Thứ Ba, 30, tháng Năm, 2017
 
 
 
| Nghiên cứu và đối thoại |
Phật Đản 63 và Phật giáo Việt nam
Hoàng Nguyên Nhuận
đăng ngày 12/09/2016
 
1. Phật giáo Việt Nam trong nước cũng như ngoài nước đã không như hôm nay nếu không có cuộc vận động tự do tín ngưỡng và công bằng xã hội do Phật giáo phát động ở Miền Nam năm 1963.

2. Không có cuộc vận động đó thì một phần lớn tăng ni biến thành những ông thầy chỉ biết đọc Bạch Y Thần Chú và lịch Tam Tông Miếu để chuyên việc cầu siêu, bói toán, cúng sao giải hạn. Và Phật giáo Việt Nam chỉ như là những hội đoàn rời rạc lẻ tẻ tương tự hội tương tế, hội thể thao.

3. Không có cuộc vận động 1963 đó thì Phật giáo Việt Nam vẫn mãi bị liệt vào hạng mê tín dị đoan, chậm tiến, lạc hậu. Đây là định hạng mà đế quốc thực dân đã gán cho không chỉ Phật giáo mà cho tất cả những thế lực hay thành phần không chịu đầu hàng để bị đồng hóa.

4. Biến cố Phật Đản 1963 là đỉnh cao của phong trào thoát xác - hay đổi mới hay canh tân, mà hàng lãnh đạo cấp tiến của Phật giáo đã phát động từ thập niên 1920 để Phật giáo có điều kiện bắt kịp nhu cầu và hoàn cảnh Việt Nam cũng như nhân loại về cả hai phương diện tu học và phục vụ.

5. Mục tiêu của phong trào đổi mới đó là phục hoạt chủ trương Phật pháp bất ly thế gian pháp và truyền thống tự giác nhi giác tha của Phật giáo Lý Trần.

6. Quyết tâm phục hoạt đó đẩy người Phật tử khỏi hoàn cảnh mơ màng mộng mị, mủ ni che tai hoặc để nhận ngoại nhân, ngoại đạo và những quyền lực thế trị bản xứ công cụ là chủ nhân ông của đất nước về cả hai phương diện thế trị và tâm linh.

7. Khẩu hiệu nhập thế của Phật giáo Việt Nam từ biến cố 1963 đó là Đạo Pháp và Dân Tộc. Tùy khế cơ khế lý mà phân công phục vụ đạo pháp theo hoàn cảnh của dân tộc hay phục vụ dân tộc theo ánh sáng của đạo pháp.

alt

8. Hoàn cảnh đất nước ngặt nghèo của giai đoạn 1963-1975 chưa cho phép Phật giáo có thì giờ và điều kiện chuẩn bị đầy đủ hơn để đảm nhận vai trò mới, chu toàn nhiệm vụ mới hữu hiệu hơn như mong ước. Chưa kể là một số hữu trách đã bị cuốn hút vào những cơn lốc thời cuộc nên vô hình chung trở thành những tên lính đánh thuê cho ngoại nhân ngoại đạo. Chưa kể là những thế lực vọng ngoại, chủ chiến, độc tôn đã chụp mũ Phật giáo là tranh đấu xáo trộn, chủ hòa, trung lập, dân tộc quá khích, là thân cộng, là cộng sản, là phản động để có lý do phá hoại ngăn chận và đàn áp Phật giáo.

9. Thế nhưng trong hoàn cảnh khó khăn gian nan đó, một phần Sơn Môn và Phật tử hữu trách cũng đã cố hết sức chu toàn trách nhiệm lãnh đạo và hướng dẫn của mình theo chiều hướng Cách mạng xã hội - Độc lập quốc gia - Hòa bình dân tộc để phát triển ý thức tự do dân chủ, ý chí tự quyết tự chủ, ước nguyện hoà giải dân tộc, chuyển hóa những hận thù tương tàn huynh đệ, góp phần thâu ngắn cuộc chiến. Thông thường, đó không chỉ là những đóng góp bằng kinh nguyện thôi mà còn bằng khổ nhục, lao tù, bằng nước mắt và máu.

10. Trước 1963, Miền Nam không có dân chủ, không có tự do chính trị, chỉ có chính quyền của những tập đoàn thiểu số do ngoại nhân áp đặt. Đệ nhất Cộng Hòa tự suy tôn với 99 phần trăm phiếu ma qua cuộc trưng cầu dân ý một chiều tiền định. Tổng Thống và các Dân Biểu đệ nhất Cộng Hòa được hợp thức hóa bằng 99 phần trăm phiếu trong những cuộc bầu cử độc diễn. Cuộc vận động bình đẳng tín ngưỡng kết hợp với dân chủ thế trị của Phật giáo đã phần nào chấm dứt tệ trạng đó. Cho nên, Tổng Thống và Nghị sĩ, Dân biểu, Nghị viên gia nô của Đệ Nhị Cộng Hòa không còn dám trâng tráo tự hợp thức hóa với số phiếu bầu 99 phần trăm như trước.

alt

 

11. Những kẻ hôm nay ồn ào đòi tự do dân chủ nhân quyền đã ở đâu, làm gì khi Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa chủ trương xem lá phiếu như cuộn giấy muốn kéo ngắn kéo dài bao nhiêu tùy ý thế đó?

