Thứ Tư, 28, tháng Sáu, 2017
 
 
 
| Nghiên cứu và đối thoại |
Tả quân Lê Văn Duyệt cuộc đời, hành trạng và nơi thờ phụng ở Huế
Trần Văn Dũng
đăng ngày 26/09/2016
 

 

Cuoc-doi-hanh-trang-ta-quan

Tả  quân  Lê  Văn  Duyệt  (1764-1832) là một trong  những  vị khai quốc  công  thần  triều Nguyễn, không  chỉ có tài chinh  Đông  dẹp Tây mà ông còn là một vị quan  thanh  liêm, hết lòng vì dân vì nước. Đặc biệt, dưới thời vua Gia Long (1802-1819), Tả quân Lê Văn Duyệt được hưởng nhiều đặc ân, trong đó có hai đặc ân “nhập triều bất bái” (vào chầu vua không phải lạy) và “tiền trảm hậu tấu” (chém trước tâu sau). Trong các triều đại phong kiến ở nước ta, đây là một sự kiện ít có tiền lệ trong lịch sử. Năm nay, vừa tròn 250 năm (1764-2014) ngày sinh của Tả quân Lê Văn Duyệt, để tưởng nhớ đến công lao của vị dũng tướng, chúng tôi mạn phép viết đôi dòng về cuộc đời, hành trạng và nơi thờ phụng ở cố đô Huế như một nén tâm hương hoài cổ.

Từ dấu ấn của một vị tướng tài năng, đức độ…

Lê Văn Duyệt sinh năm  1764 tại làng Hòa Khánh, châu Định Viễn, dinh Long Hồ (nay thuộc xã Hòa Khánh, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang), quê quán gốc ở huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Sách “Đại Nam liệt truyện” của Quốc sử quán triều Nguyễn chép: “Năm ông 14 – 15 tuổi thường tự than thở rằng sinh ở đời loạn, không hay dựng cờ trống đại tướng, chép công danh vào sách sử không phải là đại phu vậy”1. Năm 1781, chúa Nguyễn Ánh (sau này là vua Gia Long) bị quân Tây Sơn đánh đuổi chạy vào Nam, một thời gian dài cư ngụ tại nhà ông Lê Văn Toại, thân  sinh của Lê Văn Duyệt. Cảm ơn cưu mang, chúa Nguyễn Ánh tuyển dụng con trai trưởng của gia chủ là Lê Văn Duyệt vào làm thái giám, bấy giờ ông Duyệt mới 17 tuổi. Sự kiện gặp gỡ và phò tá chúa Nguyễn Ánh của ông như là một định mệnh lịch sử. Vốn xuất từ quan thái giám nhưng Lê Văn Duyệt đã thể hiện được khí phách, hùng trí của một bậc hào kiệt.

