>>>Nghiên Cứu và Đối Thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard<<<

.......... .
 
 
VÀI CẢM NGHĨ VỀ VỤ GIÁO HOÀNG "XƯNG THÚ 7 NÚI TỘI LỖI"
Trần Chung Ngọc

 

Ngày Chủ Nhật 12 tháng 3, 2000, một tuần lễ trước ngày đi hành hương nơi "Thánh địa" Jerusalem, trong một cuộc "Thánh lễ" công cộng tại "Thánh đường" Phê-rô, trước nhiều chục ngàn con chiên, người Chủ Chiên, Đức "Thánh cha" Gion Pôn Hai (John Paul II), đại diện cho "hội Thánh" Gia Tô gồm gần một tỷ tín đồ, trong đó có khoảng 5 triệu tín đồ Việt Nam, đã chính thức "xưng thú 7 núi tội lỗi" đối với nhân loại của Gia Tô Giáo, một tôn giáo tự nhận là "thiên khải", "duy nhất", "thánh thiện", "mầu nhiệm", "tông truyền", "vương quốc của Thiên Chúa", "cao quý", "ánh sáng của nhân loại" v…v…, và xin thế giới tha thứ cho những hành động phi Thánh phi phàm, đặc thù Gia Tô, của những con cái giáo hội Gia Tô "thánh thiện". Những hành động này, qua gần 20 thế kỷ, đã đưa đến những thảm họa to lớn cho nhân loại như Thánh Chiến, Tòa Hình Án xử Dị Giáo, kỳ thị phái nữ, xâm lăng văn hóa, ý muốn thống trị và thái độ thù nghịch đối với những tôn giáo khác, bách hại dân Do Thái, gây chia rẽ trong cộng đồng Ki Tô, liên kết với những thế lực thực dân, phát xít v...v... như đã được nhắc tới hết sức đại cương trong những lời xưng thú 7 núi tội lỗi của Gia Tô La Mã Giáo (Công Giáo).

Đây không phải là lần đầu tiên Giáo hoàng xưng thú tội lỗi của Gia Tô Giáo. Người ta ghi nhận, trong thời gian 21 năm ở ngôi vị giáo hoàng, Ngài đã xin lỗi hơn 100 lần về những tội lỗi chuyên biệt liên hệ đến Giáo hội. (Chicago Tribune, March 13, 2000: By some counts he has already apologized for specific sins linked to the church on more than 100 occasions during his 21- year pontificate). Nhưng lần này, sự xưng thú tội lỗi của giáo hoàng có tầm mức rộng lớn hơn những lần trước rất nhiều, vì nó bao quát, tuy không đầy đủ, 7 núi tội lỗi chính của giáo hội Gia Tô đối với nhân loại trong suốt 2000 năm qua, đặc biệt là trong thiên niên kỷ thứ hai, theo Thường Lịch.

Các tín đồ Gia Tô, nhất là tín đồ Gia Tô Việt Nam, bèn tung hô hành động của Gion Pôn Hai là một hành động can đảm chưa từng có trong giáo hội, theo luận điệu diễn giải của giới chăn chiên dạy các con chiên có đầu nhưng không có óc.

Ngoài giáo hội, ai cũng biết đây là một bước đi chính trị bắt buộc của giáo hoàng trong một thế giới mà ý niệm về đa nguyên tôn giáo đã được chấp nhận rộng rãi. Trong thế giới này, nhãn hiệu tự phong của Gia Tô Giáo như là một tôn giáo "thiên khải", "thánh thiện duy nhất" v..v.. thực chất chỉ là những lời tự đề cao, hoàn toàn vô giá trị đối với hơn 5 tỷ người phi-GiaTô trên tổng số 6 tỷ người trên thế giới. Học Hội Đức Giêsu Ki Tô Phục Sinh (Hội Ki Tô Học) của một nhóm tín đồ Gia Tô Việt Nam ở Houston, Texas, Hoa Kỳ, đã vạch rõ: "Roma chọn con đường cáo thú tội lỗi của mình là có những lý do thầm kín đã suy nghĩ lâu dài và nát óc để có quyết định này. Trong những con đường xấu (nghĩa là có ảnh hưởng tai hại đến giáo hội. TCN), chọn con đường ít xấu hơn, là con đường "xưng tội trống với Thiên Chúa và với đồng loại". Hơn nữa, có xưng thú tội lỗi hay không thì cả thế giới cũng đã biết rõ bản chất của Gia Tô La Mã Giáo như thế nào rồi, bằng chứng ở trong sự hiện hữu của hàng trăm, hàng ngàn tác phẩm nghiên cứu về lịch sử Gia Tô Giáo. Hành động xưng thú tội lỗi của giáo hoàng không phải là một hành động can đảm. Đó chẳng qua chỉ là sự thú nhận những điều mà thế giới đã biết rõ từ lâu, và vì trước công luận thế giới, trước sự tiến bộ trí thức của nhân loại, Giáo hội Gia Tô không có cách nào có thể bưng bít, che dấu sự thực được nữa. Để vớt vát uy tín của Gia Tô Giáo qua việc xưng thú tội lỗi này, Giáo hoàng phán: "Người ngoài sẽ khó mà hiểu được ý nghĩa tôn giáo linh thiêng của hành động thống hối", trong khi thực sự có gì là linh thiêng và khó hiểu đâu, vì hành động thống hối này không phải là một hành động đặc thù Gia Tô, chỉ riêng Gia Tô Giáo mới có.

Không ai lấy làm lạ vì tại sao cho tới thời điểm này mới có một giáo hoàng công khai xưng thú tội lỗi và xin được tha thứ cùng thế giới. Chúng ta đã biết, 359 năm sau khi kết án Galileo Galilei và sau 13 năm nghiên cứu của một ủy ban gồm những nhân vật thượng thặng trong Tòa Thánh, giáo hội mới chính thức công nhận sự sai lầm của giáo hội trong vụ án này, trong khi cả thế giới đã biết là Galilei đúng, Kinh Thánh và Giáo hội sai, từ mấy thế kỷ nay. Chúng ta cũng đã biết, Giáo hội đã kết tội oan một nữ anh hùng cứu quốc của Pháp, Jeanne d’Arc, là phù thủy và đưa bà lên giàn hỏa thiêu sống năm 1431, rồi gần 500 năm sau (1920), mới thống hối bằng cách truy phong chức Thánh cho bà. Sự kiên trì che dấu tội lỗi của Giáo hội Gia Tô đã nổi tiếng trên hoàn cầu, cực chẳng đừng giáo hội mới công khai hóa những sự kiện lịch sử có ảnh hưởng không tốt cho giáo hội, vì những sự kiện lịch sử này đối ngược hẳn với những nhãn hiệu "thánh thiện" v..v.. tự phong của giáo hội.

Dù giáo hội có giải thích hành động xưng thú tội lỗi của giáo hoàng như thế nào đi chăng nữa, là hành động can đảm hay theo đúng tinh thần tự kiểm ăn năn thống hối của Gia Tô Giáo, là để thanh tẩy ký ức hay để tiến tới sự hòa hợp tôn giáo v…v…, các tín đồ Gia Tô vẫn không thể nào giải đáp được thỏa đáng những câu hỏi như:

Tại sao một giáo hội do chính Chúa thành lập, thường tự xưng là "thánh thiện", là "ánh sáng của nhân loại", là quán quân về "công bằng và bác ái", được "thánh linh hướng dẫn" v...v... lại có thể phạm những tội ác vô tiền khoáng hậu trong suốt 2000 năm nay đối với nhân loại như vậy? trong khi các đạo khác, thí dụ như đạo Phật, thường bị Ki Tô Giáo chụp cho cái mũ vô thần lên đầu, lại không hề làm đổ một giọt máu hoặc gây nên bất cứ một phương hại nào cho con người trong quá trình truyền bá trải dài hơn 2500 năm, từ trước Ki Tô Giáo hơn 500 năm? Vậy vô thần so với hữu thần, đằng nào tốt hơn?

Những câu hỏi này sẽ luôn luôn ám ảnh những tín đồ Gia Tô có đầu óc, còn đôi chút lương tri và óc suy luận. Vì một tôn giáo mà gây ra nhiều tội đại ác như tra tấn, tù đầy, thiêu sống v..v.., giết hại hàng chục triệu sinh mạng vô tội, gồm cả đàn bà và trẻ con, bất cứ vì lý do nào, thì không thể được coi là một tôn giáo nữa. Đó chẳng qua chỉ là một tổ chức núp sau bình phong tôn giáo để duy trì những quyền lực thế tục. Lương tâm trí thức của họ bắt họ phải trực diện với sự thực này. Phải chăng họ đã bị lừa dối từ bao thế kỷ nay bởi một cái bánh vẽ trên trời mà không cần đếm xỉa gì tới vấn đề đạo đức, luân lý? Phải chăng họ đã bị nhào nặn từ nhỏ để có một tâm cảnh vô cùng ích kỷ, chỉ ham hố một sự "cứu rỗi" tưởng tượng cho riêng mình mà không cần biết đến cái cộng đồng tôn giáo của mình ra sao? Phải chăng họ đã bị nhồi sọ từ nhỏ đến độ chỉ còn có thể tin một cách mù quáng, không còn khả năng suy nghĩ để tìm ra lẽ thật? v..v..

Tín đồ Gia Tô muốn tôn vinh quyền năng của Chúa Cha, Chúa Con, Chúa Thánh Thần, và Giáo hoàng thế nào thì tôn vinh, nhưng họ không bao giờ có thể xóa bỏ được những sự thực lịch sử về Gia Tô Giáo, những sự thực đã làm cho cả thế giới phải lắc đầu thở dài và đã bị phanh phui đến mức độ giáo hội không thể làm gì khác là đưa giáo hoàng ra xưng tội cùng thế giới loài người về những tội ác của Giáo hội Gia Tô để xoa dịu dư luận thế giới. Những tội lỗi của Gia Tô Giáo đối với nhân loại, qua lời xưng thú tội lỗi của giáo hoàng, sẽ ám ảnh lương tri của người Gia Tô suốt đời, không phải vì họ phải chịu trách nhiệm về những việc làm của giáo hội trong quá khứ, mà vì dù muốn dù không, họ cũng thuộc một đoàn thể có một lịch sử quá đen tối, trái ngược với những lời tuyên truyền giả dối đã tạo thành niềm tin của họ. Từ nay, họ không còn có thể tự đề cao mà không ngượng miệng những điều họ được nhồi vào đầu óc từ khi còn nhỏ, ví dụ như Gia Tô Giáo là một tôn giáo thánh thiện, duy nhất thiên khải, cao quý hơn tất cả các tôn giáo khác, hoặc như, người trong đạo là những người lành thiện, đạo đức hơn tất cả những người "ngoại đạo" v…v… Thế giới đã thấy rõ từ lâu, tất cả những lời tự tôn, tự ca tụng, tự tôn vinh v..v.. của Giáo hội Gia Tô chỉ là những lời tuyên truyền huênh hoang giả dối cho đám tín đồ thấp kém, trái hẳn với bản chất mê tín, hoang đường, thấp kém, tàn ác v..v.. của giáo hội Gia Tô. Sau đây, tôi xin đi vào phần phân tích vài vấn đề liên quan đến hành động "xưng thú 7 núi tội lỗi" và "xin được tha thứ" của "hội Thánh" Gia Tô.

Giáo hoàng xin thế giới tha thứ cho những tội ác của Gia Tô Giáo bằng những lời lẽ rất đại cương, cho nên không mấy người biết rõ những tội ác của Giáo hội là những tội ác nào. Lewis Weinstein viết trong tờ Chicago Tribune ngày 16 tháng 3, 2000, như sau:

"Hầu hết các tín đồ Gia Tô không biết đến cái lịch sử (chứa đầy tội ác của Gia Tô Giáo. TCN) mà Giáo hoàng nói đến, và nếu, theo lời của Hồng Y John O'Connor, tổng giám mục địa phận New York, tín đồ Gia Tô phải "được sự thật giải phóng", thì họ phải biết sự thật đó như thế nào."

(Most Catholics are unaware of the history to which the pope alluded, an if, in the words of Cardinal John O'Connor, archbishop of New York, Catholics are to be "liberated by the truth", then they must know what that truth is.)

Sự thật đó như thế nào? Đọc kỹ lịch sử truyền đạo của Gia Tô La Mã Giáo (Công Giáo), chúng ta có thể tóm tắt sự thật đó trong một câu ngắn gọn:

Tội ác của Gia Tô Giáo đối với nhân loại có thể mô tả như sau, mượn lời của Nguyễn Trãi trong bài Bình Ngô Đại Cáo:

Quyết Đông hải chi thủy, bất túc dĩ trạc kỳ ô;
Khánh Nam sơn chi trúc, bất túc dĩ thư kỳ ác.
(Độc ác thay, trúc rừng không ghi hết tội;
Dơ bẩn thay, nước bể không rửa sạch mùi.)

bởi vì, trong gần 20 thế kỷ, nhiều chục triệu sinh mạng gồm già, trẻ, lớn, bé, nam, nữ, vô tội đã bị giáo hội, nhân danh phúc âm, chân lý của Chúa, bắt bớ, giam cầm, tù đầy, bạo hành, tra tấn cực hình, cắt cổ, chôn sống, thiêu sống v…v… chưa kể đến những hành động phá hủy đền thờ miếu mạo của các tôn giáo khác, hoặc những hành động nhằm tiêu diệt các nền văn hóa phi Gia-Tô v..v…

Đi vào chi tiết, sự thật đó nằm trong những lời xưng thú tội lỗi, dù rất đại cương, liên quan đến 7 "núi tội lỗi" (từ của Hội Ki Tô Học) của giáo hội, được 5 Hồng Y và 2 Tổng Giám mục long trọng tuyên đọc tại Thánh đường Phê-rô ngày 12 tháng 3, 2000. Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận được hân hạnh đọc lên những lời xưng thú tội lỗi trong mục chống lại công lý và hòa bình v...v... của "hội Thánh" Gia Tô⮠Giáo hoàng và ban tham mưu thần học của ông đưa ra những lời xưng thú tội lỗi tổng quát trong 7 mục sau đây:

1. Xưng thú "tội lỗi chung".

2. Xưng thú "tội lỗi trong khi phục vụ "chân lý"".

3. Xưng thú "tội lỗi đưa đến sự chia rẽ giữa các tín đồ Ki Tô".

4. Xưng thú "tội lỗi trong sách lược bách hại dân Do Thái".

5. Xưng thú "tội lỗi trong những hành động với ý muốn thống trị kẻ khác, với thái độ thù nghịch đối với các tôn giáo khác, không tôn trọng truyền thống văn hóa và tôn giáo của các dân tộc nhỏ, kém phát triển".

6. Xưng thú "tội lỗi trong sự kỳ thị phái nữ, coi thường phẩm giá phụ nữ".

7. Xưng thú "tội lỗi trong việc vi phạm những quyền căn bản của con người".

Học Hội Đức Giêsu KiTô Phục Sinh đã viết trên trang nhà, www.kitohoc.com, ngày 5 tháng 4, 2000, một bài phê bình, gọi 7 núi tội lỗi trên là "sa mạc tội lỗi dàn trải hàng ngàn năm trên một địa bàn rộng lớn toàn cõi Aⵍ Châu, và các thuộc địa của AⵠChâu trên khắp thế giới", và gồm "15 Lời Bàn" về việc Giáo Hoàng "xưng thú tội lỗi" và "xin được tha thứ". Lời bàn thứ 6 nguyên văn như sau:

"Giáo hội dạy giáo lý nhồi sọ giáo dân rằng Tội là Quỷ Satan, và Quỷ Satan là Tội, người phạm tội là người của Quỷ Satan, người có Tội là người bị Satan bắt linh hồn, nắm đầu nắm cổ và chịu sai khiến như tù nhân khổ sai…Giáo hội Công giáo Rôma Latinh ôm ấp 7 mối tội to như 7 trái núi hàng ngàn năm. Và 7 chương tội là 7 đàn quỷ có sừng có đuôi hàng triệu đứa, Giáo hội nằm gọn trong tay 7 đàn quỷ và bị 7 đàn quỷ này thống trị. Nhưng ngày xưng thú ngàn năm hi hữu này, Giáo hội còn thiếu một chương thứ 8 "về tội trong hoàng cung và triều đình Giáo hoàng". Ví dụ Giáo hoàng Tây Ban Nha dòng Borgia là Alexander VI (1492-1503) hiện nguyên hình là một "con quỷ râu xanh" loạn luân 3 đời trực hệ đàn bà, con trai hắn là Cesare và con gái là Lucrezia lộng hành đến nỗi thay cha cai trị Giáo hội, có lần Lucrezia ngồi trên Tòa Phêrô và các triều thần, các thầy dòng xúm vào hôn chân nàng… Đây là chuyện "thất tình lục dục" của ngàn năm thứ hai, nếu ngược lên ngàn năm thứ nhất, có chuyện cổ kim Đông Tây độc nhất vô nhị là "Phiên Tòa Đại Hình Khai Quật Xác Giáo Hoàng Formosus (891-896) chết đã mục xương ngồi vào ghế bị cáo", sử gọi là "Cadaver Synod", một phiên tòa Giáo hoàng xử tội Giáo hoàng mà người đời mường tượng ra cảnh dưới âm ti cắt lưỡi móc mắt chặt từng ngón tay, tùng xẻo phân thây ra trăm mảnh ném xuống sông Tiber. Năm sau Giáo hoàng Stephen VI và người bố trí phiên tòa xử xác chết này bị lật đổ, bị tù và bị thắt cổ cho chết. Hàng trăm cuộc phế lập, tranh quyền, thanh trừng, cướp ngôi Giáo hoàng cực kỳ hung bạo, tàn nhẫn, vô luân, y hệt thời Xuân Thu Chiến Quốc."

