KỲ 2

 

LĂNG ĐAN DƯƠNG CÙNG Ở PHÍA NAM KINH THÀNH HUẾ
VÀ GẦN CHÙA THIỀN LÂM

* * * 

 

 1. Lăng Đan Dương ở bờ Nam sông Hương.

 

          Lăng mộ vua Quang Trung / Đan Lăng / Đan Dương Lăng/ CĐĐD đă  bị quan quân nhà Nguyễn quật phá ngay khi họ vừa về đến Phú Xuân vào  tháng 11 năm Tân Dậu (1801). Vụ trả thù  nầy đă được ghi rơ trong Đại Nam Thực Lục Chính Biên (xem A.004):

A.004.- QSQ Triều Nguyễn, ĐNTL CB Đệ nhất kỷ, Q.XV, tr. 26a cho biết: Tháng 11 Tân dậu, Nguyễn Vương cho “phá hủy mộ giặc Tây Son Nguyễn Văn Huệ bổ săng (ḥm), phơi thây, bêu đầu ở chợ”. B́nh luận: Chứng tỏ lăng mộ vua Quang Trung chỉ c̣n dấu tích, không c̣n ḥm, không c̣n xương cốt, đầi lâu.    

 

Nhưng  Thực Lục không cho biết  địa điểm ấy ở đâu. Đối với chúng ta th́ đó là một bí ẩn nên tôi tạm mă hóa là X. Phải đợi đến hơn 50 năm sau (1801- 1852), Nguyễn Trọng Hợp và các sử thần ngồi ở Quốc sử quán trong Kinh thành viết bộ Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện (sơ tập),  trong Quyển XXX “Ngụy Tây” mới hé cho biết cho biết rằng lăng mộ vua Quang Trung (mă hóa là X) đă được “táng vu Hương Giang chi nam” (táng ở bờ nam sông Hương) (Xem A.008)

A.008.- QSQ triều Nguyễn, ĐNCB Liệt Truyện (sơ tập), Quyển XXX “Ngụy,  tr. 43a cho biết lăng mộ vua Quang Trung đă được “táng vu Hương Giang chi nam” (táng ở bờ nam sông Hương)

 

Cái thông tin mộ vua Quang Trung “táng vu Hương Giang chi nam” có thể xem là thông tin độc nhất mà sử sách triều Nguyễn dành cho X. Cái thông tin đó ấn định một vùng “Hương Giang chi nam” khá rộng và cũng hơi mông lung. Bởi thế mà hơn nửa thế kỷ qua, dấu tích X vẫn c̣n là một bí ẩn. Tuy nhiên, xét cho kỹ th́ cụm từ “táng vu Hương Giang chi nam” cũng cho chúng ta được ba điều quan trọng:

          - 1/ Khẳng định X táng ở Huế (chứ không phải như dư luận là táng ở Linh Đường (Hà Nội);  B́nh Thuận hay bất cứ một nơi nào khác;

          - 2/ Lấy sông Hương làm chuẩn nên có thể nghĩ X  tọa lạc gần bờ sông (chứ không phải trên vùng núi sau Tu viện Thiên An có lăng Ba Vành của Hộ bộ kiêm Binh bộ Lê Quang Đại);

          - 3/ Phía nam sông Hương là một vùng rộng lớn, nhưng dù sao khu vực ở nam sông Hương có độ cao tương đối để có thể táng được lăng mộ của vua chúa không đến nỗi rộng lớn lắm.

 

2. Phương pháp khảo sát :

 

          Ngày xưa các sử thần viết sử ngắn, gọn và dùng từ rất chính xác. Muốn hiểu khi nào các sử thần triều Nguyễn dùng chữ “nam” như “nam sông Hương”, “phía nam Kinh Thành”, các từ ấy giống nhau và khác nhau như thế nào tôi đă phải đọc kỹ bộ sách Đại Nam Nhất Thống Chí (tập Kinh sư và Thừa Thiên Phủ) của Quốc sử quán triều Nguyễn. Qua thống kê, so sánh, tôi thấy:   

a) Địa điểm thuộc th́ lấy huyện lỵ làm gốc: Sông Thọ Lộc (Đập Đá qua Phường Vỹ Dạ ngày nay) ở phía Bắc huyện 17 dặm; cửa sông ở bờ phía nam Hương Giang thuộc xă Thiên Lộc [1] ; G̣ Thiên Mụ ở phía tây nam huyện Hương Trà độ 5 dặm [2];        

b) Địa điểm các huyện th́ lấy phủ lỵ (Thừa Thiên) làm gốc: Huyện Phú Vang ở phía đông bắc phủ 14 dặm... [3] ; Huyện Quảng Điền ở phía đông bắc phủ 14 dặm...  [4]

c) Địa điểm thuộc Kinh thành Huế lấy Kinh thành làm gốc: Chùa Diệu Đế ở ấp Xuân Lộc ngoài Kinh thành [5]; Thuyền xưởng ở bờ phía nam Hương Giang ngoài Kinh thành [6].