Từ năm 1789, Lê Văn Duyệt bắt đầu đứng vào hàng tướng lãnh của chúa Nguyễn Ánh. Cũng từ đó, ông lập được nhiều chiến công hiển hách; vừa có sức khỏe, vừa có cơ mưu, Lê Văn Duyệt dần dần trở thành một vị tướng chủ lực, được chúa Nguyễn Ánh sau khi xưng vương tin dùng2. Liên tiếp từ năm 1793, Lê Văn Duyệt đã giành nhiều thắng lợi mỗi khi được Nguyễn Ánh giao thống suất quân  đội ra đánh  diệt quân Tây Sơn nên đã lần hồi được thăng  quan  tiến chức. Sau khi Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng  đế, đặt niên hiệu Gia Long (1802), Lê Văn Duyệt được phong chức quan Khâm sai Chưởng tả quân dinh Bình Tây tướng quân, thường gọi là Tả quân. Vâng lệnh vua Gia Long, ông đã cùng với Thống chế Lê Chất dẫn quân bình định và thu phục được đất Bắc Hà chỉ trong một thời gian rất ngắn. Cũng nhờ tài giỏi ông được giữ chức Tổng trấn Gia Định hai lần, lần thứ nhất dưới triều Gia Long trong thời gian 1812-1815, lần thứ hai dưới triều Minh Mạng từ năm 1820 đến khi qua đời (1832). Không chỉ là nhân tài quân sự, Lê Văn Duyệt còn được biết đến là một nhà chính trị lỗi lạc3. Ông là một vị Tổng trấn tài năng  và đức độ nên được người dân Nam Bộ hết lòng tôn kính. Ông vừa chăm lo đời sống nhân dân, vừa trị an xứ sở. Vùng đất Gia Định trải dài từ Bình Thuận tới Cà Mau kinh tế phát triển, đời sống nhân dân yên ổn, no ấm, nhân dân một lòng biết ơn gọi ông là “ông Lớn Thượng”. Đương thời các lân bang đều sợ oai phong  của Lê Văn Duyệt, gọi ông là “Cọp Gấm Đồng Nai”; ông cũng là một trong ngũ hổ tướng từng là Tổng trấn Gia Định thành  (bốn người còn lại là Nguyễn  Văn Trương, Nguyễn  Văn Nhơn, Nguyễn Huỳnh Đức và Trương Tấn Bửu). Năm 1822, một phái đoàn Anh do ông Crawfurd dẫn đầu đã đến Gia Định và xin yết kiến Tổng trấn Lê Văn Duyệt. Trong hồi ký của mình, Crawfurd đã không giấu nổi sự thán phục: “Con người này ít học, nhưng lạ lùng thay lại có cái nhìn cởi mở hơn nhiều đại thần và cả nhà vua học rộng làu làu kinh sử của Khổng giáo. Ngài sống thanh liêm, mong muốn mở mang đất Gia Định trù phú hơn mọi quốc gia khác ở trong vùng Biển Đông”. Đánh giá về Tả quân Lê Văn Duyệt, danh thần Phan Thanh Giản – một vị quan thanh liêm – hết lời ca ngợi đức độ và tấm lòng vì dân của Tả quân Lê Văn Duyệt như sau: “Gia Định này thật có phúc mới gặp được một Tổng trấn như đại quan… tôi thật mừng”. Tả quân Lê Văn Duyệt đã thành  lập hai cơ quan  từ thiện là “Anh hài” để rèn luyện võ nghệ  cho trẻ thích việc kiếm cung và “Giáo dưỡng” để cho những trẻ khác và quả phụ học văn chương và nghề nghiệp. Ngoài ra, Tả quân Lê Văn Duyệt ra lệnh xây đắp thêm thành  Phiên An (tức thành  Gia Định), góp  công  xây dựng kênh Vĩnh Tế, lại có ân nghĩa giúp triều đình Nam Vang (Campuchia) dẹp loạn.

Tả quân  Lê Văn Duyệt qua  đời khi đương  chức tại thành Gia Định vào đêm 30 tháng 7 năm Nhâm Thìn (tức 28 tháng 8 năm 1832), thọ 69 tuổi, được triều đình truy tặng  chức “Tá vận công thần  đặc tấn Tráng võ tướng quân – Tả quân đô thống phủ chưởng phủ sự, Thái bảo quận công”, thụy là “Oai Nghị”.

Sau này, do sự kiện con nuôi Tả quân Lê Văn Duyệt là Lê Văn Khôi dấy loạn chiếm thành Phiên An vào năm 1833 rồi bị quân triều đình dẹp yên vào tháng  9 năm 1835, nhân có một sớ tấu của Đô sát viện kể tội Tả quân, vua Minh Mạng mới giao triều đình xét đến trách nhiệm của Lê Văn Duyệt, sau đó ra lệnh san bằng ngôi mộ của Tả quân, trên mộ bị đặt một bia đá có khắc hàng chữ “Quyền yêm Lê Văn Duyệt phục pháp xứ” (Nghĩa là: Đây là nơi tên hoạn quan lộng quyền Lê Văn Duyệt chịu phạt).

