Thứ Hai, 20, tháng Mười Một, 2017
 
 
 
| Nghiên cứu và đối thoại |
Tướng Trần Văn Đôn của chế độ Sài Gòn: Hành xử như cờ gặp gió
Văn Thư
đăng ngày 24/11/2016
 

Đánh giá về đội ngũ tướng lĩnh trong quân đội Sài Gòn trước năm 1975, ông Nguyễn Văn Ngân, phụ tá tin cẩn một thời của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, đã chua chát và gay gắt nói: "Hầu hết các tướng lĩnh đều thoát thai từ một môi trường xấu, nguyên phục vụ trong những đội quân phụ thuộc của quân đội viễn chinh Pháp, là những đội quân thiếu truyền thống. Họ không có lý tưởng chính trị và cũng không có lương tâm trách nhiệm của một người lính chuyên nghiệp. Vì không thể tiến thân bằng con đường học vấn nên họ đã phải vào quân đội để kiếm sống.

Do sự bành trướng của quân đội nên họ được thăng cấp rất nhanh nhưng thiếu kinh nghiệm chiến trường, không biết hoặc không cần biết tới nghệ thuật lãnh đạo, chỉ huy. Đa số đều tham nhũng, nuôi dưỡng tình trạng lính ma, lính kiểng, đã làm băng hoại cả một quân đội...". Còn khi trả lời câu hỏi: “Tướng nào giỏi đóng tuồng và chuyên "trở cờ"?", ông Quách Tòng Đức, người từng làm Đổng lý Văn phòng cho Tổng thống Ngô Đình Diệm và đã nhìn thấy quá nhiều tấn trò nhem nhuốc trên sân khấu chính trị Sài Gòn một thuở đã khẳng định ngay: "Đó là Trần Văn Đôn!".

“Anh tây con” bất trung

Tướng Trần Văn Đôn là con út trong gia đình cựu phú ở miền Tây Nam Bộ. Cha ông ta (cũng tên là Trần Văn Đôn, như mọi thành viên trong gia đình, cả trai lẫn gái, chỉ khác nhau ở tên bằng tiếng Pháp) sang “mẫu quốc”Pháp học nghề y và ông ta đã được sinh ra ở đó ngày 19-8-1917, tại Cauderan, Bordeaux. Tên Pháp của ông ta là Andre… Năm lên ba tuổi, cậu bé Andre theo cha về nước. Năm lên sáu, Trần Văn Đôn tại Sài Gòn đã vào học ở trường tiểu học Lasan Taberd rồi vào trường Lycée Chaseloup Laubat. Chính ở trường trung học này, Trần Văn Đôn đã làm quen với một học sinh rất giỏi chơi thể thao tên là Dương Văn Minh…

Lớn lên, năm 1927, Trần Văn Đôn lại được gia đình cho quay trở lại Pháp để du học nhưng đến năm 1929 lại hồi hương về Việt Nam. Năm 1939, ông ta tốt nghiệp tú tài toàn phần Pháp (Part 2) rồi sang Paris theo học ở Trường Thương mại cao cấp Hautes Etudes Commerciales (HEC). Khi chiến tranh thế giới thứ hai Bùng nổ, ông ta gia nhập quân đội Pháp  và theo học Trường Quân sự đặc biệt Saint Cyr (école spéciale militaire de Saint-Cyr). Trong thời gian ông ta là học viên ở đây, nước Pháp đã bị quân đội phát xít Đức chiếm đoạt  và bản thân Trần Văn Đôn đã bị bắt làm tù binh tại chiến trường La Loire, bị giam giữ hai tháng tại trường Thiết giáp Kỵ binh Saumur. 

Rồi Trần Văn Đôn trở lại Việt Nam trên con tầu thủy Ville de Strasbourg và tham gia các hoạt động trong quân đội thực dân. Ông ta đã trở thành sĩ quan huấn luyện tân binh  cho chính quyền thực dân cầm súng cho Pháp chống lại cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta. 