Dù trong bản văn xưng tội giáo hoàng và ban tham mưu của ông chỉ đưa ra những lời hết sức đại cương, tránh né chi tiết và nhiều trường hợp trọng đại trong lịch sử Gia Tô Giáo và trong nội bộ Giáo hội, hành động xưng tội này cũng có một ảnh hưởng trên toàn thế giới. Ảnh hưởng như thế nào, đó là tùy theo sự nhận định của mỗi người.

Đối với dân tộc Việt Nam, những lời xưng thú tội lỗi của Giáo hội Gia Tô như trên đã bạch hóa nhiều sự kiện lịch sử. Những tác phẩm ngụy sử để biện bác, bào chữa cho Gia Tô Giáo ở Việt Nam của những tín đồ Gia Tô Việt Nam như Phan Phát Huồn, Vũ Đình Hoạt, Bùi Đức Sinh v..v.. đã trở thành vô giá trị. Vì sự bách hại đạo Gia Tô ở Việt Nam không bắt nguồn từ lý do tôn giáo mà vì ý muốn thống trị của Gia Tô Giáo, vì thái độ thù nghịch của Gia Tô Giáo đối với các tôn giáo truyền thống của dân tộc Việt Nam, vì sự liên kết của Giáo hội Gia Tô với những thế lực thực dân đưa đến sự đô hộ Việt Nam của Pháp, vì sự coi thường, không tôn trọng nền văn hóa Việt Nam, vì đã đào tạo một lớp giáo dân cuồng tín, sẵn sàng phản bội quốc gia, vì đã khích động gây nội loạn trong đất nước Việt Nam v…v… Tất cả những điều này đã được sử sách ghi rõ. Những lý do cấm đạo mà những tín đồ cuồng tín Gia Tô bịa ra như các Vua Triều Nguyễn thù nghịch Gia Tô Giáo vì đạo này đối nghịch với Nho Giáo, giới Văn Thân "Bình Tây Sát Tả" vì Gia Tô làm cho họ mất thế đứng trong xã hội hay mất nồi cơm, vì đạo Gia Tô chủ trương công bằng, bác ái v..v… nay đã không còn một giá trị nào, vì toàn bộ những luận cứ này đã bị Giáo hoàng phủ bác dứt khoát qua những lời xưng thú tội lỗi trên.

Mặt khác, những lời xưng thú tội lỗi của giáo hội đã bảo đảm giá trị của những tác phẩm nghiên cứu về Gia Tô Giáo trên thế giới, và của một số tác giả Việt Nam: ví dụ như cuốn Đạo Thiên Chúa Và Chủ Nghĩa Thực Dân Tại Việt Nam của Cao Huy Thuần, cuốn Thập Giá và Lưỡi Gươm của LM Trần Tam Tĩnh, cuốn Công Giáo Chính Sử của Trần Chung Ngọc, cuốn Thực Chất Của Giáo Hội La Mã của Nguyễn Mạnh Quang v..v.. vì trong những cuốn này, các tác giả không làm chuyện gì khác hơn là đưa ra phần nào chi tiết sự thật về những tội lỗi của Gia Tô Giáo đối với nhân loại nói chung, đối với Việt Nam nói riêng, những sự thật mà Giáo Hoàng, đại diện cho Gia Tô Giáo, đã thừa nhận qua những lời xưng thú tội lỗi tổng quát và xin được tha thứ ở trên.

Vì giáo hoàng đã công khai xưng thú tội lỗi của Giáo hội Gia Tô đối với nhân loại, những tác phẩm vạch trần những tội lỗi trên ngày nay đã được bảo đảm giá trị trí thức. Giáo hội và các tín đồ Gia Tô cuồng tín không còn có thể tiếp tục theo sách lược vu khống từ trước tới nay của giáo hội, lên án các tác phẩm nghiên cứu sự thật trên là chống Gia Tô, hay là chụp mũ CS chống tôn giáo, hoặc là tác phẩm của những kẻ thù của Gia Tô Giáo v..v...

Theo lời diễn giải của giáo hội thì hành động xưng thú tội lỗi này là để thanh tẩy ký ức (purification of memory) có tác dụng cất bỏ mặc cảm tội lỗi của giáo hội qua hành động ăn năn thống hối và thú nhận tội lỗi. Một ký giả đã nhận xét như sau: Nhưng nếu Giáo hoàng cho rằng, với những lời xưng thú tội lỗi của giáo hội, đọc lên trong vài mươi phút, là có thể xóa bỏ cái lịch sử 2000 năm chứa đầy tội ác của giáo hội thì Ngài đã lầm. (If the pope thinks that he can wipe out the criminal record of the Church in the last 2000 years in a 15-minute sermon, he’s wrong.) Tờ Newsweek ngày 20 tháng 3, 2000 cũng viết: Nhưng làm sao mà Giáo hoàng nào có thể giải thích được, đừng nói đến thống hối, mọi tội lỗi mà giáo hội đã phạm nhân danh đức tin Gia Tô trong ngàn năm qua? (But how can any pope account for, much less repent for, all the sins committed in the name of the Catholic faith over the past thousand years?) Kết luận: "Xin được tha thứ" chỉ là một bước đi chính trị để xoa dịu dư luận quần chúng trong một thế giới mà sự tiến bộ trí thức không cho phép giáo hội hành xử như trước, vì như học giả John Remsburg đã viết: bó củi (để thiêu sống người) và cây gươm (để giết người) đã bị tước đoạt khỏi những bàn tay đẫm máu của giáo hội (The fagot and the sword have been wrested from her bloody hands...), hoặc che dấu sự thực lâu hơn nữa. Học Hội Đức Giêsu Ki Tô Phục Sinh cũng viết trong lời bàn thứ 7 như sau:

"Hàng ngàn năm, để bưng bít và che dấu 7 chương tội đối ngoại - và một chương tội đối nội là 8 - nghệ thuật tuyên truyền của Giáo hội Roma phải đạt đến chỗ cực kỳ ảo diệu, thiên biến vạn hóa, một nghệ thuật tuyên truyền thần thánh, một nghệ thuật tuyên truyền nhồi sọ tuyệt vời: Giáo hội là Thánh, Giáo hội là Mầu Nhiệm, Giáo hội là Bí Tích, Giáo hội là Hiền Thê đức Giêu, Giáo hội là Duy Nhất, Thánh Thiện, Công Giáo và Tông Truyền, Giáo hội là Vương Quốc của Thiên Chúa… Giáo hội tự nhận cho mình tất cả những khái niệm (sic) cao cả thánh thiện, vừa linh thiêng siêu hình, vừa hữu hình thế tục, chẳng bỏ sót một phạm trù nào! Ngoài nghệ thuật tuyên truyền, Giáo hội vẫn phải xây "vạn lý trường thành đức tin" và buông bức "màn sắt thần học" lên đầu đoàn chiên. Mỗi tòa giảng là một cái loa tuyên truyền, dựa vào khoa thần học phù phép, ảo thuật "núi tội thành con chuột", "kẻ cướp mặc áo thầy tu", và "quỷ Satan có diện mạo ông thánh."

Không ai hiểu rõ đạo mình hơn nhóm Ki Tô Học và khó ai có thể phủ bác được những lời bàn của nhóm này.

Mặt khác, giáo hoàng có thể tự ban cho mình cái quyền đại diện cho giáo hội để xưng thú tội lỗi và xin được tha thứ, nhưng ai là người đại diện cho hàng chục triệu nạn nhân của giáo hội Gia Tô trong suốt 2000 năm qua, những nạn nhân đã bị giáo hội nhân danh "tình yêu thương" của Chúa, nhân danh chương trình "cứu rỗi" của Chúa, nhân danh "chân lý" của Chúa, nhân danh sự "mạc khải" của Chúa v..v.., chà đạp nhân phẩm, bắt bớ, giam cầm, tra tấn cực hình, cắt cổ, chôn sống, thiêu sống, tàn sát tập thể trong sách lược diệt chủng v..v.. để mà tha thứ cho giáo hội?

Giáo hoàng và 5 hồng y cùng 2 tổng giám mục của ông đã xưng thú tội lỗi của giáo hội Gia Tô trước công chúng và xin được tha thứ. Nhưng, một ủy ban các nhà Thần học do Vatican bổ nhiệm, đã tung ra một văn kiện dài 30 trang, giải thích căn bản triết lý và thần học của việc xưng thú tội lỗi và xin được tha thứ của giáo hoàng và viết rõ là sự xưng tội trong toàn thể giáo hội là xưng tội cùng Chúa. (Steve Kloehn in Chicago Tribune, March 13, 2000: Last week, a panel of Vatican-appointed theologians released a 30-page document laying out the philosophical and theological basis for the pope’s apologies and repentance - the document makes it clear that churchwide confession is addressed to God). Trong bản văn này, Giáo hội cũng trốn trách nhiệm, đổ tội lên đầu các tín đồ, vài (sic) con cái của Giáo hội gây ra tội ác, chứ còn giáo hội thì vẫn "thánh thiện bởi vì Chúa Ki Tô là Thủ Lãnh và là vị hôn phu của giáo hội; Chúa Thánh Thần là linh hồn linh động giáo hội v..v.." (Báo Dấn Thân số 35, trang 4). Dù văn kiện này chỉ có mục đích vớt vát mặt mũi và uy tín của giáo hội nhưng không có cách nào giáo hội có thể hòa hợp một tín lý chính thức của giáo hội: rằng giáo hội là nhiệm thể của Chúa Ki Tô (the mystical body of Christ), do đó không thể nào gây ra tội lỗi (incapable of sin), với thực tế hiển nhiên là giáo hội như một định chế (institution), đã gây ra nhiều tội lỗi. Linh mục Thomas Reese, một sử gia Gia Tô, cũng phải thú nhận rằng: "Cần phải nhấn mạnh rằng, con cái của giáo hội gồm những giáo hoàng, hồng y, giám mục và linh mục chứ không phải chỉ có những tín đồ thông thường ngồi trên ghế nhà thờ." (It should be emphasized that the "children" of the church include popes, cardinals, bishops, clergy and not just the people in the pews.) Giáo hoàng, hồng y, giám mục, linh mục là những người quyết định và thi hành đường hướng hoạt động của giáo hội, còn đám con chiên thì "bề trên" bảo sao nghe vậy, tuyệt đối tuân phục không có ý kiến. Điều này có nghĩa là, những tội ác của Gia Tô Giáo đối với nhân loại không phải là do "một vài (sic) anh em chúng ta đã sa ngã" (some of our brothers have fallen) gây nên, mà chính là trách nhiệm của giáo hội, như tôi sẽ trình bày với vài chi tiết trong phần sau. Vả chăng, nếu chỉ cần xưng tội với Chúa thì cứ đóng kín cửa thánh đường Phê-rô mà xưng tội, việc gì phải làm công khai để quảng cáo trước quần chúng? Thủ đoạn vớt vát uy tín này đã gây nhiều bất mãn trong dư luận thế giới. R. J. Weissman viết trong tờ Chicago Tribune ngày 16 tháng 3, 2000:

"Sự xưng thú tội lỗi và xin được tha thứ của giáo hoàng không đặc biệt làm tôi khó chịu vì ông ta không nhắc gì tới những Lò Thiêu Sống của Đức Quốc Xã. Nó thực sự làm tôi khó chịu vì giáo hoàng không xin được tha thứ từ những kẻ đã phải đau khổ gánh chịu những sự tàn bạo ác độc. Con người là phần sống quan trọng nhất trên trái đất.. Tại sao giáo hoàng không nhận ra điều này? Tôi là một người không chấp nhận lời xin lỗi của giáo hoàng đối với Chúa. Có thể đó là một bước đi đúng đường. Nhưng tôi nghĩ rằng đó là sự trốn tránh trách nhiệm."

(It doesn’t particularly bother me that the Holocaust was not mentioned. It does bother me that the pontiff has not ask forgiveness from the people who suffered the atrociries. People are the most important part of life on Earth…Why doesn’t the pontiff recognize this. I, for one, do not accept his apology to God. Perhaps it is a step in the right direction. But I think that it is an avoidance of responsibility.)

Thật vậy, Chúa, một sản phẩm do óc tưởng tượng của con người tạo ra, không phải là nạn nhân của giáo hội, mà nạn nhân chính là những con người bằng xương bằng thịt, máu cùng đỏ, nước mắt cùng mặn, như Giêsu khi còn sống, như các giáo hoàng, hồng y, tổng giám mục, giám mục, linh mục, và như tất cả mọi người chúng ta. Chúa đã chết trên thập giá từ lâu. Chúa không bị giáo hội Gia Tô tù đầy, tra tấn cực hình, thiêu sống, giết chóc v…v…, mà chính là con người, hàng chục triệu con người. Phạm tội đối với con người mà lại xưng tội cùng Chúa, một nhân vật đầy huyền thoại tính và không có một căn bản thuyết phục nào, về hiện thực cũng như về khoa học, để chứng tỏ rằng Chúa có thể chuộc tội hay tha thứ tội lỗi của con người, một nhân vật đã được một số đệ tử dựng lên với nhiều chi tiết mâu thuẫn và sai lầm như được viết trong Thánh Kinh, thì chuyện "xưng tội cùng Chúa" đúng là chuyện phi lý, chỉ có giáo hội Gia Tô mới có thể làm như vậy. Giáo hội vẫn giữ thái độ kiêu căng tự tôn của thời Trung Cổ: cho rằng chỉ có Chúa là có quyền tha tội cho giáo hội. Đây cũng là điều mà khi xưa giáo hội đã từng áp dụng ở bất cứ nơi nào giáo hội có quyền hành và ở thế mạnh: những linh mục, giám mục v..v.. của giáo hội, bất cứ họ làm điều ác ôn nào, không ai có quyền phán xét họ ngoài Giáo hội. Nói tóm lại, Chúa chỉ là cái bung xung mà giáo hội đưa ra để tha hồ làm điều ác, vì làm xong chỉ việc xưng tội với Chúa, xin Chúa tha tội là ký ức đã được thanh tẩy, là mặc cảm tội lỗi đã được cất bỏ, là lương tâm lại yên ổn để tiếp tục làm ác, nếu ở vị thế có quyền hành và có cơ hội thuận tiện. Chúa chỉ là cái bình phong giáo hội đưa ra để che đậy, bảo vệ và duy trì định chế độc tài của chính giáo hội chứ thật ra chẳng làm gì có chuyện Chúa tha tội hay không tha tội. Chúng ta cũng biết, ở Việt Nam, khi các con chiên phàn nàn về mấy ông linh mục làm bậy thì giám mục "bề trên" cũng khuyên rằng: "các con đừng có nói hành các cha mà mang tội với Chúa". Điều này có nghĩa là "cha cũng như Chúa", đưa Chúa ra làm bung xung che đỡ cho những hành động bậy bạ của các cha "bề trên". Nhưng ở Bắc Mỹ thì tín đồ Gia Tô tiến bộ hơn nhiều. Tín đồ đã đưa hơn 400 ông "cha cũng như Chúa" can tội cưỡng dâm trẻ phụ tế và nữ tín đồ vị thành niên ra tòa, và kết quả là nhiều ông "cha cũng như Chúa" vào tù ngồi chờ ngày lên thiên đường hưởng nhan thánh Chúa, và giáo hội đã phải bỏ ra nhiều trăm triệu, có thể đến cả tỷ đô la để trả tiền tòa phạt bồi thường cho các nạn nhân. Tiền ở đâu mà giáo hội có nhiều thế? Chắc chắn một phần là do giáo dân đóng góp "để giáo hội làm việc thiện xã hội."

Nhìn kỹ vào vấn đề xưng tội cùng Chúa và xin Chúa tha thứ, chúng ta thấy có nhiều điều không ổn, và việc xưng tội cùng Chúa không hợp với lôgic thông thường, không có căn bản vững chắc, thực chất chỉ là một thủ đoạn của giáo hội trước đám tín đồ thấp kém bị huyễn hoặc bởi những luận điệu đầy tính chất mê tín dị đoan. Tại sao? Vì giáo hội đã theo đúng những lời trong Thánh Kinh, được coi là chứa những lời không thể sai lầm của Chúa, nên mới có những hành động dã man tàn bạo đối với nhân loại. Chúa không thể tha thứ cho giáo hội, vì chính Chúa là nguồn cảm hứng và cũng là nguồn chỉ đạo tâm linh cho giáo hội, hướng dẫn giáo hội. Vậy nếu giáo hội phạm tội, thì theo một nghĩa nào đó, tội của Chúa nặng hơn tội của giáo hội, vì giáo hội chỉ là cấp thừa hành. Đây không phải là những lời vô căn cứ, có tính cách phỉ báng Chúa, mà dựa trên sự kiện như được chứng minh qua những luận cứ sau đây.