Năm Tân Sửu (1841), vua Thiệu Trị lên ngôi bắt đầu xem xét lại vụ án Lê Văn Duyệt, ban lệnh tha tội cho nhiều người bị kết án oan dưới thời vua Minh Mạng. Nhưng phải đến đầu đời vua Tự Đức (1848), sau khi Đông các Đại học sĩ Võ Xuân Cẩn dâng sớ xin phục hồi quan tước, gia ơn cho con cháu một số công thần đời trước, nhà vua mới chính thức ban chiếu rửa sạch tội lỗi và truy phục nguyên tước hàm cho Lê Văn Duyệt là: “Vọng các Công thần Chưởng Tả quân Bình Tây tướng quân quận công”, cho phép thờ phụng trong miếu Trung Hưng Công Thần ở Kinh thành Huế và ban phẩm hàm cho con cháu của ngài. Các vị vua triều Nguyễn kế nhiệm đều ban Chế ghi nhận công trạng to lớn của vị khai quốc công thần Tả quân Lê Văn Duyệt. Ngày nay, danh tướng Lê Văn Duyệt được hậu thế tôn vinh, lập đền thờ, đặt tên đường phố ở nhiều tỉnh thành trong cả nước.

… đến việc ghi nhận công trạng qua sự thờ cúng

 Thừa Thiên Huế là vùng đất đã để lại nhiều dấu ấn lịch sử gắn liền với cuộc đời quan nghiệp  của Tả quân Lê Văn Duyệt. Vì vậy, hiện nay ở cố đô Huế vẫn còn tồn tại nhiều di tích thờ phụng Tả quân nhằm mục đích tôn vinh công lao và đức độ của ngài.

Nhà thờ Tả quân Lê Văn Duyệt (Thường Lạc Viên): Nhà thờ này tọa lạc tại số 20 Phú Mộng, phường  Kim Long, thành  phố Huế. Theo lời kể của hậu duệ đang  quản lý nhà thờ thì ngôi nhà xưa do vua Gia Long ban tặng cho Tả quân Lê Văn Duyệt lúc sinh thời, được xây dựng cách đây hơn 180 năm. Tả quân Lê Văn Duyệt không có con nên vua Gia Long chỉ dụ Lê Văn Duyệt lập con trưởng của Tả dinh Đô thống chế Lê Văn Phong là Lê Văn Yến làm con thừa tự. Triều vua Minh Mạng, Lê Văn Yến được vua gả em gái thứ 10 là An Nghĩa công chúa Ngọc Ngôn, trở thành Phò mã Đô úy. Sau này, Lê Văn Diễn được sắc phong ấm thọ chức Kỵ Đô úy, về sống ở Huế lo việc thờ tự tổ tiên tại nhà thờ Tả quân Lê Văn Duyệt ở Phú Mộng.

Trải qua  nhiều  biến  thiên  của thời gian, nhà  thờ  bị xuống cấp nghiêm trọng. Đến năm 2013, Ban quản lý Nhà vườn Huế đã tài trợ trùng tu, phục hồi nhà thờ Tả quân Lê Văn Duyệt nhằm bảo tồn một loại hình di sản kiến trúc nhà rường Huế tiêu biểu, góp phần gìn giữ di sản kiến trúc truyền thống Huế tồn tại song song và có chung nguồn gốc lịch sử với quần  thể di tích kiến trúc Huế đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới.

Nhà thờ  Tả quân  Lê Văn Duyệt có kiến trúc  nhà rường 3 gian, mái lợp ngói liệt nhiều  lớp,  hệ thống bao che bằng  tường xây gạch bên ngoài có trát vữa, khung chịu lực, giàn mái và cửa bảng khoa đều bằng gỗ chạm trổ họa tiết trang trí tinh xảo. Ngay chính giữa liên ba nội thất nhà thờ có treo bức Chế do vua Duy Tân (1907-1916) ban tặng  ngày 15 tháng  9 năm Duy Tân thứ 6 (1915) ca ngợi cuộc đời và sự nghiệp của Tả quân Lê Văn Duyệt, đồng  thời ban đặc ân cấp lại cáo văn cho phép thờ phụng  lại Tả quân Lê Văn Duyệt do những công lao to lớn của Tả quân đã đóng góp cho sự nghiệp  thống  nhất đất nước của vua Gia Long. Ngoài ra, trong nhà thờ còn lưu giữ nhiều hiện vật quý như: Sắc phong, hương án, câu đối, cặp chân đèn trúc hóa long chạm trổ công phu và độc đáo…

