Thứ Ba, 30, tháng Năm, 2017
 
 
 
 
Đọc "The Long Road Home..." của Nguyễn Bá Chung
Phùng Nguyễn
đăng ngày 20/05/2007
 
  
biên tập / non-fiction - nhận định
Tác giả: Hoàng Ngọc-Tuấn   

Đọc "The Long Road Home: Exile, Self-Recognition, and Reconstruction" của Nguyễn Bá Chung

Phùng Nguyễn

Liệu có một “số phận” dành cho mỗi nền văn học? Nếu có, số phận dành cho nền văn học Nam Việt Nam giai đoạn 1954-1975 (VHNVN) coi mòi rất gian nan. “Sinh ra đời dưới một ngôi sao xấu,” như lờì than thở của một nhân vật của Vũ Trọng Phụng. Nền văn học này, ngay từ những giờ phút đầu tiên của sự sụp đổ của chính quyền miền Nam, đã trở thành mục tiêu đánh phá một cách có hệ thống của phe chiến thắng dưới chiêu bài “tiêu diệt văn hóa đồi trụy của Mỹ Ngụy.” Có cần thiết phải nhắc đến ở đây hình ảnh các bé thiếu nhi quàng khăn đỏ hân hoan reo hò chung quanh những đống sách vở “đồi trụy” cháy ngùn ngụt ở nhiều ngã tư, tụ điểm của thành phố mang tên Bác trong những ngày tháng sau khi chiến tranh vừa kết thúc?

Bắt đầu với những điều như vậy, chúng ta có thể hoàn toàn hiểu được lý do vắng mặt của VHNVN ở những thập kỷ vừa qua trong toàn bộ hoạt động văn học trong nước. Nền văn học này cũng hiếm khi được đề cập đến ở hải ngoại, ngay cả ở Hoa Kỳ, nơi có đông đảo người gốc Việt cư ngụ, ngoại trừ những cố gắng đơn độc để bảo trì những gì còn có thể cứu vớt bởi một thiểu số đếm được trên đầu ngón tay. Cho nên, nếu có lần nào đó nền văn học này được nhắc đến bằng một thứ ngôn ngữ rất mạnh, rất phổ quát như Anh ngữ, hẳn là một điều rất đáng lưu tâm.

Một trong những bài viết hiếm hoi đó xuất hiện trong Manoa Journal số 14:1 (2002). Tác giả là nhà thơ/học giả Nguyễn Bá Chung (NBC), và bài viết mang tựa đề The Long Road Home: Exile, Self-Recognition, and Reconstruction [1]. Mở đầu bằng một đoạn ca từ trong Gia Tài của Mẹ của Trịnh Công Sơn, tác giả Nguyễn Bá Chung đã, như tựa đề gợi ý, lần lượt đưa ra những nhận định của ông về con đường hồi hương diệu vợi bắt đầu từ tư thế lưu đầy của giới cầm bút Việt Nam ở hải ngoại.

NBC, trong đoạn mở đầu, cho rằng chiến tranh Việt Nam buộc người ta phải lựa chọn, và hầu hết các nhà văn miền Nam hoặc tự nguyện hoặc do bức thúc của hoàn cảnh đã phải chọn phe. Trong khi đó, cũng theo NBC, sự ủng hộ của giới cầm bút miền Bắc đối với giai cấp lãnh đạo và sự nghiệp chống Mỹ là điều hầu như hoàn toàn không bị truy vấn và càng không thể nghi ngờ. Những nhà văn [miền Nam] chống miền Bắc và không trốn chạy sau 1975 được gởi đến những "trại học tập" để cải huấn và điều chỉnh tư tưởng [để thích nghi với] xã hội Xã Hội Chủ Nghĩa. Số còn lại, phần đông bỏ viết lách, làm đủ thứ nghề để sống. Hàng trăm người vượt biên, gởi mình cho sóng gió, và bắt đầu thân phận lưu đày.

Ở những phần kế tiếp trong tiểu đoạn Tiếng Gọi Lương Tâm (A Call to Conscience), nơi lời tuyên bố của Mai Thảo về nhiệm vụ của văn học lưu vong Việt Nam được đề cập [2], NBC kể lại những diễn tiến liên quan đến phát triển văn học hải ngoại trong những năm 80 và 90, trong đó sự chia rẽ và rạn nứt được bắt đầu bởi công cuộc đổi mới ở nội địa Việt Nam vào giữa những năm 80. Cuộc viếng thăm Hoa Kỳ của các học giả Hoàng Ngọc Hiến (HNH) và Nguyễn Huệ Chi (NHC) vào đầu những năm 2000 sau đó để nghiên cứu nền văn học lưu vong được NBC đánh giá rất cao. “Lần đầu tiên, những đối thoại chân thành đã có thể diễn ra giữa các tác giả lưu vong và trong nước,” ông viết. NBC cũng đề cập đến những chống đối của “cánh quá khích,” những người đã cáo buộc HNH và NHC là nhân viên cao cấp của chính quyền Hà Nội được gởi đến Hoa Kỳ để xâm nhập cộng đồng lưu vong Việt Nam.

Ở tiểu đoạn Gián Đoạn Văn Hóa (Cultural Discontinuities), NBC cho rằng bất kể tình trạng đất nước được thống nhất với tổng số hơn 80 triệu người trong lẫn ngoài nước, Việt Nam thực ra bao gồm những "Việt Nam nhỏ" với những khác biệt văn hóa, tôn giáo, chính trị như là hậu quả gây ra bởi những thế lực chính trị trong và ngoài xuyên qua nhiều giai đoạn lịch sử.