Đọc Thánh Kinh, Cựu Ước và Tân Ước, chúng ta thấy rõ ràng là những hành động tội lỗi của Giáo hội Gia Tô trong 2000 năm qua bắt nguồn từ những luật lệ, những điều Chúa Cha cũng như Chúa Con dạy trong Thánh Kinh. Trích dẫn tất cả những điều này từ Thánh Kinh ra để chứng minh luận cứ trên thì chiếm quá nhiều chỗ trong bài, cho nên tôi chỉ đưa ra vài tài liệu của một số học giả có địa vị trong xã hội AⵠMỹ:

David Voas, Giáo sư đại học tiểu bang New Mexico (New Mexico State University), trong cuốn "Cuốn Thánh Kinh Mang Tới Tin Xấu: Cuốn Tân Ước" ("The Bad News Bible: The New Testament", trg. 1 - 2) đã viết về nội dung tổng quát của cuốn Tân Ước như sau:

"Vấn đề là người ta nghĩ rằng người ta biết ở trong Thánh kinh có những gì, hoặc ít nhất là Thánh kinh chứa loại tài liệu gì. Hầu hết đều lầm, họ chỉ quen thuộc với vài đoạn trích dẫn đã được giáo hội chấp thuận, và họ sẽ ngỡ ngàng khi thấy không những Thượng đế trong Cựu Ước khủng khiếp dễ sợ như thế nào, mà con của hắn (nghĩa là Giê-Su; TCN) trong Tân Ước cũng còn ở dưới mức hoàn hảo khá xa. Thông điệp của Giê-su không hẳn toàn là tin mừng, thiên đường nhiều nhất là một viễn cảnh không chắc chắn. Xét về toàn bộ thì đó rất có thể là cuốn Thánh kinh mang tới tin xấu."

(The problem is that people think they know what's in the Bible, or at least what kind of material it contains. Most of them are wrong: they are only familiar with a few church-approved extracts, and are astonished not just how awful God is in the Old Testament, but also at how much less than perfect his son seems in the New. The message of Jesus isn't all good news; paradise is an uncertain prospect at best. Taken as a whole, it could well be The Bad News Bible.)

Tiến sĩ Madalyn O’Hair, trong cuốn Tất Cả Những Điều Mà Bạn Muốn Hỏi Những Người Mỹ Vô Thần (All The Questions You Ever Wanted To Ask American Atheists), đã viết về ảnh hưởng của điều răn thứ nhất trong Cựu Ước và điều Giêsu truyền các tông đồ phải đi cải đạo người khác (ngày nay các học giả nghiên cứu Tân Ước đã chứng minh rằng đây chỉ là câu được ngụy tạo và thêm vào Thánh Kinh về sau để biện minh cho sự bành trướng của Gia Tô Giáo trên thế giới, vì câu này mâu thuẫn với nhiều đoạn khác trong Thánh Kinh nói về sự tái giáng trần của Giêsu và ngày phán xét đã gần kề, ngay trong thế hệ của những người sống đồng thời với Giêsu. TCN) như sau:

"Cái tiền đề căn bản của Ki Tô Giáo là không khoan nhượng các tôn giáo khác. Tín đồ Ki Tô không thể chỉ theo tín ngưỡng của mình và để cho mọi người khác tự do theo tín ngưỡng của họ. Giê-su (thực ra là sự ngụy tạo của giáo hội Gia Tô) đòi hỏi rằng các tín đồ Ki Tô phải đi cải đạo người khác (nghĩa là cưỡng bách người khác phải tin vào đạo Giê-su) và điều này đã gây nên nhiều sự đau khổ cho nhân loại hơn bất cứ tôn giáo nào khác. Những Thần của tôn giáo đa thần sống hòa bình với nhau. Nhưng khi Ki Tô Giáo xuất hiện với tính cách duy nhất của nó, dựa trên điều thứ nhất của mười điều răn, "Ngươi không được có Thần nào khác ngoài Ta", thì sự giết chóc bắt đầu."

(The basic premise of Christianity is intolerance. The Christian cannot just have his belief and permit everyone else to have theirs. Jesus Christ demanded that the Christian convert and this has caused more grief to mankind than any other religion. The old pagan gods lived side by side. But when Christianity came with its exclusivism, based on the first of the Ten Commandments, "Thou shalt have no other god before Me," the killing began.)

Linh mục Ernie Bringas viết về ảnh hưởng của sự tin mù quáng vào Thánh kinh như sau trong cuốn Những Thảm Họa Trong Quá Khứ và Hiện Tại Do Sự Sùng Tín Thánh Kinh (Going by the Book: Past and Present Tragedies of Biblical Authority) trg. 17-18:

"Trải qua nhiều thế kỷ, sự sùng tín Kinh Thánh đã dẫn tín đồ Ki Tô trong một niềm tin mù quáng, trong sự khủng bố, ngược đãi người Do Thái và những người phi Ki-Tô, giết hại và khủng bố, áp bức phái nữ, đè nén dục tính, kiểm duyệt, tạo tâm lý tôn sùng, và nhiều lầm lạc khác. Những mô thức hành xử có tính cách hủy diệt này, người ta có thể thấy dễ dàng là chúng bắt nguồn từ sự tin vào quyền năng tuyệt đối của những điều viết trong Thánh Kinh…

Ki Tô Giáo đã để lại một dấu vết kinh khoàng, khổ sở và chết chóc như đã được ghi trong những trang sử đẫm máu. Và những biến cố tàn ác, lố bịch trong sử sách đã được gây ra dưới ảo tưởng (đôi khi là cái cớ): đó là sự chỉ đạo của Thần Ki Tô, là những thí dụ chủ yếu về một niềm tin bị lạc dẫn."

(Over the past centuries, bibliolatry has led Christians in bigotry, the persecution of Jews and other non-Christians, murder and terrorism, the oppression of women, the suppression of sexuality, censorship, cult mentality, and other aberrations. The destructive behavior patterns can be easily traced to the unchallenged authority accorded biblical writing.

Christianity has left an appalling trail of misery and death as recorded in the bloodstained pages of history. And the cruel, grotesque events they record are prime examples of misguided faith, perpetrated under the delusion (sometime pretext) of divine guidance.)

Robert G. Ingersoll, một tư tưởng gia lỗi lạc của Mỹ vào cuối thế kỷ 19, đã đưa ra một thách đố: ông sẽ tặng một giải thưởng là $100 (năm 1890) cho vị linh mục hay mục sư nào dám lên bục giảng, giảng những đoạn mà chính Ingersoll trích dẫn từ Thánh kinh. Trong nhiều năm, không có một người nào nhận lời thách đố này cả. Một người có óc suy luận tối thiểu có thể mường tượng ngay ra là nội dung những đoạn đó trong Thánh Kinh nó như thế nào. Ông viết về những tác hại của Thánh Kinh và của niềm tin vào Chúa trên nhân loại:

" Nhân danh Chúa Ki Tô hàng triệu nam nữ đã bị tù đầy, tra tấn và giết hại, hàng triệu người đã bị làm nô lệ. Nhân danh hắn những tư tưởng gia, khảo cứu gia, bị coi như là những kẻ tội phạm, và những tín đồ theo hắn đã làm đổ máu của những người thông thái nhất, giỏi nhất.

Nhân danh hắn sự tiến bộ của nhiều quốc gia bị chặn đứng cả ngàn năm. Trong phúc âm của hắn chúng ta thấy cái tín lý về sự đau khổ vĩnh viễn, và những lời của hắn đã gia thêm sự kinh khủng vô tận vào sự chết. Phúc âm của hắn chất đầy thế giới với thù hận và trả thù, coi sự lương thiện trí thức như một tội ác, hạnh phúc trên cõi đời là con đường dẫn xuống địa ngục, tố cáo tình thương yêu như là thấp hèn và như súc vật, thánh hóa sự nhẹ dạ cả tin, tôn vinh sự mù quáng và tiêu diệt tự do của con người. Nhân loại sẽ tốt hơn nhiều nếu cuốn Tân Ước chưa từng được viết ra - Chúa Ki Tô theo quan niệm thần học cũng chưa từng được sinh ra."

(In Christ name millions and millions of men and women have been imprisoned, tortured and killed. In his name millions and millions have been enslaved. In his name the thinkers, the investigators, have been branded as criminals, and his followers have shed the blood of the wisest and the best. In his name the progress of many nations was stayed for a thousand years. In his gospel was found the dogma of eternal pain, and his words added an infinite horror to death. His gospel filled the world with hatred and revenge, made intellectual honesty a crime, made happiness here the road to hell, denounced love as base and bestial, canonized credulity, crowned bigotry and destroyed the liberty of man.

It would be far better had the New Testament never been written - far better had the theological Christ never lived.)

Nhưng rõ ràng hơn cả là những đoạn sau đây của Jack Bays viết trong cuốn Hình Bóng Của Quỷ (The Shadow Of The Demon), trg. 6-7, về những điều độc ác phi lý trong Thánh Kinh, những điều đã làm nguồn cảm hứng cho những hành động của Giáo hội Gia Tô sau này:

"Theo Thánh Kinh, hơn 99% những sự trừng phạt của Chúa Cha là đổ lên đầu những người vô tội - những người không hề dính líu gì tới những trường hợp để Chúa phải trừng phạt.

Vì Adam ăn một trái táo mà cả nhân loại bị đày đọa: "Vì sự xúc phạm của một người, cả nhân loại bị kết án và luận phạt" (Rom: 5:18). Những tư tưởng như vậy là từ đầu óc của một người man rợ không hề có một mảy may ý niệm nào về công lý.

Chúng ta được biết Thần Ki Tô mang 10 tai họa đến cho dân Ai Cập vì tim của Vua Ai Cập (Pharaoh) trai cứng (nghĩa là tàn nhẫn. TCN). Những người dân này không liên quan gì tới việc Pharaoh có trái tim trai cứng. Tuy vậy, gia súc của họ bị chết hết, mùa màng hư hại, vườn tược suy sụp, nhà cửa đổ nát, và tất cả những đứa con sinh đầu lòng đều bị giết. Nếu là lỗi của Pharaoh thì chỉ mình Pharaoh phải gánh chịu tai họa mà thôi. Và chúng ta cũng biết, chính Thần Ki Tô đã làm cho trái tim của Pharaoh trai cứng.

Theo Thánh Kinh, Thần Ki Tô đã dạy dân mà Ngài đặc biệt chọn (Do Thái) làm tội ác và giúp dân này thực hiện những tội ác. Thần giúp Jacob lừa dối cậu của hắn ta (Gen: 30: 27-43), và Thần dạy dân ngài chọn đi lừa dối dân Ai Cập trong một cuộc lừa đảo lớn nhất trong lịch sử (Exo: 11: 2-4). Dân Ai Cập không trả công đủ cho dân Do Thái (đang làm nô lệ ở Ai Cập. TCN), cho nên, bài học luân lý vĩ đại của Thần Ki Tô là: nếu chủ ngươi không trả công xứng đáng cho ngươi thì ngươi hãy ăn cắp của chủ để bù vào sự thiệt hại này.

Những chuyện này trong Thánh Kinh chứng tỏ những người viết Thánh Kinh có đầu óc của những dân man rợ, không có một ý niệm nào về công bằng và bác ái. Trong những cuộc chiến tranh chiếm đất phát động bởi "dân được Thần chọn", lệnh truyền ra là phải giết sạch mọi người, già hay trẻ. Ít ra là trẻ thơ không có tội tình gì và tội lỗi duy nhất của những người lớn tuổi là họ có đất đai và con gái mà những kẻ man dại, liều lĩnh, muốn chiếm hữu. Những nạn nhân này cũng là người có tín ngưỡng khác, và sự khoan nhượng tín ngưỡng của người khác là điều mà Thần quyết định cấm, theo như Thánh Kinh. Dân "thánh Chúa" được lệnh phải tiêu diệt tất cả những ai không cùng tín ngưỡng. Thánh Kinh dạy chúng ta là phải giết ngay cả con trai, con gái, cha, mẹ chúng ta nếu những người này không theo tôn giáo của chúng ta. (Phục Truyền 13: 6-10)."

(More than 99% of all the punishment meted out by God, according to the Bible, was upon innocent people - people not even accused of having anything to do with the incidents that brought on the punishment.

Because Adam ate a certain apple all mankind is doomed: "By the offense of one, judment came upon all men to condemnation" (Rom: 5:18). Such thoughts came from the mind of a savage who never had the slightest conception of justice.

We are told that God brought the ten scourges upon the Egyptians because Pharaoh’s heart was hardened. These people had nothing to do with the hardening of Pharaoh’s heart. Yet their stock was killed, their crops ruined, their orchards destroyed, their buildings broken down, and their first born killed. If it was Pharaoh’s fault then he alone should have suffered. As the story goes it was God who hardened his heart..

According to the Bible, God taught his chosen people crime and aided them in it. He helped Jacob cheat his uncle (Gen: 30: 27-43), and he taught and helped his chosen people defraud the Egyptians in the largest con game in history (Exo: 11: 2-4). The Egyptians did not pay the Israelites enough, so the great moral lesson seems to be that if your boss does not pay you enough you are supposed to steal from him to make up for it.

These stories show that the Bible writers had the minds of barbarians with no conception of mercy or justice. In the wars of conquest waged by the "chosen people of God", the command was for slaughter of old and young. At least the children were innocent of anything wrong and the only sin for which adults were being punished was that they had lands and young daughters that these wild, ruthless barbarians wanted. The victims had different religious ideas, too, and religious tolerance was positively forbidden by God according to the Bible. The "holy people" were to exterminate all who had a different religion. The Bible commands that son, daughter, father or mother be killed if they differ with us in religion. (Deut: 13: 6-10)).

Từ vài tài liệu nêu trên, đây chỉ là một số nhỏ trong số rất nhiều tài liệu khảo cứu chính xác về Ki Tô Giáo hiện hữu ngày nayﬠvà đọc lịch sử Gia Tô Giáo, chúng ta đã hiểu tại sao "hội thánh" Gia Tô lại phạm quá nhiều tội ác đối với nhân loại. Chúng ta đã hiểu tại sao, trong cuộc Thánh Chiến Albigense, khi một sĩ quan hỏi đại diện của Giáo hoàng đương thời: "Làm sao phân biệt được ai là tín đồ Gia Tô (catholics) và ai là kẻ lạc đạo (heretics)" thì câu trả lời là: "Giết hết đi, Thần Ki Tô sẽ nhận biết ai là tín đồ của Người" (Kill them all. God will recognize His own.). Vì câu trả lời này mà trên 15000 người trong thị trấn Béziers, không phân biệt già trẻ lớn bé, đàn ông, đàn bà, con nít đều bị tàn sát không nương tay. Chúng ta đã hiểu tại sao giáo hoàng Paul IV lại có thể tuyên bố: "Nếu bố tôi lạc đạo (nghĩa là không tin Chúa như tôi tin) thì tôi sẽ đích thân nhúm củi thiêu sống ông ta."; tại sao chính quyền Gia Tô của Ante Pavelic ở Croatia trong kỳ đệ nhị Thế Chiến, trong đó có các linh mục, giám mục làm trưởng trại giam, làm cấp chỉ huy trong tổ chức Ustashi, đã tàn sát, cắt cổ, thiêu sống khoảng 700000 người "ngoại đạo" theo Chính Thống Giáo hoặc Do Thái; tại sao chính quyền Ngô Đình Diệm, người được Hồng Y Spellman đặt lên ở Nam Việt Nam, người đã tự nhận là một Phán Quan Tây Ban Nha, đã giết gần nửa triệu người "ngoại đạo" sau cái bình phong "chống Cộng", đã dung túng cho các linh mục, giám mục buôn lậu, chiếm đất công làm nhà thờ, dung túng cho người anh vô tài vô đức như Ngô Đình Cẩn tổ chức mật vụ miền Trung, muốn giết ai thì giết, muốn cướp đoạt tài sản của ai thì cướp v..v…; tại sao Gia Tô Giáo tại Việt Nam đã làm tay sai cho Pháp, phản bội dân tộc, và rồi dựa vào quan thầy Thực dân Pháp để chiếm đất Chùa làm nhà thờ, ví dụ như nhà thờ lớn ở Hà Nội, nhà thờ La Vang ở Quảng Trị, nhà thờ Đức Bà ở Sài gòn v..v.. đều làm trên đất cưỡng chiếm của Phật Giáo.

Thật là rõ ràng, nguồn gốc tội lỗi của Giáo hội Gia Tô là ở trong Thánh Kinh. Tất cả tội ác của Giáo hội Gia Tô đối với nhân loại là do sự tin tưởng của Gia Tô Giáo vào những lời "mạc khải" không thể sai lầm của Thần Ki Tô (Christian God) được viết trong Thánh Kinh. Từ những thế kỷ đầu, Giáo hoàng đã ra lệnh đốt sách vở ngoại đạo. Giáo hoàng Urban II phát động cuộc Thánh Chiến đầu tiên vào cuối thế kỷ 11; Giáo hoàng Gregory IX ký sắc lệnh thiết lập những Tòa Hình Axử Dị Giáo vào thế kỷ 13 và sau đó, Giáo hoàng Innocent IV ký sắc lệnh cho phép những Tòa Hình Adùng cực hình tra khảo để lấy những lời "thú tội" của những người mà giáo hội kết án là lạc đạo hay dị giáo; các Giáo Hoàng Martin V, Callistus III, Alexander VI, trong thế kỷ 15, ký sắc lệnh cho dân Chúa đi ăn cướp đất đai, chiếm thuộc địa, và cưỡng bách dân thuộc địa phải làm nô lệ, phải cải đạo. Giáo hoàng là ai? Chính là đại diện của Chúa trên trần (Vicar of Christ), không thể sai lầm trong những quyết định về Đức Tin hay đạo đức (Infallible in matters of Faith or Morals). Như vậy, xưng thú tội lỗi và xin Thần tha thứ cho những hành động bắt nguồn từ chính những luật lệ và điều răn, điều dạy của Thần trong Thánh Kinh là một điều khôi hài đối với người ngoại đạo, những người đã hiểu rõ Thánh Kinh và nguồn gốc những tội ác đối với nhân loại của Gia Tô Giáo. Nhưng ít ra, hành động xưng thú tội lỗi và xin tha thứ này cũng làm sáng tỏ một điều: những lời mà Giáo hội cho là "mạc khải" không thể sai lầm của Thần Ki Tô trong Thánh Kinh chẳng qua chỉ là sản phẩm của những đầu óc mọi rợ của thời bán khai, đầu óc của những người viết Thánh Kinh, không có một ý niệm nào về đạo đức và công bằng, như Jack Bays đã viết ở trên. Do đó, những lời "mạc khải" này không còn một mảy may giá trị trong ánh sáng của khoa học, hoặc theo tiêu chuẩn luân lý và đạo đức của chúng ta ngày nay. Đây chính là những sự thật mà tín đồ Gia Tô cần phải biết qua việc xưng thú tội lỗi và xin được tha thứ của Giáo hoàng để mà tự đó họ có thể được giải phóng.

