Thứ Năm, 14, tháng Mười Hai, 2017
 
 
 
| Nghiên cứu và đối thoại |
Cuộc đời thăng trầm của người đàn bà tài sắc Trần Lệ Xuân và những cái chết thảm khốc của người thân dưới cái nhìn nhân quả
Hoàng Anh Sướng
đăng ngày 13/10/2017
 

Nhắc đến chính quyền Ngô Đình Diệm ở Miền Nam trước năm 1975, người ta không thể không nhắc đến người đàn bà tài sắc Trần Lệ Xuân. Tuy chỉ là vợ của Ngô Đình Nhu, người em trai kiêm cố vấn đặc biệt của Tổng thống Ngô Đình Diệm nhưng Trần Lệ Xuân đã ngự trị như một “đệ nhất phu nhân”, quyền uy khuynh đảo cả triều đình nhà Ngô suốt 10 năm trời. Năm 1963, đúng lúc ở đỉnh cao danh vọng, tờ New York Times đã gọi vị Đệ nhất Phu nhân miền Nam Việt Nam 39 tuổi này là người đàn bà “quyền lực nhất” ở châu Á và so sánh bà với Lucrezia Borgia. Thế nhưng sau cuộc đảo chính ngày 2/11/1963, cùng với sự sụp đổ của đế chế họ Ngô, cuộc đời của người đàn bà quyền lực ấy cũng rơi xuống vực thẳm. Kể từ bấy, bà phải sống cuộc sống lưu vong buồn tủi ở Ý, Pháp. Song điều kinh khiếp nhất là bà phải chứng kiến tới 10 cái chết thảm khốc của những người ruột thịt, mà toàn là chết bất đắc kỳ tử. Nhiều người bảo, đó là cái kết cục tất yếu của một con người tham lam, tàn độc, ôm ấp nhiều ảo vọng chính trường, gieo rắc quá nhiều tội ác, nhất là các vụ đàn áp đẫm máu Đạo Phật.

Kể về những thăng trầm của cuộc đời Trần Lệ Xuân với những góc khuất, những bí mật động trời trên chính trường, tình trường, không phải để bôi nhọ, phỉ báng bà mà đơn giản, chúng tôi chỉ muốn làm sáng tỏ thêm một sự thật hiển nhiên, một chân lý: Luật nhân quả xưa nay thật công bằng, không ưu ái, không chừa một ai. Gieo ác gặt ác, gieo gió gặt bão.

KỲ 1: ĐỨA CON BỊ GHẺ LẠNH TRONG GIA ĐÌNH QUYỀN QUÝ

Trần Lệ Xuân sinh ngày 22/8/1924 trong một gia đình quyền quý, dòng dõi trâm anh thế phiệt. Cha bà là luật sư Trần Văn Chương, con trai cả của Đông các Đại học sĩ Trần Văn Thông. Mẹ bà là quận chúa Thân Thị Nam Trân, con gái của Đông các Đại học sĩ Thân Trọng Huề. Ông Chương là đại địa chủ và là luật sư Việt Nam đầu tiên có bằng tiến sĩ luật của Pháp. Bà Nam Trân nhan sắc tuyệt mỹ đến độ người Pháp vì quá say mê bà đã đặt cho bà biệt danh “Viên ngọc trai Á châu”. Họ sống một cuộc đời vương giả với hai chục người hầu hạ từ đầu đến chân. Mặc dù được cha mẹ đón các thầy từ khắp nơi về dạy dỗ ca hát, thêu thùa cũng như nghệ thuật nội trợ nhưng từ bé đến lớn, bà Nam Trân không bao giờ phải đụng đến bất kỳ việc gì ngoại trừ rung chuông gọi người hầu. Bà được cha mẹ gả chồng khi mới tròn 12 tuổi. Trọng trách lớn nhất của đời bà với tư cách người vợ là sinh cho chồng một đứa con trai thừa tự.

