HT.THÍCH TÍN NGHĨA VỚI THƠ THIỀN,

ĐẠT MA VÀ HUYỀN TRANG

 

 

Sau bài giới thiệu “Đọc Trúc Lâm Thiền Phái tại Huế của HT.Thích Tín Nghĩa” phổ biến tới bạn đọc ngày 07/12/2017, Ḥa thượng Thích Tín Nghĩa lại gửi biếu tôi thêm hai cuốn sách.

- Trúc Lâm Thiền Phái Thi Tập tái bản lần thứ nhất 2013.

- Đạt Ma và Huyền Trang tái bản lần thứ ba 1998.
 

A. Trúc Lâm Thiền Phái Thi Tập

Trúc Lâm Thiền Phái Thi Tập bao gồm 4 bài thơ/bài kệ của tổ Giác Tiên, thơ/kệ của HT.Thích Mật Hiển và Sư bà Diệu Không được chính tác giả dịch nghĩa và chuyển qua thể thơ lục bát như đă được giới thiệu trong bài viết nói ở trên. Phần chính của thi tập bao gồm 96 bài thơ của chính tác giả và được lấy tựa đề Trúc Lâm Thiền Phái Thi Tập cho thấy tác giả là truyền thừa của Thiền phái này.

Thơ Thiền hay Kệ tụng là nét độc đáo của Phật giáo khởi đi từ lúc đức Phật c̣n tại thế. Sau khi thuyết giảng bằng văn xuôi, đức Phật thường tuyên lại ư đó bằng thơ và để rồi cô kết cả bộ kinh bằng thần chú. Khi Phật giáo du nhập vào Trung Hoa, Việt Nam và Nhật Bản là những quốc gia mà nền văn học đă lên tới đỉnh cao cho nên thơ Thiền nở rộ, khiến giáo lư mang thêm nét văn chương, không thể t́m thấy trong bất kỳ tôn giáo nào khác. Một số thơ Thiền của các vị Tổ lừng danh như Bồ Đề Đạt Ma, Lục Tổ, Vạn Hạnh, Măn Giác, Trần Nhân Tông, Hương Hải Thiền Sư…đă trở thành Kệ, có giá trị đọc tụng như kinh điển và là tấm gương để noi theo và có thể nói bất tử trong ḍng sinh mệnh Phật giáo. Như vậy khi chúng ta thấy một tu sĩ Phật giáo “làm thơ” th́ ta phải hiểu rằng các ngài dùng “thơ” để bày tỏ sự chứng đắc của ḿnh hoặc mô tả đời sống thường nhật của một nhà tu hoặc răn dạy đồ chúng…Thế nhưng đôi khi thơ Thiền cũng mang nét “tự trào”. Trong thi tập này tôi chỉ đưa ra một vài bài thơ điển h́nh như bài thơ Vô Đề trang 43:

Chung thanh điểm tam hồi,

Ngư ông điểm sổ bôi,

Thiền sư nhập đại định,

Oanh đề liễu thượng khai.

Tác giả chuyển sang lục bát:

Chuông khuya vừa điểm ba hồi,

Ngư ông ngồi uống một vài ba chung,

Thiền sư nhập định vừa xong,

Trên cây dương liễu chim oanh hát ḥ.

Qua bài thơ này th́ thế giới của Thiền sư là thế giới của thiên nhiên và rất ung dung, thanh tịnh. Rồi bài thơ Dong Ruổi, làm năm 1984 lúc ḥa thượng c̣n rất trẻ.
 

Lang thang từ độ luân hồi,

Tử sinh nào biết, đất trời tiêu hao,

Hết ra rồi lại đi vào,

Nào ai tính sổ đâu nào mà lo.

Rồi bài thơ Đồng Tiền cho thấy sức mạnh của tiền bạc, ngày nay là đồng đô-la mà người Mỹ có câu nói, “No money, no honey” (Không tiền bạc th́ đừng nói chuyện yêu đương) :

Trên đời quư nhất lại là tiền

Tiền nói, tiền kêu để thành Tiên

Chồng vợ anh em đều rút tỉa

Mẹ cha, bè bạn cũng đua chen.

Nghĩa t́nh, tiền thiếu t́nh cũng bớt

Hiếu sự, tiền dư hiếu cũng bền

Suy gẫm cho cùng rồi cũng vậy

Té ra, đời chỉ ngán đồng tiền.