Dựa phần lớn trên công trình biên khảo của học giả Nguyễn Huệ Chi (NHC), NBC cho rằng sự khống chế của Khổng Giáo dưới thời Lê Thánh Tông đã làm mất đi sự cân bằng cần thiết của tư tưởng Tam Giáo Đồng Nguyên, tạo nên gián đoạn văn hóa lần thứ nhất. Gián đoạn văn hóa lần thứ hai bắt đầu với với sự đô hộ của thực dân Pháp (hoà ước Patenôtre 1884) và cuộc tranh chấp đẫm máu giữa lực lượng Thiên chúa giáo do chế độ thực dân du nhập vào Việt Nam và nhóm khởi nghĩa Văn Thân, và lần thứ ba sau chiến thắng Điện Biên Phủ từ giới lãnh đạo miền Bắc trong quyết tâm xóa bỏ tàn tích của 80 năm thực dân chủ nghĩa xuyên qua mô hình cai trị của chủ nghĩa Cộng sản.

Trong tiểu đoạn kế tiếp, Tự Kiểm và Tái Thiết (Self-Recognition and Reconstruction), NBC đề cập đến sự xuất hiện của những tác phẩm ngang tầm thế giới của Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Dương Thu Hương, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Duy, Bùi Ngọc Tấn nhờ vào chính sách "cởi trói văn nghệ" của nhà cầm quyền Hà Nội và việc các tạp chí uy tín của hải ngoại đã đăng lại tác phẩm trong nước như là hai sự kiện quan trọng trong những năm 90 đã thúc đẩy giới làm văn học hải ngoại đánh giá lại chính mình. Vai trò của học giả Nguyễn Huệ Chi trong việc mang lại một chỗ đứng cho văn học Nam Việt Nam giai đoạn trước 75 và và văn học hải ngoại được tuyên dương bởi vì ông chịu trách nhiệm việc "điều hợp một con số rất lớn những tuyển tập văn học mang tính khai phá này."

Phần này đóng lại với những nhận định của tác giả về sự chia rẽ "trầm trọng" của giới cầm bút lưu vong trong phương cách ứng xử với tình thế mới. Ông chỉ trích "cánh bảo thủ" đã ôm chặt lấy quá khứ trong mưu đồ khống chế linh hồn và hướng đi tương lai của cộng đồng lưu vong. Dựa trên những nhận xét của mình, NBC cho rằng, "cũng như Nam Việt Nam đã có lần bị xâu xé không ngừng, cộng đồng lưu vong, bất kể sau 25 năm sống trong một đất nước tiến bộ và dân chủ hàng đầu, vẫn tiếp tục là hình ảnh thu nhỏ của nó (Nam Việt Nam)."

Một lần nữa, Trịnh Công Sơn trở lại trong tiểu đoạn cuối cùng của The Long Road Home: Exile, Self-Recognition, and Reconstruction, có tên Hội Tụ Văn Hóa (Cultural Convergences) qua một đoạn ca từ của Gia Tài Của Mẹ. Ở phần này, tác giả nói về bằng chứng của một cuộc "hồi sinh văn hóa" đang mở ra ở Việt Nam cùng với sự xuất hiện của những đầu sách về Phật, Lão, Khổng giáo, và các vấn đề tâm linh, bắt đầu với việc xuất bản của cuốn Thơ Văn Lý Trần và ước mơ của người viết trong và ngoài nước về một Việt Nam hoà bình, thống nhất, dân chủ, và thịnh vượng. "Văn chương quan yếu và nhiệt thành chỉ có thể mọc ra trong những tâm hồn đã loại bỏ được hận thù và ảo tưởng về quá khứ hay tương lai," NBC kết luận.

*

Qua những tiểu đoạn nhắc ở trên, cần phải nêu ra ở đây những nỗ lực đáng kể của tác giả Nguyễn Bá Chung trong việc chỉ ra những diễn tiến liên quan đến hoặc có ảnh hưởng lên khía cạnh văn học của cộng đồng người Việt ở hải ngoại trong những thập kỷ qua, đặc biệt những sự kiện đưa đến chuyện cơm không lành canh không ngọt trong cộng đồng lưu vong. Quả thực đã có những chia rẽ trong giới làm văn học hải ngoại về phương hướng ứng xử với những diễn biến chính trị trong nước. Đã có lời qua tiếng lại, những cáo buộc, những vu vạ bắt đầu từ những bất đồng ý kiến. Đã có những tai tiếng mà những người làm văn học ở hải ngoại, bất kể "bảo thủ" hay "cấp tiến," đã phải gánh lấy. Không phải tình cờ mà chúng ta tìm thấy đoạn sau đây trên trang chính của trang wiki Vietnamlit.org[3]do Dan Duffy, một nhà "Việt Nam học," chủ trì:

"We remove articles that libel any author as a secret agent of the Vietnamese Communist Party, or compare a critic to a Nazi, and so on. We will prepare and protect articles that review these controversies in Vietnamese literature but will not provide a forum for accusations."

Tạm dịch:

Chúng tôi sẽ loại bỏ những bài viết nhục mạ bất cứ tác giả nào là nhân viên mật vụ của đảng cộng sản Việt Nam, hoặc so sánh một nhà phê bình với hội viên Đức Quốc Xã, vân vân... Chúng tôi sẽ dành chỗ và bảo vệ những bài viết về những tranh luận trong văn chương Việt Nam nhưng sẽ không cung cấp một diễn đàn để cáo buộc nhau.

Xin bạn đọc đoán thử xem phát biểu này nhắm vào ai. Có lẽ không cần đến may mắn để có được câu trả lời chính xác. Rõ ràng là những người đã đi xa hơn sự cần thiết trong việc bảo vệ chính kiến của mình phải chịu trách nhiệm về những tai tiếng chung cho cộng đồng văn học lưu vong. Tuy nhiên, người ta vẫn có thể mang tai tiếng cho dù đã không làm gì để xứng đáng phải gồng gánh điều này. Đã có những tai tiếng, những cáo buộc áp đặt lên cả một tập thể vô cùng gần gũi với người Việt hải ngoại: miền Nam Việt Nam, người miền Nam, và tất cả những gì liên quan đến họ. Đã không hề có một câu hỏi nào được đặt ra cho việc ai sẽ chịu trách nhiệm về những thương tổn mà một số đông người Việt Nam trong và ngoài nước đã phải gánh chịu trong bao năm qua.

