Chủ Nhật, 19, tháng Mười Một, 2017
 
 
 
| Nghiên cứu và đối thoại |
Kỳ 6 : Đệ nhất phu nhân Trần Lệ Xuân với ảo mộng chính trường làm khuynh đảo triều đình nhà Ngô
Hoàng Anh Sướng
đăng ngày 04/11/2017
 

CUỘC ĐỜI THĂNG TRẦM CỦA NGƯỜI ĐÀN BÀ TÀI SẮC TRẦN LỆ XUÂN VÀ NHỮNG CÁI CHẾT THẢM KHỐC CỦA NGƯỜI THÂN DƯỚI CÁI NHÌN NHÂN QUẢ
(Trích trong tập phóng sự NHÂN QUẢ VÀ PHẬT PHÁP NHIỆM MÀU, TẬP 2 dự kiến phát hành tháng 11 năm 2017)

ĐỆ NHẤT PHU NHÂN TRẦN LỆ XUÂN VỚI ẢO MỘNG
CHÍNH TRƯỜNG LÀM KHUYNH ĐẢO TRIỀU ĐÌNH NHÀ NGÔ

Không chỉ là người đàn bà đa tình, đa tài, đa sắc, Trần Lệ Xuân còn là người đa mưu túc kế. Ẩn chứa bên trong hình hài nhỏ bé, gầy guộc cao chỉ 1m50, nặng 44kg ấy là cả một trời tham vọng với những ảo mộng chính trường làm khuynh đảo triều đình nhà Ngô suốt gần 10 năm trời. Nói về Trần Lệ Xuân, tướng Vũ Ngọc Nhạ, cục trưởng cục tình báo A22 hoạt động ngay trong dinh Độc Lập đã từng phải thốt lên: “Đây là người đàn bà đáng sợ nhất trong gia đình họ Ngô”. Bởi theo tướng Nhạ, trong số các anh em nhà họ Ngô, Ngô Đình Cẩn là người thất học, đa nghi, tàn ác song có lúc cả tin. Ngô Đình Nhu thì thâm trầm, nguy hiểm song chủ yếu là kiến giải trên sách vở chứ ứng dụng thực tế có lúc sai lệch. Ngô Đình Diệm giữ nguyên tắc hành động và lối sống cố thủ. Riêng Trần Lệ Xuân học trường Tây từ nhỏ, quen lối suy nghĩ ngoài khuôn phép phương Đông, bạo mồm bạo miệng đến độ dám gọi các nhà sư là “bọn trọc đầu”, gọi các cha cố là “quạ đen”. Chính bà đã châm ngòi thù hận tôn giáo, ban hành những luật lệ đạo đức khắt khe, làm cho người Việt lẫn các nước bạn đồng minh căm phẫn đến mức suốt đời bị gán hỗn danh là “Rồng Phu Nhân”. Bà đã dùng tất cả những mưu mô, mánh lới để đưa mình lên đỉnh cao của quyền lực.

Có thể nói, Trần Lệ Xuân là một gương mặt then chốt trong chính quyền Ngô Đình Diệm. Bà là dân biểu trong Quốc hội, đồng thời, là chủ tịch Hội Phụ nữ Liên đới (một tổ chức ngoại vi của đảng Cần Lao). Tuy nhiên, cái để tạo nên quyền lực thực sự của Trần Lệ Xuân lại chính là danh xưng “Bà cố vấn” vì bà là vợ của Ngô Đình Nhu, cố vấn cho anh trai là tổng thống Ngô Đình Diệm. Do tổng thống Ngô Đình Diệm không lấy vợ, sống độc thân cả đời nên bà được coi là Đệ nhất phu nhân của Việt Nam Cộng hòa. Trần Lệ Xuân rất hãnh diện về danh xưng này. Theo ông Nguyễn Thái, một cận thần triều Ngô, cựu Tổng giám đốc Việt tấn xã, có lần khi ông còn tại chức, Lệ Xuân đã ra lệnh cho ông phải ghi lại danh xưng “Bà Ngô” trên các bản thông tin của cơ quan Việt tấn xã. Nhưng ông Thái đã kiên quyết từ chối vì nếu ghi như vậy sẽ gây ra sự hiểu lầm vô cùng tai hại. Người ta sẽ hiểu rằng: Trần Lệ Xuân là phu nhân của tổng thống Ngô Đình Diệm chứ không phải là vợ của Ngô Đình Nhu theo đúng chữ nghĩa ngoại giao.