Đầu năm 1945, sau khi phát xít Nhật đảo chính lật đổ chính quyền thực dân Pháp tại Đông Dương, Trần Văn Đôn   đã cùng đám tàn quân Pháp chạy sang Trung Quốc. Khi quân Pháp tái chiếm lại nước ta, Trần Văn Đôn đã theo về và được thăng cấp thiếu úy, phục vụ trong văn phòng của tướng Lacques – Philippe Leclerc, lúc đó là Tư lệnh Quân Viễn chính Pháp tại Đông Dương. Cuối năm 1945, Trần Văn Đôn được chọn vào biệt đội hỗ trợ cho cựu hoàng Duy Tân, nguyên thiếu tá quân đội Pháp nhưng do cựu hoàng bị tử nạn máy bay ngày 26/12/1945 nên ông ta được chuyển sang Sở Nghiên cứu lịch sử Pháp. Đầu tháng 10/1946, Trần Văn Đôn được thăng cấp trung úy. 

Đầu năm 1948, khi tướng Nguyễn Văn Xuân  được cựu hoàng Bảo Đại chỉ định làm Thủ tướng của cái gọi là chính phủ lâm thời quốc gia Việt Nam (thực chất là bù nhìn làm tay sai cho thực dân Pháp), Trần Văn Đôn đã được cử làm sĩ quan tùy tùng của Nguyễn Văn Xuân. Tháng 10-1949, ông ta được thăng quân hàm đại úy.

Cuối năm 1949, để chuẩn bị cho bộ máy của quân đội tay sai thuần Việt, thực dân Pháp đã đồng ý chuyển bốn sĩ quan người Việt mang quốc tịch Pháp trong Lực lượng Liên hiệp Pháp sang biên chế của Bộ Quốc phòng cái gọi là chính phủ quốc gia Việt Nam. Trong bốn người này có  đại úy Trần Văn Đôn (cùng với thiếu tá Trần Văn Minh, thiếu tá Lê Văn Kim và đại úy Nguyễn Khánh). Tháng 5/1950, cả bốn sĩ quan này được đưa sang Pháp theo học một khóa ngắn hạn tại trường cao đẳng Quốc phòng  tại Paris.

Sau khi về nước, đầu năm 1952, Trần Văn Đôn chính thức trở thành sĩ quan trong cái  gọi là Quân đội Quốc gia Việt Nam và được thăng thêm một cấp (thiếu tá). Tháng 5/1952, thiếu tá Trần Văn Đôn được bổ nhiệm làm Chánh Sở An ninh Quân đội Quốc gia đầu tiên trực thuộc Bộ Tổng tham mưu. Hai tháng sau, ông ta được thăng cấp trung tá. Ngay sau đó, Sở An ninh Quân đội đã được đổi thành Nha Tác động Tinh thần (gồm cả An ninh Quân đội lẫn phòng 5) và chức Chánh Sở cũng được đổi thành Giám đốc Nha. Ngày 1/6/1953, Trần Văn Đôn được thăng quân hàm đại tá. Tới cuối tháng 7/1853, ông ta bàn giao chức Giám đốc Nha Tác động tinh thần cho đại tá Mai Hữu Xuân để nhận chức vụ Tham mưu trưởng Liên quân tại Bộ Tổng Tham mưu từ 1-8 thay cho đại tá Trần Văn Minh.

Khi Ngô Đình Diệm được Bảo Đại, lúc đó là Quốc trưởng trong chính quyền bù nhìn làm tay sai cho thực dân Pháp, chọn làm Thủ tướng, Trần Văn Đôn cũng như nhiều kẻ đồng hội đồng thuyền đã nhanh chóng trở cờ  chống lại những nhân vật thân Pháp thuần túy (trong đó có nhiều thượng cấp trực tiếp của ông ta). Và quay sang  phò tá Ngô Đình Diệm trong những nỗ lực thâu tóm quyền lực ở miền Nam với sự hậu thuẫn của Mỹ. 