Thạch Thần Tướng Quân Miếu (石 神 將 軍 廟) là một ngôi miếu cổ nằm ngay góc ngã tư đường Phùng Hưng và Nhật Lệ gần chùa Tịnh Bình (số 21 Nhật Lệ, thành phố Huế). Ngôi miếu là chốn linh thiêng, nơi mà người dân quanh  vùng thường  đến để cầu xin được chở che, phù hộ độ trì, tai qua nạn khỏi trong cuộc mưu sinh, thậm chí cả chuyện thi cử thường  ngày. Về lịch sử xây dựng, cho đến bây giờ vẫn chưa ai khẳng định được chính xác thời gian mà ngôi miếu xuất hiện. Tuy nhiên, có rất nhiều giai thoại kỳ bí kể về lai lịch xây dựng miếu Thạch Thần Tướng Quân. Truyền thuyết  kể rằng, vào năm 1840, vua Minh Mạng (1820-1840) bắt đầu xây dựng Hiếu lăng. Để thể hiện uy quyền sức mạnh của nhà vua, vua Minh Mạng cho tạc hai hàng tượng quan văn võ đứng chầu ở Hiếu lăng. Theo lệnh vua, những người thợ vẽ được phái vào Quảng Nam và ra Thanh Hóa tuyển chọn loại đá cẩm thạch tại địa phương, sau đó tuyển những  điêu khắc gia có tay nghề cao tiến hành công việc đẽo tượng. Khi di chuyển tượng đá này để dựng trên lăng thì xảy ra một việc kỳ lạ: có hai tượng đá không chịu di chuyển, mấy trăm binh lính reo hò khênh vác cũng không nhúc nhích, voi kéo cũng không được, vua ban sắc phủ dụ cũng không hề rung động. Sau nhiều lần dụng công không có kết quả, vua Minh Mạng đành bó tay. Tiếng đồn có hai tượng đá hờn giận vua không chịu di chuyển lan khắp Kinh thành Huế. Sau đó, dân chúng  ở Thành Nội lập miếu thờ hai tượng đá ấy, hàng trăm năm qua thường  xuyên hương hỏa cúng bái. Dân gian nói rằng: hai ngài Lê Văn Duyệt và Nguyễn Văn Thành, sống làm tướng, chết thành thần, đã hiển linh vào hai pho tượng đá ấy để tỏ thái độ bất bình với vua Minh Mạng ngược đãi tôi hiền4. Các cụ cao niên sống gần ngôi miếu còn cho biết, ngôi miếu đã tồn tại ở đây hơn 100 năm, trải qua bao thăng trầm lịch sử, gắn bó với người và đất nên nó kết tinh, tập trung linh khí trời đất nên cầu đảo linh ứng. Tra cứu bài viết “Kinh thành Huế địa danh học”, học giả L. Cadière ghi rõ địa điểm di tích tọa lạc trên các phường vào năm 1933, theo quy hoạch địa giới năm 1908 dưới đời vua Duy Tân (1907-1916) gồm có 10 phường: Thái Trạch, Trung Tích, Trung Hậu, Vĩnh An, Phú Nhơn, Tây Linh, Thuận Cát, Huệ An, Tri Vụ và Tây Lộc. Trên cơ sở đó, các di tích đã được L. Cadière định danh bằng chữ số, trong  đó có định số “155 bis: Thạch thần tướng quân miếu”. L.Cadiere viết về di tích này như sau: “Miếu thờ hai tượng đá của hai vị tướng quân. Hai tượng đá biểu thị cho các ông quan là ông Lê Văn Duyệt và ông Nguyễn Văn Thành, hai tượng này lại không được đặt ở lăng Gia Long như ý nghĩa chúng phải đặt ở đó mới đúng”5. Qua những dòng ghi chép trên, tuy thông tin không thống nhất về niên đại ra đời ngôi miếu nhưng chúng ta có thể khẳng định một điều rằng ngôi miếu do người xưa tạo dựng để thờ Tả quân Lê Văn Duyệt và Tiền quân Nguyễn Văn Thành, đây là những vị khai quốc công thần triều Nguyễn.

