|
ĐỐI THOẠI VỚI GIÁO HOÀNG GIOAN-PHAO-LỒ II (Phần IV) Nhân đọc cuốn "BƯỚC QUA NGƯỠNG CỬA HY VỌNG"
Với các bài viết của:
MỤC LỤC
- Lời nói đầu (Giao Điểm) - Niềm tin và hy vọng (Mật Nghiêm Đặng Nguyên Phả, Nhà báo, California, Hoa Kỳ) - Vài nhận định về tác phẩm Bước qua ngưỡng cửa hy vọng (Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ, M.D., California, Hoa Kỳ) - Phê b́nh cuốn Bước qua ngưỡng cửa hy vọng của tác giả John Paul II (Lư Khôi Việt, Ph.D., California, Hoa Kỳ) - Phật giáo và Giáo Hoàng (Trần Văn Kha, Nhà văn, California, Hoa Kỳ) - Từ trong nhà ra ngoài chợ (Phan Tấn Hùng, Nhà văn, Paris, Pháp) - Đối thoại : Sỡ tri chướng và kinh tế thị trường (Phạm Trọng Chánh, Ph.D., Paris, Pháp) - Về nỗ lực bào chữa cho Giáo Hoàng John Paul II của một tín hữu Kitô Rôma (Hoàng Hà Thanh, California, Hoa Kỳ) - Đạo nào xuất thế tiêu cực? Đạo nào nhập thế tích cực? (Nguyễn Hoài Vân, M.D., Vitré, Pháp) - Phật giáo có phủ định cuộc sống và thế giới hay không? (Minh Chi, Giáo sư, Sàig̣n, Việt Nam) - Ra và vào ngưỡng cửa hy vọng: đọc tác phẩm của Giáo Hoàng Gioan Phaolồ II (Nguyễn Kết, Ph.D., Copenhagen, Đan Mạch) - Thư ngỏ gửi Giáo Hoàng John Paul II (Vũ Trọng Minh, Virginia, Hoa Kỳ) - Nói chuyện với nửa phần hồn của tôi (Hoàng Nguyên Nhuận, Nhà văn, Blaxland, Úc) - Bước qua ngưỡng cửa vô minh (Trần Chung Ngọc, Ph.D., Wisconsin, Hoa Kỳ)
PHỤ LỤC
- Quan điểm đạo Phật về giải thoát và phụng sự con người (Lê Hiếu Liêm, Ph.D., California, Hoa Kỳ) - Giáo lư nhà Phật và phát triển kinh tế (Nguyễn Phúc Bửu Tập, Ph.D., Illinois, Hoa Kỳ) - Về sự chính xác của một danh xưng quan trọng (Vũ Huy Quang, California, Hoa Kỳ) - Nỗi ăn năn thống hối của một người theo Công giáo (Phan Quốc Đông, Hoa Kỳ) - Đạo Phật trong mắt tôi (Nguyễn Tử Đóa, Louisiana, Hoa Kỳ)
RA VÀ VÀO NGƯỠNG CỬA HY VỌNG : ĐỌC TÁC PHẨM CỦA GIÁO HOÀNG PHAO LỒ II
Nguyễn Kết
Quyển sách mới của Giáo Hoàng Gioan Phaolô II được phát hành từ tháng 10 năm 1994 với những quảng cáo rầm rộ, làm nhiều người lưu ư đặc biệt. Sách mà trong đó một nhà lănh đạo tôn giáo nói về Giáo hội của ḿnh, về các tôn giáo khác, về các khó khăn mang tính thời sự và viễn cảnh tương lai, về t́nh người, chiến tranh và ḥa b́nh… hầu như chắc chắn là được rất nhiều người chờ đón ngay khi nó chưa xuất bản. Có hay không có niềm tin tôn giáo th́ ai cũng thừa nhận ảnh hưởng không thể chối bỏ của tôn giáo trên các khía cạnh tâm lư, đạo đức, xă hội… của đời sống, và tác giả hay “nhân vật” của loại sách này hiển nhiên ảnh hưởng nơi người tín đồ và “người ngoài” do đó cũng thấy cần thiết phải đọc. Quyển sách của vị lănh đạo cho gần một tỷ tín đồ Công giáo như thế chắc chắn cũng được người không Công giáo lưu ư đặc biệt, như trường hợp người không Phật giáo đối với những tác phẩm viết về Dalai Lama của các tác giả Anh, Đức, Pháp, Thụy Điển v.v… cùng quyển tự truyện của ngài Freedom in Exile và rất nhiều bản dịch của nó. Tuy nhiên nó có tạo được ấn tượng tốt đẹp lâu bền hay không lại là chuyện khác. Bài phân tích này có mục đích nhận diện ấn tượng đó, đặc biệt nơi những khía cạnh ít nhiều liên quan đến người đọc Việt Nam; vấn đề đặt ra sẽ không hẳn tác giả thật sự muốn nói ǵ, mà là dấu ấn của tác phẩm trên tiềm thức và ư thức người đọc.
NHỮNG SỰ KIỆN ĐÁNG TIẾC: 1.1. Bản Việt dịch của quyển sách, có tựa đề Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng (NXB Thăng Tiến 1995) - từ đây được gọi tắt là BQNCHV - là một sự kiện đáng tiếc theo nhiều nghĩa. Được bảo trợ, khuyến khích của cấp lănh đạo Giáo hội và được thực hiện với một tập thể dịch, duyệt hùng hậu hiếm thấy ở hải ngoại nhưng nó có hơi nhiều khuyết điểm làm giảm giá trị của nguyên tác. Dễ thấy nhất là nơi các lời giới thiệu, trong sự thần thánh hóa tác giả, tác phẩm có những điểm phi lư, chẳng hạn như tác phẩm là một trong những chuyện phi thường mà Giáo Hoàng đă làm, như cộng sản sụp đổ và ngài bị ám sát mà không chết là phép lạ. Phép lạ chắc chắn không là nguyên nhân và điều kiện trần tục như khó khăn nội và ngoại tại của các nước cộng sản, như bác sĩ giỏi và sự cứu trị kịp thời… mà là một cái ǵ đó không giải thích hợp lư được. Đâu là cái như thế trong các biến cố đó? Nếu nói nó nằm sau các nguyên nhân và điều kiện thông thường th́ càng phi lư hơn, v́ nếu những điều này tự chúng đủ để giải thích hợp lư các biến cố th́ tại sao c̣n nói đến phép lạ?... Người b́nh dân thường vô t́nh làm hại đến tôn giáo theo lối đó, làm người khác tưởng chừng tôn giáo chỉ một mớ mê tín dị đoan.
1.2. Trong khá nhiều khuyết điểm của tập thể dịch, duyệt 7 người, ở đây có thể kể đến sự sử dụng các thuật ngữ thần học và triết học. Realism mà dịch thành “chủ nghĩa thực tiễn” th́ c̣n tạm bỏ qua được. Nhưng “thực nghiệm” trong tiếng Việt mang ư nghĩa tích cực (như trong tiếng Anh) mà đem dùng như positivism (tr.55) th́ quư vị tiến sĩ, kỹ sư, cựu thẩm phán, nhà văn này đang đề nghị chúng ta bỏ đi thực nghiệm, nền tảng và phương pháp của khoa học, kể cả tôn giáo học. “Vô thức” từ lâu được dùng như một khái niệm tâm lư học, chẳng có liên quan ǵ đến agnoticism (tr.61) mà chúng ta thường dịch là quan niệm/thuyết bất khả tri. C̣n “tân chuyển hóa Phúc Âm”? Nếu chỉ nh́n nhóm từ này thôi, người ta sẽ nghĩ, té ra Phúc Âm đầy khuyết điểm và do đó người Kitô giáo một lần nữa phải chuyển hóa, biến đổi nó, làm nó tốt hơn! Một số khái niệm, ư niệm thần học quan trọng cũng không được giải thích mà gần như chỉ được dịch theo lối “one là một, two là hai”, chẳng hạn “thần học của tự nhiên”, “vật ngẫu nhiên”, “Đấng Tất Nhiên” - phải chăng các khái niệm, ư niệm này rất là dễ hiểu đối với người đọc? Và cách dịch như thế có phản ảnh hiểu biết của dịch và duyệt giả?
1.3. Cũng cần nói đến là việc sử dụng những từ ngữ như từ bi, thần khí, nhân chủ, Thượng đế v.v… trong bối cảnh Kitô giáo, một điều hiện nay có vẻ phổ biến chứ không chỉ trong BQNCHV mà thôi. Spirit mà dịch là “thần khí” th́ phải chăng nó phải được hiểu theo theo tư tưởng Trung Hoa, kiểu “bảo tinh, tồn khí, dưỡng thần”? Từ bi theo định nghĩa Phật giáo là ao ước đem niềm vui đến, và lấy đi nỗi khổ cho mọi loài có t́nh cảm, tri giác và như thế không thể dùng để nói về thuộc tính “thương người vô cùng” của Chúa trời, hay nói đúng hơn, Thần (1). Tuy trong thời đại của ư thức môi sinh, Giáo Hoàng cũng đă nói trong ṿng riêng tư, khoảng năm 1987, rằng ngài chắc chắn là các nhà thần học thế nào rồi cũng “sẽ t́m ra một chỗ cho thú vật trên Thiên đường”, nhưng bao lâu điều này chưa thực hiện th́ việc nói Chúa từ bi, Mẹ từ bi là… “cấp tiến”. Người Công giáo Việt Nam cũng chưa có một thần học với bản sắc riêng biệt (như trường hợp các đảo quốc Thái B́nh Dương, người da đỏ Mỹ Châu v.v…) trong đó các khái niệm này có một định nghĩa mới th́ việc sử dụng dễ đưa đến t́nh trạng lạm phát từ ngữ và đặc biệt làm người khác nghĩ Kitô giáo cũng quan niệm con người có thể trở thành Thần, Mẹ Maria và Thánh Linh. V́ chẳng hạn từ bi (hoặc thần khí) là (hai) khái niệm thực nghiệm Phật giáo (hoặc Lăo giáo): Phật (hoặc Lăo) giáo v́ chúng bắt nguồn từ hai tôn giáo này, và thực nghiệm v́ các khái niệm này có thể xác minh với thực nghiệm (empirical verification), ít nhất là trong triết và mô h́nh tâm lư học của hai tôn giáo đó. Trong khi đó thuộc tính "nhân lành vô cùng" của Thần chưa phải là khái niệm có nội dung cụ thể để có thể được xác minh (một điều không ít các nhà thần học xem như tốt, v́ cho đến nay các nỗ lực tái định nghĩa thuộc tính này để nó có thể xác minh đều có tác động dội ngược tai hại trên thần học Kitô giáo) và là cái theo định nghĩa con người không có được.
1.4. Việc làm giảm giá trị của nguyên tác là một điều đáng tiếc. Nhưng chính tác phẩm và chủ trương của hàng lănh đạo Giáo hội nhằm phổ biến nó đến người đọc Á Đông nói chung và Việt Nam nói riêng mới là hai sự kiện đáng tiếc thật sự, không phải v́ nó chứa đựng những khẳng định tiêu cực về một tôn giáo có nhiều tín đồ ở Á Đông và xem tôn giáo này như ḱnh địch số một của Kitô giáo, mà v́ chúng được tuyên phán bởi một nhà lănh đạo tôn giáo được tin là không thể sai lầm trong vấn đề tín lư. Trên b́nh diện học thuật, việc người tôn giáo này phê phán, đánh giá tôn giáo khác là lẽ thường. Nhưng BQNCHV không phải là một công tŕnh khoa học, người đọc bị đặt vào thế tin hoặc không tin, v́ khó mà biết những khẳng định đó có hay không thuộc về phạm vi tín lư Công giáo. Vấn đề trở nên trầm trọng hơn với người tôn giáo Á Đông chưa quen với tinh thần phê phán và thường nh́n vấn đề bằng t́nh cảm. Người Việt, cũng như người Á Đông khác, đă đổ rất nhiều máu và nước mắt v́ Kitô giáo - v́ niềm tin vào Kitô giáo cũng có mà v́ không chịu tin Kitô giáo cũng có. Chúng ta rơ ràng hoàn toàn sai lầm nếu không cho rằng oan trái lịch sử này không tiếp tục ám ảnh người Việt, và những nhận định về Phật giáo trong BQNCHV do đó khó có tác dụng nào khác hơn là khẳng định, nếu không nói đào sâu thêm, hố chia rẽ: nếu cách đây không lâu nhiều người c̣n tự nhắc nhở ḿnh mỗi ngày rằng người Phật giáo thờ "bụt thần ma quỉ", th́ giờ đây người Phật giáo lại vẫn cũng bị xem như tin thờ một kẻ phủ nhận cuộc đời, bi quan, tiêu cực, nên xa lánh… người Phật giáo chắc chắn cũng có kẻ hiểu nông nghĩ cạn, đồng nhất sự kiện đặc thù với quy luật phổ cập, và đây là một dịp nữa để họ thấy định kiến về Thiên Chúa Giáo của ḿnh là đúng. Đó là chưa kể những Phật - tử - tự - xưng với thái độ cực đoan cùng những người/ thế lực chực chờ cơ hội triệt phá sức mạnh của người Việt.
NHẬN XÉT TỔNG QUÁT2.1. Theo một khía cạnh, BQNCHV rất đáng đọc v́ nó, qua các câu hỏi đặt ra, phản ánh sự xao xuyến bất an của người Công giáo Tây phương về những khó khăn mà họ đang đối mặt ở cả hai lĩnh vực thần học và thực tế, và, quan trọng hơn, một ư niệm về phương hướng giải quyết hoặc thái độ trước các vấn đề đặt ra mà Giáo Hoàng muốn Giáo hội Công giáo Roma sẽ theo đuổi. Ở lănh vực thứ nhất là các vấn đề hầu như thời nào cũng đè nặng trên các học giả Kitô giáo: Thần hay không? Có toàn năng, toàn thiện hay không? Nếu ngài là t́nh thương th́ tại sao cái ác lại có ..v..v.. Ở lĩnh vực thứ hai chính yếu là sự kiện đạo Phật có dấu hiệu phát triển tại Tây Phương, quan niệm chính thống về các tôn giáo đó là thế nào, Giáo hội sẽ làm thế nào để phát triển và đối phó với "nguy cơ" đó, và cuối cùng những thắc mắc về Giáo hội với sự trung ương tập quyền có vẻ không c̣n thích hợp với thời đại, thái độ "bảo thủ" của Giáo hội trong vấn đề ngừa thai, phá thai, v.v… 2.2. Một điểm đáng tiếc, thuộc về các dịch giả, là, họ hoàn toàn không giúp người đọc h́nh dung rơ hơn, v́ sao mà người Kitô Giáo Tây Phương có những âu lo, hay những lối đặt vấn đề như phải chăng Giáo hội Rôma đang thoái hóa, với Công đồng Vatican II nó đến ngày tàn, sẽ sụp đổ.v.v... Nếu có theo dơi báo chí, chúng ta có thể biết rằng khủng hoảng mà Giáo hội Công giáo Roma đang trải qua trong căn bản là khủng hoảng giáo quyền. Như tŕnh bày của kư giả Công giáo Thụy Điển Gunnel Vallquist trong bài báo cáo dài trong đó ông lượt qua các tác phẩm có thẩm quyền về vấn đề này (2), đó là sự mâu thuẫn giữa "Roma" và một bộ phận lớn của Công giáo. "Roma" đại khái là Giáo hoàng Gioan Phaolồ II, Thánh bộ Đức tin (?) và một số thần học gia gần mặt trời, trước và trên hết các chuyên gia thuộc Thần Học viện Lateran. Bộ phận đối lập là một số lớn thần học gia, linh mục, không ít giám mục ở rải rác khắp thế giới và, tất nhiên, nhiều giáo dân Tây phương. Vallquist và các tác giả ông đề cập vẽ ra một bức tranh xám ngắt, một phía là một triều đ́nh phong kiến cổ hủ xa lạ với thời đại dân chủ và do đó hầu như luôn luôn vụng về hay thô bạo hoặc sai lầm trong cách giải quyết vấn đề, và phía khác là những phản kháng thoạt đầu thầm lặng nhưng càng lúc càng có vẻ to tiếng, của những người kính yêu Giáo Hoàng rất mực nhưng đồng thời đau xót khi thấy ông phạm hết ngộ nhận này đến sai lầm khác. Theo tác giả bài viết, tâm trạng chung của nhiều người Công giáo Tây Phương hiện nay được diễn tả xác thực với kết luận của Linh mục J.Dunn, "I think that John Paul II is a good saintly man who has done a lot of harm to the church in my generation." (Theo tôi Gioan Phaolô II là một người tốt lành thánh thiện nhưng đă làm hại rất nhiều cho Giáo hội trong thế hệ của tôi.) Ngược với thái độ chua xót và gần như tuyệt vọng của các tác giả ông đề cập, Vallquist đă tỏ thái độ lạc quan; theo ông đă có những giám mục nói rằng, "Chúng tôi đă nghiêm cẩn lắng nghe Roma, nhưng chúng tôi không tin tưởng, và vấn đề phải được nghiên cứu kỹ lưỡng hơn." Nếu tŕnh bày của ông đúng th́ người "giáo dân tầm thường" đặt câu hỏi để Giáo hoàng trả lời và lo việc nhuận sắc và xuất bản tác phẩm, kư giả người Ư Victorio Messori, qua thái độ đối với những câu trả lời của Giáo Hoàng đă cho thấy ông thuộc về một thiểu số vẫn c̣n tin vào một giáo điều hiện không c̣n hiệu lực: Roma đă phán quyết, vấn đề đă giải quyết - roma locutta, causa finita!
2.3. Những "thắc mắc" như thế lần đầu tiên được một "giáo dân tầm thường" đặt ra cho vị lănh đạo tối cao, và được trả lời. Giáo hoàng hiển nhiên thấy đây là cơ hội tốt để "làm việc tông vụ", v́ ngài trả lời rất kỹ lưỡng, nhiều hơn yêu cầu đặt ra ban đầu và với mục đích rơ rệt là viết sách (trong khi nhà Thăng Tiến làm người đọc có cảm tưởng đó là một thu tập những câu trả lời tức thời trong một cuộc phỏng vấn trực tiếp!). Trong bối cảnh lịch sử Giáo hội, đây đúng là một biến cố. Nhưng đặt trong bối cảnh thời đại th́ dù sao nó cũng là một "biến cố b́nh thường" mà thôi; các nhà lănh đạo tôn giáo ngày nay nói chung không vị nào đứng yên trong tháp ngà thần thánh của ḿnh. Điều đáng nói ở đây là, qua tác phẩm, người đọc thấy sự cương quyết, không nhân nhượng của một người thách thức với xu thế thời đại và tự tin rằng ông ư thức sáng tỏ về những khó khăn mà ông, và Giáo hội "của ông" đang và sẽ gặp. Những nhà thần học không được cấp phép thi thố tài năng chuyên môn hoặc bị lên án "cấp tiến" sẽ không thấy có hy vọng ǵ vào một đường hướng mới mẻ nào đó. Nếu nh́n như thế, người đọc có lẽ sẽ không c̣n lấy làm lạ rằng nhiều vấn đề nóng làm bận ḷng giáo dân hiện nay, như Giáo hội thật sự đứng về phía nào trong vấn đề bất công xă hội ở các nước Công giáo Mỹ Châu, vấn đề linh mục lập gia đ́nh, phụ nữ đ̣i làm linh mục.v.v... đă không được đề cập. Và nếu nh́n như thế, người đọc có thể thấy "giữa những hàng chữ" là khá nhiều điều gợi ư rằng, giải pháp đối trị vấn đề mà Giáo Hoàng nghĩ đến đang nằm ở các giáo hội ở các quốc gia ngoài Tây Phương, các giáo hội của các giáo dân trước đó theo các tôn giáo "sơ khai", "thờ linh hồn", các giáo hội hiện nay tuy vẫn ít tín đồ nhưng mạnh mẽ trong niềm tin, trung thành với Roma, không (hay chưa gặp?) vấn đề như ở Tây phương.
2.4. Tuy nhiên người đọc chắc chắn là sẽ thất vọng nếu muốn có một cái nh́n cụ thể về Giáo Hoàng như một con người. Ngài chẳng hạn không nhắc đến rất nhiều những nhân vật tôn giáo quan trọng mà ḿnh đă gặp, và nếu nhắc - điều rất hiếm! Th́ có vẻ miễn cưỡng, nhắc v́ không thể không nhắc, nhưng ngược lại hoàn toàn không cho biết cảm nghĩ tức thời của ḿnh như thế nào. V́ sự phát triển của Phật giáo ở Tây Phương được xem như một vấn đề mà Dalai Lama được nhắc đến, chỉ như "một h́nh ảnh rất quen thuộc đối với Tây Phương mà tôi đă gặp một vài lần. Ông đem Phật giáo đến với người Kitô Tây Phương, làm nhiều người thích thú với những phương thức tu tập và cầu nguyện Phật giáo". Nhận xét này có thể chỉ là do tính t́nh khép kín của Giáo hoàng, nhưng nó có thể cũng làm người đọc nghĩ đến một lời cảnh cáo, kiểu "Coi chừng, người đó nguy hiểm lắm!" cũng như có thể vẽ ra trong trí ḿnh h́nh ảnh hai địch thủ gặp nhau trong sự thủ thế cẩn thận, rất là khác với trạng thái tự tại cởi mở của Dalai Lama như được ngài kể lại trong tự truyện (3). Nhận xét này càng thêm chắc chắn hơn nếu chúng ta biết, Giáo Hoàng đă từng đưa lời cảnh cáo những tu sĩ và nhà thần học thực hành các phương pháp tu tập Á Đông hoặc đề nghị sử dụng "thần học" và triết tôn giáo Á Đông, và ngay trong tác phẩm, th́ trong số nhiều nhân vật Islam/Hồi giáo Giáo hoàng chắc chắn đă gặp, ngài chỉ nhắc đến một người mà ngay lúc thưởng thức cái đẹp cũng không quên "căn cước" của cái đẹp đó: không là Islam th́ chưa hoàn toàn (tr.110).
2.5. Nếu muốn biết rơ rệt Giáo Hoàng đă nghĩ sao về ḿnh như vicarius christi, "Kẻ thay thế Đấng Cứu Thế [trên trần gian]", th́ người đọc cũng không được thỏa măn. Câu hỏi này là một trong những quan tâm hàng đầu của người Công giáo Tây Phương hiện nay, một phần v́ họ đối mặt với phương pháp sử học trong việc học hỏi về Kitô giáo – và nh́n từ phương pháp này, một ư niệm như thế có vẻ mâu thuẫn với Kinh Thánh, như chính tác giả đă nói (tr.31) - và phần khác v́ nó chứa đựng khá nhiều vấn đề thần học tế nhị vẫn là đề tài tranh luận giữa các hệ phái Kitô khác nhau. Có lẽ chính v́ thế nên một lập luận hiểu được cũng như một kết luận sắc nét, mới lạ là điều rất khó thấy nơi câu trả lời của Giáo Hoàng. Phải chăng v́ thế nên Linh mục Hồng Phúc, ngay từ đầu, đă rán giúp người đọc hiểu rơ, rằng Giáo Hoàng tuy nói hơi mờ ảo như thế nhưng tư cách và bản chất của "đấng Đại Diện Thiên Chúa" vẫn nên được hiểu như xưa (tr. 13-21)?
2.6. Thật ra, nhiều vấn đề đặt ra đă được trả lời mà không trả lời ǵ cả. Đó là những tín niệm không thể xác minh, chẳng hạn tính độc nhất vô nhị của Chúa Giêsu. Điều này người Kitô giáo nói chung chẳng những không có ǵ để phàn nàn mà đôi khi c̣n tŕnh bày nó như thể đó là một chuyện đáng hănh diện. Việc Giáo Hoàng đă nhắc đến Kitô luận và Maria luận (Christology; Marialogy) và dùng đến 6 trang giấy (tr. 65-71) để nói về điều này có thể gây cảm nghĩ Ngài như thế là đă phát họa một lư luận. Thật ra th́ những luận thuyết đó chỉ mô tả niềm tin: Giêsu là "Con trời", được một trinh nữ hoài thai qua trung gian Thánh linh, chịu chết v́ loài người, phục sinh, về trời và sẽ trở lại trong ngày Tận thế để phán xét kẻ sống và người chết. Nghĩa là Ngài chỉ làm hai việc: (i) lấy niềm tin này khẳng định niềm tin khác, và (ii) v́ truyền thống tin nên chúng ta cũng phải tin như thế. Đặt sau câu trả lời cho câu hỏi "Thần có hay không? Chứng minh sự hữu của Thần ra sao?" (tr. 51-59) th́ những ǵ Ngài nói về các vấn đề như thế có vẻ vững chắc tuy chúng không thật sự được lư luận. Tuy nhiên nếu nghĩ như thế th́ người đọc sẽ nhầm (xem 3.5).
2.7. Tất nhiên là Giáo Hoàng có lư luận và ngài tin ḿnh lư luận hợp lư. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp lư luận hợp lư của Ngài chỉ có giá trị đối với người đă sẵn chấp nhận các tín điều Kitô giáo, hay chính xác hơn, Công giáo chính thống. Một trường hợp điển h́nh là như sau. Sau khi đă "chứng minh" sự hiện hữu của Thần, Giáo hoàng nói đến "sự kiện" Thần không "ẩn mặt", không che dấu sự hiện hữu của Ngài, mà đă hiển lộ cho người biết, nhưng sở dĩ có thêm nhiều tôn giáo, sở dĩ Thần có vẻ như chơi tṛ cút bắt làm khổ con người là v́ con người mù ḷa, không chịu thấy, không muốn thấy Thần quá gần gũi với ḿnh: "Chúng ta hăy cố gắng lư luận vô tư: Thần c̣n có thể đi xa hơn nữa trong việc hạ ḿnh xuống, tiến tới gần con người, để nhờ đó mà chúng ta được hiểu biết Ngài? Thật ra Ngài có vẻ đă đi quá xa khả năng của ḿnh […] Loài người chẳng thể chấp nhận hơn nữa mức độ gần gũi như thế, và v́ thế mà phát sinh những phản kháng… lớn lao nhất… là Pháp đường [Do Thái] và rồi Islam." (tr.63; Giáo Hoàng nhấn mạnh). "Lư luận vô tư ở đây hiển nhiên không thể hiểu được nếu chúng ta không thêm vào ngoặc […] nhóm từ "bằng việc (gửi Con ḿnh) xuống thế làm người, chịu khổ, chịu chết". Vấn đề là thêm chúng th́ lư luận trên không thể gọi là "vô tư". Và nếu Thần "chẳng thể đi xa hơn được nữa", th́ phải chăng khả năng của Ngài có giới hạn, không là toàn năng?
2.8. Thế nên trong toàn bộ tác phẩm, Giáo Hoàng chỉ nh́n mọi sự theo một quan niệm Kitô giáo rất đặc thù. Quan niệm này đáng tiếc là trở nên tai hại khi nói đến tôn giáo khác. Đề cập đến hai tôn giáo độc thần Do Thái và Islam, tác giả rất là nhẹ tay, đến độ chỉ nói tốt cho Do Thái giáo. Nhưng trích dẫn ở trên, dễ dàng - nhất là kế đó nó c̣n được giải thích rơ hơn - cho thấy rằng trong quan niệm của Giáo Hoàng, không chấp nhận Giêsu như đấng Cứu thế nhất định có nghĩa là chối bỏ Thần, và ngài nhấn mạnh, "con người xét xử Thần (Chúa trời) không đặt căn bản trên chân lư nhưng trên sự lạm quyền và âm mưu được toan tính" (tr.86). Người của hai tôn giáo này, và chẳng những thế mà hầu như tất cả những ai nghĩ khác với tác giả, đều có thể cảm thấy ḿnh bị kết án trong nhận định đó, chẳng những v́ Ngài nói thêm rằng nó là "chân lư lịch sử của nhân loại, chân lư lịch sử trong thế kỷ chúng ta", mà c̣n v́ ư tứ này được thấp thoáng tại nhiều nơi khác trong sách. Người không tôn giáo, ví dụ, tuy có thể chẳng quan tâm ǵ với nhận định đó, nhưng ở nơi khác (tr.201), họ lại được nhắc nhở rằng "thế giới hữu h́nh không cung ứng những căn bản khoa học biện minh cho một lối giải thích vô thần về thực tại cuộc sống, trong khi suy tư lương thiện sẽ t́m ra đủ yếu tố trong thế giới để đi tới một kiến thức về Thần. Như thế cái nh́n vô thần trở thành phiến diện và trở thành có dụng ư."
2.9. Nói rộng hơn nữa th́ quan niệm này trong một vài trường hợp có thể c̣n tai hại cho cả người Công giáo. Nói về việc người Kitô giáo vẫn c̣n là thiểu số ở Á Đông, tác giả nói rằng nguyên nhân là v́ "truyền thống của những nền văn hóa rất xa xưa… vẫn c̣n ảnh hưởng rất mạnh tại Đông Phương" (tr.100). Thoạt tiên cách nh́n như thế trông có vẻ hiển nhiên. Nhưng đáng lư một người như Giáo Hoàng không nên nghĩ đơn giản như thế. V́ nếu thế th́ phải chăng những người Kitô giáo Á Đông th́ không chịu nhiều ảnh hưởng truyền thống, hoặc do không chịu nhiều ảnh hưởng truyền thống mà thành Kitô hữu? Phải chăng sự phát triển của Công giáo ở Á Đông đă, và sẽ được trả bằng giá của sự từ bỏ hay đánh bật gốc các giá trị truyền thống? Quan niệm này có liên hệ ǵ với việc, ví dụ, các Giáo Hoàng trước Công đồng Vatican II lên án, không cho phép người Công giáo Á Đông thờ cúng tổ tiên để rồi tục lệ này bây giờ được xem như gần gũi, dọn đường cho sự phát triển Công giáo (tr.102)? Dù sao, khi cho rằng sự thờ cúng tổ tiên gần gũi và có vẻ như dọn đường cho đức tin Công giáo, tác giả đă gián tiếp nói sự lên án trước đây là sai. Khi sự việc này là một trong những nguyên nhân sâu xa khiến vua quan và các nhà Nho cho rằng người Công giáo tân ṭng là theo tà ma ngoại đạo, khiến chỉ ở Việt Nam thôi mà đă có hàng trăm ngàn giáo dân chịu chết và nhiều người Việt một phần v́ thế mà chia cách hiềm thù nhau đời này qua đời khác, th́ Giáo Hoàng có nên đưa ra một lời xin lỗi, như ngài đă làm với người Phi châu và dân da đỏ Mỹ Châu?
BQNCHV như một vấn đề nhận thức 3.1. Ở trên chúng ta đă thấy lư luận của Giáo Hoàng thiếu giá trị phổ biến và, ngay trong phạm vi Kitô giáo, có trường hợp c̣n chứa đựng hay dẫn đến những vấn đề chưa có câu trả lời hợp lư. Quan niệm tôn giáo của Ngài v́ thế cũng không đủ bao dung và đủ rộng để người không Kitô và không tôn giáo thấy tôn giáo/quan niệm sống của ḿnh có quyền hiện hữu trong tŕnh bày của tác giả. Quan niệm này sẽ đưa chúng ta đến đâu?
3.2. Trở lại trường hợp tác giả trách người Do Thái giáo và Islam, rằng bằng sự không nh́n nhận Chúa Giêsu như đấng Cứu Thế họ đă chối bỏ Thần (xem 2,8), chúng ta có thể khẳng định ngay, rằng lư luận này không tương hợp, ít nhất là với bối cảnh sử tôn giáo trong khoảng thời gian 2,3 thế kỷ trước và sau Tây lịch. Đó là thời của những "đấng Cứu Thế". Người Do Thái bấy giờ đau khổ do nạn thống trị của La Mă và mong đợi, như tín ngưỡng của họ qui định, một đấng thần nhân đến giải phóng Do Thái khỏi ách thống trị và xây dựng lại Nước Trời, một đấng Cứu Thế hay Con Trời (Con Trai Thần) (4). Thế là liên tiếp xuất hiện những người được tin thờ như Đấng Cứu Thế Con Trời, v́ tất cả đều rao giảng về việc "Nước Trời sắp đến" và con người phải chuẩn bị sẵn sàng để đón nhận sự Phán Xét. Trong những người này, có kẻ cũng như Giêsu, được tin là sinh ra theo một cách thế thần thánh, sống lại sau khi chết, và có thể, như Di thư Quram (5) cho biết, có kẻ c̣n sinh ra để chịu chết v́ con người. Giêsu được biết như đấng Cứu Thế v́ niềm tin vào Ngài không chết đi theo cái chết của Ngài, mà chẳng những thế c̣n làm Tân giáo phái h́nh thành quanh Ngài trở thành một tôn giáo thế giới. Nhưng người Do Thái hiển nhiên có lư do để không thể chấp nhận Giêsu: đă có nhiều đấng Cứu Thế, vậy biết ai là thật, nhất là khi các "đấng Cứu Thế" đều không đem lại b́nh an cho Do Thái (tái lập lại Nước Trời)? Mặt khác, nếu Thần muốn để con người biết Ngài qua Giêsu nhưng bên cạnh đó c̣n để hàng loạt "đấng Cứu Thế giả" làm rối ḷng người (và làm quân xâm lăng có lư do xiết chặt gọng ḱm thống trị), th́ phải trách Thần chứ sao lại trách người Do Thái? Thế nên lư luận của Giáo Hoàng ở điểm này không đi sát với thực nghiệm, ở đây là hiểu biết sử học.