 

Tuy nhiên đời tu không phải lúc nào cũng vui, có lúc phải cúi xuống nhặt tàn thuốc là mà phật tử, thay v́ quăng vào thùng rác, lại quăng bừa xuống đất. Hiện nay người Mỹ gần như đă bỏ được thói quen hút thuốc lá, nhưng Việt Nam lại là quốc gia hút thuốc lá nhiều nhất thế giới. Riêng tôi trước 1975 cũng là tay hút thuốc lá kinh khủng, không có loại nào mà không hút, từ Melia vàng, Basto Xanh, 555, Dun Hill, Craven A, x́ gà, ống vố, cẩm lệ, thuốc rê, thuốc lào, Sông Cầu…tôi đă từng trải qua. Không điếu thuốc miệng lạt và thèm vô cùng. Đó gọi là ghiền/nghiện. Bỏ thuốc lá rất khó, nhất là thuốc lào với câu, “Đă chôn điếu xuống lại đào điếu lên”. Thế nhưng khi vượt biển tới trại tỵ nạn Sungei Beisi Mă Lai năm 1984, tôi ngồi chép kinh Phật từ sáng tới trưa không hút điếu nào, khiến tôi chợt tỉnh, “À từ sáng tới giờ không hút điếu nào mà có sao đâu?” Từ đó tôi bỏ luôn thuốc lá, tính ra đến nay đă 34 năm mà chẳng thấy thèm thuốc và ăn cơm vẫn ngon miệng. Cảm giác lạt miệng khi không có thuốc lá là cảm giác giả tạo. Khi bạn bỏ thuốc lá, vị giác từ từ trở về trạng thái b́nh thường như lúc chưa hút thuốc. Hăy bỏ thuốc lá đi bạn ơi! Thuốc lá làm đen ng̣m lá phổi ḿnh và vợ con, ông bà cha mẹ trong nhà. Nhưng nếu lỡ có hút, xin đừng quăng mẩu thuốc lá xuống đất, trông vừa bẩn mắt vừa có nguy cơ gây hỏa hoạn.

Chúng ta hăy xem bài thơ Nhắn Nhủ của tác giả :

Ai ơi!

Hút thuốc liệng tàn,

Tàn liệng có nơi,

Hút rồi đừng liệng lôi thôi,

Để thầy cong lưng lượm,

Buồn ơi là buồn.
 

Và bài thơ Tự Vịnh hay tự trào:

Thiên hạ đua chen chuyện hơn thua,

Riêng tôi quanh quẩn với cảnh chùa,

Trưa trưa cúng ngọ, chiều chấp tác,

Sớm sớm tŕ kinh, tối công phu.
 

Mỏi gối hành Thiền, sức chẳng thiếu,

Ṃn tay lần chuỗi, nguyện vẫn thừa,

Mấy chục năm rồi chưa thấy Phật,

Té ra nghĩ lại: Vụng đường tu.

Thưa Thầy, đă có ông Phật ở trong tâm rồi th́ đâu c̣n thấy ông Phật ở bên ngoài nữa có phải vậy không Thầy ? Tu là nh́n, lạy ông Phật bằng gỗ đá mà biến thành ông Phật thật trong tâm ḿnh, đó là chân tu.

Tôi xin kết thúc phần giới thiệu thơ ở đây để mời quư vị bước qua phần biên khảo về Tổ Đạt Ma và Huyền Trang.
 

B. Đạt Ma và Huyền Trang.

Đây có thể là cuốn sách biên khảo khá đầy đủ, hấp dẫn về hai huyền thoại lớn nhất của Phật giáo Trung Hoa ảnh hưởng tới Việt Nam, Nhật Bản. Sách xuất bản năm 1989 và đă tái bản ba lần.

1. Bồ Đề Đạt Ma:

Bồ Đề Đạt Ma là Tổ thứ thứ 28 của Thiền Tông Ấn Độ và là vị Tổ thứ nhất của Thiền Tông Trung Hoa. V́ có quá nhiều điều kỳ bí xoay quanh cuộc đời của ngài cho nên nảy ra quan điểm cho rằng đây chỉ là nhân vật trong huyền thoại chứ không có thật. Trong tinh thần của một nhà biên khảo khách quan, tác giả đă thẳng thắn tŕnh bày cả những tài liệu, luận cứ cho rằng Bồ Đề Đạt Ma chỉ là một huyền thoại, trong đó:

- Trong cuốn Lăng Già Tự Sự của Tịnh Giác (thế kỷ thứ 8) cho rằng chính Câu Na Bạt Đà La là vị Tổ thứ nhất của Thiền Tông Trung Hoa chứ không phải Bồ Đề Đạt Ma.

