TẠI TRUNG QUỐC 
CHÍNH QUYỀN CÔNG CỤ HÓA PHẬT GIÁO ĐỔI MỚI
 

En Chine, le pouvoir instrumentalise le renouveau Bouddhisme 
Ji Zhe Hoang | Phong chuyển ngữ

 

Các pho tượng Phật giáo bày bán tại một khu chợ ở Bắc Kinh (ảnh: Ng Han Guan AP)

 

 

 

Các pho tượng Phật giáo bày bán tại một khu chợ ở Bắc Kinh (ảnh: Ng Han Guan AP)

Lời giới thiệu của người chuyển ngữ:

Peaceful Buddha in orange robeDưới đây là bài phỏng vấn Giáo sư Trung Quốc Ji Zhe (汲喆/Cấp Triết) về t́nh trạng Phật giáo ngày nay tại quê hương của ông. Bài phỏng vấn được đăng trên nhật báo "Le Monde" của Pháp ngày 9 tháng 9 vừa qua với tựa: "Đức Phật mặc áo màu đỏ" (Bouddha en habit rouge), và đồng thời cũng được đưa lên trang mạng của tờ báo này, nhưng lại mang tựa khác: "Tại Trung Quốc, chính quyền công cụ hóa Phật giáo đổi mới" (En Chine, le pouvoir instrumentalise le renouveau bouddhiste).

            Ji Zhe/Cấp Triết sinh tại Trung Quốc, tốt nghiệp đại học Fudan (復旦/Phúc Đán) năm 1997, đến Pháp năm 1999, năm 2007 bảo vệ luận án tiến sĩ về Tôn giáo  Xă hội học tại trường Cao đẳng Khoa học xă hội(EHESS/Ecole des Hautes Etudes en Sciences Sociales), sau đó lại tiếp tục nghiên cứu thêm hai năm hậu tiến sĩ. Đến năm 2010 th́ được đề cử giảng dạy tại Viện Quốc gia về Ngôn ngữ  Văn minh Đông Phương(INALCO/Institut National des Langues et Civilisations Orientales), một cơ quan nghiên cứu và giảng dạy rất uy tín của Pháp thành lập từ thế kỷ XVII. Cũng xin nhắc thêm là học giả Phật giáo nổi tiếng của Pháp là Philippe Cornu cũng là giáo sư của Viện Quốc gia về Ngôn ngữ  Văn minh Đông Phương này. Ngoài raJi Zhe c̣n hợp tác với nhiều nhóm nghiên cứu về Phật giáo  Xă hội học, nhất là t́nh trạng tôn giáo và chính trị tại Trung Quốc ngày nay. Sách và các bài viết của ông về các vấn đề trên đây được nhiều người biết đến.

            Đôc giả có thể tham khảo bản gốc tiếng Pháp của bài phỏng vấn này trên trang mạng: http://www.lemonde.fr/idees/article/2017/09/09/en-chine-le-pouvoir-instrumentalise-le-renouveau-bouddhiste_5183204_3232.html

 

TẠI TRUNG QUỐC 
CHÍNH QUYỀN CÔNG CỤ HÓA PHẬT GIÁO ĐỔI MỚI 
En Chine, le pouvoir instrumentalise le renouveau Bouddhisme 
Ji Zhe Hoang | Phong chuyển ngữ

Kư giả phỏng vấn François Bougon

 

Ji Zhe (汲 喆/Cấp Triết)

Ji zhe là giáo sư Xă hội học tại Viện Quốc gia về Ngôn ngữ  Văn minhĐông phương (Inalco/Institut National des Langues et Civilisations Orientales) tại Paris. Ngoài ra ông cũng được đề cử điều hành Trung tâmliên ngành về Phật giáo (CEIB/Centre d"Etudes Interdisciplinaires sur le Bouddhisme) cũng của trường này từ năm 2016. Ông vừa cho xuất bản năm vừa qua một quyển sách mang tựa: "Tôn giáo, tính cách hiện đại quyền uy thế tục. Thiền "tchan" ngày nay qua góc nh́n của khoa Xă hội học (Religion, modernité et temporalité. Une sociologie du Bouddhisme Chan contemporain, nhà xuất bản CRNS, 2016), nội dung nêu lên các nhận xétcủa ông về vai tṛ của Phật giáo tại Trung Quốc, Đài Loan và cả trên đất Pháp ngày nay.  

Phật giáo đổi mới tại Trung Quốc mang bản chất như thế nào?