Trần Lệ Xuân có nhiều hoạt động trên chính trường. Năm 1956, bà bắt đầu một chiến dịch quan trọng để thay đổi mối liên hệ gia đình Việt Nam một cách sâu đậm bằng các điều luật. Sau khi Luật gia đình 1958 của bà được bầu thành luật thì việc lấy nhiều vợ, ly dị và ngoại tình trở nên bất hợp pháp. Phụ nữ được bình quyền với đàn ông trong nhiều lĩnh vực. Nhiều dân biểu đã lên tiếng phản đối vì những nội dung không phù hợp với sinh hoạt của gia đình Việt Nam cũng như tình hình xã hội thời ấy. Họ đã lên diễn đàn để đối chất. Trần Lệ Xuân vô cùng bực tức, đùng đùng bỏ phòng họp quốc hội ra về. Sau đó, bà chửi ông Chủ tịch khối đa số là “một con heo”.

Theo nhà ngoại giao John Mecklin, đã từng làm việc với cơ quan USIA (Phòng thông tin Mỹ) ở Việt Nam từ 1961 đến 1962, có quan hệ thân thiết với Tổng thống Diệm và vợ chồng Ngô Đình Nhu thì “Trần Lệ Xuân là một người dễ nổi nóng, muốn áp đặt giải pháp của mình cho những vấn đề chính trị nhưng hầu như luôn làm những vấn đề đó trở nên tai hại. Bà có khả năng diễn đạt tốt và nhanh như như súng liên thanh nổ bằng tiếng Pháp hoặc tiếng Anh”. Theo ký giả Halberstam của nhật báo New York Times, nguyên tắc chính trị của Trần Lệ Xuân khá đơn giản: Nhà họ Ngô luôn luôn đúng, không cần phải thỏa hiệp và cũng không cần để ý đến những chỉ trích. Robert McNamara, nguyên Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, đã nhận xét về Trần Lệ Xuân: “Giống như hầu hết những người Mỹ đến đất nước này, và theo tôi, cả nhiều người Việt nữa, tôi thấy bà Nhu là một người sáng sủa, mạnh mẽ và xinh đẹp, nhưng cũng độc ác và mưu mô - một mụ phù thủy thực sự”.

Chính sách đàn áp của chính quyền độc tài Ngô Đình Diệm với sự tham gia của cả bốn anh em ruột đã giúp chế độ ông Diệm trở nên vững mạnh nhưng lại làm cho dân chúng dần dần xa lánh chế độ, tạo thành những khủng hoảng chính trị cho miền Nam. Mặc dù vợ chồng Ngô Đình Nhu không có một chức vụ chính thức gì trong chính phủ. Chức vụ chính thức của ông Nhu là cố vấn của Tổng thống. Chức vụ chính thức của Trần Lệ Xuân là cầm đầu Phong trào Phụ nữ Liên đới và chịu trách nhiệm về mọi vấn đề phụ nữ một cách tổng quát. Song càng ngày, ảnh hưởng quyền lực của vợ chồng Trần Lệ Xuân càng gia tăng đến mức, nhiều quan sát viên đã bình luận rằng: ông Nhu có nhiều quyền hơn cả ông Diệm vì ông có ảnh hưởng rất mạnh lên những suy nghĩ, quyết định của ông anh Tổng thống. Một số quan sát viên khác thì cho rằng, chính Trần Lệ Xuân mới là nhân vật thống trị trong gia đình nhà Ngô. Càng ngày bà càng tìm cách tham dự vào những chuyện đi ra ngoài địa hạt của chuyện phụ nữ và tìm cách để được ngang hàng với Tổng thống Diệm.