2. Ngoài ra, về phương diện lý luận, chúng ta cũng còn có thể thấy rõ trách nhiệm của Chúa về những tội ác của giáo hội Gia Tô đối với nhân loại nằm trong bí tích "rửa tội" của Gia Tô Giáo. Để chứng minh, chúng ta hãy đi vào chi tiết từng câu một trong nghi thức "rửa tội" của Gia Tô Giáo.

Chúng ta biết rằng, mọi tín đồ Gia Tô, từ Giáo hoàng cho tới dân cùng đinh khố rách áo ôm, nếu là đạo gốc, đều bắt buộc phải thụ hưởng bí tích rửa tội từ khi mới sơ sinh mới được công nhận làm dân Chúa. Những kẻ tân tòng lớn tuổi cũng phải qua nghi thức rửa tội mới có thể chính thức được công nhận làm tôi tớ hèn mọn của Chúa, thực ra là của các linh mục và Vatican.

Sách Giáo Lý Công Giáo (Katholischer Katechismus), bản dịch của Hoài Chiên và Nguyễn Khắc Xuyên, nhà in Zieleks, Texas, xuất bản năm 1991, trang 149-151, viết về Nghi Thức Rửa Tội cho con nít như sau. Chỉ cần đọc nghi thức này chúng ta cũng có thể nhận ra thực chất của "bí tích" này ra sao. Tuy nhiên, tôi xin kèm theo vài nhận xét cá nhân để cho vấn đề sáng tỏ hơn. Nguyễn Khắc Xuyên là một tiến sĩ Thần học của Gia Tô cho nên chúng ta có thể tin tưởng bản dịch này. Phần chữ nghiêng thuộc nghi thức rửa tội. Phần chữ thẳng là những lời bình luận của tôi.

A. Nghi thức ngoài cửa nhà thờ:

Những câu hỏi đầu tiên:

Linh mục (LM): Con tên gì?

Cha, Người đỡ đầu (NĐĐ): xưng tên thánh đứa trẻ...

LM: Con xin gì cùng giáo hội Chúa?

NĐĐ: Con xin đức tin.

(Đứa trẻ sơ sinh chưa biết nói, trí tuệ chưa phát triển, chưa có khả năng hiểu biết, bị cha mẹ hay người đỡ đầu thay mặt nó, cưỡng bách nó phải xin đức tin (faith) trong khi điều mà nó cần khi trưởng thành là lý trí, là trí tuệ để nhìn sự vật như chúng là như vậy. Đầu óc của đứa trẻ đã bị ô nhiễm ngay từ khi sơ sinh, vì theo định nghĩa của H.L. Mencken thì đức tin là "một kiểu tin phi-lôgic vào sự xảy ra của những gì không chắc có thực" (an illogical belief in the occurrence of the improbable), và theo định nghĩa trong tự điển thì đức tin là "sự tin chắc vào một cái gì đó mà không chứng minh được cái đó có thực" (Firm belief in something for which there is no proof). Ngoài ra, học giả Gia Tô Joseph Daleiden trong cuốn The Final Superstition cũng cho rằng "đức tin là con đường đi tới mê tín" ( Faith: a path to superstition). Chẳng trách là đa số tín đồ Gia Tô khi lớn lên trở nên cuồng tín vì đầu óc đã bị uốn nắn và điều kiện hóa để tin mà không cần biết, không cần hiểu, vào những điều phi lý ngay từ khi vừa mới chào đời.)

LM: Đức tin sinh ích lợi gì cho con?

NĐĐ: Sinh sự sống đời đời.

(Sự sống đời đời trong Gia Tô Giáo đặt căn bản trên huyền thoại về tội tổ tông và sự tin vào khả năng "cứu rỗi" của Giê-su, sự hiện hữu của một Thiên đường, nơi Chúa ngự. Nhưng trước những khám phá của khoa học, huyền thoại Adam và Eve về tội tổ tông không còn một giá trị nào, vì trái đất đã có tuổi ít ra là 4 tỷ rưỡi năm, con người đã xuất hiện trên trái đất cách đây hàng triệu năm, chứ không phải mới được Thần Ki Tô "sáng tạo" ra cách đây trên 6000 năm như những lời "mạc khải" không thể sai lầm của Thần được ghi lại trong Thánh Kinh. Và gần đây, Giáo hoàng Gion Pôn Hai đã tuyên bố là không làm gì có Thiên đường ở trên các tầng mây. Do đó, sự sống đời đời trên thiên đường, cái bánh vẽ ở trên trời (từ của Linh Mục Ernie Bringas) của Giáo hội đưa ra, nay đã không còn ý nghĩa, dù vẫn còn vô cùng hấp dẫn đối với những tín đồ muốn lên thiên đường với một giá rất rẻ, chỉ cần xin đức tin với một linh mục)

2. Nghi thức trừ quỷ:

Từ khi có tội tổ tông thì quỷ Sa tăng, có quyền khuấy khuất nhân loại. Bởi vậy, linh mục thổi ba lần trên mặt đứa nhỏ và truyền cho Sa Tăng phải rút lui, nhường chỗ cho Chúa Thánh Thần.

(Đây là điều mê tín nhất trong những điều mê tín: rằng Sa Tăng, cũng là một tạo vật của Chúa Cha, có thật, và là nguồn gốc của những sự xấu ác, có quyền khuấy khuất nhân loại, và có sẵn trong mọi người từ khi sơ sinh. Đây cũng là tín điều man rợ nhất và xúc phạm nhất đối với những người không theo đạo Ki Tô. Tín điều này, chỉ có thể có trong đầu óc của những tín đồ Gia Tô, cho rằng: bất cứ đứa trẻ nào sinh ra cũng đều bị Sa Tăng ngự trị trong đó, nếu không đuổi Sa Tăng ra khỏi thân thể đứa trẻ bằng những nghi thức "rửa tội" hoang đường phản khoa học, thì Sa Tăng sẽ còn ở lại với đứa trẻ suốt đời. Đông phương cho rằng: "Nhân chi sơ, tính bản thiện". Trái lại, Gia Tô Giáo của Tây phương quan niệm "Nhân chi sơ, tính bản ác". Lịch sử đã chứng minh rằng, không thiếu gì người Gia Tô, những người đã chịu lễ rửa tội, từ Giáo hoàng trở xuống, tệ hại và ác độc hơn những người ngoại đạo. Khi rửa tội thì Sa Tăng đã rút lui, nhường chỗ cho Chúa Thánh Thần. Vậy Chúa Thánh Thần chính là nguồn gốc của những sự xấu ác trong những con người Gia Tô xấu ác khi đã trưởng thành này. Ngoài giáo hội cũng có không thiếu gì những người "ngoại đạo" suốt đời không làm điều gì xấu ác, trái với lương tâm. Điều này chứng tỏ Sa Tăng trong những người ngoại đạo chưa rửa tội còn tốt hơn gấp bội lần Chúa ba ngôi thay thế Sa Tăng trong những tín đồ xấu ác sau khi đã rửa tội)

3. Ghi dấu Thánh giá:

Linh mục vẽ dấu thánh giá trên trán và ngực đứa nhỏ.

(Để làm gì và có tác dụng gì? Không thấy giải thích)

4. Nghi thức đặt tay:

Linh mục giơ bàn tay phủ lên đầu đứa nhỏ, chỉ dấu Chúa Ki Tô chinh phục nó.

(Chúa Ki Tô ở trong bàn tay của linh mục? Cùng một lúc ở trên thế gian này có biết bao nhiêu đứa trẻ đang làm lễ rửa tội. Chúa "quyền phép vô cùng" như Tề Thiên Đại Thánh nên có thể cùng lúc nằm trong bàn tay của vô số linh mục để mà chinh phục những đứa trẻ sơ sinh chưa biết gì. Mà chinh phục đứa trẻ sơ sinh để làm gì? Để sau này lớn lên làm tôi tớ hèn mọn của Chúa như Linh mục Trần Lục tự nhận và được khắc trên tấm mộ bia của ông? Các bậc cha mẹ mang con đi rửa tội không muốn cho con mình làm người tự do, chỉ muốn con mình được một người Do Thái đã chết cách đây hai ngàn năm chinh phục làm tôi tớ hèn mọn? Thật là tội nghiệp cho những đứa trẻ này.)

5. Ban muối:

Linh mục ban muối cho đứa nhỏ. Muối giữ cho khỏi hư thối, chỉ rằng đức tin gìn giữ khỏi sự tội.

(Đức tin có thực sự gìn giữ khỏi sự tội không? Tội đây tuyệt đối không phải là tội của con người trong đời sống hàng ngày, vì thực tế cho thấy đức tin đâu có gìn giữ tín đồ khỏi tội lỗi đâu? Vậy tội đây là "tội Tổ Tông". Nhưng, như trên đã nói, "tội Tổ Tông" chỉ là một huyền thoại của dân Do Thái cổ xưa, cho nên lễ tiết "ban muối" trở thành vô nghĩa, đượm màu mê tín của người dân Do Thái bán khai)

6. Lại trừ quỷ:

Linh mục lại truyền cho Sa tăng lần nữa, phải ra khỏi đứa nhỏ. Ngài vẽ dấu thánh giá trên trán, bởi vì dấu đó là ấn tích của Chúa Ki Tô, đoạn truyền cho Sa tăng không bao giờ được làm mất dấu ấn tích đó.

(Trong nghi thức trừ quỷ lần đầu, Linh mục đã ra lệnh cho Sa Tăng phải rút lui nhường chỗ cho Chúa Thánh Thần. Một là Sa Tăng coi thường lệnh của Linh mục chẳng có uy lực gì, hai là Chúa Thánh Thần đã biến thành Sa Tăng trong thân thể đứa trẻ nên Linh mục lại phải đuổi Sa Tăng ra khỏi đứa trẻ lần nữa. Điều thứ hai này có thể đúng hơn vì khi lớn lên, đứa trẻ vẫn có thể làm ác, dù rằng mọi hành động, suy nghĩ của đứa trẻ sau này đều được Chúa Thánh Thần chỉ đạo. Khó mà có thể đổ tội cho Sa Tăng được nữa. Mặt khác, đứa trẻ chưa biết nghe. Linh mục nói gì nó có hiểu gì đâu. Nhiều khi đang nói thì nó ị đùn, tè dầm, hay khóc oe oe. Mà có thật là có Sa Tăng trong người đứa trẻ không? Thật tội nghiệp cho một đứa trẻ ngây thơ trong trắng, hồn nhiên, vô tội. Nếu Sa Tăng có thật thì cũng không ở trong đứa trẻ. Theo một nghĩa nào đó, chính Sa Tăng nằm trong Linh mục, người đã tin vào những điều hoang đường của thời bán khai, cưỡng nhét Sa Tăng vào trong đứa bé để rồi có cớ mà đuổi Sa Tăng ra, một quyền lực giả dối tự ban để ngự trị trên đầu óc của đám tín đồ.)

B. Rước vào nhà thờ:

LM đặt dải khăn quàng của ngài trên mình đứa nhỏ, rồi đưa vào nhà thờ Chúa, vừa đi vừa đọc: Con hãy vào nhà Chúa để thông phần sự sống đời đời cùng Chúa Ki Tô.

(Lại sống đời đời. Ai đọc câu trên chẳng được, cứ gì phải Linh mục, một người chỉ có nhiệm vụ học thuộc lòng và nhắc lại những điều "giáo hội dạy rằng", bất kể những điều này vô nghĩa tới đâu.)

C. Trước giếng rửa tội.

- Mọi người cùng đọc Kinh Tin Kính và Lạy Cha.

(Nội dung Kinh Tin Kính ra sao, tôi sẽ luận về Kinh này ở một nơi khác. Đại cương thì Kinh Tin Kính, đặt ra khoảng năm 150, đưa ra những khẳng định về những đức tin chính trong Gia Tô Giáo. Trong thời đại đế Constantine, qua công đồng Nicene năm 325, kinh này được thêm vào vài đoạn nâng Giêsu Kitô lên cùng hàng với Chúa Cha với những lời vô nghĩa như "Thần của Thần, ánh sáng của ánh sáng" (God of God, light of light) v..v.. Kinh này đưa đến một sự mâu thuẫn, bất đồng ý kiến giữa giáo hội miền Đông và giáo hội miền Tây. Đến thế kỷ thứ 7, kinh này lại được thay đổi nữa, dài hơn kinh Tông đồ và kinh Nicene nhiều, trong đó thuyết Chúa Ba Ngôi và nhiều điều hoang đường khác được thêm thắt vào. Kinh này có tên là kinh Tin Kính Athanasius. Vì kinh này dài và lủng củng nên chẳng có mấy ai đọc nó. Anh Giáo thường dùng kinh Nicene làm căn bản và Công Giáo dùng kinh Tông đồ làm căn bản. Trong sách Giáo Lý Công Giáo của Việt Nam chỉ có kinh Tin Kính của Tông đồ chứ không có những kinh Nicene hay Athanasius.

Các tín đồ Gia Tô được dạy phải đọc Kinh Tin Kính hàng ngày để giữ vững đức tin gồm có: tin rằng Thượng đế phép tắc vô cùng, đã dựng nên trời đất; tin rằng Giêsu là con một của Thượng đế; tin rằng do Thánh Linh mà bà Maria đồng trinh mang thai sinh ra Giêsu; tin rằng Giêsu đã chết, xuống ngục tổ tông, nhưng sau ba ngày lại sống lại và bay lên trời lên trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha phép tắc vô cùng; tin rằng Giêsu ngày sau bởi trời lại xuống phán xét kẻ sống và kẻ chết; tin rằng có Hội Thánh hằng có ở khắp thế này; tin ở phép tha tội, và tin xác loài người ngày sau sống lại.

Mọi người lạy Cha nào? Cha trên trời chỉ có một con là Giê-su. Còn Cha trên đời đứng trước mặt mình chỉ là một danh xưng tiếm vị của các linh mục.)

 

- LM lại còn truyền cho quỷ lần nữa phải dứt bỏ đứa nhỏ; để tâm hồn em bé trở nên Đền thờ Chúa hằng sống ngự.

(Nghĩa là quỷ vẫn còn ở trong đứa nhỏ? Nhưng đã hai lần Linh Mục truyền nó phải rút lui nhường chỗ cho Chúa Thánh Thần rồi cơ mà. Hai lần trước thất bại, có gì bảo đảm là lần này ông thành công?)

 

- LM vừa sờ vào tai, lỗ tai của đứa nhỏ vừa đọc: "Ephphêta", nghĩa là: "hãy mở ra" có ý chỉ: hãy mở tâm hồn đón rước Chúa.

(Ô⮧ có vừa sờ vào tai, lỗ tai của đứa nhỏ vừa đọc "Ephêta" thì đứa nhỏ cũng chẳng hiểu Ephêta là cái quái gì. Bố nó còn chẳng hiểu nữa là nó, vừa mới sinh ra chưa biết đọc, biết viết, và chưa hề học cái ngôn ngữ chết (dead language) là tiếng La Tinh, hoặc tiếng Do Thái (Linh mục Joseph McCabe cho biết ông thường đọc Ephetha bằng tiếng Do Thái (Hebrew)). Dù ông có đọc bằng tiếng Việt nó cũng chẳng hiểu. Vậy hành động của ông có tác dụng gì đối với nó? Mà thực ra, ông nhét Chúa vào tâm hồn trong trắng của nó chứ nó đâu có tự nguyện mở tâm hồn để đón rước Chúa đâu?)

 

- LM hỏi: "Con có bỏ Sa tăng không? Có bỏ mọi việc dối trá nó làm không? Người đỡ đầu trả lời thay: Con xin bỏ.

(Ông Linh mục ơi, Ông đã truyền cho Sa Tăng phải bỏ đứa trẻ, đi sang phía Tin Lành hay đi đâu đó (xin đọc tài liệu của Linh mục Joseph McCabe ở phần sau), nhường chỗ cho Chúa Thánh Thần mấy lần rồi? Sa Tăng ở đâu nữa mà ông còn phải hỏi đứa con nít còn khóc oe oe chưa biết nói, chưa hiểu gì, một câu hỏi ngớ ngẩn như vậy? Mà Bố nó trả lời chứ đâu có phải là nó trả lời. Nhỡ nó không muốn bỏ Sa Tăng thì ông làm gì nó? Thực tế ở ngoài đời cho thấy, từ Giáo hoàng trở xuống cho đến tín đồ cùng đinh, trong số này có thể có cả ông nữa, không thiếu gì người khi lớn lên không muốn bỏ Sa Tăng qua những hành động phi luân lý, phi đạo đức của họ)

- LM lấy dầu thánh xức trên ngực và vai đứa nhỏ chỉ rằng nó sẽ có sức mạnh chống nổi Sa tăng.

