Giê-su đă phạm tội nói láo và lừa dối, v́ ông ta khẳng định rằng những lời nói của ông là của Thiên Chúa không thể sai lầm.  Kết luận: Giê-su chỉ có thể đóng một trong hai vai tṛ: Thiên Chúa hay một người thường phạm tội nói láo và lừa dối chứ không thể cùng lúc cả hai.  Vậy vai tṛ nào là vai tṛ đích thực của Giê-su? 

 

   Điều này không khó, chúng ta chỉ cần mở Thánh Kinh ra đọc th́ sẽ thấy ngay.  Bác sĩ  Nguyễn Văn Thọ cũng như học giả Rubem Alves, dựa trên Thánh Kinh, đều viết rằng Giê-su tin và khẳng định rằng Moses (Môise) là tác giả của Ngũ Kinh trong khi thực sự th́ Moses không viết.  Huyền thoại về Moses được viết ra khoảng 3, 4 trăm năm sau khi Moses đă chết, trong 2 phẩm Xuất Ê-Díp-Tô (Exodus) và Dân Số (Numbers). Đây là kết quả nghiên cứu của những chuyên gia nghiên cứu Thánh Kinh mà chính giáo hội Công giáo cũng phải chấp nhận. Bằng chứng?  Tên các vị Vua xứ Edom viết trong Sáng Thế 36 là những vị Vua sống trong những thời kỳ sau khi Moses đă chết từ lâu.  Trong Phục Truyền 34 có kể cả chuyện Moses chết ra làm sao, chẳng lẽ Moses lại tả chuyện chính ḿnh chết?  Cho nên Moses không thể là tác giả của Ngũ Kinh.  Vậy, nếu Giê-su đă sai lầm về một sự kiện lịch sử nhỏ nhặt như trên, không biết đến cả tác giả Ngũ Kinh là ai mà lại cho đó là Moses, th́ làm sao chúng ta có thể tin được những lời nói về những chuyện trên trời, và nhất là những lời tự tôn của Giê-su, cho ḿnh chính là  Thiên Chúa toàn năng, toàn trí, và những lời đó chính là của Thiên Chúa?  Kết luận, những câu khẳng định về cái "Ta" của Giê-su chẳng qua cũng chỉ là những điều hoang tưởng bệnh hoạn, không khác ǵ những hoang tưởng của David Koresh, James Jones và vô số người khác trong thời đại này.

 

   Thứ ba, nếu Giê-su tự cho ḿnh chính là Thiên Chúa, Thiên Chúa ở đây phải hiểu là Thiên Chúa trong Cựu Ước, th́ Giê-su lại bị kẹt trong vấn đề đạo đức, v́ ông ta đă tự nhận là xuống trần để hoàn thành những luật ác ôn của Thiên Chúa mà một chấm một nét cũng không thể thay đổi như chúng ta đă biết trong một phần trên.

 

   Qua sự phân tích các vấn đề ở trên, chúng ta thấy rằng không có cách nào chúng ta có thể coi Giê-su là Thiên Chúa và những lời tự nhận về “cái Ta” của ông ta hoàn toàn vô giá trị.  Ông ta tuyệt đối không phải là “ánh sáng của thế gian”, là “sự thật”, là “con đường”, là “sự sống” như những người Ki Tô Giáo không có đầu óc thường tin. 

 

Bây giờ chúng ta hăy sang một nhận định khác về những điều rao giảng của Giê-su.

 

   b) Tất cả những điều rao giảng của Giê-su có thể nhận ra rơ ràng.  Chúng nằm trong hai câu có ư nghĩa y hệt nhau: “Hăy thống hối, và tin vào Phúc Âm” hoặc, ở một nơi khác “Hăy thống hối, v́ Nước Thiên Đàng sắp tới”

   (Hermann Samuel Reimarus: What belongs to the preaching of Jesus is clearly recognized.  It is contained in two phrases of identical meaning, “Repent, and believe the Gospel,” or, as it is put elsewhere, “Repent, for the Kingdom of Heaven is at hand”).

 

   Đọc Tân Ước, chúng ta thấy rơ là Giê-su tin rằng ḿnh sẽ trở lại trần gian trong một tương lai rất gần, ngay trong thời đại của Giê-su, để thiết lập “nước trời” trên thế gian, dưới quyền cai trị của Cha ông ta, phù hợp với điều mong ước của dân Do Thái về một “nước thiên đường” tràn đầy sữ mật.  Thí dụ những đoạn sau đây đều được trích từ Thánh Kinh: Cựu Ước Và Tân Ước, Hội Quốc Tế xuất bản, 1994; và Holy Bible: The New King James Version, American Bible Society, New York, 1982:

 

 Matthew 16: 27-28:  “Ta (Con của Người: Giê-su) sẽ trở lại với các thiên sứ trong vinh quang của Cha ta để thưởng phạt mỗi người tùy theo việc họ làm.  Ta cho các con biết: một vài người đang đứng đây sẽ c̣n sống cho đến khi nh́n thấy ta vào trong Nước ta”. (For the Son of Man will come in the glory of His Father with His angels, and then He will reward each according to his works. Assuredly, I say to you, there are some standing here who shall not taste death till they see the Son of Man coming in his kingdom.)

Matthew 24:34: “Ta quả quyết, thời đại này chưa chấm dứt, các biến cố ấy đă xảy ra rồi” (Assuredly, I say to you, this generation will by no means pass away till all these things are fulfilled)

Mark 9: 1: Chúa bảo các môn đệ: “Ta cho các con biết, một vài người đang đứng đây sẽ c̣n sống cho đến khi nh́n thấy nước trời thiết lập với uy quyền vĩ đại”  (And He said to them, “Assuredly, I say to you that there are some standing here who will not taste death till they see the kingdom of God present with power.”)

 Mark 13:30:  “Ta quả quyết, thế hệ này chưa qua đi th́ các biến cố đó (các biến cố xung quanh ngày tận thế và sự trở lại của Giê-su. TCN) đă xảy ra rồi”. (Assuredly, I say to you, this generation will by no means pass away till all these things take place.)