Cũng cần nói thêm rằng, năm 13 tuổi, trước khi sinh ra Trần Lệ Xuân, bà Nam Trân đã sinh hạ được một bé gái đặt tên là Trần Lệ Chi. Vì thế, áp lực sinh con trai đè nặng lên tấm thân ngọc ngà của bà. Bởi thời đó, do ảnh hưởng của Đạo Khổng, trọng nam khinh nữ, người phụ nữ dù xinh đẹp, tài năng đến đâu mà không sinh hạ được con trai để nối dõi tông đường cho nhà chồng thì cũng coi như là đồ bỏ đi. Bà mẹ chồng đã nhiều lần nói bóng gió rằng: nếu đẻ đứa thứ hai con gái, bà sẽ tìm vợ lẽ cho ông Chương. Do vậy, lúc mang thai đứa con thứ hai, bà Nam Trân đã tự ám thị rằng: mình đang mang thai đứa con trai. Đến độ, tất cả đồ tã lót, quần áo, đồ chơi, bà đều sắm sanh cho bé trai. Cho nên, khi bé Trần Lệ Xuân cất tiếng khóc chào đời, bác sĩ người Pháp nói là con gái, người mẹ 14 tuổi như rơi xuống hố sâu tuyệt vọng. Bà không thèm nhìn mặt đứa bé đỏ hỏn đang khóc thét. Bà quay mặt vào tường, cắn chặt môi, cố kìm tiếng khóc. Mặc dầu ít ngày sau, một thầy giỏi về tử vi, tướng số đến xem lá số cho bé, đã thốt lên: “Thật là ngoài sức tưởng tượng. Đứa bé sau này sẽ leo lên đến những đỉnh cao vời vợi. Ngôi sao chiếu mệnh của nó không thể nào tốt hơn”. Song lời dự báo tương lai sáng lạn ấy vẫn không thể làm vơi nỗi buồn lo thăm thẳm trong lòng người mẹ trẻ Nam Trân.

Không khó hiểu khi tuổi thơ của bé Trần Lệ Xuân trôi đi trong sự thờ ơ, ghẻ lạnh của mẹ. Ngay cả khi một năm sau, bà Nam Trân sinh hạ được cậu quý tử đặt tên là Trần Văn Khiêm, tình cảm của mẹ dành cho bé Lệ Xuân cũng chẳng thay đổi gì, thậm chí, vị thế của bé Lệ Xuân càng trở nên thấp kém. Bằng chứng là năm 1926, khi ông Chương được chính phủ Pháp đề bạt một chức vụ mới ở Cà Mau, vợ chồng ông cùng hai con: Trần Lệ Chi, Trần Văn Khiêm rồng rắn vào Nam, chỉ duy nhất bé Lệ Xuân bị bỏ lại. Ông Chương bảo đó là cách biểu hiện tấm lòng hiếu thảo đối với cha mẹ ông và là bằng chứng bảo đảm rằng, ông sẽ quay trở lại nhưng thật ra, bé Lệ Xuân chỉ như một tờ biên lai ở phòng giữ đồ. Cô bé đã trở thành vật trao đổi giữa cha và ông nội.