3.3. Chúng ta cũng có thể thấy điều này với một sự kiện xảy ra ngay trong thời hiện tại. Trong nỗ lực biện minh dựa hoàn toàn trên khoa học cho quan niệm sống của ḿnh, những người không tôn giáo hiện nay phát triển được một dạng vô thần luận nhất quán và giải thích được nhiều dạng thức kinh nghiệm của con người, kể cả kinh nghiệm đạo đức, kinh nghiệm tôn giáo, đặc biệt theo một cách khiến sự hiện hữu của tôn giáo được chấp nhận. Có thể thấy, trong khung giải thích của vô thần luận này vẫn có nhiều điểm không như ư, nhưng một căn bản khoa học cho quan niệm như thế rơ ràng không thể nói là không có (xem 2.8). Và nếu suy tư trên căn bản những hiểu biết chắc chắn của khoa học mà là không lương thiện th́ phải chăng khoa học trong căn bản là không lương thiện? Được bao quanh bởi một đội ngũ hùng hậu các chuyên gia mọi ngành mà tác giả lạ lùng thay lại không biết đến sự kiện phổ biến trong khoa học và tư tưởng giới này. Dù sao đi nữa th́ chúng ta một lần nữa thấy tư duy của Giáo Hoàng có chỗ quá hẹp để có thể tương hợp với thực tế. Một điểm đáng suy nghĩ là, nếu người không tôn giáo có một căn bản lư thuyết cho sự bao dung tôn giáo, th́ chắc ǵ các tôn giáo thiện hơn nếu chưa thể dung tha nhau trong căn bản lư thuyết? 3.4. Chẳng những lư luận của tác giả khiến chúng ta gặp khó khăn khi đối chiếu với thực nghiệm, mà khi Ngài đề cập đến thực nghiệm chúng ta cũng gặp vấn đề, đó là đồng nhất kinh nghiệm về thực tại với chính thực tại, v́ như Ngài nói, "… con người [bây giờ] có khả năng từ một nền tảng vững chắc để đề cập tới kinh nghiệm nhân linh, kinh nghiệm luân lư và kinh nghiệm tôn giáo… Và nếu như thế… th́ thật là khó chối bỏ rằng ngay trong ḷng kinh nghiệm con người, người ta cũng phải thấy đâu là điều thiện, đâu là điều ác, đâu là chân lư, đâu là vẻ đẹp, và đâu là Thần." (tr. 56-7). Như nhiều người Kitô giáo khác, Giáo hoàng có thể do kinh nghiệm tôn giáo của ḿnh (chẳng hạn cảm nhận một t́nh thương vô hạn lượng nào đó phủ trùm lên Ngài) mà khẳng quyết t́nh thương đó là từ Thần và như thế một vị Thần nhân lành phải có. Nhưng người tôn giáo khác cũng có kinh nghiệm tôn giáo/huyền bí, và họ không thấy như Ngài, mà thấy các vị Phật hoặc Bồ Tát hoặc thấy Pháp thân (Dharmakaya) hoặc thấy Đạo (Dao/Tao).v.v... th́ sao? Đó là những sự kiện không thể phủ nhận v́ chúng được kiểm chứng, ví dụ nơi các thiền gia hoặc ví dụ như những người được khơi động với thuốc LSD … theo tiêu chuẩn khoa học chặt chẽ. Nếu theo đúng quan niệm của tác giả, những người có kinh nghiệm thấy Phật, ví dụ, tất nhiên phải nói thực tại tối thượng là Phật! Đó có thể là một sai lầm chí tử, cả cho ḿnh lẫn cho người, mà chúng ta thấy suốt lịch sử nhân loại. Nhiều tân giáo phái đă phát sinh từ sự đồng nhất kinh nghiệm và thực tại, và để nói về một trường hợp hại ḿnh hại người th́, nếu tôi thấy Chúa Giêsu trở lại Xét Xử thế gian và đón tôi và những người đồng tín ngưỡng với tôi vào Nước Trời, và nếu không có một quan niệm vững chăi về kinh nghiệm tôn giáo, th́ tất nhiên chúng tôi vui ḷng tự sát. Ví dụ này có thể là trường hợp của những giáo phái Tận Thế (mà chỉ mới được biết từ năm 1978 đến nay (6), v́ theo nghiên cứu hiện đại về kinh nghiệm huyền bí và kinh nghiệm tôn giáo (cũng như theo đạo Phật!), dạng thức của các kinh nghiệm này lệ thuộc nhiều vào các tín điều tôn giáo mà một người có. Các "Đấng Cứu Thế" mà chúng ta đă đề cập ở trên như thế có thể không hẳn là "của giả", họ có thể rất thành thật nếu cho ḿnh là Con Trời, v́ họ sinh ra trong bối cảnh của sự chờ đợi ngày Phán Xét. 3.5. Hiểu biết có được do sự nghiên cứu về kinh nghiệm tôn giáo/huyền bí nêu trên cho thấy sự phổ cập của một nhận thức khoa học thực nghiệm theo đó thực nghiệm và sự khảo sát luôn luôn bị khuôn nắn, nhuộm màu bởi lư thuyết: lư thuyết/quan niệm là một cặp kính qua đó nhà khoa học/người nh́n sự vật, cùng nh́n một hiện tượng nhưng cái thấy của những người với góc độ lư thuyết hay lăng kính khác nhau sẽ không giống nhau. Do biết rằng cái nh́n thực tại của ḿnh đă bị qui định bởi một khuôn mẫu (paradigm) nhất định và như thế luôn luôn có giới hạn, người khoa học sẵn sàng lắng nghe những giải thích thực tại khác. Do đó, nếu Giáo Hoàng chỉ v́ thấy thái độ cởi mở của họ trước giải thích thực tại của tôn giáo (tr.201) mà buồn ḷng, nghĩ họ không hợp lư khi cố t́nh không chấp nhận Thần giáo th́ Ngài đă lầm lớn: nếu cái được thấy qua một khuôn mẫu khoa học là một mảnh thực tại bị biến dạng, th́ thực tại theo một khuôn mẫu tôn giáo nào đó cũng không phải là chính thực tại, nhất là nếu khuôn mẫu đó không được xây dựng trên thực nghiệm chặt chẽ mà trên tín điều không thể xét nghiệm. Chính v́ thế mà con người thời nay tuy tái khám phá chiều kích tôn giáo của đời sống nhưng không dám quả quyết đằng sau đó là cái ǵ, mặc cho Giáo Hoàng than trách (ví dụ, tr. 55).
3.6. Chúng ta có thể ngờ rằng Giáo Hoàng không có một cái nh́n phiến diện như thế về kinh nghiệm tôn giáo, rằng có lẽ theo Ngài nó chỉ là một phần trong chứng minh về sự hữu của Thần mà thôi. Quả thật Ngài đă khẳng định rằng không một ai có thể kinh nghiệm Thần một cách trực tiếp (tr.57). Nếu đây là tín niệm phổ biến, nó có thể là một trong các nguyên nhân làm người Kitô giáo không kinh nghiệm mà thường chỉ cảm nghiệm. (Cảm trước cái đẹp.v.v... rồi liên tưởng đến Thần và nghiệm rằng cái đẹp đó là công tŕnh của đấng Sáng tạo, khác với kinh qua chính sự Sáng Tạo của Thần rồi nghiệm lại sự kiện đó). Dù sao th́ theo Giáo Hoàng, sự hữu của Thần không chỉ là niềm tin thuần túy, mà c̣n có thể lư luận, và bên cạnh kinh nghiệm tôn giáo, lư luận này nếu có th́ không c̣n ǵ để không tin vào sự hữu của Thần. Ngài tin là chứng minh này có. Quả thật trong toàn bộ BQNCHV, lập luận rơ rệt nhất của tác giả là lập luận về sự hữu của Thần. Theo phác họa của Ngài, việc chứng minh dựa vào (i) sự tái nghiên cứu "Ngũ Phương Aquinas", tức năm phương thức mà Thánh Thomas Aquinas đề ra để chứng minh sự hữu của một Thần Sáng Tạo (tr.51-54) và (ii) vận dụng những hiểu biết đem đến từ triết ngôn ngữ, triết tôn giáo hiện đại trong đó quan niệm duy nghiệm - hay "chủ nghĩa thực nghiệm" theo cách gọi của các dịch giả - bị xem như lỗi thời (tr.55-59).
3.7. Tuy nhiên như đă đề cập, kinh nghiệm tôn giáo không chỉ có trong Kitô giáo mà c̣n có trong Ấn giáo, Phật giáo và trên lư thuyết mọi tôn giáo (cả thiện lẫn bất thiện). Do đó sự song hành giữa kinh nghiệm, nhất là nếu kinh nghiệm này chỉ là cảm nghiệm, và chứng minh thuần lư chưa đủ để nói về giá trị chân lư của cái nằm sau kinh nghiệm; người thờ Satan có thể dễ dàng "kết hợp" kinh nghiệm của ḿnh và một dạng biến chế lư luận của Thánh Aquinas mà khẳng định rằng Satan mới là đấng Sáng Tạo Tối Cao. Dù sao th́ như được phân tích trong một luận án triết tôn giáo, lư luận của Thánh Aquinas, cũng như mọi nỗ lực lư luận về sự hữu của Thần mà các thần học gia và tư tưởng gia Kitô giáo đưa ra, đều chưa đi đến đâu cả. (7)
3.8. Các phân tích ở trên cho thấy hai khiếm khuyết trong căn bản lư luận của Giáo Hoàng, khiến chúng ta (i) khó so chiếu luận lư với hiểu biết thực nghiệm để điều chỉnh lư luận của ḿnh, và (ii) khó có quan niệm nhất quán và đủ sâu sắc khi đề cập đến thực nghiệm. Chỉ với hai điều này thôi chúng ta đă không thể thoát ra khỏi sự kềm chế của cái gọi là "tự tôn văn hóa" (ethnocentrism), xu hướng nh́n sự vật theo lăng kính tôn giáo/chủng tộc (ethnos) hoặc nói chung văn hóa gọi là ưu việt của riêng ḿnh. Thói tật này ai cũng có, văn hóa nào cũng có - có thể nói nó là một thôi thúc tâm lư lúc nào cũng khiến con người để ḿnh dính mắc vào thành kiến, quan niệm, hiểu biết sẵn có - và nó đă đưa đến những ảnh hưởng tai hại. Trong nghiên cứu về các nền tôn giáo và văn hóa xa lạ với Tây phương, ư thức được điều này nên giới chuyên gia hiện nay luôn cố gắng tránh, để có thể mô tả khách quan, trung thực, để người của một tôn giáo, ví dụ, có thể nhận ra tôn giáo ḿnh trong mô tả của nhà khoa học. Mọi phê phán về một tôn giáo theo đó cũng phải thực hiện trong tinh thần đó. Tác giả BQNCHV do những sơ suất nêu trên nên có vẻ đă không tránh được điều này. Và khi Ngài không nh́n hai tôn giáo anh em Do Thái và Islam theo một cách khiến người hai tôn giáo này có thể chấp nhận được, th́ cái nh́n của Ngài đối với Phật giáo càng sai lệch trầm trọng, v́ căn bản tư duy của Phật giáo và của Kitô giáo hoàn toàn khác nhau.
NGỘ NHẬN VỀ PHẬT GIÁO 4.1. Về Phật giáo và khác biệt căn bản giữa Phật giáo và Kitô giáo (hoặc Thần giáo nói chung), Giáo Hoàng khẳng định: "Giáo lư giải thoát của Phật giáo là trung tâm điểm của đạo Phật, hoặc nói đúng hơn đó là điểm duy nhất mà hệ thống này có… cả truyền thống Phật giáo lẫn những phương pháp bắt nguồn từ đó đem đến một sự giải thoát luận hoàn toàn tiêu cực. Sự giác ngộ của Phật thu gọn trong niềm tin rằng thế giới là ác xấu, nguyên nhân của cái ác xấu và đau khổ của con người. Để tự giải thoát khỏi cái ác, người ta phải giải thoát chính ḿnh khỏi thế giới… Sự giải thoát này không có nghĩa là hội thông với Thần, mà là Niết Bàn, trạng thái triệt để dửng dưng với thế giới." Đó là dịch theo bản Anh ngữ. Trong bản Việt dịch, "giáo lư giải thoát", "giải thoát luận", "giác ngộ"… được gọi là "giáo lư về ơn cứu độ", "thần học cứu rỗi" "được khai ngộ"… (tr.105). Đă chủ trương tự giải thoát, không đề cập đến Thần và sự cứu rỗi (của Thần) mà c̣n nói đến "ơn", "thần học cứu rỗi", … th́ Phật giáo quả kỳ cục, chỉ có thể nh́n chính ḿnh bằng khuôn khổ của các khái niệm Kitô giáo. May là c̣n giữ được từ cứu độ, nghĩa là giúp đỡ để một người nỗ lực tự cứu!
4.2. Cái nh́n của Giáo Hoàng rằng người Phật giáo "tự giải thoát chính ḿnh khỏi thế giới", "dửng dưng với thế giới" sẽ làm chúng ta hụt hẫng khi so chiếu với sự kiện lịch sử. Nó quả có vẻ phù hợp với một số sự kiện, quen thuộc nhất là Phật giáo Ấn Độ sau thời Phật khoảng 100 năm đă lăng quên người đời, bận tâm với nỗ lực thuyên giải giáo lư và có bộ phái cho rằng chỉ tu sĩ mới có thể giác ngộ. Nhưng nó không giúp giải thích hợp lư, v́ sao có một phong trào chống đối lớn rộng xảy ra sau đó. Nếu chủ nghĩa xuất thế là chủ trương của Phật, tại sao phần lớn đệ tử Phật lại đ̣i hỏi ngược lại? Nó cũng không giải thích hợp lư sự kiện Phật đă không ở rừng sâu núi thẳm sau khi giác ngộ mà trở lại với người đời - những kinh sách Phật giáo cổ nhất tuy được ghi thành văn bản trong "thời kỳ Phật giáo xuất thế" và như thế ít nhiều ǵ cũng bị ảnh hưởng bởi thời gian và hoàn cảnh (như giáo lư duyên sinh nói), nhưng qua đó người ta có thể thấy, trong lịch sử tôn giáo có thể chưa có một vị Giáo Chủ nào có nhân cách như Phật và tích cực hơn Phật trong việc giáo hóa người đời (8). Những ǵ Phật dạy cũng không phải là từ bỏ đời sống, mà là cách thế sống có lợi cho cá nhân và xă hội, những giá trị tâm lư đạo đức phổ cập không giới hạn bởi, hoặc nếu không th́ dễ dàng thoát khỏi, điều kiện văn hóa đặc thù của Ấn Độ. Tại sao Phật lại làm thế khi Ngài đă “triệt để dửng dưng với thế giới”? Và tại sao những người đi theo con đường Phật thuộc mọi truyền thống Phật giáo và mọi quốc gia có mặt Phật giáo gần như luôn luôn cố gắng để làm nhiệm vụ những bậc thầy tâm linh và đạo đức cho cuộc đời chứ không là nhà khổ hạnh xa lánh xă hội?
4.3 Thế nên những nhận xét của Giáo Hoàng sẽ đưa chúng ta đến một quan niệm lịch sử độc nhất vô nhị: xem những biệt lệ đặc thù như mô thức phổ cập như biệt lệ hoặc không có. Tất nhiên chúng ta không thể chấp nhận như thế trừ phi có người chứng minh được rằng những sự kiện được biết chắc chắn sau đây là không có : Đó là các triều đại hùng mạnh, văn hiến huy hoàng, với những v́ vua sống như tu sĩ, những tướng lănh, văn nhân, triết gia, thi sĩ Phật giáo ở Ấn Độ, Miến Điện, Tây Tạng, Tích Lan, Triều Tiên, Trung Hoa, Việt Nam v.v… Đáng tiếc là đă có khá nhiều người Việt chấp nhận quan điểm đó, rồi không phải tốn công sức ǵ cả mà có thể thấy thời Lư, Trần chỉ có nơi người giàu tưởng tượng, Nguyễn Trải, Nguyễn Du… tuy mang hơi quá nhiều tư tưởng Phật giáo nhưng chỉ trong những văn thơ thù tạc chúng ta mới biết chân diện mục của họ! Và biết đâu quan niệm đó c̣n đang giúp một vài người nào đó ngồi yên thưởng thức vở kịch phi lư: Phật giáo trong nước lo toan tranh dành độc quyền xuất thế trốn đời!!
4.4. Tác giả đă nói đúng, giáo lư giải thoát là trung tâm điểm của Phật giáo. Cũng đúng, là nhận xét rằng giải thoát là giải thoát khỏi những khổ đau có đầy dẫy trong cuộc đời. Người Phật giáo quả nghĩ rằng một chân lư của đời sống là đau khổ (duhkha, dukkha), rằng nó lúc nào cũng có trong cuộc đời. Cái ác xấu vật lư (như thiên tai, nghèo đói, nhân măn, chiến tranh…) không có ở đây th́ ở đằng kia, không theo h́nh thức này th́ theo h́nh thức khác, và diệt trừ được dạng này th́ dạng khác phát sinh v.v… Nhưng khổ không chỉ ở khía cạnh vật lư hữu h́nh mà căn bản là ở nội tâm, ở nhận thức của chúng ta, cái khổ đó cũng có trong nhiều dạng, từ những cực độ của tâm bệnh đến sự ưu phiền bất an, sợ hăi, bất như ư… và như thế không một ai tránh thoát - những lời lẽ đầy ưu phiền (về nền văn minh vật chất Tây Phương, về sự bất đồng ư kiến trong Giáo hội vv…) cho thấy Giáo Hoàng cũng không là một ngoại lệ. Như được thấy răi rác trong BQNCHV, tác giả thật ra đă hoàn toàn đồng ư với Phật giáo về sự có mặt của cái ác xấu; Ngài c̣n đi xa đến độ gọi văn minh Tây Phương hiện nay là “văn minh của cái chết” (tr.209).
4.5 Đứng trước cái khổ như một sự kiện có trong thiên h́nh vạn trạng nơi cuộc đời, người Phật giáo chỉ ghi nhận, thấy sao nói vậy một cách khách quan. Nhưng Giáo Hoàng th́ không thế. Ngài không xem đau khổ là một sự thật dù thừa nhận rằng nó đang xảy ra trước mắt ḿnh. Đây cũng là thái độ của nhiều người, những kẻ nghĩ rằng khi nói đến sự có mặt thường trực của khổ đau nơi cuộc đời, đạo Phật đă xem đau khổ như bản chất, thực tính của thế giới. Nhưng lấy ǵ để kết luận như thế? Như Phật nói, mọi nhận xét về giá trị, ư nghĩa đều chứa đựng trong nó sự so sánh (cái này đẹp v́ cái khác xấu v.v…), và những người hiểu và bài bác Phật giáo kiểu này lấy ǵ để so sánh với toàn thể thế giới để nói nó trong bản chất là tốt lành có ư nghĩa, có giá trị tự thân? Khi chưa biết về toàn thế giới, rằng nó là hữu hạn hay vô cùng, có bao nhiêu định luật căn bản chi phối nó, v.v… người ta phải thừa nhận rằng nói như thế là hoàn toàn thiếu căn bản khoa học, phi lư, và ư thức hay không th́ câu nói đó cũng là hoàn toàn bị qui định bởi một niềm tin: v́ Thần nhân lành toàn thiện sáng tạo ra thế giới nên nó phải là tốt lành từ căn bản! Do tin như thế, người theo Thần giáo luôn luôn bận tâm, luôn luôn gặp vấn đề khi t́m cách giải thích v́ sao cái ác, cái xấu lại có thể phát sinh khi mà thế giới trong bản chất là tốt đẹp. Người Phật giáo không gặp vấn đề thuần lư thuyết đó (thuần lư thuyết v́ các vấn đề giải quyết đă đưa đến những vấn đề lư thuyết khác; một lời giải thỏa đáng chưa có để biết nó có lợi thực tiễn ǵ không).
4.6. Một trong những câu chuyện trong Thánh Điển Phật giáo, tuy rất thường được trích dẫn nhưng chiều kích của nó th́ cũng không được đánh giá đúng mức, là chuyện người thiếu phụ Kisagotami. Đứa con trai yêu quí độc nhất của bà chết, và trong tâm trạng đau khổ cùng cực Kisagotami ôm xác con đến các đạo sư nhờ cứu sống, người cuối cùng bà cầu cứu là Phật. Ngài nói bà sẽ được như ư nếu t́m được và đem về cho Ngài những hạt cải được trồng bởi những người chưa biết đến đau khổ. Người thiếu phụ liền ra đi, gặp ai cũng hỏi, và tất nhiên là không gặp một con người nào như thế, bà trở, về và nói đă hiểu ư Phật. (10) Ư tứ của câu chuyện, như Bohr cũng nói, là vấn đề so sánh. Nhưng không lẽ chỉ v́ so sánh ḿnh với những người đau khổ, rằng cái làm khổ không c̣n là nghịch cảnh con chết, mà là một cái ǵ đó hoạt động trong nội tâm. Tôi đau khổ v́ mất mát, sự mất mát không cứu văn được nhưng trong tâm tôi có một thôi thúc làm tôi tiếp tục đau khổ với sự so sánh vô ư thức đó. Nhưng khi những người tôi gặp ai cũng khổ th́ tôi dựa vào ǵ để so sánh, và tôi không so sánh ǵ với người, mà so sánh cái tôi có trong hiện tại và cái tôi có trong quá khứ. Cái tôi có trong hiện tại là sự mất mát. Cái tôi có trong quá khứ bây giờ cũng là sự mất mát. Thế ra tôi tiếp tục đau khổ chỉ v́ đang so sánh sự mất mát chính nó. So sánh một cái không thực hữu với chính nó! Kisagotami trở về xin Phật chấp nhận ḿnh vào đoàn thể của những người sống tỉnh thức, nói rằng đă hết khổ, đă hiểu ư Phật.
4.7. Ư nghĩa thâm sâu của câu chuyện trên, cũng như nhiều chuyện khác trong kinh điển (chỉ) được cảm nhận khi hiểu quan niệm của Phật về thế giới. Phật định nghĩa thế giới (loka) như bao hàm trong 6 cơ quan thức giác (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư), 6 đối tượng tương ứng (vật thể, âm thanh, mùi, vị, xúc, mọi hiện hữu) và 6 loại thức giác hay nhận thức (của mắt, của tai v.v…) Như được Phật và giáo đoàn sơ thời đề cập nhiều nơi (11), định nghĩa này hàm chứa trong quan niệm rằng thế giới như nó được kinh nghiệm th́ luôn luôn bị qui định, điều kiện hóa bởi h́nh thái và phương cách nhận thức của chủ đề nhận thức. Ở điểm này Phật đă đi trước khoa thực nghiệm và các triết gia khoa học (như Kuhn, Toulmin, Hanson, Feyerben) hơn 25 thế kỷ (xem 3,5). Dễ hiểu hơn, có thể nói trong định nghĩa của Phật, thế giới là hàm số của nhận thức. Định nghĩa này giúp tránh hay loại bỏ những câu hỏi bị quy định bởi sự so sánh vô thức vô nghĩa hoặc không có lợi ích trong vấn đề nhân sinh (như thế giới có hay không biên giới v.v…), nghĩa là Phật, như một nhà Phật học đă nhận xét, không trả lời những câu hỏi siêu h́nh không v́ Ngài phủ nhận siêu h́nh học, mà v́ những câu hỏi đặt ra vô nghĩa nh́n từ quan niệm của Ngài. Điều cần nói ở đây là, theo định nghĩa như thế, đau khổ được nh́n như một vấn đề nhận thức. Nó là một thực tại gồm 2 mặt chủ quan lẫn khách quan, hoặc như một chiếc cầu nối liền nội tâm và ngoại giới: ở đâu “chủ đề nhận thức” khổ đau là những cảm thức bất như ư, thất vọng, đau đớn… và ở đâu khách quan là vô thường (bất chợt, không thường c̣n), duyên sinh (thay đổi biến hóa theo các nguyên nhân và điều kiện) và vô ngă/vô chất (không tự tính, đặc tính bất biến biệt lập. Do không biệt lập nên sự vật thay đổi chuyển biến không chừng theo thời gian và hoàn cảnh, hoặc ngược lại, và đối với chủ thể nhận thức chúng mang đến những cảm thức khổ, v́ ngay niềm vui cũng có thể chấm dứt bất kỳ lúc nào.
4.8. Nếu đau khổ là một vấn đề nhận thức th́ nguyên nhân của nó cũng nằm ở nhận thức: trong lư thuyết về khổ như phác họa ở trên, khổ đau sở dĩ có không phải v́ đời sống là vô ngă, vô thường, duyên sinh - nói cách khác những điều này tự chúng không là khổ đau - mà có v́ sự tương tác giữa ngoại giới vô ngă, vô thường, duyên sinh và các thôi thúc tâm lư tham luyến, sân hận ganh tị, si mê lầm lạc nơi chủ thể. Ba chất độc đó là 3 khuôn mặt, 3 tác năng của vô minh, một vận động tâm lư mù ḷa khiến con người buộc chặt trong h́nh thái và phương cách nhận thức của ḿnh (từ đó mà có óc tự tôn văn hóa v.v...) và như thế không thấy được thế giới như nó là.
4.9. Do đó mà Giáo Hoàng đă ngộ nhận khi nói đạo Phật cho thế giới (khách quan) là nguyên nhân của đau khổ. Tất nhiên Ngài cũng sai lầm khi cho giải thoát là từ bỏ thế giới. V́ nguyên nhân đau khổ nằm ở nhận thức th́ giải thoát khỏi khổ đau cũng là vấn đề điều chỉnh, chuyển hóa nhận thức. Khi thế giới là một hàm số của nhận thức, th́ kẻ thường tục là người giác ngộ trong căn bản khác nhau ở nhận thức chứ không phải ở bối cảnh sinh hoạt; người Phật giáo đại thừa đă ư thức rơ ràng điều này khi đưa ra ẩn dụ sinh tử (samsara) là Niết bàn. Đối với kẻ bị điều kiện hóa bởi nhận thức sai lầm th́ đời sống đầy khổ đau, nhưng người giác ngộ nh́n thực tại như nó là nên dù ở nghịch cảnh mà vẫn tự tại. Phật chỉ giác ngộ khi Ngài dừng lại chứ không tiếp tục trên đường t́m kiếm giải thoát ngoài thế giới. Có lẽ chính với việc dừng lại, việc nhận thức được sự vô nghĩa, phi lư của lư tưởng “giải thoát ở ngoài thế giới”, Phật bắt đầu biết đâu là đường giác ngộ.
4.10. Phật khi chưa giác ngộ đă hoàn toàn lầm hệt như các nhà khoa học hiện nay khi Ngài t́m cách phát triển tâm lư học giải thoát của ḿnh (12). Theo cái các nhà khoa học gọi là phương pháp thử-sai-th́-sửa (trial and error) Ngài bỏ hết vị đạo sư này đến vị đạo sư khác, v́ tuy đạt đến những kết quả được người dẫn đạo của ḿnh nói đến nhưng cảm giác bất an, ví dụ, vẫn c̣n đó bên cạnh hỉ lạc thiền định (nói cách khác sự so sánh vẫn c̣n). Cũng với lư do này Phật từ bỏ đường lối khổ hạnh nhị nguyên và bắt đầu phát triển một lối tu luyện trong đó thân xác không c̣n bị xem như kẻ thù, nguồn gốc của khổ đau. Căn bản của đường lối này, Bát Chánh Đạo hay Tám con đường của một đời sống chân chính, là điều trên lư thuyết ai cũng có thể thực tập được dù trên thực tế nó thích hợp nhất cho các tu sĩ, v́ khi nhận thức trong quan niệm Phật giáo, có liên hệ sâu sắc với cả phần tiềm thức nơi con người, sự điều chỉnh, chuyển hóa nhận thức cũng có những đ̣i hỏi phức tạp hơn. Điều đáng lưu ư là thành tựu của con người đó, Niết bàn, là trạng thái không bị quy định và không c̣n ǵ để so sánh hoặc không c̣n sự so sánh; nó được mô tả bằng những từ ngữ như “không sinh, không khởi phát, không tạo, không bị điều kiện hóa…”. Sự nhất quán trong lư thuyết của Phật và căn bản thực nghiệm thử-sai-th́-sửa bảo đảm giá trị của nó. Các thảo luận tâm lư học hiện nay cũng đi đến kết luận như thế. Quả thật nhiều chuyên gia đă lư luận rằng giải thoát luận của Phật thỏa măn các yêu cầu của mọi lư thuyết xác nghiệm được - cứ thực hành th́ sẽ đạt được ít nhiều kết quả về tâm lư và tâm linh (13) - và có khả năng làm mẫu số chung cho, hay khuôn mẫu bao trùm các lư thuyết tâm lư trị liệu hiện đại (14).
4.11. Khi nói như thế, chúng ta cũng đồng thời khẳng định rằng tâm lư học hiện đại thừa nhận rằng một số phương pháp, kỹ thuật có lư thuyết này có ích lợi, ít nhất là ở khía cạnh tâm lư, nghĩa là chúng chẳng những không đưa đến những hiệu ứng tai hại như các kỹ thuật huyền học của các tôn giáo khác mà c̣n làm gia tăng sức khỏe tâm lư (15). Điều này có ư nghĩa rất quan trọng v́ (i) không như Giáo Hoàng hiểu lầm, các phương pháp Phật dạy không phải là huyền học (mysticism) và do đó nếu một số được thấy là có lợi cho sức khỏe tâm lư th́ tất cả có thể cũng có lợi (ở đây chúng ta không dùng đến lư luận Phật giáo) và (ii) trong khuôn khổ tâm lư của Phật nói riêng và Phật giáo nói chung, sức khỏe tâm lư có quan hệ mật thiết đến hành xử đạo đức. Điểm (i) đă được lư luận trong nhiều công tŕnh chuyên môn (16) và trong lập luận của bài này th́ nó trở nên dễ hiểu: các quả vị tâm linh đạt được mang chiều kích nhận thức luận chứ không phải bản thể luận (không có một vị thần linh mà hành giả sẽ hiệp thông/hiệp nhất/phối hợp như huyền học). Điểm (ii) có nghĩa là các phương thức tụ tập một mặt có lợi cho người tập luyện ở khía cạnh tâm linh, tâm lư và mặt khác tạo ra những hành xử đạo đức tốt đẹp cho tương quan xă hội. Chẳng phải t́nh cờ mà đạo Phật định nghĩa “thiện” như không có lợi hoặc chỉ có cho một phía, một khía cạnh.
4.12. Như thế, chưa cần nói đến một nội dung tích cực của khái niệm Niết Bàn v.v…, chúng ta đă kết luận được rằng, nếu Đạo Phật chỉ có duy nhất giải thoát luận (như Giáo Hoàng nói), nhưng (không như Giáo Hoàng nói) giải thoát luận đó ít nhiều ǵ cũng có lợi cho con người ở hai mặt tâm lư và đạo đức. Điều này dễ thấy ở nơi các quốc gia thuần Phật giáo (Người Bhutan, Tây Tạng, Tích Lan…). Điều này cũng giải thích v́ sao trong những thời Phật giáo cực thịnh (nghĩa là các phương pháp tu tâm sửa tánh của Phật giáo được thực hành rộng răi) th́ con người thời kỳ đó có đời sống tâm lư và đạo đức lành mạnh (tự cường, tự tin, thương người yêu đời v.v…). Do đó, nếu một đời sống đạo đức và tâm linh lành mạnh là thước đo của văn minh, chúng ta có thể hiểu v́ sao giáo sư Robert Thurman khẳng định rằng, văn minh nhân loại vẫn chưa bao giờ đạt được độ cao của Ấn Độ, Campuchia, Miến Điện, Nhật Bản, Tây Tạng, Thái Lan, Triều Tiên, Trung Hoa, Việt Nam, Uighuria v.v… trong thời hưng thịnh của đạo Phật (17). Ư kiến này chắc Giáo Hoàng đồng ư v́ Ngài đă cho rằng văn minh Tây Phương hiện đại là duy vật, trục lợi, vị kỷ, xem nữ giới như đối tượng nhục dục, là “văn minh của cái chết”!
H̉A NHI BẤT ĐỒNG
5.1. Như được phân tích ở trên, BQNCHV trong nhiều điểm là một sai lầm ngay từ căn bản lư luận. Trên căn bản đó tác giả đă xây dựng những nhận định không thể nói là phù hợp với tinh thần cộng đồng Vatican II của ḿnh. Nếu những luận định đó không mấy ảnh hưởng đến trên người Tây Phương từ lâu đă chấp nhận đa nguyên tôn giáo và có đủ tinh thần phê phán, đủ phương tiện để kiểm chứng những ǵ tác giả nói, th́ chúng ngược lại rất tai hại đối với người Á Đông, có tác dụng khẳng định những thành kiến vẫn làm quan hệ Công giáo và không Công giáo không lấy ǵ làm tốt đẹp. Không lẽ trong khi người Tây Phương càng lúc càng trưởng thành về tôn giáo, th́ người Việt Nam, ví dụ, tuy có truyền thống “ḥa nhi bất đồng” trong tôn giáo nhưng phải duy tŕ một cái nh́n thiếu thiện cảm đối với người khác tôn giáo? Và tôn giáo có lợi ǵ, giúp được ǵ cho người nếu nó không làm con người nh́n nhau bằng cặp mắt không thành kiến? Chính v́ thế mà những ngộ nhận nhân danh tôn giáo đă phải được làm sáng tỏ.
5.2. Tác giả BQNCHV một phần v́ nghĩ Phật giáo vô thần mà sinh ra những ngộ nhận hoàn toàn tiêu cực. Thần quả không có trong mô tả Phật giáo, và Phật giáo để dọn chỗ cho giáo lư của nó, đôi lúc cũng đă bắt buộc phải lư luận về những vô lư trong mô tả của Thần giáo, nhưng điều đó hoàn toàn không có nghĩa là Phật giáo phủ nhận sự hữu của Thần. Như đă lư luận, thế giới của người Phật giáo là thế giới của người nhận thức, và người Kitô giáo do đó có thể hiểu, rằng khi Thần nằm ngoài tầm nhận thức con người - không th́ Thần nhỏ hẹp hơn người - th́ người Phật giáo chẳng có ǵ để phải nói đến, v́ một lần nữa, phương tŕnh giải thoát Phật giáo là chuyện điều chỉnh, chuyển hóa nhận thức.
5.3. Khi nói con người bị điều kiện hóa bởi nhận thức, Phật giáo theo đó cũng nói rằng không một tôn giáo hay hệ thống nào, kể cả chính nó, có khả năng thỏa măn đ̣i hỏi của tất cả mọi người. V́ nếu con người bị qui định bởi trạng huống hay dạng nhận thức, th́ luôn luôn có những người với những đ̣i hỏi, những xu hướng khác biệt so với người khác, và tôn giáo, chính với mục đích thoả măn nhu yếu tâm linh/tôn giáo của con người, cũng bị qui định, điều kiện hóa bởi thời gian và hoàn cảnh. Tôn giáo hay Giáo hội nào không chịu như thế hay không giải quyết được vấn đề tùy duyên nhưng vẫn bất biến th́ tôn giáo/Giáo hội ấy sẽ chết. Không ai giết được tôn giáo, trừ chính nó.
5.4. Sự kiện nhân loại có nhiều tôn giáo theo đó chẳng những tất nhiên mà c̣n có lợi, v́ như thế người ta có cơ hội lựa chọn theo xu hướng và nhu cầu của ḿnh. Và nếu các tôn giáo thế giới đều có những giá trị và đóng góp cao quư đẹp đẽ cho sự trưởng thành của con người, th́ để mô phỏng Dalai Lama, không chỉ v́ tôi thích hoa hồng mà không thừa nhận cái đẹp của hoa cúc. Hơn thế nữa, người ta c̣n nên nghĩ rằng, không thể yêu hoa hồng mà tôi không ái ngại khi hoa cúc có triệu chứng héo úa (18). Chính v́ thế mà một danh tăng khác đă làm cho người kitô giáo Đan Mạch ngạc nhiên khi vị này cầu cho Kitô giáo thôi suy vi!
5.5. Người Phật giáo do đó dễ dàng chấp nhận quyền sống của tôn giáo khác. Cũng dễ dàng thấy từ lư luận trên, v́ sao Phật đă nói rằng một đạo sĩ tôn giáo khác cũng có thể giải thoát khỏi sinh tử luân hồi, cũng như v́ sao Ngài nói rằng giáo lư của ḿnh chỉ là chiếc bè qua sông như ngón tay chỉ mặt trăng. Thế nên sự chấp nhận ở đây hơn hẳn việc thừa nhận người khác nhưng vẫn cho ḿnh tuyệt đối đúng. Đối với người Phật giáo, việc gán cho đạo Phật một giá trị tuyệt đối chẳng những sai lầm mà c̣n hại người hại ḿnh và làm hại đến chính tôn giáo: thay v́ giải thoát, giải phóng con người, tôn giáo như thế bị con người biến thành một cái ách, một xiềng xích trói buộc.
5.6. Ḥa nhi bất đồng chưa bao giờ là vấn đề cho người Phật giáo. Hy vọng nhận thức này sẽ góp phần hữu ích đó để người Việt cùng nhau mạnh dạn bước vào ngưỡng cửa hy vọng (19) - ở đây là hy vọng về viễn ảnh kế tục một tiến tŕnh bị đứt đoạn 4 thế kỷ để đứng vững trên niềm tin của ḿnh nhưng đồng thời có thể thừa nhận giá trị nơi niềm tin của người khác.