- Theo tác giả người Pháp Paul Demieville, trong cuốn Consile de l’hasa đă cho rằng, “Nguyên trước Thiền Tông có tên là Lăng Già Tông. Tác giả của Lăng Già Sự Tư Kư đă có lư khi nhận định rằng Câu Na Bạt Đà La là tổ sư đầu tiên của Thiền Tông và là người dịch Kinh Lăng Già ra Hán Văn.

- Trong cuốn “Phật giáo: Bản chất và sự phát triển”, Edmond Conzé cho rằng, “Măi đến 80 năm sau (năm 520) Bồ Đề Đạt Ma tới Quảng Châu và cũng chỉ là nhân vật hoang đường.”

Thế nhưng Bồ Đề Đạt Ma là nhân vật có thật qua các tài liệu và luận cứ :

- Học giả Phùng Hữu Lan tin rằng Bồ Đề Đạt Ma đă đưa Thiền Tông vào Trung Hoa.

- Trong thiên khảo luận “Indian Influence on China Thought”, học giả Ấn Độ Pradodh Chandra Bagchi đoan chắc Bồ Đề Đạt Ma là nhân vật có thật, một mẫu người lịch sử, Ngài đến Trung Hoa và tiền bán thế kỷ VI.

- Sau này các nhà biên khảo như: Watts, Suzuki, Hébert, Sasaki, Watanabe, Dumouline…đều xác nhận Bồ Đề Đạt Ma đă khai sáng Thiền Tông Trung Hoa.

Vậy th́ Bồ Đề Đạt Ma là người như thế nào ?

- Ngài thuộc ḍng Sát Đế Lợi (Vơ Quan), con thứ ba của Vua Chi Vương nước Nam Thiên Trúc (Cao Nguyên Dekkan, Deccan Plateau bao gồm trung và nam Ấn Độ). Nhân ngày lễ đức vua cúng dường trai tăng, Ngài Bát Nhă Đa La (Prajnatra) - vị tổ Thiền Tông Ấn Độ thứ 27 thấy vị hoàng tử này có nhiều nét đặc biệt về phong thái, ngôn ngữ và luận bàn về chữ Tâm. Ngài bèn thu nhận làm đệ tử. Một hôm ngài gọi Bồ Đề Đạt Ma tới truyền pháp và nói rằng, “Sau này sang Trung Hoa (Đông Thổ) mới là nhân duyên lớn. Song hăy chờ ta diệt độ khoảng 60 năm rồi hăy đi. Nếu ngươi đi sớm e có sự kiện không tốt.”

- Sau một thời gian giáo hóa ở trong cung, năm 517, Bồ Đề Đạt Ma đem lời sấm kư tŕnh lên vua cha. Đức vua không cản và sai đóng thuyền, phái thủy thủ đưa ngài sang Trung Hoa. Theo tài liệu viết bằng chữ Hán của ngài Ấn Thuận - đệ tử lớn của Thái Hư Đại Sư th́ Tổ Đạt Ma đă đến Việt Nam (Miền Bắc) trước rồi mới ghé Quảng Châu. Ngài đến Quảng Châu vào đời Nhà Lương. Thiên sứ ở tỉnh này ra tận thuyền đón ngài và dâng sớ tâu lên Lương Vơ Đế. Và sự nghiệp hoằng pháp lúc xuôi ḍng, lúc gặp thác ghềnh của ngài bắt đầu. Theo sự luận giải của Đại sư Suzuki th́, “Thiền Tông truyền thừa ở Ấn Độ thường nặng về huyền bí, khó hiểu, xa rời uyên nguyên của Thiền học. Thiền Tông phải cần đến một tâm hồn đă từng thấm nhuần tư tưởng Lăo - Trang mà vẫn không thể tách ra ngoài t́nh tiết của cuộc sống hàng ngày.”

