NHỮNG CÂU CHUYỆN NHÂN QUẢ

CÓ THẬT TRONG ĐỜI SỐNG (*)

 

Thích Huyền Diệu

 

(PGVN) Tôi viết quyển sách nhỏ này với ḷng chân thành rút ra từ kinh nghiệm sống trong tận đáy ḷng. Tôi ước mong được thấy mọi chúng sinh được sống trong an vui hạnh phúc, trái đất này được măi xanh và tươi đẹp, giữa con người với con người biết yêu quư tôn trọng lẫn nhau.

 

THAY LỜI TỰA
 

Trên đời này, hạnh phúc và khổ đau; chiến tranh và ḥa b́nh; giàu và nghèo… nếu chúng ta chịu khó tu tập một chút và giữ tâm thật b́nh thản, chúng ta sẽ khám phá ra nhiều điều hay vô cùng. Có nhiều người có cùng một miếng đất, cùng một hột giống, nhưng người có kết quả tốt, người th́ lại không ?

Có người sinh ra trong một gia đ́nh giàu có, thừa hưởng một gia tài lớn của ông bà cha mẹ để lại, nhưng tại sao một thời gian sau th́ lại bị nghèo? Có người khi c̣n sống thông minh bặt thiệp về mọi phương diện, nhưng họ đă dùng mọi mưu xảo đi lường gạt người khác dưới nhiều h́nh thức khác nhau để có một gia tài thật lớn, thế mà cuối cùng họ ăn cũng không ăn được ngon, ngủ không được yên, rồi để người khác giựt lại và chết một cách thảm thiết ?!

Nhiều người có quyền uy vào bậc nhất trên trái đất này, từ cha truyền con nối từ mấy trăm năm, đi đâu cũng có hàng trăm ngàn người tung hô vạn tuế; nhưng chỉ trong một thời gian ngắn thôi, uy quyền, thân thế lại tan theo mây khói?!

Có người khi sống tiền bạc của báu chất để đầy kho, nhưng khi chết không có một cái ḥm để chôn ?!

Tôi là một người được đào luyện trong môi trường khoa học, gần 50 năm nay sống và làm việc trên nhiều nước khác nhau. Tôi đă để tâm quan sát và nghiên cứu về vấn đề luật nhân quả. Tôi quan sát t́m hiểu, điều tra cặn kẽ theo tinh thần khoa học khách quan không thiên vị hẹp ḥi dù bất cứ hoàn cảnh nào. Đôi lúc tôi lấy ngay chính bản thân cuộc đời tôi làm điều thí nghiệm về sự thật nhân quả. Tôi thấy đúng vô cùng. Việc thí nghiệm của tôi lập đi lập lại nhiều lần trong nhiều trường hợp và hoàn cảnh khác nhau, đều thấy rơ sự thật nhân quả rất chính xác, rất khoa học và công bằng mà không ai có thể chạy thoát được.

Người gây tội lỗi, phạm luật của một đất nước, của tổ chức họ, họ có thể t́m cách trốn đi nước khác hay tung tiền bạc ra lo lót chạy tội hoặc mướn nhiều luật sư giỏi để thoát khỏi tù tội. Nhưng tôi quan sát thật kĩ, họ không sao thoát khỏi luật nhân quả.

Tập sách nhỏ này không phải là một hồi kư, phóng sự hay cổ tích mà là sự tổng hợp những nghiên cứu và kinh nghiệm sống của nhiều cá nhân viết và kể ra những sự thật. Sự ra đời của tập sách nhỏ này không có mục đích bêu xấu hay chỉ trích một cá nhân nào hay tổ chức nào hết, mà để cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm để sống và làm việc tốt hơn, cùng có sự an vui hạnh phúc trong cơi đời này. Xin quư bạn đọc cũng nên quan sát và tham gia nghiên cứu về sự thật nhân quả này. Quư vị hăy quan sát thật kĩ có những người chung quanh bạn, họ có nhiều tiền của, nhiều quyền uy, nhiều danh vọng…nhưng họ không tin nhân quả, chuyên môn đi lừa đảo, bóc lột người khác dưới nhiều dạng khác nhau. Quư bạn hăy quan sát thật kĩ sắc diện và cuộc sống của họ, ít được an vui mà lại thường gặp nhiều trắc trở, chính họ và gia đ́nh họ thường gặp nhiều tai nạn, hoặc nhiều khi phải đợi gần cuối cuộc đời th́ họ mới trả nghiệp báo thật nặng.

Trong cuộc sống hằng ngày, nếu chúng ta may mắn gặp được một người thầy hay một người bạn mà biết tin nhân quả, tôi nghĩ đó là việc đại phúc đức, v́ vị thầy tin nhân quả sẽ đem tất cả những điều hay, những chân lư dạy cho học tṛ mà không bao giờ hướng dẫn học tṛ đi đường sai quấy. Người bạn tin nhân quả cũng vậy, họ v́ tin nhân quả không bao giờ dám làm điều sai quấy gây đau khổ cho người khác. Nếu chúng ta được may mắn làm bạn với người tin nhân quả, đó là một phước báu lớn, v́ họ sẽ không bao giờ làm ḿnh đau khổ, không bao giờ họ gây khó khăn. Khi chúng ta thiếu và cần việc ǵ họ sẵn sàng chia sẻ, giúp đở cho chúng ta. Nếu chúng ta có tiền hùn hạp làm ăn với người tin nhân quả, họ có lời họ cũng sẽ chia cho ḿnh, họ không nỡ gạt ḿnh. Mà nếu lỡ họ có gặp khó khăn và bế tắc họ cũng gạt ḿnh 20 phần trăm hay phân nửa mà thôi, phần c̣n lại ḿnh vẫn có thể sống, chứ nếu kẻ không tin nhân quả th́ chắc chắn họ sẽ gạt luôn ḿnh 100 phần trăm.

Tôi tin tưởng, nếu mọi người trên thế giới này ai cũng tin nhân quả, quyết tâm tránh xa điều ác, nguyện làm điều lành, th́ thế giới này sẽ có ḥa b́nh an vui hạnh phúc.

Xă hội chúng ta hiện tại được gọi là văn minh tiến bộ, khoa học mỗi ngày mỗi phát triển, giúp ích rất nhiều cho con người, nhưng con người càng lúc càng khổ đau, càng bấn loạn nhiều thứ, càng nhiều hận thù, càng nhiều tranh chấp mưu toan để chèn ép bóc lột lẫn nhau dưới nhiều h́nh thức, v́ vậy mà nhiều tai nạn, thiên tai động đất, băo lụt ở nhiều nước trên thế giới, rồi chiến tranh hận thù tranh chấp tranh giành đủ thứ chuyện khắp nơi. Hàng trăm ngàn chuyện tham lam ích kỉ khác xảy ra cũng v́ lư do không tin nhân quả.

Luật nhân quả đă được chứng minh từ hàng ngàn năm qua, rất chính xác và công bằng, nhưng v́ con người vô minh, ḷng tham không đáy nên họ đă làm càn mọi thứ, thế là họ phải lănh đau khổ trong nhiều trường hợp khác nhau.

Tôi cố gắng sưu tập tài liệu rồi viết cuốn sách nhỏ này với ḷng chân thành mong mỏi mọi người trên trái đất này cần phát triển ḷng tin nhân quả, tôn trọng lẫn nhau, phát nguyện không bao giờ làm khổ chúng sinh, kể cả việc tôn trọng môi sinh. Khi ăn quả th́ phải nhớ kẻ trồng cây, khi uống nước th́ phải nhớ nguồn. Cây cối cho chúng ta không khí để thở để sống, như vậy hăy tôn trọng tuyệt đối môi sinh. Nếu mọi người đều tin nhân quả và tôn trọng lẫn nhau như những điều nói trên, tôi tin ḥa b́nh và an vui hạnh phúc sẽ đến chắc chắn với mọi người.

Sau đây là những câu chuyện thật về nhân quả, người viết, người kể có bằng chứng rơ ràng. Rất mong mỏi quư đọc giả đọc xong và chuyển cho người khác cùng đọc. Người người cùng nhau phát triển niềm tin nhân quả, đây là cách thiết thực mà bạn đang đóng góp cho an vui và hạnh phúc của gia đ́nh và đất nước bạn đang sống. Mong quư bạn chia sẻ nhiều câu chuyện thật khác liên quan về sự thật nhân quả, để tác phẩm sau được tiếp tục phong phú hơn. Tin nhân quả chính là mật pháp thật sự đưa tới ḥa b́nh thành công, an vui hạnh phúc cho cá nhân và xă hội, nên tôi mạnh dạn chia sẻ với quư bạn đọc và thân hữu trong quyển nhỏ này.
 

Thành kính tri ân quư vị !

Việt Nam Phật Quốc Tự - Lâm-tỳ-ni,

Phật lịch 2554

Ngày Trăng tṛn tháng tư Tân Măo

Thích Huyền Diệu

 

Thầy Thích Huyền Diệu trụ tŕ Việt Nam Phật Quốc Tự, Ấn Độ

 

1. Sự thật quả báo

Nhân dịp phái đoàn chiêm bái đất Phật từ Úc sang từ ngày 18/10-31/10/2010, tôi đón đoàn tại phi trường Kathmandu và đưa đoàn lên vùng Himalaya thăm viếng và tu tập. Himalaya là vùng núi non hiểm trở, nhiều linh thiêng huyền bí mà bao nhiêu người từng mơ ước được viếng thăm và ở lại đây một thời gian.

Nhiều sách vở đă viết về sự huyền bí của vùng Himalaya đă thu hút biết bao tâm hồn yêu quư thiên thiên. Mỗi đoàn chiêm bái đất Phật do tôi hướng dẫn đều đặt cho một cái tên. Đoàn này tôi cho một cái tên hơi ngộ nghĩnh là đoàn Diễm phúc An vui. Mọi người phấn khởi vui mừng nhưng nhiều vị vẫn thắc mắc hỏi tôi về ư nghĩa cái tên đoàn. Cứ như vậy mà nhiều người trong đoàn cứ hỏi đi hỏi lại nhiều lần.

Tôi đợi vào một buổi sáng thật đẹp khi mặt trời lên thật cao để mọi người ngắm nh́n dăy núi tuyết hùng vĩ, thế là tôi kể chung cho mọi người cùng nghe: trong lục đạo được làm thân người là diễm phúc lắm, dù có nhiều khổ đau, khó nhọc nhưng cũng có nhiều điều hay, nhiều điều thú vị. Trên thế giới hiện nay có hàng trăm triệu người không có đủ cơm ăn áo mặc, hơn một tỷ người không có nước sạch mà dùng và hàng trăm triệu người không có đủ thuốc để uống khi bệnh hoạn, nhưng quư vị trong phái đoàn là những người có diễm phúc lớn nhất trong trần gian này có phải vậy không? V́ quư v́ đă có cơm ăn áo mặc đầy đủ, có nhà cao cửa rộng, có đầy đủ tiện nghi vật chất, có tiền bố thí và có tiền đi du lịch đi chiêm bái nhiều nơi… Mọi người lặng thinh nghe tôi nói, có vị rất xúc động và không ai trả lời ǵ hết rồi mặt trời càng lúc càng lên cao mây mù càng lúc càng tan dần và dăy núi tuyết Himalaya càng hiện rơ hơn, mọi người cùng tập trung chăm chú ngắm nh́n sự hùng vĩ cũa Himalaya. Có người bật khóc như trẻ thơ và có người hốt hoảng chạy tới hỏi tôi tại sao có những hiện tượng như vậy? Đứng trước cảnh thiên nhiên hùng vĩ của nơi linh địa, họ bừng tỉnh cảm được một số việc làm họ không cầm được nước mắt, từ đó nhiều người rất siêng năng tu tập dưới sự hướng dẫn của tôi và một vài vị trong đoàn bổng nhiên lại đề nghị mỗi người nên kể ra một câu chuyện nhân quả thật xảy ra trong cuộc đời mà mỗi người đă chứng kiến. Thế là những câu chuyện thật về quả báo được mọi người trong đoàn lần lượt kể trong nhiều ngày, tôi ghi âm và biên chép lại làm thành cuốn sách về những câu chuyện nhỏ này.
 

Những câu chuyện thật về quả báo được kể ra thật chi tiết và rất cảm động.

Sau quyển sách T́nh Thương Và Ḷng Độ Lượng tập 1 được nhiều độc giả yêu thích, nhiều người yêu cầu viết tiếp quyển thứ 2, thế là tôi bắt đầu viết tiếp quyển thứ 2 được hai tuần. Nhưng khi thầy Nhuận Đạt cùng các Phật tử tu tập ở Việt Nam Phật Quốc Tự yêu cầu tôi nên viết cuốn sách về sự thật quả báo trước. Các vị này nói rằng cuốn sách này ra đời có thể đóng góp nhiều điều tốt cho xă hội đầy biến động hiện nay. Các vị cũng nói rất tin tưởng về những chuyện sự thật quả báo này bằng mắt thấy tai nghe đă xảy ra trong đời này, có thể kéo con người trở về với con đường tốt đẹp của chân thiện mỹ, con đường của t́nh thương, của từ bi và trí tuệ để giảm bớt sự đau khổ của nhiều người.

Suốt mấy bữa liền sau những buổi uống nước trà ngắm nh́n b́nh minh và hoàng hôn ở Việt Nam Phật Quốc Tự, các vị cứ đem đề tài này ra nói, nên tôi tạm không viết tiếp quyển 2 T́nh Thương Và Ḷng Độ Lượngmà chuyển sang viết đề tài Nhân Quả này.

Cuộc đời tôi đă tận mắt chứng kiến quả báo nhăn tiền trên đất Phật đă đến với tôi ngay trong cuộc đời này, phải thanh thoát b́nh tĩnh lắm mới thấy được sự thật, sự công bằng của luật quả báo.

Luật pháp của từng quốc gia khác nhau, người phạm luật có thể trốn tránh hay có thể mướn luật sự giỏi để chạy tội hay có thể dùng nhiều phương cách để thoát tội nhưng luật nhân quả th́ không sao tránh được, có bao nhiêu tiền của, bao nhiêu thế lực… cũng không sao thay thế được và người gây tội lỗi phải trả quả báo dưới nhiều h́nh thức khác nhau ngay trong đời này.

Chúng ta phải b́nh tĩnh và tinh tế lắm mới thấy rơ điều này. Tôi là người được đào tạo trong môi trường khoa học Âu Mỹ, tôi đă kiểm chứng luật nhân quả này rất nhiều lần, nhiều nơi trên thế giới trong nhiều trường hợp khác nhau thấy rất công bằng và chính xác. Như trong quyển sách Ḥa B́nh Nepal Trong Tầm Taytôi viết ở Lâm T́ Ni nơi đức phật Thích Ca giáng trần, tôi có đề cập đến một nhân vật Việt Nam nổi tiếng khắp nơi trên thế giới. Tôi đă từng ở gần một thời gian với vị lănh tụ này, và tôi kiên nhẫn quan sát thật kỹ hành động và những việc làm của vị này gần 40 chục năm từ khi gặp ở Việt Nam và khi sang Ấn Độ, sau đó vị này nổi tiếng khắp nơi trên thế giới. Lănh tụ này bằng mọi cách gây ảnh hưởng dưới nhiều dạng khác nhau, t́m cách thu tiền có tổ chức có phương pháp rất tinh vi và không từ bỏ phương tiện nào miễn sao để đạt được mục đích. Một tổ chức khá vĩ mô được xây dựng lên đầy công phu, tinh vi miễn sao kiếm được nhiều tiền và xây dựng thân thế bất chấp những thiệt hại, khổ đau cho người khác !