            Qua bản khảo sát, tôi rút ra được nguyên tắc: định phương hướng của một địa danh căn cứ vào một trong ba địa điểm gốc: huyện lỵ, phủ lỵ, và Kinh thành.

          Bờ nam sông Hương rất dài, nhưng nó được cắt ra thành nhiều đoạn để phụ thuộc vào Kinh thành hay huyện lỵ quản lư nó về phương diện hành chính. Vậy:

- Những di tích thuộc Kinh thành nằm phía nam sông Hương cũng gần với “hướng phía nam Kinh thành”. Ngồi trong Kinh thành viết “phía nam sông Hương” cũng có thể hiểu “phía nam Kinh thành”. X  nằm ở hướng chính nam Kinh Thành.

            Thế cùng nằm ở hướng chính Nam Kinh thành, có những di tích nào  thuộc Kinh thành ?

            Nghiên cứu thư tịch và khảo sát trên thực địa, chúng tôi thấy các sử thần triều Nguyễn dùng từ “phía nam” đối với Kinh thành trong những trường hợp cụ thể  như sau:

          - Phu Văn Lâu: ở chính trung quách phía nam ngoài Kinh thành  [7]

          - Thuyền xưởng (bờ sông từ nhà bia trước Quốc Học đến Hotel 5 Lê Lợi ngày nay). Theo L. Cadiere, (BAVH, 1-6/1933, p.130), ở bờ phía nam Hương giang ngoài Kinh Thành [8] .

          - Miếu lịch Đại đế vương, ở xă Dương Xuân (?) phía nam ngoài Kinh Thành [9]

          - Đàn Nam Giao, ở xă An Cựu, phía nam ngoài Kinh Thành... [10]

          Khảo sát trên thực địa, nhận thấy tất cả những địa điểm trước Kinh Thành được xếp ở phía chính nam ngoài Kinh thành đều nằm trên hoặc hai bên đường trục nối liền hai điểm Phu Văn Lâu và đàn Nam Giao.

          V́ thế mà hai cồn Giă Viên (băi Dương Xuân xưa) và Cồn Hến (Phú Xuân xưa) tuy ở phía trước hai bên Kinh thành nhưng Đại Nam Nhất Thống Chí lại xếp vào vị trí “phía tây nam trước Kinh thành” (Dương Xuân/Cồn Dă Viên) và “đông nam trước Kinh thành (Phú Xuân/Cồn Hến)”  [11]

            X nằm ở vị trí “phía nam sông Hương”, cũng có thể xem gần với hướng “phía nam Kinh thành" - V́ thế tôi đặt giả thiết (xin nhấn mạnh là giả thiết) X cũng nằm gần trục Phu Văn Lâu - đàn Nam Giao. .

            Dọc hai bên đường thẳng từ Phu Văn Lâu lên đàn Nam Giao có nhiều di tích cổ, đặc biệt nhất là chùa Thiền Lâm. Theo Đại Nam Nhất Thống Chí cho biết: “Khi trước Thái sư Tây Sơn là Bùi Đắc Tuyến chiếm (chùa Thiền Lâm) ở...” [12] Lúc bấy giờ dưới trướng của Bùi có Phan Huy Ích. Phan Huy Ích đă cho biết cụ thể hơn về sự kiện này trong lời Nguyên dẫn và bài thơ Mùa Xuân Ở Công Quán Ghi Việc sau đây:

          Dịch nghĩa:   Mùa Xuân Ở Công Quán Ghi Việc [13]

            (Nguyên dẫn: Nhà của quan Thái sư (Bùi Đắc Tuyên) là chùa Thiền Lâm cũ nằm phía nam sông Hương nha thuộc cũng theo đến ở chung quanh chùa. Giữa tháng ba, tôi tới nhà trọ Kinh đô, cũng gần nơi ông ở. Chỗ này vườn tược rộng răi, cây cối xanh um, bốn bề những núi cùng mây, mắt nh́n ḷng nghĩ cũng khá thoải mái, trừ những đêm họp bàn việc công ra, c̣n th́ tha hồ ngâm thơ uống rượu, kể cũng thú, duy nỗi ḷng thương nhớ người nhà vẫn không nguôi):

"Trời mở ra dinh ṭa ở chốn đồng quê

Xe ngựa tụ họp đến sân ngôi chùa cũ.

Trên ṭa đêm khuya, cuộc họp bàn chưa giải tán,

Chỗ trọ nơi nhà chùa, giấc ngủ quá trưa mới tỉnh". (A)

 

          NGUYÊN CHÚ:

          (A) "Quan Thái sư v́ việc quan, đêm thường ra ngoài ṭa làm việc, canh tư mới tan, đă thành lệ, những người giúp việc ứng trực cũng đă quen". (Xem A.009)