Theo ông Peter Brush, nguyên là cựu sĩ quan Thủy quân lục chiến Mỹ, đã từng đóng quân ở Quảng Trị trong 2 năm 1967 và 1968, tác giả của nhiều công trình nghiên cứu giá trị về Việt Nam, trong khi nỗi bất mãn với chính quyền Ngô Đình Diệm càng ngày càng gia tăng, chính phủ Mỹ không có cách nào khác hơn là thúc ép ông Diệm cải tổ để nới rộng sự ủng hộ của quần chúng. Năm 1959, Đại sứ Mỹ Elbridge Durbrow cố gắng thuyết phục Ngô Đình Diệm phải thay đổi nhân sự trong chính phủ và nhất là loại vợ chồng Ngô Đình Nhu ra khỏi guồng máy cai trị. Tháng 11/1960, các quân nhân thuộc binh chủng Nhảy dù của quân đội Việt Nam cộng hòa đã tổ chức đảo chính ông Diệm cũng có cùng mục đích như vậy. Một trong những đòi hỏi đầu tiên của lực lượng Nhảy dù là ép Trần Lệ Xuân phải dời ra khỏi Dinh Tổng thống. Theo một bản tin của tuần báo Time, Lệ Xuân đã rất hãnh diện khi biết được đòi hỏi này. Trong những giây phút đầu tiên của cuộc đảo chính, Tổng thống Diệm và hầu hết phụ tá trong Dinh Độc Lập đều muốn chấp nhận những đòi hỏi phải thành lập một chính phủ mới. Chỉ một mình Lệ Xuân là bác bỏ tất cả và khăng khăng đòi chiến đấu chống đảo chính đến cùng. Cuối cùng, ông Diệm kêu được những lực lượng vẫn còn trung thành với ông và chấm dứt được cuộc đảo chính của binh chủng Nhảy dù. Hậu quả của cuộc đảo chính gần thành công này là ảnh hưởng của Lệ Xuân đã gia tăng một cách mãnh liệt làm mất tinh thần những kẻ thù của bà. Bàn về sự kiện này, Lệ Xuân đã dương dương tự đắc: “Trước đây thì họ không coi tôi ra gì. Nhưng bây giờ thì họ bắt đầu để ý đến tôi. Và mỗi lần tôi nói điều gì thì họ lại lo âu”.

Trong khi xảy ra cuộc binh biến đó, Đại sứ Durbrow đã đề nghị mời Trần Lệ Xuân qua trú ẩn ở Tòa Đại sứ Mỹ. Lời mời này đã làm cho Lệ Xuân nghi ngờ có bàn tay đồng lõa của Mỹ mặc dầu người Mỹ không bảo trợ cuộc đảo chính này. Càng lúc ông Diệm và ông Nhu càng trở nên hoang tưởng làm cho chế độ càng lấy thế phòng thủ và quần chúng càng trở nên xa lánh. Theo ký giả Halberstam: “Tất cả chuyện gì sai quấy đều đổ tội lên đầu ông bà Nhu” và bà Nhu “đã trở thành mục tiêu của càng nhiều căm thù”. Còn theo sử gia Joseph Buttinger thì “Nhu và vợ là hai người bị thù ghét nhất Nam Việt Nam”.

Với Luật Gia Đình năm 1958, Trần Lệ Xuân vẫn coi là chưa đủ để bảo vệ đạo đức của người Việt Nam. Luật Bảo vệ Luân Lý năm 1962 của bà nhằm tấn công một số lớn hành vi khác như ngừa thai, thi hoa hậu, cờ bạc, nhảy đầm, đánh võ quyền Anh, đá gà và đá cá. Trẻ vị thành niên bị cấm coi một vài loại phim hay kịch. Thầy cúng và hầu đồng bị loại ra ngoài vòng pháp luật. Đĩ điếm bị cấm. Những đạo luật này càng làm cho bà Nhu bị ghét bỏ.

Ngô Đình Diệm biết là ông cần viện trợ Mỹ để giữ vững ghế Tổng thống. Nhưng ông và vợ chồng Ngô Đình Nhu muốn Mỹ phải viện trợ vô điều kiện. Trong khi đó, người Mỹ nghĩ là họ có quyền đưa ra những lời khuyên và họ chờ đợi chế độ Diệm nghe theo lời khuyên của họ. Nhà Ngô không bằng lòng với sự hiện diện ngày càng lan rộng của người Mỹ trong nước. Lệ Xuân gọi một cách đanh đá là “chủ nghĩa Mỹ quốc đáng sợ”. Và nhà Ngô sẵn sàng hành động để giới hạn chuyện này. Trước hết, Lệ Xuân ra lệnh cho cảnh sát bắt những người đàn bà Việt Nam đi ngoài đường với người Mỹ.