Chính vì thế nên Trần Văn Đôn  mau chóng lọt vào mắt xanh của Ngô Đình Diệm. Sau khi góp tay dẹp những lực lượng chống đối Ngô Đình Diệm, cả Trần Văn Đôn và Dương Văn Minh đã được đeo quân hàm tướng của chế độ Sài Gòn từ ngày 30/4/1955. Năm 1956, tướng Trần Văn Đôn còn được giao cho chức Tổng Tham mưu trưởng của quân đội Sài Gòn. Để có thể ngồi trên vị trí cũng vào loại chóp bu này, Trần Văn Đôn đã công khai bày trò đốt quốc tịch Pháp của mình, không ngại mang tiếng ăn cháo đá bát.

Tổng thống Ngô Đình Diệm đã rất hài lòng với sự trở cờ đó của Trần Văn Đôn. Chính vì thế nên đầu tháng 2/1957, Trần Văn Đôn  đã được thăng cấp trung tướng cùng với một người bạn cũ từ thời thơ ấu là Dương Văn Minh. Tháng 5/1957, trung tướng Trần Văn Đôn là sĩ quan quan tùy viên tháp tùng Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm trong chuyến thăm chính thức nước Mỹ trong 10 ngày. Tới tháng 10/1957, ông ta được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Quân đoàn 1 và Vùng 1 chiến thuật thay thế trung tướng Thái Quang Hoàng. Năm 1959, ông ta được cử sang Mỹ du học khóa Vũ khí Cận đại tại Fort Bliss thuộc tiểu bang Texas…

Và cũng từ khi về nước từ Mỹ, Trần Văn Đôn mới bắt đầu bộc lộ ngày một rõ hơn những sự không hài lòng của mình với chính sách và phong cách cai trị của Ngô Đình Diệm. Mâu thuẫn giữa họ ngày một âm ỉ gia tăng… Dường như cũng đoán được phần nào tâm trạng của Trần Văn Đôn nên Tổng thống Ngô Đình Diệm đã tìm cách tước bỏ dần quyền lực thực  tế của viên tướng này. Ngày 8/12/1962, Trần Văn Đôn phải rời chức Tư lệnh Quân đoàn 1 để về lại Bộ Tổng Tham mưu giữ chức Tư lệnh Lục quân, một vị trí mang tính chất hữu danh vô thực. Những viên tướng quen biết cũ của ông ta cũng chịu chung số phận: tướng Dương Văn Minh được cử làm Tư lệnh Hành quân Bộ Tổng Tham mưu, tướng Lê Văn Kim  làm Phụ tá Tư lệnh Bộ Tư lệnh Hành quân, tướng Trần Văn Minh làm Chỉ huy trưởng Đại học Quân sự…

Cho tới cuối đời, Trần Văn Đôn vẫn bị dư luận Sài Gòn coi là một anh Tây con bất trung bất nghĩa, ăn chơi đàng điếm. "Dấu ấn của quỷ" gắn lên trán ông ta từ thời trẻ đã không bao giờ mờ phai.

Trần Văn Đôn (2/11/1963).

Giở giáo hại ân nhân

Người đã một lần phản chủ thì rất có thể sẽ phản chủ thêm nhiều lần khác nữa. Trần Văn Đôn chính là một người như thế. Tới đầu những năm 60 của thế kỷ trước, tên họ Trần Văn Đôn ngày một xuất hiện nhiều hơn trong các bản báo cáo  của chi nhánh CIA tại Sài Gòn về các âm mưu đảo chính đang được ấp ủ. Cũng thông qua Trần Văn Đôn mà chi nhánh CIA ở Sài Gòn biết được thêm nhiều chi tiết nội bộ của chế độ Ngô Đình Diệm. Những tài liệu được giải mật sau này cho thấy, chính Trần Văn Đôn đã cung cấp cho CIA những điều tối mật  về Ngô Đình Diệm và gia tộc ông này. Nhân viên CIA đã ghi lại nội dung cuộc nói chuyện kéo dài tới ba giờ với Trần Văn Đôn tại văn phòng của ông ta trong Bộ Tổng Tham mưu đêm 26/3/1963.