(Thật hoang đường. Chính ông còn không đủ sức chống Sa Tăng nằm đầy trong Giáo hội, nhất là trong Vatican, làm sao mà chút "dầu Thánh", cái dầu mà chính ông đã xức khi nhỏ, có tác dụng chống Sa Tăng? Ông có biết trong giáo hội của ông có bao nhiêu Giáo hoàng, Hồng Y, Tổng Giám Mục, Giám mục, Linh mục phạm tội giết người, nghiện rượu, đàng điếm trai gái, cưỡng bách tình dục trẻ em, đồng giống luyến ái, bị bệnh AIDS v...v... không? Mặt khác, ông có biết rằng việc làm của ông vô giá trị hay không? Vì Thánh Kinh đã viết rõ, dầu Thánh chỉ để xức cho người Do Thái, không được xức cho người ngoài, xức cho người ngoài là vô hiệu lực (Exodus 30: 22-33). Thỉnh ông hãy đọc lại Thánh Kinh đi )

C. Ở Giếng Rửa Tội:

Ở giếng rửa tội, LM còn bảo người đỡ đầu tuyên xưng đức tin lần nữa.

- LM đổ nước ba lần thành hình thánh giá trên đầu kẻ chịu phép rửa tội, vừa đổ vừa đọc lời rửa tội.

- LM lại xức dầu thánh trên đỉnh đầu đứa nhỏ đã trở nên giáo hữu được dự phần con cái trong gia đình Chúa Kitô.

- LM trao áo trắng cho đứa nhỏ mà nói rằng: Con hãy nhận lấy áo trắng này. Ước gì con sẽ giữ mãi cho tinh truyền, tới ngày ra trước tòa Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta mà lĩnh sự sống đời đời.

(Thánh Kinh viết rằng, Chúa sẽ trở lại trần để lập tòa phán xét nhân loại ngay khi vài môn đồ của Chúa còn sống. Sau đó thì Chúa biệt tăm. Đến nay đã 2000 năm, người ta đã tiên đoán ngày Chúa phán xét bao nhiêu lần rồi, và lần nào cũng sai. Lời hứa "lĩnh sự sống đời đời" trước Tòa Chúa rút cục chỉ là những lời hứa hẹn vô trách nhiệm của giới chăn chiên, lừa dối những tín đồ đầu óc thấp kém, cả tin.)

 

- LM lại trao cho đứa nhỏ cây nến thắp sáng mà bảo:

Con hãy nhận lấy ngọn nến sáng này. Hãy giữ luật Chúa, bảo vệ ân sủng đã nhận khi chịu phép rửa tội. Như vậy, tới ngày Chúa đến ban tiệc cưới đời đời, con sẽ có thể cùng các thánh ra đón rước Người, đi vào triều đình thiên quốc, hưởng phúc đời đời.

Đoạn LM chúc lành bình an cho đứa nhỏ.

(Miễn phê bình)

Bản văn của nghi thức rửa tội đã chứng minh rằng lễ tiết rửa tội vô giá trị vì không có gì chứng tỏ là cái "tội tổ tông" hoang đường đã được rửa sạch, quyền lực của Linh mục chỉ là ngụy tạo để lừa dối tín đồ vì không có gì bảo đảm là Sa Tăng đã rút lui nhường chỗ cho Chúa Thánh Thần trừ phi chúng ta hiểu rằng Sa Tăng và Chúa Thánh Thần tuy hai mà là một, theo như tinh thần bản văn và những thực tế ở ngoài đời. Thật vậy, sách Giáo Lý Công Giáo viết, trang 153:

"Khi chịu phép rửa tội rồi, ta được Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần tới ngự trong tâm hồn. Người giáo hữu trở nên đền thờ Chúa ngự."

Như vậy thì ai chịu trách nhiệm về những hành động xấu xa, ác độc, vô luân v..v.. của một số Giáo hoàng, Giám mục và Linh mục và vô số con chiên sau khi tất cả những người này đã rửa tội và được Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần ngự trong tâm hồn? Đổ tội cho Sa Tăng chăng? Nhưng như vậy thì rõ ràng là cả ba Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần họp lại cũng không chống nổi Sa Tăng, vậy bày đặt ra chuyện "toàn năng" với "cứu rỗi", với "ban cho sự sống đời đời" v...v... làm gì? Có phải chỉ là để lừa dối những kẻ nhẹ dạ, cả tin, không có đầu óc suy luận hay không? Để hiểu rõ hơn về hiệu lực của lễ rửa tội, chúng ta hãy đọc nhận xét sau đây của Linh mục Joseph McCabe, một linh mục có 25 năm trong nghề, và đã làm lễ rửa tội cho không biết bao nhiêu con nít, trong cuốn Sự Thực Về Giáo Hội Gia Tô (The Truth About The Catholic Church), trang 64-65:

"Bí tích rửa tội là để cho các trẻ sơ sinh…vì một lý do rất nghiêm trọng. Mọi hậu duệ của Adam đều mang cái tội của Adam và phải chịu trừng phạt. Mới đầu, người ta tin tưởng rằng, đàn ông, đàn bà, trẻ con nào không được nước rửa tội rửa sạch cái tội tổ tông đó đi thì sẽ bị đầy đọa vĩnh viễn trong hỏa ngục. Niềm tin này thật là quá đáng, ngay cả đối với con người trong thời Trung Cổ, và các nhà Thần học bèn sửa đổi: Ai không rửa tội thì không được lên Thiên đường, Giáo hội bám chặt vào tín điều này. Nhưng những đứa trẻ ngây thơ vô tội không phải xuống hỏa ngục. Chúng bị đầy vào một nơi u ám, cánh tay hiện đại nối dài của hỏa ngục, và có thể sung sướng ở đây, nhưng chúng không bao giờ được "thấy Chúa", hoặc gặp lại cha mẹ chúng.

Do đó, đứa trẻ được mang vội tới nhà thờ chiều ngày Chủ Nhật ngay sau khi sanh. Nếu nó bị cảm lạnh và chết thì cha mẹ không được than khóc. Nó đã đi thẳng lên Thiên đường, nơi tuyệt đối không có tì vết nào… Tuy nhiên, ngày nay nước rửa tội đã được làm ấm, và rồi cái lễ kỳ quặc bắt đầu.

Ông (Linh mục) nhổ vào đầu ngón tay rồi bôi vội lên miệng và mắt đứa bé và nói "Ephetha" (bằng tiếng Do Thái). Ông ta cho ít muối vào miệng đứa bé; đương nhiên nó vùng vẫy chống lại và khóc lên. Ông ta nghiêm trọng ra lệnh cho bất cứ những con quỷ nào trong nó ra khỏi nó và đi đến - bọn Tin Lành hay bất cứ đâu. Rồi ông đổ ít nước, đã được trừ quỷ và ban phép lành rất kỹ, lên đầu đứa bé ( phải hết sức cẩn thận đổ nước lên da đầu chứ không chỉ trên tóc, nếu không đứa bé sẽ không bao giờ được lên Thiên đường); và rồi cái án phạt khủng khiếp treo trên đầu nóvì một nhân vật hoang đường tên là Adam ăn một trái táo hoang đường trong một cái vườn hoang đường dưới triều vua Khammurabi ở Babylon, đã được ân huệ (của Chúa) hủy bỏ…

Thật khó mà có thể thảo luận bí tích số 1 này một cách nghiêm túc. Nhổ nước bọt và quỷ, dầu thánh và nước thánh, đèn cầy thắp sáng và hộp thu tiền, đã đủ hoang đường rồi, nhưng cái nguyên lý chủ yếu của lễ rửa tội này thật là không thể chịu được. Ngay cả ý tưởng đọa đầy tương đối nhẹ những đứa trẻ không rửa tội (vào một nơi u ám, cánh tay nối dài của hỏa ngục như đã viết ở đoạn trên. TCN), với tất cả sự thích hợp với thời đại mới, cũng quá ngu xuẩn để có thể viết lên thành lời. Ngày nay có những học giả Gia Tô coi chuyện Adam và vườn Eden như là "một huyền thoại thích thú". Tuy vậy, bí tích này vẫn là giáo điều xác định rõ ràng và bắt buộc của giáo hội, rằng đứa trẻ nào sinh ra, (trừ Mary - đây chính là nghĩa thực của "thụ thai vô nhiễm") đều phải mang "cái tội của Adam", và phải trải qua những nghi thức kỳ lạ tôi đã mô tả"

"The sacrament of baptism is for infants…For a very serious reson. Every child of Adam has incured the sin of Adam, and must pay the penalty. At first it was drastically held that every man, woman, or child who had not this stain "washed away" in the waters of baptism would burn in hell for ever. That was too much even for medieval human nature, and the theologians made a compromise… The unbaptized cannot enter heaven. The church sticks to that. But the innocent babes do not go to hell. They go into a sort of dim modern extension of the underworld, and may even be happy there, but they will never "see God", or see their parents again.

So the babe is rushed to the church on the first Sunday afternoon after its birth. If it caches a fatal cold, the parents must not grieve. It has gone stright to heaven, absolutely spotless. The water is, however, now warmed, and the weird ceremony proceeds.

You spit on your finger, and daub the babe’s mouth and eyes, and say to it "Ephetha" (in Hebrew). You put some salt into its mouth; which is generally resents in the usual manner and tone. You talk very severely, to whatever devils there may be and bid them to go - to Protestants or anywhere. Then you pour a shell of water, very highly exorcized and blessed, over its head (taking extreme care that it touvhes the skin, not merely the hair, or the babe will never go to heaven); and the dreadful sentence which overhung it, because a legendary being named Adam ate a legendary apple in a legendary garden in the reign of King Khammurabi of Babylon, is mercifully cancelled.

It is difficult to discuss sacrament No. 1 seriously. Spittle and devils, holy oils anf holy water, lighted candles and collecting boxes, are bad enough, but the essential principle of the thing is intolerable. Even the comparative damnation of the unbaptized, with "every modern convenience", is too stupid for words. There are Catholic scholars now who regard Adam and Eden as "a beautiful legend."..Yet it is still the emphatic and obligatory teaching of the Church that every child born (except Mary - that is the real meaning of the "Immaculate Conception") shares "the sin of Adam", and must be put through the extraordinary performance I have described.)

Linh mục McCabe viết những điều trên năm 1942. Ngày nay, có thể một số chi tiết trong những nghi thức rửa tội đã thay đổi, như được viết trong cuốn Giáo Lý Công Giáo. Nhưng tính chất mê tín hoang đường trong những nghi thức rửa tội nằm trong điều "giáo hội dạy rằng" thì vẫn còn nguyên. Đó chính là điều đáng nói. Và sau cùng, học giả Gia Tô Henri Guillemin, trong cuốn Cái Giáo Hội Khốn Nạn (Malheureuse Eise) cũng nhận xét về phép rửa tội trong Gia Tô Giáo như sau:

"Một Giáo hội mà phải dùng đến ảo thuật để thực hiện hai "bí tích chính" của mình (Bí tích rửa tội và bí tích ban thánh thể. TCN) Mới đầu, với một chút nước và vài câu đối thoại khôi hài, giáo hội giật đứa trẻ sơ sinh ra khỏi móng vuốt của con quỷ đã giam cầm đứa bé trong cái "tội tổ tông"…"

(Une Eise qui, pour ses deux "grands sacrements", recourt à la magie. Elee arrache d’abord, avec un peu d’eau et la comédie d’un dialogue, le nouveau-né aux griffes du Démon refermées sur lui par le "péché originel"...)

Trước những tài liệu nêu trên, một của linh mục, và một của một học giả Gia Tô, và trước bản văn mô tả nghi thức "rửa tội" trong sách Giáo Lý Công Giáo của Việt Nam mà tôi vừa bình luận ở trên, các tín đồ Gia Tô Việt Nam ngày nay đứng trước một vấn đề nan giải, vì họ chỉ có thể chấp nhận một trong hai điều sau đây, chứ không thể chấp nhận cùng lúc cả hai. Hai điều này có tính cách loại trừ hỗ tương (mutual exclusive), có điều này thì không thể có điều kia.

Một là tin vào hiệu năng của bí tích rửa tội qua quyền phép ảo thuật của linh mục hay giám mục mô tả trong nghi thức rửa tội. Vậy thì tất cả những tội lỗi của Gia Tô Giáo đối với nhân loại là tội của Chúa ba ngôi, vì sau khi rửa tội, Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần đã tới ngự trong tâm hồn của tín hữu Gia Tô. Người giáo hữu đã trở nên đền thờ nơi Chúa Ngự. Những hành động của các tín đồ Gia Tô, do đó, đều do sự hướng dẫn tâm linh của Chúa Thánh Thần. Vả chăng, giáo hội thường dạy các con chiên: Giáo hoàng là do sự mạc khải linh ứng của Chúa Thánh Thần cho các Hồng Y trong việc tuyển lựa Giáo hoàng, Giáo hoàng được Thánh Linh chỉ đạo, không thể sai lầm về đức tin hay đạo đức, giáo hội là nhiệm thể của Chúa cho nên không thể sai lầm. Nhưng nay giáo hoàng đã công khai xưng thú những tội lỗi mà giáo hội đã phạm dưới sự hướng dẫn tâm linh của Chúa ba ngôi, và xin được tha thứ . Vậy, đúng ra điều này phải được giải thích là giáo hoàng đã đại diện cho Chúa để xin lỗi những nạn nhân của Chúa. Việc ủy ban Thần học của Tòa Thánh Vatican đưa ra luận điệu "xưng tội cùng Chúa" xét ra thậm vô lý vì Chúa là thủ phạm chính. Đầy tớ theo lời dạy của chủ đi làm điều ác, rồi khi bị thế giới lên án, lại đi xưng tội với chủ và xin chủ tha thứ. Trên thế gian này làm gì có chuyện ngược đời như vậy? Những chuyện ngược đời như vậy chỉ có thể tồn tại trong đầu óc của những tín đồ cuồng tín, bất chấp lẽ phải. Thế giới văn minh tiến bộ ngày nay không thể chấp nhận những chuyện vô lý như vậy.

Hai là tin rằng những tội lỗi của giáo hội Gia Tô đối với nhân loại không phải do Chúa chủ mưu, mà chính là do Sa Tăng khuấy khuất. Điều này đưa đến sự vô hiệu của "bí tích" rửa tội, quyền năng đuổi bỏ Sa Tăng của linh mục là quyền giả tạo, vì đã năm lần bảy lượt đuổi Sa Tăng ra khỏi đứa nhỏ để nhường chỗ cho Chúa Thánh Thần mà sau cùng Chúa Thánh Thần vẫn bị đánh bạt ra khỏi con người của đứa nhỏ. Nói tóm lại, dù trong lễ rửa tội, linh mục đã làm đủ mọi cách, trổ hết tài năng quyền phép Chúa trao cho (thực ra đây chỉ là điều giáo hội bịa đặt ra để giới linh mục ngự trị đám tín đồ thấp kém), tội tổ tông vẫn không rửa được, Chúa vẫn thua Sa Tăng, đứa trẻ khi lớn lên vẫn không đủ sức chống nổi Sa Tăng, tâm hồn người được rửa tội vẫn không có Chúa ngự, những ân sủng đã nhận khi chịu phép rửa tội trở thành những bánh vẽ trên trời, và lẽ dĩ nhiên chẳng làm gì có cuộc sống đời đời, cứu cánh chung cùng của phép rửa tội.

Phần chắc là các tín đồ Gia Tô không dám tin rằng chính Chúa là nguồn gốc của mọi tội lỗi trong Gia Tô Giáo. Như vậy thì bí tích "rửa tội" chỉ là trò ma thuật của giáo hội bày đặt ra, dựa theo một tục lệ cổ xưa của những người sống trong miền Trung Đông trong đó có Do Thái, để lừa dối đám tín đồ kém hiểu biết, nhồi sọ tín đồ khiến cho họ tin tưởng rằng linh mục có quyền thay Chúa, thực sự có khả năng rửa sạch cái tội tổ tông hoang đường, cũng như đuổi quỷ Sa Tăng nằm sẵn trong mọi đứa trẻ sơ sinh. Vì như tôi vừa chứng minh ở trên, quyền năng giáo hội ngụy tạo cho giới linh mục không có mảy may hiệu lực khi làm lễ rửa tội cho con chiên. Điều này kéo theo nhiều điều khác, tất cả bí tích trong Gia Tô Giáo đều chỉ là những điều huyễn hoặc thuộc loại mê tín. Thật vậyﬠnếu linh mục chẳng có quyền năng gì trong phép rửa tội, điều này thật là hiển nhiên như đã trình bày ở trên, thì có gì bảo đảm là họ có quyền năng để nhận lời xưng tội và tha tội cho các tín đồ? Hoặc biến chất một mẩu bánh thành thịt của Chúa khi làm lễ ban Thánh thể (Eucharist) để cho tín đồ ăn vào và hiệp thông cùng Chúa? Những quyền phép mà họ tự nhận ở đâu mà ra? Ai cho họ cái quyền đó? Có gì chứng tỏ những quyền phép đó là có thật và có tác dụng thực sự? Chúa cho ư? Cho khi nào? Khi tốt nghiệp chương trình huấn luyện linh mục có tính cách nhồi sọ của giáo hội? Dù Chúa có cho đi chăng nữa thì đó cũng chỉ là những hứa hẹn không thực, vì quyền phép này vô hiệu lực trong phép rửa tội. Đây không phải là nơi bàn về những bí tích trong Gia Tô Giáo. Ở một nơi khác tôi sẽ trình bày thực chất của 7 bí tích chính trong Gia Tô Giáo và chứng minh rằng những bí tích đó được giới tu sĩ Gia Tô bày đặt ra để kiểm soát đầu óc và đời sống của các tín đồ từ lúc sinh ra cho tới lúc chết. Những sự thực này sẽ giải phóng họ ra khỏi những cơn mê muội đã làm cho họ tin vào những điều phi lý, mâu thuẫn, phi lôgic, và phản khoa học.

