Chủ Nhật, 24, tháng Chín, 2017
 
 
 
| Nghiên cứu và đối thoại |
Hồi ức về một người thầy
Nguyên Hồng
đăng ngày 26/09/2016
 

 

hoi-uc-mot-nguoi-thay

Tôi định viết về đề tài Tâm huyết của một người thầy, một  người đã trọn đời đem  giáo dục vào cuộc sống trong tinh thần giáo dục Phật giáo. Nhưng nghĩ lại hai chữ tâm  huyết  có tính thế  tục và không  tương  xứng với một bậc thầy mà tôi phải nhất tâm đỉnh lễ như đỉnh lễ một vị La-hán hay nhục  thân  Bồ-tát. Tôi chỉ xin ghi nhận một số nét về người thầy mà tôi đã được học trong ba tháng và đã được người tạo điều kiện trưởng thành về khả năng cũng như nhân cách trong năm năm ở Đại học Vạn Hạnh.

Năm ấy, 1946, Phật học đường Báo Quốc hoạt động trở lại sau  lệnh  hồi cư. Người cùng  các thanh  niên trong Đoàn Thanh niên Phật học Đức dục như Phạm Hữu Bình, Văn Đình Hy… phụ trách dạy phần thế học. Lớp  tiểu  học  năm  thứ  nhất  được  Người đảm  trách môn  chính tả và giảng  văn. Khai giảng  vừa được ba tháng, đến tháng  Chạp thì Pháp tấn công thành  phố Huế. Lệnh Toàn quốc kháng chiến được ban hành, thế là trường lại ngưng  hoạt động. Trong ba tháng  ở lớp tiểu học năm thứ nhất, một số khá nhiều bài giảng văn được học, đến nay tôi còn thuộc một câu mở đầu của bài Bọn cu-li mỏ đi làm. Câu mở đầu như sau: Một hồi còi rú lên trong đêm tối mờ sương, Thuật vừa nuốt xong miếng cơm cuối cùng với một gắp dưa chua bèn chiêu vội một hơi nước vối…, và cũng thuộc lòng một bài thơ. Với đứa trẻ mười hai tuổi, tôi đã thuộc  do cảm nhận qua bài văn và bài thơ tinh thần trong sáng của một thanh niên yêu gia đình và xã hội. Thời gian chia cách, hai mươi lăm năm sau tôi gặp lại người ở Đại học Vạn Hạnh mà tưởng chừng như chưa hề có cuộc chia ly.

Theo nhu cầu phát triển, Viện Đại học Vạn Hạnh cần mở thêm  Phân khoa Sư phạm. Nhân dịp đạo hữu Lê Văn Lâm đi công tác ở Nhật Bản, Người khiến gặp tôi bàn về việc thành lập và tổ chức Phân khoa Sư phạm. Tôi thiết tha nhờ đạo hữu về thưa với Người là thành lập Phân khoa Giáo dục chứ không phải chỉ là Sư phạm vì những lý do tôi đã trình bày chi tiết cho đạo hữu.

Năm 1971 tôi về nước, Phân khoa Giáo dục đã được thành  lập và đang  dạy năm thứ nhất  mặc dầu hoàn toàn chưa có chương trình và chỉ nam sinh viên. Người trao ngay cho tôi phần việc Phụ tá Khoa trưởng và bảo tôi soạn Chương trình bốn năm và làm Chỉ nam cho khoa. Sau đó Người bổ nhiệm  tôi chức vụ Phó Khoa trưởng và giao hoàn toàn công việc của khoa cho tôi bằng văn bản chính thức. Rồi năm 1972 tôi được Người bổ nhiệm  làm Khoa trưởng, đồng  thời đề cử tôi làm Phụ tá Tổng vụ trưởng Tổng vụ Văn hóa Giáo dục của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.

Năm 1973, Giáo sư Nakamura Hajime, giáo sư bộ môn Đông phương  học của Đại học Tokyo Nhật Bản, thuyết  trình  bằng  tiếng  Anh đề  tài  Contribution of Eastern Thought and Buddhism to World Culture  (Sự đóng góp của tư tưởng Đông phương và Phật giáo cho văn hóa nhân loại) và đề tài thứ hai là Prince Shotoku’s Ideal of the Buddhist State (Lý tưởng của một quốc gia theo Thánh Đức Thái tử). Đề tài thứ nhất  Người giao cho tôi thông dịch và đề tài thứ hai được giao cho thầy Thích Tuệ Sỹ. Tôi không thắc mắc vì sao cả hai chúng tôi không phải người du học ở quốc gia mà tiếng Anh là bản ngữ lại được chỉ định làm thông dịch, trong khi ở viện không hiếm người đã du học ở Mỹ về. Suốt buổi thuyết trình và những câu hỏi được đặt ra cho diễn giả trả lời, nhìn xuống hàng ghế đầu tôi thấy vẻ mặt Người hoan hỷ.