Trong đó có đoạn, khi được hỏi ai đang nắm quyền ở Sài Gòn thì tướng Đôn trả lời rằng: “Tổng thống Ngô Đình Diệm nắm quyền xuyên qua Cố vấn Ngô Đình Nhu. Tất cả tướng lãnh trước khi gặp ông Diệm đều phải qua sự cho phép của Nhu. Ngô Đình Diệm sử dụng Nhu như “lý thuyết gia” và cố vấn nhưng không phải luôn luôn nghe theo lời khuyên của Nhu. Tổng thống Diệm ghen tị với thẩm quyền và khả năng của Nhu…” Cũng bản báo cáo trên đã chép: “Tướng Đôn cho một thí dụ. Vào lúc nửa đêm của ngày 22/8/1963, các tướng Trần Văn Đôn, Tôn Thất Đính và Trần Thiện Khiêm tới gặp Nhu về các sinh viên, khuyến cáo rằng nên đóng cửa toàn bộ các trường ở Sài Gòn bằng cách thiết quân luật, bởi vì họ có tin rằng vào các ngày 23, 24 và 25 tháng 8/1963 sẽ có sinh viên biểu tình ở Sài Gòn. Nhu đồng ý với khuyến cáo của các tướng lãnh, nói với họ rằng họ phải xin phép Tổng Thống. Nhu và các tướng lãnh tới gặp ông Diệm và đề nghị đóng cửa các trường. Ông Diệm nói: “Không. Người trẻ phải có phương tiện để bày tỏ chính họ.” Tướng Đôn lập lại rằng, Diệm là người ra quyết định cuối cùng….” Làm rõ hơn các mối  quan hệ trong Phủ Tổng thống Sài Gòn, Trần Văn Đôn đã lập luận với các nhân viên CIA: “Nên nhớ là trong nhiều năm, Tổng Thống Diệm là người chống lại chế độ thực dân.

Trong thời gian đó, Diệm đã tự suy nghĩ rất nhiều. Khi nắm chính phủ năm 1954, Diệm thấy chuyện này khác hẳn và cần có những người chung quanh giúp suy nghĩ. Ông Diệm tìm sang người em là Nhu, một người suy nghĩ có lý thuyết, có triết lý. Với thời gian, Diệm cho phép Nhu làm hầu hết mọi chuyện suy nghĩ. Như thế không có nghĩa là Tổng Thống Diệm luôn luôn nghe lời cố vấn của Nhu. Diệm ưa thích Nhu viết các bản tuyên bố, các bài diễn văn cho Tổng Thống. Ông Diệm tự mình ưa thích gặp người dân, nói chuyện với người dân. Trong cách này, Nhu có quyền lực đặc biệt như là nhà lý thuyết cho Tổng Thống….” Trần Văn Đôn  cũng mô tả về quan hệ với cô em dâu Trần Lệ Xuân của Ngô Đình Diệm: “Trong tâm tưởng ông Diệm, bà Nhu có vị trí là “vợ” của ông Diệm. Tổng thống Diệm chưa bao giờ kết hôn, và không quen với đàn bà ở chung quanh mình. Trong 9 năm qua, ông Diệm có bà Nhu an ủi sau một ngày làm việc hoàn tất. Bà Nhu có sức quyến rũ, nói chuyện với ông Diệm, làm giảm căng thẳng cho ông Diệm, tranh cãi với ông Diệm, phê bình ông Diệm, và như một người vợ Việt Nam, bà khống chế chuyện trong nhà.

Tổng thống Diệm và Bà Nhu cư ngụ ở 2 căn tách biệt nhau. Không có quan hệ tình dục giữa ông Diệm và Bà Nhu…. Nhân viên CIA cũng ghi lại ý kiến của tướng Đôn: “Tổng thống Diệm chưa bao giờ có quan hệ tình dục nào…” Theo tướng Đôn, “ông Diệm có những đam mê cực đoan. Khi ông thích ai, ông thích họ mọi cách; khi ông ghét ai, ông ghét họ toàn diện. Không có ở chặng giữa. Bà Nhu đã sử dụng vị trí đặc quyền của bà với Tổng Thống để làm ông Diệm nói thuận, khi ông Diệm muốn nói chống; nhưng vì ông Diệm bị thuyết phục bởi sức quyến rũ của Bà Nhu…”