- Khi ngài đến Trung Hoa th́ Phật giáo Trung Hoa đang đắm ch́m trong h́nh thức (chấp sắc, chấp tướng) mà xa ĺa cốt tủy của Thiền hay của Phật giáo. Chính v́ thế mà cuộc hội kiến giữa ngài và Lương Vơ Đế không đem lại kết quả nào.

- Thế nhưng sau chín năm “diện bích” giáo lư và cách truyền đạo của ngài vang dội như sấm nổ và nó vẫn c̣n là mạng sống của Thiền Tông cho tới ngày hôm nay. Giáo lư đó rất đơn giản và cô kết bằng bốn câu như sau:

Giáo ngoại biệt truyền,

Bất lập văn tự,

Trực chỉ chân tâm,

Kiến tánh thành Phật.

 

Bốn lời dạy này có thể hiểu như sau:

Không có bộ kinh nào là riêng của Thiền. Tất cả đều là kinh của Thiền.

Cho nên không cần lập văn tự, nhưng cần tỏ ngộ chứng đắc.

Pháp chỉ hay nhất là nh́n thẳng vào Tâm ḿnh, đừng t́m đâu khác.

Thấy tánh Phật, thấy tánh Không th́ thành Phật. (*)

 

Theo tác giả, khi ḍng Thiền truyền tới Ngài Huệ Năng th́ Thiền không c̣n mang bản sắc Ấn Độ nữa mà hoàn toàn mang vóc dáng, đặc trưng Trung Hoa và được truyền qua năm đời: Huệ Khả (486-593), Tăng Xán (606), Đạo Tín (580-651), Hoằng Nhẫn (601-674), Huệ Năng (638-713).

Quư vị nào muốn biết thêm về “huyền thoại Đạt Ma” cùng lời dạy của ngài xin đọc thêm tại sách.

 

2. Huyền Trang

Ngài Huyền Trang sinh ra vào cuối đời Nhà Tùy, đầu Nhà Đường đă bỏ ra 16 năm băng rừng, lội suối, trèo non, sa mạc sang Ấn Độ thỉnh kinh và trở thành một huyền thoại được Ngô Thừa Ân tiểu thuyết hóa rồi đóng thành phim Tây Du Kư khiến làm say mê bao thế hệ Trung Hoa và Việt Nam. Theo tác giả, Ngài Huyền Trang hướng về Tây giữa lúc :

- Phật giáo Ấn Độ đang ở thời kỳ suy vi. Cuộc xâm lăng của Hung Nô phá tan nhiều chùa chiền, kinh điển cũng như những thánh tích của Phật giáo. Ấn Độ suy yếu v́ sự tranh hùng giữa các tiểu quốc, sự quật khởi của Bà La Môn.

- Trong khi nước Trung Hoa có quá nhiều đạo như: Đạo Giáo của Lăo Tử, Bái Hỏa Giáo xuất phát từ Ba Tư truyền vào Trung Hoa dưới thời Nam-Bắc Triều, Ma Ni Giáo biến thái của Bái Hỏa Giáo, Cảnh Giáo là một chi phái của Cơ Đốc Giáo sáng lập tại vùng Trung Đông.

Con đường thỉnh kinh của Huyền Trang là bước đường gian lao khôn tả:

- Qua sa mạc Gobi, len lỏi trong rừng già bị lính biên pḥng bắn một mũi tên vào đùi máu ra lai láng, lấy lá cây đắp vào vết thương, lầm lũi tiến lên phía trước một ḿnh, không có Tôn Ngộ Không, Chư Bát Giới và Sa Tăng theo hộ vệ.

- Tới thị trấn Hami của nước Turfan, Vua Chu Wen Tai muốn ngài ở lại lâu để giúp cho đạo pháp, lănh đạo giáo hội, nhưng ngài cương quyết ra đi khiến nhà vua cảm động rơi nước mắt khi ngài chỉ nhận lương thực cho ba ngày ăn. 

- Tới Kucha - một trung tâm quan trọng ở vùng Trung Á ảnh hưởng bởi nền văn minh Ba Tư và ngài lưu lại ở đây hai tháng. Ngài đă thảo luận về đạo pháp với chư tăng và nhận thấy, “Chủ trương, giới luật tuy khác nhau nhưng quả thật nền văn hóa Phật giáo bành trướng tại tiểu quốc này đă tạo cho con người hoang dă một nếp sống thuần thành, sâu sắc và độ lượng.”