*

Có một số "kiến thức" rất phổ biến về chiến tranh Việt Nam được chia sẻ trước hết trong giới trí thức cấp tiến Âu Mỹ và giới truyền thông và sau đó, lây lan rất nhanh đến các tầng lớp khác qua ngả học đường, báo chí, và các phương tiện truyền thông khác. Lâu dần, những "kiến thức" này trở thành những "thực tế" được công nhận rộng rãi và được sử dụng thường xuyên để đóng khung cách nhìn của các "tín đồ" về người, việc, và sự kiện liên quan đến chiến tranh Việt Nam. Một số "thực tế" cơ bản và phổ biến nhất:

1. Chiến tranh Việt Nam không phải là một cuộc nội chiến mà là chiến tranh chống đế quốc Mỹ của nhân dân Việt Nam.
2. Chính quyền miền Nam tham nhũng, thối nát, và là tay sai của đế quốc Mỹ.
3. Quân đội miền Nam tàn ác và trong cùng một lúc không có tinh thần chiến đấu.
4. Nhân dân Nam VN, đặc biệt là thành phần nông dân, hoàn toàn ủng hộ cuộc chiến đấu chống Mỹ do Cộng sản lãnh đạo.

Từ những "thực tế" cơ bản trên, một hay nhiều cơ sở lý luận được thiết lập, và kết luận về những gì dính líu đến chiến tranh Việt Nam đều có thể dễ dàng được vẽ ra theo kiểu "vơ đũa cả nắm" và do đó, chân tướng của mỗi người, việc, và sự kiện riêng lẻ không còn cần thiết phải là đối tượng của nghiên cứu và kiểm chứng. Chúng ta có thể nhận ra cái nhìn rất phổ biến, rất quen thuộc, rất dễ dãi, rất lười biếng này trong bài viết của học giả Nguyễn Bá Chung. Xin được trở lại với bài tiểu luận của ông và những nhận xét ông đã dành cho một nền văn học trầm luân và những người đã góp phần làm nên diện mạo của nền văn học đó trong một tiểu đoạn chưa được đề cập ở trên. Tiểu đoạn này mang tên A Clash of Worlds and Worldviews, xin tạm dịch là Xung Đột của các Thế Giới và Thế Giới Quan.

Theo Nguyễn Bá Chung, trong tập Văn Học Miền Nam: Tổng Quan, Võ Phiến (VP) đã lưu ý độc giả đến sự vắng bóng của người nông dân trong các tác phẩm văn học miền Nam, và nếu có xuất hiện, họ chỉ là những hình ảnh mờ nhạt, thiếu chiều sâu [4]. “Đây là một khám phá đáng giật mình dựa trên sự kiện 80% dân số Nam Việt Nam là nông dân trong giai đoạn này,” NBC than phiền. “Chúng ta làm thế nào để giải thích tình trạng dị thường này? Tại làm sao VHNVN có thể phản ánh suy tư và quan tâm của chỉ 20% dân số -- những người sống an toàn trong đô thị, cách ly những bom những pháo và những đe dọa thường xuyên của lằn đạn réo?” [5]

First-world enclave, tạm dịch "ốc đảo thượng lưu" hoặc "tô giới thượng lưu" là cụm từ học giả Nguyễn Bá Chung dùng để mô tả Sài Gòn và những thành phố khác của miền Nam. "Sài gòn và nhiều thành thị khác của miền Nam vào thời điểm đó giống như những hòn đảo thanh bình và tiện nghi trong một biển lửa mà chúng ngoảnh mặt làm ngơ. Được bảo vệ bởi lực lượng quân sự Hoa Kỳ và nuôi sống bởi viện trợ hào phóng của Mỹ, những thành phố này mang dáng dấp của những tô giới thượng lưu trong vùng đất nghèo khổ của những đất nước kém mở mang." [6]

Bằng một nhận xét vay mượn từ Võ Phiến mà độc giả có thể tìm đọc những trang liên hệ ở phần chú thích, và không hề chứng tỏ đã kiểm chứng và suy ngẫm về tác động thực sự của điều chứa đựng trong nhận xét này, NBC nhanh chóng khẳng định văn học miền Nam Việt Nam chỉ phản ánh quan tâm của những người sống an toàn trong những tô giới thượng lưu và quay lưng lại với chiến tranh đang xảy ra trên đất nước. Trong khi người đọc có thể cho rằng đây là một cú nhẩy liều lĩnh về phương diện lý luận, tôi tin rằng NBC đã rất yên tâm với kết luận của mình. Dựa trên một trong những "thực tế" đề cập ở trên, toàn bộ nông dân Việt Nam ủng hộ công cuộc kháng chiến chống Mỹ, những kẻ không thuộc về "thực tế" này, hầu hết là dân thành phố, hoặc nhất định phải là tay sai của đế quốc Mỹ hoặc đã ngoảnh mặt làm ngơ trước thảm họa đất nước. Sự vắng mặt của nông dân trong các tác phẩm văn học và sự hiện diện của các "ốc đảo thượng lưu," như lớp kem trên mặt chiếc bánh kem, làm tăng thêm sự "hấp dẫn" của kết luận này.

Ở đoạn kế tiếp, NBC cho rằng thành thị là chốn tị hộ của giới viết lách thành phố, "nơi phần lớn những mối quan tâm của họ chỉ thích hợp với một xứ sở không chiến tranh hoặc ít nhất, không phải chiến đấu cho sự sống còn của mình. Không giống như đồng bào của họ ở thôn quê, sinh mạng của những nhà văn/nhà thơ này chưa bao giờ bị đe dọa." [7]

Từ nhận xét này, tác giả NBC giải thích tâm lý của giới viết lách miền Nam như sau:
"Trong nhiều phương diện, tác giả thành thị bị sập bẫy bởi một lịch sử không do chính họ lựa chọn: họ không thể toàn tâm ủng hộ những người tuyên bố đang chiến đấu nhân danh họ hoặc hoàn toàn cách ly họ. Họ cũng không thể rời bỏ sự an toàn của đô thị để tham gia lực lượng du kích trong rừng, mà cũng không thể thẳng thừng chối bỏ và lên án những người vào bưng chiến đấu bởi vì không một ai có thể phủ nhận được nhiệt tình, cống hiến, và hy sinh của phía bên kia và sự đồi trụy của phe họ!" [8]