Theo bà Monique Brinson Demery, tác giả cuốn “Madam Nhu Trần Lệ Xuân - quyền lực Bà Rồng”, ở với ông bà nội, ban đầu, việc giáo dưỡng hàng ngày bé Lệ Xuân được giao phó cho các bảo mẫu. Song ngay cả người giúp việc trong nhà cũng hiểu địa vị thấp kém của đứa trẻ mà họ trông nom, vì vậy họ bỏ mặc cô bé. Những bảo mẫu giao Lệ Xuân cho những người làm vườn. Họ chơi đùa với bé như một món đồ chơi, thậm chí, đôi lúc họ tắm rửa cô cùng với đàn gia súc. Chỉ đến khi cô bị ốm nặng, nằm giữa lằn ranh giữa sống và chết, bố mẹ cô mới quay trở lại Hà Nội đón cô vào Cà Mau. Song ngay cả khi đoàn tụ cùng cha mẹ, Trần Lệ Xuân vẫn bị hắt hủi, phân biệt đối xử trước em trai, chị gái của mình dù trong thâm tâm, những người trong gia đình luôn bất ngờ trước sự thông minh hiếm có của bé. Nhiều lần, chỉ vì thông minh đến mức làm “bẽ mặt” “cục vàng”, người thừa tự của gia đình là em trai Trần Văn Khiêm mà Trần Lệ Xuân bị phạt. Có lần, vì ghen tức, đố kỵ bà chị thông minh, giỏi giang hơn mình, bé Khiêm đã giật phắt cây bút lông ném vào đầu chị. Bị cây bút nhọn như mũi tên đâm thẳng vào trán, mực, máu chảy tràn trên mặt, Lệ Xuân chạy lên cầu thang để cho mẹ thấy em trai cô không phải đứa ngoan ngoãn. Thấy thế, bà mẹ nổi giận đùng đùng nhưng không phải với con trai bà mà là chính với bé Lệ Xuân. Vừa nứt mắt ra mà đã đanh đá, ghớm ghiếc, quyết tâm làm bẽ mặt cục vàng của bà, người thừa tự của gia đình danh giá. Và thế là cô bé bị phạt.

Cuộc hôn nhân không tình yêu, vụ lợi, đầy toan tính

Năm Lệ Xuân lên 8 tuổi, cha cô được bổ nhiệm vào luật sư đoàn Hà Nội, công việc sáng giá nhất mà một luật sư Việt có thể nhắm tới trong chế độ thực dân. Thế là cả gia đình cô lại quay trở lại Hà Nội, sống tại căn biệt thự số nhà 71 đại lộ Gambetta. Từ bấy, Lệ Xuân theo học tại Trường Albert Sarraut, chỉ dành cho con cái người Pháp rồi tốt nghiệp tú tài. Nhan sắc tuyệt mỹ, trí tuệ hơn người, cô đã được kế thừa trọn vẹn từ mẹ - “viên ngọc trai Á Châu”, thậm chí, ở cô, vẻ đẹp, sự thông minh còn ở một nấc cao hơn. Năm 1940, khi cô vừa tròn 16 tuổi, tại căn biệt thự lộng lẫy này, trong một bữa tiệc đông đúc, qua cha mẹ, cô đã làm quen với Ngô Đình Nhu, một chàng trai trí thức ít nói, hay mỉm cười, 30 tuổi, vừa trở về Việt Nam sau hơn 10 năm du học tại Pháp. Tìm hiểu, được biết, ông Nhu là con trai thứ tư trong một gia đình danh giá. Cha ông, Ngô Đình Khả, một quan đại thần dưới triều Nguyễn, đã từng làm đến chức Thượng thư Bộ lễ dưới triều vua Thành Thái. Những người anh của Ngô Đình Nhu cũng đều thành đạt. Người anh cả Ngô Đình Khôi bấy giờ đang làm thống đốc tỉnh Nam Ngãi. Người anh thứ hai Ngô Đình Thục đang trên bước đường trở thành một trong những vị giám mục Công giáo đầu tiên ở Việt Nam. Người anh thứ ba Ngô Đình Diệm, sau khi từ chức Thượng thư Bộ lại dưới triều vua Bảo Đại, do bất đồng chính kiến với chính quyền bảo hộ Pháp, ông đã tham gia một số tổ chức đảng phái chính trị và đang gây thanh thế.

Trí tuệ thông minh hơn người, con mắt tinh đời của Lệ Xuân đã mách bảo cô việc lấy ông Nhu là một cơ hội đổi đời lớn, không thể tốt hơn. Vì thế, cô đã nhận lời đính ước với ông Nhu chỉ sau lần đầu tiên gặp gỡ tại vườn nhà ít hôm. Ba năm sau lễ đính hôn, một đám cưới long trọng theo nghi lễ công giáo đã diễn ra tại thánh đường Saint Joseph (nay là Nhà thờ Lớn Hà Nội). Lệ Xuân, vốn xuất thân trong một gia đình Phật tử, nay, cải đạo theo chồng sang đạo Công giáo. Việc nhập đạo Thiên Chúa đối với Lệ Xuân chẳng khó khăn gì vì từ nhỏ cô đã học ở trường dòng Couvent des Oiseaux, được các nữ tu dạy kinh và phép đạo, giáo lý, tích thánh trong đạo… Lễ nhập đạo của Lệ Xuân được tổ chức tại Nhà thờ Lớn, do Ngô Đình Thục làm chủ lễ, rất long trọng, có nhiều nhân vật quan trọng người Việt lẫn Pháp tham dự.