CHÚ THÍCH (1) Người Kitô giáo nói chung phân biệt rơ ràng giữa Thần (God) và Chúa (Lord, the Lord), trừ người Việt. Chúa theo từ nguyên (kyrios trong tiếng Hy Lạp và adonaj trong tiếng Hebraic) là “ông chủ”, “chủ nhân”, từ dùng để tôn xưng ông vua hay người có thế lực và trong tương quan tôn giáo dùng để tránh phải gọi Jahve hay Jehova, tên của thần (theos trong tiếng Hy Lạp và el trong tiếng Habraric). Do niềm tin vào Giêsu, những tác giả Tân Ước cũng nhiều lúc gọi Ngài là kyrios nhưng tất nhiên tùy theo tương quan người ta hiểu, lúc nào từ này được hiểu ngầm/dịch là Chúa trời/Chúa Jahve và vào lúc nào là chúa Giêsu. Nhưng theos mà cũng dịch là Chúa th́ có lẽ chẳng khác nào thay thế, ví dụ “con trai trưởng” bằng “Anh Cả”. (2) G. Vallquist, "Autoritetskrere i den katolske kirke", Katolsk orientering, nr. 2,25/1/995, năm thứ 21. Hai tác phẩm được đề cập là P.M.Lamet, Teologernes oproer (G. Gunnarson dịch, SILI, Upsala 1994) và J. Dunn, No Lions in the Hierarchy (Columba Press, Dublin 1995). Lamet là linh mục ḍng Tên người Tây Ban Nha. C̣n Dunn người Ái Nhĩ Lan, một linh mục, phóng viên quốc tế của Giáo hội Roma. (3) Tenzin Gyatso, Tự Do Trong Lưu Đày (Chân Văn & Chân Huyền dịch, Văn Nghệ 1992). Nt. Freedom in Exile (1990). (4) Tín niệm Nước Trời & Con Trời phản ánh một hoài niệm về thời hoàng kim Nghiêu, Thuấn của Do Thái và có ảnh hưởng sâu đậm trên lịch sử dân tộc này. Cho đến thời Giêsu, Nước Trời hay Thần quốc, vẫn được “hiểu” là một vương quốc trong đó các lề luật Thần đặt ra được tuân giữ. C̣n con Trời là vua Do Thái, kẻ được xức dầu khi lên ngôi. Trong Tân Ước, ư niệm Nước Trời không c̣n chiều kích chính trị, không có trong thế gian, rất xa, nhưng cũng rất gần! (5) Di thư Qumran là tên gọi những manh mún văn bản có giá trị lịch sử cực kỳ quan trọng, được t́nh cờ t́m thấy từ năm 1947 ở Qumran, một địa phương bên bờ Tử Hải thuộc Ai cập. Trong nhiều thập niên, một nhóm chuyên gia có và giữ độc quyền nghiên cứu trong sự nóng nảy bực tức của người khác. T́nh trạng nghiên cứu rất ư thông thả - trong mấy chục năm mà ngay việc xuất bản, phổ biến cũng không thực hiện hoàn thành - chỉ chấm dứt khi các văn bản này bị lén chụp h́nh và phổ biến cách đây không lâu. Hiện nay đang có một loạt giả thuyết kinh khủng - ngay một giả thuyết ôn ḥa (và có lẽ vững vàng nhất) mà cũng nói, nh́n theo chiều kích sử học, Chúa Giêsu hoàn toàn chẳng có ǵ khác với các “đấng Cứu thế” khác (Nếu di thư Qumran được viết ra trước Tây lịch hoặc nó có trong thời Giêsu nhưng không liên hệ ǵ đến giáo phái của ngài). Tuy nhiên người ta chưa đủ thời gian để có thể thẩm định các giả thuyết đó. Điều chắc chắn là lịch sử Kitô giáo sơ thời sẽ không c̣n như chúng ta biết. (6) Các giáo phái với tín niệm rằng lịch sử hay thế giới sẽ sớm chấm dứt theo sự an bài của Thần. Trong ngày đó, người ngay lành (thành viên của giáo phái) được Thần đưa vào Thiên Đường hưởng phúc, c̣n kẻ có tội làm trái ư Thần sẽ đời đời chịu trừng phạt. Tín niệm ngày phán xét hay Tận thế thường có những biểu hiện bi kịch trong lịch sử tôn giáo Tây Phương; đọc Kinh Thánh theo một cách mà chính giáo đă từ bỏ, nhiều người đă gần như sống trong sự chờ đợi ngày Tận thế và những xáo trộn, biến lớn thường được xem như dấu chỉ ngày đó. Trong thế kỷ XX, con số các lời tiên báo Tận thế nhiều đến nỗi thế giới đáng lư đă phải chấm dứt hàng trăm lần. Trong những năm tới, các giáo phái Tận thế có lẽ c̣n lộ diện nhiều hơn, v́ trong Kitô giáo biệt truyền (esoteric) th́ vào khoảng năm 2000 chúa Giêsu sẽ trở lại Phán xét thế gian. (7) G. Dharmasiri, A Buddhist Critique of The Christian Concept of God (Goden Leaves, Antioch 1988), chương 2. Cũng trong công tŕnh này, chúng ta thấy lư luận như Giáo Hoàng phác họa đă được một nhà thần học nói đến (trang 24). (8) Nếu không nhớ lầm th́ các nhà sử tôn giáo thượng thặng đều nói như thế, tất nhiên trừ một số chuyên gia duy sử, không muốn tin ǵ hơn là những dữ kiện lịch sử cụ thể. (9) Giới hạn làm người ta ngán ngẫm, ít nhất trong trường hợp người viết trong thời gian học môn tôn giáo ở Gymnasium (cấp III) là sự chi li tỉ mẫn và khắc khe của giới luật, nhất là ni giới. Có cảm t́nh với tư tưởng Phật giáo đến đâu đi nữa th́ học tṛ cũng phát chán khi được cho biết thêm về điều này. Thật ra th́ giới luật được chép trong thời Phật giáo bộ phái và chúng ta có quyền và có lư do nghi ngờ rằng, cái phóng khoáng thời Phật lúc bấy giờ đă bị đè bẹp bởi sức ép của truyền thống khổ hạnh, vụ lễ nghi (dhrma, rita) và xem nhẹ đàn bà của văn hóa Ấn Độ. Chả thế mà Đại thừa Ấn Độ đă đưa ra một tác phẩm về giới luật cũng mang tên Uphaliparpricchasutra (P.Python dịch, Paris 1973) nhưng tự do phóng khoáng hơn rất nhiều. Người Phật tử cư sĩ thường không biết đến tăng và ni giới, nhưng có kinh nghiệm th́ mới thấy và hiểu được đóng góp của Thiền sư Nhất Hạnh (ví dụ, xem Đường Xưa Mây Trắng, Lá Bối 1988, hoặc Old Path White Clouds, Parallax Press 1991, chg.45) (10) Chuyện này thấy trong nhiều quyển tiểu sử của nhà Vật lư Niels Bohr (1985-1963). Tất cả đều chỉ chép như thế - so với chính truyện th́ thiếu một chi tiết quan trọng: Kisagotami hết khổ, xin quy y. Bohr dường như biết chuyện này từ thuở niên thiếu v́ nó được trích dịch trong các tác phẩm Phật giáo phổ thông đầu thế kỷ (xem Nguyễn Kết, Từ Trung Đạo đến Bổ sung, Giao Điểm số 12, 15/4/93, tr.78). Kể từ khi chứng kiến đứa con trai của ḿnh bị chết ch́m mà vô phương cứu giúp (1932), Bohr bắt đầu kể - dường như ngay trong đám tang con ḿnh - chuyện này cho đến già. Người nhà của Bohr và các nhà vật lư trẻ tuổi làm việc dưới quyền ông tuyệt không thể hiểu ư Bohr. Chẳng lẽ con người lạc quan yêu đời đó cũng tin thế giới là vô nghĩa trong bản chất, như Phật giáo? Theo lời một nhân chứng, Bohr chỉ nói “các hiền triết Ấn ư thức rơ là sự sử dụng từ “ư nghĩa” hàm chứa một so sánh. Chính câu nói thế giới vô ư nghĩa mới là vô ư nghĩa!” V́ Bohr cứ thế mà kể măi nên một người học tṛ của ông có vẻ phát bực, hỏi làm sao kẻ đau khổ có được sự an vui chỉ với một tṛ chơi chữ siêu h́nh như thế. Bohr nh́n xoáy vào mắt nhà vật lư trẻ này và nói “Chúng ta bị dính mắt vào ngôn ngữ đến độ mọi nỗ lực phát biểu trí tuệ điều là những tṛ chơi chữ. Kẻ chỉ thấy đó chỉ là một tṛ đùa tất nhiên không có được an ủi nào cả. Nhưng người thật sự đặt ḿnh vào và nhận ra những nét của điều kiện tồn tại của con người, th́ có !” Xem N. Blaedel, Harmori Og Enhed - Nies Bohr, En Biografi (Rhodos, Copenhagen 1985 ), tr.192. (11) Ví dụ, xem Dhammapda trong đoạn mở đầu , Samyutta Nikaya I (62), VI (15), XXXV (84) và Abhidhamma. (12) Có thể xem Joy Mane-Lewis, “Buddhist Psychology: a Paradigm for the Psychology of enlightenment”, trong G. Claxton (ed), Beyond Therapy: The Impact of Eastrn Religions on Psychological Theory and Practice (Wisdom Publication, London 1986), tr.123-138. (13) Có thể nghĩ đến tâm lư trị liệu để nói, các phương pháp tu tập tuy là những technology nhưng phải cứ bấm nút là có ngay kết quả mong muốn. (14) Có đóng góp khai phá trong việc nhận diện tâm lư học diệt khổ của Phật như một lư thuyết khoa học là các công tŕnh của nhà tâm lư Thụy Điển Rune Johansson, trước hết là The Dynamic Psychology of Early Buddhism (Curzon Press, London 1956). Kể từ đó đến nay ngày càng có nhiều công tŕnh xuất sắc hơn. Dễ đọc nhất và đồng thời giúp có một cái nh́n tổng quan, v́ sao tâm lư học của Phật có thể xem như một mẫu số chung cho các lư thuyết tâm lư học hiện đại có lẽ vẫn là tuyển tập G. Claxton (ed), Beyond Therapy. (15) Nghiên cứu khoa học về kinh nghiệm huyền niệm cho biệt, một số người do tập luyện mà xa lánh xă hội, có những biểu hiện rối loạn tâm lư và có người c̣n tự sát, trong khi những người khác th́ được lợi ích, dù tất cả có thể theo cùng một phương pháp. Trong giải thích Phật giáo, đó là hệ quả của có tuệ nhưng thiếu giới và/hoặc định. (16) Chẳng hạn Dharmasiri, A Buddhist Critique… chg 6, ph.2 (17) R.A.F Thurman, “The Buddist Messiahs: The Magnificent Deeds of the Bodhisattvas” trong D.S. Lopez, jr & S.C Rockefeller (ed), The Christ And The Bodhi Sattva (State University of New York Press, Albany 1987), tr.65-97. (18) Tenzin Gytsom, “Đạo giúp được ǵ cho Đời?” Pháp Luân số 3, Xuân Nhâm Thân 2/92, tr.6-11, Long Khánh dịch từ nguyên tác “What Can Religion Contribute to Mankind?”; Cho Yang: The Voice of Tibetan Religion and Culture, vol.1, No.2, 1987. (19) Theo bản tin trên Katolsk orientering nr 2, 25/1/95, về quyển sách BQNCHV và Giáo Hội Phật giáo Tích lan đ̣i hỏi rằng Giáo Hoàng Gioan Phaolô II phải xin lỗi, Linh mục Ḍng Tên (lại ḍng Tên!) Alois Pierris nhận xét rằng Giáo Hoàng đă đánh giá tương quan Kitô giáo Phật giáo theo một “khuôn khổ thần học yếu ớt” và do đó “có bổn phận bày tỏ thiện chí luân lư” và phải nghiêm chỉnh xét lại thái độ của Roma đối với “thần học Á Châu” (các hệ thống Phật giáo, Ấn giáo...) Theo các nhật báo, Linh mục Pieris nói rằng bao lâu Roma chưa nghiêm chỉnh xét lại thái độ của ḿnh đối với các hệ thống Á Châu, bấy giờ người Công giáo Á Châu vẫn chưa thể bước qua ngưỡng cửa hy vọng (có thể xem Quê Mẹ, số 131 & 132, giai phẩm Xuân Ất hợi 1995).
THƯ NGỎ GỬI GIÁO HOÀNG JOHN PAUL II Vũ Trọng Minh
Hoa Kỳ, ngày 15-3-1995 Kính gửi: Giáo Hoàng John Paul II Ṭa Thánh Vatican La Mă
Kính thưa Ngài, Người được hân hạnh viết thư này gởi đến Ngài là một Phật tử Việt Nam tỵ nạn tại Hoa Kỳ đă mười sáu năm; Sau khi đọc cuốn Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng của Ngài, do ông Hoàng Quư dịch ra Việt ngữ, thấy cần phải lên tiếng tŕnh bày với Ngài một vài điều ngộ nhận để góp ư kiến phê phán và sửa chữa. Trước hết v́ dịch giả là một trí thức Công giáo, tổng thư kư nguyệt san Hiệp Nhất, hẳn phải là một tín hữu thuần thành, do đó tôi tin rằng bản dịch này không có ǵ thiếu sót hoặc sai lầm trong việc chuyển ngữ, và phản ảnh trung thực những ư tưởng của Ngài nên tôi căn cứ vào đó mà viết thư này. Điều thứ hai là những vấn đề mà Ngài nêu ra cho các giáo hữu Kitô toàn thế giới, có ít hoặc không có liên hệ đến Phật tử chúng tôi th́ xin miễn bàn đến. Tôi chỉ nêu lên một vài điểm ở chương “Đức Phật Thích Ca” từ trang 104 đến trang 109 của bản dịch, nói về Phật giáo. Sau hết, tôi không phải là trí thức hay học giả, mà chỉ là một người thường dân trung b́nh, nên tôi không đi vào lư luận trừu tượng, tối tăm mà chỉ nói đến những sự việc có thực, nhiều người biết, đă và đang xảy ra tại nước tôi hoặc nơi khác, nhất là những việc tôi đă nh́n thấy bằng mắt, nghe thấy tận tai đối chiếu với lời nói thành văn của Ngài. “Trăm nghe không bằng một thấy” là câu tục ngữ quen thuộc của người Việt chúng tôi. Cũng như Ngài đă hiểu rơ Cộng sản bằng thực tế xảy ra ở quê hương Ba Lan của Ngài, tôi cũng hiểu đạo Chúa bằng thực tế xảy ra tại nước tôi. Vậy th́ trong cả hai trường hợp ấy, sách vở đâu có giá trị bằng cái biết trực tiếp, mà nhiều khi sách vở chỉ là văn chương phù phiếm, hoặc lư luận quanh co để che dấu những sự thật chẳng tốt đẹp ǵ.
Thưa Ngài, ở đầu chương này (trang 105 của bản dịch) Ngài viết rằng: Giáo lư của Phật giáo về ơn cứu độ tạo thành tâm điểm hoặc đúng hơn là một điểm duy nhất trong hệ thống này. Tuy nhiên, cả truyền thống Phật giáo lẫn những phương pháp khơi nguồn từ đó đưa ra một nền thần học cứu rỗi hầu như độc hữu tiêu cực. Nói ngắn gọn hơn nữa, Ngài khẳng định: “Giáo lư, truyền thống, phương pháp của Phật giáo đều là tiêu cực cho nên thần học cứu rỗi của Phật giáo đều là tiêu cực”. Nếu đó là ư kiến của Ngài th́ tôi xin nói ngay là Ngài đă sai lầm nghiêm trọng, nếu không muốn nói là Ngài cố t́nh xuyên tạc với hậu ư không lương thiện. Trước hết, ư niệm cứu rỗi hàm ư có một vị thần linh toàn năng, toàn triệt, cao cả nhất (tức là Thượng Đế hoặc Chúa) ban ân huệ cho các tín đồ bằng cách xóa bỏ các tội lỗi của họ, như ông quan ṭa tha tội cho các phạm nhân. Ư niệm ấy không có trong Phật giáo v́ đó chỉ là một ảo tưởng do con người bịa đặt ra để dọa dẫm và lừa dối nhau mà thôi. Cả mấy ngàn năm qua, chưa có ai thấy Thượng Đế mặt mũi ra sao, chưa có ai nh́n thấy Thiên Đường ở đâu. Người nhút nhát, sợ hăi nghe vậy vội vàng lễ lạy ngày đêm, dâng cúng phẩm vật tiền bạc, ruộng đất nhà cửa, làm giàu cho các tu sĩ và Giáo hội cho nên họ mới có tài sản đồ sộ hàng trăm, hàng ngàn tỷ, mà Ngài thừa biết, là tài sản của Ṭa Thánh Vatican. Phật giáo bác bỏ ư niệm ấy v́ nó không có thực, nó phi lư, nó làm ngu tối con người. Phật tử không bao giờ tin là có một ông hay bà Thượng Đế nào có quyền năng như vậy cả. Những hành động xấu xa, ác độc, của một cá nhân tạo ra, trở thành nghiệp quả xấu cho chính cá nhân đó. Muốn tháo gỡ nghiệp quả đó th́ chính bản thân người ấy phải nỗ lực để tự cải thiện, làm điều lành, tránh điều dữ, tu tỉnh lại và thay đổi lối sống, lối suy nghĩ, hướng về cái tốt, cái lành trong đời sống, yêu thương súc vật cho đến cây cối. Có như vậy mới mong giảm thiểu hoặc chuyển đổi được nghiệp quả đó chứ không có một ông thần, bà thánh nào can thiệp được cả. Không cần phải lễ lạy đêm ngày, không cần phải cúng tiền, hiến ruộng, hiến thân cho ông tu sĩ nào hết. Chỉ với đoạn văn trên của Ngài, tôi cũng biết là Ngài chưa bao giờ đọc một cách kỹ lưỡng về Phật giáo, hoặc nếu có th́ chỉ coi mấy bản tường tŕnh tóm tắt của các cận thần phụ tá. Tiện đây xin nói thêm rằng kinh điển Phật giáo rất nhiều, quá nhiều nữa - không có một tôn giáo nào trên thế giới này có nhiều kinh điển như Phật giáo, không phải vài ba chục cuốn như Công giáo, Tin Lành, Do Thái, Hồi Giáo... mà có hàng ngàn bộ kinh, đọc cả đời chưa chắc đă hết. Ngay cả mấy bộ kinh quan trọng như kinh A Hàm, kinh Lăng Già, kinh Hoa Nghiêm, kinh Thủ Lăng Nghiêm... có muốn đọc hết cũng phải hàng chục năm. Mà có đọc chăng nữa, cũng không chắc ǵ hiểu nổi, nếu chưa tuần tự tu hành (vừa tu tập vừa hành động) theo đúng phương pháp để đạt được một tŕnh độ tâm linh sung măn. Dù Ngài có muốn đọc đi nữa, th́ ở ngôi vị Giáo Hoàng, vừa làm chính trị toàn cầu, vừa quản trị một Giáo hội lớn như Vatican, làm sao Ngài có th́ giờ, trong khi biết bao vấn đề cấp bách cần phải giải quyết v́ Giáo hội đang trên đà xuống dốc như hiện nay.
Ngoài ra, những điều Ngài phê b́nh là tích cực hay tiêu cực, dù có định nghĩa trong tự điển, cũng chỉ là những khái niệm tương đối và trừu tượng. Ta không thể nh́n thấy, không thể nghe thấy, không thể đo lường được những khái niệm ấy, mà phải cụ thể hóa nó bằng sự việc rơ rệt. Hơn nữa, cùng là một khái niệm tiêu cực hay tích cực th́ mỗi người, mỗi tập thể có thể hiểu một cách khác nhau, tùy theo tŕnh độ hiểu biết, ước vọng và quyền lợi xa hoặc gần của tập thể ấy chi phối nhận định của họ.
Như Ngài đă biết, trong Thế chiến II (1939-1944) khi Hồng quân Liên Xô tràn vào nước Balan quê hương của Ngài, họ đă giết chết cả ngàn sĩ quan Balan và chôn xác họ ở rừng Katyn, th́ đối với chúng ta, đó là một tội ác man rợ, đáng ghê tởm, nhưng đối với những người cộng sản Liên Xô và Balan, th́ đó là một hành động tích cực, quyết liệt, để diệt trừ mầm phiến loạn c̣n trong trứng nước, để họ yên tâm xây dựng một xă hội Balan mới theo mô h́nh cộng sản mà họ chủ trương. Cũng hệt như vậy, ở nước tôi, vào những năm đầu của chế độ Đệ I Cộng Ḥa, khi ông Tổng Thống Công Giáo là Ngô Đ́nh Diệm cùng với mấy em là các ông Ngô Đ́nh Nhu và Ngô Đ́nh Cẩn (đều là Cố vấn chính trị của ông Diệm) chủ trương tiêu diệt những người Quốc gia chống Cộng hăng say, nhưng không cùng một tôn giáo với họ, như ông Nguyễn Bảo Toàn (Ḥa Hảo) và ông Hồ Hán Sơn (Cao Đài) bằng cách bắt cóc bí mật, trói chặt họ rồi đút vào bao bố, lấy dao nhọn và lưỡi lê đâm cho đến khi chết hẳn rồi buộc đá nhấn ch́m xuống sông Nhà Bè Saigon (ông Nguyễn Bảo Toàn) hoặc vứt xuống giếng khô rồi lấp lại (ông Hồ Hán Sơn). Nhân chứng hăy c̣n sống đây, sau hơn 30 năm mới dám viết sách ở Hoa Kỳ tố cáo những việc man rợ này. Các kẻ sát nhân này chắc hẳn nay cũng ở Hoa Kỳ, vẫn sống ung dung phè phỡn và ngày nào mà chẳng đến nhà thờ cầu nguyện Chúa cho lên Thiên Đàng. Đối với Phật tử chúng tôi th́ đó là một đại trọng tội, một hành động man rợ, nhưng đối với tập thể Công giáo tôn thờ anh em ông Diệm và Giáo hội Công giáo th́ chắc hẳn họ coi đó là một hành động tích cực, v́ Chúa, v́ Giáo hội để mở mang nước Chúa. Bằng chứng là hơn ba chục năm nay họ ngậm miệng, coi như không có việc ǵ xảy ra. C̣n Phật tử chúng tôi, sau khi chế độ Ngô Đ́nh Diệm sụp đổ, chúng tôi chưa hề truy lùng bọn sát nhân đó để bắt đền tội. Thái độ đó lại được coi là tiêu cực sao? Cũng vẫn chế độ Công giáo trị của Ngô Đ́nh Cẩn ở miền Trung Việt Nam, đă thủ tiêu và tàn sát cả chục ngàn người dân, gán cho họ là Cộng sản (theo bảng tổng kết của Ủy Ban Điều tra tội ác của chế độ Nhu Diệm, sau khi họ bị sụp đổ) th́ theo ư Ngài đó là hành động tích cực chăng? V́ Chúa, v́ Giáo hội mà giết người như vậy th́ Ṭa Thánh có cho rằng đó là công lao tích cực mở mang nước Chúa không? Nếu có, th́ Ṭa Thánh c̣n đợi ǵ mà chưa phong Thánh cho mấy anh em ông Diệm, Nhu, Thục, Cẩn? Nêu lên mấy sự kiện lịch sử cận đại của nước Việt Nam, tôi muốn nhấn mạnh rằng việc xác định thế nào là tích cực hay tiêu cực là một việc hoàn toàn có tính cách chủ quan, cho nên không thể nào hồ đồ, không nên dùng cách chơi chữ, mượn những từ ngữ mập mờ đánh lận con đen, lộn ṣng thiện và ác để che dấu những việc xấu xa, tàn ác, man rợ để trốn tránh trách nhiệm hoặc để tự tô vẽ cho ḿnh. Cách tốt hơn cả là phải đối chiếu lời nói với việc làm, mới t́m ra sự thật.
Điều thứ hai Ngài viết rằng đạo Phật “đ̣i hỏi sự đoạn tuyệt với những ràng buộc nối liền chúng ta với thế giới bên ngoài... để thành thản nhiên trước những ǵ thuộc về thế giới đó” và “không đề cập đến Thượng Đế hay Trời Đất (vô thần).” ở trang 105 của bản dịch. Đọc đoạn này tôi thật sự ngạc nhiên thấy Ngài khẳng định những điều về Phật giáo mà chẳng hiểu ǵ về giáo lư đạo Phật cả. Tôi sẽ không dài ḍng, mà chỉ xin vắn tắt như sau: Nếu chủ trương của Đức Phật chỉ là đoạn tuyệt với thế giới bên ngoài, th́ sau khi thành đạo, tại sao Đức Phật không ngồi yên ổn ở một đạo tràng hoặc một khu rừng nào đó, an nhàn thư thả, chứ tại sao lại phải dầm mưa đội nắng, du phương khất thực, truyền đạo suốt 49 năm trên gần khắp miền Bắc nước Ấn Độ thời đó, từ làng này qua làng khác, dạy dỗ từng người, từ các quốc vương tới người hành khất, cả người hạ tiện gánh phân giữa đường, có khi bị kẻ mưu hại, bị kẻ công kích đả phá và âm mưu ám sát nữa? Rồi Ngài Bồ Đề Đạt Ma, vị Tổ thứ nhất của Thiền tông ở Viễn Đông, tại sao lại lặn lội từ Ấn Độ qua Trung Hoa thời Lương Vũ Đế? Tại sao 13 thế kỷ trước đây, pháp sư Huyền Trang, một ḿnh mà dám liều mạng lặn lội từ thành Trường An (tây Trung Hoa) đi bộ suốt hai ba năm trời, vượt qua mười vạn dặm đường, để đi thỉnh kinh ở Ấn Độ, rồi lại trở về cặm cụi dịch kinh, dạy dỗ tín đồ? Nói như Ngài “cắt đứt mọi ràng buộc với thế giới bên ngoài” th́ hai vị nói trên họ có khùng hay không mà làm những việc nguy hiểm đến tính mạng như thế?
Ngài nói rằng Phật giáo không đề cập đến Thượng Đế (Trời và Đất) là vô thần. Tôi yêu cầu Ngài, v́ sự thật, v́ sự lương thiện của một vị chủ chiên một tôn giáo lớn mà hỏi ngay các nhà trí thức, học giả người Âu Châu và Mỹ Châu, hiện nay có cả ngàn người, hỏi họ coi tại sao họ lại bỏ đạo Công giáo của ông cha họ đă hai ngàn năm rồi mà đi theo Phật giáo vô thần. Phật giáo không phải vô thần (như Ngài đă nói về Cộng Sản, mà bây giờ lại dùng cho Phật giáo với dụng tâm đó), Phật giáo chỉ không tin có cái gọi là Thượng Đế mà đạo Giatô (Công giáo) đă bày đặt ra và trang trí cả hai ngàn năm nay để làm giàu cho Giáo hội, cho các tu sĩ cao cấp. Lịch sử Giáo hội Công giáo c̣n là lịch sử của tiền bạc thừa mứa, ăn chơi trác táng của các Giáo Hoàng, Giáo Chủ, của những âm mưu đen tối tranh giành, cướp phá, giết hại lẫn nhau. Chúng tôi đă đọc nhiều rồi. Các tài liệu, văn bản đều do người Giatô viết ra, chứ không có một “tên ngoại đạo” nào biết được mà viết cả. Ngài muốn biết tôi nói đúng sự thật hay không, xin đọc cuốn Vicars of Christ - the Dark Side of the Papacy (tạm dịch: Triều Đại Dâm Loạn của các Giáo Hoàng) do nhà Crown Publishers Inc xuất bản năm 1988, các thư viện lớn đều có. Tác giả là Tiến sĩ Peter de Rosa, Tổng Giám Mục giáo sư thần học của chủng viện Westminster và là giáo sư Niên trưởng của môn Thần học tại Corpus Christi College ở Luân Đôn, tức là một đại trí thức Thiên Chúa giáo và là thầy dạy cao cấp của các Linh mục, giám mục. Đọc xong, các độc giả trí thức Công giáo sẽ thấy rơ sự thật về Giáo hội tốt đẹp hay xấu xa như thế nào, khỏi cần bàn căi nữa.
Đọc hết 6 trang trong chương nói về Đạo Phật Thích Ca (của bản dịch), sau khi đả phá Phật giáo (lẽ dĩ nhiên) Ngài đề cao Công giáo bằng những từ nghe rất kêu: suy niệm thần bí, ngọn lửa nồng nhiệt của T́nh yêu, nhận thức về sự dữ, mặc khải của Chúa Hằng sống, công đoàn của đức tin, đức cậy và đức mến, giải phóng toàn triệt, bẻ găy uy quyền của Thần Dữ, duy tŕ chủ nghĩa hoàn thiện trần gian, v.v... Tôi dám đánh cuộc rằng số tín đồ Công giáo ở một số vùng quê nước tôi như Hố Nai, Gia Kiệm, Phát Diệm, Bùi Chu, dù có đọc th́ cũng chẳng hiểu ǵ. Nhưng đă là lời Đức Thánh Cha th́ đương nhiên họ khâm phục và nhắm mắt mà tin. Tôi xin t́nh nguyện giúp họ thấy một phần của sự thật bằng những kinh nghiệm bản thân tôi đă trải qua từ lúc c̣n nhỏ cho đến ngày nay, với tư cách là một nhân chứng quan sát sự việc có thực xảy ra để đối chiếu với mớ danh từ mơ hồ, ai hiểu sao cũng được, mà Ngài đă dùng. Sự đối chiếu này chỉ để chứng minh một quy luật “kinh tế”: cứ nh́n phẩm chất của một sản phẩm th́ biết giá trị của “hệ thống” sản xuất ra nó.
Năm 1930, hai anh em tôi mới 9, 10 tuổi, theo người chị sang làng Kẻ Sặt (huyện B́nh Giang, tỉnh Hải Dương) chỉ cách làng tôi gần 3 cây số để coi rước lễ. Ở thôn quê nghèo, đâu có ǵ giải trí như ở thành phố, nên đâu có đám ma, đám rước là cũng đi coi. Kẻ Sặt là một làng Công giáo rất đông dân, có chợ Sặt lớn nhất vùng đó. Trên bến dưới thuyền, có phố chợ, nhiều Hoa kiều ở từ lâu đời. Lúc đó là mùa hạ (chắc là lễ Phục sinh) chúng tôi ghé một nhà Hoa Kiều quen biết, lên lầu coi cho đỡ chen chúc. Đám rước đi qua lúc trời đă tối, tôi đang măi coi hai hàng mấy trăm bà sơ, mặc toàn đồ trắng rất đẹp mắt, cầm mỗi người một cây nến, vừa đi vừa cầu kinh. Rồi đến một ông cha Tây, mũi lỏ da trắng hồng, cũng mặc toàn đồ trắng. Ông cha to béo, bệ vệ, râu rậm và dài chấm ngực, bốn người lớn đi bốn góc nâng cái phương du (mùng) lụa trắng, có nóc và bốn mặt riềm thêu hoa trắng. Lại có cả chục đứa bé, cở tuổi tôi, vừa nhảy múa vừa hát, vừa đập phách chung quanh ông Cha Tây. Tiếng trống tây, kèn tây vang dội khắp phố. Đang măi coi th́ có tiếng trẻ con la hét và khóc ở hai bên phố, phía sau - th́ ra kiệu Chúa sắp đến, những thanh niên trong ban trật tự điều hành đám rước (không phải là lính hay cảnh sát, ở các huyện nhỏ này làm ǵ có cảnh sát) họ dùng roi đánh những đứa trẻ con (ngoại đạo) đứng coi hai bên đường, bắt chúng phải quỳ xuống đón kiệu Chúa. Đứa nào không quỳ, bị đ̣n, phải quỳ xuống hết, c̣n những đứa đứng phía sau không chịu quỳ, chạy vào các nhà bên đường. Những người cũng đứng trên lầu nh́n xuống như chúng tôi th́ họ dùng sào tre dài thọc vào cửa sổ, bắt phải xuống đường không được nh́n từ trên cao xuống kiệu Chúa. Chị tôi vội vàng kéo chúng tôi lùi vào phía trong cho họ khỏi thấy. Từ đó chúng tôi không bao giờ đi coi rước Chúa nữa, nhưng h́nh ảnh này không bao giờ quên được. Đó là lần đầu tiên tôi được biết đến đạo Chúa.
Lần thứ Hai, cách đó hai năm, tôi học ở trường tiểu học huyện B́nh Giang, tỉnh Hải Dương, gần dinh Tri huyện và cũng ở sau lưng Phố Sặt, trọ ở nhà người quen trong phố. Gặp ngày nghỉ, tôi đi bộ về làng. Ra khỏi làng Sặt, tôi gặp một cố đạo Tây khác - ông đang ngồi trên một chiếc xe caosu (như xe xích lô nhưng không có người đạp mà kéo bằng hai càng dài phía trước) chắc ông đi hóng mát v́ xe đi chậm. Có một đứa con trai chắc hơn tôi mấy tuổi v́ tôi chỉ đứng bằng vai nó, đang đứng gần đó. Gặp xe ông cố đạo đi tới, nó giơ hai tay chắp vào nhau lên cao quá đỉnh đầu, vái xuống sát đất, vừa vái lạy vừa nói: "Muôn lạy Cha ạ". Điều tôi lấy làm lạ là cách nó vái chào. Chúng tôi chào ông bà, cha mẹ, thầy giáo hay người già cả th́ chỉ chắp tay cúi đầu một chút là đủ. Sao thằng bé này (dân đạo Chúa) nó lại lạy từ trên trời xuống tận đất như vậy. Bốn chục năm sau tôi mới hiểu được rằng do các cha cố thực dân dạy dỗ, chúng chỉ tôn thờ Chúa (thực dân), ngoài ra không c̣n tuân lệnh ai hết.
Lần thứ Ba tôi gặp đạo Chúa, cũng lại ở làng Kẻ Sặt. Hôm đó được nghỉ, tôi đi bộ về làng. Đường từ phố Sặt về làng tôi phải đi qua trước cửa nhà thờ. Chẳng biết v́ sao mà người làng kéo đến rất đông ở sân nhà thờ, ồn ào, lại có tiếng khóc nữa. Ṭ ṃ, tôi đi đến cổng, dưới lầu chuông nh́n vào. Thấy giữa đám đông là một khoảng trống như sân khấu, người ta dựng cây thập ác trên có h́nh nộm Chúa bị đóng đinh, giống y như người thật, có cả máu me nữa. Dưới chân thập ác là 5, 6 chục các bà đang khóc. Có mấy bà tóc bạc phơ, c̣n phần đông ở lớp tuổi mẹ tôi chừng trên dưới 40 tuổi. Khi mấy bà khóc to, tiếng khóc thật thiểu năo, nức nở nghe thương tâm vô cùng. Từ lúc c̣n nhỏ, tôi đă được coi mấy đám ma ở làng, con cái khóc bố chết hay mẹ chết, lúc quan tàn hạ huyệt, không c̣n bao giờ thấy bố mẹ nữa, cố nhiên là khóc. Nhưng không có đám ma nào có thể khóc với ḷng thương xót, tiếc nuối, đau khổ đến cùng cực như các bà đi đạo này. Tôi không hiểu được tại sao theo “đạo” lại khóc một ông Tây hơn cả người ta khóc cha mẹ sinh thành, nuôi dưỡng ḿnh từ khi trứng nước. Rồi cũng phải mấy chục năm sau nữa, tôi mới hiểu được rằng: các cha cố Tây uốn nắn tín đồ đạo Chúa thành những kẻ cuồng tín, không biết cái ǵ hơn là Chúa và Giáo hội, từ đó đến chỗ phản lại Tổ quốc của họ theo thực dân (nước Chúa) chỉ c̣n gang tay.