Luke 21: 27, 32: “Bấy giờ nhân loại sẽ thấy ta giáng xuống trong mây trời với vinh quang và uy quyền tuyệt đối.. Ta quả quyết: thế hệ này chưa qua, các biến cố ấy đă xảy ra rồi”. (Then they will see  the Son of Man coming in a cloud with power and great glory.. Assuredly, I say to you, this generation will by no means pass away till all these things are fulfilled.)

John 14: 3: “Ta đi chuẩn bị chỗ ở cho các con.  Khi chuẩn bị xong, ta sẽ trở lại đón các con về với ta để các con ở cùng ta măi măi.” (And if I go and prepare a place for you, I will come again and receive you to myself; that where I am, there you may be also).

 

   Không những Giê-su tin như vậy, mà c̣n truyền cho các Tông Đồ đi rao giảng về một “Nước trời” sắp đến, và chỉ giảng cho người Do Thái mà thôi, như được viết rơ trong Tân Ước, Matthew 10: 5-7

 

    Chúa sai 12 tông đồ lên đường và ra lệnh cho họ: “Đừng đi đến các dân ngoại Gen-ti-le hoặc vào thành  phố của người Sa-ma-ri, mà chỉ đi tới các con chiên thất lạc của nhà Israel, và trong khi đi hăy rao giảng cho họ biết Nước Trời đă đến gần.”

   [These 12 Jesus sent out and commanded them, saying: “Do not go into the way of the Gentiles, and do not enter a city of the Samaritans.  But go rather to the lost sheep of the house of Israel.  And as you go, preach, saying, “The kingdom of heaven is at hand.”]

 

   Đọc đoạn trên chúng ta khám phá ra vài điều rất lư thú.  Thứ nhất là không làm ǵ có chuyện “Giáo hội Công giáo là do Chúa Giê-su thành lập rồi trao lại cho Phê-rô”.  Tại sao?  V́ những câu trích dẫn từ Tân Ước ở trên đă rất rơ ràng:  Giê-su tin rằng ngày tận thế đă sắp đến, ngay trong thời mà vài tông đồ của ông ta c̣n sống, vậy thành lập Giáo hội để làm ǵ.  Hơn nữa ông ta sai 12 tông đồ chỉ đi truyền đạo trong dân Do Thái mà thôi và về một Nước Thiên Đàng sắp đến.  Vậy thành lập một Giáo hội kéo dài tới 2000 năm sau chỉ là chuyện bịp của Giáo hội Công giáo mà thôi.  Cho nên, dựa theo một câu nói của Bertrand Russell:  Dù cả tỷ người tin vào một chuyện bịp th́ chuyện đó vẫn chỉ là chuyện bịp.

 

    Thứ nh́, đó là sự truyền đạo của Ki Tô Giáo cho các dân không phải là Do Thái, thí dụ như dân Việt Nam, chỉ là mánh mưu thế tục của Ki Tô Giáo để tạo quyền lực vật chất cũng như tinh thần cho giới giáo sĩ trên những đám dân đầu óc yếu kém, không đủ khả năng để nhận ra rằng ḿnh đă bị lừa bịp.  Những tín đồ Ki Tô Giáo mà không phải là dân Do Thái thường mơ tưởng đến một  “nước Cha trị đến” mà không hề biết rằng cái “nước Cha” đó chỉ để cho người Do Thái chứ không phải để cho người ngoại.  Điều rơ ràng là Giê-su chỉ quan tâm đến người Do Thái và tin rằng “nước Cha trị đến” của dân Do Thái đă gần tới, ngay trong thời của ông ta.  Cho nên các dân ngoại không phải là Do Thái về sau đều bị lừa bịp bởi một cái bánh vẽ trên trời (Theo từ của Mục sư Ernie Bringas: A-Pie-in-the-sky).  Thật là tội nghiệp cho những người t́nh nguyện để bị bịp.

 

  Bây giờ chúng ta hăy sang đến vấn đề đạo đức của Giê-su.  Chúng ta hăy bỏ qua những chuyện như Giê-su hỗn hào với cha mẹ, gọi Phê-rô là Satan, gọi một người đàn bà không thuộc dân Do Thái là chó, và nguyền rủa những người không tin Giê-su là đồ rắn rết v..v.. và dọa sẽ đầy đọa họ xuống hỏa ngục để cho ngọn lửa vĩnh hằng của ông ta thiêu đốt.  Trong Tân Ước c̣n có vài chuyện chứng tỏ hơn ǵ hết cái gọi là đạo đức của Giê-su. 

 

1.      Chuyện Giê-su đuổi quỷ,  Matthew 8: 28 – 34:

 

   Có hai người bị quỷ ám gặp Chúa Giê-su và quỷ trong hai người đó van nài Chúa Giê-su đuổi chúng ra và cho nhập vào một bày heo.  Chúa phán “đi ra”, chúng liền nhập vào bầy heo và cả bầy heo (độ 2000 con, theo Mark 5: 13) rông tuốt xuống biển chết ch́m hết.  Trẻ con chăn heo chạy về làng kể chuyện lại cho dân làng nghe, cả làng kéo ra khỏi làng gặp Chúa Giê-su và… xin Ngài (có nghĩa là đuổi)  hăy đi ra khỏi vùng đất của họ.

 

   Chúng ta hăy tự hỏi, 2000 con heo có tội t́nh ǵ mà Chúa Giê-su “ḷng lành vô cùng” của các tín đồ Ki Tô Giáo lại phù phép làm cho 2 con quỷ nhập vào cả đàn, rồi bắt chúng nhào xuống sông chết ch́m hết?  Như vậy có phải là Giê-su là người không có ḷng nhân, vô cớ tự nhiên đang tâm giết cả một đàn heo vô tội một cách tàn nhẫn.  Mà đàn heo cũng lại là những sản phẩm của chính Chúa Cha “sáng tạo” ra, v́ theo niềm tin Ki Tô th́ mọi thứ trên đời này đều là do Chúa Cha tạo ra cả.   Bởi vậy dân làng mới coi Giê-su như là một tên phù thủy, một kẻ đáng chê trách, đă vô cớ hủy đi một nguồn lợi của dân làng, làm cho họ tự nhiên mất đi cả một đàn heo tới 2000 con, cho nên họ kéo ra ngoài làng, chặn đuổi Giê-su đi nơi khác, không  dám  để cho Giê-su vào làng. 