12. Những người có tâm huyết thao thức về hiện tại của chế độ và tương lai của đất nước đã thấy rõ nạn tham lam thụ hưởng và nạn cậy quyền tham ô không thể triệt hạ bằng nghị quyết, bằng thông tư, bằng luật lệ của Quốc Hội, mà còn bằng văn hóa, đạo đức và ý thức tự giác.Ngày xưa nhờ chiến thuật Ba Mặt Giáp Công mà chiến thắng ngoại thù, ngày nay cũng phải có Ba Mặt Giáp Công để loại trừ những cán bộ biến chất. Ba mặt giáp công hôm nay là chính trị - giáo dục - tín ngưỡng. Đó là căn bản hợp tác và tương cầu tương kính giữa thế trị và luân đạo. Đó cũng là điều kiện dấn thân của Phật giáo.

13. Người Phật tử sống để trả nợ chứ không phải đòi nợ. Trả nợ là tự nguyện nhận phần trách nhiệm của mình đối với tổ quốc và nhân loại. Vì trên danh nghĩa thời đó, sau khi một Thượng Tọa đồng lõa với Thiệu hủy bỏ Giáo Hội Phật Giáo VNTN bằng sắc luật 67, màtrên thực tế cũng đã có hai giáo hội rồi. Đòi phủ nhận thực tại Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất thì cũng phi lý như đòi phục hoạt Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất theo đúng nguyên trạng trước 1975.

14. Trong quan hệ với chính quyền, hàng lãnh đạo Sơn Môn, nếu không phải là những Quốc Sư thì cũng là những trọng tài công minh về đường lối chính sách và cách thực hiện những đường lối chính sách đó. Nghĩa là nói rõ những gì cần được thực hiện vì tự do vì dân chủ vì nhân quyền để làm nền tảng cho những phê phán sai trái chế độ đã vấp phạm, và đề nghị những biện pháp sửa sai.         

15. Chính quyền coi thường những khuyến cáo của Phật giáo thì cả dân tộc bị thiệt thòi. Với Phật tử, đấu tranh trước sau vẫn là cảnh tỉnh và giác ngộ.

16. Phật Đản là cơ duyên để các hàng Phật tử phản tỉnh và tự giác về những bài học đó và về những trách nhiệm khả dĩ của mình đối với tổ quốc đồng bào. Phật giáo hải ngoại mấy mươinăm qua đang đứng ở đâu và đã làm được gì, và có thể làm được gì?

17. Trả lời câu hỏi đó thì trước tiên phải minh định những ưu tiên của hạnh nguyện phân công phục vụ đạo pháp và dân tộc. Vì pháp thân là quê hương tổ quốc như Lục Tổ Huệ Năng bảo, nên dù không đặt nặng Nam Bắc Đông Tây, Phật giáo vẫn không phải là một tôn giáo quốc tế, vô tổ quốc, phi dân tộc, khoan nói là phản dân tộc.

18. Phật giáo phải bảo vệ và vun quén tổ quốc vì tổ quốc là hoàn cảnh ngoại tại thiết yếu để cùng hoàn thành lý tưởng làm người. Nhu cầu của hoàn cảnh ngoại tại đó ở Việt Nam trước 1975 là độc lập và hòa bình, sau 1975 là hòa giải dân tộc, củng cố tự chủ, tái thiết đất nước và thực hiện công bằng xã hội.

19. Trên hai triệu người ly hương hiện tại, tối thiểu cũng có một nửa nếu không tự nhận mình là đạo Phật thì ít ra cũng chưa theo một đạo nào khác, và cũng không đính chính hay phản đối nếu kẻ khác coi mình như theo đạo Phật. Đem số ấy so sánh với số chùa am được thiết dựng thì tỷ lệ đó là một số lượng đáng khích lệ. Trong khi nhà thờ bỏ trống tàn tạ thì chùa miếu mọc lên theo mức độ chẳng kém gì tốc độ nhà thờ mọc lên ở khu Hố Nai Gia Kiệm Cái Sắn trước 1975. Nhưng có hai điều đáng suy nghĩ. Thứ nhất, chùa thường mọc ra trong mấy khu đông dân cư hơn là nơi thanh vắng tỉnh lặng. Thứ hai số người xuất gia không bắt kịp số chùa được thiết lập. Tương lai có thể là không phải nhiều sư không ai đóng cửa chùa, nhưng là không có sư đóng cửa chùa.