Theo ký giả Halberstam, cách hành xử của Trần Lệ Xuân đã làm cho mối quan hệ với các sĩ quan cao cấp càng trở nên tệ hại, đặc biệt, khi ở trong Dinh Tổng thống, bà thường đối xử, ra lệnh cho họ như tôi tớ trong nhà. Bởi thế, theo đánh giá của nhiều người, mầm mống sụp đổ của chính quyền họ Ngô một phần là do vợ chồng Ngô Đình Nhu gây ra, nhất là do sự kiêu căng và lộng quyền của Lệ Xuân.

Trở lại với cuộc bạo động của nhóm sĩ quan Sài Gòn kéo quân về Dinh Tổng thống bao vây, nổ súng, âm mưu lật đổ chế độ gia đình trị của Ngô Đình Diệm nhưng thất bại và bị Trần Lệ Xuân đòi giết sạch ngày 11/11/1960 ấy. Họ gồm trung tá Vương Văn Đông, trung tá Nguyễn Triệu Hồng, thiếu tá Nguyễn Huy Lợi, thiếu tá Phạm Ngọc Liễu, thiếu tá Nguyễn Kiên Hùng, đại úy Nguyễn Tiến Lộc... Những người này nắm trong tay một số lực lượng không nhỏ tại Trung tâm huấn luyện Quang Trung, chỉ huy các tiểu đoàn thủy quân lục chiến, pháo binh và nhảy dù. Bất mãn trước việc tổng thống Ngô Đình Diệm thâu tóm quyền hành vào gia đình mình như Ngô Đình Cẩn thành “lãnh chúa miền Trung”, Ngô Đình Nhu làm cố vấn tổng thống và ngao ngán nhất là “bà cố vấn Ngô Đình Nhu” thọc tay vào chính trường, xem người dưới quyền chồng mình chẳng ra gì và đã bị báo chí nước ngoài đặt cho hỗn danh “Rồng cái”, nhóm sĩ quan tỏa quân khống chế Đài phát thanh Sài Gòn, sân bay Tân Sơn Nhất, chiếm giữ, uy hiếp các cơ quan trọng yếu như Bộ Tổng tham mưu, trụ sở quốc hội từ sáng ngày 11/11/1960, rồi bao vây dinh Độc Lập. Đại tá Nguyễn Chánh Thi, Tư lệnh lữ đoàn nhảy dù, chỉ huy quân đảo chính, đã ra lệnh bắn súng cối và nã đại liên trực diện vào dinh.

Để đối phó, Ngô Đình Diệm dùng kế hoãn binh, đề nghị cùng phe đảo chính đàm phán để lập chính phủ mới, nhưng thực chất nhằm kéo dài thời giờ gọi viện binh giải cứu. Đến chiều hôm ấy, đáp ứng lời kêu gọi của ông Diệm, đại tá Trần Thiện Khiêm đã chỉ huy các cánh quân tiến về Sài Gòn phá được vòng vây quân đảo chính tại vùng Phú Lâm, tiến thẳng về phía dinh. Tiếp đó, các lực lượng hải quân, lục quân, thiết giáp lần lượt tiếp cứu. Quân đảo chính rút chạy, đại tá Nguyễn Chánh Thi và trung tá Vương Văn Đông cùng một số sĩ quan khác vào phi trường Tân Sơn Nhất gặp Nguyễn Cao Kỳ (lúc bấy giờ là thiếu tá không quân) để nhờ giúp đỡ. Thi nói: “Kỳ, chúng tôi đã thất bại. Chúng tôi phải thoát khỏi nơi đây bằng không thì Diệm sẽ chém đầu chúng tôi”.