 

2.      Chuyện Giê-su nguyền rủa cây sung.  Matthiew 21, 18-21:

 

   “Thế rồi, khi Giêsu và các môn đồ tới Jerusalem, và tới làng Bethphage ở gần núi Olives, Giêsu sai hai môn đồ đi trước vào làng…..

  …Giêsu đi thẳng vào đền thờ, đuổi hết những người mua bán ra ngoài, lật đổ bàn của những kẻ đổi tiền, và ghế của những kẻ bán chim bồ câu….

      Rồi Giêsu bỏ họ, ra khỏi Jerusalem, về trọ tại làng Bethphage đêm ấy.”

   Sáng sớm, khi trở vào thành, Ngài cảm thấy đói. Trông thấy cây vả bên đường.  Người lại gần nhưng không t́m được ǵ cả, chỉ thấy lá thôi.  Nên Người nói: “Từ nay, không bao giờ mày có trái nữa!”  Cây vả chết khô ngay lập tức.  Thấy vậy, các môn đệ ngạc nhiên nói: “Sao cây vả lại chết ngay lập tức như thế?”  Đức Giêsu trả lời: “Thầy bảo thật anh em. nếu anh em tin và không chút nghi nan, th́ chẳng những anh em làm được điều thầy làm cho cây vả, mà hơn nữa, anh em có thể bảo núi này: Dời chỗ đi, nhào xuống biển! th́ sự việc sẽ xảy ra như thế.”

  

   Chúng ta thấy ngay rằng, thật ra, chỉ những người đă bị nhồi sọ một chiều từ khi c̣n nhỏ, hoặc có đầu mà không có óc, mới có thể cho câu chuyện cây sung ở trên là “một lối giảng dạy bằng dụ ngôn”.  Một dụ ngôn thường là một câu chuyện về những nhân vật không dính dáng ǵ tới người đang kể chuyện hay những người đang nghe, và có tính cách giáo dục, luân lư.  Ở đây, Matthew kể chuyện về một nhân vật Giê-su có thật, mới chết trước khi Matthew viết Phúc Âm Matthew khoảng 3, 40 năm, và câu chuyện có đầu có đuôi hẳn hoi.  Vậy dụ ngôn của Chúa trong chuyện nguyền rủa cây sung dạy về cái ǵ?  Luân lư, đạo đức, cách xử thế đối với chúng sinh?  Tất cả đều không phải.  Câu chuyện về cây sung chẳng phải là một “dụ ngôn” mà đă nói rơ một điều: ai có ḷng tin vào Thiên Chúa th́ có thể làm được như Giêsu, nghĩa là có thể nguyền rủa cho một cái cây chết héo queo ngay lập tức, ngoài ra c̣n có khả năng bảo núi chuyển là núi tự động ḅ xuống biển?  Hay nói cách khác, ai tin vào Giê-su th́ có thể làm được bất cứ cái ǵ mà ḿnh muốn.  Bởi v́ câu cuối trong câu chuyện này, Matthiew 21: 22, Giê-su phán rằng: “Trong khi cầu nguyện, các ngươi lấy đức tin xin bất kỳ việc ǵ, thảy đều được cả.”

 

    Chỉ có điều, trong 2000 năm nay, người tin Giêsu th́ rất nhiều, trong đó có các giáo hoàng tự xưng là đại diện của Giê-su trên trần (Vicars of Christ), và tất nhiên có cả triệu giáo dân khác,  nhưng nhân loại chưa thấy ai làm được những chuyện này.  Vậy phải chăng những lời của Giê-su trong chuyện về cây sung chẳng qua chỉ là những lời hứa hẹn hoang đường, vô trách nhiệm, và chỉ có những người không đội trời chung với lư trí, với suy luận v..v.. mới có thể tin vào những lời hứa hăo của Giê-su.  Hoặc là chẳng có ai có đức tin như Giê-su muốn cả v́ những lời cầu nguyện của tín đồ chẳng bao giờ thành sự thực.  Nếu thành sự thực th́ thế giới ngày nay không có đạo nào khác ngoài Công giáo La mă.  Nếu thành sự thực th́ khi xưa Đức mẹ đă không phải bồng con chạy trước vào Nam.  Nếu thành sự thực th́ Ṭa Khâm Sứ và Thái Hà nay đă là đất thuộc quyền sở hữu của Vatican chứ không phải của quốc gia Việt Nam.

 

     Về chuyện Chúa nguyền rủa cây sung ở trên, các chuyên gia phân tích Thánh Kinh kết luận rằng: hành động của Giê-su trong câu chuyện về cây sung (hay cây vả) chứng tỏ Giê-su đă vấp phải 4 sai lầm về kiến thức cũng như về đạo đức cùng một lúc:

 

-         Không biết là trong mùa đó cây sung không thể có trái, nghĩa là thiếu kiến thức về mùa màng, cây cỏ.

-         Hủy diệt vô lư vĩnh viễn một cây ra trái ăn được.

-         Dễ nổi nóng, nổi quạu khi bị phật ư.

-         Lừa dối các môn đồ bằng những lời hứa hẹn hoang đường: chỉ cần có ḷng tin là có thể

thay đổi t́nh trạng vật chất thiên nhiên bằng lời nguyền rủa hay ra lệnh.

 

   Nhưng vấn đề chính trong chuyện cây sung là, một chi tiết trong đó đă đương nhiên bác bỏ khả năng làm phép lạ của Giê-su như đi trên sóng, biến 1 ổ bánh ḿ thành 100 ổ bánh ḿ, biến nước thành rượu v..v..  Ngài là Thiên Chúa mà sáng ra Ngài lại đói như người thường.  Tại sao Ngài lại không biến cục đá ngoài đường thành bánh ḿ để Ngài ăn cho đỡ đói mà lại hi vọng vào vài quả sung lúc trái mùa?  Để rồi Ngài phải nổi quạu và nguyền rủa cây sung một cách phi lư?  Ấy thế mà các tín đồ có đầu nhưng không có óc vẫn tin rằng Ngài quả là Thiên Chúa “ḷng lành vô cùng” và có khả năng làm nhiều phép lạ.