20. Hai điều Tăng già hải ngoại có thể làm là thứ nhất, duy trì và phát triển ý thức tu học trong hàng ngũ đồng hương đang lao đao tán loạn vong thân vì chuyện đổi đời cũng như trong những người bản xứ đang thất vọng với tín ngưỡng truyền thống của họ. Thứ hai, làm cho thế giới hiểu rõ hơn truyền thống và hạnh nguyện của Phật giáo Việt Nam, hiểu rõ hơn về hoàn cảnh Việt Nam sau gần nửa thế kỷ chiến tranh. Thứ ba, gây thiện tâm đóng góp vào các Phật sự ở quê nhà và tiếp tay gầy dựng lại xứ sở. Dù đông hơn về số lượng so với Tăng Ni các nước khác, một số Tăng Ni Việt Nam Hải ngoại đã không có gì đáng tự hào về kết quả thực hiện ba mục tiêu đó. Nhìn vào thành tích Phật sự của Phật giáo Tây Tạng, Phật giáo Trung Hoa, Phật giáo Thái Lan... ở ngoại quốc thì thấy rõ.

21. Nhìn theo quan điểm đó thì có lẽ phải nói một số tăng già phải sám hối. Vì họ quên họ là những người đang sống nhờ cơm áo đàn na tín thí để tu hành và làm gương cho kẻ khác tu hành, để yêu nước và làm gương cho kẻ khác yêu nước, để phục vụ nhân quần và làm gương cho kẻ khác phục vụ nhân quần, quên mình là người đang sống trên những đất nước văn minh tiến bộ đang cần những nếp sinh hoạt tâm linh mới để điền khuyết những suy tư tín ngưỡng truyền thống Tây phương đã thoái hóa lỗi thời. Họ lây cái bệnh mất nước của những kẻ nô lệ vọng ngoại từng cậy thế Pháp, thế Mỹ, thế Vatican để làm mưa làm gió suốt bao nhiêu năm cho đến ngày di tản năm 1975. Họ lây cái bệnh mất nướcđó và đã trở thành đồng lõa của những con bệnh bất trị đó. Vì cầu an, vì tư lợi, vì hư danh, họ muốn lợi dụng thiên hạ và tự nguyện để cho thiên hạ lợi dụng tín ngưỡng, tôn sư, tín đồ và chính cá nhân họ. Họ tự biện minh rằng họ có làm như vậy để xây chùa to thì khi chết họ cũng không đem theo và để lại cho kẻ khác hưởng thôi. Không biết có phải họ muốn nói rằng cứu cánh biện minh cho phương tiện không? Nhưng kinh sách có chỗ nào dạy như thế không? Tình trạng nầy dĩ nhiên chẳng mới mẻ gì vì Mâu Bác từ 18 thế kỷ trước trong quyển “Lý hoặc Luận” đã nói đến cảnh thầy cúng mê thích rượu ngon, hoặc nuôi vợ con, mua rẻ bán đắt, chuyên làm điều dối trá.'

22. Với thiện tâm thiện chí, người Phật tử có thể làm những việc hữu ích cho số đông. Nhưng làm gì thì cũng đừng đi xa mục tiêu hàng đầu đạo pháp và dân tộc, là giải nghiệp và trả nợ quê hương bằng cách tiếp trợ cho Phật giáo tại quê nhà và góp phần tái thiết đất nước. Việt Nam và Phật giáo Việt Nam là phần chân như, là phần chúng sinh đồng loại người Phật tử phải quan tâm đến trước hết.

23. Trên căn bản vì lợi ích của chúng sanh và quê hương, nếu mỗi người Phật tử lưu vong gốc Việt hoan hỉ mỗi tháng góp một đồng hay một năm mười đồng thì có dự án nào không thực hiện được, có kế hoạch nào không thi hành được. Thiện tâm thành ý có thừa nhưng phải có dự án, phải có kế hoạch, nhất là kế hoạch hoằng pháp. Đây là công việc Sơn Môn và các hàng Phật tử hữu tâm hiếu hoạt phải nghĩ đến thay vì mất thì giờ với chuyện xây chùa to Phật nhỏ, lập giáo hội mới ‘hữu danh vô thực’, hay chạy theo những sư tử trùng,những cáo già và ma trơi chính trị vô tình làm ngựa cho họ cưỡi.

Sơn môn và Phật tử có quyết làm không?

Hoàng Nguyên Nhuận

Source : http://www.chuyenluan.net/index.php?option=com_content&view=article&id=7613:pht-n-63-va-pht-giao-vit-nam

 

Link: http://www.giaodiemonline.com/noidung_detail.php?newsid=10792
 
| Chủ Trương | Hướng dẫn kỹ thuật | Tài liệu Anh ngữ | Cài đặt Unicode |