            Tiếng Hán gọi là fuxing (福星/phúc tinh, sự may mắn) có nghĩa là "phục hưng" (renaissance/revival/resurgence). Phật giáo được đổi mới lần thứ nhất vào cuối thế kỷ XIX sau khi cuộc nổi loạn Taiping (太平天國/Thái B́nh Thiên Quốc, một cuộc nổi loạn ảnh hưởng bởi đạo Ki-tô và các giáo sĩtruyền giáo, do Hồng Tú Toàn/洪秀 khởi xướng, khích động nông dân chống lại triều đ́nh nhà Thanh, gây ra một trong những cuộc thảm sát khủng khiếp nhất trong lịch sử Trung Quốc: ít nhất 20 triệu người chết trên tổng số 410 triệu dân vào thời bấy giờ) chấm dứt, cuộc nổi loạn này kéo dài từ năm 1851 đến 1864 tại miền nam Trung Quốc, đánh phá những người theo Phật giáo  Khổng giáo. Sau cuộc nổi loạn này chùa chiền được xây dựng lại, tăng ni được đào tạo trong một khung cảnh mới. Năm 1905 chế độ thi cử tuyển chọn quan lại được băi bỏ và sau khi đế quốc sụp đổ (tức nhà Măn Thanh và chế độ quân chủ của Trung Quốc chấm dứt), nho sĩ không c̣n cơ hội nào ra làm quan bèn quay sang với Phật giáo. Nhờ đó việcnghiên cứu Phật giáo gọi là foxue (/Phật học) được đẩy mạnh.

            Lần phục hưng thứ hai diễn ra vào thập niên 1980, tức là sau các trận tàn phá do cuộc Cách mạngVăn hóa [1966-1976] gây ra. Trong giai đoạn cách mạng này chùa chiền bị cấm, biến thành trường học hoặc các cơ xưởng sản xuất, sư săi phải hoàn tục và bị đưa đi lao động tại các vùng nông thôn. Chủ trương đổi mới về chính trị bắt đầu từ năm 1978 đă thay đổi cục diện: một khoảng không gian được hé mởvới Phật giáo và cả các tín ngưỡng khác. Hiệp hội Phật giáo chính thức được thành lập trước đây từ năm 1950 bắt đầu nhộn nhịp trở lại. Các tự viện lớn được phép sinh hoạt lại, nhất là tại các điểm du lịch. Sư săi được gọi trở về chùa. Sau đó các lớp trẻ dần dần cũng được tuyển mộ thêm.

Vậy những ǵ đă xảy ra vào thập niên 1990?  

            Một số cải tổ hiến pháp vào các năm 1980 cũng đă mở ra một khoảng trống cho sự sinh hoạt củaquảng đại quần chúng trong suốt thập niên sau đó. Song song với việc phát triển kinh tế, t́nh trạng [cởi mở] trên đây cũng được cải thiện hơn. Tin tức về các sinh hoạt Phật giáo cũng được phổ biến tự do hơn. Ngày càng có nhiều người Trung Quốc giàu có ủng hộ chùa ch́ền, họ là những người Trung Quốc sinh sống ở hải ngoại, nhất là tại các vùng Đông Á. Sau đó vào giữa thập niên 1990 th́ những người Trung Quốc trên lục địa mới bắt đầu tài trợ cho các dự án quan trọng.

Một thể chế cộng sản ưu đăi một tôn giáo đổi mới có phải là một sự nghịch lư hay không?

            Trong thập niên 1980, dù có một khoảng trống dành cho việc phát triển tín ngưỡng, thế nhưng chủ trương kiểm soát dưới chiêu bài ư thức hệ vẫn chặt chẽ, tôn giáo bị đặt ra bên lề xă hội, kể cả bị lên án. Tôn giáo tất sẽ bị đào thải trước sự hiện đại hóa xứ sở. Thế nhưng năm 1989, tác động gây ra bởi cuộc biểu t́nh tại quảng trường Thiên An Môn và phong trào đ̣i hỏi dân chủ [lúc bấy giờ] đă tạo ra một sự chuyển hướng mới. Thật ra đây cũng chỉ là một sự thất bại cho cả hai bên: không những đối với phong trào dân chủ mà cả Đảng Cộng sản Trung Quốc [CCP/Chinese Communiste Party] bởi v́ lư tưởng cộng sản đă bị sứt mẻ rất nhiều. Người dân Trung Quốc không c̣n tin vào ư thức hệ do Đảng Cộng Sản Trung Quốc tôn thờ, điều này đă khiến Đảng đành phải chọn một thái độ thực tế hơn đối với vấn đề tôn giáo. Đảng không c̣n ngồi chờ tôn giáo tự đào thải một khi chế độ cộng sản đă được xây dựng vững chắc, mà quay ra lợi dụng tôn giáo để giữ vững chế độ, hầu phát triển kinh tế và huy động niềm kiêu hănh quốc gia.

Vị chóp bu của Trung Quốc là Tập Cận B́nh/Xi Jinping không ngớt đề cao "nền văn minh truyền thống của xứ sở"...

