Thứ Hai, 22, tháng Năm, 2017
 
 
 
| Tin Tức Tôn Giáo |
TT. Huế: Lễ húy nhật Hòa thượng Thích Trí Thuyên (1923 - 1947)
Duy Anh - Anh Đức
đăng ngày 08/03/2014
 
Sáng ngày 02 tháng 03 năm 2014 nhằm ngày 02 tháng 02 năm Giáp Ngọ tại chùa Kim Sơn, phường Hương Hồ, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế; chư Tăng bổn tự đã trang nghiêm tổ chức Lễ húy nhật Hòa thượng Thích Trí Thuyên (1923 - 1947).
Quang lâm dâng hương tưởng niệm có chư tôn đức Giáo phẩm chứng minh Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Thừa Thiên Huế; chư tôn đức Thường trực Ban Trị sự GHPGVN tỉnh TT. Huế; chư tôn đức các tổ đình, tự viện, NPĐ trên địa bàn tỉnh cùng đông đảo bà con Phật tử các giới.


Hòa thượng Trí Thuyên là một vị giảng sư trẻ tuổi có đạo tâm phục vụ Đạo Pháp và Dân tộc; trong giai đoạn chống Pháp vệ quốc, Hòa thượng đã ở lại Kim Sơn, chịu bao gian lao, đói khát, cực nhọc vì chiến tranh với người dân quanh vùng An Ninh, Lựu Bảo. Thế danh của Ngài là Trần Trọng Thuyên, sinh năm Quý Hợi (1923) tại xã Tinh Long, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi; đồng chơn nhập đạo tại chùa Thiên Ấn, Quảng Ngãi và sau đó được Bổn sư là đệ lục Tổ Thiên Ấn, Hòa thượng Chơn Trung Diệu Quang gởi ra Huế theo học ở Phật Học Đường Báo Quốctrong 9 năm.


“… Khi còn ở chùa Thiên Ấn, với tư chất thông minh khác người, Ngài được Bổn sư gởi đến học lớp gia giáo Phật học tại chùa Long Sơn, huyện Sơn Tịnh, Quảng Ngãi. Sau một thời gian, Ngài lại đến núi Thình Thình huyện Bình Sơn thọ học ở chùa Viên Giác – Thanh Thanh Sơn.


Năm Giáp Tuất 1934, phong trào chấn hưng Phật giáo đang được phát động rầm rộ tại Trung kỳ. Để đào tạo Tăng tài làm trụ cột cho Giáo hội, chư Hòa thượng Giác Tiên và ngài Mật Khế đứng ra thành lập trường An Nam Phật Học tại chùa Trúc Lâm – Huế, cung thỉnh Hòa thượng Phước Huệ làm chủ giảng. Lớp này chỉ thu nhận 50 học Tăng, Ngài dự thi tuyển và có mặt trong khóa học này cùng các vị HT. Thiện Siêu, Thiện Minh, Trí Quang…”


Hòa thượng là một trong 6 vị Tăng ưu tú đã đỗ cả kỳ thi viết lẫn kỳ vấn đáp vào năm 1943 tại trường An Nam Phật Học, lúc mới 20 tuổi. Đến năm Giáp Thân (1944), 21 tuổi, Hòa thượng được thọ Tỳ-kheo giới tại giới đàn Thuyền Tôn do Hòa thượng Giác Nhiên làm Đường đầu. Sau đó Hòa thượng đã theo chúng lên lập Tùng lâm Kim Sơn và làm giảng sư.


Năm Ất Dậu (1945), sau cuộc cách mạng giành độc lập vào tháng Tám, người Pháp trở lại tái chiếm Việt Nam, và khủng bố ruồng bắt những ai đã ủng hộ phong trào độc lập không chịu làm tay sai cho chính phủ bảo hộ. Những bài giảng pháp của Hòa thượng luôn mang tính đồn kết dân tộc, ca ngợi độc lập tự chủ, chống áp bức bóc lột theo tinh thần Bi Trí Dũng của Phật giáo. Với lập luận vững chắc, tư thái đường hồng, Ngài hướng dẫn tín đồ vào một tương lai tươi sáng của Đạo pháp – Dân tộc.