Ở đây, "thực tế" được đẩy đi xa hơn để phục vụ lập luận của NBC. Bởi vì hầu hết các tác giả là dân thành phố, thái độ "ngoảnh mặt làm ngơ" của họ nhất định phải thể hiện ra ở sự lựa chọn những chủ đề văn chương "chỉ thích hợp với một xứ sở không chiến tranh." Có quả thực quan tâm của người viết miền Nam chỉ có như thế thôi sao? Sử dụng chính trích dẫn của NBC, Trịnh Công Sơn đã ngồi ở đâu khi soạn bài hát Gia Tài của Mẹ và những bản nhạc khác trong tập Ca Khúc Da Vàng? Hoặc giả chỉ có "TCS và một số ít những người khác luôn luồn lách ở bên lề" [9] mới có khả năng nhìn xa hơn ranh giới Sàigòn-Gia Định? Hơn nữa, chưa cần phải bàn đến toàn bộ tác giả miền Nam, chỉ riêng con số tác giả quân đội ở các đơn vị tác chiến cũng đủ giúp đánh giá kết luận của NBC. Trong bài "Thơ Miền Nam Trong Thời Chiến" ở một số damau.org chủ đề Chiến Tranh, Đặng Tiến có đề cập đến những tác phẩm viết về Chiến Tranh của hơn 260 tác giả miền Nam do Trần Hoài Thư và bạn hữu sưu tập. Công trình này, trong mọi trường hợp, chỉ chứa đựng một phần rất nhỏ trong cái tổng số tác phẩm có chủ đề chiến tranh xuất hiện trong giai đoạn bi thảm này của đất nước và viết ra bởi các tác giả trong và ngoài quân đội.

Chiến tranh, tuy vậy, không hề là chủ đề duy nhất của văn chương Nam Việt Nam. Một trong những đặc điểm không thể chối cãi được của nền văn học này là sự đa dạng. Không giống như người viết trong nền văn học chuyên chính ở phía Bắc, nghệ sĩ sáng tác miền Nam được dành nhiều khoảng trống cho sáng tác, và họ đã tận dụng những "khoảng trống" này. Do đó sự đa dạng của nền văn học này là một hậu quả tất yếu. Để dẫn chứng, không phải là điều khó khăn. Những độc giả hoài nghi có thể tìm đọc một số tác phẩm tiêu biểu của nền văn học này, ngay cả với số lượng nhỏ và rải rác, trên Internet hoặc ở một số nhà sách/thư viện ở nước ngoài để tìm lấy câu trả lời cho chính mình. Bạn đọc cũng có thể đọc một số tác phẩm của nền văn học nhiều màu sắc này ngay trên tạp chí mạng damau.org trong các số chuyên đề Văn Học Miền Nam Việt Nam giai đoạn 54-75, bắt đầu với số 26.

Cũng xin lưu ý bạn đọc là cùng với những kết luận vội vã, học giả NBC đã không hề đưa ra một dẫn chứng nào để hỗ trợ lời tuyên bố của mình. Tôi có cơ sở để tin rằng trách nhiệm đưa ra bằng chứng để bảo vệ lập luận của mình không phải là điều ông quan tâm. Ông không hề có ý định tìm hiểu và phê phán VHNVN và những người đóng góp cho nó một cách nghiêm túc. Điều này cần thời gian và công sức, và tại sao phải phí công sức khi những khuôn mẫu đã có sẵn để sử dụng! Số phận nền văn học này và các tác giả này đã được định đoạt ngay từ đầu là phải thuộc về cái thế giới của những hòn đảo an lành, đầy tiện nghi, và vô cùng lãnh đạm với chính số phận của quê hương. Và phán xét này của ông sẽ giúp làm rõ hơn sự tương phản giữa hai "thế giới" mà học giả NBC khổ công kiến tạo. Câu "Không giống như đồng bào của họ ở thôn quê, sinh mạng của những nhà văn/nhà thơ này chưa bao giờ bị đe dọa" là một thí dụ khác về nỗ lực của tác giả trong ý định làm rộng thêm cái hố ngăn cách giữa hai thế giới.

Trong quá trình sửa soạn tâm lý cho các tác giả ở thành thị miền Nam (ở đây phải hiểu là toàn bộ các tác giả đã cống hiến cho nền văn học Nam Việt Nam dựa trên kết luận của NBC), tác giả The Long Road Home ... đã biến các cây bút miền Nam trở thành những người vô cùng lúng túng, hoang mang một cách bị động. Và với lá gan bằng hạt đậu. Chỉ vì họ "không thể rời bỏ sự an toàn của đô thị để tham gia lực lượng du kích trong rừng." Và vô cùng tự ti, vì "cũng không thể thẳng thừng chối bỏ và lên án những người vào bưng chiến đấu bởi vì không một ai có thể phủ nhận được nhiệt tình, cống hiến, và hy sinh của phía bên kia và sự đồi trụy của phe họ."