            Phật giáo được xem là thành phần bất khả phân của nền văn minh Trung Quốc. Hơn nữa, trái vớiLăo giáo  Khổng giáo, Phật giáo được công nhận trên toàn thế giới và đă tạo được cho ḿnh một h́nh ảnh tốt đẹp. Trong thế giới Tây Phương Phật giáo được xem là tín ngưỡng yêu chuộng ḥa b́nh. Chế độhiểu rơ điều này là một cơ hội tốt để lợi dụng. V́ thế sau năm 1989, sau một buổi họp với tổ chức Liên HiệpQuốc (ONU) về vấn đề nhân quyền, Bắc Kinh đă gửi hai phái đoàn đại biểu đến Genève (Thụy Sĩ), mỗi phái đoàn được hướng dẫn bởi một nhà sư Phật giáo. Phật giáo [qua h́nh ảnh trên đây] được xem như là mộtthành phần cộng tác [với chính quyền]: không c̣n là một mối hiểm nguy như trước nữa, chính quyền xemPhật giáo là một lợi khí chính trị. Sau hết Phật giáo cũng được xem là một phương tiện kinh tế, chẳng qua v́ hầu hết chùa chiền đều nằm trong các khu du lịch cao điểm nhất.

 "Trong thế giới Tây Phương, Phật giáo được xem là một tôn giáo yêu chuộng ḥa b́nh. Chính quyền Trung Quốc hiểu rơ điều này là một cơ hội tốt để lợi dụng"

 

Phải chăng Tập Cận B́nh đă công cụ hóa Phật giáo tương tự như Khổng giáo?

            Tập Cận B́nh lợi dụng tất cả: Phật giáo, Lăo giáo, Khổng giáo... Điều này tạo ra một sức mạnhmềm (soft power) trên trường quốc tế. Đây là cách biến các bài thuyết giảng về tôn giáo thành các bài tuyên truyền chính trị. Mỗi khi Tập Cận B́nh và Đảng Cộng sản Trung Quốc tuyên bố phải tôn trọng nền văn hóa và chính trị đa phương của xứ sở th́ đấy cũng chỉ là cách nêu cao "mô h́nh Trung Quốc" với mục đíchngăn chận mọi can thiệp của các cường quốc Tây Phương vào nội bộ của xứ sở ḿnh. Thật ra th́ đấy cũng chỉ là cách ngoảnh mặt đi trước các giá trị toàn cầu.

H́nh ảnh Đức Đạt-lai Lạt-ma, gương mặt của Phật giáo Tây Tạng, có gây trở ngại ǵ cho cái tṛ ấy hay không?

            Nhất định là có. Đấy là lư do cho thấy tại sao chế độ lại đứng ra tổ chức hội thảo quốc tế về Phật giáo mỗi ba năm. Ngoài mục tiêu chính yếu trên đây, việc tổ chức này c̣n nhằm vào chủ đích tạo ra một bầu không khí Phật giáo quốc tế dưới sự kiểm soát của Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Trong cuộc hội thảo này Đức Đạt-lai Lạt-ma và các "lực lượng chống đối" không được mời tham dự. Sự kiện trên đây đă đưa đến sự xuất hiện của một đấu trường quốc tế. Ấn Độ cũng đứng ra tổ chức một cuộc họp toàn cầu [vềPhật giáo] để đáp lại hội thảo do Bắc  Kinh tổ chức, nhưng lại chính thức mời Đức Đạt-lai Lạt-ma tham dự!

Thế nhưng tại sao Chính quyền Trung Quốc lại đàn áp phong trào Falun Gong/Pháp Luân Công?

            Vào các năm 1980, khi tôn giáo vẫn c̣n bị gạt ra bên lề xă hội  mọi việc quảng bá tín ngưỡng đều bị cấm đoán, một số các phong trào tôn giáo mới được h́nh thành, trong số này có Falun Gong/Pháp Luân Công, thế nhưng mọi sinh hoạt của các phong trào này th́ lại hoàn toàn không có ǵ là tôn giáo cả, mà nhất thiết chỉ xoay quanh các phương pháp luyện tập hơi thở và cơ thể, gọi chung là qi gong/khí công. Sau đó vào các năm 1990, một số các phong trào lớn mạnh về khí công trên đây, trong số này có Pháp LuânCông, đă tạo được một khả năng thu hút đáng kể, được hàng triệu người theo, tuy nhiên họ không hề có ư định làm chính trị. Cuộc biểu t́nh rầm rộ do họ tổ chức tại công viên Zhongnanhai/Trung Nam Hải [một công viên tại Bắc Kinh] vào tháng 4 năm 1999 chỉ duy nhất nhằm vào mục đích yêu cầu chính quyền bênh vực họ trước t́nh trạng báo chí nổi lên chỉ trích các phong trào của họ là thiếu khoa học. Thế nhưng Jiang Zemin (江澤民/Giang Trạch Dân) [Tổng bí thư Đảng Cộng Sản Trung Quốc lúc bấy giờ] lại rất lo ngại trước khả năng huy động dân chúng của phong trào này, bèn ra lệnh đàn áp. Điều này khiến phong trào Pháp Luân Công đành phải làm chính trị và trở thành một phong trào chống cộng sản.