Trải qua thời gian và bao biến cố lịch sử, hiện trạng ngôi miếu có kiến trúc đơn giản với kiểu nhà cấp 4 hình chữ nhật  được trùng  tu năm 1967 bằng  xi-măng cốt thép. Ngôi miếu đang trong tình trạng xuống cấp, mặt tiền ngôi miếu bị người dân chiếm dụng để bán hàng quán. Tại nội điện có treo bức hoành phi đề bốn chữ Hán sơn son thếp vàng “名 高 天 古 Danh cao thiên cổ”, có lạc khoản “啓 定 十 年 仲 夏 Khải Định thập niên trọng hạ” cho biết bức hoành phi được viết vào giữa mùa hạ năm 1925, với nội dung ca ngợi công trạng hai vị tướng quân xuất sắc của triều Nguyễn. Nội thất ngôi miếu thiết trí đơn sơ, đặc biệt có thờ hai tượng đá được tạc rất công phu. Ở sát vách hai bên tả hữu nội điện có hai tấm bia: Bia vách tả viết bằng  chữ Hán danh  tánh  các vị quan đứng ra đóng góp hỗ trợ xây dựng miếu vào đầu mùa hạ đời vua Khải Định năm Ất Sửu (1925); còn bia vách tả viết bằng chữ Quốc ngữ lưu dấu kỷ niệm sự kiện đặt đá đầu tiên để trùng tu lại ngôi miếu vào ngày 5/6/1967.

 Chùa Từ Hiếu: Ngôi chùa tọa lạc tại vùng núi Dương Xuân Thượng III, phường  Thủy Xuân, thành  phố  Huế. Chùa Từ Hiếu nổi tiếng là một trong những ngôi cổ tự còn bảo lưu nhiều giá trị văn hóa và lịch sử của vùng đất cố đô. Chùa được khởi nguồn  bắt đầu từ một thảo am nhỏ có tên là An Dưỡng am. Am An Dưỡng do nhà sư Nhất Định, một vị cao tăng uyên bác thông  tuệ nội điển được cả triều đình Huế lúc bấy giờ kính nể, tạo lập vào khoảng đầu thế kỷ XIX để làm nơi tịnh tu và phụng dưỡng mẹ già. Về sau, am An Dưỡng được vua Tự Đức sắc phong “敕 賜 慈 孝 寺 Sắc tứ Từ Hiếu Tự”, từ đó chùa chính thức có tên là Từ Hiếu. Sau này, chùa Từ Hiếu đã trải qua nhiều lần trùng tu và chính các vị quan thái giám triều Nguyễn tự nguyện  đóng  góp tiền của mở rộng chùa – trong số những người đóng góp có cả con cháu của Tả quân – và tất cả những quan thái giám trong triều Nguyễn có phần công đức tại chùa sau khi qua đời đều sẽ được nhà chùa mai táng, phục tự và hương khói tại chùa trong những ngày cúng giỗ. Cũng chính vì lẽ đó nên ngoài tên gọi Từ Hiếu, chùa còn được nhiều người quen  gọi là chùa Thái giám; còn người Pháp cũng gọi “Pagode des Eunuques” (chùa Hoạn quan).