Tới những năm đầu thập niên thứ sáu của thế kỷ trước, Trần Văn Đôn đã không còn toàn tâm toàn ý với triều đại Ngô Đình Diệm nữa. Mặc dầu vậy, với bản tính thận trọng, ông ta vẫn giả đò như còn quy thuận Tổng thống Ngô Đình Diệm. Thực tế thì chính ông ta đã cùng với Dương Văn Minh và Tôn Thất Đính là những nhân vật trụ cột trong âm mưu đảo chính năm 1963 hạ bệ anh em Ngô Đình Diệm với sự hậu thuẫn của các điệp viên CIA . Cùng chung tay vào cuộc chính biến khá đẫm máu này còn có những viên tướng Sài Gòn như Mai Hữu Xuân, Lê Kim Xuân (người anh em đồng hao với Trần Văn Đôn) và cả Đỗ Mậu… 

Về sau, trong hồi ký “Việt Nam nhân chứng” hoàn thành và xuất bản trên đất Mỹ, Trần Văn Đôn đã  thú nhận về vai trò của Mỹ trong việc chỉ huy và sát hại anh em Ngô Đình Diệm. Tướng Đôn viết: “Đúng 1h30 trưa, (trùm Xịa) Conein vào bộ Tổng Tham mưu, (nơi đặt văn phòng của Đôn) mang theo một máy truyền tin đặc biệt để liên lạc với Toà Đại sứ Mỹ và một bao tiền là ba triệu bạc Việt Nam”… Trần Văn Đôn còn tuyên bố khi y thậm thọt gặp riêng “Thái thú” Cabot Lodge để thỉnh thị: “Chúng tôi (nhóm đảo chính) không bao giờ có tham vọng cá nhân, chỉ muốn cứu nước!”... Nhưng cũng chính ông ta thú nhận:  ba triệu bạc mà người Mỹ cho đã được ông ta chia cho Dương Văn Minh, Lê Văn Kim, Tôn Thất Đính, Nguyễn Hữu Có, Đổ Cao Trí, Nguyễn Khánh , Trần Ngọc Tám và Lê Nguyên Khang…

Tuy nhiên, khác với nhiều đồng sự từng cùng dính líu với vụ đảo chính năm 1963 (họ thường là bị đẩy ra ngoài cuộc rất nhanh chóng và phải tìm nơi dung thân ở hải ngoại), tướng Trần Văn Đôn đã đổi màu như kỳ nhông rất kịp thời và không bao giờ bị mất phần béo bở. Và ông ta đã trụ được trong bộ máy chính quyền Sài Gòn cho tới khi chế độ này sụp đổ tháng 4/1975, khi ông ta buộc phải vội vã bỏ tổ quốc cứu mạng sống cá nhân trên một chiếc trực thăng của Mỹ. Trong nội các cuối cùng của chế độ Sài Gòn, Trần Văn Đôn từng được giữ ghế Phó Thủ tướng và Bộ trưởng Quốc phòng.

Về sau, ngày 22/5/1995, lý giải với báo Pháp Le Figaro về lý do dẫn tới sự sụp đổ mau lẹ của quân đội Sài Gòn trong những ngày cuối tháng 4/1975, Trần Văn Đôn đã nói: “ Quân đội của chúng tôi rất đông, mạnh và được trang bị tốt. Chính những mệnh lệnh không nhất quán của tư lệnh các lực lượng vũ trang và sự lộn xộn về chính trị đã làm cho quân đội tan rã. Sự sụp đổ đầu tiên diễn ra ở Buôn Ma Thuột. Các binh lính của chúng tôi vẫn còn giữ được hai phần ba thành phố, khi đó họ yêu cầu không quân yểm trợ và đã được đáp ứng. Nhưng một quả bom đã ném thẳng vào sở chỉ huy, giết chết hầu như tất cả các sĩ quan và phá hủy các phương tiện thông tin…” 

Lính quân đội Sài Gòn đảo chính 1963.