Theo ông Trần Văn Lý, một người thân trong gia đình Trần Lệ Xuân, việc Ngô Đình Nhu mê Lệ Xuân là chuyện bình thường giữa một người lớn tuổi lúc nào cũng ru rú bên sách vở, ít giao tiếp và một cô gái xuân thì phơi phới, được hấp thụ lối sống Tây. Tuy nhiên, những người trong gia đình ông Nhu lại không hài lòng lắm về cô dâu tương lai của họ. Ông Lý kể: “Năm 1943, ông Ngô Đình Khôi và Ngô Đình Thục đi Hà Nội cưới cô Trần Lệ Xuân cho ông Nhu. Đoạn đường Huế – Hà Nội quá xa nên họ phải dừng xe và nghỉ lại đêm tại Hà Tĩnh trong dinh tuần vũ của tôi. Trong dịp này, sợ tôi chê cười nên hai ông Khôi và Thục phải tâm sự phân trần với tôi như sau: Gia đình chúng tôi nào có muốn rước “ngữ ấy” về nhà để phá hoại gia phong, huống chi cụ tôi ngày xưa với các ông Trần Văn Thông, Thân Trọng Huề vốn chống đối nhau thì làm sao có thể kết làm thông gia được. Nhưng vì chú Nhu quá mê con gái ông Trần Văn Chương, nên chúng tôi đành phải khổ tâm mà chiều lòng chú ấy”. Dù Ngô Đình Khôi và Ngô Đình Thục, hai ông anh lớn trong gia đình, có than vãn thế nào thì lễ cưới cũng phải tiến hành như đã định”.

Trong cuốn “Madam Nhu Trần Lệ Xuân - quyền lực Bà Rồng”, đám cưới của cô đã được tác giả Monique Brinson Demery miêu tả khá chi tiết: “Cô mang tất tay dài và một chiếc khăn choàng đăng ten quấn quanh mái tóc đen, chảy dài xuống đôi vai. Lời tuyên xưng đức tin, mà Lệ Xuân đọc to, khẳng định niềm tin mới của cô vào Thiên Chúa, Chúa Giê-su, Chúa thánh thần, và giáo hội cùng tất cả những phép bí tích của nó. Vị linh mục vừa đọc “nhân danh Cha, và Con, và Thánh thần” vừa rưới nước thánh lên trán Lệ Xuân ba lần, sau đây mọi tội lỗi của cô đã được rửa sạch. Tiếp đó Lệ Xuân được đặt tên thánh. Người ta chọn tên Lucy, theo tên thánh Lucia, thánh bản mệnh của người mù. Là một người Cơ đốc giữa những kẻ ngoại giáo, Lucy đã chọn giữ mình đồng trinh và tự chọc mù mắt thay vì lấy một kẻ ngoại giáo. Nét đẹp nhất của Lệ Xuân, đôi mắt long lanh của cô, mở to trong suốt buổi lễ, một thái độ thận trọng mới mẻ đối với những cảm giác mà cô phải dè chừng hầu hết thời gian - tính ưa dâm dục, sự tự mãn và kiêu căng. Tất cả mọi cặp mắt đều hướng về cô dâu 18 tuổi khi cô bước vào khu vườn. Trong bức ảnh cưới trang trọng của Lệ Xuân, chụp vào ngày cưới của cô, nét mặt cô bình tĩnh và nghiêm trang. Hai bàn tay cô đan lại phía trước nhưng bị che khuất khỏi ống kính camera bởi những ống tay áo rộng của chiếc áo cưới truyền thống. Phần rộng của chiếc áo lụa đỏ được thêu những ký tự tiếng Hoa về hạnh phúc lứa đôi và lấm chấm những bông hoa nhiều họa tiết thanh tú. Những dải băng vàng vương giả vòng quanh cổ và hai ống tay áo, một phong cách phù hợp với con gái của một công chúa hoàng tộc. Một trái tim lớn bằng ngọc bích rạng rỡ trên chiếc vòng cổ của cô; đôi khuyên tai hoa hồng bằng kim cương trang nhã tuyệt vời. Chiếc khăn đóng màu đen xếp nếp trên trán. Mái tóc chẻ ngôi giữa và quấn thành lọn quanh đầu. Mắt long lanh viền phấn và đôi mày kẻ thật kỹ. Đôi môi lấm vết son và má đánh phấn hồng. Cô trông như một búp bê sứ sẽ rạn vỡ ngay khi đánh bạo nở nụ cười, nhưng một mối thông gia bền vững như thế này là một vấn đề hệ trọng. Lệ Xuân đã sắm vai trò của mình một cách không thể chê trách. Từ đây trở đi, cô sẽ là bà Nhu”.