            Đảng Cộng sản xem biến cố này là một bài học cho ḿnh. Những người nắm giữ quyền hành ư thức được là không nên quá đàn áp các tín ngưỡng truyền thống mà phải dành ra một "khu chợ" cho cácphong trào tôn giáo mới. Nhờ đó các tôn giáo lớn cũng được hưởng lây. Một khoảng trống được hé mởcho tôn giáo nói chung, nhưng phải đặt dưới sự kiểm soát của Chính-phủ-Đảng. Các "tôn giáo hợp tác" này phải để cho Chính-phủ-Đảng mượn tay ḿnh chống lại các tôn giáo khác, chẳng hạn như Tin Lành giáo.

Trong niềm ước mơ của Tập Cận B́nh tôn giáo giữ một vị thế như thế nào?

            Trước hết phải t́m hiểu xem giấc mơ Trung Quốc (rêve chinois/chinese dream) theo Tập Cận B́nh là ǵ. Nếu là một vị thầy của thiền tchan [Zen] được hỏi về câu này th́ tất sẽ trả lời rằng: "Tất cả chỉ là sự Trống Không". Mối quan tâm của Đảng Cộng Sản Trung Quốc hiện nay là giữ vững chế độ: cho đến khi nàotôn giáo vẫn c̣n hữu ích [cho chế độ], th́ sẽ vẫn c̣n được hưởng một kẻ hở nào đó. Thế nhưng tất cả mọi thứ phải tiếp tay hợp pháp hóa việc thống trị bất tận của Đảng. Đấy là giấc mơ của họ Tập, một giấc mơ được chia sẻ bởi thế hệ thứ hai và thứ ba của các "gia đ́nh đỏ" (những người trong Đảng), nhưng không hề là giấc mơ của người dân Trung Quốc. Tôn giáo chỉ có thể t́m thấy một chỗ dứng khi nào c̣n có thể khoác lên cho Đảng Cộng sản Trung Quốc một chiếc áo mới.   

Tháng tư năm 2016, Đảng Cộng Sản tổ chức một cuộc họp quan trọng về tôn giáo với sự tham dựcủa Tập Cận B́nh.  Ông ta đă phát biểu như thế nào?

            Trong suốt thời kỳ hậu Mao chỉ xảy ra ba cuộc họp đại loại như thế. Các lời phát biểu của họ Tập không được tiết lộ đầy đủ trước công chúng. Tuy nhiên theo tin tức do các cơ quan truyền thông Trung Quốc đưa ra th́ có một số đổi mới trong chủ trương "Trung Quốc hóa" (sinisation) tôn giáo và "tách rời" tôn giáo ra khỏi chính trị. Thế nhưng thuật ngữ "Trung Quốc hóa" tôn giáo không mang một ư nghĩa nào cả đối với nền văn hóa Trung Quốc mà phải hiểu đây chỉ là một cách chặt đứt các mối dây liên hệ giữa các tôn giáo bên trong lănh thổ Trung Quốc với các lực lương tôn giáo hải ngoại. Trước khi cuộc họp trên đây được tổ chức, không mấy khi người ta nghe thấy những người làm chính trị nói đến chuyện tách rời tôn giáo và chính trị, dù rằng điều này đă được ghi hẳn hoi trong hiến pháp. Quả đây là một chuyện mới lạ. Mục tiêu chủ yếu [của chính sách này] là nhắm vào Hồi giáo  Phật giáo Tây Tạng, chẳng qua v́ cả hai tôn giáonày bị xem là có xu hướng "ly khai" (separatism).

 

Vài lời ghi chú của người chuyển ngữ

 

            Chính trị và Tôn giáo là một cặp bài trùng muôn thuở, cấu kết  lợi dụng nhau suốt trên ḍng lịch sử của nền văn minh nhân loại. Chính trị là "sức mạnh xă hội", tôn giáo là "sức mạnh tâm linh". Từ Á sang Âu, trong lịch sử cũng như ngày nay, hai sức mạnh trên đây - "vương quyền" và " thần quyền" - luôn nương tựa vào nhau để không chế con người  xă hội. Hai sức mạnh này đôi khi cũng có thể lấn lướt nhau nhưng không bao giờ hũy diệt được nhau. Trong các thời kỳ cận đại duy nhất chỉ có chế độ cộng sản là cho rằng sức mạnh vô sản là vô địch, không cần khoác thêm cho ḿnh chiếc áo của thần quyền, thế nhưng đấy cũng chỉ là một ảo vọng, Theo bài báo trên đây th́ chính quyền Trung Quốc đang ch́a tay mượn tạm chiếc áo "tín ngưỡng" của Phật giáo.   