Qua những tài liệu vừa trích dẫn ở trên và qua sự phân tích về bí tích rửa tội trong Gia Tô Giáo, chúng ta thấy rằng luận điệu "xưng tội cùng Chúa" và "xin Chúa tha thứ" của các nhà Thần học Gia Tô thật ra chỉ để cho những tín đồ thuộc loại bảo sao nghe vậy đọc. Đối với giới hiểu biết trong cũng như ngoài giáo hội, luận điệu này không thể thuyết phục được ai vì nó hoàn toàn phi lý.

Người Gia Tô tin rằng, sau khi được rửa tội, họ chính thức là giáo hữu của "hội Thánh". Họ được nhồi sọ để tin tưởng rằng cái hội Thánh của họ là thánh thiện, thiên khải, cao quý v…v…Nhưng họ sẽ nghĩ sao trước những lời xưng thú tội lỗi vừa qua của giáo hoàng? Họ có tin rằng với vài lời xưng thú tội lỗi và xin được tha thứ là lịch sử đen tối của Gia Tô Giáo trong suốt 2000 năm trở thành trong sạch không còn chút tì vết nào? Họ có tin rằng thế giới sẽ quên đi tất cả những tội lỗi của Gia Tô Giáo đối với nhân loại, hoặc các tác phẩm nghiên cứu về những tội lỗi này sẽ biến mất trên thế gian? Hơn nữa, đi sâu vào mọi vấn đề trong xã hội, ngay cả trong những hoạt động mà giáo hội thường thổi phồng phô trương như mở nhà thương, trường học, viện tế bần, hay các công cuộc từ thiện, chúng ta cũng có thể thấy mặt trái của chúng khác hẳn với những điều giáo hội thường tuyên truyền. Vậy làm sao họ còn có thể hãnh diện về tôn giáo của họ? Hãnh diện về cái gì, so với những tôn giáo khác? Trong lịch sử nhân loại, không có một tín đồ tôn giáo Đông phương nào, ví dụ như Phật Giáo, nhân danh Giáo chủ hay tôn giáo mình đi giết người để truyền đạo. Nếu chỉ vì một chiếc bánh vẽ trên trời (từ của Linh mục Ernie Bringas chỉ Thiên đường: A Pie-in-the sky), hoặc vì một viễn tượng không chắc chắn (từ của giáo sư đại học David Voas chỉ Thiên đường: Paradise is an uncertain prospect at best), mà họ phải nép mình trong một cộng đồng mà tiếng xấu trong mọi lãnh vực không sao xóa sạch được, một cộng đồng mà bản chất chỉ "là một sự giả dối trống rỗng và là một cặp nạng cho những người có đầu óc yếu kém cần đến sức mạnh trong số đông" (theo định nghĩa Ki Tô Giáo của Thống Đốc Tiểu Bang Minnesota Jesse Ventura: Christianity is a sham and a crutch for weak-minded people who need strength in numbers), thì quả thật là tội nghiệp cho họ.

Trở lại vấn đề xưng thú tội lỗi của giáo hội: ngoài việc đổ tội cho "vài con cái" của giáo hội chứ không phải là chính giáo hội phạm tội, và chỉ "xưng tội cùng Chúa", Giáo hoàng còn đưa ra một luận cứ thần học có tính cách lừa dối về ý nghĩa chuộc tội của Giêsu:

"Chúa KiTô, bậc Thánh, tuy tuyệt đối không có tội, nhưng đã bằng lòng gánh những tội lỗi của chúng ta. Người đã bằng lòng hoàn thành sứ mệnh nhận từ Chúa Cha để chuộc tội cho chúng ta."

(Christ, the Saint, although absolutely without sin, agreed to take our sins upon himself. He agreed, in order to redeem us,..to accomplish the mission he received from the father.)

Tiếng nói chính thức của Vatican, L’Osservatore Romano, ngày 15 tháng 3, 2000, cũng đưa ra cùng một luận điệu:

"Đức Ki Tô đã gánh hết những tội lỗi của mọi người, những tội lỗi của chính chúng ta, để qua sự hi sinh cứu chuộc của Người, chúng ta có thể hòa giải với Thần Ki Tô."

(Christ took upon himself the burden of the sins of all people, the burden of our own sins, so that through his saving sacrifice we might be reconciled with God).

Tôi cho đây là những luận điệu thần học méo mó và mơ hồ, vì Giáo hội không giảng rõ những tội trên là tội nào. Nhưng trong khuôn khổ một bản văn liên quan đến hành động xưng thú tội lỗi của Giáo hội, chúng ta phải hiểu rằng đó là những tội mà Giáo hội đang xưng thú. Chúng ta hãy phân tích câu trên trong ánh sáng của lý trí và những sự kiện bất khả phủ bác trong khoa học.

Trước hết, chúng ta thấy ngay rằng, về phương diện luân lý và đạo đức, những câu trên đã khuyến khích con người phạm tội, vì nếu hiểu rằng Chúa đã gánh hết tội lỗi, những tội lỗi thế tục như giết người, cướp của v..v.. của giáo hội và tín đồ từ trước tới nay, thì giáo hội và tín đồ vẫn có thể tiếp tục phạm tội mà không còn phải e ngại điều gì. Thứ đến, nếu "Đức Ki Tô đã gánh hết tội lỗi của mọi người" thì trong "mọi người" này chắc chắn là có tôi. Tuy nhiên, tôi vẫn thắc mắc một điều. Nếu tôi, khi đọc Thánh Kinh, nhận thấy những hành động Chúa Cha cũng như Chúa Con trong đó không đáng để tôi kính trọng, đừng nói đến chuyện tôn thờ, vậy thì Chúa có gánh cái tội đó, nếu có thể gọi là tội, cho tôi không? Hay là Chúa vẫn giữ lập trường trong Tân Ước, Luke 19:27 : "Hãy mang những kẻ thù của Ta ra đây, những người không muốn Ta ngự trị trên họ, và giết chúng ngay trước mặt Ta" (Bring here those enemies of mine who did not want me to reign over them and slay them before me) hoặc sẽ đầy đọa tôi xuống hỏa ngục vĩnh viễn? Tôi nghĩ rằng, theo giáo lý Gia Tô, Chúa chỉ gánh hộ và tha thứ cho những tội thuộc 7 núi tội lỗi của những tín đồ tin Chúa, chứ kkông bao giờ gánh tội và tha thứ cho cái tội tự do tư tưởng, tận dụng lý trí và suy tư của những người ngoại đạo, không tin Chúa.

Thật ra thì Giáo hoàng và ủy ban thần học của ông ta đã chơi trò nhập nhằng, đồng hóa "tội tổ tông" với 7 núi tội mà giáo hội xưng thú để vuốt ve, an ủi, làm yên lòng tín đồ. Đây chính là sự thiếu thẳng thắn của những luận điệu thần học như trên của Gia Tô vì những luận điệu này không phù hợp với vai trò "chuộc tội" của Giêsu mà các nhà thần học đã bày đặt ra để chiêu dụ tín đồ.

Trước hết, chúng ta cần hiểu rõ nghĩa của danh từ "redeem": chuộc. Chuộc có nghĩa là dùng cái gì đó có giá trị để mua lại cái đã mất chứ không phải cái chưa xảy ra. Chúa chết đã 2000 năm nay, không thể "chuộc" những tội của tín đồ mà Chúa không thể biết là những tội đó như thế nào và xảy ra khi nào sau khi Chúa chết. Nếu Chúa thực sự hứa hẹn một cách vô trách nhiệm là sẽ gánh hết những tội lỗi của con người, bất kể đó là những tội nào, theo như lời diễn giải của giáo hội, thì Chúa đã là đồng lõa với tội lỗi, khuyến khích sự phạm tội, nghĩa là nguồn gốc của tội lỗi. Sự thực là, vai trò "cứu chuộc" của Giêsu bắt nguồn từ huyền thoại về sự sáng tạo của Chúa Cha, về sự sa ngã của Adam và Eve được coi như là tổ tông của loài người do đó đã gây ra cái gọi là "tội tổ tông", về cái chết của Giêsu trên giá gỗ hình chữ thập. Trong nhiều thế kỷ, nhiều nhà lãnh đạo Gia Tô đã vật lộn với cái mà họ gọi là "Thần học về cây thập giá" (Theology of the Cross) để cố tìm chất liệu biện minh cho vai trò cứu chuộc của Giêsu: Vì Adam và Eve nghe theo lời xúi bậy của Satan (thực ra chính là lời khuyên tốt để cho họ mở mắt ra, biết rõ phải trái, thoát khỏi cảnh nô lệ ngu đần trí thức) nên đã cưỡng lời Thần Ki Tô, ăn một trái trên cây hiểu biết (the tree of knowledge). Điều này làm cho Thần Ki Tô giận dữ vì như vậy là trí tuệ của con người trở thành ngang với của Thần (thực ra thì trí tuệ con người ngày nay đã vượt xa trí tuệ của Thần như được viết trong Thánh Kinh), cho nên Thần trừng phạt con người từ kiếp này sang kiếp khác cho đến vô tận. (Đây là chuyện của những người trong thời bán khai. Vì, truy nguyên gốc gác của sự sa ngã của Adam và Eve, lỗi về phần Thần chứ không phải là Adam và Eve. Thật vậy, Thần "sáng tạo" ra Adam và Eve theo hình ảnh của Thần và tự khen là tuyệt hảo (very good), nhưng hai người này lại không đủ sức chống lại sự cám dỗ của một con rắn biết nói. Thần là bậc "toàn năng" và "toàn trí", nghĩa là làm gì cũng được và cái gì cũng biết, nhưng Thần lại thản nhiên ngồi nhìn một tác phẩm sáng tạo khác của Thần là Satan, dưới dạng một con rắn, len lỏi vào vườn Eden để cám dỗ Adam và Eve, rồi cứ để yên cho Adam và Eve nghe theo lời khuyên tốt lành của con rắn ăn trái cây trên cây hiểu biết để mở mang trí tuệ, mà không có một hành động nào ngăn cản, tuy Thần đã biết trước việc gì sẽ xảy ra (toàn trí). Ngày nay còn ai tin được những chuyện phi lý như trên không?) Vì cái gọi là "tội tổ tông" trên, hình phạt nặng nhất của Thần dành cho loài người là con người ai cũng phải chết (thực ra thì từ thời ông Bành Tổ, chẳng có ai sống mãi, nên dân Do Thái mới cho rằng đó là hình phạt của Thần mà không biết đến 4 giai đoạn thành, trụ, hoại, diệt của các pháp hữu vi trong đó có con người). Trải qua 4000 năm (theo Thánh Kinh: Thần sáng tạo ra vũ trụ và muôn loài cách đây 6000 năm), Thần không nghĩ gì tới chuyện hòa giải với con người. Cho tới cách đây 2000 năm, Thần mới hóa thân làm Thánh Ma (Holy Ghost), xâm phạm tiết hạnh của một người đàn bà đã có chồng là Maria (trong khi thiếu gì các trinh nữ khác chưa chồng) để sinh ra "con một" của Thần là Giêsu, rồi bắt Giêsu phải chịu cực hình bị đóng đinh trên thập giá, lấy máu "rửa sạch tội lỗi" của con người, tội đã cưỡng lời Thần ăn đại một trái trên cây hiểu biết, để con người có thể được Thần tha tội và hòa giải lại với Thần. Đó chính là nhiệm vụ "cứu chuộc" của Giêsu. Giêsu dùng máu của mình (tương tự như thời xưa con người dùng máu của người hay của loài vật, để làm nguôi cơn giận của các Thần trong dân gian) để chuộc cái "tội tổ tông" của con người và cứu con người khỏi sự trừng phạt của Thần Ki Tô. Do đó, "Giáo hội dạy rằng": người nào tin Giêsu thì sẽ không còn bị luận phạt (nghĩa là bị đày đọa xuống hỏa ngục vĩnh viễn) và sẽ hưởng "sự sống đời đời", lẽ dĩ nhiên là sau khi chết, ở trên một thiên đường mà theo lời tuyên bố của giáo hoàng Gion Pôn Hai gần đây, không ở trên các tầng mây mà chính ở trong tâm con người. Theo thuyết này thì tất cả những người trong những thời đại trước khi Giêsu sinh ra đời, trong đó có cả tổ tiên, họ hàng Giêsu, vì không biết đến một Giêsu sinh sau đẻ muộn để mà tin, nên bị luận phạt hết.

Đó là sơ lược, vô cùng sơ lược, lý thuyết "thần học về cây thập giá" của Gia Tô Giáo. Còn chuyện Giêsu tình nguyện "gánh hết những tội lỗi của mọi người" là chuyện thêm thắt về sau, với mục đích gì, chẳng phải là một thần đồng mới đoán ra nổi.

Chỉ có điều, trong thời buổi này, chẳng còn ai, kể cả nhiều người trong Giáo hội Gia Tô, tin vào những chuyện hoang đường như Giêsu "chuộc tội" và "tội tổ tông". Trọng điểm của Tân Ước là vai trò "chuộc tội" và "cứu rỗi" của Chúa Con, Giêsu. Nhưng vai trò này, như chúng ta đã biết, đặt trên giả thuyết là con người có tội, cần đến một sự "chuộc tội" và "cứu rỗI". Do đó, câu chuyện con người sa ngã, phạm tội với Chúa Cha và bị Chúa Cha nguyền rủa, hành hạ, đày ải, trừng phạt v...v...được đặt ra qua các nhân vật của huyền thoại Adam và Eve như tôi vừa trình bày hết sức sơ lược ở trên. Ông Đỗ Mạnh Tri, một trí thức Gia Tô, trong cuốn Ngón Tay Và Mặt Trăng, đã phủ nhận những lời "mạc khải" không thể sai lầm của Thần Ki Tô trong Cựu Ước, chấp nhận chuyện Adam và Eve ăn trái cấm tạo thành tội tổ tông là một huyền thoại. Theo rõi thời cuộc, chúng ta cũng biết rằng Giáo Hoàng Gion Pôn Hai đã công nhận thuyết vũ trụ sinh ra từ một Big Bang cách đây trên 15 tỷ năm, nghĩa là phủ nhận vai trò sáng tạo ra vũ trụ của Thượng đế cách đây mới 6000 năm, và công nhận thuyết Tiến Hóa của Darwin và những khai triển của thuyết này sau Darwin, nghĩa là phủ nhận huyền thoại "tội tổ tông". Vậy thì, vai trò "chuộc tội" và "cứu rỗi" của Chúa Con có ý nghĩa gì trong thời đại này ngoài việc trở thành một chuyện hoang đường? Tội tổ tông chỉ là một huyền thoại của dân Do Thái, vậy thì ai cần ai "chuộc tội", và ai cần ai "cứu rỗi"? Điều này kéo theo chuyện Chúa Con chịu đóng đinh trên Thập Giá để "chuộc tội" cho nhân loại là chuyện hoang đường nhất trong những chuyện hoang đường. Nói tóm lại, vai trò "chuộc tội" và "cứu rỗi" của Chúa Con, Giêsu, đặt nền tảng trên huyền thoại về các nhân vật Adam và Eve trong cuốn đầu trong Cựu Ưóc, Sáng Thế (Genesis), và cùng sống hay cùng chết với huyền thoại này. Nhưng, trong ánh sáng của khoa học và lý trí, giá trị đích thực của huyền thoại về tội tổ tông trong Cựu Ước đã được chứng minh rằng không hơn giá trị của một mớ huyền thoại khác thuộc lịch sử của dân tộc Do Thái. Cũng vì nhận rõ được tính chất hoang đường, vô hiệu, lỗi thời của "bí tích rửa tội", của vai trò "chuộc tội" và "cứu rỗi" của Giê-su, mà trong cuốn Tại Sao Ki Tô Giáo Phải Thay Đổi Không Thì Chết (Why Christianity Must Change or Die), Giám mục John Shelby Spong đã dành riêng chương 6 để viết về đề tài Giê-su Như Là Đấng Cứu Thế: Một Hình Ảnh Cần Phải Dẹp BỏJesus as Rescuer: An Image That Has To Go). Trong chương này, Giám Mục Spong viết như sau, trang 98-99:

"Nhân loại chúng ta không sống trong tội lỗi. Chúng ta không sinh ra trong tội lỗi. Chúng ta không cần phải rửa sạch cái tì vết tội tổ tông trong lễ rửa tội. Chúng ta không phải là những tạo vật sa ngã, mất đi sự cứu rỗi nếu chúng ta không rửa tội. Do đó, một đấng cứu thế có nhiệm vụ khôi phục tình trạng trước khi sa ngã của chúng ta chỉ là một sự mê tín trước thời Darwin và một sự vô nghĩa sau thời Darwin."

(We human beings do not live in sin. We are not born in sin. We do not need to have the stain of our original sin washed away in baptism. We are not fallen creatures who will lose salvation if we are not baptized... A savior who restores us to our prefallen status is therefore pre-Darwinian superstition and post-Darwinian nonsense.)