Cách nhìn của NBC cho thấy ông chỉ ủng hộ một lựa chọn duy nhất: vào bưng biền chiến đấu cho sự nghiệp chống Mỹ cứu nước. Tất cả những chọn lựa khác chỉ là biểu hiện của hoang mang bị động, của hèn nhát, và do đó, của mặc cảm tự ti. Đây là một nhận định "độc đoán" dựa trên thiên kiến của ông, và thiên kiến này, soi rọi từ một số khía cạnh, có thể cho phép chúng ta nhìn ra quá trình hình thành của nó. Trở lại với những "đức tính" mà học giả Nguyễn Bá Chung đã gán cho tác giả miền Nam. Trên thực tế, một số tác giả, như Võ Phiến mà ông NBC đã trích dẫn, Nguyễn Mạnh Côn, Hồ Hữu Tường, v.v... đã đến từ chính cái nơi mà NBC muốn họ đến, đúng hơn, trở lại. Với các tác giả khác, sự chọn lựa đã xảy ra khi họ và gia đình lên đường vào miền Nam. Đối với các nhóm này, sự chọn lựa là một hành động ý thức và dứt khoát. Một số khác, trưởng thành sau cuộc kháng chiến chín năm chống thực dân Pháp và trong giai đoạn non trẻ của chế độ miền Nam đã, tùy thuộc rất nhiều vào các yếu tố khách quan và chủ quan, chọn cho mình một vị trí. Trong khi có thể không có nhiều lựa chọn như họ mong muốn, giới sáng tác miền Nam quả có điều để lựa chọn và có quyền được lựa chọn, ngay cả giữa những điều không toàn hảo. Nói chung, số người chọn "ở lại" chiếm tuyệt đại đa số. Đây có vẻ như là một điều khó hiểu đối với NBC. Tại sao phải ... lựa chọn nếu chọn lựa duy nhất có thể chấp nhận được là vào bưng kháng chiến? Không phải đó là điều mà cả một nửa đất nước ở phía Bắc đã làm hay sao? Khôn lớn, trúng tuyển nghĩa vụ, xẻ dọc Trường Sơn, sinh Bắc tử Nam, trở thành anh hùng hay liệt sĩ. Trăm, ngàn, triệu người như một. Tươi cười, hớn hở, như ngày giỗ hội. Đường ra trận mùa này đẹp lắm. KHÔNG làm anh hùng hay liệt sĩ còn khó hơn đi lên trời!

Không có được sự "thuần nhất" theo kiểu hệ thống sản xuất dây chuyền chỉ có thể có được trong những chế độ mà theo ông NBC, đòi hỏi ở người dân sự ngoan ngoãn vâng lời (conformity), người dân miền Nam, và đặc biệt giới sáng tác, như là một cá nhân, có toàn quyền đương đầu với tất cả mọi vấn đề khiến họ quan tâm bên cạnh mối quan tâm chung và lớn nhất, chiến tranh. Đây chính là một trong những lợi thế của nền văn học miền Nam. Đa dạng thể hiện ở sự phong phú trong thể loại, chủ đề, và sự tự do khám phá các chủ đề này. "Gia Tài Của Mẹ" của Trịnh Công Sơn mà NBC đã trích dẫn hơn một lần trong bài viết của ông nhất định đã không có cơ hội ra đời ở phía bên kia sông Bến Hải trong cùng một giai đoạn. Sự phức tạp của những vấn đề phải đối phó trong đời sống, trong khi khiến nhức đầu, lại là cơ hội tốt cho tác phẩm văn học vượt qua sự đơn giản phiến diện và buồn chán của minh họa để đào bới sâu hơn vào tâm thức cá nhân và bản chất của sự việc.

Dù sao thì cũng nên ghi nhận lòng tốt của ông Nguyễn Bá Chung ở đây. Ít nhất, những nhà văn nhà thơ có tâm lý phù hợp với mô tả của NBC -sập bẫy thời cuộc, lưỡng lự, hoài nghi, bị động, đầy tự ti- không nên nằm trong danh sách những tên "biệt kích văn nghệ" và do đó có nhiều cơ hội được hưởng sự khoan hồng. Có điều nghĩa cử này có được đón nhận bởi chính những người cầm bút, còn sống hay đã chết, trong giai đoạn 1954-1975 hay không còn là một nghi vấn.

Tiếp tục tái khẳng định một số các "thực tế" nhắc đến ở trên, NBC đã dành một phần khá dài trong tiểu đoạn Xung Đột của những Thế Giới và Thế Giới Quan để làm một cuộc so sánh giữa những lực lượng đại diện cho mỗi thế giới, ở đó, thiện và ác được mô tả rất rạch ròi, rất phân minh.

"Tương phản với những xa hoa chỉ thấy được trong xã hội văn minh - tính bất định của nhân vật Hamlet, sự tự vấn, và niềm hoài nghi hiện sinh, nổi lên sừng sững sự quyết tâm của những người cặm cụi trên những cánh đồng khô cằn, dưới hầm trú ẩn, và đối diện với bắt bớ và giết chóc hàng ngày, hoàn toàn không có sự trợ giúp của không lực ngoại bang và không có quân đội đồng minh nhào đến cứu viện. Một tướng lãnh hoặc chính trị gia Nam Việt Nam có thể sống sung túc trong một biệt thự Tây và hưởng thụ tất cả những tiện nghi của xã hội tân tiến, kể cả nhiều 'gia nô' chạy việc cho ông ta. Trái lại, một tướng lãnh hay chính ủy của lực lượng giải phóng sống trong rừng sâu, trong một túp lều hay dưới địa đạo, và có thể chịu đói khát hàng tháng trời cùng với bộ đội của họ. Ông ta không có những vật dụng, biểu tượng của thế giới thượng đẳng: không TV, không xe hơi, không tin tức về đời sống xa hoa. Trái tim ông cháy bỏng với một ước muốn duy nhất: giữ gìn sinh mạng thuộc cấp, hoặc ít nhất, làm chậm lại tổn thất sinh mạng của họ càng lâu càng tốt. Ông trải qua nhiều lần những kinh nghiệm đau thương chứng kiến đơn vị của ông đối diện sự hủy diệt của B-52 rải thảm, bom lửa, pháo hạm, và trọng pháo. Ông tin rằng nguồn gốc của của tất cả những thống khổ của ông và của những người dân quê thân thiết của ông năm ở ngưỡng cửa của những người miền Nam Việt Nam và những “quan thầy” Mỹ, những người sinh hoạt thoải mái phía sau những vòng đai an ninh bao quanh các thành phố. Bởi vì lực lượng giải phóng có nhân viên tình báo cài đặt ở những cơ quan cao cấp nhất của chính quyền miền Nam, các tướng lãnh sống trong rừng biết được tư thế tay sai của miền Nam trong một cách thế hầu hết công dân của 'nó' không thể biết được. Người nào biết thì không bao giờ công khai thừa nhận - một thí dụ mỉa mai về câu nói của Lão Tử, 'kẻ biết thì không nói; kẻ nói thì không biết.'” [10]