            Nước Pháp làm luật tách rời Tôn giáo (Églises) ra khỏi Chính quyền năm 1905, tức mới được hơnmột thế kỷ. Ngày nay tại Âu châu sáu quốc gia vẫn c̣n giữ chế độ quốc giáo: Đan Mạch, Phần Lan, Na-uy, Anh Quốc, Hy Lạp và Malte, chỉ có tám quốc gia chủ trương tách rời chính quyền và tôn giáo: Pháp, Thụy Điển, Bồ Đào Nha, Hung Gia Lợi,..., nhưng trong số này cũng chỉ có nước Pháp là ghi hẳn hoi vào hiến pháp là một quốc gia Cộng ḥa thế tục. Điều này cho thấy tại Âu Châu thần quyền vẫn c̣n dùng sức mạnh của ḿnh đè nặng lên sinh hoạt xă hội. Tại Hoa Kỳ Tổng thống khi nhậm chức phải đặt tay lên Thánh kinhmà thề. Trở lại với Á Châu chẳng hạn như Thái Lan th́ không thể nào h́nh dung một vị vua theo Ki-tô giáo hay Hồi giáo được.

            Trong thế giới ngày nay mối tương quan giữa "chính trị" và "tôn giáo" - trong quá khứ là giữa "vương quyền" và "thần quyền" - vẫn c̣n là một vấn đề to lớn đối với sự sinh hoạt chung của cộng đồng nhân loại, bởi v́ đó là hai "sức mạnh" phát sinh từ hai trong số các  "bản năng" chủ yếu nhất của con người - chúng ta sẽ trở lại vấn đề này dưới đây.  Không biết bao nhiêu triết gia, học giả, chính trị gia, kể cả những người tu hành và các khoa học gia đă luận bàn về vấn đề này, tư liệu thật phong phú, không thể xếp hết vào một tủ sách mà phải cần đến cả một thư viện khổng lồ. Do đó thật hết sức khó đi sâu vào vấn đề này trong cáclănh vực chính trị, lịch sử, triết học, xă hội học, nhân chủng học, v.v., vậy chúng ta hăy thử nêu lên hai thí dụđiển h́nh trong lịch là đế quốc nhà Chu của Trung Quốc và đế quốc La-mă của Âu Châu để suy ngẫm.

             Nhà Chu/周朝 (-1046-256, trước Tây lịch!) là triều đại kéo dài lâu nhất trong lịch sử Trung Quốc, 800 năm tất cả. Lănh thổ trải rộng trong toàn bộ thung lũng sông Hoàng Hà và toàn vùng phía bắc Trung Quốc ngày nay. Với các phương tiện truyền thông  hệ thống đường xá thô sơ thời bấy giờ, việc kiểm soát xứ sở và tập trung quyền hành là cả một vấn đề nan giải. Do đó lănh thổ được chia thành các nước chư hầu, thần phục hoàng triều nơi trung ương. Mỗi nước chư hầu lại được chia thành các tiểu quốc hay bộ tộc nhỏ hơn, tức chư hầu của chư hầu. Các người thống lănh các chư hầu, vương quốc và tiểu quốc đều là những người trong hoàng tộc, do triều đ́nh phong tước và đề cử .  

 

 

            Trên đây là tổ chức của vương quyền, thế nhưng thần quyền th́ thế nào? Lúc bấy giờ Trung Quốcchưa có tôn giáo rơ rệt. Khổng Tử sinh năm -551 trước Tây lịch, đến năm 69 tuổi th́ mới bắt đầu soạn thảongũ kinh. Lăo Tử có thể chỉ là một nhân vật huyền thoại, được xem là sống vào thế kỷ thứ IV hay thứ VI trước Tây lịch. Do đó Khổng giáo  Lăo giáo cũng chỉ thành h́nh sớm nhất năm thế kỷ sau khi triều đạinhà Chu đă đuợc thành lập, và dầu sao đi nữa th́ Khổng giáo  Lăo giáo cũng không phải là tôn giáo đúng với ư nghĩa của nó. Tôn giáo thời bấy giờ chỉ là các h́nh thức dị đoan, thờ phụng các vị thần sông, núi, mùa màng, mưa gió... cùng các việc cúng tế và hiến sinh do các thầy tế chủ lễ.

            Nhà Chu là triều đại đầu tiên đứng ra thành lập tôn giáo "Thờ Trời" hay Thượng Đế (上帝/tức là Vua của Vua) cho nền văn minh Trung Quốc.Hoàng Đế là con chính thức của Trời (天子/Thiên Tử), nhận lănhThiên mệnh (天命) làm trung gian giữa Trời và Đất để cai trị con người. Chữ "Vương"/ trong tiếng Hángồm có ba nét ngang và một nét dọc nối liền từ trên xuống dưới: nét ngang trên hết là "Trời", nét giữa là "Vua"/Hoàng Đế, nét nằm bẹp bên dưới là "dân". Đấy là cách mượn danh nghĩa của Thương Đế để cai trị.Hoàng Đế là con duy nhất của "Trời", mỗi năm phải đích thân làm lễ tế "Trời", vua các nước chư hầu không ai được quyền tự xưng "Thiên Tử". Trên đây là cách mà "vương quyền" mượn tay "thần quyền" để thống trịthiên hạ và giữ yên chư hầu.