Theo những nguồn tin đáng tin cậy vị này sau nhiều năm tổ chức tinh vi, tích lũy tiền bạc của cải trên 20 triệu đô la Mỹ. Với một người không cần làm ǵ nặng nhọc mà có được số tiền lớn như vậy quả là đặc biệt. Chúng ta mỗi người đi làm mướn từ lục địa này sang lục địa khác, từ nước này qua nước nọ, lao động liên tục nhiều năm chưa kiếm được một triệu bạc thế mà vị này không cần di chuyển làm việc nặng nhọc chi hết mà vẫn thu được từ mọi người gần 20 triệu đô la Mĩ. Thật là lạ lùng! kỳ hoặc không thể tưởng tượng được!? Nếu số tiền này được nằm trong tay người có tâm lành th́ làm được biết bao nhiêu việc thiện để cứu vớt chúng sinh. Nhân vật lănh đạo tối cao của tổ chức này chắc chắn tin tưởng một cách chắc nịch rằng, với một tài sản vô cùng to lớn như vậy sẽ mặc sức mà sống hưởng thụ hàng ngàn năm để thưởng thức, có thể cùng với những vị thân thích, đoàn tùy tùng, thân bằng quyến thuộc và các học tṛ của ông ta hưởng thụ dù đến trăm năm cũng khó hết được. Nhưng hỡi ôi, định luật nhân quả do chư Phật, chư tổ, chư thánh hiền đă thuyết giảng từ bao ngh́n năm nay đă cho chúng ta thấy rơ như mặt trời tỏa chiếu. Tiền của th́ đầy ắp, chức vụ danh vọng của vị này th́ chất cả xe… nhưng trước khi chết, vị lănh tụ này không ăn uống chi được hết trong nhiều năm mà phải nhờ cái máy ăn dùm, nghĩa là mỗi lần ăn bác sĩ phải dùng bằng ống nhựa đưa vào miệng tới bao tử rồi bơm vitamin vào để có đủ chất để sống. Cứ như vậy mà kéo dài nhiều năm, nhưng việc đơn giản như đi vệ sinh toilet cũng phải nằm ngay tại chỗ… c̣n nhiều cảnh đau khổ và hăi hùng khác cứ vùi dập lên vị lănh tụ đó, nghe nhiều người kể lại mà lạnh người. Chúng ta kể lại những sự thật về nhân quả không phải để bêu xấu bất cứ ai, mà muốn làm phương tiện sáng tỏ thí dụ cụ thể về sự thật mà chư Phật và chư vị thánh nhân đă dạy, đă kể để chỉ dạy chúng sinh, nhưng chúng sinh v́ vô minh mà khinh thường những định luật vũ trụ nên họ phải gánh chịu những kết quả hăi hùng như vậy. Vị lănh tụ này sau nhiều năm nằm một chỗ, những cảnh tượng đau khổ ập về, vị lănh tụ không thể nói nên lời, chỉ co ra co vào hai ngón tay nghe vu vu, và chỉ biết khóc trong lặng lẽ mà không ai có thể thấu hiểu được vị lănh tụ muốn nói ǵ, nhắn nhủ ǵ với những người đi thăm. Nhiều ngưới cứ thắc mắc biểu hiện như vậy là thế nào? Có lúc tôi gặp được bậc chân sư, tôi có đem việc lạ này để hỏi, ngài kể lại và tâm sự rằng vị lănh tụ đó muốn nói mọi người đừng bao giờ gây tội lỗi cho người khác, đừng lạm dụng của tam bảo, của đàn na tín thí như vị lănh tụ đă làm. C̣n hai bàn tay co ra co vào là muốn nói số tiền 20 triệu đó bây giờ để ở đâu và ai quản lư.

Sau khi vị lănh tụ ấy qua đời, nhiều tranh căi giữa thân bằng quyến thuộc với học tṛ đệ tử tông môn khá sôi động, mà người biết chuyện đó khá rơ là bà Bùi Thị Sâm pháp danh Diệu Nhung ở Pháp. Bà Sâm nay đă trên 80 tuổi mà sức khỏe vẫn c̣n tốt, và Bà biết rất nhiều chuyện quả báo nhăn tiền. Bà kể lại câu chuyện và nói không chỉ thầy làm không phải th́ thầy chịu mà trong thân bằng quyến thuộc con cháu cũng bị quả báo lây, nhiều điều tai nạn khủng khiếp xảy ra cho các người thân cận. Nếu có dịp nào thuận tiện hơn chúng ta sẽ trở lại câu chuyện này chi tiết hơn. Nếu sức khỏe cho phép và có đủ nhân duyên tôi sẽ kể về sự thật quả báo này, một quả báo hiện tiền ngay trong đời này chứ không phải đợi đến đời sau. Đúng là những ǵ chư Phật, chư ThầyTổ, chư vị Tôn Sư chỉ dạy đều đúng 100 phần trăm.

 

2. Gạt tiền chùa.

Mỗi lúc nhàn rỗi tôi và thầy U. Nyaneinda, trụ tŕ chùa Miến điện thường ngồi chung cùng uống trà nói nhiều chuyện, trong đó có những chuyện về nhân quả đời này. Thầy và tôi có nhiều điểm giống nhau nên rất thân, tuy nhiên vẫn có nhiều điểm không giống nhưng chúng tôi biết ḥa đồng nhân nhượng tôn kính lẫn nhau, nên mọi việc điều tốt đẹp. Chúng tôi đều đồng ư quan điểm bà con xa không bằng láng giềng gần, nên rất lưu tâm giúp đỡ những người sống gần chùa.

Gần chùa có một gia đ́nh biết chùa cũng gần 20 năm nên thầy cả rất tin tưởng và thương quư, đó là gia đ́nh anh Yadaw Kuma. Anh là người thường xuyên giúp đỡ cho chùa mỗi khi có việc cần. Một hôm anh chạy qua chùa Miến điện (tôi cũng có mặt ở đó) anh ta xin mượn thầy cả 40 ngàn rupees để mua 2 con ḅ sữa kiếm tiền nuôi con ăn học. Anh năn nỉ Thầy cả để mượn tiền và hứa sẽ hoàn trả đầy đủ trong ṿng 6 tháng.

Những năm 1985, 40 ngàn rupees là tương đối lớn, bằng 1 năm thu nhập của những người lao động trung b́nh. Anh Yadaw Kuma ngày nào cũng qua chùa năn nỉ Thầy cả mượn tiền để lo cho gia đ́nh và công việc. Trước t́nh cảnh thương tâm và nhiều ngày năn nỉ như vậy cuối cùng Thầy cả cũng xiêu ḷng, Thầy lấy tiền chùa và đi mượn các chỗ khác cho đủ 40 ngàn rupees để cho anh ta mượn. Ngày cho anh Yadaw Kuma mượn tiền, Thầy có cho mời tôi qua uống trà và có lẽ cũng để làm chứng việc thầy cho anh mượn tiền. Khi thầy đưa tiền cho anh có sự hiện diện của tôi, Thầy nói đi nói lại nhiều lần đây là tiền chùa, tiền linh thiêng, tiền của những tấm ḷng thành tâm cúng dường tam bảo, Thầy nói đúng ra thầy không có quyền lấy tiền cho anh mượn, nhưng v́ thương hoàn cảnh của anh đang khó khăn nên giúp đỡ. Thầy đề nghị anh nên cố gắng trả lại cho chùa càng sớm càng tốt, chậm nhất là 6 tháng. Anh ta trả lời chắc nịch: “Nhất định con sẽ trả lại cho Thầy đúng kỳ hẹn, thầy đừng lo!”. Nói xong anh cầm số tiền lạy tạ Thầy cả 3 lạy với vẻ mặt mừng khó tả, rồi anh ta quay sang tôi xá lia lịa nói cảm ơn, cảm ơn.

Không phải tiền của tôi mà anh ta cảm ơn ríu rít như vậy tôi lấy làm ngạc nhiên, sau này tôi mới hiểu anh ta tưởng tôi có cho Thầy cả mượn một số tiền nhưng thật ra tôi không có cho thầy mượn đồng nào cả, mà tôi chỉ là người có mặt để chứng kiến anh mượn tiền Thầy cả thôi.

Thời gian 6 tháng trôi qua khá nhanh Thầy cả có nhắc anh trả tiền phần nào để xây dựng chùa nhưng anh cứ t́m cách tŕ hoăn. Vài ngày vài tuần vẫn không thấy anh trả, từ đó anh ít lui tới chùa v́ sợ Thầy cả đ̣i tiền. Thế là một hôm nhân có sự hiện diện của tôi cùng uống trà ăn bánh ngọt mới từ Miến Điện gởi qua, Thầy nhờ chú thị giả qua mời anh Yadaw Kuma qua cùng uống trà ăn bánh. Khi anh ta qua thấy chúng tôi vui vẻ uống trà với nhau th́ anh bỗng dưng ̣a lên khóc nức nở và nói vợ con đang đau nặng mà không đủ tiền đưa vợ đi nhà thương. Gặp cảnh thương đau như vậy tôi và thầy cả c̣n an ủi anh rồi mọi người mỗi người một ít đóng góp để anh kịp đưa vợ đi nhà thương. Vài hôm sau tôi gặp mấy người hàng xóm để hỏi thăm về bệnh t́nh của vợ anh ở nhà thương ra sao, mới vỡ lẽ là vợ anh ta không có bệnh đau ǵ cả, chị ta rất khỏe mạnh ở nhà cùng mấy đứa con lấy sữa ḅ bán kiếm tiền. Tôi thấy hơi ngạc nhiên và đem chuyện này nói lại cho Thầy cả biết trong một buổi uống trà nhàn rỗi. Thầy cả nghe xong có vẻ trầm ngâm và linh tính có ǵ đó không tốt xảy ra. Thầy nói với tôi: “Có lẽ thằng Yadaw Kuma đă gạt lấy số tiền mà cách đây mấy tháng ḿnh cho nó mượn. Ḿnh thấy nó khó khăn nghèo khổ nên mượn giúp nó, nhưng tôi có cảm tưởng số tiền ḿnh cho mượn và tấm ḷng tốt của những người khác sẽ mất”. Tôi thấy Thầy nói với giọng trầm trầm và buồn buồn nên tôi vội an ủi: “Chắc thằng Yadaw Kuma đang gặp khó khăn nên chưa trả được thôi”, tôi nói với thầy vẫn c̣n hi vọng. Nhưng Thầy nói tiếp: “Ḿnh v́ thương người mà bị nạn”.

Sau đó khoảng một tuần lễ, nhân có lễ hội lớn tại Bồ Đề Đạo Tràng nhiều người đến dự trong đó có những nhân vật nổi tiếng của tiểu bang Bihar và địa phương, có lẽ Thầy cả cũng nhân cơ hội này chính thức đ̣i tiền lại cho dễ hơn chăng? Đúng như tôi đă nghĩ, khi lễ gần xong mọi người ra về khá nhiều, chỉ c̣n vài nhân vật thân với Thầy cả cùng ngồi với tôi uống trà, bất chợt thầy thấy hai vợ chồng Yadaw Kuma đi qua, thầy cũng mời lại ngồi uống trà thế là Yadaw Kuma cùng ngồi vào bàn uống trà và anh ta mở miệng khen năm nay lễ hội tổ chức rất lớn và rất vui, lại có những nhân vật cấp cao đến dự. Anh cũng tán thưởng khen các nhân vật VIP cùng ngồi uống trà ăn bánh. Mọi người cùng ngồi uống trà tṛ chuyện th́ Thầy cả bất chợt nói với Yadaw Kuma nên trả lại phần nào số tiền cho chùa, để có mà sửa chữa một số nơi đang xuống cấp và hư nát. Khi thầy hỏi Yadaw Kuma một cách nhẹ nhàng và khiêm tốn th́ anh liền hứ một cái thật lớn làm mọi người giựt ḿnh để ư ngay, Yadaw Kuma lại hứ lên một cái nữa rồi nói một cách rất tự nhiên: “Con đă trả tiền cho Thầy hết rồi mà sao thầy c̣n đ̣i nữa? Có thể mấy hôm trước Thầy bị bệnh nên trí nhớ bị quên chăng? Con đă trả tiền thầy ngay tại chỗ thầy đang ngồi đó”. Tôi thấy Thầy cả có vẻ ngạc nhiên sửng sốt trước những lời tự nhiên của Yadaw Kuma, nhưng thầy vẫn b́nh tĩnh nói: “Vậy sao, vậy sao!” rồi Thầy tiếp: “Nếu anh đă trả tiền cho chùa rồi th́ anh hăy đứng dậy đưa tay lên trời nói đi nói lại 3 lần: tôi đă trả tiền chùa rồi.” Thầy vừa nói xong Yadaw Kuma đứng dậy làm ngay. “Con đă trả tiền cho Thầy đầy đủ rồi!” Anh nói đi nói lại 5 lần chứ không phải 3 lần như Thầy cả yêu cầu.

Tôi ngồi đó đếm rất kỹ bằng tiếng Hindi. Ai cũng ph́ cười v́ giọng tiếng Hindi của tôi mang chưa đủ mùi cà ri nị, người nghe biết ngay là không phải dân Ấn Độ chính gốc. Tôi đếm rất nghiêm túc, tôi thấy anh Yadaw Kuma một tay đưa lên trời một tay đưa sau lưng mà nói. Nói xong anh ngồi xuống rót trà uống một cách tự nhiên, cách tự nhiên ấy làm mọi người rất tin tưởng vào lời hứa của anh mà chỉ riêng có Thầy cả và tôi biết sự thật mà thôi.

Sau đó Yadaw Kuma và mọi người điều ra về hết chỉ c̣n 2 chúng tôi ngồi lại uống trà trong bóng đêm với ngọn lửa bập bùng. Thầy cả và tôi ngồi yên lặng một khoảng hơi lâu không nói ǵ hết, màn đêm từ từ buông xuống, sương cũng bắt đầu dày đặc. Tôi th́ nghĩ ngợi lung tung và tận sâu trong tâm hồn tôi thấy rất buồn cho nhân thế! Tôi nghĩ một người có đầy đủ đức độ như Thầy cả vậy mà họ vẫn nhẫn tâm đi lừa gạt Thầy, thật bất nhân và vô lương tâm! Thầy cả cho Yadaw Kuma mượn tiền là để giúp nó những lúc khó khăn chứ có ăn tiền lời đồng nào đâu, sao Yadaw Kuma có thể làm phiền một vị chân tu như vậy?

Thầy cả vẫn trầm ngâm không nói, Thầy suy nghĩ về lời nói của Yadaw Kuma đă hứa “con đă trả tiền cho thầy rồi”! Ánh lửa bập bùng thỉnh thoảng lại nhỏ rồi to, tôi thấy nét mặt của thầy buồn buồn, tôi cũng buồn theo, sự lặng thinh vẫn tiếp diễn ánh lửa khi mờ khi lu tạo thêm vẻ thê lương của cuộc đời nhiều đen bạc, của sự vô ơn bạc nghĩa…

Đêm về khuya, trời càng lạnh, ngọn lửa cháy đỏ từ hồi chiều tới giờ cũng gần tàn, tôi muốn kết thúc buổi gặp gỡ đầy kỉ niệm và nhiều ấn tượng buồn này và cũng muốn làm vơi bớt nỗi buồn của người bạn thân: “Thôi chúng ta không nên buồn v́ chuyện Yadaw Kuma lừa gạt lấy tiền chùa. Nếu kiếp trước ḿnh gạt nó bây giờ nó gạt lại là huề. C̣n không nó sẽ trả quả báo rất sớm”. Thầy thốt lời rất nhanh: “Tôi đồng ư quan điểm đó!” Thế là tôi chia tay Thầy để về c̣n tụng kinh niệm Phật, sáng mai c̣n làm việc khác.

Mấy ngày sau, khi gặp lại Thầy, Thầy vẫn nhắc lại việc Yadaw Kuma gạt tiền chùa mà c̣n dám thề thốt một cách tỉnh bơ. Thầy nói nhưng vẻ mặt thật buồn và rất thất vọng cho nhân thế! Tôi biết thầy đang buồn nên vội khuyên: thầy nên quên chuyện đó đi để tâm hồn thoải mái mà lo những việc khác ư nghĩa hơn, thầy cứ yên tâm sự thật trước sau rồi cũng tỏ bày, Yadaw Kuma thế nào cũng trả quả báo thật sớm, v́ đây là chỗ linh địa, tôi đă chứng kiến nhiều việc hiển linh! Thầy nghe tôi nói vậy, thế là thầy cười vui vẻ, hứa với tôi không nhắc đến việc của Yadaw Kuma nữa.

Khoảng một tuần sau trời mờ mờ chưa sáng, ngoài sân sương mù c̣n dày đặc, thế mà thầy đến gơ cửa pḥng tôi mời qua uống trà. Tôi hơi ngạc nhiên v́ tôi với thầy thường hay ngồi uống trà khi hoàng hôn gần xuống, sao hôm nay lại được mời uống trà trong buổi sáng tinh sương. Tôi nói để tôi lạy Phật xong sẽ qua, tôi sang đến nơi th́ đă thấy thầy có mặt tự bao giờ.