Trong cuốn "Thần Vẫn Sống: Từ Sợ Hãi Tôn Giáo Đến Tự Do Tâm Linh" (God Lives: From Religious Fear To Spiritual Freedom, Steven J. Nash Publishing, IL., 1993), trang 114, Linh mục James Kavanaugh cũng đưa ra nhận xét sau đây về tín điều "chuộc tội" trong Gia Tô Giáo:

"Đối với bất cứ người nào trong thế giới cổ xưa đứng trước Thần Ki Tô như là một nạn nhân bất lực, tin rằng mình là một người có tội một cách vô vọng, coi Thần như là một ông quan tòa giận dữ không thể tới gần được, cái chết có tính cách hi sinh của đức Ki Tô là một huyền thoại với đôi chút thực tế. Nhưng đối với con người hiện đại, nó chẳng còn ý nghĩa gì mấy trừ khi hắn đã bị làm cho sợ hãi và tẩy não một cách thích hợp từ khi mới sinh ra đời. Đối với hắn, hắn là một nạn nhân tuyệt đối thụ động của sắc luật của Thần trong Thánh Kinh. Đối với tôi, đó là một huyền thoại "cứu rỗi" thuộc thời sơ khai miêu tả một người cha lấy cái chết của chính con mình để bớt đi cơn giận dữ. Đó là một chuyện ác độc không thể tưởng tượng được…

Tôi chấp nhận sự kiện là đức Ki Tô đã chết, ngay cả chuyện ông ta bị đóng đinh trên thập giá. Nhưng tôi không thể chấp nhận huyền thoại cho rằng cái chết của ông ta là để chuộc tội cho tôi. Huyền thoại cứu rỗi như được viết trong Tân Ước chỉ là một lối diễn giải. Đó là một huyền thoại của thời sơ khai, bản chất của nó tương đương với nhiều huyền thoại cứu rỗi của nhiều dân tộc trong thời sơ khai ở khắp mọi nơi, nhưng nó lại độc ác một cách không tưởng hơn là hầu hết các huyền thoại khác. Nó phản ánh một thế giới mà con người có thể làm nguôi cơn giận của những thần sấm sét trong một cơn giông tố. Ngày nay, chó và mèo vẫn còn sợ sấm sét, nhưng con người thì ngồi yên trong nhà và hiểu rõ cái hiện tượng thiên nhiên đang xảy ra…

Tôi sẽ không chấp nhận cái huyền thoại về một Chúa Cha khắt khe đối xử với chính con của mình, Giêsu, bằng một công lý vô tình cảm, và đòi hỏi con mình phải chết trên thập giá cho những tội lỗi của tôi. Cái huyền thoại này cũng chẳng trở thành hấp dẫn hơn vì Chúa Cha đã làm cho con sống lại, đội mồ mà lên một cách vinh quang. Tôi không thể yêu mến một người cha như vậy hoặc phải biết ơn một người con như vậy trong một câu chuyện mượn từ một câu chuyện truyền tụng của nền thần học Do Thái cổ lỗ và thay đổi nó đi. Tôi không hề yêu cầu Giêsu phải chịu khổ thay cho tôi và ngay cả muốn ông ta làm như vậy…"

(To any man in the ancient world who stood before God as a helpless victim, who believed himself a hopeless sinner, who considered God an unapprochable and angry judge, the sacrificial death of Christ was a myth of some substance. But to modern man, it makes far less sense unless he has been suitably frightened and brainwashed from birth. To him, he is a voiceless victim of God’s decree in the Bible. To me, it is a primitive ‘salvation" myth which portrays an angry father appeased by the death of his own son. It is a tale of unbelievable cruelty…

I accept the fact that Jesus died, even that he was crucified. But I cannot accept the myth that his death was an atonement for my sins. The salvation myth as it appears in the New Testament is an interpretation. It is a primitive myth, in essence parallel to the salvation myths of primitive peoples everywhere, but it is more unbelievable and cruel than most myths. It rings of a world in which man could appease the gods of thunder during a storm. Now cats and dogs are frightened during storms; man stays inside and understands the natural phenomenon that is taking place…

I will not accept this mythical God-the-demanding-Father Who could treat His own son Jesus in unfeeling justice and demand his death on the cross to pay for my sins. Nor is the myth more appealing because He brought His son gloriously from the tomb. I cannot love such a Father or even be grateful for such a son in this borrowed and modified tale of archaic semitic theology. I did not ask him to suffer for me or even want him to..)

Những nhận định như trên của Giám mục Spong và Linh mục Kavanaugh cho chúng ta thấy trí tuệ của con người trong thời đại này không còn tin vào những điều hoang đường, phi lý trong Gia Tô Giáo nữa, ít ra là trong giới trí thức hiểu biết, ở trong cũng như ở ngoài giáo hội. Tuy nhiên, điều đáng nói là, không phải là giáo hội không biết đến những sự kiện này, mà vì những quyền lợi thế tục về quyền lực cũng như về kinh tế, giáo hội vẫn tiếp tục lùa đám giáo dân thấp kém vào những ốc đảo ngu dốt (từ của linh mục Trần Tam Tĩnh), bưng bít và dấu kín mọi tiến bộ của con người. Tín đồ Gia Tô quả là những người đáng thương chứ không đáng trách. Họ bị nhào nặn từ nhỏ để tin vào những điều không còn giá trị gì trong thế giới tiến bộ vì chúng cực kỳ phi lý, phản khoa học, chỉ phù hợp với đầu óc của những tín đồ Aⵠchâu trong thời Trung Cổ. Cho nên, theo tôi, mọi người chúng ta cần phải nỗ lực giải hoặc cho họ, giúp họ theo kịp đà tiến bộ của nhân loại, giúp họ biết rõ sự thật về bản chất của tôn giáo họ, để từ đó họ có thể tự mình giải thoát ra khỏi mớ xiềng xích tâm linh vô hình. Trong thế giới Tây phương, không thiếu gì những bậc lãnh đạo Gia Tô, từ những nhà Thần học, các hồng y, giám mục, linh mục, cho đến các học giả trí thức v..v.. đã làm công việc này. Chính vì vậy mà giáo hội đã phải đi đến quyết định xưng thú tội lỗi và xin được tha thứ.

Trên đây tôi đã phân tích vấn đề giáo hoàng đại diện cho Gia Tô Giáo xưng thú tội lỗi của Gia Tô Giáo đối với nhân loại và xin được tha thứ. Tôi đã chứng minh rằng, những tội lỗi của Gia Tô Giáo bắt nguồn từ Thánh Kinh. Cùng lúc, tôi cũng đã chứng minh rằng, những quyền phép có tính cách ảo thuật của các giới chăn chiên trong Gia Tô Giáo, từ giáo hoàng trở xuống tới các linh mục mà nền Thần học Gia Tô đã nhồi vào đầu óc đám tín đồ thấp kém, xét trong ánh sáng của lôgic, khoa học và thực tế, đều chỉ là ngụy tạo. Thực tế là, từ giáo hoàng trở xuống cho tới các linh mục, không ai có thể là đại diện của Chúa trên trần, để nắm giữ chìa khóa Thiên đường, có quyền tuyệt thông tín đồ, có khả năng đuổi quỷ Sa Tăng hoang đường ra khỏi con người, hay biến chất mẩu bánh thành thịt Chúa v..v.., vì lịch sử đã chứng tỏ, trong số các giáo hoàng và các hồng y, giám mục, linh mục từ xưa tới nay, không thiếu những kẻ dâm loạn, sát nhân, trí tuệ thấp kém, vô đạo đức, và tất cả những bí tích của giáo hội đưa ra để kiểm soát đầu óc tín đồ đều thuộc loại mê tín, không có một căn bản thuyết phục nào trước trình độ hiểu biết của con người hiện nay. Nhưng vấn đề cần bàn đến là, sau hành động xưng thú tội lỗi và xin được tha thứ này, giáo hội sẽ có đường hướng hoạt động như thế nào.

Chắc chắn là không phải giáo hội chỉ cần đưa ra vài lời "xưng thú tội lỗi" và "xin được tha thứ" suông, và coi như vậy là xong, là ký ức đã được thanh tẩy, là mọi tội lỗi đã được Chúa gánh hộ hết rồi. Thế giới không bao giờ chấp nhận điều này. Điều quan trọng và thực tế nhất là, Giáo hội phải chứng tỏ cho thế giới, qua những hành động thực tiễn điển hình, là Giáo hội đã thành thực sám hối, ăn năn tội lỗi. Để chứng tỏ thành tâm trong việc này, giáo hội cần công bố và phổ biến rộng rãi trước thế giới, và nhất là trong mọi giáo hội địa phương, trong mọi giáo xứ, từ thành thị đến thôn quê, trong mọi quốc gia, một đường hướng mới, đoan quyết không bao giờ tái phạm những tội lỗi Giáo hội đã phạm trong quá khứ. Mặt khác, với một tài sản của Giáo hội lên đến hàng ngàn tỷ đô la, Giáo hội có nghĩ đến sự đền bù phần nào những sự tác hại mà giáo hội gây ra hay không?

Lịch sử đã chứng tỏ rằng, thế giới không thể tin vào những lời Giáo hội nói mà cần phải nhìn kỹ vào những gì Giáo hội làm. Do đó, thế giới sẽ luôn luôn quan sát những hoạt động trong tương lai của giáo hội. Á Châu là lục địa cần phải đề cao cảnh giác và kiểm soát cẩn thận, coi chừng thật kỹ những hoạt động này, vì gần đây giáo hoàng đã nói rằng:

"Cải đạo là một nhân quyền. Cũng như cây thập giá đã cắm chắc trên đất của Aⵠchâu trong thiên niên kỷ thứ nhất, và ở Mỹ Châu và Phi châu trong thiên niên kỷ thứ hai, thiên niên Ki Tô thứ ba có thể sẽ được mùa lớn về đức tin ở trên lục địa rộng lớn và cốt yếu này." (The pope said that religious conversion is a human right. "Just as the 1st millenium saw the cross firmly planted in the soil of Europe, and, the 2nd, in America and Africa, so may the 3rd christian millenium witness a great harvest of faith on this vast and vital continent," the pope said.)

Giáo hoàng nói vậy vì hiện nay Gia Tô Giáo đang xuống dốc một cách thê thảm ở phương trời Aⵍ Châu, cái nôi của Gia Tô Giáo trước đây, và ở cả Mỹ Châu và Phi Châu,. Tại sao Gia Tô Giáo lại có tình trạng suy thoái như vậy? Câu ngắn gọn sau đây trong cuốn Missionaries, một cuốn sách nghiên cứu về những thành quả truyền giáo của Ki Tô Giáo trên khắp thế giới, đi kèm với một chương trình TV 6 kỳ của đài BBC, có thể cho chúng ta rõ một trong nhiều nguyên nhân xuống dốc của Gia Tô Giáo:

"Đòi hỏi những người AⵠChâu tin vào thế giới của Thần Ki Tô và Satan có vẻ như là đòi hỏi họ phải từ bỏ sự thông minh của chính mình. Quan trọng hơn nữa, những lợi khí của thương vụ thừa sai: củ cà rốt "cứu rỗi" và cây gậy "đày đọa vĩnh viễn" đã mất đi hiệu lực đe dọa rồi."

(Asking the Europeans to believe in a world of God and Satan, seems to be asking them to deny their own intelligence. More importantly, the tools of the missionaries’ trade, the carrot and stick of salvation and damnation, have lost the power to frighten.)

Câu trên có nghĩa là, trong thời đại này, trí tuệ con người đã tiến bộ, những người có đôi chút đầu óc đều không còn tin vào những chuyện hoang đường cổ xưa như "cứu rỗi" (tội ở đâu mà cứu rỗi?) và "đày đọa vĩnh viễn" (hỏa ngục ở đâu mà đày đọa?). Ngay chính Gion Pôn Hai cũng phải thú nhận là không làm gì có chỗ nào là hỏa ngục để mà đày đọa những người không tin Chúa, Giám mục Spong coi chuyện "tội tổ tông" với chuyện "cứu rỗi" là chuyện mê tín của thời trước Darwin, và linh mục Kavanaugh nói thẳng là ông không khiến và cũng không muốn Giêsu leo lên thập giá chịu khổ thay cho mình hoặc chuộc tội cho mình. Những tư tưởng khai phóng trên hiển nhiên đã soi sáng cho con người thoát ra khỏi sự tối tăm của những tín lý đã lỗi thời. Bất hạnh thay, đa số giáo dân Gia Tô thấp kém trên thế giới, nhất là giáo dân Việt Nam, kể cả một số trí thức Gia Tô Việt Nam, không hề biết đến những sự tiến bộ trí thức ngay trong tôn giáo của họ, cho nên vẫn còn bám chặt vào những điều hoang đường chỉ có giá trị phần nào trong thời bán khai.

Để bù đắp phần nào sự hao hụt tín đồ ở những nước văn minh tiến bộ AⵠMỹ và ở những nước đang thức tỉnh ở Phi Châu, Giáo hội Gia Tô, qua lời tuyên bố của Giáo hoàng ở trên, đang có sách lược truyền giáo sang các nước kém mở mang ở Á Châu. Truyền Giáo là sự phát triển tự nhiên của mọi tôn giáo. Tôn giáo nào cũng mong muốn đạo mình có thêm tín đồ. Nhưng phương cách truyền giáo là cả một vấn đề và thường phản ánh bản chất của tôn giáo đó. Chúng ta không nên quên 7 núi tội lỗi mà giáo hoàng vừa xưng thú, những tội lỗi trải dài suốt 2000 năm và ở mọi nơi Gia Tô Giáo mang cây thập giá tới. Chúng ta cũng không nên quên Gia Tô Giáo đã giữ một vai trò then chốt quyết định trong việc đưa Việt Nam vào vòng nô lệ của Pháp. Lịch sử đã chứng minh: Sách lược truyền giáo của Gia Tô La Mã Giáo là một sách lược chủ trương xóa bỏ mọi nền văn hóa phi Ki-Tô, dùng bạo lực thắng công lý, dùng gian xảo, dối trá để lừa dối dân gian, dùng bả vật chất và mê tín dị đoan để chiêu dụ và giữ tín đồ, dùng những phép lạ ngụy tạo để huyễn hoặc làm mê mẩn đầu óc tín đồ v..v.. Một sắc thái đặc biệt nhất của Gia Tô Giáo là, bất cứ tôn giáo này truyền tới đâu là ở đó xảy ra những cảnh hỗn loạn, thù nghịch, chia rẽ v…v… trong gia đình, trong xã hội, đúng như lời khẳng định của Chúa Giê-su trong Thánh Kinh, Matthew 10: 34-36:

"Chúa Ki Tô Mang Đến Sự Chia Rẽ:

Đừng nghĩ rằng ta xuống trần để mang lại hòa bình trên trái đất. Ta không xuống đây để mang lại hòa bình mà là gươm giáo.

Vì ta xuống đây để làm cho con trai chống đối cha, con gái chống đối mẹ, và con dâu chống đối mẹ chồng.

Và những kẻ thù của một người thì ở ngay trong nhà hắn."

(Christ Brings Division:

Do not think that I came to bring peace on earth. I did not come to bring peace but a sword.

For I have come to set a man against his father, a daughter against her mother, and a daughter-in-law against her mother-in-law.

And a man’s foes will be those of his own household.)

Lịch sử thế giới đã ghi rõ điều này, và kinh nghiệm cay đắng của Việt Nam đối diện với sự xâm nhập của Gia Tô Giáo còn ghi rõ trong sử sách. Ở đây, sách lược truyền giáo của đạo Gia Tô đã đưa tới những cảnh bất hòa trong những gia đình nào có người bỏ tôn giáo truyền thống của gia đình, của dân tộc, để tin theo những lời dụ dỗ huyền hoặc của Gia Tô Giáo, từ bỏ không còn tôn trọng những lễ tiết truyền thống trong gia đình. Gia Tô Giáo cũng đưa tới những cảnh Lương Giáo nghi kỵ, thù nghịch, tàn sát lẫn nhau như lịch sử đã chứng tỏ. Chính Linh mục Lương Kim Định cũng phải thú nhận rằng, Cẩm Nang Triết Việt, trang 57:

"Sự truyền đạo Thiên Chúa vào Việt Nam…đưa đến sự chia khối dân tộc đang thống nhất thành hai phe Lương Giáo làm cho sự liên lạc giữa đôi bên trở nên nhức nhối đầy e dè nghi kỵ. Đấy là một tai nạn lịch sử mà thời gian tuy có làm giảm đi, nhưng xem ra không sao xóa sạch được"

Vì vậy, hơn ai hết, người Việt Nam cần phải đề cao cảnh giác trước âm mưu truyền giáo sang Á Châu của Vatican. Chúng ta cần phải phân biệt rõ ràng quyền tự do tôn giáo của con người và quyền tự do truyền đạo bằng những phương cách có tính cách xúc phạm đến mọi nền văn hóa phi-GiaTô của Gia Tô Giáo như Giáo hội đã thú nhận. Chúng ta cũng cần phải ý thức được rằng, Ki Tô Giáo nói chung, Gia Tô Giáo nói riêng, đang lạm dụng và núp sau chiêu bài "Nhân quyền" và dựa vào ưu thế kinh tế và quân sự của các cường quốc AⵠMỹ để truyền đạo trong những quốc gia mà họ có thể ép được. Họ không dám đụng tới khối Hồi Giáo hay Do Thái, những khối tuyệt đối không nhân nhượng về vấn đề tự do truyền đạo. Họ cũng không dám đụng tới Trung quốc, một quốc gia vĩ đại với gần một tỷ rưỡi dân, có tiềm lực kinh tế và quân sự không thể coi thường, và có một chính sách rõ rệt để ngăn chận và kiểm soát sự tự do truyền giáo. Nhưng họ lại khai thác sự yếu kém kinh tế của các nước nhỏ ở Á đông và tính dễ dãi của những dân tộc trong vùng này, trong đó có Việt Nam, để thực hiện ảo vọng Ki Tô hóa các quốc gia này. Chính quyền Việt Nam cần phải ý thức được cái hiểm họa Ki Tô nếu không muốn truyền thống dân tộc và văn hóa của Việt Nam bị xóa sạch trong tương lai, rơi vào vòng nô lệ Vatican.