 

      Như chúng ta đă thấy, nhiều bằng chứng ngay trong Tân Ước chứng tỏ Giê-su có đầy dẫy những sai lầm và có một kiến thức rất giới hạn, tính t́nh dễ nổi nóng một cách bất thường v..v.. Vậy chúng ta có thể chấp nhận những lời tự tôn của Giê-su như  “Ta là con đường, là sự thật, là sự sống” hay “Ta là ánh sáng của thế gian” v..v.. được hay không?  Ánh sáng ǵ của thế gian?  Ánh sáng soi sáng trí tuệ và đạo đức con người?  Tuyệt đối không phải.  Đó là ánh sáng, thật ra là sự tối tăm, của một đức tin mù quáng, không cần biết, không cần hiểu.  Lịch sử thế gian cho thấy, v́ tin vào “ánh sáng thế gian” của Giê-su, Công giáo La Mă đă ch́m đắm trong bóng tối dày đặc của 2000 năm đầy tội ác và vẫn c̣n đang tiếp tục mưu toan lùa nhân loại vào cảnh tối tăm nô lệ cho một định chế thế tục độc tài tham lam vô độ mang danh nghĩa tôn giáo.

 

   Thánh Kinh có đầy những chuyện chứng tỏ nhân cách và đạo đức thấp kém của Giê-su như trên, nhưng trên khắp thế giới, các tín đồ vẫn được dạy là “Chúa toàn hảo”,  “T́nh Yêu của Chúa” bao trùm thế gian v..v.. nên phải “Kính Chúa” và hăy hănh diện là “đầy tớ hầu hạ Chúa”, “thờ phụng Chúa”.  Nhưng Giám Mục John Shelby Spong th́ lại nghĩ khác, v́ sự lương thiện trí thức không cho phép ông ta tin nhảm nhí.  Do đó, về chuyện đuổi qủy và nguyền rủa cây sung ở trên, ông đă viết:

 

   Chúng ta có thấy hấp dẫn đối với một Chúa phải giết cả một bày heo để đuổi một con quỷ ra khỏi thân người hay không?  Chúng ta có nên khâm phục và kính trọng người mà chúng ta gọi là Chúa đă nguyền rủa một cây sung khi nó không ra trái lúc trái mùa không?…

    Cuốn Thánh Kinh đă làm cho tôi đối diện với quá nhiều vấn đề hơn là giá trị.  Nó đưa đến cho tôi một Thiên Chúa  mà tôi không thể kính trọng, đừng nói đến thờ phụng.

   [John Shelby Spong, Rescuing The Bible From Fundamentalism, pp. 21,24:  Are we drawn to a Lord who would destroy a herd of pigs in order to exorcise a demon?  Are we impressed when the one we call Lord curses a fig tree because it did not bear fruit out of season?…

   A literal Bible presents me with far more problems than assets.  It offers me a God I cannot respect, much less worship.]

 

   Ngoài ra, Giám mục John Shelby Spong, sau khi nghiên cứu Tân ước, đă đưa ra thêm một nhận định khác về Giê-su như sau:

 

    Có những đoạn trong bốn Phúc Âm mô tả Giê-su ở Nazareth như là một con người thiển cận, đầy hận thù, và ngay cả đạo đức giả.

   (There are passages in the Gospels that portray Jesus of Nazareth as narrow-minded, vindictive, and even hypocritical).

 

   Và Jim Walker cũng viết trên Internet trong bài http://www.nobeliefs.com/jesus.htm: Chúng Ta Có Nên Kính Ngưỡng Giê-su Không? (Should We Admire Jesus?):

 

    Giê-su trong Thánh Kinh có xứng đáng với vinh dự mà người ta đă ban cho ông ta hay không?  Bất hạnh thay, những người giảng đạo, mục sư, và giáo sĩ đă giảng cho chúng ta những câu chuyện với thành kiến một phía, nhấn mạnh và thổi phồng những điều mà họ thấy là tích cực và dẹp bỏ hoặc bỏ qua những điều tiêu cực.  Nền học thuật về Thánh Kinh trong trăm năm nay không được những người thường biết đến.  Trong khi đó th́, chúng ta thấy những mục sư và nhà truyền đạo trên TV chính trị đă khẳng định những điều vô nghĩa trong Thánh Kinh mà không bị  ai đặt vấn đề trách nhiệm của họ.  Tuy trên 90% gia đ́nh ở Mỹ có một cuốn Thánh Kinh, thường là không đọc đến, hoặc nhiều nhất là làm nhẹ bớt hoặc lược bỏ khi muốn nói về Thánh Kinh.

   Nhiều tín đồ Ki-Tô-giáo không hề biết đến là nhiều đoạn trong các Phúc Âm trong Tân Ước, Giê-su được mô tả như là một con người đầy hận thù, xấu xa, bất khoan dung, và đạo đức giả.

   [Does the Biblical Jesus merit the honor bestowed upon him? Unfortunately, preachers, ministers, and clergymen have given us biased, one-sided stories, emphasizing and inflating what they see as positive while subverting or ignoring the negative. Biblical scholarship of the last hundred years has not reached the common man. Instead, we see political ministers and televangelists making absurd biblical claims without anyone calling them accountable. Although over 90 percent of households in America own a Bible, it usually goes unread, or at best sanitized or bowdlerized to what people want it to say.

   Unbeknownst to many Christians, many times the Gospels of the New Testament portray Jesus as vengeful, demeaning, intolerant, and hypocritical.]