Chùa được xây dựng theo  kiểu chữ khẩu. Trước mặt chùa có khe nước bao quanh và khi phóng tầm mắt nhìn xa về hướng Đông nam chúng ta sẽ nhìn thấy được núi Ngự Bình. Chùa có kiến trúc nhà rường ba gian hai chái, mái lợp ngói liệt; chánh điện phía trước thờ Phật, phía sau thờ Tổ. Khu nhà hậu có vị trí trang trọng thiết trí án thờ Tả quân Lê Văn Duyệt, bên án thờ có con ngựa bằng gỗ và thanh đại đao của ông lúc ra trận. Con ngựa và thanh đại đao đặt ở gần án thờ giới thiệu ngài Lê Văn Duyệt là một võ tướng, sự nghiệp gắn với những võ công hiển hách. Ngày nay ở đất vườn chùa vẫn còn gần 30 ngôi mộ của các vị quan thái giám triều Nguyễn. Hằng năm các vị sư trong chùa Từ Hiếu lấy hai ngày 2/10 và 6/10 âm lịch làm ngày giỗ chung để tưởng nhớ các vị thái giám triều Nguyễn.

Tả quân Lê Văn Duyệt xứng đáng như lời ca ngợi của Michel Đức Chaigneau  trong Souvenirs de Huế (Những kỷ niệm về Huế) xuất bản năm 1867 tại Paris: “Tả quân là một người có nghị lực siêu quần, một võ tướng trí dũng song toàn, một nhà cai trị dân có uy, có ân, ai ai cũng kính nể, nhưng rất mến phục, vì người công bình chính trực”6. Giờ mỗi khi đến thăm cố đô Huế, sau khi đã dạo bước tham quan Đại Nội, lăng tẩm, đền đài miếu mạo, chùa chiền, dạo chơi trên sông Hương núi Ngự, không ít du khách tìm đến tham quan nơi thờ phụng Tả quân Lê Văn Duyệt. Một chút lắng lòng và cũng để hiểu hơn về thân thế, phận đời của Tả quân Lê Văn Duyệt. Đó là đạo lý làm người biết ơn những  người có công với đất nước, với dân tộc và tôn vinh xứng đáng những công lao của các danh nhân. Hậu thế vẫn mãi mãi ghi nhớ công đức của Tả quân Lê Văn Duyệt.■ „

 

Chú thích:

  1. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện, tập 2, Nxb. Thuận Hóa, Huế, 1993, tr.373.
  2. Đinh Dung (2002), “Lê Văn Duyệt – Những đóng góp ngoại giao đầu thế kỷ XIX”, Những vấn đề lịch sử của triều đại cuối cùng ở Việt Nam, Tạp chí Xưa & Nay và Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế xuất bản.
  3. Đinh Xuân Lâm, Trương Hữu Quýnh (2005), Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, Nxb Giáo Dục, tr.112.
  4. 4. Tôn Thất Bình (Chủ biên) (1998), Truyện kể dân gian Thừa Thiên Huế, dân tộc Kinh, Nxb Văn Hóa Dân Tộc, Hà Nội, tr.122-123.
  5. L. Cadière (2006), Kinh thành Huế: Địa danh, Những người bạn cố đô Huế; B.A.V.H, tập XX, 1933, bản dịch Hà Xuân Liêm, hiệu đính Nhị Xuyên, NXB Thuận Hóa, Huế, tr.158. Xem thêm bản tiếng Pháp, L.Cadière La Citadelle de Hué: Onomastique, Bulletin des Amis du vieux Hué, 20e Année N0s 1-2, Janvier – Juin, 1933, pp.104.
  6. Phạm Trung Việt (1973), Khuôn mặt Quảng Ngãi, Nxb Nam Quang, tr.68.

Văn Hoá Phật Giáo số 207

Source :   http://tapchivanhoaphatgiao.com/nghien-cuu/ta-quan-le-van-duyet-cuoc-doi-hanh-trang-va-noi-tho-phung-o-hue.html

Link: http://www.giaodiemonline.com/noidung_detail.php?newsid=10815
 
| Chủ Trương | Hướng dẫn kỹ thuật | Tài liệu Anh ngữ | Cài đặt Unicode |