Cuộc hôn nhân của bà Nhu đã trở thành đề tài đàm tiếu, dị nghị thời ấy. Người ta tin cuộc hôn nhân đó không phải vì tình yêu mà là vì những mưu tính đầy thực dụng. Sau này, khi Ngô Đình Diệm được Mỹ hậu thuẫn lên làm tổng thống của cái gọi là nền đệ nhất cộng hòa ở Sài Gòn, Ngô Đình Nhu được cử làm cố vấn đặc biệt, Trần Lệ Xuân nghiễm nhiên có được một vị trí nổi bật trong chính trường Sài Gòn khi đó. Trong những cuộc trả lời phỏng vấn với các ký giả Tây phương, Trần Lệ Xuân đã thẳng thắn thừa nhận rằng, cuộc hôn nhân của bà với ông Nhu là vấn đề thực tế, không phải chuyện yêu đương lãng mạn. “Tôi chưa từng có một tình yêu ngọt ngào”. Bà thú nhận với phóng viên Charlie Mohr của tạp chí Time. “Tôi đã đọc những thứ đó trong sách vở, nhưng tôi không tin chúng thật sự tồn tại. Hay có lẽ chỉ với một số rất ít người mà thôi”.

Chính vì cuộc hôn nhân đầy toan tính, vụ lợi, không tình yêu ấy mà sau này, khi trở thành đệ nhất phu nhân của chính quyền Ngô Đình Diệm, trong khi đời sống tình dục của Trần Lệ Xuân lúc nào cũng nóng bỏng như ngọn núi lửa thì Ngô Đình Nhu gần như bất lực, không màng đến chuyện chăn gối. Vì thế, Trần Lệ Xuân đã gian díu với nhiều người thuộc giai tầng “thượng lưu” như tướng tá trong quân đội, văn nghệ sĩ, cố vấn Mỹ…. Trong số đó, người đàn bà đa tình này có tình cảm đặc biệt và thường lén lút tư tình với tướng Trần Văn Đôn hay sau này là với chỉ huy dàn nhạc giao hưởng Sài Gòn tên Hoàng. Mặc dù anh em họ Ngô cố giấu kín chuyện “xấu nàng hổ ai” của Trần Lệ Xuân nhưng không hiểu sao chuyện đó đã lan ra khắp thiên hạ. Và bỗng chốc trở thành đề tài đàm tiếu của các sĩ quan, tướng lãnh và các mệnh phụ phu nhân những lúc trà dư tửu hậu. Người ta bảo: “Đầu của Ngô Đình Nhu không còn chỗ để cho vợ cắm sừng”.

Source : https://www.facebook.com/permalink.php?story_fbid=1935217720051437&id=100006896824601

Link: http://www.giaodiemonline.com/noidung_detail.php?newsid=11632
 
| Chủ Trương | Hướng dẫn kỹ thuật | Tài liệu Anh ngữ | Cài đặt Unicode |