- Một ḿnh chống gậy đi tới vùng Bail, rồi đến vùng nước ấm Issy-Rul, ngài tiếp xúc với Đại Hăn (Khan). Vua Đại Hăn trước vốn là một tăng sĩ hiểu sâu về Phật giáo cho nên tiếp ngài rất trọng thể, có cả triều thần, sứ giả đến dự. Khi giă từ, nhà vua đă sai một đội cận vệ tiễn chân ngài qua hai vùng đất hiểm trở là Pamirs và Bactria.

- Khi tới Samarquand là kinh đô của tiểu quốc Sogdiana, ngài nấn ná ở đây một thời gian để phát huy tư tưởng Phật giáo là vùng pha trộn giữa Bái Hỏa Giáo và Phật giáo.

- Xuôi xuống hướng nam, ngài vượt qua đất Thổ (Pakistan) là Vùng Cổng Sắt (Gate of Iron) phân ranh hai nền văn hóa. Tân quân vốn là người mộ đạo, cung thỉnh ngài đến kinh đô Balk là nơi có nhiều chùa chiền nguy nga, theo Tiểu Thừa, dù một số chùa đă bị tàn phá khi Hung Nô tiến vào vùng này.

- Khi tới vùng Bamiyan ở đây có đến mấy trăm ngôi chùa đồ sộ, hiếm thấy nơi nào có mức sống như vậy, tính ra có đến cả ngàn nhà sư tu hành. Tại đây có hai tượng Phật khổng lồ cao tới 34 mét và 51 mét.

- Rời khỏi xứ Bamiyan ngài tiến tới vùng Kapiya rồi phải băng qua dăy núi Shibar với độ cao 2700 mét rồi một cơn băo thổi tới khiến ngài lạc đường. May nhờ các thợ săn chuyên nghề, rành đường mà ngài mới có thể định được hướng và tiến tới Kapisa- một địa danh ở bắc Kabul thuộc A Phú Hăn. Đây là một trung tâm thương mại sầm uất nằm trên trục lộ Ấn Độ-Bactria. Vị vua ở đây là một tín đồ Phật giáo Đại Thừa và ngài có dịp tiếp xúc với triết gia Pranakara.

- Sau mùa thu năm 630, ngài từ giă Kapisa tiến về Jalababad, sau đó đến Lampaka là vùng đất màu mỡ, đâu đâu cũng trồng lúa và mía. Người dân ở đây hồn nhiên tới nỗi khi giao thương với những người xứ khác họ đều bị lường gạt, nhưng họ là những người mộ Đạo Phật. Ngài được vị cao tăng trong vùng hướng dẫn tới chiêm bái một Phật tích nổi tiếng nhất xứ này, đó là căn nhà của tên cướp lừng danh Gopata được đức Phật giáo hóa.

- Tại tiểu quốc Peshawar nằm ở tây bắc Ấn Độ nằm ở thượng lưu Sông Hằng. Đây là chiếc nôi của nền văn minh Phật giáo Ấn Độ nhưng đă bị giống dân Phương Tây xâm lăng vào đầu thế kỷ Tây Lịch mà khi ngài đến đó tiểu quốc này vẫn chưa hồi sinh với “tâm cảm bùi ngùi”.

- Rời Peshawar, ngài tới Kashmir, phải băng qua một rặng núi lớn và nhuốm bệnh, phải lưu lại hơn bốn tháng. Rồi ngài đi vào vùng Udyama là vùng núi hiểm trở cho nên vẫn c̣n giữ lại được những di tích lịch sử qua cuộc xâm lăng của Hung Nô. Nơi đây vẫn c̣n 1400 ngôi chùa và 18,000 vị tăng. Udyama cũng c̣n chịu ảnh hưởng của Phù Chú Giáo. Tại Kashmir ngài đă t́m được bản gốc của các bộ kinh: Trường A Hàm, Trung A Hàm, Tạp A Hàm, Tăng Nhứt A Hàm, Tiểu A Hàm. Những Luận Tạng gồm có 7 bộ. Cũng tại đây ngài đă thọ giáo vị cao tăng Maha Yamist đă 70 tuổi nhưng là luận sư/nhà lư luận Phật giáo bậc nhất của Ấn Độ vào Thế Kỷ thứ VII.