Sự mập mờ, trong cách ứng dụng của một số người, là một chất liệu mầu nhiệm. Nó làm nhòa những kẻ hở, những mấp mô, những chỗ không ăn khớp, đặc biệt trong lý luận. Hamlet-like irresolution, self-questioning, existential self-doubt nhất định là những đức tính xa xỉ không phải bất cứ người dân thành thị trung bình nào ở miền Nam cũng có thể sở hữu. Giới viết lách thì may ra, và có lẽ đó là đối tượng NBC nhắm đến. Vậy thì sừng sững quyết tâm là của ai, phe nhóm nào? Theo cách nói của NBC, của những người dân quê làm ruộng, ngủ hầm tránh bom, nghĩa là 80% dân số VN, cũng theo NBC, trước 1975. Nếu là vậy, có phải đây là quyết tâm làm ruộng và ngủ hầm? Không có ai bỏ ruộng vườn chạy về thành phố lánh nạn trong khi dân số thành thị miền Nam tiếp tục sưng tấy lên trong suốt chiều dài cuộc chiến? Nếu "quyết tâm" dùng để chỉ lập trường chống Mỹ cứu nước không lay chuyển của lực lượng du kích thuộc Mặt trận Giải Phóng miền Nam thì không nên thêm vào đó cái hình ảnh còng lưng trên đồng ruộng khô cằn hoặc than phiền không có viện trợ của không lực Mỹ! Bằng cách nhập nhằng giữa thường dân (không có phương tiện tự vệ, làm ruộng, chui dưới hầm để tránh bom đạn, nạn nhân của chiến tranh) và lực lượng võ trang (võ trang tận răng, có thể biến bất cứ ai thành nạn nhân chiến tranh), học giả Nguyễn bá Chung tỏ ra không thể không bám chặt vào một số những "thực tế" nhắc đến ở trên. Trong cả hai trường hợp, bằng cách so sánh giữa một bên là trạng thái tâm lý phức tạp của một nhóm người vô cùng chọn lọc với phía bên kia là một đức tính được gán ghép chung chung theo kiểu buôn sỉ cho một khối lượng dân số lớn gấp bội, ông Nguyễn Bá Chung trông đợi gì ở kết quả của công cuộc nghiên cứu này?

So sánh lối sống của các tướng lãnh của các phe đối nghịch xem ra có phần hợp lý hơn. Ông NBC đã làm như thế trong đoạn kế tiếp. Với sự nồng nàn và tha thiết hiếm khi bộc lộ trong thể văn tiểu luận, ông đã mô tả ... rất chính xác những gian khổ mà các vị tướng lãnh và chính ủy cách mạng đã phải trải qua. Rất là thiếu tiện nghi, ông kết luận! Đế quốc Mỹ, và trước đó là thực dân Pháp, đã không xây những "tô giới thượng đẳng" trong phần lãnh thổ nằm dưới quyền kiểm soát của trung ương cục Miền Nam, lúc bấy giờ còn đặt ở trong rừng sâu. Tất nhiên là không có TV. Ngay cả Sài Gòn lúc đó cũng chỉ có TV đen trắng. Dù sao thì chúng ta cũng nên hy vọng những gian khổ, những nằm gai nếm mật của các vị tướng và các chính ủy cao cấp của phe thắng trận đã được đền bù một cách xứng đáng sau tháng 4 năm 1975. Sẽ vô cùng bất công cho các vị này nếu những căn biệt thự Tây lộng lẫy vẫn tiếp tục để trống sau khi đám tướng ngụy đã rời đi.

Việc phô diễn một cách nồng nhiệt những đức tính cao quý của các lãnh tụ chính trị và quân sự miền Bắc là một bước hợp lý và cần thiết cho việc khẳng định những "thực tế" đề cập trước đây. Mọi sự cần thiết phải trở trên rõ ràng như ban ngày. Những thế giới cần phải có mặt, thành thị và thôn quê, đã được kiến tạo. Tốt và xấu, nguồn gốc của xung đột, đã được gán ghép. Cho dù tất cả những điều đó, tướng tốt tướng xấu, nghĩ cho cùng, không dính líu gì đến văn học miền Nam Việt Nam và những người làm văn học trong giai đoạn này. Không giống như các lãnh tụ miền Bắc, những người luôn đứng tên trên bìa sách của một hay nhiều tác phẩm văn học do người khác viết hộ và luôn sở hữu những đức tính cao quý tương tự như vị tướng trong bài viết của NBC, không có bao nhiêu tướng miền Nam có tham vọng dấn mình vào lãnh vực văn chương. Không giống như những lãnh tụ miền Bắc, những người không chỉ nắm quyền nhào nặn diện mạo văn học mà lắm khi cả quyền sinh sát trên sinh mạng của người làm văn học, ảnh hưởng của tướng/lãnh tụ miền Nam trên nền văn học này, nếu có, nhất định rất không đáng kể.

Như đã trình bày ở trên, NBC, trong ước muốn tái khẳng định giá trị của những "thực tế" mà ông ôm ấp, đã nỗ lực chỉ ra sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn, giữa theo và chống Mỹ để làm nổi bật sự xung khắc không thể hóa giữa hai thái cực này trong thời chiến. Vẫn cảm thấy chưa đủ, ông tiếp tục chiều hướng này trong đoạn kế tiếp:

"Sau cuộc chiến, trong giai đoạn từ 1975 đến 1986, khi kinh tế đất nước tuột dốc nặng nề, đó là một điều vô cùng thê thảm cho hầu hết người miền Nam, nhưng đặc biệt là cho những thị dân. Trái lại, cho những người đã từng trải qua đói khát và thèm muốn ở trong rừng khi còn chiến tranh, cuộc sống thiếu thốn như thế vẫn dễ chịu hơn những gì họ đã từng trải qua." [11]

Một lần nữa, sự mập mờ được sử dụng như là một chất liệu dẻo quẹo có khả năng bành trướng vô tận để bịt kín những lỗ hổng, lớn bao nhiêu đi nữa, của lý luận. Tuy nhiên, lổ hổng vẫn nằm ở đó. "Những người đã từng trải qua đói khát và thèm muốn ở trong rừng khi còn chiến tranh" là những ai và gồm có bao nhiêu? Lại là con số mầu nhiệm 80% dân số Nam Việt Nam ở nông thôn? Nếu không phải như vậy thì bao nhiêu phần trăm dân số đã cảm thấy dễ chịu trong ít nhất mười năm đầu tiên sau chiến tranh? Những người này là ai, thuộc thành phần nào của xã hội Việt Nam trong thời điểm khó quên đó bên cạnh giới công an và hải quan? Dù sao thì câu hỏi này hoặc là không bao giờ được NBC đặt ra cho chính mình, hoặc nếu có lần đặt ra, đã không mang một cân lượng nào hết. NBC chỉ muốn đưa vấn đề đến cái đích vạch sẵn, ngay cả nếu phải dựa dẫm vào sự mập mờ.