Thầy vui vẻ mời tôi ngồi xuống và nói hôm nay tôi có trà rất ngon mới từ Miến Điện gửi sang nên mời thầy qua thưởng thức. Tôi uống được khoảng hai tách th́ thầy hỏi tôi có biết tin tức ǵ mới không. Thầy hỏi với vẻ mặt nghiêm trang đặc biệt. Tôi hỏi lại thầy có chuyện ǵ lạ phải không. Thầy bảo những lời tôi nói hôm trước linh thiêng lắm. Tôi hỏi lại có chuyện ǵ mà linh thiêng? Thầy từ từ kể lại trong sự xúc động: tối qua anh Babulan, người làm công cho chùa Miến Điện đến báo tin vợ Yadaw Kuma không biết sao mà đau dữ dội, Yadaw Kuma phải gọi xe cứu thương chở vợ đi gấp để cấp cứu, khi vợ đến bệnh viện tạm ổn, Yadaw Kuma cho xe quay về nhà để lấy đồ ấm và một số đồ dùng cho vợ v́ mùa đông ở xứ Ấn độ khá lạnh, khi về đến nhà th́ tự nhiên 2 con ḅ và 1 con trâu trong đàn gia súc lăng ra chết cách đó chỉ vài chục phút. Yadaw Kuma hốt hoảng khóc lóc thảm thiết, làng xóm xung quanh chạy tới xem, trong đó có Babulan. Nhờ vậy mới có tin tức báo cho thầy biết, tuy rất đau đớn khổ sở nhưng Yadaw Kuma vẫn cố giữ b́nh tỉnh để lấy đồ cho vợ là chị Devi Kumari đang nằm trong pḥng hấp hối. Nhưng hỡi ôi! Anh vừa đem đồ ấm tới nhà thương th́ bác sĩ đă báo tin vợ anh đă chết trước khi anh đến chỉ có 5 phút. Theo nhiều người kể lại th́ anh lăn ra đất tại bệnh viện mà khóc la thê thảm. Anh ôm xác vợ đưa về nhà mai táng v́ theo truyền thống Ấn Độ không được để lâu. Anh cùng gia đ́nh làng xóm đưa vợ anh đi thiêu th́ không bao lâu sau đó 2 con trâu khác và 4 con cừu trong số 10 con cũng lần lượt chết đi, do căn bệnh ǵ tới nay không ai biết được. Nghe tin anh vừa đưa vợ đi vừa khóc lóc thảm thương như đứa con nít 8 tuổi, chứng kiến cảnh ấy ai ai cũng xót thương cho Yadaw Kuma. Khi xác chị vợ thiêu xong, tro được rải xuống ḍng sông Phănggu gần Gaya. Khi anh vừa về nhà th́ 6 con cừu c̣n lại của anh cũng vừa mới chết khoảng 1 giờ trước. Dân chúng trong vùng đều bị chấn động, cứ nghĩ bệnh dịch đang bùng phát nên nhiều gia đ́nh xóm Yadaw Kuma đă vội dọn đồ chạy đi nơi khác sinh sống. Nhưng sự thật không phải bệnh dịch, mà sự cố chỉ xuất hiện trong gia đ́nh của Yadaw Kuma. Sau đó 3 ngày, con của anh Yadaw Kuma lấy xe của bố chạy ra đường, không biết thế nào mà xe chở đá chạy ngược chiều cán con anh văng từng mảnh, nhưng chiếc xe yêu quư của Yadaw Kuma th́ c̣n nguyên vẹn. Khi xe được đem về làng mọi người bàn tán đủ thứ, không ai giải thích được tại sao có chuyện lạ như vậy. Người th́ tan xác, xe lại không bị ǵ! Nghe mọi người kể lại cái chết kinh hoàng của con anh, anh không tin nhưng khi cảnh sát đến tận nhà báo tin th́ anh mới bật ngửa. Lại một trận khóc xảy ra, nhưng lần này nước mắt không c̣n để chảy v́ tất cả đă khóc hết nước mắt cho người vợ thân yêu và đàn gia súc của anh.

Sau khi được cảnh sát báo tin anh cùng lên xe đi tới hiện trường th́ anh mới tá hỏa như người mất hồn khi nh́n thấy đầu và tay của con, c̣n lại các phần khác th́ văng tứ tung. Cái đầu máu mủ dính với bụi bặm nh́n rất thảm thương. Anh ôm đầu con vừa hôn vừa khóc thảm thiết. C̣n anh tài xế chở đá khi gây tai nạn thấy cảnh khủng khiếp như vậy cũng hốt hoảng bỏ chạy, nhưng bị dân chúng bắt được giao cho cảnh sát. Yadaw Kuma ôm đầu con gào khóc như người điên loạn. Cảnh sát và mọi người khuyên anh nên b́nh tĩnh để c̣n đi lượm thịt xương của con anh, sợ để lâu sẽ bị hôi thúi quạ và kênh kênh tới giành ăn là sẽ gây khó khăn cho dân làng !

Gần một tiếng đồng hồ anh mới chịu nghe lời cảnh sát và mọi người khuyên. Sau đó anh cùng dân làng đi t́m những mảnh thịt con anh bị xe cán văng tứ phía, dân làng cũng tiếp tay với anh nhưng khi họ t́m thấy thịt hay xương của con anh họ la lên để anh tới nhặt, v́ họ sợ xui xẻo nên không ai dám nhặt dùm, đó là tục lệ của vùng này. Nhờ vào mùa đông thời tiết lạnh nên việc t́m kiếm cũng khá dễ. Mất gần 4 giờ đồng hồ, nhưng mọi người t́m hoài vẫn không thấy cánh tay trái và cái chân phải đâu cả. Có người bảo có lẽ khi con anh bị xe cán thân thể văng tứ tung nên những con chó trong làng thấy và tha đi đâu nên không sao t́m được.

Yadaw Kuma bỏ thịt xương con vào cái thùng làm bằng tre, mướn xe định chở về sông Niranjara hỏa tán, nhưng anh lại quyết định đem xác con ra ḍng sông Phanggu, nơi mà cách đây mấy ngày đă thiêu xác người vợ thân yêu của anh. Sau khi thiêu xong tro được các vị thầy tu rải xuống sông. Vị thầy tu Ấn Độ giáo bảo anh, anh đă làm ǵ ác lắm phải không, nên khi quăng tro con anh xuống ḍng sông trong, tro có rất nhiều h́nh mặt kỳ dị hiện ra than khóc! Vị thầy tu Ấn Độ khuyên anh từ đây về sau nên làm việc lành lánh xa việc ác để cuộc sống sau này an vui hơn. Anh trả lời “Jiha Jiha” bằng tiếng Ấn Độ, có nghĩa là vâng vâng, và xá vị thầy người Ấn Độ kia lia lịa.

Khi về đến nhà th́ anh đă kiệt sức v́ vợ chết, con chết, đàn trâu ḅ cũng chết anh chẳng c̣n ǵ nữa ngoài thằng con út mới 12 tuổi và căn nhà nhỏ nằm hiu quạnh hoang vắng. Từ đó anh trở nên như người điên dại không cần ǵ nữa, cũng chẳng thèm ăn uống đầy đủ như thời c̣n vợ. Thế là anh cứ mua đồ ăn ngoài đường, ngoài phố cùng với đứa con út ăn cho qua ngày đoạn tháng. Ăn hoài cũng chán, thằng con út năn nỉ anh nấu cơm ở nhà ăn, anh trả lời ba không biết nấu nếu con biết nấu, nấu cho ba ăn với. Dù không biết nấu nhưng khi nghe ba nói như vậy nó cũng xuống bếp thế là hai cha con lần đầu tiên được ăn cơm nhà từ khi vợ anh chết. Nấu được một thời gian không biết v́ sao khi hai cha con cùng ngồi ăn cơm tự nhiên lại nằm lăn ra ngủ ngay bàn ăn ngon lành. Rồi làng xóm phát hiện nhà anh bị cháy từ căn bếp, mọi người hốt hoảng v́ sợ lan qua các nhà khác, khi họ kéo đến nhà anh th́ vẫn thấy hai cha con vẫn ngủ ngon lành trong căn nhà đang cháy. Lửa bắt đầu lan sang căn pḥng chính th́ hai cha con bất chợt tỉnh dạy vội vă chạy ra ngoài, chỉ một lát sau nơi mà anh đă từng sống bên những người thân nay chỉ c̣n là đống tro tàn. Hai cha con ôm nhau mà khóc bên bờ ruộng thảm thiết. Không lấy được ǵ cả, vật mà duy nhất c̣n lại là cái quần đùi đang mặc trên người. Thật là vô thường! Thật là đau khổ cùng tận! Lừa gạt gom góp của người khác để làm của cho riêng ḿnh, muốn ḿnh và gia đ́nh ḿnh hưởng thụ mà không nghĩ đến luật quả báo trả vay. Kết cuộc phải lănh một cái giá quá đắt cho chính hành động của ḿnh. Trời cao có mắt, quả báo nhăn tiền. Chuyện này xảy ra gần chùa Miến Điện Bồ Đề Đạo Tràng. C̣n nhiều chuyện nhân quả khác xảy ra nơi Đất Phật mà chúng tôi đă tận mắt thấy tai nghe, nếu có dịp tôi mong mỏi sẽ được thuận duyên kể tiếp.

 

3. Nhân lành quả ngọt

Kinh nghiệm bản thân của tôi là ở đời muốn làm chuyện phước đức quả thật rất khó khăn, mà làm việc tội lỗi th́ dễ hơn nhiều. Riêng tôi chỉ mới có niềm mơ ước thôi mà đă gặp phải bao nhiêu là thử thách!

Đầu tiên tôi đứng ra h́nh thành Ban vận động thành lập ngôi chùa Việt Nam mà tôi là tổng thư kư. Cùng với một số bạn bè thân hữu, tôi bỏ ra bao nhiêu công sức mới vận động được vị thống đốc bang Bihar đồng ư bán cho hai mẫu đất với giá tượng trưng một đồng rupi vào năm 1974. Lúc bấy giờ chúng tôi là những người vô danh tiểu tốt nên phải kiên tŕ lắm mới đạt được thành công này. Tuy nhiên người chủ tịch của Ban vận động lại cất giữ giấy cấp đất mà không có động thái nào xúc tiến thêm. Theo điều kiện ghi trong quyết định giao đất, trong ṿng 24 tháng người được cấp phải sử dụng miếng đất này, quá thời hạn đó chính quyền sẽ lấy lại để cấp cho người khác. Thế là sau hai năm án binh bất động, miếng đất đương nhiên bị chính quyền địa phương thu hồi. Đây là một điều vô cùng đáng tiếc và tôi phải mất đến hơn mười năm trường lao tâm khổ trí mới mua được khu đất khác để xây chùa. Từ sự việc này tôi rút ra kinh nghiệm hễ ḿnh có khả năng làm một việc ǵ, tốt hơn hết là cứ âm thầm mà làm, nếu được th́ khi nào làm xong rồi mới nên nói.

Song song đó tôi vẫn tiếp tục hoàn tất chương tŕnh đại học. Khi vừa tốt nghiệp tôi được bổ nhiệm làm trợ lư cho người thầy của ḿnh tại đại học Nantes là giáo sư Yves Durant, nhà quư tộc sinh trưởng trong một ḍng họ lâu đời của nước Pháp. Thời kỳ này có một việc xảy ra mà hệ quả tác động nhiều đến công việc cũng như cuộc sống của tôi sau này.

Lần đó giáo sư Durant nhờ tôi đến trông nhà giúp trong thời gian vợ chồng ông đi nghỉ hè. Một ông Tây nhà giàu đă rắc rối huống chi thầy tôi thuộc ḍng dơi vua chúa, cuộc sống lại càng phức tạp và kiểu cách hơn nhiều. V́ vậy trước khi giao nhà ông bà cẩn thận dặn ḍ tôi đủ điều, trong đó việc quan trọng nhất là để mắt đến đàn chó cưng.

Tôi được sắp xếp ở trong một căn pḥng riêng đầy đủ tiện nghi. Hằng ngày tôi trông coi mọi việc trong ṭa nhà một cách chu đáo, siêng năng tưới vườn hoa, chiều chiều lại dẫn đàn chó đi dạo.

Một hôm nhân lúc rảnh rỗi tôi đi thơ thẩn trong sân, khi đến chỗ nhà để xe ở kế bên chuồng ngựa, thấy nơi này không được sạch sẽ nên tôi nảy ư nghĩ dọn dẹp và bỏ ra mấy ngày để quét dọn lau chùi. Tôi mang đôi bốt cao cổ và gắn ṿi xịt nước bằng máy để tẩy uế những chỗ rơi rớt phân ngựa. Bỗng nhiên tôi nh́n thấy trong góc nhà xe có một vật ǵ lóe sáng. Tôi nhặt lên, đem rửa sạch thấy nó chiếu lóng lánh thật đẹp.

Lần đầu tiên trong đời cầm trên tay một viên đá óng ánh, tôi chẳng phân biệt được đây là loại đá ǵ. Ngày hôm đó tôi đi ngay xuống vùng Deauville. Nơi đây có các ṣng bạc và trường đua ngựa danh tiếng, thu hút nhiều khách du lịch giàu tiền lắm bạc, đặc biệt là các triệu phú người Ả Rập. Tôi đến khu vực chợ trời của dân chuyên mua bán nữ trang và đưa chiếc nhẫn ra nhờ định giá. Chủ cửa hàng đo đạc, săm soi một hồi rồi cho biết đó là hột xoàn loại tốt nhất và đưa ra một cái giá cao ngất, tương đương với 50.000 đô la Mỹ, khiến tôi hoàn toàn sững sờ!

Tôi hoang mang lấy lại viên đá bỏ túi rồi vội vă quay đi. Việc đầu tiên tôi đi mua ngay mấy cây kim tây, bỏ viên hột xoàn vào túi trong rồi cẩn thận gài chặt lại. Chưa an tâm, lâu lâu tôi lại đưa tay sờ túi xem viên kim cương c̣n nằm yên ở đó hay không. Rơ ràng, lợi đâu chưa thấy mà tự nhiên lại rước mối lo vào người.

Đầu óc tôi rối bời, nghĩ rằng có lẽ ḿnh nghèo quá nhưng có ḷng từ bi, nhiều tính tốt, nhờ ơn đức cha mẹ, thầy tổ… nên Phật Trời thương mà ban lộc. Số tiền bán viên kim cương là cả một gia tài lúc bấy giờ, đủ để mua một căn nhà ba bốn pḥng ngủ tại kinh đô ánh sáng. Về đến nhà ḷng tôi cảm thấy lâng lâng, tự nhủ có lẽ nhờ ḿnh theo học một bậc chân sư nên bây giờ được hưởng phước. Nhưng lúc đó những lời Thầy dạy bỗng văng vẳng bên tai làm tắt niềm hứng khởi. Rồi tôi lại tự bào chữa, rơ ràng ḿnh không ăn cắp mà chẳng qua nhờ có ư tốt, tự nguyện lau dọn nhà cửa nên mới t́nh cờ nhặt được của rơi.

Suốt một tháng sau đó tôi cứ bị dằn vặt bởi ư nghĩ không biết nên trả hay giữ? Nghĩ đến việc trả thấy cũng tiếc v́ trong đời dễ ǵ có được một số tiền lớn như thế. C̣n đang phân vân lưỡng lự, tôi tiếp tục đi đến cửa hiệu kim hoàn tại quảng trường Place Vendôme nổi tiếng thanh lịch, nơi những tay triệu phú và các ông vua dầu hỏa thường lui tới t́m mua nữ trang cho các mệnh phụ phu nhân. Nơi này xác nhận đây là viên kim cương đắt giá và nh́n tôi với vẻ nghi ngờ khiến tôi phải vội vă bỏ đi ngay.

Tôi bèn hỏi ư kiến vài người bạn thân thiết, ai cũng bàn cứ giữ khiến tôi yên tâm nghĩ rằng việc ḿnh làm không có ǵ sai quấy. Bạn bè đồn đại với nhau rồi ṭ ṃ kéo tới yêu cầu tôi cho xem viên kim cương khiến tôi bắt đầu hốt hoảng, e ngại viên ngọc quư này không khéo lại hại đến thân. V́ vậy tôi không lưu lại lâu đài nữa mà ra mướn khách sạn bên ngoài để đừng ai biết chỗ ở của ḿnh.

Khoảng một tuần lễ sau vợ chồng vị giáo sư trở về. Nghe nói tôi đang ở tại khách sạn, ông thầy cười nói đùa dạo này tôi tiền bạc rủng rỉnh lắm hay sao mà lại ra ở bên ngoài cho thêm tốn kém, mà sự sang trọng, tiện nghi của khách sạn lại chẳng thể hơn ṭa lâu đài của ông bà.

Hôm đó tôi chờ cho ông bà ăn uống xong rồi mới lấy chiếc hộp bên trong có chiếc nhẫn kim cương đặt lên bàn. Bà vợ ngạc nhiên mở hộp, thoạt nh́n thấy chiếc nhẫn, bà tỏ vẻ rất sửng sốt rồi sau đó ôm chầm lấy tôi khóc nức nở. Th́ ra đây là chiếc nhẫn gia bảo từ thời các vua Louis truyền lại trong ḍng họ và cũng chính là chiếc nhẫn mà ông giáo sư đă trao cho vợ trong ngày cưới. Thế rồi sau đó chiếc nhẫn đột nhiên biến mất hồi nào không biết. Gia đ́nh ông hầu như xáo tung cả ngôi nhà nhưng vẫn không t́m ra. Cả hai ông bà đều vô cùng buồn rầu, không chỉ v́ giá trị vật chất của chiếc nhẫn mà quan trọng hơn đây là một kỷ niệm của ḍng họ và là vật gia bảo truyền qua nhiều đời. Không ngờ chẳng biết v́ lư do ǵ mà chiếc nhẫn lại nằm bên đống phân ngựa một cách bí ẩn như thế.

Kể từ ngày đó, mối quan hệ giữa thầy tṛ tôi thay đổi một cách đáng kể. Ông bà giáo sư coi tôi như một thành viên trong gia đ́nh, thậm chí ông c̣n quyết định ghi tên tôi thừa hưởng một phần gia tài ngang bằng với ba người con của ông bà trong di chúc.

Các con của giáo sư xưa nay vẫn tỏ ra quư mến tôi, nhưng kể từ lúc ấy th́ nảy sinh vấn đề và thái độ của họ bắt đầu thay đổi. Tôi nh́n thấy rất rơ điều này nên cương quyết từ chối nhưng giáo sư không đổi ư. Thế là tôi bèn mời các con của ông cùng đến văn pḥng luật sư, tôi kư giấy khước từ tất cả quyền lợi của ḿnh được hưởng trong di chúc và nhường lại cho họ toàn quyền sử dụng. Các con của ông bà tỏ vẻ rất ngạc nhiên. Tôi giải thích với họ rằng chẳng qua ông bà giáo sư có ḷng quư mến nên làm như vậy, nhưng riêng tôi không bao giờ muốn nhận khoản tài sản ấy.