Lần thứ Tư là năm 1935 - 1936, tôi học lớp nh́ năm thứ nhất (cours moyen première année) tại trường tiểu học tỉnh lỵ Hưng Yên, trọ học tại phố Hiến cổ, cuối làng Mậu Dương. Ngày rước thần làng năm đó tôi đi theo coi. Đám rước đi từ đ́nh làng, sát với phố Hiến, lên đền Thiên Hậu, nằm trên bờ Hồ Bán Nguyệt, nh́n sang tư dinh của quan Công sứ (Tây) bên kia hồ. Đám rước đi dọc theo bờ hồ, từ dinh Bố Chánh, đến Vọng Cung (nơi vua sẽ ở khi ra kinh lư) rồi tới dinh Tuần phủ (tỉnh trưởng người Việt). Vừa tới Vọng Cung th́ chiêng trống, thanh la, đàn sáo im bặt, đám rước thành ra đám người đi chợ, không ai nói một lời nào. Chẳng hiểu v́ sao, tôi chạy lại hỏi mấy người khiêng trống lớn sao không đánh trống thổi kèn nữa. Người ấy chỉ tay về phía dinh Tuần phủ, bảo: “Quan Tuần cho lính ra cấm không cho đánh trống thổi kèn đi qua cửa dinh”. Thế là từ đó về đến Đền Thiên Hậu (chỉ c̣n độ bốn, năm trăm mét nữa), cả đám rước hơn bốn trăm người lửng thửng đi như một đàn chó bị cắt đuôi, chẳng ai nói lời nào, im lặng, nhẫn nhục chịu đựng… Ông Tuần phủ ấy là một người theo đạo Chúa, tên là Nguyễn Văn Thư mới đổi về ít lâu. Hai năm sau, ông Lê Đ́nh Trân đổi về thay, tôi có học cùng với hai người con của ông là Lê Hồng Giang và Lê Duy Kỳ ở lớp nhất (cours supérieur) niên học 1937 - 1938 mà sau này khi kết bạn với nhạc sĩ Phạm Duy, khi nhạc sĩ làm con nuôi ông bà Lê Đ́nh Trân (coi hồi kư Phạm Duy).
Lần thứ Năm, tôi ở Sư đoàn Bộ Binh 23 mới thành lập cuối năm 1958 đóng ở Dục Mỹ, phía bắc Nha Trang trên con đường từ quận Ninh Ḥa (quốc lộ 1) lên Ban Mê Thuột. Lúc tôi đến, Sư đoàn c̣n đang xây dựng doanh trại, tiếp sau đó là dựng nhà thờ và trại gia binh nhưng không làm một cái chùa nào cả. Ngân khoản do Quân nhu cấp bao nhiêu không ai biết, nhưng binh sĩ phải lên rừng cưa cây, xẻ gỗ làm kèo cột, lấy lá lợp mái và tre nứa làm vách. Mỗi ngày đại đội tôi phải cử một tiểu đội (từ 10 đến 12 người) ra làm nhà thờ. Tính ra hơn cả trăm người mỗi ngày làm không công cho đạo Chúa. Quân số Sư đoàn lúc đó có khoảng 7.000 người mà cả sĩ quan và binh sĩ theo đạo Chúa chưa đầy 250 người với 2 cha tuyên úy, c̣n lại toàn là Phật giáo, Cao Đài, Ḥa Hảo và đạo Ông Bà, nghĩa là Công giáo chỉ có một nhóm nhỏ xíu, nhưng nắm tất cả quyền hành. Tư lệnh Sư đoàn là Trung tá Trần Thanh Phong (bà con với Tướng Trần Văn Đôn) sau lên Thiếu Tướng rồi tử nạn máy bay. Trong vụ làm nhà thờ và trại gia binh này không hiểu quư vị Trung đoàn trưởng và các Cha tuyên úy kiếm được bao nhiêu, chỉ biết các binh sĩ có gia đ́nh phải kư nhận đă lănh mỗi người 2000đ (lúc đó mỗi lượng vàng giá 3000đ) để hưởng căn nhà mà chính tay họ đổ nền, lên rừng lấy cây, lấy lá dựng nhà, lợp mái, nghĩa là do họ làm ra, nay phải nhận đă lănh 2000đ để làm nhà mà thật sự chẳng được đồng nào. Có đến ba bốn chục binh sĩ không kư, dọa dẫm họ cũng không kư. Sau các quan lớn phải bắt nhân viên pḥng kế toán mạo chữ kư của họ nạp hồ sơ lên Quân Nhu mà không dám làm ǵ mấy chú lính bướng bỉnh này, e vỡ lỡ câu chuyện. Mấy kẻ bẩn thỉu trong chuyện này toàn là Công giáo. Ông Thiếu tá Trung đoàn 1 (tên Vơ VC) và Trung đoàn 2 (Nguyễn V Tr.) đều là người Công giáo, riêng ông Nguyễn V Tr. c̣n là Bí thư Đảng bộ Cần lao của Sư đoàn, nên ông Tư lệnh Sư đoàn cũng phải kiêng nể. Mà cái ông Tr. này chỉ là Trung Úy, được lên Đại úy tạm thời, và khi thành lập sư đoàn th́ đeo lon Thiếu tá giả định (fictif). Đem sĩ quan loại đó, bẩn thỉu như thế mà đ̣i đánh Cộng sản, hèn chi chẳng chạy như đàn vịt.
Lần thứ Sáu, muốn biết người Công giáo nghĩ ǵ về Quốc gia, dân tộc, xin Ngài và độc giả nghe câu chuyện này: Đầu năm 1960, tháng 2 tức là Tết Việt Nam, Cộng sản đánh úp đồn Trảng Sụp ở Tây Ninh, đoạt toàn bộ vũ khí giữa đêm 30 tết mà chúng không thiệt một người nào. Sau khi binh sĩ nhảy dù càn quét quanh Tây Ninh chỉ lấy lại được một số rất nhỏ súng đạn Cộng sản bỏ lại khi di chuyển trong rừng, Trung đoàn tôi được lệnh lên Tây Ninh càn quét tiếp. Suốt từ cuối tháng 2/1960 đến tháng 5 năm đó, Trung đoàn ra thông báo gởi xuống cho các đơn vị. Thông báo dài choán hết trang đánh máy nghe vui tai lắm, nhưng kết quả thu được sau 3 tháng hành quân với một Trung đoàn đầy đủ quân số, chỉ có 2 khẩu súng lục và 30 bao lúa mà Cộng sản bỏ lại ở một trạm trong rừng - cho đến hôm đó là ngày lănh lương cuối tháng, có xe Trung đoàn đến phát lương - chúng tôi đóng trên một ngọn đồi thấp, sát đường lộ Tây Ninh đi Kà Tum, ở một nơi gọi là Giếng Thí, cách Tây Ninh chừng 15 hoặc 18 cây (không c̣n nhớ rơ) có tất cả 4 anh em hạ sĩ quan cùng ngồi với ông Đại đội trưởng. Tất cả đều băn khoăn về tương lai cuộc chiến, nếu cứ ấm ớ thế này măi, nếu Việt cộng nó thắng th́ ḿnh chạy đi đâu, c̣n chỗ nào nữa. Dù có nước nào giúp, th́ chẳng lẽ bỏ đất đai, Tổ quốc lại mà chạy sao? Đang nói th́ có một ông Trung sĩ ở Trung đoàn theo xe lương xuống, tên là Thức (hoặc Chức v́ tôi không quen) ghé vào tham gia câu chuyện. Ông này làm y tá và cũng là một người Công giáo quan trọng trong đảng Cần lao của Sư đoàn, là tai mắt của ông Trung đoàn trưởng nữa. Ông Thức này phát biểu một câu đáng ghi nhớ để đời. Xin Ngài và quư độc giả cho phép tôi nhắc lại nguyên văn như sau: “Xin lỗi Trung úy (Đại đội trưởng) và quư ông, người Công giáo chúng tôi đéo cần Tổ Quốc!” Bốn anh em chúng tôi ngơ ngác nh́n nhau, không nói ǵ. Cả ông Đại đội trưởng của chúng tôi cũng không dám nói, lẳng lặng đưa mắt nh́n chúng tôi có ư bảo nên giữ miệng. Rồi ông chăm chú nh́n ông Thức như có ư thắc mắc muốn nghe thêm. Thấy mọi người im lặng, ông Thức nói tiếp như giải thích: “Tổ quốc là cái ǵ? Tổ quốc chỉ là một mảnh đất do Chúa sinh ra. Tất cả đất đai, sông núi, cây cỏ này, cả vũ trụ này đều là Chúa sinh ra. Nếu mất mảnh đất này Chúa lại sinh ra chỗ khác cho mà ở, cần ǵ”. Đến đây th́ bọn chúng tôi lấy cớ ra xe lănh lương, đứng dậy, không muốn nán lại, nếu chẳng may ngứa miệng tranh luận với ông ta th́ nguy hiểm. Thời đó, quyền uy của Công giáo và gia đ́nh Tổng Thống Diệm ghê gớm lắm, nếu kẻ nào dại dột nói cái ǵ bị nghi là có ư chống Công giáo th́ tàn đời ngay, dại ǵ mà vuốt râu hùm. Hôm đó là ngày 30 tháng 8 năm 1959. tôi nhớ được là v́ ngày lănh lương và đúng một tháng sau đó, tôi thuyên chuyển đi đơn vị khác. Từ ngày nghe câu nói bất hủ đó đến hôm nay tôi viết thư này, vừa đúng 35 năm 6 tháng và 15 ngày tôi c̣n nhớ như in. Tôi rất cám ơn ông Thức về chuyện này. Nhờ ông nói ra tôi mới hiểu tâm địa thầm kín của người Công giáo Việt Nam. Điều đó giải thích được bao nhiêu là thắc mắc của tôi mà không t́m ra nguyên nhân. Tại sao Công giáo lại theo Tây cướp nước ḿnh, tại sao họ lại làm tay sai cho Tây suốt đời Pháp thuộc, tại sao họ lại giết các nhà ái quốc mà không phải là Cộng sản, và tại sao đàn bà, con gái của họ ngủ chung với các cha Tây đẻ ra cả lô con lai, mà họ vẫn không hề ngượng ngùng, lại c̣n hănh diện nữa. Con của các cha Tây th́ cũng do ư muốn của Chúa chứ sao. Các Cha đă dạy rằng: một sợi tóc rụng, một giọt mồ hôi chảy ra cũng là do ư Chúa mà!
Lần Thứ Bảy, để hiểu về tinh thần đoàn kết của Công giáo ở Mỹ này, các cha cố đang ra sức mở chiến dịch đoàn kết tôn giáo để chống Cộng. Có mấy nhà sư không hiểu chính trị là ǵ và chưa bao giờ hiểu tâm địa thật sự của người Công giáo, nhất là các cha cố của họ, c̣n phần đông uất ức v́ Cộng sản tàn ác đă gây ra mối thù bất cộng đái thiên, nên họ thành công được bề mặt, lập được một vài tổ chức tượng trưng gọi là có, nhưng thực lực chẳng có ǵ. Đa số vẫn đứng ngoài, v́ đă có kinh nghiệm với Công giáo thế nào rồi. Muốn biết tâm địa thực sự của Giatô (tức Công giáo) đối với các tôn giáo Đông Phương, nhất là Phật giáo họ khinh bỉ ra sao, xin vui ḷng nghe câu chuyện này: Năm 1934, một ngày đẹp trời, một vị cố đạo Tây mũi lơ tóc quăn đi dạo buổi sáng. Gặp một ngôi chùa ở vùng Hậu Giang (Nam phần Việt Nam), ông sồng sộc đi thẳng vào chánh điện chùa. Lúc đó chỉ có một ông thầy 60 tuổi và một chú sa di (chú tiểu) hơn 10 tuổi. Trong chùa có pho tượng Phật lớn nhất th́ ông ta biết rồi, c̣n hai tượng bồ tát ở hai bên có lẽ ông chưa thấy bao giờ. Chẳng cần chào hỏi ai cả, ông cầm ba toong chỉ vào một pho tượng hỏi trống không: - Thằng này tên ǵ? Chú tiểu vừa tức, vừa sợ không dám lên tiếng, nhưng vị sư già thản nhiên đáp: - Tên nó là Văn Thù (Bồ Tát Văn Thù tượng trưng cho Trí huệ siêu việt) Ông cố đạo Tây lại chỉ sang pho tượng bên kia: - C̣n thằng này tên ǵ? Vị sư già cũng vẫn điềm đạm trả lời: - Tên nó là Phổ Hiền (Bồ Tát Phổ Hiền tượng trưng cho Từ Bi) Đến đây ông có đạo Tây sắp sửa ra về th́ vị sư già nói tiếp ngay: - Ấy, chúng nó có ba anh em tất cả, nhưng một thằng bỏ chạy đi đâu mất nên chỉ c̣n hai đứa này thôi. Ông Tây cố dạo quay lại hỏi: - Thằng chạy đi ấy tên ǵ? Vị sư già đáp liền: - Tên nó là Giêsu. Vị sư già ấy chết đă lâu, nhưng chú tiểu hồi đó c̣n sống, nay là một nhà sư bảy mươi tuổi. Tôi không nói tên ngôi chùa và địa điểm v́ tôi muốn tránh cho vị sư có thể gặp phiền nhiễu do câu chuyện tôi được nghe. Nếu Đức Thánh Cha muốn biết tường tận xin cho tôi biết tôi sẽ ghi pháp danh và địa chỉ của vị sư này (đă sang Mỹ từ hơn mười năm nay và hiện cũng ở California).
Lần thứ Tám, cũng trong chương này, Ngài viết rằng “những vị Tiến sĩ Hội thánh này không chủ trương tách rời khỏi thế giới...” (trang 106 của bản dịch). Câu ấy đúng quá, tôi thiết nghĩ Ngài khỏi cần nhắc, các vị chức sắc Hội Thánh, các vị cha xứ ở nước tôi đă làm từ lâu rồi. Chắc chắn các vị ấy không bao giờ mơ tưởng Niết Bàn hay Thiên Đường đâu mà cứ khư khư ôm chặt lấy thế giới này đấy. Mà thế giới là ǵ? Là đất đai, vườn ruộng, nhà cửa và con người, đàn ông và đàn bà con gái, nhất là tài sản của Giáo hội đă nắm trong tay. Tôi xin đưa ra một thí dụ rơ rệt xảy ra gần nơi tôi ở và nhiều người được nghe, được thấy: Năm 1968 tại Saigon, quân đội Cộng sản tổng công kích (đợt hai) vào khoảng tháng 5/68. Lúc đó tôi đang ở Đồng Ông Cộ, thuộc Gia Định, gần Ngă Năm B́nh Ḥa và đang làm thuê cho hăng Denis Frères ở đường Tự Do Saigon. Từ gần sáng đă nghe tiếng súng từ Cầu Sơn. Đến khi sáng rơ, thấy t́nh h́nh nguy quá vợ chồng tôi dẫn bảy đứa con chạy khỏi nhà, lếch thếch d́u dắt mấy đứa nhỏ, theo đoàn người đông đảo chạy loạn, xe cộ, đồ đạc vứt đầy đường, tính xuống Bàn Cờ ở nhờ nhà quen. Xuống tới chợ Bà Chiểu (Gia Định), chúng tôi định đi xuống Cầu Sắt vào Sài G̣n, th́ gặp ở phía tay trái ngay bên đường lộ một ngôi nhà thờ lớn và ngọn tháp chuông rất cao (tôi quên tên nhà thờ đó rồi) nhưng nó chỉ cách chợ Bà Chiểu chừng 400 mét là nhiều ngay sát đường lộ. Nh́n những chân tường nhà thờ dầy có lẽ tới vài ba mét, tôi nghĩ nếu có đạn lớn nhỏ bắn từ đâu tới th́ cứ núp quanh đây cũng chẳng hề hấn ǵ. C̣n Cộng sản có bắn súng cối th́ tường dày cũng chẳng đổ được. Thế là chúng tôi theo người ta kéo vào sân nhà thờ mỗi lúc một đông. Ba mặt nhà thờ lại mới xây trường học ba tầng bao quanh, h́nh chữ U, như vậy yên tâm chờ ở đây, nếu yên th́ trở về nhà cũng gần, c̣n nguy lại chạy tiếp lên Sài G̣n cũng hợp. Người ta theo nhau vào sân nhà thờ mỗi lúc một đông, cho đến tối th́ sân đầy người, đàn bà con gái già trẻ lớn bé chẳng biết nằm đâu, ngủ đâu. Có hai người đàn bà bụng to có lẽ gần đến ngày sanh, phải nằm trên đất v́ cửa nhà thờ đóng kín, các lớp học dưới đất và trên lầu đều khóa chặt, mà chẳng có ai để hỏi han hoặc xin ngụm nước uống. Lần ṃ vào bên hông nhà thờ thấy một khoang trống không có cửa, nền xi măng, có lẽ là nơi để xe đạp của học sinh, nên hơn trăm người chen chúc trong đó có gia đ́nh tôi, giải áo và mền nằm tạm qua đêm. Trời tối hẳn th́ bóng đèn điện duy nhất trên trần nhà sáng lên, mọi người đang sửa soạn cho con cái ngủ, th́ một vị linh mục (áo chùng đen, cổ áo khoanh trắng bên trong) bước vào cùng với một người chắc là phụ tá. Ông nói ǵ không nghe rơ, v́ ồn ào quá. Măi sau, ông vỗ tay la lớn: “Im lặng nghe đây, im lặng nghe đây” th́ tiếng ồn mới hạ xuống dần dần. Ai nấy đoán rằng ông là cha xứ ở nhà thờ hoặc là hiệu trưởng của ngôi trường này với gần 5, 6 chục lớp học, chắc ông sẽ lên tiếng an ủi đồng bào gặp nạn phải bỏ nhà cửa chạy lấy thân, hoặc sẽ nói về sự cần giúp của Giáo Hội, và kỷ luật, trật tự cần phải có trong lúc này. Nhưng không, ông chỉ nói thế này: “Im lặng, tôi nói cho mà nghe, ai có cái ǵ th́ giữ lấy mà ăn, ở đây chúng tôi không có ǵ cả”. Thấy mọi người chỉ nh́n mà không ai nói ǵ cả, ông nói thêm cho rơ: “Tôi nhắc lại, ai có ǵ th́ giữ lấy mà ăn, ở đây chúng tôi không có ǵ cả”, nói xong ông đi ra luôn. Lũ người tị nạn nh́n nhau không ai nói lời nào. Đáng chú ư là ông Cha này không gọi chúng tôi là anh em, không gọi là đồng bào mà cũng không gọi là bà con cô bác ǵ hết, ông chỉ nói trống không. Tôi đoán là ông thấy đám người chạy loạn này là bọn Phật giáo đáng khinh bỉ (v́ tôi không thấy ai chào ông “Lạy Cha” hay “Muôn lạy Cha ạ” như người Công giáo thường nói khi gặp các vị chăn chiên). May sao đêm ấy không có đánh nhau lớn nên ngủ được. Đến khi trời sáng rơ hẳn, mọi người sửa soạn ra đi. Gia đ́nh tôi ra đến ngoài sân nhà thờ th́ đă thấy bốn chiếc xe vận tải GMC của quân đội chỡ phẩm vật cứu trợ của Sở Xă Hội Đô Thành đem xuống phát cho dân di tản như chúng tôi. Chắc chắn 100% là các cha đă gọi điện thoại lên Sở Xă Hội từ ngày hôm trước, v́ khi xe vừa tới th́ đă có sẵn hơn chục người của nhà thờ ra xe khuân đồ vào như: mùng, mền, chiếu, gạo, bánh ḿ, nồi niêu, chén bát, v.v... c̣n cả ngày hôm trước chẳng thấy bóng dáng một ai. Những người bỏ đi sớm v́ hôm qua cha đă nói là “ai có ǵ giữ lấy mà ăn, ở đây chúng tôi không có ǵ cả” th́ c̣n nán lại làm ǵ. C̣n lại lúc đó không quá ba chục người, mà cũng chẳng có ai ở lại lấy cái ǵ cả. Có một người khoảng 36, 37 tuổi, người miền Nam đứng trên đống đá, nói thật to: “A ha! hôm nay nhà thờ trúng mối!” Cả bọn chúng tôi đều cười ồ rồi kéo nhau ra đi, chẳng ai thèm lấy cái ǵ hết. Nhà thờ trúng mối lớn quá thật - chẳng phải tốn phí xu nào, chẳng tốn một ngụm nước máy cho ai uống mà được 4 xe vận tải phẩm vật th́ c̣n ǵ phát tài bằng. Kính thưa Đức Thánh Cha, Trên đây là một việc làm tiêu biểu cho tinh thần bác ái, giúp đỡ người nghèo, người bị nguy khốn của đạo Chúa của Ngài, của các cha cố và cả tập thể Công giáo Việt Nam của Ngài đấy.
Câu chuyện thứ Chín, là tinh thần tích cực làm tiền của các cha cố ngay tại Sài G̣n mà cả nước ai cũng biết. Khi thực dân Pháp chiếm xong Nam Kỳ (miền Nam nước Việt) th́ họ cho một công ty Pháp mở một đồn điền trồng cao su, chạy dài 14 cây số từ cổng trường bay Tân Sơn Nhất xuống đến Chợ Lớn. Năm 1954, Pháp bị Cộng sản đánh bại, phải rút khỏi Việt Nam, họ liền bí mật bán cho nhà Chung, không ai biết bao nhiêu nhưng chắc chắn là rẻ mạt v́ Hiệp định Genève đang tiến hành trước sau cũng mất. Đất bán cho nhà Chung cứ để y nguyên nên ai cũng tưởng là đất của chánh phủ lấy lại của Tây. Đến năm 1970, nhà Chung Công giáo chia lô làm nhà ra bán cho người ta mua làm nhà v́ dân số đô thành lúc đó tăng gấp năm lần, nhà bán chạy như tôm tươi. Mỗi lô bán trung b́nh hai trăm năm mươi ngàn đồng lúc đó. Số tiền bán nhà đất thu về sơ sơ cả mấy trăm triệu không biết có gởi về nhà băng Ṭa Thánh hoặc các ngân hàng không? Chỉ biết một phần số tiền đó các ngài mở ngân hàng Đại Nam, trước ngày Cộng sản thống nhất toàn bộ đất nước có lẽ các Ngài biết rơ t́nh h́nh sắp sụp đến nơi nên thu vốn lại, không rơ đem đi đâu v́ ngân hàng Đại Nam không kèn không trống biến mất tiêu trước ngày 30/4/1975. Thế là đất nước Việt Nam bị kẻ cướp thực dân lấy khai thác chán chê rồi bán cho bạn chí thiết của kẻ cướp là Giáo hội Công giáo. Chưa ai thấy ơn cứu rỗi của Chúa và Giáo hội Công Giáo đâu cả, chỉ thấy tài sản đất đai nước tôi chuyển từ tay bọn ăn cướp ngày là thực dân sang tay bọn cướp đêm là công ty bán vé cứu rỗi của quư Ngài. Cũng chuyện đất đai, năm 1925 một nhóm Cách mạng Việt Nam ở Pháp, trong đó có mấy người nổi tiếng như các ông Nguyễn Thế Truyền và ông Nguyễn Ái Quốc (tức Hồ Chí Minh sau này) viết nhiều sách báo tố cáo những tội ác của thực dân Pháp. Tôi được đọc ngay tại Sài G̣n một cuốn của ông Nguyễn Ái Quốc (Le Procès De La Colonisation Francaise), vào tháng 2 năm 1955 tại một pḥng thông tin của Pháp (lúc đó chưa rút hết) khi lần đầu tiên tôi đến thành phố này. Pḥng thông tin đó nằm trên đường Lê Văn Duyệt (tên cũ) ở trong ṭa nhà lớn gọi là Nhà Kiếng (sau chính phủ Diệm cấp trụ sở cho Tổng Liên Đoàn Lao Công của ông Trần Quốc Bửu (lănh tụ công giáo) làm trụ sở). Tôi c̣n nhớ cuốn sách mỏng độ hơn 100 trang, tố cáo thực dân Pháp nhiều việc. Tôi chỉ c̣n nhớ một việc là thực dân Pháp cho Giáo hội Công giáo 200 ngàn mẫu tây (ha) đất ở tỉnh Vĩnh Long. Trải qua hai triều đại Công giáo Diệm và Thiệu, số đất đó vẫn được miễn thuế. Tuy chính quyền Diệm và Thiệu theo lời khuyến cáo của Mỹ có cải cách ruộng đất tất cả 2 lần, nhưng không ai dám đụng đến số 200 ngàn mẫu ruộng đó của Giáo Hội. Sách xuất bản giữa Paris, vào thời thịnh đạt của đế quốc Pháp và Paris là trung tâm chính trị lớn nhất Âu Châu. Nếu họ nói sai sự thật, giáo hội Công giáo có tinh thần tự trọng phải lên tiếng cải chính rằng đó là chuyện vu cáo, không có, người ta bịa đặt ra để nói xấu. Sao từ đó đến nay là 70 năm rồi, quư vị cứ “ngậm miệng ăn tiền” như vậy? Quư vị đă ḅn rút được bao nhiêu của cải của đất nước tôi gần một trăm năm đem về La Mă. Ngoài số 200 ngàn mẫu đất ruộng này ở Vĩnh Long, Giáo hội c̣n đầu tư bao nhiêu vốn vào hàng trăm công ty lớn nhỏ khai thác tài nguyên nước tôi, chỉ kể ra đây ba công ty thôi: - Công ty trồng cao su Đông Dương (Société des plantations d’hévéas de l’Indochine). - Công ty Mỏ than Bắc kỳ (Société des charbonnages du Tonkin). - Nhà băng Đông Dương (Banque de l’Indochine). C̣n bao nhiêu công ty khai thác mỏ vàng, mỏ bạc, đồng, thiếc, kẽm, ch́, wolfram, tungsten, nước suối... và xuất nhập cảng ở khắp nước không kể hết được. Ṭa Thánh và Giáo hội Công giáo Việt Nam đă đầu tư lấy lời bao nhiêu máu mủ của đất nước tôi đem về La Mă, không ai biết cả. Chỉ có một người Pháp, viên thanh tra chính trị phủ Toàn quyền, ông Aurousseau (?), đă viết rằng tài sản của Giáo hội Công giáo ở Việt Nam (khi cuộc đô hộ Việt Nam vừa mới vững chân) c̣n lớn hơn là tài sản của Chánh phủ Đông Pháp (gồm nước Việt-Miên-Lào). Quư vị cứu rỗi được bao nhiêu linh hồn? Không ai thấy. Quư vị đem tiền bạc cướp được đó cứu giúp được những ai đang sống? Không ai thấy cả. C̣n mấy cái Viện mồ côi mà chánh phủ thực dân Pháp bỏ tiền ra xây, trợ cấp hàng tháng hoặc hàng năm, giao cho các cha, các bà sơ trông nom để kiếm thêm tín đồ v́ quá ít người theo đạo. Họ cho số cô nhi này học đạo trước khi học chữ, thế là vừa được tiếng làm phước lại vừa mở rộng đường đạo. Trong việc truyền giáo thâu lợi đó quả là tích cực hết chỗ nói, thưa Ngài, nhớ lại thời cổ (thế kỷ thứ 8), khi người Ả Rập Hồi giáo chiếm được Tây Ban Nha công giáo, bắt cả triều đ́nh vua quan, hoàng hậu, phi tần và thu hết vàng bạc châu báu, đàn bà con gái, binh lính và dân phu từ Tây Ban Nha vượt eo biển Gibraltar, và đi suốt từ Maroc qua Algérie, Tunisie, Ai Cập sang bán đảo Á Rập mất mấy tháng mới về tận triều đ́nh của họ ở Bagdad (Irag ngày nay). Đoàn người dài cả trăm cây số, giữa ban ngày cả thiên hạ đều biết là một vụ cướp lớn lao, nhơ nhớp để tiếng xấu trong lịch sử, ai cũng biết. Thời đại mới này, quư vị lănh đạo Công giáo khôn ngoan, tính toán giỏi hơn họ nhiều. Tài sản cướp được ở các nước thuộc địa, xuống tàu chở về Âu Châu bán nguyên liệu sống (như than đá, cao su, quặng kim khí) hoặc chế biến rồi lại xuất cảng bán cho cả thế giới, làm sao người ta biết nổi khi gởi tiền vào các nhà băng, chia chác nhau trên giấy tờ, rồi lại chuyển tới các nhà băng giữ, đâu có cái ǵ lọt ra cho bên ngoài thấy. Cách chiếm đoạt và phân tán ấy thật là kính đáo tuyệt hảo, hơn người Ả Rập cả trăm lần. Dân chúng thuộc địa, như các tín đồ Công giáo của Ngài, là loại dân chỉ biết làm ruộng, đánh cá, làm muối ở ven biển nước tôi, hầu hết là mù chữ, làm sao mà hiểu nổi, cho nên từ đời ông cố, ông sơ cho đến cha mẹ họ và họ ngày nay, vẫn tin rằng Giáo hội và các chức sắc trong Đạo của họ là đạo đức là thánh thiện lắm. Từ khi các cha cố đầu tiên đến nước tôi, đă ngoài 400 năm, quư vị và con chiên đă làm được ǵ để đóng góp xây dựng đất nước này? Cách đây 50 năm, học giả Đào Duy Anh viết cuốn sách nổi tiếng Việt Nam Văn Hóa Sử Cương đă phê b́nh rằng : Sự đóng góp của người Giatô tức Công giáo vào văn hóa Việt Nam cho đến nay (tức 1940) không có ǵ đáng kể. Từ đó đến nay, thêm 50 năm nữa cũng chẳng có ǵ hơn. Đời họ từ trong bụng mẹ ngoài việc đi lễ ở nhà thờ đă nghe cầu kinh từ tờ mờ sáng, từ đêm khuya, ngắm rồi nguyện tới mỗi đàng. Kết quả là tầm mắt của họ không nh́n được cái ǵ cao hơn nóc nhà thờ, không thấy cái ǵ xa hơn cổng nhà thờ, không thấy ai trên đời này giỏi bằng ông cha xứ, không tuân lệnh ai ngoài cha xứ, quanh năm suốt tháng không đọc sách vở nào ngoài cuốn kinh bổn với những câu như: ²Lạy Cha chúng tôi ở trên trời, xin tha cho chúng tôi là kẻ có tội² hoặc là ²xin cho chúng tôi đồ ăn đủ ngày² v.v... Tôi hiểu được tâm địa của họ qua những hành động và lời nói của những người Công giáo mà tôi đă thấy trong thời Pháp thuộc và thời Diệm - Thiệu.
Chuyện thứ Mười: Làng Phù Ủng, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên (nay gọi là tỉnh Hải Hưng) có đền thờ Tướng quân Phạm Ngũ Lăo, một danh tướng nước tôi đời nhà Trần (thế kỷ 12) có công lớn chống giặc Nguyên, vẫn được các triều đại sau đó phong thần. Ngôi đền này ở đầu làng Ủng chỉ cách làng Kẻ Sặt (Công giáo) có hơn hai cây số. V́ mẹ tôi là người làng Ủng và có ít ruộng ở đó, nên năm nào tôi cũng thường qua chơi và ở luôn nhà ông cậu suốt tháng giêng, đền mở hội hàng năm. Người ta đổ về hội Ủng lễ bái rất đông không chỉ tháng Giêng mà suốt năm, từ các tỉnh xa như Hà Nội, Hải Pḥng, Nam Định, Sơn Tây. Cho đến năm tôi 25 tuổi, v́ chiến tranh tôi mới rời khỏi vùng này. Suốt mấy chục năm như vậy, tôi chưa hề thấy một người Công giáo nào ở làng Kẻ Sặt đến coi (chưa nói là đến lễ bái làm ǵ), dù họ hàng ngày vẫn đi qua đó mua lúa về bán cho các tiệm Tàu và thuyền buôn, hoặc xay giă thành gạo bán ở chợ Sặt. Đường đi vào làng Ủng sát ngay sân đ́nh, tôi đă để ư nhiều lần, lần nào cũng vậy, họ không hề ngó vào đ́nh, không hề bước vào sân đ́nh, chứ đừng nói đến vào lễ. Tôi c̣n nhớ được tên mấy người làng đó thường qua lại mua lúa của ông cậu tôi là bà Ba Lẹm, khá giàu, mua lúa có khi cả mấy trăm thùng một lúc (mỗi thùng 10 kilôgram). Người ít vốn hơn như bà Lệ (gọi theo tên anh con trai là anh Lệ). Năm 1956, 57, chúng tôi c̣n gặp anh này ở khu Bàn Cờ Saigon khi anh từ Hố Nai xuống thăm nhà quen, và c̣n một người nổi tiếng ở làng Kẻ Sặt là ông Lư Kiệm, làm lư trưởng làng Kẻ Sặt có lẽ đến hai chục năm liền. Tôi có biết, thấy và gặp ông này tháng 6 năm 1952, khi một đoàn quân Pháp hành quân, tiểu đoàn ba thuộc trung đoàn 1 Maroc (1er Régiment des Tirailleurs Marocains) đóng tại làng Sặt và bộ chỉ huy đóng ngay tại nhà ông ta. V́ quân Pháp rất tin cậy người Công giáo, nên chẳng đề pḥng như khi đến các làng khác, cả bộ chỉ huy ở đó mà chỉ có một người lính Marốc đứng gác, lúc đó đang tṛ chuyện rất vui vẻ với các cô gái làng Sặt bán trái cây và quà bánh cho họ, c̣n các sĩ quan Pháp th́ đi ăn tiệc với các cha, cho nên có lần đó năm tù nhân làm phu khuân vác của tiểu đoàn (Prisonniers internés militaires, viết tắt là PIM), lẩn vào dân đi chợ và trốn luôn, trong đó có một người làng tôi, anh Nguyễn Văn Mai nay c̣n sống. T́nh quân dân giữa lính Tây Maroc và dân làng công giáo thật là nồng hậu, thắm thiết, cho nên suốt 9 năm chống Pháp, quân đội kháng chiến không bao giờ dám đóng ở một làng Công giáo nào cả. Chắc hẳn cũng do dân làng Kẻ Sặt chỉ dẫn, nên đền thờ làng Phù Ủng, thờ vị anh hùng dân tộc Phạm Ngũ Lăo bị pháo binh Tây bắn nát vụn không c̣n ǵ, chủ ư là họ phá ngôi đền chơ vơ ở đầu làng. C̣n lính Tây th́ họ đâu có biết lịch sử nước tôi, ông Phạm Ngũ Lăo là ai, có công ǵ với dân Tây đâu. Đến khi ḥa b́nh trở lại, đền mới được trùng tu, xây nhỏ hơn đền cũ. Ngài có biết ai đứng ra trùng tu ngôi đền này không? Thưa rằng do chính phủ Cộng sản mà người Công giáo vẫn chửi bới là vô thần, vô Tổ quốc đó! Tôi không hiểu người Công giáo nghĩ thế nào, v́ mấy người tôi quen biết trên đây, những khi họ đến nhà dân chúng tôi mua lúa, gặp khi có kỵ giổ cúng ông bà tổ tiên, mời họ ăn một miếng họ cũng không ăn, dù họ gánh lúa từ sáng đến xế chiều chưa kịp ăn ǵ. Có lần bà Ba Lẹm (đă nói ở trên) đến kiếm ông cậu tôi để nói về chuyện mua lúa hoặc trả tiền nong ǵ đó, ông cậâu đang ở ngoài chùa, tôi phải đưa bà ra chùa. Đến cổng chùa, bà ta nhất định không vào bắt tôi vô gọi ông cậu ra nói chuyện. Các chùa ở thôn quê rộng răi như một xóm nhỏ, đâu có chật hẹp như các chùa ở thành phố. Trước khi đến chùa thờ Phật, c̣n nhà khách, nhà kho, nhà bếp, c̣n chùa ở xa đó, riêng một nơi. Nhưng đối với người Công giáo, th́ bất cứ cái ǵ liên quan đến chùa, đến Bụt là ma quỷ, họ sợ phải đi xưng tội với các cha Tây v́ đụng chạm hoặc đến gần ma quỷ. Đă sống trong thời Pháp thuộc, tôi hiểu được ư nghĩ thật sự của người Công giáo, toàn là những ư nghĩ phản dân tộc. Cho nên ngày nay, thấy họ hô hào đoàn kết ḥa đồng tôn giáo để chống Cộng, tôi chỉ thấy buồn cười!