 

    Giới chăn chiên trong giáo hội Công giáo thường trích dẫn những điều vụn vặt trong Tân Ước mà họ cho đó là những lời hay ư đẹp của Giê-su để giảng dạy cho tín đồ, phần lớn những lời này thuộc loại khẳng định tự tôn, với mục đích đề cao, thần thánh hóa Giê-su trước đám tín đồ vốn không bao giờ đọc Thánh Kinh và cũng không đủ tŕnh độ để phân biệt chân giả.  Họ không bao giờ đưa ra những câu chứng tỏ “lời nói không đi đôi với việc làm” của Giê-su.  Thực chất của Giê-su là chỉ nói ngon nói ngọt ngoài miệng, c̣n những hành động của Giê-su th́ không bao giờ làm theo lời nói, trái lại c̣n trái ngược hẳn với những lời nói của ḿnh. Do đó Giám Mục Spong đă phải đưa ra một nhận định: "Có nhiều bằng chứng trong Thánh Kinh chứng tỏ Giê-su ở Nazareth là con người thiển cận, đầy thù hận, và ngay cả đạo đức giả" và Jim Walker cũng đă viết: Có nhiều đoạn trong các Phúc Âm trong Tân Ước, Giê-su được mô tả như là một con người đầy hận thù, xấu xa, bất khoan dung, và đạo đức giả.  Những nhận định này không sai và chúng ta có thể chứng minh chúng từ những ǵ viết trong Tân Ước.

 

A)  Giê-su có phải là con người đầy hận thù, xấu xa, bất khoan dung không?

 

   Luke 19: 27:  Hăy mang những kẻ thù của Ta, những kẻ không muốn Ta ngự trị trên họ, và giết chúng ngay trước mặt Ta.

   [But bring here those enemies of mine, who did not want me to reign over them, and slay them before me]  

 

   Matthew 18: 6: Nếu ai làm cho một trong những đứa trẻ đă tin Ta phạm tội, th́  tốt hơn cho hắn là buộc một cối đá vào cổ hắn  và ném hắn xuống đáy biển cho chết đuối.

   (But whoever causes one of these little ones who believe in me to sin, it would be better for him if a millstone were hung around his neck, and he were drowned in the depth of the sea)

 

   Phạm tội ǵ?  Thánh Kinh tiếng Việt dịch "to sin" là "mất đức tin". Không tin Giê-su hay mất đức tin về Giê-su có phải là một tội hay không?  Ngày nay, có biết bao nhiêu người mất đức tin, bỏ đạo, v́ biết đến thực chất của huyền thoại về Giê-su cũng như về nền thần học ngụy tạo của Ki Tô Giáo qua những tác phẩm nghiên cứu của các bậc học giả trong giáo hội cũng như ngoài giáo hội nên đă tỉnh ngộ. Chưa thấy ai cột đá vào cổ những tác giả này rồi mang nhận cho chết đuối dưới bể, v́ đây là một quan niệm vô cùng ác độc và man rợ  cách đây 2000 năm của một người Do Thái mà các tín đồ được dạy phải coi như Chúa và  "Chúa ḷng lành vô cùng", không c̣n có thể chấp nhận trong thế giới tiến bộ với những tiêu chuẩn đạo đức của con người ngày nay.    

 

   Chúng ta cũng phải hiểu rằng, khi Giê-su nói đến những đứa trẻ (little ones), không phải là ông ta nói đến những đứa trẻ ít tuổi thật, mà là để chỉ những người tin theo ông và phải trở thành như trẻ con như trong đoạn sau đây:

 

   Matthew 18: 3:  Đúng vậy, ta nói cho các ngươi biết, trừ phi các ngươi biến cải và trở thành như trẻ con, không có cách nào các ngươi có thể vào trong nước thiên đường. (Assuredly, I say to you, unless you are converted and become as little children, you will by no means enter the kingdom of heaven.)

   Mark 10: 15: Đúng vậy, ta nói cho các ngươi biết, người nào mà không tiếp nhận nước Chúa như là một đứa trẻ th́ sẽ không có cách nào vào đó được.  (Assuredly, I say to you, whoever does not receive the kingdom of God as a little child will by no means enter it.)

 

   Trong Tân Ước chúng ta cũng c̣n thấy đoạn mô tả Giê-su cầu nguyện:

 

   Matthew 11: 25: Hỡi Cha là Chúa của trời đất, tôi khen ngợi Cha, v́ Cha đă che dấu những điều này đối với kẻ khôn ngoan, người sáng dạ; mà tỏ ra cho những con trẻ hay.  (I thank you, Father, Lord of heaven and earth, because you have hidden these things from the wise and prudent and have revealed them to babes)

 

    Như vậy, chúng ta thấy rằng, đạo Giê-su là đạo dành cho những người có đầu óc của trẻ con.  Con trẻ, về thể chất cũng như tinh thần , đều chưa phát triển và trưởng thành, chưa có đủ khả năng suy nghĩ để phân biệt thật hay giả, đúng hay sai, cho nên ai nói ǵ cũng tin và hay làm theo, bắt chước.  Nó giống như một con chiên (cừu), người chăn chiên dắt đi đâu th́ đi đó.  V́ vậy các tín đồ Ca-Tô Việt Nam c̣n được gọi là con chiên. Hiển nhiên là Chúa  rất thành công với những người đầu óc như của con trẻ, c̣n đối với những người thông thái sáng dạ hay ít ra là có đôi chút  đầu óc suy nghĩ th́ Ngài lại hoàn toàn thất bại.  Chúa cũng c̣n thành công với những người đầu óc bấn loạn, khủng khoảng tinh thần, cần bám vào một cặp nạng thần quyền để lê lết trong cuộc đời.

 

   Trong Tân Ước có nhiều đoạn mô tả Giê-su rất hận thù những người không tin ông ta và đưa ra những lời nguyền rủa rất cay nghiệt. Cũng v́ vậy mà học giả Công giáo Joseph L. Daleiden đă đưa ra nhận định sau đây: 

 

     Con người hành động dă man phần lớn là bị ảnh hưởng đạo đức trong nền văn hóa của ḿnh.  Đạo đức của Tân Ước là trả thù bất cứ người nào bác bỏ Ki Tô Giáo.  Tuy những người viết Tân Ước một mặt viết Giê-su dạy phải tha thứ, Ông ta thực ra có một thái độ cực kỳ bất khoan nhượng đối với những người không chấp nhận ông ta là đấng cứu rỗi của họ.