"Sự xung đột do vậy không chỉ đơn thuần là ý thức hệ, nhưng còn là giữa hai thế giới khác biệt nhau trong đó ngay cả ý nghĩa của ngôn ngữ cũng ở trong vòng tranh chấp. Ở một thế giới, chỉ để được sống trong hòa bình, có cơm ăn (bất kể đơn sơ hoặc không ngon miệng), có áo mặc, không phải nằm trong hầm hố đã là những thành tựu và thuộc về niềm tự do ngọt ngào cho những kẻ sống sót. Ở một thế giới khác, những người sống trong tiện nghi bây giờ bị bận tâm với sự thất trận và những mất mát của tự do cá nhân mà họ đã có được trong đời sống của một xã hội đô thị tân tiến [trước đây]." [12]

Nói một cách khác, không phải, hoặc không chỉ, ý thức hệ nhưng chính là sự khác biệt giữa hai thế giới hiện hữu song song nhưng hoàn toàn khác nhau về địa lý và lề lối sinh hoạt là yếu tố quyết định sự xung đột giữa thành thị và nông thôn trong suốt chiều dài của chiến tranh VN. Lằn ranh phân định hai thế giới này không thể lầm lẫn được: thành thị, theo Mỹ chống cộng. Nông thôn, chống Mỹ theo cộng. Sau 1975, thành thị bất mãn , nông thôn phấn khởi. Bất mãn vì những điều vị kỷ, thí dụ như sự mất mát của tự do cá nhân. Phấn khởi vì tìm được niềm tự do ngọt ngào trong thiếu thốn. Thành thị tìm đường vượt biên. Nông thôn ở lại xây dựng đất nước. Chúng ta có thể hình dung đến vô tận những cụm từ đối xứng tương tự theo chiều hướng này. Và cũng dài vô tận cái khoảng cách NBC sẽ hăng hái dấn bước để thuyết phục người đọc rằng những mảnh đời tan tác, những cuộc vượt biên hàng loạt và bi thảm trong những năm sau cột mốc 1975 là kết quả của một điều vô cùng đơn giản: những người đã từng sống ở thành phố chỉ muốn tiếp tục lối sống [ích kỷ] mà họ có được trước cột mốc này. Tất cả những điều khác phủ chụp lên đời sống của họ, tiếng chân công an khu vực, ánh mắt của người hàng xóm, tiếng chó sủa trong đêm khuya, hộ khẩu, khai báo, kinh tế mới, những hạt bo bo, miếng cá ươn tanh tưởi ở sau tấm lưới chắn vo ve ruồi nhặng của cửa hàng mậu dịch và phía trước của hàng người dài dằng dặc, nỗi sợ hãi như cái xác chết trôi ngày mỗi trương phình ra, ... tất cả đều đã không xảy ra. Không thể trách được ông Nguyễn Bá Chung. Ông đã không có mặt ở đó vào thời điểm đó.

"Với tâm trạng lừng khừng, các tác giả miền Nam còn lại trong nước sau 1975 bị xem là những kẻ bất tuân và do đó có khả năng trở thành mối đe dọa cho viễn cảnh mới của xã hội chủ nghĩa, vốn xem sự tuân thủ là một trong những dấu ấn đặc thù của chế độ. Nhiều tác giả đã không chạy trốn khi Sài Gòn thất thủ, tin rằng thống nhất đất nước sẽ mang lại hòa bình, tha thứ, và ước vọng cùng chung sức xây dựng lại một đất nước rách nát. Hy vọng đó nhanh chóng tan vỡ. Những kinh nghiệm trong trại cải tạo, nơi họ bị đối xử không phải như là những cá nhân bị vướng bẫy thời cuộc mà là bọn phản bội hợp tác với đế quốc, đã để lại một vết thương đau đớn khó phai trong họ.Từ cái giếng sâu của ký ức đắng cay trào lên nền văn chương của người Việt hải ngoại hôm nay, vốn, trong nhiều phương diện, là sự tiếp tục và nối dài của văn học Nam Việt Nam trước 1975." [13]

Lừng khừng -> bất tuân -> mối đe dọa -> đi tù. Không lừng khừng -> không bất tuân -> không phải mối đe dọa -> không đi tù. Hy vọng ông NBC không nghĩ rằng không phải do chính sách của phe thắng trận mà chính là cái tâm trạng lừng khừng (hoặc lừng khừng hiện sinh) của quý vị nhà văn nhà thơ miền Nam đã đưa họ vào trại cải tạo! Riêng câu đóng lại tiểu đoạn Xung Đột của các Thế Giới và Thế Giới Quan, "Từ cái giếng sâu của ký ức đắng cay trào lên nền văn chương của người Việt hải ngoại hôm nay, vốn, trong nhiều phương diện, là sự tiếp tục và nối dài của văn học Nam Việt Nam trước 1975," nếu tôi không lầm, sẽ được sử dụng như là một tiền đề cho việc "giải thích" sự chia rẽ trong cộng đồng văn học lưu vong ở những phần kế tiếp. Tuy nhiên, bởi vì trọng tâm của bài viết này đặt vào văn học miền Nam Việt Nam, những vấn đề khác nảy sinh ra từ bài tiểu luận của học giả Nguyễn Bá Chung nên được thăm viếng trong những hoàn cảnh và điều kiện thuận tiện hơn.