Thư đă quá dài, tôi xin phép tạm dừng bút. Tôi rất quư trọng Ngài ở điểm kêu gọi các tín đồ Giatô (nay gọi là Công giáo) hăy thống hối các tội ác hợp tác với thực dân mà trở thành đám phản quốc. Nếu họ không muốn con cháu họ sau này đời đời bị người ta coi rẻ, nh́n bằng nửa con mắt th́ họ nên thành thật hối lỗi, đừng dở tṛ bịp bợm như hiện nay nữa, không ai mắc lừa lâu đâu. Cuối thư xin kính chúc Ngài thêm nhiều sức khoẻ, sống lâu để làm việc công ích thật sự cho nhân loại và nhất là thay đổi được tư duy và hành động của số người Công giáo cuồng tín ở Việt Nam (là đám Cần lao Nhu-Diệm), kéo họ ra khỏi vũng bùn lâu đời: phản quốc và phản dân tộc. Kính thư. Vũ Trọng Minh Falls Church.VA. 4/95
NÓI CHUYỆN VỚI “NỬA PHẦN HỒN” CỦA TÔI
Hoàng Nguyên Nhuận
Đạo làm cho người gần nhau, người theo đạo làm cho người xa nhau. Đó là cảm nghĩ của tôi khi đọc xong quyển Crossing The Threshold of Hope (Vượt Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng) của Giáo Hoàng John Paul II do thư xă Alfred Knopf, Hoa Kỳ, dịch ra tiếng Anh và Random House, Australia ấn hành năm 94. Vượt Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng dù Giáo Hoàng là tác giả, không phải là một Giáo Điệp hay Tông thư có giá trị như một mệnh lệnh nội bộ tuyệt đối từ một người mà tín lư xác quyết là không thể sai lầm. Đây là một tác phẩm thần học tung vào đời dưới h́nh thức thương mại, và đương nhiên thu hút không chỉ cố gắng hiểu biết, cảm thông, mà cả ư hướng đối thoại. Tôi ghi lại ư nghĩ của tôi trong ư hướng đó. Hiện có hai bản dịch tiếng Việt nhưng cả hai đều thiếu sót khi dịch những đoạn nói về Cộng sản (Dân Chúa, 4.95). Không biết bản tiếng Việt của Trần Thái Đỉnh do Info Art, Sydney ấn hành hồi cuối năm ngoái có phải là một trong hai bản này không? Xin tạm thời dựa vào bản tiếng Anh trong khi chờ đợi một bản dịch tiếng Việt được chính thức công nhận. Vượt Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng dành nhiều đoạn bàn về Do Thái giáo, Hồi giáo, Ấn giáo, Khổng giáo, Lăo giáo và Phật giáo. Ba tôn giáo được đặc biệt chú trọng là Hồi giáo, Do Thái giáo và Phật giáo. Trừ phần dẫn khởi và thư mục, quyển sách dày 236 trang này dành trọn chương 14 dài 7 trang cho Phật giáo với tựa đề Buddha. Ngoài ra Phật giáo c̣n được nói đến trong các trang 42, 43, 80, 81, 82 và 83. So với các tôn giáo khác, Phật giáo quả đă được chú ư hơi nhiều đúng như lời tác giả xác nhận là: “... cần thiết phải đặc biệt chú trọng Phật giáo” (sđd.tr.84).
Chỉ có sóng sau lấn đẩy sóng trước, không đời nào sóng trước hồi kích sóng sau. Phật giáo đă đến với đời hơn 500 năm trước khi Kitô giáo thành h́nh ở Jerusalem và ḥa hợp với dân Việt Nam cả ngàn năm trước khi Vatican nghĩ đến chuyện xin phép tháp tùng người Bồ Đào Nha đếnViệt Nam để t́m kiếm “hạt tiêu và các linh hồn” (Phan Phát Hườn - Việt nam Giáo Sử I - Cứu Thế Tùng Thư, Saigon, tr.25). Phán luận, phê b́nh, chống đối nhân danh tôn giáo là việc của người theo đạo chứ không phải chủ trương của các Giáo Chủ. Hậu thế vẫn dùng lời Giáo chủ để điều hướng hành động và ư nguyện sống đạo của ḿnh. Nhưng cũng có khi hậu thế phải đi ngược lời Giáo Chủ để duy tŕ hành động và ư nguyện đương hành. Hăy lấy một ví dụ... “Giáo Hoàng” là cách chuyển Việt của chữ Pope, nguyên nghĩa Hy lạp là Cha, bởi vậy Giáo Hoàng có khi c̣n được gọi là Thánh Cha. Các Linh mục cũng được gọi là Cha. Ở Việt Nam, các Cha cao niên bản xứ được gọi là Cụ, các Cha ngoại quốc già trẻ đều được đặc cách thang hai bậc thành Cố thay v́ một bậc là Ông Nội. Nhưng Thánh Kinh lại cũng ghi rành rành lời Đức KiTô nghiêm cấm: “Chớ gọi ai trên trái đất này là cha ngươi, ngươi chỉ có một Cha trên trời” (Matthew đoạn 23, câu 9). Khi được Vittorio Messori tham vấn về điều nghịch lư đó, Giáo Hoàng giải thích rằng đó là lời xưng hô bắt rễ từ truyền thống lâu đời. (Sđd tr.8). Nghĩa là dùng riết rồi quen dù là nghịch ư đấng Tối Cao. Vượt Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng cho rằng, Phật giáo, theo một quan điểm riêng nào đó, cũng như Thiên Chúa giáo, là một tôn giáo giải thoát. Tuy nhiên, “cần phải nói ngay rằng lư thuyết giải thoát trong Phật giáo và Thiên Chúa giáo là đối nghịch nhau.” (sđd. tr. 84-85). V́ Phật giáo là “hoàn toàn tiêu cực” (sđd. tr.85), giác ngộ theo Phật giáo là “thuần túy tiêu cực” (sđd. tr.87) và Phật giáo đa phần là một “hệ thống vô thần” (sđd. tr. 86).
Đức tin, theo Thiên Chúa giáo, là ư nghĩ tối hậu đặt tín hữu giáp mặt với bức tường cao dày mênh mông, không c̣n ǵ để phân vân, khao khát, kén chọn. Đức tin làm đông đặc không gian, thời gian, suy tư, hy vọng. Tín hữu chỉ c̣n hai con đường lựa chọn, hoặc quay lưng lại với bức tường tuyệt đối đó, hoặc đi thụt lùi. Cho nên không thể hỏi: Tại sao tin như thế? Mà chỉ có thể hỏi: Tin như thế rồi th́ sống thế nào với anh em đồng loại? Ḷng tin đó đă giúp ích ǵ cho ḿnh, cho đời? Khác với tinh thần nh́n mặt trăng chứ không nh́n ngón tay chỉ mặt trăng của Phật giáo, khác với tinh thần cả tin vào sách vở th́ thà đừng có sách vở c̣n hơn của Nho giáo, mỗi chữ mỗi câu của các giáo quyền Kitô giáo đều là tín lư bất di bất dịch. Với các đồng hương Kitô hữu Việt Nam của tôi th́ tinh thần này lại c̣n kiên định hơn nữa v́ “không ai có thể nghi ngờ tấm ḷng trung kiên vâng phục quyền giáo huấn chính thức của các Giáo hội đă ăn sâu vào hàng giáo sĩ Việt Nam” (Nghi Thanh – Nh́n lại 20 năm Ly hương Cộng Đoàn Công Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ, Tivi Tuần San 26-4-95). Nói như thế, giáo quyền Việt Nam chỉ tuân lệnh Vatican và Kitô hữu Việt nam th́ “trước đây 20 năm, không ai nói đến chuyện... một lối sống đức tin khoáng đạt hơn” cả (Nghi Thanh, sđd). Cho nên tôi phân vân không biết các đồng bào Kitô hữu của tôi đă nghĩ ǵ, phản ứng như thế nào khi đọc những đoạn Giáo Hoàng nói về Phật giáo?
Một tín hữu Kitô giáo có thẩm quyền là linh mục Nguyễn Hồng Giáo nghĩ rằng: “... tŕnh bày của Đức Thánh Cha không phải là sai nhưng h́nh như Ngài chỉ biết đến giáo lư “nguyên thủy” của Đức Phật, và ngay giáo thuyết này cũng có vẻ như được cường điệu cho phù hợp với ư định của Ngài. Ư định đó là “muốn biện hộ cho Kitô giáo để cảnh cáo những Kitô hữu ở phương Tây đang có xu hướng chạy theo Phật giáo”. Linh mục Nguyễn Hồng Giáo cũng trích lời của Linh mục Aloysius Pieris, nhà thần học nổi tiếng của Sri Lanka cho rằng “Rôma vẫn duy tŕ cái nh́n bảo thủ của ḿnh xưa nay về các tôn giáo.” (Công Giáo và Dân Tộc, Xuân Ất Hợi 1995, tr.7). V́ thấy rằng những điều Giáo Hoàng nói về Phật giáo chỉ là cường điệu, bảo thủ, tấn công để pḥng thủ chứ “không phải là sai” nên Linh mục Nguyễn Hồng Giáo cũng như Linh Mục Aloysius Pieris đă không kịp ghi nhận sự khác biệt căn bản giữa hai khung cửa giải thoát mà Kitô giáo và Phật giáo mở ra cho tín hữu. Khung cửa hy vọng của Kitô giáo được lắp ráp bằng Bảy Mối Tội Đầu và Mười Điều Răng và xây trên cái nền tín lư kiên định rằng con người không thể tự ḿnh thực hiện chân hạnh phúc mà phải trông cậy hoàn toàn vào T́nh Thương của Thượng Đế Tạo Hóa và vào quyền lực của Giáo Hội là cơ chế đại diện Thượng Đế ở trần gian. Khung cửa giải thoát của Phật giáo được lắp ráp bằng Tham Sân Si và xây trên cái nền của ḷng tự tín tự quyết. Người Kitô hữu phải đi vào ngưỡng cửa của tín lư mới mong về nước Thiên Đàng. Người Phật tử phải vượt qua Tham-Sân-Si với quyết tâm tự lực giải thoát mới mong đạt Niết Bàn. Để được cứu rỗi, Kitô hữu phải lắng nghe tiếng gọi từ ngoài để xông thẳng vào cái CÓ, người Phật tử phải lắng nghe chính ḿnh để nhảy vào cái KHÔNG. Thấy được điều khác biệt uyên nguyên đó th́ khỏi cần nói chuyện đúng sai, phải trái. Đă là tin th́ chỉ có khác biệt. Đúng sai, phải trái không tùy thuộc nội dung của đức tin mà tùy thuộc vào việc đem nội dung ấy ra áp dụng vào đời sống của ḿnh và tương giao giữa ḿnh với cuộc đời. Linh mục Nguyễn Hồng Giáo và tờ Công Giáo và Dân Tộc tả khuynh phê phán cái nh́n bảo thủ của Giáo Hoàng về Phật giáo nhưng không hẳn Linh mục (có thể bị một số đồng đạo kết án là “quốc doanh thân cộng”) đă thoát được áp lực của cái nh́n bảo thủ đó khi nói đến “những Kitô hữu ở phương Tây đang có xu hướng chạy theo Phật giáo”. Không thấy vị linh mục này nói rơ việc chạy theo Phật giáo này có ǵ khác việc ai đó chạy theo Pháp, chạy theo Mỹ hay chạy theo Cộng sản không?
Nếu không nhờ Pháp, Kitô giáo ở Việt Nam không thể nào thu hoạch được ngót 10 phần trăm dân số, cũng như không nhờ Hoa Kỳ th́ làm thế nào một thế lực chỉ chiếm 10 phần trăm dân số lại có thể chiếm luôn cả hai chức Tổng Thống Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Ḥa, nắm trọn vận mệnh của một phần đất trong đó 90 phần trăm là “kẻ ngoại đạo” trong những giai đoạn sinh tử nhất của đất nước: chiến tranh phát khởi thời Đệ Nhất Cộng Ḥa và kết thúc thời Đệ Nhị Cộng Ḥa! Chưa kể trước đó Kitô giáo cũng đă cung cấp những rường cột chống đỡ một triều đ́nh bù nh́n đổ nát với Nguyễn Hữu Bài, Ngô Đ́nh Khả và Nam Phương Hoàng Hậu. Nếu nước có quyền nước, dân có quyền dân th́ thực trạng mất quân b́nh chính trị đó có thể xảy ra được không? Có phải là tự do dân chủ không? Có bao nhiêu đồng hương Kitô hữu đă tự hỏi như vậy sau bao nhiêu biến cố đảo điên, nhất là sau khi Saigon thất thủ 1975 và cuộc đời ăn nhờ ở đậu xứ người kể từ ngày đó?
* * *
Bi quan! Tiêu cực! Vô thần! Sáu mươi năm là một thời gian dài, lịch sử có thể đi vạn dặm. Nhưng sáu mươi năm cũng có thể chỉ là chớp mắt nhanh đến độ người ta không thể đi hết một bước. Thật vậy, hơn sáu mươi năm trước cũng đă có những Kitô hữu nói về Phật giáo bằng những lời lẽ như “Chính Thích Ca cũng không muốn biết Tạo Hóa” (San Đ́nh – V́ Chúa, 6.5.38). Và: “Cái lầm to (của Phật giáo) là chỉ nói chúng sinh mà không nói Tạo Hóa... Phải chi hiểu nghĩa Thiên Chúa th́ không đến đổi sai lầm như vậy” (J.M. Thích – V́ Chúa, 11.6.37): chưa kể “Ngoài việc niệm kệ, tụng kinh, đúc chuông, tô tượng, (Phật giáo) chẳng có một sự nghiệp ǵ để hầu bổ ích cho đời.” (Hương Trai – V́ Chúa, 1.7.38). Đó là những câu Trần Văn Giàu trích dẫn từ một cơ quan truyền bá Kitô giáo ở Huế hơn nửa thế kỷ trước đây (Trần Văn Giàu. Sự Phát Triển của Tư Tưởng Việt Nam, tập 2, NXB TP.HCM, 93, tr.386, 387 và 390). Những người theo Marx như Trần Văn Giàu, lúc bấy giờ, chỉ có cái nh́n của một viên chức nh́n tôn giáo như thuốc phiện nên không nhận thấy rằng duy vật biện chứng và duy vật sử quan của Marx chỉ là bản sao bất toàn chủ trương bám lấy cuộc đời như một giá trị thiêng liêng của Thượng Đế ban cho để làm khởi điểm giải thoát. Họ có lẽ cũng không nhận thấy rằng về phương thức thực hiện, lối kết nạp Đảng viên, khốâng chế tinh thần Đảng viên bằng học tập, bằng tự phê, tự kiểm, bằng khai trừ của Đảng Cộng Sản chỉ là bản sao bất toàn lối rửa tội, học Đạo bằng Sách Bổn, tín hữu không được đọc nguyên bản Thánh Kinh cũng như lối xưng tội, kiểm duyệt sách báo, biện pháp cảnh cáo, dứt phép thông công mà Kitô giáo đă áp dụng cả ngàn năm trước Lenin. Bởi có những điểm tương đồng như thế nên sáu mươi năm trước một nhà lư luận Mác-xít như Hải Triều đă tố Phật giáo là “đạo của những dân tộc lười, tôn thờ chủ nghĩa vô vi... chủ nghĩa vô vi là tự sát” (Nguyễn Lang – Việt Nam Phật giáo Sử Luận, tập 3, Lá Bối, San Jose 87, tr.28) th́ hôm nay tác giả của Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng cũng đă phụ họa nguyên văn rằng “Phật giáo là hoàn toàn tiêu cực”, “thuần túy tiêu cực”. Cải hai đă không giải thích tại sao một tôn giáo lười biếng, vô vi, tiêu cực như thế lại có thể tồn tại được hơn 25 thế kỷ, và tại Việt Nam, lại có thể động viên cả một dân tộc đứng lên dựng nước và giữ nước từ Ngô, Đinh, Lê, đến những thời đại huy hoàng Lư, Trần?
Ở Việt Nam, Cộng sản và Kitô giáo có thể khác nhau như mặt trăng, mặt trời, nhưng cả hai đều đứng cùng chiến tuyến khi đối diện với Phật giáo. Như Ngô Đ́nh Diệm năm 1963 và Lê Duẫn năm 75. Cộng nghiệp lịch sử là một gọng kềm kẹp cứng Phật giáo. Một bên là độc thần, một bên là vô thần; một bên hữu khuynh cực đoan nhân danh tự do, một bên cực tả nhân danh cách mạng giải phóng; một bên sẵn sàng hy sinh đất nước cho tín ngưỡng, một bên sẵn sàng hy sinh dân tộc cho giai cấp. Đó là diễn biến thê thảm của lịch sử Việt Nam từ ngày chủ quyền quốc gia rơi vào tay Pháp. Nho giáo là ư thức hệ trị loạn hữu hiệu đă giúp Nguyễn Gia Long ổn định đất nước triền miên rối loạn từ Trịnh - Nguyễn phân tranh. Nhưng Nho giáo cũng là cái cùm giữ chân xă hội không cho tiến tới bằng cách đẩy tầng lớp lănh đạo vào vũng lầy nệ cổ, độc thiện, h́nh thức. Tiếng súng đại bác từ các chiến thuyền Pháp ngoài khơi vọng vào cho tầng lớp lănh đạo thức tỉnh th́ đă muộn. Việt Nam trở thành vùng đất hoang màu mỡ cho thực dân khai thác kinh tế và tẩy năo tâm linh. Thế dựa triều đ́nh găy đổ dưới áp lực ngoại thuộc. Nho giáo bị chụp cho cái mũ thoái hóa, ngoan cố và phản loạn. Nhà Nho hết lớp này đến lớp khác thay nhau ra pháp trường hay vào tù cho đến ngày ư thức hệ Nho giáo hoàn toàn tan ră khi các khoa thi bị băi bỏ và chữ “quốc ngữ” chính thức thay thể cả chữ Nho lẫn chữ Nôm của Việt nam. Kitô giáo bộc phát trong buổi chợ chiều chính trị đó để rồi chẳng bao lâu nhận ra rằng Phật giáo mới chính là kẻ thù yên lặng... Mũi dùi chính từng chĩa vào Nho giáo đă quay lại chĩa vào Phật giáo với ba “tội trọng” là mê tín dị đoan, tiêu cực và vô thần. Kinh Tin Kính của Kitô giáo ở Việt Nam có câu: “Cầu cho những kẻ thờ lạy bụt thần ma quỷ, tín mê Hồi giáo”. Đó là một cách nhận diện đối tượng cho chiến dịch truyền giáo ở vùng thuộc địa mới này.
Thất bại của Nguyễn Thái Học đă khai tử luôn khuynh hướng dĩ ngoại trị ngoại ôn ḥa mà các cụ Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh là đại diện chính và tạo điều kiện nảy nở cho phong trào dĩ ngoại trị ngoại cực đoan của những kẻ theo Đệ Tứ Quốc Tế và Đệ Tam Quốc Tế. Nhưng Đệ Tứ Quốc Tế dần dần đi vào đấu tranh nghị trường nên ảnh hưởng đă bị giới hạn ở Nam Phần trong vũng lầy dân chủ h́nh thức hữu hạn Pháp bày ra để ru ngủ những kẻ cả tin vào giải pháp Pháp - Việt đề huề. Đệ nhị Thế chiến bùng nổ. Sự thảm bại của Pháp ở chính quốc châm ng̣i cho tinh thần chống Pháp ở thuộc địa bùng lên. Nhưng những cuộc đàn áp kềm kẹp liên miên của Pháp từ sau vụ Yên Bái đă triệt hết các khuynh hướng ôn ḥa nên mặc nhiên nhường vai tṛ lănh đạo đấu tranh chính trị cho những người Cộng sản Đệ Tam dĩ ngoại trị ngoại, cực đoan trên chiến lược nhưng uyển chuyển đa diện về chiến thuật. Nhật cướp quyền đô hộ của Pháp nhưng v́ áp lực hoàn cảnh Nhật đă hành xử như một thứ chánh quyền bảo hộ nối dài nên chẳng giúp ǵ cho khuynh hướng dân tộc phát triển, ngay cả trên căn bản liên minh Đông Á chống Tây Phương như chính Nhật cổ súy. Mùa thu năm 45, Nhật đầu hàng, Pháp chưa kịp trở lại. Cách mạng Việt Nam bùng lên như một đám cháy trong cách đồng hoang hạn hán chính trị v́ không có một thành phần nào đủ thực lực lănh đạo toàn dân. Thành phần thượng tầng trí thức trưởng thành dưới chiếc dù bảo hộ của Pháp đa số chỉ là những cộng tác viên ngoan ngoăn trong guồng máy thư lại bản địa. Trong khi những người Cộng sản chớp được thời cơ lănh đạo kháng Pháp lại vội vàng vớ lấy tư tưởng Mao và Staline làm giáo điều. Đỉnh cao của hành động “rửa tội” ư thức hệ này là chiến dịch Chỉnh Huấn và phong trào Cải Cách Ruộng Đất đă băm nát dân tộc ra làm ba thành phần rơ rệt là phe cực tả giáo điều vô sản chuyên chính, phe cực hữu cuồng tín “thà chết hơn tam vô” và đại khối dân tộc chỉ muốn ấm no tự quyết, không thích xanh mà cũng chẳng ham đỏ. Pháp thất bại ra đi, nhường cho Mỹ thế chân ở Nam Phần. V́ nhu cầu đối kháng trong Chiến Tranh Lạnh, Mỹ đă gấp rút và tận t́nh tái vơ trang tinh thần cho tập đoàn thư lại bản địa bằng ư thực hệ hữu khuynh cực đoan và biến họ thành những «Dũng Sĩ của Tự Do chống lại Quỷ Đỏ Tam Vô ». Trong khi ở Bắc Phần, Cộng Sản loay hoay thí nghiệm xă hội chủ nghĩa để một đàng, cướp thời cơ đối kháng của những thành phần cựu kháng chiến đang bị chiến dịch Tố Cộng cuồng nhiệt của Ngô Đ́nh Diệm đẩy vào đường cùng và đằng khác, để đáp ứng lời hiệu triệu của Nga đẩy mạnh phong trào giải phóng dân tộc chống đế quốc toàn thế giới. Chiến tranh Việt Nam bị biến thành một cuộc thánh chiến ư thức hệ giữa hai nhóm thiểu số lănh đạo cực hữu và cực tả. Đệ Nhất Cộng Ḥa của Ngô Đ́nh Diệm và Đệ Nhị Cộng Ḥa của Nguyễn Văn Thiệu là đại diện chân chính của ư thức hệ hữu khuynh cực đoan. Trong khi giới cộng sản ở Bắc Phần cứ bám cứng Mao và Staline như những chiếc phao cứu mạng mà không cần biết những chủ nghĩa này thực sự giúp ích ǵ cho đất nước và dân tộc. Cuộc kháng chiến chống ngoại thuộc chính là cơ hội ngàn năm giúp họ khỏi phải trả lời với dân chúng tại sao phải có sự sùng bái ư thức hệ ngoại lai đó.
Ư thức hệ hữu khuynh cực đoan đă chết trên đất nước từ ngày 30-4-75. Số sống sót phải di tản và tàn lụi dần cho đến ngày Mỹ bỏ lệnh cấm vận. Trong khi đó, người Cộng sản từng ôm riết chủ nghĩa Mao-Staline ngót 30 năm giờ mới thực sự có cơ hội hăm hở đem ra thí nghiệm toàn triệt. Người dân Nam Phần, hết là nạn nhân của đám cực hữu, giờ lại trở thành nạn nhân của đám cực tả! Điều này giải thích tại sao phong trào vượt biên lại lên cao như vậy sau khi Cộng sản bắt đầu đẩy mạnh công cuộc cải tạo xă hội chủ nghĩa ở Nam Phần. Cộng sản đă vấp té vỡ mặt trong khi hồ hởi “tiến nhanh, tiến mạnh tiến vững chắc lên chủ nghĩa xă hội” và phải ́ ạch “đổi mới” để sửa sai... Phật giáo đă không chạy theo đám hữu khuynh cực đoan và cũng không thỏa hiệp xu phụ đám tả khuynh ngông cuồng quá khích. Cũng v́ thế Thích Thiện Minh vào tù của Ngô Đ́nh Diệm năm 63, tù của Nguyễn Văn Thiệu năm 69 và chết trong tù của Lê Duẫn năm 78. Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ vào tù năm 63 của Đệ Nhất Cộng Ḥa và tiếp tục vào tù sau năm 75 của Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa.
* * * Đà phát triển của Kitô giáo thường nghịch biến với đà phát triển chính trị, kinh tế, xă hội và trí thức. Trong khi ở Tây Phương phồn vinh tiến bộ Thiên Chúa giáo đang rút lui nhường đất cho Phật giáo phát triển như chính sự lo ngại của Giáo Hoàng xác nhận (sđd. tr. 85) th́ từ năm 78 đến năm 92, Kitô giáo ở Á Châu khó nghèo, chậm tiến đă tăng từ 58 triệu lên 92.5 triệu. Năm 78 cũng là năm đăng quang của Giáo Hoàng đương nhiệm (Dân Chúa, 4.95). Đây là lư do tại sao trước sau vẫn duy tŕ cái nh́n “bảo thủ” về đủ mọi mặt, kể từ chuyện Linh mục lập gia đ́nh, chuyện nữ tu được thụ phong Linh mục, chuyện hạn chế sinh sản, chuyện Phật giáo và các tôn giáo phương Đông. V́ nhu cầu ổn định nội bộ giáo quyền nên khi lên tiếng, Giáo Hoàng không nhắm vào giáo dân hay người dân thường c̣n ngoại đạo mà đích thực là nhắm vào giáo quyền các cấp, nhắc cho họ biết họ đang đứng ở đâu, phải nghe ai, phải làm ǵ. Dù sao đi nữa th́ những mệnh lệnh “bảo thủ” này sẽ không tránh cho Kitô giáo gặp những phản lực trên đường phát triển. Đụng độ lớn có thể xảy ra ở Á Châu không phải là giữa Kitô giáo với các tôn giáo Đông phương như Ấn giáo, Hồi giáo, Phật giáo mà là giữa Kitô giáo với Tin Lành, nhất là ở Phi Luật Tân nơi đang có một Tổng Thống Tin lành nhất quyết đối đầu với những áp lực Công giáo bảo thủ đă bị mang tiếng là đă quá gần gũi với tập đoàn Marcos bao nhiêu năm cho đến ngày dân chúng không c̣n chịu đựng được nữa.
Không ai có thể phủ nhận trách nhiệm lớn lao của đồng bào Kitô hữu trong cuộc chiến tranh 45 - 75. Điều này giải thích tại sao số đồng hương Kitô hữu lưu vong đă chiếm 25 phần trăm tổng số người di tản vượt biên - nghĩa là cứ bốn người tỵ nạn th́ có một Kitô hữu, trong khi ở Việt nam tỷ lệ đó chỉ là 10 phần trăm (Tivi Tuần San, 26.4.95). Đa số thành phần lănh đạo các tổ chức đoàn thể - cũng như cá nhân, hoạt động sôi nổi ồn ào nhất trong các cộng đồng Việt Nam lưu vong là các đồng hương Kitô hữu. Chẳng phải chỉ cay cú thua đậm, chỉ buôn bán hận thù, chỉ ồn ào chạy tội khi có quyền trong tay mà để “mất nước”, mà c̣n v́ một kế hoạch hai mặt lâu dài nhằm bảo vệ những ǵ đang c̣n giữ được, tranh thủ vị thế độc lập chính trị công khai hợp pháp, tạo điều kiện chuyển đảo kiểu Ba Lan với tổ chức công đoàn Đoàn kết do Walesa lănh đạo mặt nổi. Cũng v́ vậy, trong khi hàng giáo phẩm cao cấp của Vatican vẫn thường xuyên “đối thoại” với chính quyền cộng sản ở trong nước để cố phục hồi uy quyền của Vatican trong sinh hoạt Kitô giáo ở Việt nam - qua quyền tấn phong Linh Mục, Giám Mục, Hồng Y và quyền bổ nhiệm các vị chánh xứ, th́ một số tín hữu Kitô người Việt ở hải ngoại lại tảo tần vận động liên kết đồng hương các tôn giáo khác để chống Cộng một cách ồn ào náo nhiệt (Dân Việt, 20.4.95). Mục tiêu chính của chiến dịch hai mặt này là gây áp lực đối ngoại để mặc cả với chính quyền Cộng sản về việc cấp cho Vatican tái lập quyền uy tối thượng đối với Giáo hội Kitô Việt Nam hầu cản bước Giáo Hội này biến thành một Giáo Hội độc lập với Vatican như Kitô giáo Trung Hoa. Giáo Hội Kitô ở Việt Nam cho đến bây giờ vẫn là Giáo Hội Công Giáo Tại Việt Nam chứ chưa bao giờ được tự nhận là Giáo Hội Công Giáo Việt Nam cả.
Các đồng hương Kitô hữu đang thành tâm đấu tranh cho tự do tôn giáo ở quê nhà có khi nào nghĩ đến chuyện người Việt đang có đến 234 ngàn giáo dân dưới sự chăn dắt của khoảng 470 Linh Mục Việt Nam ở Mỹ và Úc Đại Lợi thế nhưng vẫn chưa hề có được Giám Mục - dù chỉ là Giám Mục phụ tá, chưa hề được một giáo xứ hay một họ đạo chính thức dù số người xem lễ ngày Chủ Nhật đông gấp trăm lần giáo dân Mỹ hay Úc nơi địa phương liên hệ. Giáo dân Việt Nam muốn làm lễ bằng tiếng Việt th́ phải bỏ tiền ra thuê nhà thờ. Một đôi giáo xứ đơn phương mở rộng ṿng tay đón nhận các sắc tộc khác tạo nên một không khí sống đạo “đa văn hóa” như nhà thờ Trái Tim Đức Mẹ ở San Diego th́ liền bị các giáo dân Mỹ chính cống tẩy chay bỏ đi họ đạo khác (Nghi Thanh, sđd). Đâu là tinh thần giáo hội hoàn vũ đă có lúc được đẩy mạnh đến độ khiến cho một số đồng hương Kitô hữu nghĩ rằng “Thà mất nước không thà mất Chúa” khi họ được điều động lên Dinh Gia Long biểu t́nh chống Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu năm 65 để mở đường cho Nguyễn Văn Thiệu làm Tổng Thống?
Đối với đa số đồng hương Kitô giáo, biến cố 75 rồi tiếp đó là những kinh nghiệm đắng cay về chuyện đổi đời cũng như sống đạo nơi xứ người cũng là cơ hội giúp họ nếu không cảm nghiệm sâu xa hơn những chuyện đất nước, dân tộc, đồng bào th́ ít ra cũng cho họ cơ hội đến gần hơn với nếp sống đạo cởi mở, bao dung, công bằng, vị tha hơn là nếp sống vâng phục Cha xứ, Cha xứ chỉ biết ngoan ngoăn với Bề Trên, và Bề Trên th́ chỉ biết có Giáo đ́nh Vatican và Giáo Hoàng. Chung quanh các họ đạo, giáo xứ c̣n có làng nước, hàng xóm láng giềng. Phần cao quư của những ǵ “Công Giáo Tại Việt Nam” gầy dựng được trong 80 năm ngoại thuộc và 30 năm chiến tranh chắc hẳn vẫn c̣n : Ḷng Kính Chúa Yêu Người. Đó là điều không ai có thể hủy bỏ được trừ chính người đă được ơn trên soi sáng để ấp ủ ḷng kính yêu đó. Và đó cũng có thể là Ngưỡng Cửa Hy Vọng của Kitô giáo Việt Nam khi đất nước bước vào thế kỷ 21 vậy.
BƯỚC QUA NGƯỠNG CỬA VÔ MINH? Trần Chung Ngọc
Trước hết, nếu có thể, tôi xin được tự ư đổi lại chủ đề của tuyển tập thành “Nhận Định về cuốn Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng Của John Paul II”, v́ “Đối Thoại Với John Paul II” có thể nói là một điều rất khó thực hiện nếu không muốn nói là bất khả thực hiện. Có ít ra là 4 lư do để cho một cuộc đối thoại như trên không nên có, và không thể thực hiện được: 1. John Paul II là chủ chăn của 1 số tín đồ đông đảo. Ngài ở địa vị cao quư, sống trên nhung lụa, và Ngài c̣n phải để toàn thời gian (full time) để phục vụ dân nghèo theo như lời dạy của GiêSu Kitô (Giêsu Christ), cho nên Ngài không thể hạ ḿnh để đối thoại với những cư sĩ Phật giáo nghèo khổ, địa vị thấp kém, coi vật chất như huyễn, không tiếng tăm như chúng ta. 2. Tâm cảnh (mind-set) của 1 cư sĩ Phật giáo b́nh thường, sống trước thềm một thiên niên kỷ mới, tự bao giờ vẫn đồng hành với nền văn minh nhân loại, ư thức được những tiến bộ của khoa học, không vướng mắc vào những chuyện huyền hoặc hoang đường, thật quả là bất khả tương hợp (incompatible) với một tâm cảnh của thời Trung Cổ. 3. Phật giáo chống đối vô minh nhưng không chống người bị màn vô minh che phủ, và Phật giáo quan niệm vô minh chỉ có thể phá vỡ bằng giáo dục và chuyển hóa chứ không thể phá vỡ bằng cách trực diện chống đối. 4. Phật Pháp vốn không tranh cải với các thế gian pháp.
Tuy không thể đối thoại, nhưng nếu chúng ta muốn có vài nhận định về cuốn Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng th́ đây là điều chúng ta có thể làm được, và nên làm, v́ đây là một quyền căn bản của chúng ta trong thế giới tự do. Thật ra th́ Giáo Hoàng (GH) John Paul (JP) II đáng thương hơn là đáng trách. Thiền Sư Nhất Hạnh có nói rằng: “Có hiểu th́ mới thương”, cho nên, vấn đề chính là chúng ta nên t́m hiểu những động cơ nào đă thúc đẩy John Paul II viết cuốn sách trên. Và khi hiểu rồi th́ t́nh thương sẽ giải quyết tất cả, chúng ta sẽ không c̣n bận tâm về những chuyện không đáng để tâm nữa. Để làm công việc t́m hiểu trên tôi đă đọc kỹ từ đầu tới cuối cuốn Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng của Giáo Hoàng John Paul II. Nhưng thay v́ làm công việc “điểm sách”, trước hết, bỏ qua những lời “mẹ hát con khen hay” hoang tưởng, thiếu thực tế, thiếu suy nghĩ trong phần “Lời Cảm Tạ” và “Lời Giới Thiệu” ở đầu cuốn sách (bản Việt ngữ), tôi xin trích dẫn những lời John Paul II viết về Đức Phật và Phật giáo, rồi đi thẳng vào nhận xét về Giáo Hoàng John Paul II của vài trí thức, Gia-tô cũng như phi Gia-tô, sau đó sẽ khai triển và b́nh luận thêm về những nhận xét này.