Tinh thần yêu nước, thương đồng bào của Hòa thượng thể hiện rõ nét qua hành động tham gia dạy học chống nạn mù chữ cho nhân dân; tổ chức phong trào từ thiện quyên góp cứu trợ nạn đói kém đang hồnh hành đồng bào cả nước bởi cuộc chiến gây ra. Tại Kim Sơn, Ngài đã nhịn bớt phần ăn của mình để lấy gạo nấu cơm phát cho dân nghèo đói, việc đó khiến cho mật thám Pháp theo dõi, cô lập Tùng Lâm Kim Sơn.


Năm Bính Tuất (1946), tất cả Tăng chúng Tùng Lâm Kim Sơn di tản. Hòa thượng tình nguyện ở lại giữ chùa, trường học và kinh sách, cộng với việc không ít Tăng sĩ ở đây tạm xếp áo cà sa thốt ly tham gia kháng chiến khiến cho hồ sơ Tùng Lâm Kim Sơn và bản thân Ngài mỗi lúc thêm nặng nề dưới mắt người Pháp và chính phủ bảo hộ.


Còn lại  một mình nơi Tùng Lâm Kim Sơn với những “đêm dài u tối” như vậy, Ngài chẳng hề nao núng, vẫn giữ đúng thanh quy chốn Già lam thường ngày, thể hiện tinh thần một Phú Lâu Na giữa chốn nghịch duyên là nhiệm vụ của người tu hành trước chân lý đã tôn thờ…”
Vào chiều chủ nhật ngày 03.02. năm Đinh Hợi (23-02-1947) bọn thực dân Pháp đóng ở đồn Văn Thánh đã tràn qua mở trận càn quét vùng Lựu Bảo - Kim Sơn. Bọn giặc lên chùa bắt Hòa thượng Trí Thuyên, Ngài đã dùng tiếng Pháp nói chuyện với bọn chúng để cho Ngài tụng một thời Kinh rồi hãy xử bắn. Hòa thượng ngồi kiết già uy nghi tụng Kinh trước họng súng của giặc. Thời Kinh vừa xong, Ngài đã ngã gục trước những phát đạn của kẻ bạo tàn. Một đồng bào người Thiên chúa giáo ở vùng An Vân, chiều đó bị bọn Pháp bắt theo để làm thông dịch, vô tình chứng kiến được cái chết và đã kể lại sự việc trên và đã nói thêm: “Tôi chưa bao giờ thấy được cái cách tử đạo nào cao cả bi tráng như vậy”. Năm đó Ngài vừa đúng 24 tuổi. Các đạo hữu vùng Kim Sơn đã vội an táng Ngài trong khuôn viên chùa Kim Sơn và sau đó được Giáo hội xây lại tháp ở phía phải của vườn chùa, bên trên khắc chữ “Tăng già giáo hội”, ở giữa có 6 chữ lớn: “Trí Thuyên Giảng sư chi tháp”.


Tháp của Hồ thượng Trí Thuyên là một nơi chôn giữ dấu tích để phát ra ánh sáng lý tưởng của con người chân quân tử ở phương Đông: “Uy vũ bất năng khuất” và hơn thế biểu hiện cho phong cách “Sống như Chánh Pháp, chết như Chánh Pháp, nói năng như Chánh Pháp và yên lặng như Chánh Pháp” của đức Từ phụ đã thuyết dạy từ ngàn xưa.


   
Một số hình ảnh của buổi lễ:

Chùa Kim Sơn

Chánh điện

Hậu Tổ

 

Di ảnh cố Hòa thượng Thích Trí Thuyên

Niệm hương tưởng niệm

 

 

Niệm hương bạch Phật

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bảo tháp

     

Duy Anh - Anh Đức

Source : http://www.phatgiaohue.vn/news.aspx?TieuDeID=31&KenhID=61&ChuDeID=0&TinTucID=1930

Link: http://www.giaodiemonline.com/noidung_detail.php?newsid=8339
 
| Chủ Trương | Hướng dẫn kỹ thuật | Tài liệu Anh ngữ | Cài đặt Unicode |