Thời gian sau cả hai ông bà giáo sư đều t́nh nguyện nhờ tôi hướng dẫn học Phật pháp. Vậy là về kiến thức đời thường tôi là học tṛ của ông nhưng về mặt tâm linh ông lại là học tṛ của tôi. Thế rồi trong nhiều năm tiếp theo, giáo sư Durant chính là người tiếp tay tích cực nhất trong việc xây dựng ngôi chùa Việt Nam tại Ấn Độ.

Trong công việc th́ tất cả những vị trí, việc làm của tôi đều nhờ có sự can thiệp nhiệt t́nh của Thầy mà được thuận buồm xuôi gió.

Ngoài những sự giúp đỡ lớn lao ấy, Thầy lại c̣n nài nỉ cho chùa mượn tiền nhiều lần, nhưng tôi luôn từ chối v́ sợ chẳng may có điều ǵ rủi ro xảy đến cho ḿnh th́ lại không trả được nợ. Sau đó v́ ông bà làm mặt giận nên có lần tôi đành phải hỏi mượn cho họ vui ḷng rồi đem về cất kĩ. Nửa năm sau tôi mang toàn bộ số tiền đem trả lại. Không ngờ trước khi đưa tiền giáo sư đă cẩn thận ghi lại dăy số trên mỗi tờ giấy bạc thành ra tôi giấu đầu ḷi đuôi và ông bà khám phá ra rằng tôi mượn tiền chỉ để họ vui ḷng.

Thầy Durant quan tâm công việc của chùa Việt Nam chẳng khác ǵ việc của bản thân. Không chỉ giúp cho Việt Nam Phật Quốc Tự ở Ấn Độ, ông c̣n nhiều lần can thiệp với các vị chức sắc cao cấp trong chính phủ Nepal để hỗ trợ cho tôi trong việc xây dựng chùa Việt Nam tại Lumbini, ngôi chùa quốc tế đầu tiên nơi Phật giáng trần ở Nepal.

Một kỷ niệm vui là có lần ông điện thoại cho vị đại sứ Pháp ở Nepal yêu cầu giúp đỡ tôi và ân cần giới thiệu tôi là thầy của ông. Thế là Ṭa đại sứ Pháp tại Nepal chuẩn bị tiếp đón long trọng người thầy của vị đại giáo sư quư tộc Durant mà họ tưởng tượng phải là một nhân vật đường bệ.

Hôm đó tôi từ ngôi chùa đang xây dựng đi thẳng tới Ṭa đại sứ Pháp với bộ đồ làm việc đầy bụi bặm, quả thật trông không được tươm tất cho lắm. Đến nơi đă thấy viên bí thư thứ nhất của vị đại sứ túc trực chờ đón. Nhưng ông này không thèm để mắt đến anh chàng gầy g̣, ốm yếu và rất tầm thường v́ tưởng rằng tôi là một trong số những người đến đây chầu chực xin visa vào nước Pháp.

Lúc ấy đă quá giờ hẹn nên viên bí thư có vẻ bồn chồn đi tới lui, tôi bèn tiến đến trước mặt ông và xưng danh. Việc này gây ra cho ông ta một sự bối rối mà ông cố gắng kiềm chế không để lộ ra v́ lịch sự và xin lỗi tôi rối rít.

Đến khi ông vào bên trong báo với viên đại sứ rồi trở ra mời tôi vào th́ lại thêm một t́nh huống buồn cười khác. Đó là vị đại sứ khi thoáng nh́n thấy tôi đă quay qua hỏi cấp dưới của ḿnh :

-  Anh có lầm không? Tôi đang chờ tiếp vị giáo sư của ngài Durant kia mà ?

Ông ta tưởng rằng tôi không biết tiếng Pháp nên không cần hạ giọng khi nói câu này. Phần tôi không lấy làm ngạc nhiên v́ đây là cảnh tôi thường xuyên gặp phải, chẳng qua là do tôi ít chú trọng trau chuốt vẻ ngoài cho phù hợp với một vài chức danh ḿnh đang mang.

Trở lại mối quan hệ giữa giáo sư Durant và tôi, qua sự việc này tôi rút ra một kinh nghiệm quư báu. Rơ ràng nếu trước đây tôi giữ lại chiếc nhẫn kim cương để đổi lấy một căn nhà, th́ chưa chắc nó c̣n tồn tại được đến ngày nay. Trong khi đó có thể nói toàn bộ các khoản tiền giáo sư đă giúp cho ngôi chùa Việt Nam sau này tính ra gấp mấy lần trị giá chiếc nhẫn kim cương trước đây.

Tóm lại, nhờ luôn tâm niệm làm theo lời dạy của vị ân sư mà trong đời tôi đă thu lượm được nhiều kết quả vô cùng tốt đẹp. Tôi thường gọi đó là phép mầu mà mọi người đều có thể có được.

 

4. Săn bắn chim linh thiêng bị tai nạn và chết thảm khốc
 

Chuyện này kể lúc 10h30 từ chị Ḥa B́nh, kể tại Việt Nam Phật Quốc Tự ngày 11/11/2010 lúc cùng phái đoàn uống trà ngắm mặt trời lặng.

Chùa Bái Đính là một trong quần thể chùa cũ và mới rất đẹp ở Ninh B́nh do công ty Xuân Trường tái kiến thiết lại rất đẹp, nhờ vậy mà cảnh hùng vĩ núi non này được phát hiện và bảo vệ, nên chim chóc nhiều loại đă về đây trú ngụ, đặc biệt là loài chim quư hiếm là Hồng Hoàng mà nhiều người thường gọi là linh điểu. Loài chim này chỉ đến những chỗ nào linh thiêng, yên tĩnh mà ở. Việt Nam nhiều đời nay các cụ thường gọi loài chim này là các vị hay là các ông các cụ để tỏ sự cung kính đối với linh điểu.

Theo như anh Trường kể lại, loài chim này mỗi lúc đến một nhiều và chỉ xuất hiện khi có vị nào đức độ ghé thăm c̣n không các vị ẩn mặt. Việc xuất hiện nhiều loài chim đặc biệt này đă thu hút rất nhiều người yêu quư thiên nhiên, bảo tồn động vật quư hiếm, bên cạnh đó cũng đồng thời xuất hiện những con người thích săn bắn, sát hại chúng sinh. Sự giết hại loài chim đặc biệt này không phải v́ đói kém mà đó là thú vui giải trí của loại người này. Họ cho rằng khi bắn được loài chim này th́ được bạn bè khen cho đó là sự thành công của cuộc đời. Có rất nhiều người sau khi bắn chết chim, họ không đem về mà vứt luôn ở trong rừng gây ô nhiễm cho môi sinh, phát sinh bệnh tật cho các loài khác trong khu rừng và ảnh hưởng đến con người khi có việc đi vào rừng. Những con người thích săn bắn, sát hại loài linh điểu là những người có thế lực, uy quyền trong tay không ai dám khuyên can. Có người trong gia quyến của họ v́ có ḷng từ bi đề nghị đừng sát hại loài chim này nữa th́ bị mắng nhiếc, chửi bới, đe dọa đủ điều, kể cả cắt đứt liên lạc với những ai dám khuyên can.

Tại khu rừng Bái Đính mặc dù đă có luật và nghị quyết của chính phủ cấm săn bắn động vật quư hiếm, nhưng v́ những vị này giàu có lại có thế lực ô dù bao bọc nên không ai làm ǵ được. Trong đó có một vị bác sĩ nổi tiếng của địa phương cũng hợp tác với những con người có chức quyền vào rừng săn bắn các loài linh điểu Hồng Hoàng. Dân chúng trong làng rất bất b́nh nhưng không ai dám lên tiếng v́ sợ họ trả thù kết oán, chỉ biết than phiền trong im lặng.

Không lâu sau đó bỗng có một tin kinh hoàng xảy ra. Có một vị bác sĩ trong đoàn săn bắn không biết do nguyên cớ ǵ từ trên lầu cao nhảy xuống đất chết một cách thảm thiết. C̣n một người khác th́ tự nhiên lấy súng bắn vào đầu tự tử. Hai người khác th́ bị xe cán chết trên đường đi nhậu thịt rừng.

Câu chuyện trên hoàn toàn là sự thật v́ nó xảy ra không lâu. Mọi người muốn rơ chi tiết có thể liên lạc với anh Trường ở Chùa Bái Đính và chị Ḥa B́nh ở Hà Nội để t́m hiểu thêm.

 

5. Những câu chuyện kể về nhân quả
 

Dùng súng bắn vào chùa 

Chuyện này do anh Nguyên, phó viện trưởng đại học Tây Nguyên và Đại Học Tổng Hợp kể tại sân thượng Việt Nam Phật Quốc Tự - India, khi đoàn đang uống trà vào lúc 16 giờ 30 ngày 12 tháng 11 năm 2010.

Vào những năm 1977-1978 Tây Nguyên vẫn chưa yên hẳn v́ mặt trận Fulro và 1 số lính cách mạng vẫn c̣n đang hoat động. Sau thời kỳ chiến tranh một số lính đi tuần, mỗi khi đi ngang qua chùa miếu là các anh hay xả đạn bắn bừa vào chùa chiền nơi linh thiêng, một phần là do thú vui, một phần v́ sợ có kẻ núp trong đó. Một số sĩ quan chỉ huy có tâm khuyên không nên bắn súng vào những nơi linh thiêng tâm linh đó, khi được khuyên th́ các chú lính trẻ cũng dạ dạ vâng vâng… nhưng khi không có các cấp trên đi chung th́ họ vẫn xả súng bắn vào chùa, miếu, bắn rồi cười đùa rồi cho đó là chỗ thờ Phật, Trời mê tín dị đoan.

Sau khi mặt trận Fulro ở Tây Nguyên hoàn toàn tan ră, các chú lính này được trở về đời sống thường dân, một số th́ được thăng chức, một số th́ được cử vào các công sở ban nganh khác. Khoảng 10 năm sau, anh Nguyên nhớ lại những đồng đội, anh đến thăm họ. Than ôi, từng người lần lượt đă chết trong những tai nạn thảm thiết không sao ngờ đến được, nhắc đến rất đau ḷng. Ông bà xưa đă dạy nhân nào quả đó, gieo gió th́ gặp băo.

 

Phá đ́nh chùa miếu bị chết thê thảm

Câu chuyện này được kể vào lúc cùng đoàn các nước uống trà ngắm hoàng hôn tại Việt nam Phật Quốc Tự - India vào lúc 10 giờ ngày 12 tháng 11 năm 2010.

Anh Hùng sinh ra và lớn lên tại Hà nội, anh đă chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử nơi đất Thăng Long ngh́n năm này. Sau khi Hà Nội được giải phóng, một số người đă hiên ngang đập phá chùa chiền, những nơi tôn nghiêm thờ phượng, họ c̣n chiếm luôn đất chùa làm của riêng. Rồi năm tháng trôi qua, anh Hùng đă quan sát thật kĩ những con người một thời đă từng tham gia đập phá chùa chiền, tất cả điều bị chết trong những tai nạn thật khủng khiếp. Tai nạn xảy ra hết sức lạ lùng mà mọi người không ngờ là như vậy.

Như có người đi qua cầu th́ bị găy, rồi bị cây nhọn đâm chết giống như cá bị đâm để nướng. Cây cầu này hằng ngày có hàng trăm người qua lại mà chẳng có ai bị chết, chỉ có anh này đi qua th́ lại xảy ra tai nạn kinh hoàng như vậy.

C̣n những người chiếm đất chùa đem bán cho kẻ khác kiếm được rất nhiều tiền cuộc sống trở nên giàu có phong lưu th́ một ngày kia như thường lệ họ đi tập thể dục, bách bộ trên hè phố, không biết v́ lí do ǵ có một chiếc xe tải mất tay lái lao lên trên hè phố cán chết 2 ông bà đứt cả đầu, nhưng thân thể vẫn c̣n nguyên vẹn không bị ǵ hết. Gia đ́nh này lại phải gánh chịu thêm một bi kịch nữa, tang lễ bố mẹ chưa xong th́ con cái của ông bà này v́ tranh giành của cải tài sản mà đánh nhau dữ dội khi quan tài chưa được an táng. Những người dân ở gần nhà th́ cho rằng họ phải trả quả báo trong đời này không cần đến đời sau v́ gây quá nhiều nghiệp quả, nhất là việc đi chiếm đất chùa rồi bán.

 

Trả nghiệp sát sinh

(Lời kể của Ni Sư Giác Liên, Trụ tŕ chù Phước Hải, Vĩnh Long)

Năm 1958, có cậu Hiếu bị tật bẩm sinh, mặt đưa ra phía sau lưng, đầu lắc lư, tay chân cong quẹo không đi được, ḅ lết tại chợ Trà Vinh ăn xin. Lạ một điều là ngày nào cậu cũng khóc la: Bà con ơi, đừng sát sinh! Tôi là con ḅ nè …! Người ta giết tôi, ḍng họ tôi chết hết rồi … Tiếng khóc của cậu rống lên như ḅ bị thọc huyết.

Rất nhiều người biết lai lịch của cậu Hiếu. Ông nội của cậu ở Ba-si, Ba-xe thuộc tỉnh Trà Vinh chuyên nghề làm thịt ḅ bán ở chợ, giàu có dư ăn. Có một ngày ông cột con ḅ cái định khuya làm thịt, mai bán chợ sáng. Ngay đêm hôm đó ông mơ màng thấy người đàn bà đến khóc nói: xin ông đừng giết tôi, để tôi sinh con rồi ông hăy giết.

Đêm ấy ông thấy hiện tượng ấy 3 lần, ông nói cùng vợ. Bà khuyên ông không nên làm thịt con ḅ này, nhưng ông không nghe. Khuya hôm đó, như thường lệ, ông đập đầu con ḅ. Con ḅ này la lớn hơn những con ḅ trước, nó chống cự, giăy giụa đến đứt dây thừng, và đến khi gần chết, đầu nó cứ măi lắc lư.

Cũng ngay đêm hôm đó, con dâu ông sinh đứa cháu nội trai dị tật: sứt môi, mắt lộ, đầu quay ra sau lưng, chân lại ở trước. Ông lo chạy chữa thuốc thang cho cháu tốn hao cả tài sản vẫn không hết. về phần gia đ́nh ông th́ cả nhà mang trọng bệnh kỳ lạ, sau đó chết hết. Tôi nghiệp đứa bé chỉ mới mười tuổi dị tật phải đi ăn xin, đầu cứ lắc lư, không quên tự xưng ḿnh là Ḅ.

 

Âm mưu chiếm dụng tài sản của người

(Lời kể của Ni Sư Giác Liên, Trụ tŕ chù Phước Hải, Vĩnh Long)

Ông Bảy là người giàu có ở Trà ôn. Đất của ông c̣ bay thẳng cánh. Ông góa vợ từ lâu, thường ra chợ Trà Ôn, kết thân cùng ông Tỷ bán tạp hóa. Ông Bảy thích vợ ông Tỷ, ông Tỷ biết ư ông Bảy nên bàn với vợ : “Ông Bảy đă 80 tuổi rồi, chẳng sống bao lâu, nếu em là vợ của ông ấy, khi ông ta chết, tất cả tài sàn của ổng sẽ là của em…”

Lúc đầu vợ ông Tỷ không thuận, nhưng v́ chồng thiếu nợ ông Bảy quá nhiều, nên bà quyết định tạm xa chồng con một thời gian … để thực hiện mưu này.

Ông bà Tỷ đă thỏa thuận xong, sau đó lập mưu kế ra ṭa ly dị. Ṭa xử Bà Tỷ được chia gia tài là tiệm tạp hóa và có trách nhiệm nuôi con. Ông Tỷ th́ được số tiền lớn và có cuộc đời tự do.

Như mưu kế đă lập, sau khi ly dị ông Tỷ, bà Tỷ được ông bảy cưới chính thức làm vợ. Đám cưới tổ chức rất linh đ́nh, đăi tiệc suốt ba ngày ba đêm, lớn nhất Trà Ôn. Mời cả chính quyền địa phương tham dự. Bà con hàng xóm đi xem đám cưới rất đông, v́ người đàn bà tái giá đặc biệt chỉ 40 tuổi lấy ông chồng giàu 80 tuổi.

Cưới được vợ, Ông Bảy phấn khởi hủy luôn số tiền mà ông Tỷ nợ trước kia. Bà Tỷ c̣n nói với ông Bảy là trả lại tiệm tạp hóa cho ông Tỷ để ông nuôi con, Bà có tự do hạnh phúc với ông Bảy.

Bảy ngày sau, thật không ngờ, bà Tỷ trúng gió chết. Mới đám cưới tiếp tục đám tang.

Tang lễ cho bà Tỷ xong, ông Bảy bắt đầu kiện ông Tỷ để lấy lại tiệm tạp hóa, v́ ông Bảy bây giờ là chồng chính thức trên danh nghĩa của bà Tỷ. Ṭa xử ông Bảy thắng kiện. Ông Bảy đến đến chợ Trà Ôn lấy lại tiệm tạp hóa, đuổi ông Tỷ ra ngoài !