* * * Ở trang 43, John Paul II viết về Đức Phật như sau: “Đức Phật đúng khi ngài không thấy trong việc tạo dựng có thể có sự cứu rỗi, nhưng ngài lầm khi, v́ lư do đó mà ngài phủ nhận việc tạo dựng có một giá trị nào cho nhân loại”. (Buddha is right when he does not see the possibility of human salvation in creation, but he is wrong when, for that reason, he denies that creation has any value for humanity). Và ở trang 85 – 86, John Paul II viết về Phật giáo như sau: “Giáo lư về sự cứu rỗi của Phật giáo tạo thành điểm trọng yếu, hay đúng hơn, điểm duy nhất của hệ thống này. Tuy nhiên, truyền thống Phật giáo và những phương pháp dẫn xuất từ đó, cả hai đều có hầu như đơn độc một “thuyết cứu rỗi qua Chúa Kitô” (soteriology) tiêu cực. Sự “giác ngộ” chứng nghiệm bởi Đức Phật bắt nguồn từ điều xác tín rằng thế giới này là xấu xa, là cội nguồn xấu ác và đau khổ của nhân loại. Để giải phóng ḿnh ra khỏi sự xấu ác này, con người phải tự giải thoát ra khỏi thế giới này, điều này cần thiết là phải đoạn tuyệt với những ràng buộc nối chúng ta với thực tế bên ngoài - những ràng buộc hiện hữu trong bản chất con người, trong tâm thức, trong thân thể chúng ta. Càng thoát khỏi những ràng buộc đó bao nhiêu, chúng ta càng thờ ơ với mọi thứ trong thế giới, và chúng ta càng thoát khỏi sự khổ, sự xấu ác mà cội nguồn là từ trong thế giới. Chúng ta có thể tới gần Thần Gia-tô (God) bằng con đường này không? Điều này không được kể tới trong sự “giác ngộ” mà Đức Phật đă thông tri. Phật giáo đại để là một hệ thống “vô thần”. Con người không tự giải thoát khỏi cái xấu ác qua cái thiện từ nơi Thần Gia-tô; mà chỉ tự giải thoát qua sự cất bỏ ràng buộc với thế giới xấu xa. Sự vô chấp rốt ráo đó không phải là sự hiệp thông với Thần Gia-tô, mà gọi là Niết Bàn, một trạng thái thờ ơ toàn hảo đối với thế giới. Tự cứu có nghĩa là, trên hết, tự giải thoát khỏi sự xấu ác bằng cách trở thành thờ ơ với thế giới, nguồn gốc của sự xấu ác. Đây là tột điểm của quá tŕnh tu tập tinh thần”. (The Buddhist doctrine of Salvation constitutes the central point, or rather the only point, of this system. Nevertheless, both the Buddhist tradition and the methods deriving from it have an almost exclusively negative soteriology. The “enlightenment” experienced by Buddha comes down to the conviction that the world is bad, that it is the source of evil and of suffering for man. To liberate oneself from this evil, one must free oneself from this world, necessitating a break with the ties that join us to external reality – ties existing in our human nature, in our psyche, in our bodies. The more we are liberated from these ties, the more we become indifferent to what is in the world, and the more we are freed from suffering, from the evil that has its source in the world. Do we draw near to God in this way? This is not mentioned in the “enlightenment” conveyed by Buddha. Buddhism is in large measure an “atheistic” system. We do not free ourselves from evil through the good which comes from God; we liberate ourselves only through detachment from the world, which is bad. The fullness of such a detachment is not union with God, but what is called Nirvana, a state of perfect indifference with regard to the world. To save oneself means, above all, to free oneself from evil by becoming indifferent to the world which is the source of evil. This is the culmination of the spiritual process).
Chúng ta để ư rằng John Paul II đă cố ư dùng một số danh từ có ư nghĩa đặc thù trong Gia-tô Giáo, những danh từ rất xa lạ hoặc có nghĩa khác hẳn trong Phật giáo, để viết về Phật giáo, thí dụ như “Salvation = Cứu rỗi” ; và “Soteriology = Thuyết cứu rỗi qua Chúa Kitô” (Soteriology = the branch of theology concerned with the doctrine of salvation through Christ (theo tự điển) = Một ngành trong môn Thần Học nói về thuyết lư cứu rỗi qua Chúa Kitô; hoặc theo định nghĩa chính thức của Gia-tô trong cuốn Catholic Word Book do Catholic Information Service, Knights of Columbus ở New Haven, Connecticut xuất bản: Soteriology = The division of Theology which treats of the mission and work of Christ as Redeemer) để rồi hỏi một câu vô nghĩa, ít ra là đối với các Phật tử: “Chúng ta có thể tới gần Thần Gia-tô bằng con đường này không? Điều này không được nói tới trong sự “giác ngộ” mà Đức Phật đă thông tri”.
Trước khi Jesus Christ ra đời hơn 500 năm, Đức Phật đă giác ngộ và đưa ra con đường tự lực tự cường, dũng mănh phá vỡ vô minh qua óc suy lư và thực hành Bồ Tát Đạo, cứu nhân độ thế. Vậy Phật tử không tin ở sự cứu rỗi của một Thần Gia-tô (để cho được chính danh, tôi đă dịch chữ God trong đạo Giatô là “Thần Gia-tô” v́ John Paul II đă dùng danh từ “vô thần” để chỉ Phật giáo), vậy ai cần tới gần Thần Giatô? Và “giác ngộ” là một trạng thái tâm linh không thể nghĩ bàn, vượt qua mọi đối đăi nhị nguyên, Thánh phàm như một, Thần hay không cũng chẳng khác ǵ nhau, vậy nói tới việc tới gần Thần Gia-tô để làm ǵ? Hơn nữa, đă ở trạng thái vô chấp rốt ráo, nghĩa là đă “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” rồi th́ c̣n hiệp thông với Thần làm cái ǵ? Nhưng thôi, chúng ta hăy đi vào nhận xét của một số trí thức về những lời phê b́nh trên của John Paul II: Nalin de Silva, một thành viên của “Liên Minh các Hiệp Hội Phật giáo” tại Tích Lan, cho rằng “những nhận xét lắt léo với ác ư của Giáo Hoàng (về Phật giáo) có vẻ như là phản ứng trước sự bành trướng của Phật giáo và Hồi Giáo gần đây ở Âu Châu”. De Silva nói: “Ông ta đang cố gắng chống đỡ đức tin của ổng, Hồi Giáo và Phật giáo là 2 thách thức chính đối với Ki-tô Giáo”. (A Federation member, Nalin de Silva, said the Pope’s remarks were malicious and appeared to be a reaction to the recent spread of Buddhism and Islam in Europe. “He is trying to defend his faith,” de Silva said, “Islam and Buddhism are the main challenges to Christianity.”)
Ken Tanaka, một giáo sư của viện Phật Học ở Berkeley phát biểu rằng: “Rơ ràng là Giáo Hoàng đă không chịu làm bài tập” (nghĩa là không chịu t́m hiểu vấn đề cho cặn kẽ) và đă tŕnh bày “một quan điểm quá đơn giản về Phật giáo”. Giáo sư Tanaka nói: “Cốt tủy của Phật giáo là thoát khỏi sự ràng buộc vào tham, sân, si chứ không phải là thoát khỏi thế giới. Nhờ đó mà con người ngộ được một tŕnh độ tỉnh thức cao hơn”. (Rev. Ken Tanaka, a professor at the Instiute for Buddhist Studies in Berkeley, said it is clear that the Pope “hasn’t done his homework” and presents “a very simplistic view of Buddhism”. Essentially, Buddhism is about becoming detached from greed, hatred, and ignorance and not from the world,” Tanaka said. “That’s how one awakens to a higher level of awareness”.)
Thomas Hand, một linh mục Gia-tô, nói rằng ông ước mong Giáo Hoàng “có thể nói về Phật giáo dựa vào những kinh nghiệm bản thân. Ta không thể nói về bất cứ cái ǵ sâu sắc hiển nhiên như Phật giáo mà không tự ḿnh đi vào trong đó”. (Rev. Thomas Hand, a Catholic priest, said he wished the pope “were able to speak about Buddhism from experience. You can’t speak about anything as obviously profound as Buddhism without getting into it.”)
Alan Senauke, một thiền sư, nói rằng những lời phê b́nh của Giáo Hoàng về Phật giáo chẳng hơn ǵ mấy cái chuyện “dựng lên những h́nh nộm, rồi quật chúng xuống”. Ông nói: “Dù là không biết hay cố ư, đó cũng là một sự tŕnh bày sai lầm nghiêm trọng về Phật giáo.” (Alan Senauke, a Zen priest, said the pope’s comments on Buddhism were little more than “setting up straw men, then knocking them down.” “Whether through ignorance or intention, it is a serious misrepresentation of what Buddhism is all about,” he said.)
Lama Ole Nydahl không lấy ǵ làm ngạc nhiên về những lời phê b́nh của Giáo Hoàng. Người hỏi rằng: “Sao mà một người như Giáo Hoàng có thể đồng ư được với một tôn giáo như Phật giáo, một tôn giáo đưa con người vượt qua cảnh giới nhị nguyên và tạo ra một mối liên hệ lành mạnh với thân và ư?”. (Lama Ole Nydahl was not surprised with the pope’s comments. “How could a man like he possibly agree with a religion like Buddhism, which takes people beyond dualism and produces a healthy relationship with their bodies and minds?” he asked.)
Chúng ta thấy rằng những nhận xét của Ken Tanaka, Thomas Hand, và Alan Senauke cùng nói lên một điểm: Giáo Hoàng không đủ kiến thức để b́nh luận về Phật giáo nên đă đưa ra những nhận xét sai lầm nghiêm trọng về Phật giáo. Nhưng nhận xét của Tỳ Kheo Nalin de Silva và Lạt Ma Ole Nydahl mới thực sự đi vào nguồn gốc của vấn đề: tâm cảnh của Giáo Hoàng John Paul II không thể lĩnh hội được cái sâu sắc của Phật giáo, Giáo Hoàng đă viết về Phật giáo một cách lắt léo ác ư và lư do là để chống đỡ niềm tin của Giáo dân. Sau đây tôi sẽ phân tích vấn đề trên một cách rộng răi hơn để làm sáng tỏ những uẩn hàm (implications) trong lời phê phán của de Silva và Ole Nydahl.
** Thật vậy, nếu chúng ta đọc kỹ cuốn Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng của Giáo Hoàng John Paul II th́ chúng ta có thể nhận ra hai điểm chính: 1. Giáo Hoàng lo sợ trước sự bành trướng của Phật giáo và Hồi Giáo trên thế giới nên đă đưa ra những nhận xét một chiều, kiêu căng, hoàn toàn dựa theo giáo lư Gia-tô, với mục đích hạ thấp các tôn giáo lớn khác, để giữ giáo dân. 2. Đây là một nỗ lực có mục đích củng cố quyền lực của Giáo Hoàng, Ṭa Thánh, và giới giáo sĩ lănh đạo Gia-tô để duy tŕ truyền thống “hệ thống chăn chiên theo cấu trúc Kim Tự Tháp” của Gia-tô Giáo. Cấu trúc này sẽ được sáng tỏ qua lời mô tả của Penny Lernoux trong một đoạn sau. Với mục đích trên, Giáo Hoàng đă trích dẫn khá nhiều từ Thánh Kinh, nhắc lại một số tín điều và coi đó như là những chân lư bất biến mà giáo dân, những người không đọc Thánh Kinh hay chỉ đọc những đoạn các linh mục chọn lựa để giảng, phải tin.
Tất cả những toan tính trên đều có lư do. Nhưng trước hết tôi xin có một nhận xét tổng quát về cuốn Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng. Bỏ qua một phần nhỏ của cuốn sách nói về các tôn giáo khác, phần c̣n lại là về Gia-tô Giáo La Mă và ta có thể nói phần này tŕnh bày mặt ngoài của một chiếc mề đay. Đối với mỗi điểm trên cái mặt ngoài này chúng ta có thể t́m ra một hay nhiều điểm đối nghịch trên mặt trái. Công việc chứng minh rất dễ dàng, nằm ngay trong Thánh Kinh và lịch sử gần 2000 năm của Giatô La Mă Giáo. Tuy nhiên, tạm thời chúng ta hăy để vấn đề này qua một bên và xét đến những lư do đưa đến việc Giáo Hoàng viết cuốn sách trên.
* HAI LƯ DO A. LƯ DO THỨ NHẤT khiến cho Giáo Hoàng John Paul II phải bận tâm là đà suy sụp của Gia-tô Giáo và quyền lực của Giáo Hoàng cùng ṭa Thánh Vatican trên thế giới. Điều này thể hiện trong số lượng công du của ngài từ khi đăng quang, với mục đích vớt vát, duy tŕ niềm tin của giáo dân qua những tác phong khả ái của một vị lănh tụ tôn giáo kiêm kịch sĩ nhà nghề. Thật vậy, trong một cuộc phỏng vấn của đài PBS năm 1977, Ngài thú nhận với J. Michener là Ngài "được huấn luyện để diễn xuất trên sân khấu khi c̣n trẻ. Đúng vậy, tôi muốn trở thành một kịch sĩ." ("I trained for the stage as a young man," he admitted to J. Michener of their PBS series in 1977: "Yes, I wanted to be an actor.")
Cho nên chúng ta không lấy làm lạ khi Ngài cố gắng nói trọ trẹ vài câu tiếng Việt để làm nức ḷng giáo dân Việt Nam trong những cuộc tiếp xúc với người Gia-tô Việt Nam lưu vong. Điều này sẽ được sáng tỏ trong phần tŕnh bày sau đây. Sự suy sụp của Giatô Giáo La Mă mà biểu tượng là hệ thống quyền lực Vatican, có rất nhiều nguyên nhân, sau đây tôi chỉ đưa ra vài nguyên nhân chính:
1. Nguyên nhân thứ nhất và chính yếu được tŕnh bày trong nhận xét của Malachi Martin trong cuốn The Keys of This Blood: "Trong hầu hết các nước ở Âu Châu, phong trào hiện thực sống đời thế tục hầu như đă hoàn toàn thắng. Trong vùng này, các tôn giáo có tổ chức - Giatô, Tin Lành và Do Thái - được coi như là giống nhau ở điểm cùng nhấn mạnh trên những tuyệt đối. Những tôn giáo này được coi là đóng góp rất ít hoặc không đóng góp ǵ cho đời sống chính trị, kinh tế và văn hóa hiện thời ở các nước Tây phương. Giáo Hoàng biết rất rơ rằng, trong thế kỷ tới, Gia-tô Giáo sẽ chỉ c̣n tồn tại ở các nước trong thế giới thứ ba. Từ bao giờ, Giatô Giáo chỉ nẩy nở trong đám dân chúng nghèo khổ và ít học. Tây phương phức tạp không c̣n tiếp nhận sự hẹp ḥi của Gia-tô Giáo nữa. Giáo Hoàng biết rơ như vậy." (In most European countries, secularism has already triumphed completely. In that region, organized religions – Catholic, Protestant and Jewish – are regarded as alike in their insistence to absolutes. They are considered to have little or nothing to contribute, therefore, to the current political, economic and cultural life of Western European countries… The Pope is well aware that, in the next century, catholicism has always flourised only in poor population of low educational quality. The sophisticated West can take Catholicism's narrowness no longer. The Pope realizes that.)
Malachi Martin là một nhà thần học sáng danh vào bậc nhất, đă từng là giáo sư của Viện Nghiên Cứu Thánh Kinh ngay tại Vatican, ắt hẳn không viết một cách vu vơ. Thực tế là, 70% số giáo dân Giatô hiện thời trên thế giới là dân ở Nam Mỹ, Châu Mỹ La Tinh, Châu Phi và Phi Luật Tân ở Á Châu. Mức sống kinh tế của số dân này ra sao, và tŕnh độ học vấn ra sao, chắc chúng ta cũng đều đă biết. Cho nên, chúng ta không lấy ǵ làm ngạc nhiên về phần lớn các cuộc công du của John Paul II là nhắm vào thế giới thứ ba, ve vuốt thú nhận một cách mơ hồ những lỗi lầm của Giáo hội trong quá khứ và tạ tội với một số dân tộc trong thế giới thứ ba, mong họ hăy quên đi quá khứ, hăy quên đi những bất hạnh mà Gia-tô giáo đă mang tới cho dân tộc họ, hăy quên đi chủ trương tiêu diệt nền văn hóa cổ truyền địa phương để thay vào đó bằng một nền văn hóa hẹp ḥi tàn độc của một tôn giáo Tây phương. Và đặc biệt đối với Việt Nam, lợi dụng khối người Gia-tô chống cộng lưu vong, ngài đă "khuấy động" ảo tưởng về một viễn tưởng lật ngược thế cờ ở Việt Nam giống như ở Ba Lan, nơi mà 90% dân số theo Gia-tô Giáo, nhưng quên rằng hơn 90% dân Việt Nam là phi Gia-tô, và người Việt Nam vẫn chưa quên vai tṛ của người Gia-tô Việt Nam trong thời Pháp thuộc, trong thời kháng chiến, và dưới thời Ngô Đ́nh Diệm ở miền Nam. Ngài không có hi vọng ǵ ở các nước văn minh tiến bộ, v́ nơi đây dân trí cao, tín đồ không c̣n quỳ xuống hôn chân "Đức Thánh Cha" nữa mà trực diện chất vấn John Paul II về những giáo lư đi ngược thời gian, không phù hợp với thực trạng xă hội.
Đoạn sau đây trong cuốn Cry of the People của Penny Lernoux sẽ làm sáng tỏ phần nào quan điểm của Malachi Martin: "Từ lúc đầu, xă hội Mỹ La Tinh được xây dựng giống như một Kim Tự Tháp, với vài người Âu Châu đến định cư và hưởng mọi quyền lợi của đế quốc, và quần chúng thổ dân, da đen, giai cấp thấp, không có một quyền nào. Cái tháp tồn tại được là v́ khối nhân dân ở dưới đáy được nhắc nhở rằng họ ngu si, lười biếng, và thấp kém. Những nhà truyền giáo ngoại quốc góp phần nhồi vào óc dân bản xứ ư tưởng là họ nghèo và ngu dốt là do ư muốn của Thần Gia-tô. Như Tổng giám mục ở Lima bảo các thổ dân rằng: "Nghèo khổ là con đường chắc chắn nhất đi tới hạnh phúc." Người thổ dân nào hay dân Phi Châu nào mà liều lĩnh nghi ngờ điều dạy khôn ngoan đó bằng cách chống lại hệ thống đều bị giết ngay… Giáo hội Gia-tô phải gánh rất nhiều trách nhiệm về t́nh trạng này. Giống như những kẻ chiến thắng Tây Ban Nha trong thế kỷ 16, hầu hết các nhà truyền giáo Âu Châu tới Châu Mỹ La Tinh tự coi như là những kẻ mang những văn hóa cao hơn nền văn hóa của dân tộc bản xứ nhiều. Những nhà truyền giáo ít quan tâm đến việc ḥa nhập với các thổ dân Phi Châu mà chỉ muốn thuần phục họ vào những cấu trúc của tôn giáo Âu Châu". (From the beginning, Latin-American society was constructed like a pyramid, with a few Europeans settlers enjoying all the privileges of empire and a mass of Indians, blacks, and half-castes having no rights at all. The pyramid survived because the mass at the bottom was repeatedly told that it was stupid, lazy, and inferior. Foreign missionaries helped drum these ideas into the native's heads by claiming that it was God's will that they should be poor and ignorant. As the Archbishop of Lima told his Indians: "Poverty is the most certain road to felicity." Any Indian or African who had the temerity to doubt such wisdom by rebelling against the system was promtly put to death… The Catholic Church must accept a lot of the blame for this situation. Like the conquistadors, most of the European missionaries who came to Latin – America saw themselves as bearers of cultures vastly superior to those of the natives. The missionaries were less interested in integrating the Indians and Africans than on subjugating them to the European religious structures.) Đọc đoạn trên không biết có đọc giả nào thấy nó khá quen thuộc với những việc đă xảy ra trong một giai đoạn lịch sử Việt Nam không nhỉ?
Và, sau đây là nhận xét của một số học giả và linh mục Gia-tô về cùng vấn đề: Trong cuốn Freedom's Foe – The Vatican (Vatican: Thù nghịch Của Tự Do), Adrian Pigott viết như sau: "Những người theo đạo Giatô La Mă thực t́nh ngạc nhiên khi họ thấy rằng đồng bào của họ thường nghi ngờ họ. Có vẻ như họ không ư thức được rằng, nếu họ chọn để bước trong đoàn quân của Giáo Hoàng, họ phải chấp nhận những hậu quả. Những tướng lănh của họ (các giám mục) và vị chỉ huy tối cao của họ (Giáo Hoàng), quan tâm thiết yếu đến sự an sinh của Vatican hơn là sự an sinh của nhân loại. Chẳng trách là những giáo dân Giatô La Mă không được biết đến trong số người thông minh và tiến bộ; họ không thể trở thành những công dân hạng nhất v́ sự trung thành nước đôi này. Thật là không được công bằng khi ta trách cứ cá nhân Giatô La Mă là vô t́nh họ đă làm hại tới sự tiến bộ của nhân loại. Họ được nuôi nấng trong cái mà Tiến Sĩ Barnado gọi là "Bóng tối dày đặc của Ư thức hệ La Mă"… Thất học luôn luôn thịnh hành trong các nước theo Giatô La Mă giáo - nhờ đó mà tập đoàn Giáo sĩ có thể nảy nở." (Roman Catholics are often genuinely surprised to find that they are frequently regarded with suspicion by their fellow citizens. They do not seem to realize that, if they elect to march in the papal army, they must expect to receive the consequences. Their Generals (the bishops) and their Commander-in-Chief (the pope), concentrate upon the welfare of the Vatican rather upon the welfare of mankind. No wonder that Romanists are unpopular with progressive and intelligent people; they cannot become first-class citizens owing to their dual allegiance… It is unfair to blame individual Roman Catholic for being (unconsciously) detrimental to human progress. They have been brought up in what Dr. Barnado called "The thick darkness of Romanism" .. Illiteracy is always prevalent in Romanist countries – to enable Priestcraft to flourish.)
Cha Joseph McCabe, trong cuốn Rome Puts a Blight on Culture (La Mă ï hủy hoại Văn Hóa) đă viết như sau: "Nếu chúng ta đồng ư dân chủ là một dạng chính trị lư tưởng th́ chúng ta cũng phải đồng ư là giáo dục quần chúng để họ suy nghĩ với óc phê phán và t́m hiểu một cách không hạn chế là con đường duy nhất để cho họ có những hành động thỏa đáng. Luật lệ của Giáo Hội Giatô trái ngược hẳn lại. Giáo dân không được t́m hiểu ngoài tín ngưỡng của ḿnh và không được có đầu óc phê phán ngay cả trong phạm vi tín ngưỡng của họ". (If we are agreed that democracy is the ideal political form, we agree also to teach all people to think critically and inquire without restriction is the only way to get it to work satisfactorily. The law of the Catholic Church is just the opposite. You must not inquire outside your own creed and you must not think critically even within its range.) Cha McCabe đă để ra nguyên một chương để phân tích ảnh hưởng của Giatô Giáo La Mă trên các nền văn hóa, đưa ra rất nhiều thống kê ở nhiều nơi trên hoàn cầu và kết luận: "La Mă chỉ khoái những kẻ thất học. Họ bị thuyết phục quá dễ dàng để đi thiêu sống các kẻ "tà đạo" và hôn hít những thánh tích giả tạo." (Rome loves the illiterate. They are so easily persuaded to burn "heretics" and kiss bogus relics.)
Trong cuốn Crime and Immorality in the Catholic Church (Tội Ác và Vô Luân trong Giáo Hội Gia-tô) Cha Emmett McLoughlin cũng viết như sau: "Với kinh nghiệm của tôi trong hệ thống giáo dục Giatô, với 15 năm làm linh mục, và 13 năm thường xuyên quan sát và tích cực nghiên cứu sau khi rời khỏi Giáo hội, ḷng xác tín thành thật và quan niệm vững chắc của tôi là, ảnh hưởng của Giatô trên mọi nền văn minh thật quá nhiều xấu hơn là tốt. Về phương diện trí thức, Giáo Hội La Mă đă làm hết sức để bóp nghẹt đầu óc con người và làm nghẹt mọi sáng kiến. Giáo hội phải làm như vậy nếu muốn sống c̣n. Không một người nào có đầu óc suy nghĩ, thông minh, biết rơ về những sự kiện lịch sử, đặc biệt là một người Mỹ yêu tự do, lại có thể trở thành hoặc vẫn c̣n là tín đồ của Giatô La Mă." (It is my contention and my sincere conviction, from my experience in the Catholic educational system, my life of 15 years in the pries thood, and 13 years of constant observation and intense study since leaving the Church, that its influence on all civilization has been far more evil than of good. Intellectually the Church of Rome has done its best to strangle the human mind and stiffle mental initiative. It must do this if it is to survive. No thinking, intelligent, historically studious person, especially a freedom-loving American, can become or remain a Roman Catholic.)
Cùng một ư tưởng, trong bài “Phật giáo và Người Việt Nam Hiện Đại”, Như Hạnh chuyển ngữ, Tiến Sĩ J.C.Cleary, tốt nghiệp đại học Harvard về Ngôn Ngữ và Văn Minh Đông Phương, cũng viết như sau: “Người Việt Nam hẳn sẽ ngạc nhiên khi khám phá ra rằng đối với những người Tây Phương có đầu óc tiến bộ, chính Thiên Chúa Giáo mới là một mớ huyền thoại lỗi thời, mê tín dị đoan, và những nghi lễ vô nghĩa lư. Người Tây Phương thừa hiểu rằng, chẳng có mấy người đầu óc tiến bộ mà lại tin nơi Thiên Chúa Giáo. Những ai có kiến thức về lịch sử Âu Châu đều biết rằng, Giáo Hội Giatô La Mă đă làm đủ cách trong quyền lực của họ để ngăn chặn sự phát triển của khoa học cũng như lối sống và suy nghĩ mới. Ở Mỹ hiện nay, những tín đồ Thiên Chúa Giáo cực đoan là những kẻ đứng đầu trên giới tuyến chống lại các tạp quán mới và thế giới khoa học. Do đó trong tâm thức Tây Phương, Thiên Chúa Giáo được gắn liền với một thứ chủ nghĩa truyền thống lạc hậu, một thứ nuối tiếc thời đă qua. Ở Tây Phương, phần đông các tín đồ Thiên Chúa sùng tín thường là những kẻ ít học nhất, những thành phần thấp, kém kinh tế trong quần chúng, những kẻ chẳng c̣n có ǵ để trông ngóng nữa cả”. Và, cách đây gần 100 năm, Toàn Quyền Đông Dương J.L.de Lanessan, trong cuốn Les Missions et leur Protectorat, trích dẫn bởi Patrick J.N.Tuck, cũng viết về thực trạng truyền giáo tại Á Đông như sau: “Thật ra, trong hơn 2 thế kỷ mà các hội truyền giáo Giatô hoạt động ở Trung Hoa và bán đảo Đông Dương có lẽ họ không cải tạo được quá 10 học giả. Toàn thể giới cầm quyền có học của dân chúng đă tránh né sự truyền đạo của họ. Đại cương th́ các nhà truyền giáo chỉ tuyển mộ được tín đồ trong những giai cấp thấp nhất, và phần lớn là những kẻ, v́ lư do này hay lư do khác, đă bị xă hội An - Nam ruồng bỏ.” (In fact during the two centuries and more that the Catholic Missions have been operating in China and the Indochinese peninsula they have probably not converted more than ten scholars in all. The entire educated and governing class of the population has evaded their proselytism. In general Catholic missionaries only recruit from among the lowest classes, and mainly among those who, for various reasons have been rejected by Annamese society.)
Trên đây chỉ là vài tài liệu để chứng minh rằng, nhận xét của nhà thần học Giatô lỗi lạc Malachi Martin không sai. Và bây giờ chúng ta đă hiểu là tại sao Ṭa Thánh Vatican lại chống Hội Nghị về Dân Số vừa qua ở Ai Cập. Động cơ chống không nằm nơi đạo đức mà nằm nơi số con chiên ở các nước trong thế giới thứ ba và quyền lực áp đặt trên số này. Những người sống trên nhung lụa, ăn sung mặc sướng ở Vatican, làm sao có thể thông cảm được với những kẻ khốn cùng trong các xă hội nghèo khổ. Trong cuốn Vicars of Christ (Đại diện của Kitô), Peter de Rosa đă viết: “Những người mặc quần áo lụa tía, sống trong lâu đài, ngồi trên ngai - thật khó có thể hành động như là những kẻ phục vụ cho những kẻ phục vụ Thần Giatô hoặc đại diện cho cái Người Nghèo ở Nazareth đối với những người nghèo đói trong thế giới.” (Those who dress in purple silk, live in palaces, sit on thrones – it is not easy for them to act as servants of the servants of God or to represent the Poor Man of Nazareth to the poor and starving of the world.) Những kẻ phục vụ Thần Giatô là tín đồ, và Người Nghèo ở Nazareth chính là Giêsu. Trong các xă hội này, sinh đẻ bừa băi không hạn chế sẽ đưa đến cảnh cả triệu trẻ em chết về thiếu dinh dưỡng, bệnh tật v.v... Cái tội này ai ra đó mà gánh vác? Hay là quy cho ư muốn của Thần Giatô v́ Thần có những hành động bí hiểm mà con người không thể hiểu được (God acts in a mysterious way that man cannot possibly understand) theo như niềm tin của một số người khuyết tật, trong óc thiếu hẳn một số lớn tế bào thần kinh (neurons)?
2. Nguyên nhân thứ nh́ là, phong trào tranh đấu của các giáo hội Giatô địa phương để được độc lập, không chịu quyền thống trị tư tưởng cũng như vật chất của Vatican càng ngày càng lên cao. Phong trào này đă bắt đầu từ nhiều thế kỷ và bộc phát trong thập niên 1960 với phong trào “Thần Học Giải Phóng” xuất phát từ Châu Mỹ La Tinh và lan sang Phi Châu cùng Á Châu. Trong lịch sử Giáo Hội Giatô, ngay từ thế kỷ thứ 17 nhiều giáo hội Giatô địa phương đă phủ nhận quyền lực của Giáo Hoàng. Phong trào Ga-Li-can (Gallicanism) ở Pháp là một phong trào của những giáo sĩ Giatô Pháp đ̣i hỏi giới hạn quyền hành của Giáo Hoàng và các giáo hội địa phương được tự trị về hành chánh. Giáo hội Ga-Li-can Pháp là một giáo hội quốc gia (hay quốc doanh?) công nhận Giáo Hoàng nhưng phủ nhận tín điều “Giáo Hoàng không thể sai lầm” và quyền lực trung ương của Giatô La Mă. (French Gallicanism was a national church which acknow-ledged the pope but denied papal infallibility and central authority.)
Năm 1790, quốc hội Pháp bác bỏ đề nghị coi Giatô Giáo là Quốc Giáo dù hơn 80% dân Pháp theo Giatô Giáo. Trong cuốn The Papacy and the Modern World (Giáo Hoàng Triều và Thế Giới Hiện Đại), Karl Otmar von Aretin viết rằng: “Sự nổi lên của các giáo hội quốc gia là vấn đề đe dọa quyền lănh đạo tinh thần tối cao của các Giáo Hoàng trong thế kỷ thứ 18. Ở La Mă không có ǵ bị chống đối một cách quyết liệt như là những khuynh hướng thành lập giáo hội quốc gia trong thế kỷ thứ 19, ngay cả tới ngày nay, La Mă coi khuynh hướng tự do như là kẻ thù lớn nhất của Giáo hội La Mă.” (The emergence of national churches was the problem threatening the spiritual of the popes in the eightenth century. In Rome nothing met with such relentlessly thorough opposition as the 19th century national church tendencies, while to this day liberalism is seen by Rome as the greatest enemy of the Catholic Church.)
Trong chương “What Catholicism Has Done To Catholics” (Giatô Giáo Đă Làm Những Ǵ Cho Người Giatô), Cha Emmett McLoughlin viết như sau: “Trào lưu Cải Cách của Luther trong thế kỷ 16 chỉ là cao điểm thắng lợi của nhiều thế kỷ tranh đấu của hàng triệu người thực t́nh bất đồng ư với những đạo đức cũng như giáo lư của La Mă. Nếu hoàn cảnh chưa chín mùi để nổi dậy, phong trào cải cách của Luther và nhiều người khác không thể lan rộng một cách nhanh chóng như vậy trong các quốc gia cấp tiến ở Âu Châu. Tất cả các dân tộc này đều theo Giatô La Mă nhưng họ không chấp nhận tội ác và vô luân của La Mă, của Giáo Hoàng và giáo sĩ đoàn. Không phải chỉ v́ ngẫu nhiên mà những dân tộc Kitô Giáo đó, sau khi đă phủ nhận La Mă, đă trở thành và vẫn c̣n là những dân tộc đạo đức và tôn trọng luật pháp nhất trên thế giới: Na Uy, Thụy Điển, Aùi Nhỉ Lan, Đan Mạch, Phần Lan, Anh Quốc, Tô Cách Lan và Thụy Sĩ, họ đă hiểu được là, hăy tin tưởng vào Thần Giatô, vào ư chí của chính họ, chứ không phải là tin tưởng vào sự xưng tội, luyện ngục, xá tội, tràng hạt, mề đay và các thứ tương tự”. (Luther’s Reformation in the 16th century was merely the successful climax of centuries of struggle of sincere millions who disagreed as much with the morals of Rome as they did with its doctrine. If the soil were not ripe for revolt, the Reformation movement of Lutherans... and others could not have spread so rapidly through the most progressive nations of Europe. All of these peoples were Roman Catholics rejecting the crime and immorality of Rome, its pope and its clergy. It is more than a coincidence that the Christian peoples that rejected Rome became and still are the most moral and lawabiding in the world. Norway, Sweden, Iceland, Denmark, Finland, England, Scotland and Switzerland... They have learned to rely on God and their own will power, and not on confession, purgatory, indulgences, rosaries, medals and the like.)