   [Joseph L. Daleiden, The Final Superstition, p.179: That human act savagely is in large part a function of their cultural ethic.  The ethic of the New Testament was vengeance on any who rejected Christianity.  Although on one hand the New Testament writers have Jesus preaching forgiveness, He espouses an extremely intolerant attitude toward those who do not accept Him as their Savior.]

 

B)    Giê-su có phải là con người đạo đức giả không?

 

    Để kết thúc bài này, tôi xin trích dẫn từ Tân Ước vài  lời dạy điển h́nh của Chúa Giê-su về chính ḿnh cũng như về các tông đồ cùng những lời dạy chứa đầy mâu thuẫn mà chỉ có những bộ óc đặc thù Ki Tô mới không nhận ra bộ mặt đạo đức giả của ông ta:

 

1.   Chúa Giê-su dạy: " Hăy lấy cây sà trong mắt ngươi ra trước rồi hăy lấy cây kim trong mắt người khác ra sau. Đừng phê phán ai để ngươi cũng không bị phê phán." nhưng rồi chính ông lại đi phê phán người khác: Matthew 23: 13: Khốn cho giới dạy luật và Biệt Lập, hạng đạo đức giả; Matthew 23:15: Khốn cho các ông, hạng giả nhân giả nghĩa; Matthew 23: 16: Khốn cho các ông, hạng lănh đạo mù quáng và c̣n nhiều lời phê phán tương tự khác đầy dăy trong Tân Ước.

   Vậy trước khi phê phán họ, Chúa Giê-su đă lấy cây sà trong mắt ḿnh ra chưa?

 

2.  Chúa Giê-su  dạy  môn  đồ  "phải  yêu  kẻ thù  và  cầu nguyện cho người khủng bố hành hạ các con" (Matthew 5: 44), nhưng chính Giê-su th́ lại hành động ngược lại:

   Giê-su phán, Matthew 12:30: Kẻ nào không theo ta, ở  với ta, là chống đối ta.,  và coi những người không tin và tuân phục Giê-su là kẻ thù và dạy môn đồ:

   Luke 19:27 Hăy  mang  những  kẻ  thù  của  Ta  ra  đây, những người không muốn Ta  ngự  trị trên họ, và giết chúng ngay trước mặt Ta.

 

 3.  Chúa Giê-su dạy: "Người nào nguyền rủa anh em sẽ bị xuống  hỏa  ngục"  (Matthew  5: 22)   nhưng  chính  Giê- su lại đi nguyền rủa những người không chịu theo Giê-su:

   Luke 8: 24: Nếu ngươi không tin ta là con Thượng Đế, ngươi sẽ chết trong tội lỗi của ngươi.

   Matthew 12: 34:  Ôi  thế  hệ của  những loài  rắn  độc, ác như các ngươi làm sao có thể nói những lời tốt lành?

   Matthew 23: 33: Ngươi là loài rắn, ngươi là thế hệ của những rắn độc, làm sao các ngươi thoát khỏi hỏa ngục?

   Vậy bây giờ Chúa Giê-su đang ở đâu?  Dưới hỏa ngục hay trên thiên đường?

 

  4.  Chúa Giê-su dạy, Matthew 23: 11-12: Các con càng khiêm tốn phục vụ người th́ càng được tôn trọng... Ai tự đề cao sẽ bị hạ thấp, ai khiêm tốn hạ ḿnh sẽ được nâng cao, nhưng chính Chúa lại tự tôn một cách quá cống cao ngă mạn như trong những câu về “cái Ta” của ông ta mà tôi đă trích dẫn ở trên.  Cái tính khiêm tốn mà Giê-su dạy các môn đồ, Giê-su để vào đâu mà lại đưa ra những lời tự nhận quá huênh hoang như trên?

  

   Nói tóm lại, khi t́m hiểu về thực chất con người của Giê-su, chúng ta cần giữ thái độ: "Đừng tin những ǵ các Linh mục nói về Giê-su trong các nhà thờ, mà hăy nh́n kỹ những ǵ Giê-su nói và làm trong Tân Ước".  Chỉ có như vậy chúng ta mới có thể có những nhận định trung thực và chính xác về Giê-su, do đó tránh được những sự mê hoặc của những luận điệu thần học về những thuộc tính thần thánh của Giê-su, một nền thần học của giới giáo sĩ đưa ra, chỉ cốt để tự tạo quyền lực thế gian trên đám tín đồ thấp kém, khai thác sự yếu kém tinh thần và ḷng mê tín cả tin của họ.  

 

   VÀI LỜI KẾT VỀ HAI BỐ CON GIÊ-SU TRONG CUỐN BIBLE:

 

   ÔNG BỐ:  Alias “Thượng Đế”, “Thiên Chúa”, “Đấng Sáng Tạo”, “Chúa Cha”, “Đấng Toàn Năng” v..v…

 

Richard Dawkins:  Thiên Chúa trong Cựu Ước là nhân vật xấu xa đáng ghét nhất trong mọi chuyện giả tưởng: ghen tuông đố kỵ và hănh diện v́ thế; một kẻ nhỏ nhen lặt vặt, bất công, có tính đồng bóng tự cho là có quyền năng và bất khoan dung; một kẻ hay trả thù; một kẻ khát máu diệt dân tộc khác; một kẻ ghét phái nữ, sợ đồng giống luyến ái, kỳ thị chủng tộc, giết hại trẻ con, chủ trương diệt chủng, dạy cha mẹ giết con cái, độc hại như bệnh dịch, có bệnh tâm thần hoang tưởng về quyền lực, của cải, và toàn năng [megalomaniacal], thích thú trong sự đau đớn và những tṛ tàn ác, bạo dâm [sadomasochistic], là kẻ hiếp đáp ác ôn thất thường.

  

   Tất cả những thuộc tính trên của Ông Bố đều đă được chứng minh qua những trích dẫn từ Cựu Ước.  Xin các độc giả kiểm chứng lại.