Ngoài ra, để đối phó với sách lược đang được thi hành hiện nay của Gia Tô: dùng bọn người trí thức nô lệ mất gốc, đưa ra những tác phẩm xuyên tạc lịch sử, văn hóa Việt Nam, nhất là lịch sử và văn hóa Phật Giáo, hoặc đánh đồng khập khiễng vài nét văn hóa Việt Nam hoặc Phật Giáo với nền văn hóa Ki Tô, ngụy trang đằng sau những chiêu bài như "Thần học Ki Tô Giáo theo cung cách Á Châu", hoặc "quay về với truyền thống dân tộc, hội nhập văn hóa dân tộc", nhưng vẫn khăng khăng bám chặt vào "chân lý về Chúa KiTô đấng trung gian duy nhất, vẫn là và sẽ mãi mãi là một tín điều, và không thể chấp nhận sự giàn xếp hay dung hòa (compromis) nào cả", chính quyền và người dân Việt Nam cần ý thức được tầm quan trọng của sự mở mang dân trí.

Thật vậy, nữ học giả Gia Tô Joane H. Meehl, sau khi đã nhìn thấy rõ chủ đích và những việc làm của giáo hội Gia Tô từ thế kỷ 4 cho tới ngày nay, đã viết trong cuốn Người Tín Đồ Gia Tô Tỉnh Ngộ (The Recovering Catholic, Prometheus Book, 1995), trang 288:

"Đạo Gia Tô chỉ thịnh hành và phát triển trong đám người nghèo và ngu dốt. Nó chỉ bị khắc phục bởi giáo dục (mở mang dân trí. TCN) và đời sống kinh tế thoải mái."

(Catholicism thrives and grows among the poor and ignorant. It is overcome by education and economic well-being.)

Điều này đã xảy ra trong những nước văn minh tiến bộ AⵠMỹ trong đó đời sống vật chất của con người tương đối cao, và những tác phẩm nghiên cứu nghiêm chỉnh về tôn giáo của những người có uy tín trong giới trí thức như lãnh tụ tôn giáo, học giả, chuyên gia, giáo sư đại học v..v.. được phổ biến rộng rãi trong quần chúng. Đừng bao giờ nên e ngại trước những sự phản đối vô căn cứ, lên án việc mở mang dân trí là chống tôn giáo hay chia rẽ tôn giáo. Sự hòa hợp giữa những khối dân có tín ngưỡng khác nhau trong những quốc gia tân tiến AⵠMỹ, nơi đây các tác phẩm nghiên cứu về tôn giáo được phổ biến tự do và rộng rãi, là một bằng chứng rõ rệt nhất về lợi ích của việc mở mang dân trí để cho người dân biết rõ sự thật về các tôn giáo trong xã hội.

Ngoài ra, tuyệt đại đa số người dân Việt Nam, nhất là các Phật tử, cũng cần phải biết đến vài điều khác biệt căn bản giữa hai tôn giáo lớn tại Việt Nam, Phật Giáo và Gia Tô Giáo. Hi vọng những điều này sẽ giúp cho người dân ít nhiều vốn liếng trong bất cứ một cuộc đối thoại nào với các tín đồ Gia Tô, hoặc trước những lời tuyên truyền giả dối của Gia Tô Giáo.

Thứ nhất, lịch sử truyền giáo của đạo Phật, một tôn giáo có trước Gia Tô Giáo hơn 500 năm, đã cho thế giới thấy, Phật Giáo là một tôn giáo hòa bình, không hề làm đổ một giọt máu trong quá trình truyền giáo và phát triển trong suốt hơn 2500 năm nay. Trái lại, lịch sử truyền giáo của Gia Tô Giáo trên thế giới đã chứng tỏ rằng Gia Tô Giáo là một tôn giáo hiếu chiến, sắt máu, tàn bạo v..v.., và trong quá trình truyền giáo qua 16 thế kỷ, từ thời Constantine, đã làm cho máu nhiều triệu người vô tội chảy thành sông, xương chất thành núi. Đây chính là lý do khiến cho giáo hội Gia Tô ngày nay phải công khai xưng thú 7 núi tội lỗi và xin được tha thứ. Nhưng dù giáo hội có làm gì đi chăng nữa thì núi xương sông máu này cũng vẫn muôn đời tồn tại trên bờ vai lương tâm của giáo hội và của những tín đồ còn đôi chút lương tri và đầu óc suy tư.

Thứ nhì, Kinh Luận Phật Giáo gồm thiên Kinh vạn quyển, số lượng nhiều gấp bội Thánh Kinh. Nguyên bộ Đại Phẩm Bát Nhã do ngài Huyền Trang dịch sang tiếng Hán đã gồm 600 quyển. Nhưng chúng ta không hề thấy trong rừng kinh điển Phật Giáo bất cứ một lời nói nào hay một hành động nào của Đức Phật, hay của các đệ tử Phật, trái với những tiêu chuẩn luân lý và đạo đức của con người xưa cũng như nay. Trái lại, trong Thánh Kinh chúng ta thấy vô số những chuyện ác độc, thương luân, bại lý, không của Chúa Cha thì cũng của Chúa Con, hoặc của các bậc được gọi là Thánh trong Ki Tô Giáo, cùng những chuyện dâm ô, loạn luân, thù hận, giết người tập thể v…v… Cũng vì vậy, càng đi vào Kinh điển Phật Giáo chúng ta càng thấy chân trời của chúng ta mở rộng, càng thấy những tư tưởng Phật Giáo quả là siêu việt, vượt thời gian và không gian. Đây chính là lý do Phật Giáo đang phát triển mạnh trong thế giới, trong những nền văn minh Aⵍ Mỹ, nhất là trong giới trí thức. Trái lại, càng đi sâu vào Thánh Kinh, chúng ta càng khám phá ra nhiều điều sai lầm, về thần học cũng như về khoa học, ngoài những điều không thể chấp nhận được vì chúng đối nghịch hẳn với những tiêu chuẩn luân lý đạo đức của con người ngày nay. Đây chính là lý do làm cho Gia Tô Giáo suy thoái khắp nơi trên thế giới.

Thứ ba, Phật giáo và Gia Tô Giáo đều là tôn giáo ngoại lai, theo nghĩa từ ngoài du nhập vào Việt Nam. Tuy nhiên bản chất của sự du nhập và ứng dụng của mỗi tôn giáo vào trong xã hội Việt Nam hoàn toàn khác nhau và đối ngược hẳn nhau.

Phật giáo đi vào dân tộc Việt Nam qua giới trí thức bằng con đường tận dụng khả năng suy tư của con người, con đường phát triển trí tuệ, tự lực tự cường, không có những giáo điều khô cứng, không có những hứa hẹn hão huyền có tác dụng ru ngủ dân chúng, và nhất là không chống lại những truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam. Với những giáo lý nhân bản, lấy con người làm gốc, phục vụ con người ngay trong đời sống này, lấy trí tuệ làm căn bản, và qua những triết thuyết cao siêu, phù hợp với tinh thần khoa học, Phật Giáo đã đáp ứng được những đòi hỏi suy luận trí thức của giới có học. Từ giới trí thức, tinh thần Phật Giáo được phát huy qua những giáo lý hòa bình, bao dung, bình đẳng, giản dị, đạo đức, từ bi v..v.. cho nên Phật Giáo đã lan xuống mọi giới bình dân, ít học trong xã hội Việt Nam. Từ đó, Phật Giáo đã hội nhập trong dân gian, để tạo nên một tinh thần Phật Giáo dính liền với tinh thần yêu nước cao độ cố hữu của người dân Việt Nam. Phật Giáo chưa bao giờ phản bội dân tộc, liên kết với kẻ ngoại xâm chống lại tổ quốc. Phật Giáo Việt Nam chưa bao giờ nhận lệnh của bất cứ chức sắc ngoại quốc nào, lệ thuộc bất cứ một tổ chức tôn giáo hay chính trị quốc tế nào. Do đó, ảnh hưởng của Phật Giáo trên nền văn hóa dân tộc thực là sâu đậm, sâu đậm đến độ người ta không còn phân biệt được đâu là văn hóa Phật Giáo và đâu là văn hóa dân tộc. Đây là những sự kiện lịch sử không ai có thể phủ bác.

Trái lại, Gia Tô Giáo du nhập vào Việt Nam qua giới cùng đinh thất học bằng những phương pháp truyền đạo xảo quyệt, xuyên tạc sự thật, và mạ lỵ, xâm phạm tới toàn bộ tín ngưỡng, đạo đức và cấu trúc văn hóa của xã hội Việt Nam. Ngoài ra nhiều thừa sai Gia Tô còn trắng trợn can thiệp vào chính trị nội bộ của Việt Nam và trong nhiều trường hợp đã xúi dục nội loạn và gây nên sự chia rẽ, bất hòa trong xã hội Việt Nam. Họ ru ngủ đám tín đồ thấp kém bằng những điều mê tín hoang đường, bằng một đức tin vào những giáo điều tín lý khô cứng, phi lôgic, phản khoa học, bằng những hứa hẹn vô trách nhiệm vào một niềm tin "xác chết ngày sau sống lại" để có "sự sống đời đời", do sự "cứu rỗi" của một Thiên Chúa đã chết trên cây thập giá cách đây 2000 năm và chưa bao giờ xuất hiện để cứu bất cứ ai v..v... Những giáo sĩ thừa sai đầu tiên có ảnh hưởng trong việc truyền đạo không phải là những nhà tu hành đạo đức mà là những tên gián điệp như Alexandre de Rhodes, Francois Pallu, Lambert de la Motte v..v.., hoặc những tên lính đánh thuê như Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc), hoặc những tên thực dân như Retord (thầy của Trần Lục), Gauthier (thầy của Nguyễn Trường Tộ), Puginier, Huc, Pellerin v..v.. Nhưng bất hạnh nhất cho Việt Nam là nền đạo lý Gia Tô đã thành công trong việc đào tạo được một lớp tín đồ trong những giới thấp kém nhất của xã hội Việt Nam (từ của Toàn quyền Đông Dương de Lanessan: the lowest classes), sẵn sàng phản bội dân tộc, tiếp tay với thực dân Pháp vì một cái bánh vẽ trên trời cho riêng mình. Lời thú nhận của giám mục Puginier "Không có các thừa sai và giáo dân Ki Tô Giáo thì người Pháp cũng giống như những con cua đã bị bẻ gãy hết càng" về vai trò quyết định của giáo dân Việt Nam trong sự hỗ trợ đoàn quân xâm lăng của Pháp là một bằng chứng. Sự kiện linh mục "Trần Lục mang 5000 giáo dân đến hỗ trợ quân Pháp để hạ chiến khu kháng chiến Ba Đình" là một bằng chứng khác. (Xin đọc chi tiết những sự kiện trên trong cuốn Công Giáo Chính Sử, chương VIII.) Bản chất của Giáo hội Gia Tô Việt Nam chỉ là một mớ tín đồ hạng hai. Gia Tô giáo vào Việt Nam từ 1533 nhưng 400 năm sau (1933) mới có một giám mục đầu tiên (Nguyễn Bá Tòng). Nhưng tệ hơn cả là Giáo hội này hoàn toàn lệ thuộc Vatican bất kể là những quyết định của Vatican xâm phạm đến chủ quyền dân tộc và xúc phạm đến nền văn hóa của Việt Nam tới đâu. Lịch sử cho thấy quyền lợi của Vatican luôn luôn đối nghịch với quyền lợi của Việt Nam. Chừng nào mà tinh thần nô lệ này còn tồn tại, thì chừng đó người dân Việt Nam vẫn còn phải lưu tâm đề phòng lịch sử tái diễn.

Nhận định sau đây của học giả Gia Tô Joseph L. Daleiden trong cuốn The Final Superstition có thể nói lên phần nào sự khác biệt giữa Phật Giáo và Gia Tô Giáo:

"Những lời giới thiệu hay nhất về Phật Giáo là…cái hệ thống tín ngưỡng này đã tồn tại suốt 25 thế kỷ mà không hề có lấy một cuộc Thánh chiến, một Tòa Axử Dị Giáo, hay một toan tính đế quốc nào (những sản phẩm đặc thù Gia Tô. TCN) để đi xâm lăng và hủy diệt văn hóa của một dân tộc khác."

(The best recommendations for Buddhism is that this belief system has existed for 25 centuries without a single Crusade, Inquisition, or imperialist attempt to invade and destroy the culture of another people.)

Giáo hoàng Gia Tô đã long trọng "xưng thú 7 núi tội lỗi" của Gia Tô Giáo và "xin được tha thứ". Vấn đề là chúng ta có thể tin được những lời "xưng tội trống với Thiên Chúa và với đồng loại" này là thành thật với thực tâm thống hối, ăn năn, và sửa đổi? Chúng ta có thể mượn lời của Tổng Thống Mỹ Ronald Reagan trước đây: "tin, nhưng phải kiểm chứng" (Trust, but verified), nghĩa là tin một cách hết sức dè dặt và phải thường xuyên kiểm chứng xem lời nói của giáo hội Gia Tô có đi đôi với việc làm hay không. Việt Nam đã có nhiều kinh nghiệm với những đòn phép của Vatican. Việt Nam không thể không dè dặt khi đối diện với một thế lực quốc tế đã có 2000 năm kinh nghiệm trong những thủ đoạn thần học, chính trị, xã hội, kinh tế v..v.. để lạc dẫn tín đồ vào con đường mê muội, tuyệt đối tuân phục và theo lệnh của một thế lực thế tục ngoại quốc núp sau cái vỏ tôn giáo. Với một tổ chức vô cùng chặt chẽ, với một tài sản lên tới hàng ngàn tỷ đô la, với đa số tín đồ thấp kém cuồng tín tạo thành một lực lượng hậu thuẫn khó lường, với những phương tiện truyền thông bao trùm mọi lãnh vực v..v.., không có một quốc gia nào có thể coi thường thế lực của Vatican. Tuy nhiên, trước sự tiến bộ trí thức của nhân loại, và vì thanh gươm (để giết người) và bó củi (để thiêu sống người) đã bị tước khỏi bàn tay đẫm máu của giáo hội Gia Tô, ngày nay, Vatican không còn khả năng để khuynh loát những thế lực tôn giáo đối nghịch với Gia Tô Giáo. Những biện pháp quyết liệt của Trung Quốc, Việt Nam, AᮠĐộ, Thái Lan v..v.. và của các khối Hồi Giáo, Do Thái Giáo, Chính Thống Giáo, Tin Lành Giáo đối với vấn nạn Gia Tô đã có thể ngăn chận và giảm thiểu âm mưu thống trị tôn giáo của Vatican trên hoàn cầu.

Những biện pháp ngăn chận này thực ra rất hợp lý và chính đáng. Tại sao? Vì trong một bài diễn văn đọc tại Maribor, Slovenia, ngày 19 tháng 5, 1996, giáo hoàng Gia Tô Gion Pôn Hai đã kêu gọi các quốc gia phải bảo tồn nền văn hóa dân tộc, nguyên văn như sau:

"Các quốc gia phải gìn giữ nền văn hóa của họ như là một biểu thị của phẩm cách quốc gia"

(Countries must preserve their culture as an expression of national dignity).

Giáo hoàng thừa biết rằng, nền văn hóa Á đông nói chung, Việt Nam nói riêng, tuyệt đối không tương hợp (incompatible) với nền văn hóa Gia Tô của Tây phương. Vậy có cách nào mà sách lược truyền đạo của Gia Tô Giáo sang Á châu không đụng chạm tới những nền văn hóa dân tộc của các nước Á Châu? Thật vậy, như trên đã nói, nền văn hóa Việt Nam cũng là nền văn hóa Phật Giáo. Phật Giáo, một tôn giáo nhân bản, không chấp nhận huyền thoại sáng tạo của Gia Tô Giáo, một huyền thoại mà tuyệt đại đa số người dân trên thế giới đã dứt khoát bác bỏ, vì huyền thoại này không còn một căn bản thuyết phục nào trước những bằng chứng tràn ngập trong khoa học về sự sinh ra của vũ trụ, tuổi của vũ trụ, và sự xuất hiện của loài người trong định luật tiến hóa. Tất cả những bằng chứng này đều trái ngược với những điều hoang đường phi thực tế, phản khoa học ở trong Thánh Kinh. Mặt khác, Gia Tô Giáo là một tôn giáo thờ một vị Thần do con người thời tiền sử tưởng tượng ra, và cho như vậy là có giá trị nhất, mọi tôn giáo khác chỉ có giá trị nếu quy phục vị Thần Gia Tô đó. Do đó, với chủ trương độc tôn này, thực chất của sách lược truyền đạo sang Á Châu là một cuộc xâm lăng văn hóa. Để gìn giữ phẩm cách quốc gia, Á châu nói chung, Việt Nam nói riêng, phải có bổn phận bảo vệ nền văn hóa của mình. Giáo hoàng không thể nói một đàng: khuyên mọi quốc gia phải gìn giữ nền văn hóa của họ, rồi làm một nẻo: mưu toan xâm lăng và dẹp bỏ các nền văn hóa phi Gia Tô của họ ở Á Châu . Cho nên, Giáo hoàng, hoặc bất cứ thế lực tôn giáo cũng như thế tục nào khác, đều không thể lên án những biện pháp ngăn chận sự truyền đạo của Gia Tô Giáo ở Á Châu ngày nay là vi phạm nhân quyền, hay vi phạm tự do tôn giáo.

Mong rằng Việt Nam giữ vững lập trường trong chính sách đối ngoại này ngõ hầu có thể tránh cho Việt Nam một hiểm họa mà hậu quả không sao lường được.

Trần Chung Ngọc
Phật Lịch 2544
Thường Lịch 2000

  home.gif (583 bytes) top.gif (471 bytes)


© Giao Điểm. Bài vở đóng góp, thư từ và ngân phiếu xin gởi về: Giao Điểm, PO. Box 2188 Garden Grove, CA.92842, USA. Bài đã đánh vi tính, xin gởi attachment về email: hoa63@hotmail.com
. ..........