Và, trong cuốn American Freedom and Catholic Power (Tự Do Của Hoa Kỳ và Quyền Lực Giatô), Paul Blanshard cũng cổ súy việc Giáo hội Giatô Mỹ độc lập với Vatican như sau: “Điều quan trọng là phải phân biệt giữa những tín đồ Giatô Mỹ và những linh mục của họ bị La Mă kiểm soát. Người Giatô Mỹ chiến đấu và chết cho cùng một quan niệm về tự do như những người Mỹ khác; họ tin vào cùng những lư tưởng căn bản về dân chủ. Nếu họ có thể kiểm soát được giáo hội của họ, th́ vấn đề Giatô sẽ biến đi ngay v́, trong bầu không khí tự do của Mỹ, họ sẽ điều chỉnh những đường lối của Giáo hội theo những thực tế của Mỹ. Bất hạnh thay, dân Giatô ở Hiệp Chủng Quốc không phải là những công dân mà là những “thuộc hạ” trong đoàn thể giáo dân của chính họ. Đường lối sống đạo và sống đời của giáo hội họ đều được quy định ở La Mă, một tổ chức xa lạ với họ về tinh thần và sự điều khiển. Người Giatô Mỹ không được quyền chọn lựa đại diện của họ, ở địa phương của chính họ hay là ở cấp lănh đạo tại La Mă; và v́ cấu trúc độc đoán của giáo hội, họ bị bắt buộc chấp nhận những chính sách về đạo cũng như đời áp đặt trên họ từ nước ngoài.” (It is important, therefore, to distinguish between the American Catholic people and their Roman-controlled priests. The Catholic people of the United States fight and die for the same concept of freedom as do other true Americans; they believe in the same fundamental ideals of democracy. If they controlled their own Church, the Catholic problem would soon disappear because, in the atmosphere of American freedom, they would adjust their Church’s policies to American realities. Unfortunately, the Catholic people of the United States are not citizens but “subjects” in their own religious commonwealth. The secular as well as the religious policies of their Church are made in Rome by an organization that is alien in spirit and control. The American Catholic people themselves have no representatives of their own choosing either in their own local hierarchy or in the Roman high command; and thy are compelled by the very nature of their Church’s authoritarian structure to accept nonreligious as well as religious policies that have been imposed upon them from abroad.) Paul Blanshard xuất bản cuốn sách trên năm 1949 và từ đó ư thức về một giáo hội quốc gia tại Mỹ càng ngày càng lên cao, và trong thực tế th́ dân chúng Mỹ càng ngày càng bất chấp những lệnh của Vatican, công khai chống đối Vatican trên nhiều địa hạt. Điều này thể hiện trên những thống kê về phản ứng của dân Giatô Mỹ trước những giáo điều xuất phát từ Vatican và trước những biện pháp độc tài của Vatican đối với những vị lănh đạo Giatô Mỹ. Điển h́nh là vụ Vatican trừng phạt Tổng Giám Mục Raymond Hunthausen ở giáo phận Seattle năm 1985 v́ không đồng ư với Vatican, đă khiến trong số những giáo dân bày tỏ ư kiến về vụ này th́ 99% ủng hộ Tổng Giám Mục Hunthausen, với 13.000 chữ kư phản đối sự bất công của Vatican, và 90% trong số 280 linh mục trong giáo phận Seattle làm kiến nghị phản đối Vatican làm cho Vatican phải phục quyền cho Tổng Giám Mục Hunthausen.
Vụ điển h́nh thứ hai là trường hợp Linh Mục Charles E. Curran, giáo sư thần học tại Đại Học Giatô Hoa Kỳ (Catholic University of American) đă bị Vatican cất chức năm 1967 v́ không đồng ư với những giáo điều liên hệ tới vấn đề ngừa thai và nhiều vấn đề xă hội khác của Vatican. Sinh viên phản đối, và 400 trong số 418 đồng nghiệp của cha Curran bỏ phiếu đồng ư băi khóa cho tới khi Cha Curran được phục chức. Cuộc băi khóa kéo dài 3 ngày, nhà trường phải không những phục hồi mà c̣n hứa sẽ thăng chức cho Cha Curran lên giáo sư diễn giảng. Nhưng Vatican thù dai, tháng 8 năm 1976, nghĩa là 9 năm sau, Cha Curran không được phép dạy môn “thần học về đạo đức” (moral theology) tuy vẫn ở chức vụ giáo sư và được phép dạy môn khác nếu thích hợp. (Xin đọc cuốn The Pope and the Mavericks (Giáo Hoàng và những người lạc đạo) của Louis Baldwin). Có lẽ người Giatô Việt Nam nên học kinh nghiệm của các nước ở Bắc Âu và các nước tân tiến như Anh, Pháp, Mỹ về tinh thần quốc gia và độc lập, nếu muốn có một chỗ đứng vững vàng trong ḷng đại khối dân tộc Việt Nam.
Bây giờ chúng ta hăy trở lại đề tài “Thần Học Giải Phóng”. Cụm từ này làm cho nhiều người Giatô cũng như phi Giatô ngỡ ngàng. Người ta thường nói tới giải phóng nô lệ, giải phóng con người khỏi ách thống trị, khỏi cảnh áp bức độc tài, v.v... chứ ít ai nghe tới Thần Học Giải Phóng. Trong Giatô Giáo La Mă, Thần Học là một môn học đặc thù thâu tóm một cách có hệ thống những suy tư, diễn giải về đức tin Thần Giatô và những uẩn hàm (implications) của đức tin này. Những người chuyên về ngành học này, thường là ở Âu Châu, được huấn luyện để trở thành những nhà thần học, những cán bộ chỉ đạo của Giatô giáo để luận về những chủ đề đặc thù của Giatô Giáo như Thần, Sự Sáng Tạo, Giêsu, Giáo Hội, Ân Sủng, Bí Tích, Tín Lư, v.v... Và theo truyền thống dân chủ tự do đặc biệt của Vatican th́ bất cứ một sự diễn giải thần học nào mà không phù hợp 100% với sự diễn giải của Vatican th́ đều bị cấm phổ biến, và tác giả sẽ phải chịu những biện pháp trừng phạt của Vatican để kéo họ trở lại “chánh đạo”. V́ vậy mới có thành ngữ “Roma locuta, causa finita” (La Mă đă nói lên ư kiến, vấn đề đă giải quyết). Nhưng thành ngữ cổ lỗ này đă trở thành lạc hậu và ngày nay không c̣n áp dụng được nữa. V́ ngày nay thần học không c̣n là đặc quyền của La Mă mà người ta thấy xuất hiện nào là “thần học giải phóng”, “thần học của phái nữ”, “thần học của dân da đen”, “thần học của Á Châu”, v.v... Nhưng cụm từ “thần học giải phóng” có một ư nghĩa đặc biệt v́ đó là một phong trào giải phóng con người khỏi những sự áp đặt một chiều và vô nghĩa lư của Vatican. Từ đâu nảy sinh ra phong trào “thần học giải phóng”? Như trên đă nói, thần học giải phóng phát xuất từ châu Mỹ La Tinh trong thập niên 1960 và lan sang Phi Châu và Á Châu. Có vài lư do chính như sau: 1. Từ khi bắt đầu xuất hiện ở Tân Thế Giới, Giáo hội Giatô La Mă đă giúp một phần trong việc chinh phục các thổ dân bằng nỗ lực của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, và áp đặt nên thuộc địa trên vùng đất này. 2. Giáo hội Giatô nói một đàng, làm một nẻo. Thánh kinh dạy phải phục vụ người nghèo nhưng giáo hội luôn luôn thi hành chính sách giành dân chiếm đất, vơ vét của cải. Điều này thật rơ ràng qua lời than vô cùng ư nhị của Mục sư Desmond Tutu, người đă đoạt giải Nobel về Ḥa b́nh năm 1984: “Chúng tôi có đất đai và họ tới với cuốn Thánh Kinh của họ. Chúng tôi tin họ, cầm cuốn Thánh Kinh trên tay, nhắm mắt cầu nguyện. Khi chúng tôi mở mắt ra th́ chúng tôi có cuốn Thánh Kinh vàø họ có đất đai của chúng tôi.” (We have our lands and they came with their Bible. We believed in them and we pray with the Bible in our hands and our eyes closed. When we open our eyes, we have the Bible and they have our lands.) 3. Giáo hội Giatô là một tổ chức dựa vào luật lệ tôn giáo, chuyên chế, độc quyền giải thích Thánh Kinh, đặt ra những luật lệ không phù hợp với dân tộc tính địa phương và áp đặt những luật lệ này trên khối tín đồ thiếu hiểu biết. V́ những lư do chính yếu trên mà phong trào thần học giải phóng ra đời. Danh từ giải phóng nói lên ư nghĩa của mục đích giải phóng con người khỏi những bất công của xă hội, khỏi những áp bức của khối thống trị, về tư tưởng cũng như về vật chất, khỏi những ảnh hưởng của ngoại lai. Cho nên, thần học giải phóng là cách diễn giải đức tin Thần Giatô theo kinh nghiệm của dân nghèo, t́m hiểu Thánh Kinh và các giáo lư Giatô theo quan điểm của dân nghèo. Con người sinh ra không phải ngẫu nhiên nghèo hay v́ thần Giatô muốn vậy, mà phần lớn v́ tổ chức xă hội. Do đó thần học giải phóng lên án cái cấu trúc kinh tế ở Châu Mỹ La Tinh dung dưỡng một thiểu số đi máy bay sang Miami hay Luân Đôn sắm đồ trong khi đa số dân chúng không có đủ nước lành để uống. “Đặc biệt là những nhà thần học giải phóng lên án ư thức hệ tôn giáo dung dưỡng những sự bất công biểu hiện bởi những hành động khủng bố, tra tấn dân lành của các nhà độc tài quân phiệt với lư do bảo vệ cái mà họ thường ưa thích gọi là “Nền Văn Minh Kitô Giáo Tây phương”. “Những dân nghèo, không phải là da trắng, và phái nữ đang t́m thấy ư nghĩa mới trong niềm tin Kitô và cùng lúc phơi bày những sự thiếu sót trong cách tŕnh bày đức tin này của những người da trắng Tây phương. Thần học giải phóng là một tuyên ngôn khẳng định sự độc lập về văn hóa và tri thức”. (The poor, nonwhites, and women are finding new meaning in Christian faith as revealing the short comings of interpretation made by Western males. Liberation theology is a kind of declaration of Cultural and Intellectual Independence. ‘Ibid.’)
Tương tự trong cuốn A Vision of Hope: The Churches and Change in Latin America (Một Viễn Tượng của Hy Vọng: Giáo hội và Sự thay đổi ở Châu Mỹ - La Tinh), Trevor Beeson & Jenny Pearce cũng viết như sau: “ Đó không phải là một môn thần học mới, mà là cách mới để khảo sát về thần học trong phạm trù Châu Mỹ La Tinh – nghĩa là trong phạm trù tranh đấu giải phóng. Sự kiện chính yếu là trong phạm trù tranh đấu giải phóng. Sự kiện chính yếu là trên khắp lục địa ngày càng có nhiều người Kitô Giáo tham gia cuộc đấu tranh cho sự giải phóng chính trị, xă hội, kinh tế, văn hoá và tinh thần dân tộc họ.”(It is not “a new theology” which has been discovered, but “a new way of doing theology” in the Latin America context – in the context, that is, of the struggle for liberation. The primary fact is growing number in the struggle for the political, social, economic, cultural and spiritual liberation of their people).
Trong phong trào THGP có những bộ óc thượng thặng Giatô như Gustavo Gutíerrez, Juan Luis Segundo, Leonardo Boff … và những thần học nổi tiếng đă góp phần tích cực trong Cộng Đồng Vatican II như Karl Rahner, Edward Schilebeeckx, Hans Kung … Trong số này th́ Hans Kung và Leonardo Boff nổi tiếng hơn cả, nổi tiếng v́ Vatican đă dùng mọi quyền lực để t́m cách “khoá miệng” hai vị này. Đại cương th́ luận cứ của Hans Kung, một giáo sư thần học người Đức nổi tiếng ở Châu Âu, như sau: Đọc Tân Ước, người ta thấy rơ ràng là chính Giêsu không có thành lập một giáo hội, nhưng đời sống và cái chết của Người đă đưa tới một phong trào mà theo thời gian đă trở thành một tổ chức đầy luật lệ (giáo hội). Nếu sự tổ chức giáo hội ngày nay, với những chức sắc như giám mục và linh mục, không được dẫn xuất từ chính ư của chúa Giêsu, th́ có thể có nhiều h́nh thức khác nhau. Thí dụ, việc loại phái nữ ra khỏi những chức quyền trong giáo hội không có một căn bản nào từ Thánh Kinh. Ngoài ra, Hans Kung và nhiều nhà thần học khác, thí dụ như Edward Schillebeeckx, đă chỉ trích giáo điều “bất khả sai lầm” (infaillibility) của Giáo Hoàng, cho rằng giáo điều này không dựa trên bất cứ căn bản nào ở trong Thánh Kinh và chỉ được xây dựng trên một sự hiểu biết thiếu sót về chân lư. Hans Kung đặt vấn đề: ngừa thai có phải là một chủ đề thích hợp để đưa ra một giáo điều không? Giáo Hoàng có đủ tư cách xứng đáng (competent) để diễn giải một định luật thiên nhiên (natural law) hay không? GH thật sự có quyền đơn phương đưa ra một giáo điều mà không cần sự đồng ư của hội đồng giám mục không?” và Kung đưa ra kết luận “Giáo hội càng tỏ ra quyền hành bao nhiêu th́ càng đưa tới sự chia rẽ nội bộ bấy nhiêu”. Những tư tưởng này dĩ nhiên đe dọa quyền của toàn thể hệ thống giáo hội La Mă, ít nhất là trên quan điểm của La Mă. Cho nên chúng ta không lấy làm lạ khi Vantican tuyên bố là Hans Kung không được dạy giáo lư Giatô nữa và cấm các trường Giatô mời ông làm giáo sư. Tuy nhiên, rất nhiều nhà thần học thần học đang dạy trong các đại học Giatô đồng ư với Hans Kung. (Xin đọc Liberation Theology của Philip Berryman và The Pope and the Maverichkas của Louis Baldwin).
Nhà thần học Ba Tây, Leonardo Boff, có viết về một cuốn sách nhan đề “Church: Charisma and Power” nổi tiếng hoàn cầu. Nổi tiếng v́ không những Cha Boff quan niệm giáo hội phải là giáo hội của dân nghèo, mà ngài c̣n chỉ trích cái cấu trúc độc đoán của Vatican, và nhất là, ngài đưa ra vấn đề nhân quyền ngay trong nội bộ giáo hội. Boff đă viết một đoạn dài để so sánh từng điểm một giữa kiểu cai trị của điện Cẩm Linh (Kremlin) và Vatican, so sánh GH với Tổng Thư Kư đảng Cộng sản, cơ quan hành chánh Trung Ương La Mă với bộ chính trị của Liên Bang Sô Viết. Lẽ dĩ nhiên, Vatican cũng t́m cách khoá miệng Leonardo Boff và cấm Cha Boff không được phát biểu ư kiến, không được viết sách …. Nhưng trước sự đồng ḷng phản đối của giới lănh đạo Giatô trên thế giới, nhất là ở Ba Tây, sau một thời gian ngắn Vatican đành phải huỷ bỏ cái lệnh mang tính chất Trung Cổ kia đi (Xin đọc The Silencing of Leonardo Boff (Bịt miệng Leonardo Boff) của Harvey Cox). Có lẽ chúng ta cũng nên biết tổ chức quyền hành của giáo hội Giatô La Mă ra sao. Tổ chức này được Cha Leonardo Boff mô tả khá kỹ như sau: “Cấu trúc quyền lực trong giáo hội ngày nay là vay mượn từ những khuôn mẫu của nhiều thế kỷ trước, và có hai khuôn mẫu đặc biệt đáng nói tới: kinh nghiệm đối với quyền lực La Mă và cấu trúc phong kiến. Tuy nhiên quyền lực La Mă trong giáo hội ngày nay là một trong những nguồn xung đột chính với sự thức tỉnh của tâm thức con người về vấn đề nhân quyền. Đặc tính quyền lực phong kiến La Mă là, thứ nhất, một hệ thống bao cấp riêng biệt; thứ nh́, bản chất hệ thống này là phục vụ cá nhân. Người nào ở trong địa vị quyền hành th́ ở đó suốt đời; ư muốn của họ là luật trong cấp của họ nhưng luôn luôn bị ràng buộc bởi sự tuân phục của cấp trên. Thứ ba, đó là một hệ thống thiêng liêng mênh mông. Nói cách khác, tính hợp pháp của hệ thống này không do từ dưới mà là từ trên xuống, từ ư muốn của Thần Giatô. Trong hệ thống này, người nào càng ở cấp cao bao nhiêu th́ càng gần Thần Giatô bấy nhiêu và càng được Thần chia xẻ cho nhiều Thần quyền bấy nhiêu. Tuân phục cấp trên có nghĩa là tuân phục Thần, do đó sự tuân phục là một giáo luật. Thứ tư, chế độ quyền lực này bất khả xâm phạm và không cho phép một sự chỉ trích nội bộ nào. Chỉ có cấp trên mới có quyền chỉ trích. Một thắc mắt của cấp dưới được coi như là tương đương với một cuộc cách mạng trong vũ trụ. Do đó, bất cứ ư kiến đề nghị thay đổi nào cũng được coi như là một h́nh thức đả phá Thần Giatô, tác giả của hệ thống và của cấu trúc quyền lực thiêng liêng.” Trong khi ở các nước văn minh tiến bộ, hệ thống quyền lực mô tả ở trên không c̣n đất dụng vơ, th́ bất hạnh thay ở một số quốc gia chậm tiến thề giới thứ ba, hệ thống quyền lực trên vẫn đươc duy tŕ v́ dân trí nơi đây chưa được phát triển, vẫn c̣n tin ở chuyện hoang đường, thí dụ như chỉ có GH và Ṭa thánh Vatican mới có quyền cho phép con người hiệp thông thần với Thần Giatô, v́ đó là những người ở gần Thần nhất, được sự mặc khải của Thần, và được quyền thay Thần để quyết định ai được lên Thiêng Đàng, ai không.
Nói tóm lại, phong trào giáo hội quốc gia độc lập và phong trào THGP đă nói lên điểm chính yếu: không có lư do nào mà các dân tộc ở Châu Mỹ La Tinh, ở Trung Mỹ, ở Châu Phi và ở Á Châu phải chấp nhận giáo quyền của Vatican có thực sự thông minh và đạo đức hơn những người ở trong thế giới thứ ba không, nếu chúng ta xét tới lịch sử của giáo hội Giatô, của các Giáo Hoàng, với những cuộc thánh chiến, với những Ṭa án xử dị giáo, và với sự kiện là sự kiện Ṭa Thánh phải mất 359 năm để thú nhận sai lầm về vụ xử oan Galileo? Mỗi nền văn hoá đều khá nhau. Không có một lư do nào mà các nền văn hoá Châu Mỹ La Tinh, Châu Phi và Á Châu phải rập theo khuôn của nền văn hoá Tây phương (Âu châu). Chấp nhận sự lệ thuộc vào văn hoá Tây Phương, bất kể dưới h́nh thức nào, cũng là biểu lộ óc nô lệ, thiếu tự tin của những người bản xứ thiếu tinh thần quốc gia nếu không muốn nói là phản bội quốc gia. Ư thức dân chủ càng ngày càng lên cao ở các quốc gia trong thế giới thứ ba, và ư thức dân chủ này cũng được áp dụng trong lănh vực tôn giáo, không chỉ thu hẹp trong phạm vi xă hội. Những ư thức hợp lư này đă đe doạ hệ thống quyền lực tôn giáo ở Vatican, nên Giáo Hoàng cần phải có phản ứng.
3. Nguyên nhân thứ ba là ngày càng có nhiều linh mục và giáo dân rời giáo hội Giatô La Mă. Nh́n vào số thống kê giáo dân của giáo hội th́ người ta không thấy ǵ v́ giáo hội chỉ tính những người rửa tội mà không tính những người bỏ đạo. Giáo hội quan niệm rằng “một khi đă là dân Giatô th́ sẽ măi măi là dân Giatô” (One a Catholic, always a Catholic). Tuy nhiên, kết quả khảo cứu của các nhà xă hội học Giatô qua phương pháp thâu thập dữ kiện, phân tích và dự phóng khoa học, đă đưa ra những con số rất đáng lo ngại đối với Vatican. Một thí dụ điển h́nh là trong cuốn Full Pews and Empty Altars ( Nhà thờ đầy bục giảng và trống trơn), kết quả công tŕnh nghiên cứu trong 6 năm của hai học giả xă hội học Richard Schonherr và Lawrence Young của đại học Wisconsin Madison, tác giả khuyến cáo đạo Giatô là: “Sự thiếu hụt linh mục ở Mỹ đang làm cho nền tảng của giáo hội Giatô La Mă sụp đổ” (The shortage of priests in the US is crumbling the foundation of the Roman Catholic Church) và đưa con số dự phóng: “từ năm 1966 tới năm 2005, con số linh mục sẽ giảm 40%, từ 35.000 xuống c̣n 21.000 trong khi GH vẫn giữ vững lập trường không cho phái nữ làm linh mục.” Điểm đặc biệt trong vụ này là, nguồn tài trợ cuộc nghiên cứu từ năm 1984 này lại do chính một cơ sở Giatô đài thọ, hăng dược phẩm Lilly. Nhưng năm 1990 khi các tác giả đưa ra kết quả của cuộc nghiên cứu th́ lập tức phần tài trợ cuối cùng bị cắt. Lư do?
Hồng y Tổng giám mục Los Angeles tuyên bố: “Chúng ta là đệ tử của Giêsu Kitô, chúng ta sống do ân huệ của Thần Giatô, và tương lai của chúng ta được xếp đặt bởi sự chỉ định của Thần cho giáo hội, chứ không bởi các nhà xă hội học”. Cardinal Archbishop Roger Mahony of Los Angeles said at the time: “we are disciples of Giêsu Christ, we live by God’s grace, and our furute is shaped by God’s design for his Church – not by sociologists”. Đó là tâm cảnh của một vị Hồng Y Giatô Mỹ, và đó cũng là thái độ của Giatô đối với khoa học hiện nay, trứơc ngưỡng cửa thế kỷ 21. Thật ra v́ kết quả nghiên cứu trên cũng không có ǵ đặc biệt v́ sự kiện các linh mục bỏ đạo đă trở nên trầm trọng từ lâu. Giáo Hoàng đă biết vậy và đang t́m cách lật ngược chiều hướng này bằng sự tuyển mộ và cầu nguyện (Pope JP II is trying to reverse thies trend primarily through recruitment and prayer). Trong cuốn Shattered Vows: Priests Who Leave (Lời nguyện bị tan vỡ: Những linh mục Mỹ bỏ đi). Tác giả David Rice là một ông Cha ḍng Đô – MI – Níc và ngài đă đi khắp nơi tổng cộng 38.000 miles để phỏng vấn và t́m hiểu đời sống của các linh mục sau khi bỏ giáo hội, đă viết như sau: “100.000 linh mục Giatô đă rời bỏ giáo hội trong 20 năm qua – cứ mỗi 2 giờ đồng hồ lại có hơn 1 linh mục ra đi. Hầu như phân nữa số linh mục Mỹ sẽ bỏ đi – thường là để lập gia đ́nh – chưa tới 25 năm sau khi được tấn phong. Vatican không nói tới cuộc di dân này, nhưng đó chính là cuộc khủng hoảng nghiêm trọng nhất mà giáo hội phải đối diện, kể từ khi có cuộc Cải Cách Tin Lành” (100.000 Roman Catholic Priests have walked out in the last 20 year – more than one than one every two hours. Almost half of all American priests will leave – most often, to marry – before the 25th anniversary of their ordination. The Vatican won’t told about this exodus, yet it is the most grievous crisis to face the Church since the Protestant Reformation.)
4. Nguyên nhân thứ tư là h́nh ảnh những x́ – căng – đan vang dội thế giới. Từ sự kư kết những thoả hiệp với Hitler và Mussolini trong thế chiến II cho tới những vụ tiền bạc thâm lạm ở nhà băng dính líu với Mafia, bao che tội phạm trong Vatican, làm thông hành giả cho tội phạm trong Vatican, làm thông hành giả cho tội phạm chiến tranh dùng đường dây chuột (ratlines) qua ngă Caritas ..v..v.. tất cả đă làm cho Giáo hội Giatô mất đi tính cách tôn giáo mà nặng nề về chính trị hoạt đầu. (Xin đọc The Vatican’s Holocaust (Ḷ Sát Sinh của Vatican) của Avro Manhattan. Genocide in Satellite Croatia, 1941- 1945 (Chính Sách Diệt Chủng ở Chư Hầu Croatia) của Edmond Paris. The Vatican Empire (Đế Quốc Vatican) của Nino Lo Bello, The Vatican Connection (Sự Dính Líu Của Vatican) của Richard Hammer, và Priests and Politicians (Linh Mục và Chính Trị Gia) của B.S.Rajneesh.)
Với chủ trương “cứu cánh biện minh cho phương tiện”, chỉ lo sự tồn vong của Vatican bất kể đạo đức và sự an sinh của nhân loại, giáo hội Giatô đang đi trên con đường tự hủy diệt. Trong thế giới tự do, với quyền báo chí hiện nay, với các phương tiện truyền thông tân kỳ, giáo hội Giatô không có cách ǵ che đậy hay dấu diếm những hoạt động của giáo hội. Ngoài ra, về phương diện đạo đức, vụ kiện 1,2 tỷ đô la (1.2 billion dollar lawsuit) liên hệ đến những lạm dụng phi luân trong một cô nhi viện ở Canada, trong đó các “sơ mặc áo xám” (graynuns) hành hạ trẻ em cho đến chết, và cố ư làm cho một số em bị tật nguyền (disabled), thí dụ như chọc thủng màng tai, để lănh của chính phủ $2.50 thay v́ 75 xu một ngày cho mỗi em khỏe mạnh b́nh thường, được phanh phui trong chương tŕnh Prime Time trên TV, và mới đây cuốn phim “The Boys of St.Vincent” (Những Em Nhỏ ở Cô Nhi Viện St. Vincent) nói về các vụ hành hạ và hiếp dâm các trẻ em trong cô nhi viện St. Vincent ở Newfoundland bên Canada đă làm cho quần chúng ghê tởm những hành động phi luân của các giáo sĩ và nhất là sự bao che của giáo hội cho những kẻ phạm pháp. Nhưng mang tiếng hơn cả là hơn 400 linh mục phạm tội hiếp dâm nữ tín đồ và trẻ em được giáo hội bỏ ra hơn 400 triệu đô la để dàn xếp ngoài ṭa cho mọi sự được ếm nhẹm, và dùng tiền bạc thuê luật sư để tố ngược lại cha mẹ nạn nhân với lư do không săn sóc con cái. Về những vụ này, trong cuốn A Gospel of Shame: Children, Sex Abuse and the Catholic Church (Một phúc âm nhục nhă: Vấn đề lạm dụng t́nh dục và trẻ em trong Giáo Hội Giatô) Elinor Burkett và Frank Bruni, mô tả như sau: “Cuốn sách dùng những cuộc phỏng vấn các nạn nhân để khảo sát vị trí dễ bị lạm dụng duy nhất của trẻ em trước các linh mục, và các linh mục phạm pháp để t́m hiểu về đời sống cô độc nguy hiểm của họ. Cuốn sách đưa ra những tài liệu về sự bất lực của công tố viên, quan ṭa, tâm lư gia và kư giả trong việc theo dơi kiểm soát các giám mục, những người đă dùng cả triệu đô la để bảo vệ tiếng tăm của giáo hội hơn là bảo vệ các tín đồ.” (The book uses interviews with victims to examine children’s unique vulnerability to priests and with priests abusers to explore their dangerous isolation. It documents the failure of prosecutors, judges, psychologists and reporters to monitor bishops, who spend million of dollars to protect the church’s image rather than its believers.)
Cùng một đề tài nghiên cứu, trong cuốn Lead Us Not into Temptation: Catholic Priests and the Sexual Abuse of Children (Xin Đừng Dẫn Chúng Con Vào Sự Cám Dỗ: Các Linh Mục Công Giáo và Vấn Đề Hiếp Dâm các Em Nhỏ), Jason Berry đă đưa ra kết quả của 1 cuộc nghiên cứu là: “Ở Bắc Mỹ, từ 1984 tới 1992, 400 linh mục Giatô đă bị tố cáo là hiếp dâm trẻ con. Cho tới nay (1992) Berry ước tính là Giáo Hội đă bỏ ra 400 triệu đô la để giải quyết những vụ trên. Một sự nghiên cứu dự pḥng là Giáo hội sẽ phải tiêu 1 tỷ đô la trước khi thế kỷ này chấm dứt.” (In fact, between 1984 and 1992, 400 Catholic priests in North America have been reported for molesting children. To date, Berry estimates, $400 million has been paid by the Church to resolve these cases. One source projects that $1 billion may be paid by century’s end). Nhận định về cuốn sách này, Cha Andrew M. Greeley, giáo sự tại đại học Chicago, viết rằng: “Tôi biết nhiều vụ và t́nh trạng mà Jason Berry viết. Tôi có thể bảo đảm với độc giả là, theo sự hiểu biết của tôi, những ǵ Berry đưa ra là chính xác và dè dặt, nếu không muốn nói là quá thận trọng. Ấn tượng vững chắc của tôi là t́nh trạng thực sự tệ hơn là những điều viết trong sách. Tôi cho rằng, khi đọc qua những trang sách này, chúng ta sẽ cảm thấy thật là giận, không hẳn chỉ là giận những kẻ gây ra tội lỗi v́ chính họ cũng thường, nếu không muốn nói là luôn luôn, là nạn nhân khi c̣n nhỏ tuổi, mà là giai cấp lănh đạo Giatô. Các Giám Mục có vẻ như được đào luyện giống nhau để cùng dấu diếm, che chở, hối lộ, lạnh lùng, và thường là lại bổ nhiệm trở lại giáo phận những người mà họ biết là mối nguy hại cho đám tín đồ.” (I am familiar with many of the cases and situations about which Jason Berrt writes. I can assure the reader that to the best of my knowledge his reporting is accurate and restrained, indeed if anything almost too conservative. It is my strong impression that the situation is actually much worse than it appears in this book. One will become very angry, I suspect, as one reads through its pages, not so much at the victimizers, who themselves were often, if not always, victims when thay were children, but at Catholic leadership. Bishops have with that seems like programmed consistency tried to hide, cover up, bribe, stonewall, often they have sent back into parishes men whom they knew to be a danger of the faithful.) Bốn nguyên nhân chính ở trên đă tạo nên đà suy sụp bất khả nghịch chiều (irreversible) của giáo hội La mă trên thế giới và đó cũng là lư do chính thúc đẩy John Paul II viết cuốn Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng.
**
B. LƯ DO THỨ NH̀ là sự bành trướng của Phật giáo và Hồi Giáo ở Âu Châu và Mỹ Châu. Tôi không biết ǵ về Hồi Giáo, nhưng về Phật giáo th́ tôi thấy rơ sự phát triển của tôn giáo này ở Âu Mỹ. Cách đây 25 năm, khi c̣n đang học ở Mỹ, tôi chỉ thấy lơ thơ vài cuốn sách về Phật giáo như bộ Thiền Luận của Daisetz T. Suzuki, cuốn A Buddhist Bidle của Dwight Goddard, cuốn Zen Keys của Thích Nhất Hạnh, và một số sách của vài tác giả quen thuộc như Edward Conze, Christmas Humpfreys, Sir Edwin Arnold, Theodore Stcherbatsky, Alan Watts, Charles Luk, Sangharakshita, John Blofeld và Philip Kapleau. Nhưng ngày nay, ra 1 tiệm sách lớn th́ ta thấy cả một rừng sách về Phật giáo. Năm 1993, cuốn The Miracle of Mindfullness (Phép Lạ Của Sự Tỉnh Thức) của Thích Nhất Hạnh là một trong những cuốn bán chạy nhất (best sellers). Sách về Phật giáo Tây Tạng ra cũng nhiều và càng ngày càng có nhiều người đọc, nhất là từ sau khi Đức Dalai Lama được trao tặng giải thưởng Nobel về Ḥa B́nh.
Ảnh hưởng của Phật giáo và những xă hội Âu Mỹ đă được phát triển trên ba phương diện bởi ba nhân vật điển h́nh có tên tuổi: Daisetz T. Suzuki với Thiền Tông, Đức Dalai Lama với Mật Tông, và Ḥa Thượng Thích Nhất Hạnh với quan niệm “Phật giáo Nhập Thế” và ḍng “Tiếp Hiện”, lẽ dĩ nhiên với sự góp sức của rất nhiều Tăng Sĩ và Cư sĩ Phật giáo khác. Gần đây chương tŕnh “60 Minutes” của đài truyền h́nh CBS có cho biết là hiện nay ở Hoa Kỳ có hơn 2 triệu người Mỹ theo Phật giáo hay chịu ảnh hưởng của Phật giáo, chưa kể tới những người gốc Á Châu như Nhật Bản, Trung Hoa, Việt Nam, Đại Hàn ..v..v.. Đài truyền h́nh NBC cũng cho biết riêng ở Los Angeles có khoảng 300 trung tâm Phật giáo (Buddhist Centers), Boston có khoảng 50, v.v... Trong cuốn How The Swans Came To The Lake, Rick Fields viết về lịch sử phát triển Phật giáo ở Hoa Kỳ với những sự đóng góp của Đức Dalai Lama, Ḥa Thượng Thích Nhất Hạnh trong nhiều cộng đồng. Muốn biết sự phát triển của Phật giáo ở Âu Châu, xin đọc Buddhism in Europe của Kosho Yamamoto, Zen Comes West của Christmas Humphreys.
Ảnh hưởng của Đức Dalai Lama càng ngày càng lên cao, nhất là từ ngày Ngài được giải thưởng Nobel về ḥa b́nh, đă khiến cho Giáo Hoàng John Paul II phải lo ngại và viết như sau, trang 104: “Ngài đem Phật giáo đến với những người Kitô Giáo Tây phương, “khuấy động” (stirring up) sự quan thiết (interest) về cả đường hướng tu đức lẫn những phương pháp cầu nguyện của Phật giáo” và sau đó “lưu ư các Kitô Hữu phải thận trọng trong việc nồng nhiệt đón nhận một vài tư tưởng đến từ những truyền thống truyền giáo của Viễn Đông” (trang 108). Ở đây, chúng ta nên nhận rơ hai điều: thứ nhất, sự phát triển của Phật giáo trên thế giới từ xưa tới nay luôn luôn nằm trong tinh thần từ bi bác ái và ḥa b́nh, chưa hề làm đổ một giọt máu, cho nên dù có “khuấy độïng” th́ cũng chẳng có phương hại ǵ tới bất cứ ai; thứ nh́, lịch sử Giatô trong 2000 năm qua đă chứng minh rằng, bất cứ nơi nào mà Giatô Giáo đến “khuấy động” là nơi đó có máu đổ, có sự chia rẽ, có sự đối nghịch với nền văn hóa địa phương, và thường các giáo sĩ thừa sai Giatô là đoàn quân tiên phong đến lập một đoàn quân thứ năm của người bản xứ để hỗ trợ cho đoàn quân thực dân kéo tới sau. Và, để cho tín đồ Giatô khỏi bị khuấy động bởi Phật giáo, John Paul II đă phê b́nh Phật giáo là một hệ thống “vô thần”. Chính câu này đă làm cho Tỳ Kheo Nalin de Silva cho rằng đó là những lời nhận xét lắt léo với ác ư (malicious remarks). Lư do? Trong nhiều năm qua, Giatô Giáo đối nghịch với Cộng Sản và luôn luôn kết hợp CS với vô thần để khích động ḷng căm thù của giáo dân đối với CS. Tín đồ Kitô và những người phi Cộng Sản không hiểu rằng, CS là một ư thức hệ chính trị, kinh tế, và xă hội; trong khi Vô Thần là một lập trường tâm linh đối với tôn giáo. Vô thần đă có từ cả mấy ngàn năm nay, trong khi CS mới xuất hiện chưa đầy 100 năm. Tuyệt đại đa số dân Nga theo Chính Thống Giáo, cũng như tuyệt đại đa số dân các nước Âu Châu theo Giatô La Mă. Chủ nghĩa CS được phát động và phát triển ở những nơi này chính v́ sự liên kết của tôn giáo và chính quyền để bóc lột dân nghèo, và những người CS chống tôn giáo là v́ tôn giáo đă hiệp với quyền hành thế gian, dung dưỡng những bất công trong xă hội. Ư Đại Lợi là nước ngoan đạo nhất và đoàn quân của Garibaldi tiến vào La Mă tước bỏ các lănh thổ của Giáo Hoàng, thu hẹp lănh thổ này trong phạm vi thị trấn nhỏ Vatican, đều là tín đồ Giatô. Cuộc cách mạng 1789 của Pháp tước đoạt quyền hành của các giám mục, đưa một số linh mục lên máy chém cũng là do dân Giatô thực hiện. Các thể chế CS ở Đông Âu cũng do dân Giatô lănh đạo, họ tin ở Thần Giatô và Giêsu Kitô nhưng không chấp nhận những lạm dụng quyền hành của tôn giáo. Vậy họ chống những kẻ lợi dụng tôn giáo để mưu đồ quyền lợi cá nhân nhưng không phải họ là vô thần.