Dấu tích ô danh

Trần Văn Đôn từng chịu nhiều ân huệ của chế độ Ngô Đình Diệm. Khi tướng Lê Văn Tỵ bị ung thư phổi phải sang Mỹ chữa trị, Trần Văn Đôn, lúc đó là Tư lệnh Lục quân, đã được Ngô Đình Diệm cho giữ chức Quyền Tổng Tham mưu trưởng thay ông này từ ngày 27/7/1963. Tuy nhiên, chỉ vài tháng sau đó, khi gió đã đổi chiều, ông ta không ngại tham gia những hoạt động chống lại anh em Ngô Đình Diệm - Ngô Đình Nhu, mặc dù trong thâm tâm, ông ta có thể chưa chắc đã muốn cho hai người này phải chết bất đắc kỳ tử như đã xảy ra. Vụ đảo chính bắt đầu từ ngày 1/11/1963.

Vào lúc 13h30’ ngày hôm đó, một số sĩ quan cao cấp của chế độ Sài Gòn được mời tới tham dự một cuộc họp tại một sở chỉ huy ở gần sân bay Tân Sơn Nhất. Tại đây, tướng Trần Văn Đôn đã thông báo về việc cái gọi là Hội đồng cách mạng quân sự đã lên nắm quyền. Mọi thành viên tham gia cuộc họp đều tỏ ra phấn khởi, duy chỉ có viên Đại tá Lê Quang Tung, Tư lệnh Lực lượng đặc biệt, người rất thân cận và trung thành với gia tộc Ngô Đình và vì thế, đã bị đại sứ Mỹ ở Sài Gòn lúc đó là Henry Cabot Lodge ra lệnh cho những viên tướng lãnh đạo đảo chính cho tên vào danh sách cần bị thủ tiêu, đã không đứng dậy vỗ tay hoan hô thông báo này. Lập tức đại tá Tung bị bắt giữ và bị Nguyễn Văn Nhung (khi đó là đại úy) đưa sang một căn phòng khác ở trong sở chỉ huy này. Mặc dầu thất thế nhưng Tung vẫn hét to được một câu: "Hãy nhớ ai đã gắn sao cho tụi bay!". Đêm hôm đó, Nguyễn Văn Nhung chở đại tá Tung và người em của ông ta là Thiếu tá Lê Quang Triệu đến một nơi bên ngoài doanh trại và bắn chết cả hai.

Sáng hôm sau, Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu chạy thoát khỏi Dinh Độc Lập qua một đường hầm bí mật và trốn ở một ngôi nhà tại Chợ Lớn. Trần Văn Đôn bằng các mối quan hệ riêng đã liên lạc được với anh em Ngô Đình Diệm - Ngô Đình Nhu, hứa sẽ bảo toàn mạng sống cho họ và để họ đi ra nước ngoài một cách an toàn nếu họ thuận tình trao quyền một cách yên ả cho những viên tướng làm đảo chính. Tuy nhiên, mọi sự lại không diễn ra theo hướng này. Viên đại uý Nguyễn Văn Nhung đã dẫn một toán sỹ quan cùng lính tráng đến nơi trú ẩn của anh em Ngô Đình Diệm - Ngô Đình Nhu tại Nhà thờ St. Francis được xây thời Pháp và bắt giữ họ. Một đoàn xe gồm một xe bọc thép M-113 và 4 chiếc xe Jeep cùng nhiều binh lính do tướng Mai Hữu Xuân cầm đầu đã tức tốc tới nơi anh em Ngô Đình Diệm - Ngô Đình Nhu đang bị bắt giữ. Đại uý Nguyễn Văn Nhung và Thiếu tá Dương Hữu Nghĩa ngồi chung với anh em Ngô Đình Diệm trong chiếc xe bọc thép quay lại Sài Gòn. Khi đoàn xe dừng lại tại một điểm giao cắt với đường sắt thì thấy, anh em họ Ngô đã bị giết chết trước đó. Linh mục Cao Văn Luận về sau đã nhớ lại trong hồi ký của mình: “Khi xác chết anh em ông Diệm được đưa vào nhà thương Saint – Paul thì dây trói quật cánh khuỷu hai người vẫn còn nguyên… Trên ngực ông Nhu có nhiều vết thương do dao đâm vào và một vết đạn súng lục trên đầu. Trên thân thể ông Diệm chỉ có một vết thương ở đầu…”