Ông Tỷ mưu khá sâu nào ngờ sự việc đảo ngược, khí uất trào dâng, mất vợ mất luôn cửa tiệm, cha con lang thang khổ sở không có mái nhà che thân. Ông loạn tâm thần, lâu lâu lại đến đạp cửa tiệm tạp hóa và miệng nói nhảm măi câu chuyện cùng vợ mưu tính của ḿnh. Ông Tỷ cười khóc trong cơn điên loạn, và xin ăn tại chợ Trà Ôn cho đến khi chết. Câu chuyện quả báo này, vẫn c̣n được nhắc đi nhắc lại tại địa phương cho đến ngày nay.

 

Sưu tập da thịt . . .

Truyện này do chị Nga kể lại tại sân thượng VNPQT vào ngày 12/11/2010.

Chị làm việc trong một bệnh viện ở Hà Nội. Chị nhớ rất rơ, có một vị bác sĩ T. rất nổi tiếng, vị bác sĩ này chuyên ghép da mặt người này sang người khác rất thành công. Ông hay có thói quen là rất thích đi lột da của các trẻ sơ sinh đă chết hoặc những người đă chết. Ông tẩm thuốc rồi đem vào pḥng lạnh để khi nào có người cần th́ ông ghép, nhưng phải trả cho ông một số tiền hậu hĩnh, nhờ vậy ông có rất nhiều tiền và nhiều người biết đến không những ở Việt Nam mà nổi tiếng khắp nơi trên thế giới.

Gia đ́nh ông sống rất hạnh phúc. Ông có được 1 đứa con gái vừa đẹp lại thông minh cũng nổi tiếng ở Hà Nội. Lúc Cô bé mới 13 tuổi chưa biết yêu là ǵ vậy mà không biết bao nhiêu chàng trai lớn nhỏ săn đuổi, tán tỉnh và chọc ghẹo. Một hôm trên đường đi học về nhà, cô bị một đám thanh thiếu niên chặn đường trêu ghẹo. Cô hốt hoảng định bỏ chạy th́ trong đám có một thanh niên tạt vào mặt cô một chai axit, cô đau đớn bỏ luôn tập sách ngoài đường chạy khắp nơi trong làng kêu cứu. Dân làng nghe tiếng cầu cứu vội chạy tới xem th́ bọn thanh thiếu niên kia đă trốn đi đâu hết. Thấy vậy bà con dân làng gọi xe đưa cô bé đến bệnh viện cấp cứu. Vào pḥng cấp cứu các y tá, nhân viên làm trong bệnh viện mới phát hiện đó là đứa con gái duy nhất của vị bác sĩ T. đang nổi tiếng ở Hà Nội, cho nên tất cả nhân viên bác sĩ chăm sóc cô bé rất tận t́nh, sau đó th́ gọi điện báo tin cho vị bác sĩ đó biết. Khi ông đến nơi, thấy con gái ḿnh bị phỏng quá nặng ông chết lặng cả người, lập tức ông đưa con ḿnh vào pḥng đặc biệt, đem những tấm da tốt nhất mà ông ǵn giữ từ lâu để ghép cho con gái ḿnh. Việc cấy ghép không thành công lắm v́ có chỗ ghép được c̣n có chỗ không thành, thế là ông đưa con gái ḿnh đến những bệnh viện Âu Mỹ để chữa trị, mất rất nhiều thời gian và tiền của, nhưng con gái ông không thể b́nh phục được như xưa, nhất là tinh thần, cô bé sống trong nỗi sợ hăi, lo âu, trầm mặc. Hằng ngày cô bé phải gánh chịu từng cơn đau đớn do những nơi cấy ghép da mới mà không biết là da của ai thay vào. Có thể nói đó là một tai nạn to lớn đă đến với vị bác sĩ nổi tiếng ấy.

 

6 người con gái của vị lănh đạo tôn giáo

Làm Nghề Bán Ḿnh

Chuyện này do cô Diệu An ở Pháp kể lại, nhân dịp phái đoàn tu tập ở Việt Nam Phật Quốc Tự - India từ ngày 01/11 đến 01/12/2010. Cô kể vào lúc 13h ngày 06/11/2010 tại VNPQT.

Sau ngày 30/04/1975 gần nhà cô Diệu An ở Phú Nhuận Sài G̣n, có Một gia đ́nh sống kín đáo nhưng họ rất phong lưu. Gia đ́nh có sáu người con gái đều đẹp và học giỏi. Sáu cô học một ngôi trường mà trước ngày 30/04/1975 chỉ có những người giàu có mới đủ điều kiện gửi con ḿnh vào học, v́ học phí rất cao, học phí đối với một học sinh c̣n cao hơn một viên chức hạng trung b́nh. Có thể nói gia đ́nh họ phải có một gia tài lớn lắm !

Vào thời đó trai gái được đi học trường Tây nằm ngay trung tâm Sài G̣n có thể xem là người giàu có và có đạo đức. Những trường này nổi tiếng về cách đào tạo giáo dục khá kỹ lưỡng và chu đáo được chính phủ Pháp tài trợ từ lớp 1 đến 12, sau khi học sinh học xong trường này ra t́m việc rất dễ dàng v́ các công ty luôn săn đón và mức lương cũng khá cao, c̣n học sinh nào học xong muốn tiếp tục con đường học tập th́ đi ra nước ngoài học cao hơn. Phần lớn những người du học đều thành công tốt đẹp, chứ ít có ai học xong các trường này ra mà thất nghiệp cả. Học xong trường này bằng cấp rất có giá trị ở các nước Tây phương cũng như tương đương với bằng cấp của nước Pháp mà không cần phải thi lại.

Trở lại câu chuyện 6 người con gái gần nhà cô Diệu An. Khi cha các cô bị phát hiện là linh mục của nhà thờ ở Biên ḥa Đồng Nai. Sự việc đó có một thời gian gây chấn động ầm ĩ ở Sài G̣n và vùng Biên Ḥa, các con chiên trong Đạo đă quyết liệt tố cáo và đ̣i trục xuất vị linh mục đó. Thế rồi nhờ sự khéo léo của giáo hội và ṭa thánh, lần lần câu chuyện ấy cũng trôi vào lăng quên, 6 cô con gái chỉ sống với mẹ mà không thấy mặt cha, từ đó mọi người càng chú ư đến 6 cô hơn. Mỗi ngày mỗi cô càng lớn th́ càng xinh đẹp hơn, cho nên thu hút rất nhiều chàng trai…Nhưng rồi mọi người trong xóm đều bàng hoàng kinh ngạc khi biết 6 cô này đều làm nghề bán ḿnh hay người dân quê thường gọi là làm đĩ mà xă hội Việt Nam bao đời rất khinh khi. Câu chuyện thương tâm này mỗi ngày mỗi lan rộng và mọi người cứ bâng khuâng tự hỏi, với tŕnh độ, trí thức như vậy th́ nguyên nhân nào thúc đẩy 6 cô gái đi vào con đường mà chẳng ai muốn vào. Có phải đây là định luật nhân quả cha mẹ làm các con phải gánh chịu?
 

Phí phạm đồ ăn trả nghiệp chết đói

Chuyện này do chị Lê Thị Hoa trong phái đoàn của Úc kể lại. Đây là chuyện có thật xảy ra ngay trong chính gia đ́nh chị. Những kỉ niệm từ khi chị mới 4 tuổi cho tới nay chị nhớ rất rơ mặc dù đă gần 50 năm trôi qua, nhưng sự thật về những câu chuyện nhân quả xảy ra trong gia đ́nh chị th́ không bao giờ phai nhạt. Chị kể lại mà thỉnh thoảng ngưng lại v́ đôi ḍng nước mắt cứ tuôn chảy, có lẽ v́ những nghiệp báo thương tâm xảy ra trong gia đ́nh chị năm xưa.

Nhà chị có 6 anh em, 2 trai , 4 gái. Gia đ́nh vừa đủ sống không thiếu thốn chi hết. Ba chị thường đi làm về trễ, nhiều lúc ba chị bị bạn bè rủ đi nhậu tới khuya mới về, thế là đồ ăn do má chị để lại cho ba hôm sau đều bị ôi thiu, v́ thời đó nhà chị chưa có tủ lạnh nên đồ ăn không thể để lâu được. Mỗi khi đồ ăn để lại bị ôi thiu má chị phải đem đi đổ với vẻ mặt buồn phiền, khi đổ má chị thường kêu lên “trời ơi…trời ơi” rồi đổ. Cử chỉ hành động này kéo dài nhiều năm nhiều tháng. Sau khi chị lớn lên th́ gia đ́nh ly tán, ba th́ đi lấy vợ khác có thêm 7 người con, cuộc sống với má mới và 7 người con vô cùng vất vả, cơm không đủ ăn áo không đủ mặc, đời sống nghèo đói hiện ra rất rơ ràng trên từng khuôn mặt mỗi người trong gia đ́nh. Lúc đó, chị mới 19 tuổi mà phải bước chân vào đời làm thuê, làm mướn để kiếm sống, dành dụm được chút ít nhưng thấy hoàn cảnh của ba thiếu thốn trăm bề nên chị cầm ḷng không đặng, dù không có nhiều tiền nhưng chị vẫn âm thầm giúp đỡ ba, nhưng phải thật khéo léo v́ sợ d́ và mấy đứa con làm khó Ba. Mỗi tuần chị đều mua thịt, gạo đến cho Ba, lần nào đến thăm chị đều cho ba chị 20 đồng, má mới 30 đồng để d́ khỏi phân b́. Nhưng khi D́ quay mặt đi th́ chị nhanh tay nhét vào túi ba thêm 50 đồng nữa, pḥng hờ khi D́ có lấy của Ba 20 đồng th́ Ba vẫn c̣n 50 đồng mà xài. Thỉnh thoảng các anh em than đói nhà không c̣n gạo, thế là chị phải sang nhà bên mượn đỡ để anh em sống tạm qua ngày. Cuộc sống túng thiếu của gia đ́nh ba chị mỗi ngày trầm trọng hơn không thấy dấu hiệu khá lên. Một hôm chị đến thăm ba th́ thấy ba đang nhai các mắt mía của người ta bỏ. Chị hỏi tại sao ba lại ăn những thứ này? Ba chị đáp ăn để sạch miệng. Sau này chị mới biết v́ quá nghèo đói nên ăn mắt mía mà sống qua ngày. Cuối cùng ba chị chết trong cảnh nghèo đói thật đau khổ !

Má chị thường nói có lẽ lúc trước đồ ăn để cho ba mày ổng không ăn làm cho ôi thiu rồi đổ đi cho nên bây giờ phải trả quả báo chết trong sự nghèo đói. Chị kể tới đây th́ khóc sụt sùi trong khi xe đang chở phái đoàn trên những đoạn đường gồ ghề của xứ Ấn. Chị nói thêm về người anh thứ 2 của chị cũng bị nghèo đói, bệnh tật chết trong nỗi cô đơn v́ tính bỏn xẻn với chính gia đ́nh và các người khác. Anh thứ 2 rất thông minh, bặt thiệp khó ai trong gia đ́nh chị sánh bằng. Sau khi lập gia đ́nh, anh làm ăn rất khá, tiền của dư dả xây cất nhà cửa khang trang 5, 6 lầu. Tiền bạc vô như nước thế mà anh chưa bao giờ giúp đỡ ba má hay anh em trong gia đ́nh dù đang gặp khó khăn, không ai có thể ăn được của anh dù 1 đồng. Anh chỉ biết gom góp của người khác cho ḿnh và gia đ́nh anh, anh không cần quan tâm đến đau khổ của ai cả. Tuy anh rất giàu có, nhưng cái ǵ có lợi th́ anh t́m cách đưa về cho gia đ́nh Anh, dù đó là anh em ruột hay bất cứ người nào khác, không bao giờ anh biết giúp đỡ dù chuyện nhỏ nhặt. Đối với mọi người anh đối xử rất tệ hại. Càng kể chị càng thấy đau ḷng cho 1 con người đặc biệt này.

Ngay khi ba chị chết anh tự động đến trại ḥm và tự đặt mua ḥm loại tốt nhất, đẹp nhất để về lịm ba nhưng anh lại bắt chị trả tiền. Chị không đồng ư và chỉ lấy loại ḥm hạng nh́, chị chấp nhận trả tiền. Đến khi làm đám cho ba, anh gọi thợ chụp h́nh đến để chụp ảnh cũng nói chị trả tiền. Lần này chị không trả th́ anh lại có cử chỉ hành động không hay. Những năm 1978 t́nh h́nh kinh tế đất nước Việt nam c̣n nhiều khó khăn, mặc dù thời điểm ấy anh rất giàu, tiền của dư thừa nhưng anh không bao giờ giúp đỡ ai kể cả anh em trong gia đ́nh ḿnh. Sau khi chị vượt biên sang nước Úc vật lộn với cuộc sống đất khách quê người không ai thân quyến, suốt 25 năm sống ở xứ người, đời sống từ từ ổn định. Khi chị trở về lại Việt nam sau 25 năm xa cách, nh́n đất nước đổi thay chị thấy ḷng vui vui. Những con người trước kia rất nghèo th́ nay đă trở nên giàu có cuộc sống ổn định ấm no.Nhưng người anh thứ 2 của chị năm xưa giàu có th́ nay lại trở thành một người không mái nhà che thân v́ nhà cửa tiền bạc của anh đă bị vợ anh cướp đoạt và đuổi anh ra khỏi nhà.

Chị về t́m những người thân năm xưa, t́m nhiều nơi hỏi nhiều người mới biết anh thứ 2 đang nằm nhà thương v́ bị bệnh lao thời ḱ thứ 3. Gặp được mặt chị anh khóc nức nở như một đứa trẻ con mất mẹ. Anh nói với chị bây giờ anh mới thấy quả báo của đời người, đúng là quả báo nhăn tiền xảy ra ngay trong gia đ́nh anh.

 

Ăn hiếp và cướp của hàng xóm

Có một gia đ́nh khá đặc biệt dữ tợn gần nhà chị, không thấy mặt mũi chồng bà đâu cả chỉ biết bà có 2 gái, 5 trai, đứa nào cũng ngang ngược hung dữ như bà. Chị c̣n nhớ khi c̣n rất nhỏ chị đang làm con cá th́ bà đi ngang mắng con gái ǵ mà không biết làm cá, đồ hư quá…Chị rất ngạc nhiên, tự nhiên bị bà này mắng chửi vô cớ. Ở trong xóm người nào cũng bị bà bắt nạt, la mắng. Ai căi lại th́ bà cùng mấy đứa con hung dữ kéo tới hành hung, chửi bới, quấy rầy, kể cả đe dọa với nhiều h́nh thức khác nhau. Chị đă chứng kiến nhiều lần bà và đám con bà đă dùng dao, mă tấu kiếm người khác mà gây sự. Phần lớn mọi người điều muốn có cuộc sống b́nh yên, kiếm cơm lo cho gia đ́nh nên cắn răng nhẫn nhịn với hành động ngang ngược thô bạo của bà. Nếu sống độc thân không có gia đ́nh th́ mọi người đă lên tiếng và phản kháng lại với bà và mấy đứa con rồi. Lúc đó chị nghĩ bà này và mấy đứa con có ngày cũng lănh quả báo cho sự ngang tàng hung dữ của ḿnh.

Chị nhớ rất rơ mấy người chở củi từ miền Tây lên đậu gần nhà bà, bán xong phải trả tiền cho bà và mấy đứa con, những người mua củi cũng phải trả như vậy, bà gọi đó là tiền hoa hồng. Người bán người mua cũng phải trả tiền hoa hồng cho bà v́ bà đă đút lót tiền bạc cho công an, cảnh sát, chính quyền địa phương nên bà và mấy đứa con tự tung tự tác lộng quyền như vậy. Sự lộng hành của bà chỉ được 6 năm th́ bà qua đời, nguyên nhân cái chết cũng thê thảm không được b́nh thường. Thế là sau cái chết của bà, những thảm kịch lại từ từ xảy ra trong gia đ́nh của bà sau năm 1975. Mọi người vượt biên, bà t́m cách chiếm đoạt đất đai nhà cửa để giành cho con út bà ở, c̣n nhà chính th́ bà cho con thứ 2 bà ở, mấy đứa c̣n lại th́ có vợ con đùm đề phải ở nhà thuê. Thế là mấy đứa kia hợp lại yêu cầu 2 thằng kia phải bán 2 căn nhà để chia tài sản nếu không bán bọn nó sẽ cầm dao mă tấu tới xử lư. C̣n mấy đứa dâu và con cháu th́ đem bà ra nguyền rủa, sao bà có thể phân chia không đồng đều công bằng như vậy…Thằng út là khôn lanh nhất nó t́m cách bán căn nhà rồi chờ nửa đêm nọ nó dẫn vợ con trốn đi nơi khác sinh sống nên không bắt nó phân chia tài sản được. Chỉ c̣n thằng thứ 2 nên mấy thằng kia tập trung bắt nó phải bán ngay không để nó trốn đi như thằng út được. Ba đứa qua nhà hàng xóm nhờ đến làm chứng là căn nhà kia là tài sản chung của gia đ́nh họ, nhưng trong xóm không 1 ai dám đứng ra làm chứng v́ sợ liên lụy trả thù, trả oán.