            Mượn tay Trời để an dân chỉ là một phương tiện cai trị bên ngoài, bên trong hoàng triều tức là những người trị dân th́ dường như không mấy ai tôn trọng sức mạnh thần quyền: âm mưu, giàn xếp, tranh quyền, truất phế, liên minh, phản nghịch, ám sát, tạo vây cánh, gả bán làm tin,... Từ Xuân Thu (-771-478) đến Chiến Quốc (thế kỷ thứ V đến -231 trước Tây lịch), chiến tranh không bao giờ chấm dứt bên trong đế quốc, gây ra chết chóc, ly tán, đau thương cho không biết bao nhiêu gia đ́nh.

            Dầu sao th́ đế quốc nhà Chu cũng đă lùi vào lịch sử từ lâu, những người lănh đạo Trung Quốcngày nay không c̣n tế Trời nữa và dường như cũng không mấy ai trong số họ tin vào Trời, nét ngang thứ nhất nằm trên cùng của chữ vương (王) chỉ là một ư thức hệ hay một thần tượng được giới lănh đạo tạo dựng. Nét ngang thứ hai ở giữa là một kẻ độc tài bảo vệ quyền lợi của ḿnh và của một số người trong phe nhóm của ḿnh mà học giả Ji She trong bài phỏng vấn trên đây gọi là "gia đ́nh đỏ". Dường như trong số những người này không mấy ai "đến chùa" và "tin" vào "Phật giáo đổi mới" v́ đấy chỉ là những ǵ dành cho nét ngang thứ ba nằm bẹp bên dưới.

            Đế quốc La-Mă xuất hiện muộn hơn so với đế quốc nhà Chu rất nhiều, được thành lập năm -27 trước Tây lịch, tức là hơn một ngàn năm sau đế quốc nhà Chu, nhưng kéo dài lâu hơn và chỉ hoàn toàn sụp đổ năm 1453 sau Tây Lịch. Lănh thổ trải rộng từ nước Anh đến vùng Lưỡng Hà (Mesopotamia) tại Trung Đông, gồm các nước Tây Ban Nha, Pháp, Bi, Hy Lạp, Thổ-nhĩ-kỳ, Syria, Palestine..., và cả các vùng bờ biển phía nam Địa Trung Hải: Maroc, Ai Cập, v.v... Cai trị một lănh thổ như vậy là một vấn đề vô cùngphức tạp và khó khăn về tất cả mọi mặt: chính trị, hành chánh, văn hóa, ngôn ngữ, truyền thống, phong tục và nhất là tín ngưỡng. Không khác ǵ với đế quốc nhà Chu hơn một ngàn năm trước, đế quốc La-mă cũng phải chia thành nhiều vương quốc, hoàng triều trung ương phải duy tŕ một quân đội đông đảo và hùng mạnh. Cầu đường và các trạm đóng quân được thiết kế khắp nơi giúp cho việc kéo quân được nhanh chóng. Chiến tranh, âm mưu, ám hại, phản nghịch, tiếm quyền... liên tiếp xảy ra, không khác ǵ dưới triều đại nhà Chu.

 

 

H.1: Đế quốc La-mă

H.2 Cầu Pont du Gard (Pháp, đầu thế kỷ thứ I)

H.3 Cầu Alcantara (Tây Ban Nha, đầu thế kỷ thứ II)

H.4- Tường thành La-mă tại Constantinople thế kỷ thứ IV)

H.5- Tường thành (Roman limes) dài 5.000 cây số bao quanh đế quốc La-mă, từ nước Anh kéo dài đến Hắc-Hải, đổ xuống Hồng Hải, xuyên ngang các vùng Bắc Phi và chấm dứt tại bờ biển Đại Tây Dương. Bức tường thành này không c̣n nguyên vẹn, nhiều nơi đổ nát hoặc chỉ là các di tích khảo cổ, nhưng đă đượcLiên Hiệp Quốc đưa vào danh sách di sản thế giới năm 1987. Cũng xin nhắc thêm là cùng năm này Vạn LưTrường Thành của Trung Quốc dài 6.700 cây số cũng đă được ghi vào danh sách di sản thế giới trên đây.

            Nếu triều đại nhà Chu trải qua hai thời kỳ loạn lạc là Xuân Thu và Chiến Quốc th́ đế quốc La-mă cũng gồm hai giai đoạn bành trướng và suy yếu: giai đoạn bành trướng bắt đầu từ năm -27 trước Tây lịch đến năm 476 sau Tây lịch với kinh đô là La-mă; giai đoạn suy yếu từ năm 476 đến năm 1453 với lănh thổ thu hẹp về phía đông và kinh đô là Contantinopolis, ngày nay là kinh đô Istanbul của Thổ-nhĩ-kỳ. Đế quốc La-mă thừa hưởng nền văn minh Hy Lạp trên mọi lănh vực: tư tưởng, văn hóa, xă hội và cả tín ngưỡng đa thần, và đă lưu lại gia tài đó cho toàn thế giới Tây Phương ngày nay, ngoại trừ tín ngưỡng đa thần của Hy Lạp, bởi v́ kể từ thế kỷ thứ IV đế quốc La-mă đặt tín ngưỡng đa thần ra ngoài ṿng pháp luật, thay vào đó làtín ngưỡng độc thần Ki-tô giáo.   