Theo hồi ký của Trần Văn Đôn, thì một cuộc điều tra do ông ta ra lệnh tiến hành đã xác định rằng chính Dương Hữu Nghĩa đã bắn anh em họ Ngô bằng một phát đạn súng bán tự động, còn Nguyễn Văn Nhung đã bắn hàng loạt đạn khắp thân thể hai anh em Ngô Đình Diệm - Ngô Đình Nhu. Nguyễn Văn Nhung cũng là người đã đâm nhiều nhát dao vào thân thể hai anh em họ Ngô (sau "chiến tích" này, Nguyễn Văn Nhung được thăng lên cấp thiếu tá nhưng rồi y cũng bị thủ tiêu bởi một phát súng bắn vào sau gáy). Theo lời Trần Văn Đôn kể lại sau này, ông ta cùng nhiều sỹ quan khác đã kinh ngạc khi thấy xác hai anh em Ngô Đình Diệm - Ngô Đình Nhu tại sở chỉ huy của lực lượng đảo chính. Trần Văn Đôn tức tốc gặp Dương Văn Minh trong văn phòng của ông này và to tiếng về cái chết của hai anh em họ Ngô. Trong lúc họ đang cãi nhau, Mai Hữu Xuân đi vào phòng, đứng nghiêm trước Dương Văn Minh và báo cáo: "Mission accomplie" (nhiệm vụ đã hoàn thành)!

Tướng Trần Văn Đôn về sau đã tốn khá nhiều công sức để thanh minh về trách nhiệm của ông ta đối với cái chết thê thảm của anh em họ Ngô. Trần Văn Đôn cũng tiết lộ rằng CIA đã chi cho các viên tướng chủ trì đảo chính 42 nghìn USD để họ hạ sát anh em Ngô Đình Diệm - Ngô Đình Nhu. Còn theo thông tin của ông Nguyễn Văn Ngân, trong cuộc đảo chính tháng 11/1963, CIA cũng đã sử dụng Trần Văn Đôn, mặc dù không tin con người tráo trở này chỉ vì lý do đơn giản là lúc đó, Trần Văn Đôn đang giữ chức vụ quyền Tổng tham mưu trưởng thay tướng Lê Văn Tỵ đang đi Mỹ trị ung thư (không có được sự đồng ý của nhân vật này khó có thể điều hành được các đơn vị quân đội một cách suôn sẻ). Và các quan thầy Mỹ cũng đã loại Trần Văn Đôn khỏi vị trí quan trọng trên trong vụ chỉnh lý ngày 30/1/1964. Tuy nhiên, với sự khéo léo của một kẻ hoạt đầu, sau đó Trần Văn Đôn đã lấy lòng được Nguyễn Văn Thiệu và được viên Tổng thống này trọng dụng cho tới khi chính ông ta cũng phải ê chề bỏ nước ra đi vì thất thế ngày 29/4/1975. Sau này ở hải ngoại, trong các bài trả lời phỏng vấn với báo chí và trong tập hồi ký “Việt Nam nhân chứng” của mình, Trần Văn Đôn đã không tiếc lời phê phán Nguyễn Văn Thiệu cũng như các chiến hữu cũ, đổ cho họ phần lớn trách nhiệm về những chuyện xấu xa và đổ vỡ của chế độ Sài Gòn… 

Rời Việt Nam sang Mỹ, Trần Văn Đôn cùng gia đình đã định cư tại Fort Chaffee  thuộc tiểu bang Arkansas. Ông ta đã qua đời tại đó năm 1998.

Văn Thư

Source : http://daidoanket.vn/chuyen-de/tuong-tran-van-don-cua-che-do-sai-gon-hanh-xu-nhu-co-gap-gio/135060

Link: http://www.giaodiemonline.com/noidung_detail.php?newsid=10957
 
| Chủ Trương | Hướng dẫn kỹ thuật | Tài liệu Anh ngữ | Cài đặt Unicode |