Thế rồi năm sau, 1973, một cuộc hội thảo về Quản trị Đại học của Hiệp hội các Đại học Đông Nam Á tổ chức tại Nanyang University, Singapore, Người bảo tôi làm một bài tham luận và sẽ thuyết trình trên diễn đàn đó. Tham dự hội thảo đó Viện Đại học Vạn Hạnh đóng góp hai tham luận. Tôi vâng dạ và y giáo phụng hành. Tham luận của tôi có đề tài là Facing Curriculum Reform (Đối mặt việc cải tổ chương trình học). Trên diễn đàn, tôi lại tìm được nụ cười hoan hỷ của Người như ngày nào.

Trong nội xá, anh em thân với tôi nói tôi được điểm của Thượng tọa Viện trưởng vì câu nói của Người “Việc gì giao cho thầy Nguyên Hồng là tôi yên tâm vô cùng”. Nhưng chính câu nói ấy mà sau này tôi đã đau lòng khi Người giao cho Phân khoa Giáo dục phụ trách số đặc san chủ đề về Giáo dục. Tôi lấy chủ đề là Giáo dục cho ngày nay và ngày mai, và đó là bài chủ đề chính do tôi viết cho đặc san. Ngày đầu tiên in xong phát hành buổi sáng, tại văn phòng  khoa cũng như trong viện nhiều người tán thưởng. Một giáo sư dạy môn Ngữ học Anh của Phân khoa, cô PTNH vui vẻ nói với tôi tại văn phòng: “Tụi em rất hãnh diện về bài viết của thầy”. Niềm vui chưa mấy  chốc thì buổi chiều có lệnh tịch thu của nhà cầm quyền, và sau đó là trát đòi với lệnh tống đạt Người và tôi ra trước phiên xử Tòa án Quân sự, số 3A Bến Bạch Đằng Saigon với hai lý do “Dùng báo chí để phổ biến các tin tức, tài liệu, luận điệu có thể gây tác dụng làm phương hại nền an ninh quốc gia và trật tự công cộng”. “Dùng báo chí để phổ biến các tin tức, tài liệu, luận điệu nhằm đề cao chủ nghĩa, chủ trương hay hành động của Cộng sản”. Tôi đau lòng không phải hối hận vì những gì tôi đã viết mà đau lòng vì không làm tốt hơn để không gây hệ lụy cho Người. Trong chiếc xe của viện đưa chúng tôi ra tòa, tôi liếc nhìn thấy vẻ mặt của Người vẫn bình thản như chẳng có chút gì động tâm.

Theo thời gian, mỗi bước  đi của tôi là mỗi bước trưởng thành trong bàn tay dìu dắt vô hình của người thầy tôi đã từng gặp trong đời.

Sau 1975, chuyển giao Viện Vạn Hạnh, tôi về ở số 141 Ngô Tùng Châu, một hôm có người thị giả đến. Người thị giả nói: Thượng tọa bảo xuống nói với thầy viết cho Thượng tọa câu đầu của bốn câu thơ cuối trong bài thơ Mất mẹ của Xuân Tâm. Phút chốc, hồi ức gần ba mươi năm qua của một cậu bé mười hai tuổi ngồi học trong lớp học sống lại trong tôi. Trong gần ba mươi năm ấy tôi không hề đọc lại bài thơ, cũng như trong thời gian sống ở nội xá tôi không nói cũng không hề nghe  ai nói về bài thơ của Xuân Tâm. Vậy mà gần ba mươi năm qua, Người bảo tôi viết lại một câu của bài thơ Người đã từng giảng, quả là một điều kỳ diệu. Tôi đặt bút viết ngay bốn câu thơ cuối và trao cho cô thị giả:

Hoàng hôn phủ trên mộ,
Chuông chùa nhẹ rơi rơi,
Tôi thấy tôi mất mẹ,
Mất cả một bầu trời.

Người có hai lần cùng với Hòa thượng Thích GT đích thân đến số 141 Ngô Tùng Châu, nơi tôi lui về sau khi Đại học Vạn Hạnh chuyển  giao, một  lần mời tôi giữ chức vụ Phó Viện trưởng  Viện Nghiên cứu Phật học Vạn Hạnh nhưng  ra giữa cuộc họp Giáo hội, đề nghị đã bị phủ quyết, và một lần nữa cũng cùng đi với Hòa thượng Thích GT đến mời tôi sung vào ban giảng huấn của Viện Phật học Vạn Hạnh, và cũng như lần trước lại bị Giáo hội phủ quyết. Từ đó tôi nghĩ mình không còn cơ hội nào đóng góp được gì cho Phật giáo trong danh nghĩa Giáo hội.

Tuy không có điều kiện thường  xuyên viếng thăm Người, nhưng lúc nào cũng yên tâm rằng Người còn tại thế ở góc trời đường Nguyễn Kiệm để chúng sinh được cúng dường chiêm ngưỡng. Khi được tin Người viên tịch, trong tôi mường tượng một cảm giác của Xuân Tâm:

Tôi thấy tôi mất mẹ, Mất cả một bầu trời.

Nguyên Hồng nhất tâm đỉnh lễ. ■„

Văn Hoá Phật Giáo số 207

Source : http://tapchivanhoaphatgiao.com/ky-niem/hoi-uc-ve-mot-nguoi-thay.html

Link: http://www.giaodiemonline.com/noidung_detail.php?newsid=10821
 
| Chủ Trương | Hướng dẫn kỹ thuật | Tài liệu Anh ngữ | Cài đặt Unicode |