            Trong giai đoạn đầu tiên tức là trước thế kỷ thứ IV, tín ngưỡng nói chung của toàn thể đế quốc là đa thần, rất đa dạng và nhất là mang tính cách địa phương, Tôn giáo của hoàng triều tại La-ma trực tiếp ảnh hưởng bởi tín ngưỡng đa thần của nền văn minh Hy Lạp, trong khi đó các vương quốc hay chư hầu - nói theo ngày nay là các thuộc địa - có các tín ngưỡng riêng, tôn thờ các vị thần riêng. Ki-tô giáo được h́nh thành vào thế kỷ thứ I trong vùng cận đông bên trong lănh thổ của đế quốc nhưng bị triệt để cấm đoán. Dù vậy Ki-tô giáo vẫn tiếp tục phát triển và lan dần trong đế quốc La-mă từ thế kỷ thứ II, ẩn nấp phía sau sự lan rộng này là các hậu ư chính trị chống lại hoàng triều La-mă.   

            Bước vào thế kỷ thứ IV, hoàng đế La-mă Constantine bất thần cải đạo theo Ki-tô giáo năm 312 vàưu đăi tín ngưỡng này. Năm 391, dưới triều đại của hoàng đế Theodose I, các tín ngưỡng đa thần bị cấm đoán tại kinh đô La-mă và một năm sau đó là trên toàn thể lănh thổ, đồng thời Ki-tô giáo được tuyên bố là "quốc giáo". Quyết định bất ngờ trên đây của hoàng triều La-ma mang tính cách chính trị rơ rệt: thống nhất lănh thổ trên phương diện "tín ngưỡng" với mục đích an dân và tạo ra một sự "đồng nhất" trên toàn lănh thổ của đế quốc, nếu nói theo người Trung Quốc th́ đây là một đ̣n "hồi mă thương" của hoàng triều La-mă. Và đây cũng là khúc quanh quan trọng nhất và nổi bật nhất của đế quốc La-mă, v́ nó ảnh hưởng đến tín ngưỡng của toàn thể Âu Châu cho đến ngày nay. Gần đây hơn qua các phong trào thực dân và di dân, Ki-tô giáo từ Âu Châu lại được đưa vào các lục địa khác trên toàn thể địa cầu.

            Bước chân đàu tiên trong cuộc phiêu lưu xa xôi và vĩ đại đó của Ki-tô giáo là quyết tâm cải đạo  lư do chính trị của hoàng đế La-mă Constantine. Sự diễn tiến của lịch sử đôi khi rất bất ngờ và trớ trêu, các nước xa xôi tại Á Châu, Phi Châu kể cả Mỹ Châu không hề trực tiếp liên hệ ǵ với đế quốc La-mă trên mọiphương diện, từ lịch sử, văn hóa, truyền thống, cho đến chính trị, thế nhưng cũng gánh vác "hậu quả" mang lại bởi nhu cầu cai trị của đế quốc La-mă trong một bối cảnh chính trị xảy ra cách nay đă 17 thế kỷ!

            Chủ trương Ki-tô hóa tín ngưỡng của đế quốc La-mă là nhằm mục đích đoàn kết và thống nhất lănh thổ, với hậu ư tạo ra một sự phân biệt giữa người dân La-mă theo Ki-tô giáo và các dân tộc man ri (barbarians) ngoại đạo sinh sống bên ngoài bức tường ranh giới của đế quốc. Và đó cũng chính là cáchchính thức hóa uy quyền thống trị lănh thổ nhân danh Thượng Đế của hoàng triều La-mă. Điều này cũngtương tự nhà Chu hơn một ngàn năm trước tự nhận ḿnh mang Thiên Mệnh để quản lư chư hầu và bảo vệngười Hán chống lại các dân tộc man ri từ phương Bắc. Điều này cũng chẳng khác ǵ như ngày nay họ Tập mượn Phật giáo đổi mới để chống lại Tin Lành giáo và ngăn chận mọi nhúng tay của ngoại bang vào chính trường Trung Quốc. Lịch sử chẳng có ǵ mới lạ cả.

            Chính trị và tín ngưỡng là một cặp bài trùng rất khó tách rời nhau. Lá cờ của nhiều nước trên thế giới mang dấu hiệu tín ngưỡng, nước Do Thái th́ dùng thẳng tín ngưỡng để đặt tên cho quốc gia ḿnh. Ngược lại tín ngưỡng cũng "biết" khai thác lợi điểm đó tức là dựa vào chính trị để tạo cho ḿnh một chỗ đứng trong xă hội. Theo bài báo trên đây th́ chính quyền Trung Quốc đă công cụ hóa Phật giáo để phục vụcho ḿnh, thế nhưng Phật giáo nhờ đó cũng t́m được một dịp may để "đổi mới"!