Kỳ tỏ ra hảo hớn, không bỏ rơi chiến hữu trong cơn nguy biến, hào phóng đưa một chiếc máy bay DC3 cho đại tá Thi trốn đi. Sau này, Nguyễn Cao Kỳ viết trong hồi ký: “Tôi muốn giúp đỡ họ, lúc nào nhảy dù (Thi) và không quân (Kỳ) cũng rất thân thiết với nhau vì tính chất của công việc làm. Thế nhưng, tôi không thể nào đích thân lái máy bay chở họ đi vì nếu làm thế, tôi sẽ không bao giờ trở lại Việt Nam được. Thế là 15 người trong nhóm âm mưu đảo chính đã thoát đi trên máy bay do đại úy Phan Phụng Tiên lái. Và dĩ nhiên là tôi không bao giờ lấy lại được chiếc máy bay đó và Diệm đã tỏ ra nghi ngờ”. Phe Thi bắt giữ trung tướng Thái Quang Hoàng “tư lệnh biệt khu thủ đô” để làm con tin. Dinh Độc Lập lệnh cho hai phi cơ khu trục đuổi theo chiếc máy bay của nhóm Thi xem họ đi về hướng nào. Đến biên giới Campuchia, bắt kịp Thi, hai khu trục cơ điện về xin chỉ thị dinh Độc Lập có nên bắn hạ hay không? Lúc đó, Trần Lệ Xuân đứng bên cạnh tướng Nguyễn Khánh liền la lên: “Bắn rơi chiếc máy bay đó đi. Giết hết tụi nhảy dù phản nghịch”. Thấy vậy, tướng Khánh cau mày, sẵng giọng nói: “Tôi là tư lệnh ở đây. Xin bà để tôi quyết định”. Nói đoạn, ông Khánh lệnh cho hai khu trục cơ quay về Sài Gòn.

Vì thế, dư luận trong quân đội hồi đó đồn rầm rĩ lên rằng: “Lệnh tử hình lũ phản nghịch” lúc ấy là do Trần Lệ Xuân tự ý ban ra mà không thèm hỏi ý kiến của tổng thống Diệm và chồng bà là cố vấn Ngô Đình Nhu. Điều đó chứng tỏ bà quá lấn lướt, lộng quyền. Ngay sau cuộc đảo chính bất thành, Lệ Xuân đã lớn tiếng mạt sát đám tướng, tá, tổng, bộ trưởng hèn nhát đã lánh mặt trong ngày 11/11/1960, đến khi bình yên mới thò mặt ra ca bài “trung thành” với Ngô Đình Diệm.

Thái độ kênh kiệu, lộng quyền trên của Trần Lệ Xuân đã được nhắc đến trong hồi ký chính trị của Tướng Đỗ Mậu, nguyên Giám đốc an ninh quân đội Sài Gòn một thời. Có lần, trong một bữa ăn sáng, đúng thời điểm phong trào đấu tranh Phật giáo lên cao, Lệ Xuân đã nặng lời trách móc ông Diệm trước mặt một người nước ngoài rằng: “Anh đã đánh tan Bình Xuyên, đánh bại Hòa Hảo, dẹp yên nhảy dù của bọn Nguyễn Chánh Thi mà bây giờ anh lại chịu thua mấy tên nhà sư không có một tấc sắt trong tay. Anh là đồ hèn. Anh là con sứa”.

Lời nói ấy không chỉ chứng tỏ cách ăn nói ngông nghênh, lộng quyền, lên mặt của “đệ nhất phu nhân” Trần Lệ Xuân mà còn cho thấy vai trò và thái độ quyết liệt của bà trong chủ trương đàn áp Phật giáo của nhà Ngô - với việc nổ súng giết hại Phật tử trong lễ Phật đản đẫm máu năm 1963.

KỲ 6: PHONG TRÀO ĐÀN ÁP PHẬT GIÁO TÀN KHỐC – MẦM MỐNG SỤP ĐỔ CỦA CHÍNH QUYỀN NHÀ NGÔ

Trong hình ảnh có thể có: 4 người, mũ
Link: http://www.giaodiemonline.com/noidung_detail.php?newsid=11678
 
| Chủ Trương | Hướng dẫn kỹ thuật | Tài liệu Anh ngữ | Cài đặt Unicode |