*

Trong suốt quá trình đọc và phân tích bài viết của học giả NBC, điều tôi muốn tìm biết là cái động lực đã khiến học giả Nguyễn Bá Chung viết những gì ông đã viết về người dân thành thị miền Nam, về tác giả miền Nam, hoặc về nền văn học miền Nam. Tôi cho rằng ông đã chọn chấp nhận một số "kiến thức" phổ thông kiểu "Chiến Tranh Việt Nam 101" hay "Chiến Tranh Việt Nam cho những Gã Khờ" như là nền tảng duy nhất để suy luận về tất cả những gì liên quan đến chiến tranh Việt Nam. Ông, cùng với nhiều người khác, nhất định phải cảm thấy yên tâm với lựa chọn của mình bởi vì một số những "thực tế" được công nhận rộng rãi về chiến tranh VN quả có mang một phần ... sự thực. Người miền Nam, kể cả Trịnh Công Sơn mà tác giả NBC xem ra rất ngưỡng mộ, xem đây là một cuộc nội chiến. Đối với một số khác, cuộc chiến mang tính ý thức hệ. Tuy nhiên, không phải ai cũng đồng ý với người miền Nam. Sự hiện diện của quân đội Mỹ, có lúc hơn nửa triệu người, đã thực sự cho phép dư luận thế giới nhìn và đánh giá cuộc chiến tranh như là cuộc chiến đấu sống còn của một dân tộc nhỏ bé chống lại sự xâm lăng của một đế quốc hùng mạnh nhất thế giới. Ngoài ra, sự khuynh loát lộ liễu, bá quyền của chính quyền Mỹ trong việc thực hiện ý đồ chống cộng không giúp gì cho hình ảnh của chính quyền Nam VN, vốn được xem như là bù nhìn bởi đa số. Miền Nam trước đây quả có tham nhũng, ở mức độ có thể tranh chấp với Việt Nam trong những năm 2000. Thêm nữa, nếu bạn có lần tỏ vẻ hoài nghi về sự tàn ác của quân đội Việt Nam Cộng Hoà, người ta sẽ dán vào mũi bạn hình tướng Nguyễn Ngọc Loan đang hành quyết một tù binh cộng sản. Tuy vậy, trong phim ảnh, trong văn chương, trong cả lịch sử chiến tranh VN, những người lính miền Nam hiếm khi xuất hiện bên cạnh những "người bạn" đồng minh Hoa Kỳ "can trường" cho dù lượng máu họ đổ xuống nhiều hơn của người Mỹ gấp bội. Nếu họ xuất hiện, đến phiên bạn mong họ biến mất vì những tính cách xấu xa được gán ghép cho họ trong những sách vở, phim ảnh tây phương. Hãy tìm xem một phim tiêu biểu, The Iron Triangle chẳng hạn, để rút ra kết luận cho chính mình. Và cái huyền thoại "người nông dân tay súng tay cày" mà NBC cứ lập đi lập lại lấy từ đâu ra nếu không từ những câu chuyện của cựu chiến binh Mỹ về những người nông dân dấu AK47 dưới luống cày? Khi bạn bắt đầu với một phần sự thực, phần còn lại nhất định sẽ dễ được xem là ... sự thực hơn. Đầu xuôi đuôi lọt, không phải ông bà chúng ta đã nói vậy hay sao?

Những "thực tế" như thế về chiến tranh Việt Nam, trong khi quá phiến diện để dẫn đến những kết luận trung thực cho những sự việc cá biệt, đã giúp nặn ra những hình tượng, những khuôn mẫu về tập thể nhân dân miền Nam "không chống Mỹ" và tất cả những gì liên quan đến họ. Ông NBC không nặn ra những khuôn mẫu này. Ông chỉ dùng chúng để nhồi nhét giới viết lách miền Nam trước 75, và có thể cả sau 75, vào cái khuôn đúc sẵn này. Cho nên, những nhà văn, nhà thơ miền Nam của giai đoạn này đã được mô tả như những người sập bẫy thời cuộc, hoang mang, và lãnh đạm với tình huống của đất nước. Cho nên văn học Nam Việt Nam được khoác lên chiếc áo choàng ghetto của phồn vinh giả tạo, và chỉ được phép phục vụ cho những thị hiếu vị kỷ, xa lạ với đại đa số quần chúng. Cho nên, để đưa độc giả đến nơi ông muốn họ đến, NBC, trong những dẫn chứng ở trên, đã không ngần ngại nhảy những cú nhảy liều lĩnh về phương diện lý luận. Ông không hề vấp ngã bởi vì đã có những "thực tế lịch sử," những điều đã trở nên gần như một tín điều, như một vị thần hộ mạng thân thiết với đôi cánh rộng và mượt như nhung, luôn chờ sẳn bên dưới. Đã không hề có một hiểm nghèo nào cho những cú nhảy như thế.

Liệu những nhận xét, những gán ghép đến từ những "thực tế" được đơn giản hóa đến tận cùng có thể gây tổn thương cho một ai đó? Có nhiều phần là thế. Cái ý niệm người thành thị miền Nam, trong đó gồm có đa số tác giả miền Nam, đã có thể quay lưng lại với với chiến cuộc chỉ vì họ may mắn sinh sống trong những "tô giới thượng lưu" là một điều rất gần với sự phi lý! Trước hết, nếu quả thực đã có những "first-world enclave" bao vây bởi những lớp rào kẽm gai, không phải chính sự hiện hữu của chúng là những nhắc nhở rõ ràng nhất, ồn ào nhất về một hay nhiều điều không bình thường ở phía bên ngoài hay sao? Hơn nữa, làm thế nào để quay lưng lại với những đau thương, những mất mát gây ra bởi chiến tranh khi chính mình ở vị trí phải hứng chịu những điều này? Bao n
Link: http://www.giaodiemonline.com /sach_detail.php?sachid=107
Các sách cùng tác giả
 
| Chủ Trương | Hướng dẫn kỹ thuật | Tài liệu Anh ngữ | Cài đặt Unicode |