 

   ÔNG CON:  Alias “Chúa Trời”, “Chúa Cứu Thế”, “Ngôi Hai Thiên Chúa”, “Ông Hoàng Của Ḥa B́nh”, “Ánh Sáng Của Nhân Loại” v..v…

 

   Giám Mục John Shelby Spong:  "Có nhiều bằng chứng trong Thánh Kinh chứng tỏ Giê-su ở Nazareth là con người thiển cận, đầy thù hận, và ngay cả đạo đức giả"

   Jim Walker : Có nhiều đoạn trong các Phúc Âm trong Tân Ước, Giê-su được mô tả như là một con người đầy hận thù, xấu xa, bất khoan dung, và đạo đức giả.

 

   Tất cả những thuộc tính trên của Ông Con đều đă được chứng minh qua những trích dẫn từ Tân Ước.  Xin các độc giả kiểm chứng lại.

 

   Ngoài ra chúng ta cũng c̣n biết:

 

   Linh Mục James Kavanaugh:  Huyền thoại “cứu rỗi” thuộc thời sơ khai miêu tả một người cha lấy cái chết của chính con ḿnh để bớt đi cơn giận dữ.  Đó là một chuyện ác độc không thể tưởng tượng được…

   Học Giả Ki-Tô Russell Shorto: Các học giả đă biết rơ sự thật từ nhiều thập niên nay – rằng Giê-su chẳng ǵ khác hơn là một người thường sống với một ảo tưởng  – họ đă dạy điều này cho nhiều thế hệ các linh mục và mục sư.  Nhưng những vị này vẫn giữ kín không cho đám con chiên biết v́ sợ gây ra những phản ứng xúc động dữ dội trong đám tín đồ. Do đó, những người c̣n sống trong bóng tối là những tín đồ Ki Tô b́nh thường.

   Giáo Hoàng John Paul II: "Không làm ǵ có Thiên đường ở trên các tầng mây."

 

Matthew 15: 24: Chúa Giê-su phán: “Ta được phái xuống đây chỉ để cứu những con chiên lạc Do Thái mà thôi.” [I was not sent except to the lost sheep of the house of Israel]

Matthew 1: 21:  Lời thiên sứ nói với Joseph trong giấc mộng:  “Và bà ta (Mary) sẽ sinh ra một đức con trai, ngươi sẽ đặt tên nó là Giê-su,  v́ nó sẽ cứu dân của nó [dân Do Thái] ra khỏi tội lỗi [And she will bring forth a Son, you shall call His name Jesus, for He will save His people from sins]

Luke 1: 32-33: Thiên sứ nói với Mary:  Và Thiên Chúa sẽ cho hắn (Giê-su) ngai của cha hắn là David.  Và Hắn sẽ trị v́ ngôi nhà của Jacob măi măi và vương quốc của hắn sẽ tồn tại măi măi. [And the Lord God will give Him the throne of His father david.  And He will reign over the house of Jacob forever, and of  His kingdom there will be no end]

 

   Và Thánh Paul khẳng định, theo lời mạc khải của Thiên Chúa: Hebrew 13: 8: “Giê-su Ki Tô luôn luôn như vậy, ngày hôm qua, ngày hôm nay và cho tới măi măi.” (Jesus Christ is the same yesterday, today, and forever).  Điều này có nghĩa là Giê-su không bao giờ thay đổi, bỏ ư định cứu dân Do Thái để đi cứu các dân tộc khác trên thế giới, nhất là Việt Nam, mà ông ta không hề biết. 

 

   Chúng ta cần ghi nhận một điều: những kết quả nghiên cứu như trên về Giê-su trong lănh vực học thuật đều là của các bậc trí thức có lương tâm, có chức vụ, trong các giáo hội Ki Tô, hoặc các học giả trong các xă hội Ki Tô Giáo, không phải của người ngoại đạo, cho nên chúng ta khó có thể nghi ngờ thành ư và sự lương thiện của họ trong lănh vực học thuật.  Và những câu trích dẫn từ trong cuốn Thánh Kinh bất cứ ai cũng có thể kiểm chứng tính cách xác thực của chúng.  Cho nên, chúng ta cần phải hiểu đây chỉ là những công cuộc nghiên cứu thuần túy trí thức trong lănh vực học thuật nằm khai sáng sự hiểu biết của người dân chứ không phải là chủ trương đối nghịch tôn giáo hay chống Chúa hay chống đạo như một số người thường quy kết một cách vô trách nhiệm.

 

   Từ những kết quả nghiên cứu sơ lược như trên về hai cha con Giê-su, những kết quả không ra ngoài những điều viết trong cuốn Thánh Kinh gồm Cựu Ước và Tân Ước, tôi không khỏi không có một thắc mắc:  “Tại sao con người vẫn c̣n tin vào một Thiên Chúa và một Giê-su với những thuộc tính tệ hại như vậy, và những người không phải là dân Do Thái tin vào hai bố con ông Giê-su là v́ cái ǵ.?”   Đối với tôi, thắc mắc là khả năng suy tư quư báu nhất mà Thượng đế, dù Thượng đế chỉ là sản phẩm tưởng tượng của người Do Thái, ban cho con người có đầu óc, kể cả sự thắc mắc về chính Thượng đế.  Tôi đă đặt câu hỏi này từ lâu, nhưng số tôi không được may mắn, v́ cho tới ngày nay, vẫn không có một người nào giảng giải cho tôi biết là họ theo đạo Giê-su là v́ cái ǵ?  Tôi xin khẳng định một điều: Tôi không chống hay phản đối bất cứ ai theo đạo Giê-su.  Tôi đă viết cả trăm bài nghiên cứu về nhiều khía cạnh của Ki Tô Giáo nói chung, Công giáo nói riêng.  Nhưng chưa bao giờ tôi khuyến khích hay hô hào ai bỏ đạo hay bỏ đức tin của họ. Tôi chỉ đặt vấn đề và sẵn sàng hoan hỉ chấp nhận mọi phê b́nh phân tích đứng đắn trên những điều tôi viết.  Tôi sẽ không thảo luận hay trả lời với bất cứ ai nếu phê b́nh của họ không thuộc loại phân tích những điểm tôi viết và phản bác với lư luận và tài liệu.  Cảm tính phe phái cá nhân phản ánh trên những luận điệu chụp mũ hay dùng những danh từ hạ cấp để mạ lỵ đối phương đối với tôi là vô giá trị, không thuộc lănh vực học thuật hay thảo luận trí thức, do đó tôi sẽ không tự hạ ḿnh để đối đáp với những luận điệu phi trí thức của bất cứ ai.