Cộng Sản Việt Nam không nh́n ra điều này, nhắm mắt nhắm mũi áp dụng chính sách chống tôn giáo của Nga Sô và các nước Cộng Sản Đông Âu mà không hiểu rằng suốt trong ḍng lịch sử Việt Nam, các tôn giáo dân tộc, nhất là Phật giáo, là linh hồn của dân tộc mà chưa bao giờ Phật giáo đứng về phe chính quyền để bóc lột dân nghèo. Chỉ có giai cấp có quyền hành, thực dân Pháp và tay sai mới bóc lột giai cấp công nông, chứ Phật giáo không chủ trương bám víu vào của cải quyền lực thế gian th́ làm sao có thể bóc lột bất cứ ai. Ngoài ra, ở các nước Giatô, giáo dân được ru ngủ để cho giới giáo sĩ được nảy nở, nắm giữ quyền hành, nhất là ở các thuộc địa, chứ ở Việt Nam Phật giáo luôn luôn đứng đầu trong việc xây dựng nước và chống ngoại xâm, cho nên bảo rằng Phật giáo là thuốc phiện ru ngủ dân chúng để mà đàn áp cũng lại là một kiểu nhắm mắt nhắm mũi theo một ư thức hệ ngoại lai mà không biết đến những bối cảnh lịch của dân tộc. Đó là chính sách sai lầm nghiêm trọng của Cộng Sản Việt Nam và của giới lănh đạo già nua trong óc đă hao hụt nhiều tế bào thần kinh (neurons).
Trở lại câu phê b́nh của GH John Paul II mà Tỳ Kheo de Silva gọi là lắt léo. Thật vậy, John Paul II là người đă tham dự và tích cực đóng góp cho cộng đoàn Vatican II. Trong bản tuyên ngôn về liên hệ giữa Giáo Hội và các tôn giáo phi Kitô (Declaration on the Relationship of the Church to Non-Christian Religions) có một đoạn nói về Phật giáo như sau: “Phật giáo, trong những dạng khác nhau, nhận biết sự thiếu sót của thế giới hằng chuyển này. Phật giáo dạy một con đường theo đó con người, với một tinh thần tin tưởng và nhiệt tâm, có thể hoặc đạt tới một trạng thái tự do tuyệt dối hoặc hoàn toàn giác ngộ, do chính sự tinh tấn của ḿnh hay với trợ lực của đấng cao hơn.” (Buddhism in its multiple forms acknowledges the radical insufficiency of this shifting world. It teaches a path by which men, in a devout and confident spirit, can either reach a state of absolute freedom or attain supreme enlightenment by their own efforts or by higher assistance.) (The Documents of Vatican II by Walter M. Abbott, General Editor). Đó là một sự mô tả Phật giáo tương đối đúng, và John Paul II chắc chắn đă đọc đoạn này. Nhưng ngài vẫn cố ư viết về một “thuyết cứu rỗi” tưởng tượng của Phật giáo, phê b́nh Đức Phất sai lầm v́ phủ nhận giá trị của việc “tạo dựng”, và Phật giáo là một hệ thống “vô thần”, ngầm kết hợp Phật giáo với Cộng Sản để khai thác ḷng thù hận CS mà giáo hội đă reo rắc vào tâm hồn giáo dân từ bao lâu nay. Nếu chúng ta theo dơi t́nh h́nh hải ngoại th́ đây cũng là luận điệu của nhóm Giatô Cần Lao bấy lâu nay trên diễn đàn báo chí và điện tử ở ngoại quốc. Trên những diễn đàn hải ngoại, bất cứ người nào viết về Giatô Giáo, tuy là sự thực, cũng bị chụp lên đầu cái mũ thân Cộng, hay nằm trong chính sách phá Giatô Giáo, gây chia rẽ tôn giáo của Cộng Sản Việt Nam. Những kẻ buôn nón cối này (hat dealers) không chịu đọc sách nên không hiểu rằng những tác giả viết về Giatô Giáo đều là những học giả, giáo sư đại học, và những ông Cha Giatô, những nhà thần học Giatô, hoàn toàn không dính dáng ǵ tới Cộng Sản.
Người Việt Nam, sau hơn 80 năm dưới sự đô hộ của người Pháp, không nhiều th́ ít cũng quen thuộc với sử Pháp. Chúng ta khó có thể quên Léon Gambetta, một chính trị gia lỗi lạc của Pháp, trong cuộc hô hào đoàn kết quốc gia, đă hét lên “một lời tuyên chiến: Giáo Sĩ đoàn đặc quyền, đó chính là kẻ thù” (Un cri de guerre: Le Cléricalisme, voilà l’ennemi!), và Emile Combes, một nghị sĩ đă phát biểu giữa nghị trường Pháp như sau: “Không phải là chúng ta tấn công tôn giáo mà là những giáo sĩ, những người muốn dùng tôn giáo làm một công cụ thống trị.” (Ce n’est pas à la religion que nous nous attaquons, c’est à ses ministres, qui veulent s’en faire un instrument de domination.) Chúng ta cũng khó có thể quên Jean Bossu, khi tranh đấu cho nền dân chủ của Pháp đă tuyên bố : “Chống giáo sĩ đoàn đặc quyền là nền tảng căn bản của tinh thần dân chủ. Đối với chúng ta, giáo sĩ đoàn đặc quyền, chính là Giáo hội, chính là Giatô Giáo mà từ trước tới nay luôn luôn là kẻ đối nghịch của mọi thứ tự do.” (L’anticléricalisme est la base fondamentale de l’esprit démocratique... Pour nous, le cléricalisme, c’est l’Église, c’est la Catholicisme, qui a toujours été l’adversaire de toute liberté.) Các nhà trí trức Pháp đă nhận thấy sự quan trọng của một nền giáo dục Giatô trên nhiều phương diện, và họ đă thành công trong việc giật con em họ ra khỏi ṿng tay “giáo dục” của các giáo sĩ Giatô, và vạch trần những đạo đức giả của Giáo hội (Arraché l’enfant au moine, dévoilé les hypocrisies de l’Église.) So với nền giáo dục khai phóng, Giáo dục Giatô là loại giáo dục mà những nhà trí thức Pháp coi như là chống lại tổ quốc và tiến bộ, như Bộ Trưởng Giáo Dục Pháp Charles Dupuy đă phát biểu: "Chúng ta xác quyết rất thẳng thắn là, đối với chúng ta thật là điều không thể nhân nhượng được trong chiều hướng giáo dục tự do, bất cứ người nào lại có thể dạy dỗ trẻ con để chống lại tổ quốc của chúng và cản sự tiến bộ của chúng." (Nous le déclerons très franchement, il nous parait intolérable qu’à la faveur de la liberté d’enseignement, qui que ce soit puisse élever des enfants contre leur pays et contre leur temps.) Và, Gustave Tery, sáng lập viên nhật báo L’Oeuvre cũng đưa ra một đường lối hành động như sau : "Tôi đă hiểu rằng không chiến đấu chống Giáo hội Giatô chính là phục vụ cho Giáo hội, và rằng im lặng là hèn nhát. Tôi hiểu rằng chỉ không để cho bị lừa bịp th́ chẳng đủ chút nào, mà c̣n phải luôn luôn tố cáo sự dối trá." (J’ai compris que ne pas combattre l’Église, c’est la servir, et que le silence est lâche. J’ai compris qu’il ne suffit point de ne pas être dupe, mais qu’il faut à toute heure dénoncer le mensonge.) Nhưng rơ ràng hơn cả là 2 nhận định sau đây của đại văn hào Victor Hugo : 1. "Chỉ có hai tội phạm, Xê-Da và Phê-Rô ; Xê-Da th́ giết người (hủy diệt thân xác), Phê-Rô th́ nói láo (hủy diệt tinh thần)... Người linh mục đă, hoặc có thể, bị thuyết phục và thành thật. Chúng ta có nên trách họ không? Không. Chúng ta có nên chống họ không? Nên." (Il n’y a que deux coupables, César et Pierre ; César qui tue, Pierre qui ment... Le prêtre est, ou peut être, convaincu et sincère. Doit-on le blâmer? Non. Doit-on le combattre? Oui.) 2. "Nền văn minh, ánh sáng này, có thể bị tắt đị bởi hai cách bị ch́m đắm; hai sự xâm lăng nguy hiểm đối với nền văn minh, sự xâm lăng của các quân lính và sự xâm lăng của các linh mục Giatô. Sự xâm lăng của các linh mục đe dọa con chúng ta, tương lai." (Le civilisstion, cette lumière, peut être éteinte par deux modes de submersion ; deux invasions lui sont dangereuses, l’invasion des soldats et l’invasion des prêtres. L’une menace notre mère, la patrie ; l’autre menace nos enfants, l’avenir).
Không phải là bây giờ hay gần đây con người mới ư thức được những sự dối trá của giáo đoàn đặc quyền Giatô và ư thức được sự cần thiết của tự do tư tưởng, song song với sự tiến bộ của văn minh nhân loại, mà trong suốt bao nhiêu thế kỷ, cái khát vọng tự do này của con người đă phát lộ khắp nơi trên thế giới. T́m hiều về những nhân vật nổi danh trên thế giới như: Asimov, Beethoven, Berthelot, Charles Bradlaugh, Brahms, Einstein, Anatole France, Jules Ferry, Sigmund Freud, Galileo, Victor Hugo, Thomas Huxley, Robert Ingersoll, Thomas Jefferson, Lafayette, Mozart, Lincoln, Nietzche, Thomas Paine, Bertrand Russel, Sir Walter Scott, Mark Twain, Voltaire, H.G.Wells v.v... chúng ta sẽ thấy họ đều là những nhà tự do tư tưởng (freethinkers) và cùng chung một hướng đi: tranh đấu cho tự do tư tưởng của con người và chống đối những huyền thoại dối trá phản tiến hóa của Giáo hội Giatô mà biểu tượng là Vatican. Cho nên, chụp mũ những người viết về sự thực của Giatô Giáo hay Vatican là thân Cộng, là tay sai của Cộng Sản, là dùng sách lược chống Giatô của Cộng sản, là chia rẽ tôn giáo để giảm tiềm năng chống Cộng v.v... là luận điệu của những người không chịu t́m hiểu, không đọc sách, không đọc lịch sử khách quan của Giáo hội Công giáo cũng như lịch sử thế giới, mang Cộng sản ra làm cái bung xung để khai thác ḷng thù hận của những người đối nghịch với Cộng sản, bẻ quẹo vấn đề, không đủ khả năng thảo luận, không đủ can đảm để nhận những sự thực lịch sử, và thiếu tính lương thiện và sĩ khí của những người trí thức.
* * *
B̀NH LUẬN
Sau đây, tôi xin sang phần b́nh luận về vài điểm trong cuốn Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng của GH John Paul II. Thật t́nh th́ tôi chẳng muốn đi vào tín ngưỡng của bất cứ ai, v́ tín ngưỡng là quyền tự do của con người, kể cả niềm tin thuộc loại mê tín dị đoan. Nhưng Giáo Hoàng, với cương vị của lănh tụ tối cao một tôn giáo lớn mà lại dựa vào niềm tin của ḿnh để phê b́nh sai lầm về một tôn giáo khác hay về Giáo Chủ của một tôn giáo khác là một điều khó có thể chấp nhận. Do đó sau đây tôi sẽ luận về lời phê b́nh Đức Phật của John Paul II: "Đức Phật đúng khi Ngài không thấy sự cứu rỗi trong việc tạo dựng, nhưng Ngài đă lầm khi, v́ lư do đó mà Ngài phủ nhận sự tạo dựng có một giá trị nào cho nhân loại."
Điểm then chốt ở đây là thuyết "tạo dựng" trong Giatô Giáo, một thuyết mà Phật giáo chưa bao giờ để ư tới. Hơn nữa, quan niệm về "thế giới thành tựu" trong Kinh Hoa Nghiêm khác hẳn với thuyết tạo dựng của Giatô. Thật vậy, trong Kinh Hoa Nghiêm, phẩm "Thế Giới Thành Tựu", Bồ Tát Phổ Hiền tuyên thuyết về 10 đặc tính của các thế giới như Nhân duyên khởi, h́nh trạng v.v... không có chỗ nào nói về việc tạo dựng thế giới do một siêu nhân. Đặc biệt là Phật giáo quan niệm có hằng hà sa số thế giới có h́nh trạng khác nhau như trong đoạn kinh văn sau đây: "Lúc đó Phổ Hiền Bồ Tát bảo đại chúng rằng: Chư Phật tử! Thế giới hải có nhiều h́nh tướng sai khác, hoặc tṛn hoặc như nước xoáy.. hoặc h́nh như hoa... có vi trần số h́nh sai khác như vậy", khác hẳn Giatô Giáo quan niệm thế giới chúng ta đang sống là thế giới duy nhất do Thần Giatô tạo ra, và trái đất là trung tâm của thế giới này, mặt trời và các hành tinh khác đều do các thiên thần xoay vần xung quanh trái đất. Quan niệm Giatô này, dựa trên Thánh Kinh được coi như là những lời của Thần Giatô nên không thể sai lầm, đă đưa Giordano Bruno lên dàn hỏa thiêu sống, và biệt giam Galileo tại gia nhiều năm cho đến khi chết, chỉ v́ những khoa học gia này, dựa vào thực nghiệm, đưa ra thuyết trái đất và các hành tinh xoay xung quanh mặt trời, và ngoài thế giới chúng ta đang sống c̣n có nhiều thế giới khác nữa. Chúng ta cũng không nên quên là phải mất 359 năm, tới năm 1992, ṭa Thánh Vatican mới công nhận là sai lầm về vụ xử Galileo. Cho nên, người ta đă đặt câu hỏi: nếu Thánh Kinh đă có những điều sai lầm th́ có ǵ bảo đảm là thuyết tạo dựng trong Thánh Kinh không sai lầm? Và nếu phải mất hơn 3 thế kỷ rưỡi mới công khai nhận lầm về một sự thật hiển nhiên, th́ làm sao bây giờ họ có thể nhận ra được những tội ác cũng rất hiển nhiên của họ trong gần 100 năm vừa qua trên các dân tộc Á-Phi-Mỹ La Tinh? Chúng ta biết rằng thuyết tạo dựng của Giatô Giáo dẫn đến quan niệm Adam và Eve là tổ tông của loài người, rồi v́ cưỡng lời Thần ăn đại một trái táo nên Adam sa ngă và kết quả là đời đời kiếp kiếp con cháu về sau phải bị đày ải với tất cả những khổ đau ở trên đời v́ mang tội tổ tông, rồi đến Thần Giatô sai người con duy nhất của ngài xuống trần để chuộc tội tổ tông cho thế gian, và con người muốn giữ một chỗ trên Thiên Đàng sau khi chết chỉ cần đặt hết ḷng tin vào Thần Giatô th́ sẽ được cứu rỗi.
Và sau đây là vài điểm trong cuốn Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng liên hệ tới việc "tạo dựng" mà tôi muốn phân tích, hoàn toàn dựa vào những lư luận thông thường mà tôi cho rằng bất cứ người nào có một tŕnh độ học vấn tối thiểu cũng có thể hiểu được: 1.) "Khi đức KiTô nói về t́nh yêu mà Chúa Cha đă ban cho nhân loại, ngài muốn làm vang vọng lời xác quyết đầu tiên trong sách Sáng Thế Kỷ nói về việc tạo dựng "Chúa thấy nó tuyệt hảo – Ngài thấy nó rất tốt đẹp, Gen: 1:12-31" (Trang 77). Câu trên nói về việc tạo dựng mà Thần Giatô cho là "tuyệt hảo", "rất tốt đẹp" và t́nh yêu Thần đă ban cho nhân loại. Chúng ta hăy đi thẳng vào chương Sáng Thế Kỷ (Genesis) trong Cựu Ước trong "The New King James Version": 1. Thoạt kỳ thủy Thần Giatô tạo dựng nên trời đất. 2. Trái đất th́ không có h́nh dạng và trống không; và bóng tối ở trên mặt vũng sâu. Và Thần thức lơ lửng trên mặt các vùng nước. 3. Và Thần nói: “Hăy có ánh sáng”, và ánh sáng có liền. 4. Thần trông thấy ánh sáng và thấy nó tốt đẹp; và Thần chia ánh sáng ra khỏi bóng tối. 5. Thần gọi ánh sáng là Ngày, và bóng tối là Đêm. Đó là ngày thứ nhất với buổi chiều và buổi sáng. (1. In the beginning God created the heavens and earth. 2. The earth was without form, and void; and darkness was on the face of the deep. And the Spirit of God was hovering the face of the waters. 3. The God said, “Let there be light”; and there was light. 4. And God saw the light, that it was good; and God divided the light from the darkness. 5. God called the light Day, and the darkness He called Night. So the evening and the morning were the first day.) Trái đất không có h́nh dạng và trống không th́ nước được giữ ở đâu mà Thần thức lơ lửng trên các vùng nước. Khi đó chỉ có ḿnh Thần vậy th́ ai ở đó mà nghe “Thần nói” để mà viết lại trong Thánh Kinh là “Và Thần nói:” như vậy? Ánh sáng là các sóng điện từ, có màu sắc khác nhau là do tần số dao động khác nhau, và bóng tối là không có ánh sáng chứ làm sao có thể chia ánh sáng ra thành sáng và tối được. Một trẻ em tiểu học ngày nay cũng hiểu rằng có ngày có đêm là do sự chuyển vận của trái đất xung quanh mặt trời.”Ngày thứ nhất” chưa tạo ra mặt trời th́ lấy đâu ra ngày và đêm?
Bỏ qua những đoạn nói về lịch sử tạo dựng mà nhiều khoa học gia ngày nay đă chứng minh rằng thứ tự tạo dựng các sinh vật hoàn toàn trái ngược với thực tế, ta hăy đi vào chuyện của Adam và Eve: “Sau khi bất tuân thượng lệnh ăn đại một trái trên “cây hiểu biết” (để khỏi bị vĩnh viễn ngu đần) Adam và Eve bị đày ra khỏi vườn Eden và sinh được 2 người con trai là Cain và Abel. Cain chuyên về trồng trọt và Abel chuyên về chăn nuôi. Cain mang phần hoa mầu dâng lên Thần nhưng Thần chê, ngược lại Thần tán thưởng phần thịt mỡ béo bổ mà Abel dâng lên Thần. Cain bực ḿnh v́ bị đối xử không công bằng, rủ em vào rừng rồi giết tốt người em ruột. Sau đó Cain ngủ với vợ và sinh ra Enoch. Rồi Adam và Eve lại sanh ra một đứa con trai là Seth, quà của Thần tặng để thay thế Abel. Con của Seth là Enosh...” (Gen. 3: -4:) Đọc Kinh Thánh tôi vẫn nghĩ không ra ai là vợ của Cain và Seth? Lúc bấy giờ trên thế gian chỉ có người đàn bà duy nhất là Eve. Chẳng có lẻ Cain và Seth ngủ với mẹ? Cũng có thể lắm v́ trong Cựu Ước c̣n có chuyện 2 người con gái của Lot phục rượu cho cha say và ngủ với cha và sau đó sinh con (Gen. 19:30 -38). Tạo dựng ra một thế giới gồm những sinh vật cắn xé nhau để ăn thịt lẫn nhau, những cảnh cá lớn nuốt cá bé, những con rắn rết, những vi trùng và siêu vi trùng có tác dụng làm cả ngàn người chết trong những trận dịch tả, dịch hạch, v.v... , và riêng về loài người th́ thế hệ đầu tiên đă không tuân lời (Adam), thế hệ thứ hai là sát nhân (Cain) và loạn luân (Cain, Seth) mà Thần Giatô thấy nó “tuyệt hảo” và “rất tốt đẹp” th́ quả thật quan niệm về tốt đẹp và tuyệt hảo của Giatô Giáo phải khác thường. Nhưng phiền một cái là hơn 4 phần 5 dân số trên thế giới, nghĩa là vào khoảng 4 tỷ rưỡi người, lại nhất định không cho là việc tạo dựng trên là tuyệt hảo, là tốt đẹp và vẫn bướng bỉnh không chịu tin là Thần Giatô đă tạo dựng ra thế giới này, dù bị tra tấn, thiêu sống hay giết hại như lịch sử 8 cuộc Thánh Chiến và 400 năm xử dị giáo của Giatô đă chứng minh. Vậy mà John Paul II lại phê b́nh Đức Phật là sai lầm v́ phủ nhận giá trị của sự “tạo dựng”. Đức Phật đâu có để ư đến thuyết “tạo dựng”, cho nên làm ǵ có chuyện công nhận hay phủ nhận giá trị của thuyết này? 2.) “Thế gian mà con người t́m thấy khi mặc lấy xác phàm, xứng đáng với sự trừng phạt, v́ tội lỗi đă thống trị toàn bộ lịch sử, bắt nguồn từ sự sa ngă của nguyên tổ” (trang 78). Đây là nói về tội tổ tông: chỉ v́ một trái táo mà nhân loại bị đày ải với tất cả những khổ đau ở trên đời. Thế mới biết t́nh yêu của Chúa Cha đă ban cho nhân loại là như thế nào. Luận về tổ tông th́ có vài vấn đề cần được sáng tỏ: Thứ nhất, theo di truyền học th́ các giống người khác nhau là do di truyền. Không ai có thể thấy một cặp vợ chồng người da trắng lại sinh ra một đứa con đen kịt. Dù ông chồng xấu số có ông hàng xóm đen kịt đi chăng nữa th́ đứa con sinh ra cũng lờ lờ chứ không thể đen kịt. Vậy th́, Adam và Eve là tổ tông của giống người nào? Da trắng? Da đen? Da vàng? Da đỏ v.v... ? Nếu có là tổ tông th́ chỉ có thể là tổ tông của một giống người chứ không thể là tổ tông của cả loài người. Thứ nh́, chúng ta đă biết Giêsu là người Do Thái, và trong Tân Ước (Luke 3: 23-38) tất cả những thế hệ tiếp nối Adam cho tới Giêsu toàn là tên Do Thái, không hề thấy một tên Congo hay tên Việt nào, vậy th́ nếu Adam là tổ tông th́ chỉ có thể là tổ tông của dân Do Thái, hay cùng lắm là tổ tông của các sắc dân quanh vùng Do Thái chứ không thể là tổ tông của cả nhân loại. Đă không phải là tổ tông của loài người th́ làm ǵ có tội tổ tông. Không có tội tổ tông th́ cần ǵ ai chuộc tội hay cứu tội? Vai tṛ của Giêsu trở thành thừa thăi và khôi hài. Nói tóm lại, điều chắc là Adam không thể là tổ tông của người Việt, vậy th́ có lư do ǵ người Việt phải chịu tội của một người mà không phải là tổ tông của ṇi giống Việt. Cho nên, chuyện tổ tông, nếu có, của những dân da trắng mũi lơ tóc quăn th́ cứ để họ lo với nhau, người Việt chẳng nên dính dáng vào những huyền hoặc hoang đường mà nên quay về với Tổ Hùng Vương, vừa đẹp, vừa hợp dân tộc tính, hợp t́nh, hợp cảnh, hợp lư hợp với đại khối dân tộc, khỏi phải sống trong khu riêng (ghetto) như người ngoại quốc trên đất nước của ḿnh.
3.) “Thiên Chúa quá thương yêu thế gian đến nổi ban con duy nhất của Ngài, để những ai tin vào Người sẽ không bị luận phạt, nhưng được sống đời đời.” (trang 76) Chúng ta đă biết Thần Giatô thương yêu thế gian như thế nào qua việc đầy ải loài người, nhất là khi Ngài trừng phạt đàn bà phải chịu sự đau đẻ và làm nô lệ cho đàn ông (Khoa học và sự văn minh tiến bộ của loài người ngày nay đă phủ quyết lời nguyền rủa (curse) của Thần Giatô đối với phái nữ: khi sinh đẻ có thuốc chích cho khỏi đau và đàn bà thường lại ở địa vị “nhất vợ nh́ Trời”, Trời ở đây cần hiểu là theo nghĩa rộng), và tạo nên lụt cả để giết vô số chúng sinh, vậy tôi xin miễn bàn thêm. Nhưng không biết John Paul II có đọc Thánh Kinh hay không chứ thực t́nh tôi không hiểu ngài nói con duy nhất là con nào, v́ trong Thánh Kinh có tới hai Giêsu khác hẳn nhau, một Giêsu trong Matthew và một Giêsu trong Luke. Matthew và Luke đều nói Giêsu là gịng dơi Vua David (thực sự không cần thiết v́ Giêsu là con của Thánh Ma (Holy Ghost) th́ đâu cần phải kể gịng họ cao sang làm chi). Tuy Matthew kể ngược 42 thế hệ tới Abraham và Luke kể ngược 76 thế hệ tới tận Thần Giatô, người tạo ra Adam, nhưng chúng ta chỉ cần đi ngược lại tới Vua David tới Giêsu như sau: “David Solomon, Rehoboam, Abijah, Asa, Jehoshaphat, Jehoram, Uzziah, Jotham, Ahaz, Hezekiah, Manasseh, Amon, Josiah, Jeconiah, Shealtiel, Zerubbabel, Abiud, Eliakim, Azor, Zadok, Akim, Eliud, Eleazar, Matthan, Jacob, Joseph, Giêsu”. Tất cả là 27 thế hệ. Nhưng theo Luke 3:23-38 th́ các thế hệ tiếp nối từ Vua David tới Giêsu như sau: “David, Nathan, Matthata, Menna, Melea, Eliakim, Jonam, Joseph, Judah, Simeon, Levi, Matthat, Jorim, Eliezer, Joshua, Er, Elmadam, Cosam, Addi, Melki, Neri, Shealtiel, Zerubbabel, Rhesa, Joanan, Joda, Josech, Semein, Matthathias, Maath, Naggai, Esli, Nahum, Amos, Matthathias, Joses, Jannai, Melki, Leci, Matthat, Eli, Joseph, Giêsu”. Tất cả là 42 thế hệ. Trong 2 danh sách trên nói về nguồn gốc gia phả Giêsu chỉ có vài tên giống nhau c̣n hoàn toàn khác nhau, vậy th́ khi John Paul II nói tới đứa con duy nhất của Thần Giatô sai xuống trần th́ ngài muốn nói đứa con nào? Con trong Matthew hay con trong Luke. Và, vấn đề được đặt ra là, Matthew đúng hay là Luke đúng, hay là cả Matthew và Luke đều sai, hay là cả Matthew và Luke đều đúng? Cái ǵ bảo đảm là ai đúng ai sai và nếu vấn đề này sai th́ có ǵ bảo đảm là những chuyện khác trong Kinh Thánh không sai?
Trên đây tôi chỉ b́nh luận vài điểm trong cuốn Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng của Giáo Hoàng John Paul II liên hệ tới lời phê b́nh của ngài về Đức Phật. Thật ra, muốn phê b́nh cả cuốn sách trên chúng ta cần ít ra là một cuốn dày gấp ba cuốn đó, nhưng tôi nghĩ không có ai dại dột đi làm cái chuyện điên rồ tốn thời giờ vô ích này. Có một điều là, không hiểu Giáo Hoàng John Paul II viết cuốn sách trên để cho ai đọc, v́ tôi không nghĩ giới tín đồ thông thường và ngay cả giới trí thức Giatô có thể hiểu đuợc những điều Giáo Hoàng viết trong cuốn sách đó, ngoài những điều Giáo Hoàng nhắc lại những tín lư Giatô. Nhưng đây lại không phải là chuyện hiểu mà chỉ là chuyện tin, tin mà không cần hiểu. V́ trong cuốn sách này, Giáo Hoàng đă tránh né không trả lời trực tiếp những câu hỏi của nhà báo Vittorio Messori như: “Nếu Thiên Chúa là t́nh yêu, tại sao lại có quá nhiều sự dữ trong thế giới”, “Tại sao Thiên Chúa lại dung túng đau khổ”, “Tại sao nhân loại cần được cứu rỗi”, v.v... Mỗi câu trả lời là một khẳng định dựa trên một niềm tin, và như vậy bặt hết lư luận. Thí dụ như: “Thiên Chúa quá thương yêu thế gian đến nỗi ban con duy nhất của ngài, để những người tin vào người sẽ không bị luận phạt, được sống đời đời, “ “Thánh Phao Lồ ư thức thâm sâu rằng Chúa KiTô là căn nguyên, là tuyệt đối” và “Chúa Kitô là bí tích của Thiên Chúa vô h́nh”, “Giáo Hoàng là một bí nhiệm”, “Điều mặc khải này dứt khoát, con người chỉ c̣n có thể hoặc chấp nhận, hoặc chối bỏ”. Một khi đă khẳng định những điều không thể giải thích được thế nào cho suông sẻ là bí tích và bí nhiệm và dứt khoát th́ vấn đề hiểu trở nên thừa thăi. Đó chính là “Phúc cho những kẻ nào không thấy (hiểu) mà tin”.
Ngoài những điều khẳng dịnh mà tín đồ phải tin, không cần hiểu, Giáo Hoàng c̣n nhắc tới, chỉ nhắc qua thôi, thần học và triết lư của các thánh Augustine, Aquina và các triết như Descartes, Kant, Hegel, Aristote, Plato, Pascal, Husserl, Heidegger v.v... (lẽ dĩ nhiên là không nhắc tới thánh Francis, người chủ trương phục vụ dân nghèo, hay Voltaire, Diderot, Nietzche, Khổng tử, Lăo Tử v.v... ) nhưng không hiểu có bao nhiêu linh mục và tín đồ nắm vững được các môn thần học và triết lư của các nhân vật kể trên. Thật vậy, Cha James Kavanaugh, trong cuốn A Modern Priest Looks at His Outdated Church (Một linh mục hiện đại nhận xét về Giáo hội lỗi thời) có kể về sự huấn luyện các linh mục như sau: “Trong học tŕnh của tôi, rất hiếm khi bàn đến những nghi vấn hay quan niệm mà thường là hoặc trắng hoặc đen. Thí dụ như, trong môn triết học, chúng tôi học qua Berkeley, Hume, và Kant chỉ trong ṿng 1 tuần lễ... Đó là một nền giáo dục không có sự đồng t́nh, một sự huấn luyện không có sự giúp đỡ. Tôi nghe những ǵ họ muốn tôi nghe, và nói những ǵ ban giám đốc mong muốn tôi nói như vậy. Người nào chống đối th́ bị gạt ra ngoài. Chỉ có những người phục tùng luật lệ, hay những kẻ ngây thơ, tiêu cực mới tồn tại. Sáng kiến không được khuyến khích trừ phi đi theo đường lối đă được chấp nhận. “Tà đạo” là danh từ để chấm dứt mọi luận cứ, và “Giáo hội dạy rằng” là nghị tŕnh nhỏ hẹp của mọi tranh luận. Tôi không được giáo dục mà được nặn thành. Tôi không được khuyến khích suy nghĩ mà chỉ được huấn luyện để chống đỡ. Người ta không muốn tôi suy tư mà chỉ muốn tôi học thuộc ḷng” (My studies spoke seldom of doubts or opinions and most frequently of blacks and whites... In philosophy, for example, we could handle Berkeley, Hume, and Kant in a single week... It was an education without sympathy, a training without recourse. I heard what I was supposed to hear, and said what the administration expected me to say. Rebels were weeded out. Only the strong and legal-minded, or the naive and passive, could last. Creativity was discouraged unless it pursued the accepted patterns wich cautious minds approved. “Heresy” was a word which ended every argument, and “the Church teaches” was the narrow outline of every debate. I was not educated, I was formed. I was not encouraged to think, but trained to defend. I was not asked to reflect, but to memorize.)
Cho nên, đă có một kư giả phê b́nh như sau: “ Cuốn Bước Qua Ngưỡng Cửa Hi Vọng của Giáo Hoàng John Paul II chắc chắn sẽ là một cuốn sách bán chạy nhất (best seller) v́ tín đồ sẽ được khuyến khích để mua. Có thể mỗi nhà tín đồ Giatô đều có cuốn sách này. Nhưng cũng như cuốn Thánh Kinh mà nhà nào cũng có, nó sẽ chỉ được dùng như là một vật trang trí để hứng bụi (dust collector) v́ rằng không có ai đọc nó cả.” Về cuốn Thánh Kinh th́ Ira Cardiff đă viết như sau: “Hầu như là không có ai thực sự đọc cuốn Thánh Kinh. Họ chắc chắn là có một cuốn Thánh Kinh, có lẽ là cuốn sách duy nhất mà họ có, nhưng họ không bao giờ đọc nó – đừng nói là đọc cả cuốn. Một người có nhiệt tâm tôn giáo sẽ đọc đầy đủ các lời cầu nguyện trong Thánh Kinh, không đọc với óc phê phán, chỉ hiểu theo tất cả những ǵ mà các cha xứ muốn họ hiểu. Nếu một người thông minh đọc cả cuốn Thánh Kinh với một óc phê phán th́ chắc chắn họ sẽ vứt bỏ nó đi.” (Virtually no one really reads the Bible. The above mentioned individual doubtless has a Bible, perhaps the only book he owns, but he never reads it – much less reads all of it. A devout religious individual will read his Bible prayer-fully, not critically, and it will mean whatever he has heard the cleric say it shoud mean. If an intelligent man should critically read it all, he would certainly reject it.)
Và Robert Ingersoll, một nhà hùng biện Mỹ nổi danh ở cuối thế kỷ 19, sau khi đọc hết và đọc kỹ cuốn Thánh Kinh, đă đưa ra một lời thách thức: ông ta sẽ tặng $1,000 (năm 1890) cho bất cứ vị linh mục nào dám lên bục giảng ở nhà thờ để giảng những đoạn trong Thánh Kinh mà chính Ingersoll chọn lựa. Trong nhiều năm, không có một người nào dám nhận lời. Có lẽ chúng ta đă đoán ra trong Thánh Kinh có những đoạn như thế nào. Tuy nhiên, Giáo Hoàng John Paul II đă trích dẫn những đoạn chọn lọc trong Thánh Kinh, những đoạn đ̣i hỏi một niềm tin không cần suy luận. Lẽ dĩ nhiên, điều này cần thiết cho một số người yếu đuối, không thể tự ḿnh bước đi những bước vững vàng trên mặt đất, không thể tự ḿnh suy nghĩ, chỉ c̣n có thể trông ngóng vào những quyền lực siêu nhiên cũng như những quyền lực giả tạo trên thế gian.
Con người thường sống trong ảo tưởng, các ảo tưởng cứ chồng chất lên nhau bất tận. Nguồn gốc của mọi ảo tưởng chính là vô minh, cho giả làm thật. Bị bao phủ bởi bức màn vô minh nhưng con người lại xây dựng hi vọng trên ảo tưởng là có thể bước qua ngưỡng cửa hi vọng bằng một niềm tin không suy luận. Làm người ai cũng có hi vọng, nhưng nếu đă đựơc đào luyện và đang sống trong bóng tối dầy đặc của vô minh th́ trước hết con người cần phải bước qua ngưỡng cửa vô minh trước khi tiến tới ngưỡng cửa hi vọng. Chưa bước qua được ngưỡng cửa vô h́nh th́ bước qua ngưỡng cửa hy vọng chỉ là chuyện “ṃ trăng đáy nước” hay “hái hoa trong kính”. Chân lư giản dị như vậy nhưng bởi căn trí bất đồng cho nên không phải ai cũng hiểu được điều này. Do đó có người quả là đáng thương hơn là đáng trách.
TCN.
(Xem tiếp Phần V)
|