Thời gian cứ lặng lẽ trôi, thằng thứ 2 cũng t́m cách đúc lót chính quyền và cũng bán được căn nhà rồi cùng vợ con trốn đi biền biệt không ai biết tin tức. Mấy đứa c̣n lại không lấy được đồng nào từ 2 căn nhà đó nên cùng nhau chửi bởi nguyền rủa bà không lời nào tả xiết. Thời gian trôi đi đời sống của họ càng ngày càng túng thiếu đói khổ, và cuối cùng con cháu của bà có đứa phải mang tù tội, bị giam cầm, gia đ́nh tan nát, có đứa th́ bị tai nạn giao thông, rồi lại tật nguyền.

Đó là quả báo hiện tiền ngay trong thời hiện tại mà chị đă chứng kiến theo dơi gần 12 năm.

 

Hốt vào mà không cho ra

Sau đây là câu chuyện sự thật 100 phần trăm xảy ra ở tu viện miền Trung Việt nam, được một người tin nhân quả và tin Phật kể lại.

Có một ni sư lớn tuổi, cũng có thể gọi là sư Bà. Sư Bà tu khá lâu nên được mọi người biết và ngưỡng mộ. Sư Bà này rất tự hào là ḿnh ḍng dơi vua chúa, tôn thất, tôn tằng tôn nữ… Bà rất bặt thiệp thông minh, cho rằng ḿnh học cao hiểu rộng hơn mọi người. Bà được mọi người cung phụng hầu hạ nên được rất nhiều người biếu tặng thức ăn và những đồ cao cấp. Ai biếu tặng bao nhiêu bà cũng nhận và đem cất vào pḥng làm của riêng, chưa bao giờ bà cho chúng trong chùa một hộp sữa, một chai nước tương hay một hũ chao… Thỉnh thoảng bà gọi con cháu đến chơi và đưa đồ người ta biếu Bà và kêu đem về nhà. Lấy hoài mấy đứa cháu Bà cũng ngại nên người nhà và con cháu chỉ lâu lâu mới ghé thăm thôi. Một điều nữa vô cùng quan trọng, bà đợi đến trưa mọi người không ai để ư, bà nhờ người kêu mấy người thương nhân ở dưới chợ lên để bán những đồ biếu tặng. Có người ngại đồ cúng của chùa nên không mua hoặc từ chối. Nhưng cũng có một số người vẫn mua v́ giá quá rẻ. Bà có đủ loại đồ cao cấp như sữa Ensure do nước ngoài sản xuất dành cho người già giá trên 200.000 đồng, vậy mà bà chỉ bán vài chục ngàn một lon lấy tiền để dành. Mỗi bữa ăn bà được thị giả bưng vào pḥng riêng một mâm thức ăn đầy đủ, vậy mà ngày nào bà cũng chạy ra pḥng ăn của đại chúng lấy thêm thức ăn. Mọi người đều thấy ngạc nhiên nhưng không ai dám nói v́ sợ bị sư bà trừng phạt. Sự việc kéo dài khá nhiều năm ngày nào cũng vậy, đồ ăn do chị hậu cần đem lên ăn không hết để thừa, nhưng ngày nào bà cũng phải lấy thêm. Ăn không hết bà đem phơi khô để dành. Nhiều quá hôi thúi không có chỗ để, lâu lâu bà đem ra thùng rác đổ. Việc này có rất nhiều người tận mắt chứng kiến, nhưng không ai dám nói. Tuy được chăm sóc rất chu đáo, quà người ta biếu cũng khá nhiều, nhưng t́nh h́nh sức khỏe của sư bà ngày càng yếu đi, đúng là hốt vào nhiều mà không chịu cho ra nên trái với quy luật tự nhiên hay có thể nói là quả báo.

Nhiều đệ tử thân thích thấy bà ốm quá sức khỏe không tốt nên gửi tiền thêm cho chị nấu bếp để làm thêm vài món đặc biệt để Sư Bà ăn có sức khỏe. Không bao lâu, việc đó sư bà phát hiện, v́ mỗi bữa ăn có những món lạ. Bà cho người gọi chị nhà bếp lên hỏi mới biết những món đó chỉ nấu riêng cho Sư bà dùng. Bà đề nghị chị nhà bếp không được nấu nữa, v́ Sư Bà sợ phải trả thêm khoản tiền. Hiểu ư nên chị nhà bếp thưa Sư Bà yên tâm, tất cả các món nấu cho Sư Bà đă có người tài trợ. Nhưng bà vẫn không chịu, v́ Sư Bà nghi ngại sợ phải trả thêm tiền. Không biết v́ sao tiền của th́ nhiều nhưng sức khỏe của Bà ngày một yếu đi, bà không bao giờ chia sẻ hay giúp đỡ kẻ khác dù là ai, trừ ḍng họ bà con thân yêu của Sư bà mà thôi.

Câu chuyện hốt vào mà không cho ra c̣n nhiều đoạn hấp dẫn, có dịp có thêm tin tức xác thực, chúng tôi sẽ kể tiếp v́ cuộc đời của Sư Bà chưa kết thúc.

 

6. Việc lành dẫn đến duyên lành

Thời kỳ sau khi tôi tốt nghiệp đại học và có việc làm ổn định, một sự việc đặc biệt xảy ra đă tác động đáng kể đến cuộc đời của tôi sau này.

Lúc bấy giờ do nhớ đến công ơn vị ân sư, tôi mong ước mời thầy Hoằng Nhơn đi một chuyến du lịch ṿng quanh thế giới. Hai hăng máy bay Panam của Mỹ và Qantas của Úc có chương tŕnh hợp tác tổ chức tour cho khách đi du lịch ṿng quanh thế giới với ghế ngồi hạng nhất, mỗi chặng dừng chân đều có xe Mercedes hoặc Rolls Royce đón tận phi trường đưa về ở tại khách sạn 5 sao. Tất cả chi phí chuyến đi bao gồm cả ăn uống và di chuyển vào khoảng hơn 21 ngàn đô la Mỹ, cách đây gần 30 năm đó là một khoản tiền khá lớn.

Thế nhưng không ngờ Thầy tôi biên thư từ chối mà nói rằng:

- “Thầy rất cảm động trước ḷng tốt của con, nhưng thật ra Thầy đă có dịp đi nhiều nơi trong nhiều đời rồi. Nếu quả con thương Thầy th́ hăy dùng số tiền đó giúp đỡ chúng sinh, như vậy là đă trả ơn cho Thầy”.

Đọc thư Thầy tôi xúc động chảy nước mắt. Những năm ấy đất nước mới ḥa b́nh nên c̣n rất nhiều khó khăn. Tôi hỏi thăm Thầy cách thức gửi quà cáp, thuốc men về nước nhưng Thầy từ chối tất cả và c̣n yêu cầu tuyệt đối không được gửi. Thầy nhắc lại lời dạy trước đây: “Nếu thương quư Thầy nên làm những việc tốt giúp đời và tuyệt đối tránh không làm điều sai quấy”.

Xúc cảm trước tấm gương của Thầy, tôi phát tâm nguyện rằng từ đây cho đến cuối đời, hễ mỗi khi hướng dẫn bất kỳ ai tu tập, học hỏi về giáo lư, thiền định, nói chung tất cả những vấn đề về tâm linh tôi tuyệt đối không nhận tiền.

Người Âu Mỹ vốn rất ṣng phẳng, mỗi khi theo học về giáo pháp họ đều đề nghị trả công đầy đủ, thậm chí hậu hĩ. Nhưng sau khi phát tâm nguyện làm theo lời dạy của ân sư, tôi từ chối không nhận thù lao như trước nữa. Điều này khiến những người theo học tôi rất ngạc nhiên, khi nghe tôi giải thích ngọn nguồn th́ họ đều xúc động.

Tại Âu Mỹ rất nhiều người giàu có đồng thời cũng không ít những người mang trong ḷng niềm đau khổ vô biên. Đây là một tâm trạng khá phổ biến trong xă hội văn minh tiến bộ ngày nay. Căn bệnh tinh thần này không thuốc ǵ chữa khỏi nên mọi người thường hướng đến niềm tin tâm linh để t́m sự giải thoát.

Tôi may mắn được ân sư truyền dạy bí quyết giữ cho ḿnh luôn sống một cách an lạc, v́ vậy rất nhiều người đến xin thọ giáo phương pháp tu tập t́m sự b́nh yên trong tâm hồn. Thật ra chẳng qua họ là những người đang vác tảng đá nặng trên vai đi trong cuộc đời, nếu biết cách vứt bỏ sẽ thấy nhẹ nhàng hơn nhiều. Thế nhưng muốn vậy cũng phải làm cách nào cho đúng, chứ nếu loay hoay để cho tảng đá rơi ngay chân ḿnh chỉ càng thêm thương tật mà thôi.

Tâm những người ấy tựa như một tấm kính bao nhiêu năm trời bị lớp bụi vô minh che lấp, nay tôi chỉ cần hướng dẫn họ cách thức dùng khăn lau sạch để lộ ra bản lai diện mục sáng ngời bên trong th́ mọi đau khổ sẽ chấm dứt.

Trước đây nhiều người đặt mục đích sống ở đời là t́m cách kiếm cho được nhiều tiền, hoặc lao vào con đường danh vọng với những bậc thang phải trèo lên măi mà không có điểm dừng. Nay một khi tâm đă thức tỉnh, họ quán chiếu mọi sự và nhận ra những thứ ấy chẳng qua chỉ là phương tiện chứ không phải là mục đích trong cuộc sống. Từ đó mà t́m lại được sự b́nh an trong tâm hồn.

Một số anh em kiên tŕ thực tập và đạt được thành công. Vui mừng về kết quả đạt được, nhiều người ngỏ ư muốn đền ơn bằng tiền bạc nhưng tôi một mực từ chối. Là một người tầm thường như bao nhiêu người khác, nên tôi không phải không có những lúc yếu ḷng. Có những thời kỳ lâm vào cảnh túng bấn, gặp đúng dịp các môn sinh gửi biếu năm mười ngàn đô la, một khoản tiền hoàn toàn không nhỏ khiến đôi khi tôi cũng băn khoăn. Nhưng đó chỉ là một cảm giác thoáng qua và tôi mong mỏi giữ được lời hứa của ḿnh cho đến khi nhắm mắt ĺa đời.

(Ngay cả mỗi khi về nước hễ nơi nào mời đến nói chuyện về tâm linh tôi luôn sẵn sàng và không bao giờ nhận tiền. Nhưng nơi nào đề nghị trao đổi về kinh nghiệm trong việc kinh doanh hay giao tiếp quốc tế đều phải trả công cho tôi ṣng phẳng tương xứng với công sức lao động bỏ ra).

Năm này qua năm khác, hễ bất kỳ nơi nào cần hướng dẫn tu tập tôi đều không nề hà v́ nghĩ rằng ḿnh chỉ bỏ ít th́ giờ mà có thể giúp được nhiều người thoát khỏi đau khổ. Cứ thế mà tôi đi khắp nơi từ Mỹ, Úc, Anh, Ư, Ḥa Lan, Thụy Sĩ, kể cả Mêhicô, Argentina, qua cả châu Phi như Côte d’Ivoire, Zair, Nam Phi… Gặp những tháng hè rảnh rỗi tôi chịu khó bỏ hết công việc giúp cho anh em. Họ lo vé máy bay và việc ăn ở cho tôi, nhưng thật ra nơi nào không có điều kiện tôi vẫn có thể tự túc được.

Trở lại với các anh em mà tôi từng hướng dẫn sang đất Phật trước đây, liên tiếp mấy năm sau nhóm chúng tôi đều tổ chức đi sang Ấn Độ và Nepal để hành hương chiêm bái. Tuy nhiên, nếu trước đây tôi đưa mọi người đi với tư cách gần như là một hướng dẫn viên du lịch th́ bây giờ họ lại tỏ thái độ một mực kính trọng. V́ thế đâm ra có khoảng cách, điều này quả thật khiến cho tôi không cảm thấy thoải mái nhưng chẳng biết làm sao hơn. Họ coi tôi như một bậc thầy và luôn chăm chú lắng nghe những điều tôi trao đổi về các cách tu tập. Những ǵ tôi học được ở vị thầy của ḿnh trước đây th́ nay tôi đem ra chia sẻ với họ.

Đến năm thứ ba, một lần khi mọi người đang ngồi dưới cội bồ đề bỗng nhiên anh em đưa ra đề nghị:

- Thưa thầy, hầu hết các nước đều đă xây dựng chùa ở Bồ Đề Đạo Tràng mà tại sao Việt Nam lại không có? Lần nào sang đây thầy tṛ cũng phải ăn nhờ ở đậu tại chùa Miến Điện. Tại sao chúng ta không nghĩ đến việc xây dựng một ngôi chùa Việt Nam tại đất Phật?

Tôi trả lời:

- Đây chính là điều tôi tha thiết muốn làm nhưng hoàn toàn không đủ khả năng. Sở dĩ các nước khác làm được là v́ chính phủ họ bỏ tiền ra, c̣n tôi cũng như các anh em, tiền lương dạy học rất khiêm tốn làm sao đủ sức xây dựng nổi một ngôi chùa.

Họ đồng thanh trả lời:

- Thầy đừng lo. Mấy năm nay chúng con đă theo học với thầy, nay anh em xin được góp sức giúp thầy đạt ư nguyện.

Tôi thận trọng nhắc nhở:

- Các anh đừng quên đang đưa ra lời hứa dưới cội bồ đề linh thiêng. Nếu vị nào không giữ lời e rằng phải đầu thai kiếp khác để trả cho xong.

Sau lần đó, chúng tôi chia tay nhau mỗi người một ngả, người về nước Ư, kẻ về Úc, Pháp, Áo, Tân Tây Lan và tôi cũng quên đi câu chuyện trao đổi ấy.

Không ngờ anh em nhất quyết thực hiện lời hứa, người có đất bán đất, có xe bán xe, mỗi người gom góp một ít tùy theo khả năng rồi trao hết cho tôi. Lúc bấy giờ tôi đang ở tại Paris. Người mang tiền đến chính là giáo sư Durant, vừa là thầy lại vừa là cấp trên của tôi. Thông thường bên châu Âu hễ sếp muốn gặp nhân viên th́ cho gọi tới chứ hiếm khi nào họ đến chỗ cấp dưới. Nhưng lần đầu tiên sau bao nhiêu năm làm việc chung với nhau, giáo sư thân chinh đến gơ cửa pḥng làm việc của tôi và trao tận tay số tiền gói trong tờ báo Le Monde. Ông trịnh trọng nói:

- Thưa thầy, đây là số tiền anh em gửi biếu thầy để bắt tay vào việc xây chùa.

Sau đó chúng tôi phải đi dự một hội nghị tại Nhật Bản, giáo sư Durant đặc phái tôi sang Tokyo chuẩn bị trước một số công việc, rồi ông kư giấy cho nghỉ phép để tôi có thể bay thẳng từ Nhật sang bang Bihar của Ấn Độ xúc tiến việc t́m mua đất.

Khi cầm trong tay khoản tiền đầu tiên tôi vô cùng xúc động, đồng thời lại hết sức lo lắng v́ cảm thấy trách nhiệm quá nặng nề. Nghĩ lại mới thấy chính nhờ tôi giữ đúng lời phát nguyện – xuất phát từ t́nh cảm đối với vị ân sư – mà từ đó bao nhiêu duyên lành đă đến với ḿnh. Đây chính là một điều mầu nhiệm mà bản thân tôi đă chiêm nghiệm được trong chính cuộc đời này.

 

7. Quả báo trên đất Phật

Trong số những nhân vật đến Việt nam Phật Quốc Tự rồi đi, tôi vẫn c̣n giữ kỷ niệm thật vui về ông Bảy, người đă trải qua hơn ba tháng gắn bó với Việt Nam Phật Quốc Tự trong thời kỳ chùa đang xây dựng.

Vào năm 1996, tôi sang bang California của nước Mỹ tham dự một hội nghị về trao đổi văn hoá. Nhân dịp đó các Phật tử có mời tôi nói chuyện một buổi về Việt Nam Phật Quốc Tự tại Cali. Sau khi kết thúc, mọi người ùa đến vây quanh tôi xin chụp h́nh lưu niệm. Bỗng nhiên có một cụ già người Việt dáng vẻ quắc thước đến nhét một miếng giấy vào tay tôi và nói một cách thành khẩn: “Thưa Thầy, xin Thầy đọc giùm con ngay”. Tôi lấy làm lạ nên khi mọi người mời vào bên trong ngồi uống nước tôi bèn mở tờ giấy ra xem. Trong thư chỉ ghi một hàng chữ nguệch ngoạc: “Xin Thầy vui ḷng cho con gặp mặt để thưa một việc cần kíp, nếu không con chết”. Tôi kinh ngạc không hiểu nguyên do ǵ mà một người hoàn toàn xa lạ lại viết thư cho tôi với lời lẽ căng thẳng như vậy. Nh́n thấy ông đang đứng gần đó với vẻ mặt băn khoăn chờ đợi, tôi vẫy ông đến gần và xin số điện thoại, hẹn sẽ gọi điện trao đổi sau.

Vừa về đến khách sạn tôi gọi điện thoại cho ông ngay. Ông kể rằng ngay từ nhỏ đă ao ước đi tu nhưng chưa có duyên lành. Nay được nghe tôi kể chuyện xây dựng ngôi chùa trên đất Phật ông rất cảm xúc và tha thiết xin theo về chùa để tu. Tôi khuyên ông nếu muốn vậy th́ phải bàn bạc với gia đ́nh và thu xếp mọi việc thật yên ổn rồi mới ra đi chứ không nên nôn nóng vội vàng như thế. Ông bèn mời tôi tuần sau đến nhà chơi.