 

   Tôi biết có những người, kể cả một số trí thức Công giáo, phát dị ứng đối với những bài tôi viết về Công giáo.  Bởi v́ khả năng suy tư trong đầu óc họ đă bị tê liệt bởi sách lược nhồi sọ và dọa dẫm của Công giáo từ khi họ c̣n nhỏ.  Có vài người lên tiếng phê b́nh nhưng thật ra chẳng phê b́nh ǵ hết.  Họ chỉ có thể nói là tôi xuyên tạc, đánh phá Công giáo, đọc Thánh Kinh mà không hiểu v..v.. nhưng không đưa ra bất cứ bằng chứng là tôi đă xuyên tạc đánh phá Công giáo ở chỗ nào, cũng không vạch ra là tôi phải hiểu Thánh Kinh ra sao, và kết luận của họ bao giờ cũng là một cái mũ thân Cộng hay chống đạo Thiên Chúa.

 

   Tôi không chống, không ngăn cản, niềm tin của bất cứ ai.  Nhưng tôi cảm thấy tôi có nhiệm vụ nghiên cứu Ki Tô Giáo để tŕnh bày với đầy đủ tài liệu một vấn đề có ảnh hưởng đến tương lai của cả dân tộc, đó là thực chất của Ki Tô Giáo, và Ki Tô Giáo đă dạy con người những điều huyền hoặc phi lư trí, phản khoa học v..v.. mà thời đại thông tin điện tử ngày nay không thể chấp nhận được. Tôi cũng muốn vạch cho mọi người thấy rằng, những ǵ mà Công giáo hay Tin Lành dạy cho tín đồ về Thiên Chúa Sáng tạo, về Chúa Giê-su, về Giáo Hội Công giáo hoàn vũ, về Hội Thánh Tin Lành, hoàn toàn không đúng với những hiểu biết của nhân loại ngày nay về vũ trụ, nhân sinh, và hoàn toàn không phù hợp với nội dung cuốn Thánh Kinh gồm có Cựu Ước và Tân Ước. Giới lănh đạo Ki Tô Giáo cũng đă biết như vậy nhưng họ vẫn muốn giữ tín đồ trong bóng tối để duy tŕ trong đầu óc họ một niềm tin sai lầm.  Đó là điều đáng nói, và đáng trách.  Do đó, mở mang dân trí, để cho dân chúng biết rơ những sự thật về Ki Tô Giáo là bổn phận của mọi công dân hiểu biết, không phải của riêng ai.  Đây là điều mà rất nhiều trí thức Tây Phương đă làm đối với quần chúng Tây phương.  Những nghiên cứu sâu rộng của họ về mọi khía cạnh của Ki Tô Giáo, và được xuất bản trong những quốc gia mà Ki Tô Giáo là tôn giáo chính mà không có bất cứ một sự chia rẽ hay xẩy ra một sự xung đột nào.  Không lẽ người Việt Nam chúng ta lại cứ muốn giữ người dân trong ṿng thiếu hiểu biết mà chúng ta biết chắc là, một sự thiếu hiểu biết về Ki Tô Giáo có thể đưa đến những hậu quả khó lường như lịch sử đă chứng minh. Nền đạo lư Thiên-La Đắc Lộ đă di hại cho người dân Việt Nam không ít, nó tạo nên một lớp người v́ mê mẩn một cái bánh vẽ trên trời cho nên không quan tâm và không coi trọng tổ quốc.  Nó cũng tạo nên một tôn giáo hoàn toàn lệ thuộc ngoại bang, dù nấp sau b́nh phong tự do tín ngưỡng, trái với truyền thống yêu nước và độc lập của người Việt.  Cho nên, để mở mang dân trí góp phần xây dựng quốc gia, chúng ta cần phải có tinh thần vô úy, đưa ra những sự thực về Ki Tô Giáo nói chung, Công giáo nói riêng để cho người dân tự ḿnh suy nghĩ, ngơ hầu có thể tự chọn cho ḿnh một con đường tâm linh thích hợp với văn hóa truyền thống của dân tộc.  Tôi nghĩ rằng, đây chính là mong ước của đa số người dân Việt.

 

   Để kết luận, tôi muốn nói đến một nhận định của Giám mục John Shelby Spong trong cuốn Một Ki Tô Giáo Mới Cho Một Thế Giới Mới (A New Christianity For A new World), xuất bản năm 2001.  Giám Mục Spong liệt kê ra 5 tín điều căn bản của Ki Tô Giáo như sau:

 

-         Thánh Kinh là những lời mạc khải của Thiên Chúa.

-         Tư cách thần linh của Giê-su v́ sinh ra từ một Nữ Trinh.

-         Cái chết của Giê-su là để chuộc tội cho nhân loại, và máu của Giê-su là năng lực cứu rỗi (saving power of his blood).

-         Thân xác Giê-su sống lại.  Ngôi mộ trống là một sự thật cũng như chuyện Giê-su hiện ra sau khi chết.

-         Giê-su sẽ trở lại để phán xét nhân loại.

 

   Và Giám mục Spong đưa ra nhận định như sau:

 

   Ngày nay, tôi thấy những tín lư căn bản này mà chúng ta thường hiểu theo truyền thống, không những chỉ là ngây ngô mà c̣n có thể phải dứt khoát loại bỏ.  Trong thế hệ của chúng ta, không một tín điều nào ở trên được các học giả Ki Tô danh tiếng xác nhận.

   (Today I find each of these fundamentals, as traditionally understood, to be not only naïve, but eminently rejectable.  Nor would any of them be supported in our generation by reputable Christian scholars)

 

VẬY TH̀, NGƯỜI VIỆT NAM THEO ĐẠO GIÊ-SU LÀ V̀ CÁI G̀ ??

 

V́ Tự Do Tín Ngưỡng  ??