- Tới Sakala c̣n gọi là Sialkot - vùng chịu nhiều ảnh hưởng của Hồi giáo, chứng kiến cuộc tranh chấp giữa Phật giáo và Hồi giáo và ngài đă khuyên tín đồ hai bên cần nhẫn nhục.

- Rời Sakala ngài đến Cinabkukti (năm 633) một tiểu quốc c̣n phôi thai. Dân ở đây sống bằng nghề săn bắn và chăn nuôi, theo Phù Chú Giáo và không hiểu mấy về tư tưởng và tổ chức Phật giáo.

- Năm 634 ngài đến Mathara một đô thị cổ và có tŕnh độ văn hóa cao, Phật giáo phát triển rất mạnh và theo truyền thuyết đă có những cơ sở ấn loát kinh điển Phật giáo. Và ngài đă bỏ nhiều th́ giờ để khảo sát và chiêm bái vùng này.

Phần cuối cùng của sách, tác giả c̣n viết lại huyền thoại về cuộc đời của thân phụ, thân mẫu của ngài đă được mô tả trong cuốn phim Tây Du Kư và so sánh nhân vật Huyền Trang qua hai bộ Tây Vức Kỳ và Tây Du Kư. (**)

Theo Tây Vức Kư, khi trở về, ngài đă bỏ công dịch thuật rất nhiều bộ kinh nhất là Duy Thức Luận của ngài Long Thọ, Mă Minh,Vô Trước và Thế Thân tạo ảnh hưởng rộng lớn tại Trung Hoa, Nhật Bản, Việt Nam và khắp vùng Đông Nam Á.

Theo Tây Du Kư, khi ngài Huyền Trang trở về được vua Đường Thái Tông tiếp đón cực kỳ trang nghiêm và ngài thuật lại quá tŕnh đi Tây Trúc, thỉnh được 5048 cuốn thuộc 35 bộ chánh kinh.

Theo cảm nhận của tôi, Ngài Huyền Trang là một vị Thánh, là danh nhân của thế giới với chuyến viễn du thỉnh kinh, khảo cứu bằng đường bộ xuyên lục địa chưa từng có trong lịch sử loài người.

Qua những ǵ mà ngài Huyền Trang ghi lại trong chuyến đi từ Trung Hoa sang Ấn Độ chúng ta thấy những nước nào mà Phật giáo thịnh hành, người dân sống hiền ḥa, văn hóa phát triển, phụ nữ được tôn trọng. C̣n nơi nào mà Phật giáo bị hủy diệt như Ấn Độ th́ mê tín dị đoan lan tràn, phụ nữ bị coi rẻ, văn hóa ngưng trệ, đất nước suy yếu. Riêng tại những quốc gia trước đây theo Phật giáo mà bị Hồi giáo hủy diệt như Pakistan (Hồi Quốc), A Phú Hăn (Afghanistan) th́ đất nước sống trong u ám, văn hóa và đời sống không phát triển, thiếu tính nhân bản, tu sĩ và giới cầm quyền trở nên vô cùng cực đoan, trói buộc trong giáo điều cứng nhắc và tôn thờ bạo động. Do đó những ai nói rằng những nước theo Phật giáo đều chậm tiến, họ đều không hiểu biết ǵ về lịch sử thế giới và nhắm mắt trước giá trị nhân bản, trí tuệ, khai phóng và ḥa b́nh của Phật giáo.

 

Đây là cuốn sách rất có giá trị mà chúng ta cần đọc. 
Quư vị nào muốn có sách xin liên lạc:
Tổ Đ́nh Từ Đàm Hải Ngoại
 

615 North Gilbert Rd.

Irving , Texas 75061-6240

ĐT: (972) 986-1019

Điện thư: tudamhaingoai@gmail.com

 

California ngày 04/1/2108

Đào Văn B́nh

 
 

(*) Hoàn toàn khế hợp với Bát Nhă Tâm Kinh. Chiếu kiến thấy “Ngũ Uẩn Giai Không” và “Thị chư pháp không tướng” th́ xa ĺa mọi vọng tưởng điên đảo mà thành Phật.

(**) Cuốn phim Tây Du Kư được chiếu đi chiếu lại trên chương tŕnh truyền h́nh 26 của người Hoa ở San Francisco với cái tên, “Journey to the West” hay “The Monkey King”.