Thế là chỉ trong ṿng một tuần lễ ông quy tụ đầy đủ con cháu dâu rể ở rải rác khắp các tiểu bang trên đất Mỹ tập hợp tại nhà ông. Khi tôi đến nơi được cả nhà đón tiếp một cách trịnh trọng, mời ngồi trên một cái ghế cao c̣n mấy chục thành viên trong gia đ́nh xúm xít chung quanh. Mọi người coi tôi như thượng khách và tỏ ra cung kính khiến tôi khá ngỡ ngàng. Ông bà có vẻ là người chân chất, ít chữ nghĩa, tuy nhiên họ dạy dỗ con cái rất tốt. Tuy tất cả đều đă trưởng thành, dâu rể có cả người nước ngoài nhưng đều tỏ ra rất hiếu đạo và tôn kính cha mẹ.

Sau khi trao đổi mấy câu chuyện xă giao, ông Bảy nghiêm trang đứng lên nói về ước nguyện muốn được đi tu. Tôi góp ư :

- Nếu ông Bảy muốn đi tu th́ phải có sự đồng ư của bà Bảy và các con cháu trong gia đ́nh.

Và tôi quay sang hỏi bà vợ:

- Ông Bảy muốn theo tôi sang đất Phật để tu hành, vậy bà có đồng ư hay không?

Bà nhỏ nhẹ trả lời:

- Thưa Thầy con không phản đối nhưng xin được đi theo để lo cho ông.

Ông Bảy liền trợn mắt và lớn tiếng:

- Không được, bà cứ để tôi đi một ḿnh, chừng nào đắc đạo tôi trở về độ cho bà.

Bà Bảy thở dài và lặng lẽ lấy khăn lau nước mắt chứ không dám nói ǵ thêm. Khi ông quay sang hỏi ư kiến các con th́ người nào cũng rụt rè tán đồng chứ không dám nói trái ư cha. Thấy vợ có vẻ buồn, ông quay sang cự nự:

- Tôi đă hy sinh suốt mấy chục năm nay lo cho gia đ́nh, bây giờ bà phải trả tự do cho tôi muốn làm ǵ th́ làm chứ.

Bà vợ rầu rĩ cúi mặt và lấy khăn chùi nước mắt khiến tôi rất xúc động nên quay sang nói với ông Bảy:

- Thôi, ông cũng nên thong thả, để tôi có thời gian sắp xếp mọi việc sẵn sàng rồi mời ông sang. 

Nếu quả ông có phước duyên th́ thế nào cũng sẽ được toại nguyện. Dục tốc bất đạt.

Tôi đứng dậy từ giă cả gia đ́nh, trước khi ra về tôi đến an ủi bà Bảy:

- Bà cứ yên tâm, nếu không được phép của bà tôi sẽ không dẫn ông đi đâu.

Sau khi hội nghị kết thúc tôi trở về Ấn Độ. Không bao lâu sau tôi liên tục nhận được điện tín và cả điện thoại của các con ông Bảy yêu cầu tôi trở qua Mỹ gấp để cứu cha họ. Tuy không hiểu ất giáp ǵ nhưng nghe nói có chuyện cần kíp liên quan đến tính mạng con người nên tôi vội vă thu xếp công việc bay sang Mỹ. Qua đến nơi tôi mới rơ sự t́nh. Th́ ra sau khi tôi về lại Ấn Độ, ông Bảy hết sức thất vọng và một mực dọa rằng nếu không được đi tu ông sẽ tự vận. Thế là từ đó hễ ông đi đâu làm ǵ cũng đều có người thân đi theo, kể cả khi ông vào nhà vệ sinh. T́nh trạng căng thẳng kéo dài nên cả gia đ́nh họp nhau lại bàn bạc và đành chấp thuận để ông sang Ấn Độ v́ sợ ông tự vận chết bất tử. Sau đó họ mới đánh điện và gửi vé máy bay mời tôi sang Mỹ để đón ông.

Công việc xây dựng chùa đang rối rắm trăm bề mà bỗng nhiên giờ đây tôi lại phải mang thêm một gánh nặng, c̣n về phần ông Bảy th́ việc quá nôn nóng muốn đi tu cũng không phải là tốt. Thế nhưng tôi cũng không thể từ chối trước mong ước quá thiết tha của ông.

Khi biết ư nguyện của ḿnh sắp được thực hiện, ông Bảy vui vẻ sung sướng như trẻ con được quà. Nh́n thấy tôi mặc chiếc áo kiểu Ấn Độ ông bèn hỏi mượn để làm mẫu v́ ông vốn là thợ may. Tôi cứ tưởng có lẽ ông muốn may tặng tôi vài bộ đồ để coi như ra mắt sư phụ, ai ngờ ông may đo cho chính ông, làm tôi mừng hụt. Rồi ông sục sạo t́m mua cả trăm cuốn sách kinh đóng thùng mang sang đất Phật. Ông yêu cầu các con phải mua vé máy bay hạng nhất cho cả hai thầy tṛ v́ theo ông một lần đi tu là một lần khó! Thế nhưng tôi không đồng ư. Tôi luôn luôn đi vé máy bay loại thường cho đỡ tốn kém, chỉ khi nào các trường đại học mời hay những hội nghị quan trọng mà tiêu chuẩn dành cho đại biểu là vé máy bay hạng nhất th́ tôi mới miễn cưỡng chấp nhận. Cuối cùng ông phải chiều theo ư tôi đi loại vé thường.

Trước ngày lên đường, các con của ông đến gặp riêng tôi dặn ḍ đủ thứ chẳng khác nào tôi là... con rể của ông. Thậm chí có người c̣n nhét vào túi xách tôi vài chai dầu gió và căn dặn:

- Con có đưa dầu cho ba con rồi nhưng thầy cũng giữ thêm vài chai, khi nào ba con xài hết th́ đưa cho ông.

Người lại ân cần nhờ vả:

- Ba con thích ăn ngon, con xin gửi thầy ít tiền để khi nào ba con thèm món ǵ nhờ thầy mua giúp.

Tôi thật sự ngao ngán trước viễn cảnh phải lo phục vụ thêm một ông cụ trong khi bản thân ḿnh công việc đang ngập đầu ngập cổ, nhưng mặt khác cũng rất cảm kích trước ḷng hiếu đạo của những người con. Tôi nghĩ thầm chắc kiếp trước ḿnh c̣n mắc nợ ông nên giờ đây phải trả! Ngày lên đường, khi đă yên vị trên máy bay ông Bảy tỏ ra vô cùng sung sướng và bắt đầu mở máy nói oang oang. Tôi nhắc nhở ông:

- Ông b́nh tĩnh lại, máy bay vẫn c̣n đang bay trên nước Mỹ chứ chưa đến đất Phật đâu.

Suốt mấy tiếng đồng hồ trên đường từ Mỹ sang Luân Đôn, ông nói chuyện không ngừng khiến tôi vô cùng mệt mỏi. Máy bay vừa đáp xuống phi trường Luân Đôn ông hứng khởi thốt lên:

- Mô Phật! Mô Phật! Thưa thầy thế là con đă đến được đất Phật.

Tôi bật cười:

- Chưa đâu, chúng ta chỉ mới tới Ăng lê thôi.

Máy bay dừng tại Luân Đôn để tiếp nhiên liệu rồi lại tiếp tục bay sang Ấn Độ. Ông Bảy khấp khởi vui mừng tưởng rằng chỉ một hai giờ đồng hồ nữa sẽ qua tới đất Phật, nhưng khi biết rằng phải mất đến hơn tám tiếng th́ ông tỏ ra hết sức nôn nóng. Khi máy bay đáp xuống thủ đô New Delhi, ông Bảy mừng rỡ quay sang tôi:

- Mô Phật! Thưa thầy con sung sướng quá, bây giờ con đă được tới đất Phật, được theo gót ngài Huyền Trang, được theo thầy rồi!

Ngay khi vừa đặt chân xuống phi trường ông vội quỳ xuống thành kính hôn lên mặt đất làm mấy ông tây bà đầm lấy máy h́nh ra chụp ảnh lia lịa. Ra đến chỗ nhận hành lư, thấy ông già cả nên tôi định xách va li giúp nhưng ông nhất định không chịu:

- Thầy để con xách. Thầy mà xách th́ con mang tội chết.

Lúc ấy thời tiết bắt đầu vào hè nên ông bảo tôi:

- Thưa thầy trời nóng quá, con đề nghị thầy tṛ ḿnh vào ở trong khách sạn 5 sao.

- Không, không nên. Ở đó rất mắc hơn cả trăm đô la một ngày.

- Mấy trăm cũng được, không sao đâu thầy.

Nhưng tôi nhất định không chịu nên cuối cùng ông phải chiều ư tôi về ở tạm tại một ngôi chùa. Biết ông đă quen với tiện nghi nên tôi mua vé xe lửa toa có máy lạnh để đi từ New Delhi đến Bồ Đề Đạo Tràng, chứ c̣n thông thường tôi luôn luôn đi vé ngồi cho đỡ tốn kém. Suốt chặng đường ông lại tiếp tục thuyết pháp. Lúc đến Việt Nam Phật Quốc Tự, thấy cảnh vườn cây xanh ông tỏ ra mừng rỡ vô cùng khiến tôi cũng vui lây:

- Thưa thầy, con từ Bắc vào Nam, từ Việt Nam sang Mỹ rồi đi khắp các nước mà chưa bao giờ thấy nơi nào đẹp và thơ mộng như cảnh chùa ḿnh.

Bắt đầu từ đó ông giành làm hết mọi việc, đến nỗi khi tôi tụng kinh ông cũng bảo để ông tụng thay. Mỗi bữa ăn ông nấu cơm rồi dọn cho tôi giống y như trong nhà hàng, bày đầy đủ bát dĩa và cả khăn ăn rất trịnh trọng. Đặc biệt không bao giờ ông chịu ngồi ăn chung với tôi.

Thông thường mỗi sáng tôi cúng Phật bằng nước lạnh, từ khi có ông th́ hàng ngày ông pha trà để cúng Phật, chư Bồ Tát ở chính điện và bàn thờ chư Tổ, chư liệt vị anh hùng ở phía sau chính điện. Thái độ thành tâm của ông khiến tôi rất vui. Tôi lại nghĩ sau bao nhiêu năm cô độc, vất vả, có lẽ nay chư Phật chư Bồ Tát thương t́nh ban cho người đệ tử già bầu bạn để đỡ hiu quạnh.

Suốt hơn một tháng đầu ông phấn khởi làm mọi việc một cách đầy nhiệt t́nh và rất đúng giờ. Hàng ngày trước khi cúng Phật ông pha cho tôi một b́nh trà, vậy là tôi vừa ngồi nhâm nhi ly trà vừa nghe ông tụng kinh mà ḷng cảm thấy rất êm ả thanh thoát vô cùng nơi đất Phật.

Nhưng sau đó bỗng nhiên ông bắt đầu tụng kinh trễ nải dần rồi từ từ bỏ luôn. Một buổi sáng không thấy ông pha trà tụng kinh như thường lệ nên tôi vào pḥng hỏi thăm:

- Sao hôm nay ông Bảy không tụng kinh?

- Thưa thầy ḿnh mẩy con đau nhức quá.

- Chắc là ông bị bệnh rồi. Ông có cần bác sĩ không để tôi đi kêu?

Ông có vẻ không tin tưởng bác sĩ Ấn Độ nên lắc đầu. Tôi trở ra tự pha trà rồi đi tụng kinh. Tụng xong vẫn không thấy bóng dáng ông đâu tôi bèn xuống bếp nấu ăn. Cơm nước xong xuôi tôi gọi ông ra ăn th́ ông nhất định không chịu ăn như mọi khi. Sau khi tôi ăn xong ông vẫn tiếp tục nằm yên trong mùng khiến tôi rất lo lắng v́ nếu lỡ ông lâm bệnh nặng th́ thật phiền toái, mà nếu có mệnh hệ nào lại càng nguy hơn, nhất là trong lúc việc xây chùa c̣n đang ngổn ngang. Vậy là tôi phải dọn cơm vào mâm rồi bưng đến tận giường cho ông. Ông nói rằng sợ tội nên không dám ăn, tôi phải dỗ dành :

- Thôi ông ráng ăn đi, ông không chịu ăn tội c̣n nặng hơn.

Đồng thời tôi nghĩ bụng đúng là quả báo nhăn tiền, lúc trước để ông pha trà cho ḿnh th́ nay ḿnh phải nấu cơm bưng đến tận giường hầu ông và hơn thế nữa lúc ông nằm một chỗ tôi phải giặt giũ áo quần cho ông. Quả thật, đây là quả báo nhăn tiền của tôi.

Sau đó tôi bắt đầu trở lại nếp sống cũ, hàng ngày dậy sớm pha trà tụng kinh, tiếp theo chuẩn bị bữa cơm rồi bưng vào tận giường năn nỉ ông Bảy ăn.

Vào một buổi chiều mưa, sau thời tụng kinh chiều, tôi đang ngồi thanh thản ngắm nh́n cảnh vật mờ ảo bên ngoài, thỉnh thoảng những tia chớp lóe lên chiếu sáng những hạt mưa óng ánh rơi trên tàu lá chuối, lắng nghe tiếng ễnh ương ếch nhái ḥa cùng với tiếng mưa rơi thánh thót trên lá cây trong vườn, làm thành một bản ḥa tấu thật du dương. Bỗng nhiên tôi nghe tiếng người khóc nên vội vàng đi xuống th́ thấy ông Bảy đang ngồi trên bậc cầu thang khóc nức nở. Tôi ngạc nhiên hỏi:

- Có chuyện ǵ đó ông Bảy ?

- Thưa thầy con buồn chịu không nổi, từ hồi cha sinh mẹ đẻ tới giờ chưa bao giờ buồn ghê gớm đến như vậy.

Lúc đó ḷng tôi đang vui nên thoạt đầu không hiểu được điều ông nói:

- Tại sao ông lại buồn ?

- Thưa thầy con nhớ nhà quá !

- Nhưng ông nhớ ai ?

- Dạ con nhớ má thằng Út !

Hóa ra ông đang nhớ bà Bảy! Tôi bật cười:

- Tại sao ông không nhớ ai hết mà chỉ nhớ má thằng Út ?

- Thưa thầy, con coi má thằng Út như mẹ ruột của con vậy.

- Ủa, sao kỳ vậy? Tại sao ông lại coi bà Bảy như mẹ ḿnh ?

- Thưa thầy con vốn mồ côi từ nhỏ nên rất thiếu t́nh thương. Đến khi gặp má thằng Út th́ bà hết mực yêu thương chiều chuộng con. Hễ mỗi khi con bệnh là bà chăm sóc tận t́nh, nấu phở cho con ăn, kho thịt, nấu cháo…

Thế là ông bắt đầu một câu chuyện tràng giang đại hải về những điều mà bà vợ yêu quư thường làm cho ông. Hồi lâu ông vẫn không chịu ngưng khiến tôi phải cắt ngang :

- Thôi đủ rồi ông đừng kể nữa.

Lúc chuẩn bị đi Ấn Độ ông Bảy nằng nặc đ̣i chỉ mua vé một lượt v́ nhất quyết ở lại luôn nơi đất Phật, tuy nhiên tôi không đồng ư mà cẩn thận yêu cầu các con ông mua vé khứ hồi để ông có thể trở về Mỹ bất cứ lúc nào. Quả nhiên điều tôi dự pḥng đă xảy ra, mà lại sớm hơn là tôi nghĩ. Tính ra ông chỉ mới lưu lại chùa được hơn ba tháng. Tôi thở dài bảo ông:

- Thôi ông cứ thu xếp đồ đạc, tôi sẽ đưa ông về Mỹ.

Nghe tôi nói vậy ông mừng rỡ te te trở về pḥng. Sáng hôm sau, vừa tụng kinh xong tôi đi xuống lầu th́ thấy hai ba cái va li nằm ngổn ngang ở chân cầu thang. Tôi ngạc nhiên gọi:

- Ông Bảy, va li của ai để đầy cầu thang vậy?

- Bạch thầy, hôm qua thầy đă bằng ḷng đưa con về Mỹ.

- Trời đất, làm sao tôi đưa ông đi ngay được, ít nhất phải chờ một hai tuần lễ để tôi chuẩn bị sắp xếp công chuyện chùa đâu vào đó rồi mới đưa ông đi được chứ.

Ông tiu nghỉu đem va li vào pḥng. Sau khi thu xếp mọi việc xong tôi mua vé xe lửa đưa ông đến sân bay New Dehli. Suốt dọc đường ông xin lỗi rối rít:

- Con rất xấu hổ v́ đă làm phiền thầy. Xin thầy tha lỗi cho con.

Tôi an ủi ông:

- Thôi không có ǵ phải áy náy, chẳng qua kiếp trước chắc là tôi c̣n thiếu nợ ông.

Ông hứa với tôi:

- Lần này con về thu xếp chuyện gia đ́nh xong sẽ trở qua tu luôn với thầy.

Ông nói câu này một cách hết sức chân thành khiến tôi không nhịn được cười. Tôi đưa ông ra sân bay rồi đứng bên ngoài chờ ông làm thủ tục, đinh ninh khi làm xong thế nào ông cũng quay ra để thầy tṛ chào tạm biệt. Không ngờ ông quá vui mừng trước viễn cảnh được gặp lại vợ con nên đi thẳng lên pḥng cách ly quên khuấy luôn việc quay lại chào từ giă tôi lần cuối. Một chuyện vui khác là sau khi về đến Mỹ, hàng ngày cứ mỗi bữa ăn ông đều xới một chén cơm và đĩa thức ăn rồi hướng về đất Phật lâm râm khấn vái tên tôi khiến cho mấy đứa con cứ tưởng rằng tôi đă chết !
 

8. Nhân nào quả đó

Vài lần nói chuyện cũng như viết bài, tôi đă kể một phần nào cuộc đời không may mắn của tôi thời thơ ấu, mà tôi thường nói vui là tôi sinh nhằm ngôi sao lạch ạch (hay c̣n gọi là sao xấu). Ngay từ khi c̣n nhỏ, tôi đă bị mang nhiều chứng bệnh nan y mà nhiều vị bác sĩ và lương y vào thời đó tiên đoán rằng tôi sẽ không sống lâu. Bệnh hoạn dồn dập làm cho thân thể tôi ốm yếu gầy c̣m, và có lẽ v́ vậy mà ảnh hưởng đến tinh thần của tôi chăng? Tôi thấy ai tôi cũng sợ, cái ǵ tôi cũng lo. Gặp cái ǵ khó là bị hốt hoảng. Cứ thế mà tôi thường ôm mặt lẫn vào bóng tối khóc một ḿnh để không ai biết. Rồi mỗi ngày khi màn đêm buông xuống, cơn sợ hăi trong tôi càng tăng thêm. Tôi sợ bóng tối, sợ ma quỷ … có thể đến bắt tôi vào những lúc trời tối. Tôi nhớ lúc nhỏ, nhiều lúc tôi mong mỏi mặt trời đừng bao giờ lặng và bóng đêm đừng bao giờ có, mà sau này khi lớn lên mới nhận ra rằng đó chỉ là sự mơ ước không tưởng, mơ ước của những trẻ thơ đầy sợ hăi, sợ bóng tối.

Cảnh sợ hăi bệnh hoạn liên miên theo tôi rất nhiều năm! Ngoài ra những trận đ̣n khốc liệt c̣n dồn dập lên thân tôi. Có nhiều lúc, sau những trận đ̣n, thân thể tôi bị thương tích bầm tím nhiều nơi, có chỗ chảy máu. Nhiều khi bị đ̣n quá nặng tôi đi không được! Quá đau đớn và mất niềm tin vào cuộc sống, nên mặc dù c̣n nhỏ tôi đă có ư định tự tử nhiều lần, nhưng dừng lại v́ sợ khi tự tử chết rồi ba má tôi sẽ bị công an cảnh sát bắt, thế là tôi bỏ ư định tự tử. Tôi bị đánh đập hành hạ có lẽ v́ tôi là con trai duy nhất trong gia đ́nh được Ba tôi thương nhất. Khi Ba và Má tôi chia tay thế là tôi trở thành nạn nhân. Mỗi lần tôi nhớ và nhắc đến Ba là bị đ̣n chí tử. Dường như bao nhiêu tức giận hận thù khó khăn trong gia đ́nh đều đổ dồn lên thời thơ ấu của tôi. Quả thật là một tai họa lớn đổ lên tuổi thơ tôi. Mặc dù bệnh hoạn và bị hành hạ, nhưng tôi vẫn thương yêu Má. Những h́nh ảnh Má tôi thức khuya dậy sớm buôn bán tảo tần để cho tôi được đến trường học, rồi có những bữa cơm tôi ăn và quần áo cho tôi mặc. Những kỷ niệm đẹp và cao quư đó tôi không bao giờ quên trong cuộc đời. Đặc biệt nhờ sự khuyến khích của Ba Má, nên tôi đă cố gắng học và rồi thành công mới có được cuộc sống đầy an lạc hạnh phúc như ngày hôm nay. Nhờ ân đức Ba Má nên tôi mới có được thân này, nhờ có được thân này tôi mới thưởng thức được nhiều cái hay cái đẹp trong cuộc đời và làm được một số điều phước đức.

Bỏ ư định tự tử v́ sợ người thân bị công an cảnh sát bắt, thế là tôi quyết định trốn nhà ra đi, mà đi đâu bây giờ? Ra đi bị đói khổ không nhà ở… thế là c̣n khổ hơn khi bị Má đánh đập, thà bị thương tích, bị đánh đập c̣n có cơm ăn có chỗ ở, khi nhỏ nhưng tôi đă suy nghĩ những điều này. Nhưng nếu trốn về ở với ba một thời gian, Ba lại dắt về Má th́ lại bị đ̣n nặng hơn. Việc trốn nhà ra đi hay ở lại đă làm tôi phân vân rất nhiều tháng! Nhưng v́ bị đánh đập dồn dập chịu không nổi, thế là cuối cùng tôi đành trốn nhà ra đi vào một đêm khuya sau một trận đ̣n nặng mà tôi phải lết đi từng bước, mặc dù lê bước khó khăn nhưng vẫn cố lết đi khi trong nhà Má tôi và các chị và em c̣n đang ngủ ngon. Tôi rời khỏi nhà mà nước mắt cứ chảy giàn giụa, v́ cũng c̣n rất thương Má, các chị và em út, nhưng v́ bị đánh đau quá chịu không nổi, hốt hoảng nên bắt buộc phải ra đi!

Khi ra đi khỏi nhà rồi mới biết gia đ́nh dù sao vẫn là tuyệt vời, c̣n có nhiều hạnh phúc mà nơi khác không có… nhiều ngày tôi đi lang thang ngoài đường, bị đói và khát, lúc đó mới thấm thía khi ở nhà có cơm có nước mà ăn uống, có chỗ ngủ nghỉ… có dịp tới trường học gặp thầy cô và bạn bè… nhiều ngày lang thang đói khát nơi thành phố Sài G̣n, một vài người cho tôi ăn bánh ḿ xong no nê thế là anh Năm kêu tôi làm bậy… tôi đă từ chối quyết liệt. Biết không sai khiến tôi làm chuyện sai quấy được, thế là anh Năm bỏ tôi vào một đêm khuya. Khi thức dậy tôi đi t́m anh măi để xin lổi, nhưng t́m không ra, thế là trận đói khát kế tiếp lại đến! Quá bế tắc và đau khổ không c̣n cách nào khác thế là tôi t́m cách về lại Bến Tre với Ba, hy vọng để hết khổ. Khi đến Bắc Rạch Miễu Thầy Hoằng Nhơn đă đợi tôi từ lâu, rồi Thầy cứu đời tôi. Cuộc gặp gỡ này là cả một sự mầu nhiệm, phải người có sự tu tập th́ mới hiểu được phần nào sự huyền bí của vũ trụ. Có dịp tôi sẽ kể thêm về sự gặp gỡ kỳ diệu này.

Tôi gặp Thầy Hoằng Nhơn, thầy cho tôi uống thuốc, những cây thuốc quư trồng nơi vườn chùa, chữa hết tất cả mọi bệnh tật và truyền dạy cho tôi nhiều mật pháp, thế là tôi lấy lại niềm tin vào cuộc đời. Có thể nói gặp được bậc chân sư này là cả một phúc đức và may mắn lớn cho cuộc đời tôi. Thầy đă huấn luyện, dạy tôi nhiều mật pháp để được thành công và hạnh phúc mà tôi nghĩ không t́m được ở nơi nào khác. Sau khi học hành tốt nghiệp tạm xong, t́m được việc làm tốt và có cuộc sống an vui hạnh phúc và trong ṿng đời danh vọng nhiều cạm bẫy, nhiều quyến rũ trần gian, tôi vẫn là một con người b́nh thường và rất trần tục như bao chúng sinh khác. Nhiều lúc v́ bă danh lợi nên tham sân si cứ tăng dần. Nhiều lúc v́ vô minh che lấp tưởng chừng đă dính vào những điều tội lỗi và thất đức, nhưng nhờ sự kính trọng và lời dạy mật pháp của bậc chân sư, thế là tôi đă làm được một vài điều phúc đức trong đời này.

Tôi rất quư mến và chân thành giúp đỡ những học tṛ nào thành tâm và thành thật, sống có lư tưởng, như Sư Phụ Hoằng Nhơn đă quư mến và giúp đỡ tôi một cách chân thành, không vụ lợi. Tôi đă làm như vậy như Thầy đă dạy. Tôi kính quư sư phụ tôi thôi, thế mà ngày nay có cả ngàn học tṛ đệ tử khắp nơi trên thế giới kính quư tôi. Nhiều anh chị em đă hùn tiền nhau lại làm một ṭa nhà với 108 pḥng để tặng riêng tôi, trong ấy có ba pḥng đặc biệt để tôi ở và làm việc, nhưng tới giờ phút này tôi chưa bao giờ dám vào ở trong những pḥng ấy, v́ tôi sợ tổn đức. V́ tôi nghĩ việc thiện tôi làm chưa được là bao nhiêu, nếu không khéo để người ta cung kính bái lạy và thọ dụng tặng phẩm cúng dường của họ th́ sẽ bị tổn đức như Thầy tôi đă dạy.

Anh chị em học tṛ đệ tử quư mến tôi họ đă không hài ḷng thái độ không dám nhận lănh và thụ hưởng tặng phẩm của họ. Tôi biết vậy, nhưng đành chịu chứ không sao thay đổi quan điểm của tôi được. V́ tôi vẫn c̣n có thể đi làm mướn, đi dạy học có tiền để sống từ sức lao động của ḿnh th́ làm sao tôi lại thọ dụng sự hiến cúng của họ? Có nhiều vị học tṛ khuyên tôi không nên đi dạy học hoặc làm việc nữa, để thời giờ tu tập và hướng dẫn họ tu tập, mỗi người một tháng tặng tôi một đồng dư để tôi sống và làm việc, tôi cũng từ khước, v́ tôi luôn theo lời dạy của sư Phụ tôi: nếu ḿnh tu hành không đủ phước đức mà thọ dụng từ sự cúng dường của người khác th́ có thể mất phước và phải trả quả báo lớn lao, như trường hợp tôi đă trả quả báo với ông Bảy tại Đất Phật. Chuyện quả báo này tôi phải trả ngay sau đó chỉ vài tháng tại Việt Nam Phật Quốc Tự, Buddha Gaya, Bihar, India.

Tôi khuyên anh chị em học tṛ đệ tử, nếu họ kính quư tôi th́ ráng tu hành và làm nhiều điều phước đức, ngay trong cuộc đời này. Tôi rất xúc động và tri ân các anh chị em học tṛ đệ tử đă giúp đỡ tôi rất nhiều việc cho ḥa b́nh Nepal, xây dựng hai ngôi chùa Việt nam tại Ấn Độ và Nepal, xây cầu t́nh thương, đắp đường tặng quà người nghèo, đặt biệt họ làm cho tôi ṭa nhà 108 pḥng, cũng như hỗ trợ rất tích cực cho tôi làm nhiều việc phước đức khác. Như tôi đă nói, tôi quư một vị chân sư, một vị thầy, mà ngày nay có bao nhiêu là học tṛ đệ tử trên thế giới giúp đỡ và hỗ trợ tôi trong nhiều việc làm phúc đức. Chuyện này quả thật có nhiều điều nhiệm mầu, đúng như lời Phật và các bậc chân sư dạy: Nhân nào th́ quả đó, và ôngbà cha mẹ chúng ta thường hay nói đi nói lại nhiều lần:“ở hiền gặp lành; ở ác gặp ác”, hay như ngạn ngữ b́nh dân:“ác lai th́ ác báo”
 

9. Ở hiền gặp lành

“Ở hiền gặp lành” là câu chăm ngôn mà tôi thường nghe khi c̣n ở Việt nam, lúc nhỏ thường nghe những người lớn nói đi nói lại, đặc biệt là những năm ở gần Sư Phụ tôi, Thầy dạy đi dạy lại chúng tôi triết lư đơn giản này. Tuy nó rất là đơn giản nhưng nếu mọi người biết áp dụng một cách tích cực nó sẽ mang lại cho ta rất nhiều điều lợi ích thiết thực ngay trong đời này. Thầy giải thích rất cặn kẽ và cho nhiều thí dụ rất cụ thể. Thầy nói ḿnh làm điều ǵ mà không có tâm thiện th́ trước sau ǵ cũng sẽ có kết quả xấu. Thầy cho thí dụ ḿnh làm buôn bán cho người khác sản phẩm chất lượng không tốt, mà cứ đổ tiền ra tuyên truyền quảng cáo là đồ tốt, có thể sản phẩm đó bán rất chạy, được lời rất nhiều, nhưng trong một thời gian sau, cuối cùng cũng sẽ bị thất bại và có khi bị tù tội và mất vốn, rồi nợ nần và cuối cùng có thể tù tội và chết thê thảm.

Vấn đề này tôi đă quan sát rất kĩ từ nhiều nước. Tôi quan sát phần lớn những công ty quốc tế lớn, nhưng không thành thật, sau cùng thất bại nặng nề, ngược lại những công ty nhỏ thành thật th́ kết quả phát triển rất tốt đẹp, thành công, mặc dù có lúc gặp nhiều gian nan sóng gió.

Cũng triết lư đơn giản này, tôi quan sát con người nào có phẩm chất hướng thiện, Từ Bi Hỷ Xả th́ cuộc sống và gia đ́nh họ thường được an vui thanh thoát. Trái lại, vô cùng đau khổ.

Tôi đi làm mướn và dạy học nhiều nơi trên thế giới, tôi được cơ duyên làm quen với lănh đạo các công ty và một số lănh đạo các nước. Người lănh đạo nào có tầm nh́n đúng, với ḷng vị tha rộng lượng th́ công ty và đất nước của họ có dịp phát triển tốt, c̣n ngược lại th́ họ gặp bao nhiêu điều tai hại ập đến, của cải tan nát, ngai vàng sụp đổ, có vị bị chết bất đắc kỳ tử không toàn thây. Tôi đă tận mắt chứng kiến nhiều trường hơp như vậy, kể cả các lănh đạo cao cấp của các tôn giáo cũng không thoát khỏi định luật công bằng này.

Nhờ nghe lời Thầy tôi dạy và áp dụng triệt để triết lư đơn giản này mà tôi được lợi ích biết bao điều cụ thể.

Như trên bốn mươi năm sống và làm việc trên nhiều chục nước trên thế giới, tôi đă áp dụng mật pháp đó, nên thành công và an vui làm được nhiều việc tốt. Đây là sự thiết thực, lơi ích của triết lư đơn giản, nhưng cho nhiều an vui hạnh phúc. Ở hiền th́ sẽ gặp lành.

 

10. Thay lời kết.

Quư vị vừa đọc xong phần một của quyển “Con Đường Sáng”. Cuốn sách nhỏ này không phải là hồi kư hay chuyện cổ tích thời xưa hay chuyện tưởng tượng, mà là một tập hợp điều tra khoa học, nghiên cứu ghi chép rất vô tư, trung thực của từng trường hợp nhân quả.

Thế giới hiện tại có đầy đủ tiện nghi vật chất, nhưng cuộc sống càng ngày càng ít an vui hạnh phúc, v́ luôn luôn xảy ra nhiều biến động khủng hoảng: chiến tranh, thiên tai, hận thù… v́ nhiều người không tin nhân quả nên họ đă và đang gây nhiều đau khổ, nhiều tội lỗi, với nhiều cử chỉ và hành động nghịch với luật thiên nhiên và vũ trụ, v́ vậy tạo nên nhiều xáo trộn cho cuộc sống, thế là chiến tranh hận thù và thiên tai xảy ra.

Cuộc đời này vốn là vô thường ngắn ngủi, có đó rồi mất đó. Xin quư vị hăy cùng nhau thực hành tin nhân quả và cổ súy nhiều người cùng thực hành để cùng có an vui cho chính ḿnh, và cũng cho chính xă hội cho đất nước ḿnh đang sống. Và cứ như vậy sẽ lan tỏa ra nhiều nơi trên thế giới. Ḥa b́nh thịnh vượng và an vui hạnh phúc sẽ đến với mọi người.

Tôi viết quyển sách nhỏ này với ḷng chân thành rút ra từ kinh nghiệm sống trong tận đáy ḷng. Tôi ước mong được thấy mọi chúng sinh được sống trong an vui hạnh phúc, trái đất này được măi xanh và tươi đẹp, giữa con người với con người biết yêu quư tôn trọng lẫn nhau.

Tôi mong mỏi và hy vọng có đủ sức khỏe và thời gian để tiếp tục viết thêm quyển thứ hai.

 

Việt Nam Phật Quốc Tự - Lumbini

P.L. 2555 , Lumbini

Ngày Trăng Tṛn Tháng Tư, Tân Măo

Thích Huyền Diệu

Chú thích : (*) Tiêu đề do BBT đặt, tiêu đề gốc:  Con đường sáng (Sự thật nhân quả)

 

Source : http://phatgiao.org.vn/tham-luan-sach/201712/Nhung-cau-chuyen-nhan-qua-co-that-trong-doi-song-29470/