            Hai thí dụ trên đây về hai đế quốc nhà Chu và La-mă cho thấy dù thuộc vào hai bối cảnh khác nhau trên nhiều lănh vực: địa lư, lịch sử, văn hóa, chủng tộc, v.v., nhưng cả hai cùng chia sẻ một số khía cạnh khá giống nhau. Theo quy luật nguyên-nhân-hậu-quả th́ bất cứ một hiện tượng nào hiện ra cũng đều tương quan với nguyên nhân tạo ra nó, "chính trị" và "tín ngưỡng" là các hiện tượng, tất phải liên hệ với cácnguyên nhân làm phát sinh ra chúng. Vậy những nguyên nhân nào đă tạo ra "chính trị" và "tín ngưỡng"?

            Khi nh́n vào thế giới chúng ta sẽ nhận thấy trùng trùng điệp điệp các hiện tượng đang vận hành và chuyển động, vượt khỏi khả năng nhận thức  hiểu biết của ḿnh. Do đó nếu nh́n vào các hiện tượng và sự chuyển động của chúng để t́m hiểu thế giới th́ cũng chỉ là một cách đưa ḿnh vào một cuộc phiêu lưu bất tận mà thôi. Cách tiếp cận của một người Phật giáo hoàn toàn trái ngược lại, tức không nh́n vào hiện tượng mà chỉ nh́n vào nguyên nhân làm phát sinh ra chúng, nhằm t́m cách biến cải hoặc hóa giải các hiện tượng ngay từ bên trong nguyên nhân của chính chúng. Vậy th́ các nguyên nhân ấy ở đâu? Bên trong tâm thức của chính ḿnh! Điều đó có nghĩa là phải nh́n vào tâm thức ḿnh để quán thấy nguyên nhân sâu xanhất làm phát sinh ra mọi hiện tượng, và đấy cũng chính là nguyên tắc căn bản nhất của phép thiền địnhphân giải trong Phật giáo.

            Chính trị là một hiện tượng, vậy nguyên nhân sâu xa nhất làm phát sinh ra nó là ǵ? Đó là quyền lựcvà sự tham lam, sâu xa hơn nữa là bản năng sinh tồn. Vạn lư trường thành hay là bức tường dài 5.000 cây số của đế quốc La-mă, kể cả bức tường 3.000 cây số sắp được dựng lên ở biên giới phía nam của một nước giàu có  dư thừa nhất thế giới cũng chỉ lả để bảo vệ miếng ăn, tham lam bao giờ cũng vô độ. Bản năng sinh tồn hiện ra dưới mọi h́nh thức: tiền bạc, của cải, lường gạt, cướp bóc, xâm chiếm đất đai, kéo bè, lập đảng, chiến tranh, quyền lực, chính trị... đều là các h́nh thức bảo vệ miếng ăn. Nếu "chính trị" phát sinh từ bản năng sinh tồn th́ "tín ngưỡng" phát sinh từ bản năng sợ chết, phản ảnh những lo sợ kín đáo và sâu kín nhất của con người trước vô thường.

            Chúng ta có thể nghĩ rằng sự tương kết giữa chính trị và tín ngưỡng  nguyên nhân đưa đến nhữngphức tạp của thế giới và mọi thứ khổ đau cho con người, thế nhưng cũng chưa đủ, bởi v́ c̣n một thứ bản năng khác đày đọa con người không kém: đó là bản năng truyền giống. Bản năng này tương đối khó nhận thấy hơn so với các bản năng sinh tồn  sợ chết, bởi v́ nó có thể hiện ra dưới các h́nh thức được xem làhạnh phúc: t́nh yêu, tính dục, sắc đẹp, nghệ thuật, quần áo, trang sức, phấn son, hạnh phúc gia đ́nh, sinh con đẻ cái, v.v. Phía sau sự liên kết giữa "vương quyền" và "thần quyền" của hai đế quốc nhà Chu và La-mă và bên trong "hậu cung" của cả hai đế quốc ấy th́ nào là cung phi, mỹ nữ, diễn ra những cảnh trụy lạc dâm ô. Triều đ́nh nào có phải chỉ là "chính trị" và "Thượng Đế" đâu!

            Khi nào ư thức được tác động rộng lớn và kinh hoàng của các thứ bản năng ấy th́ khi đó chúng tasẽ hiểu dễ dàng hơn sự phức tạp của thế giới. Những ǵ đang chuyển động chung quanh chúng ta: trốn thuế, lường gạt, xâm phạm tính dục, phim ảnh dâm ô, quảng cáo, hát xướng, nghệ thuật, của cải, hàng hóa, cướp giật, chiến tranh, tín ngưỡng, cầu khẩn, van xin, thuốc men, bệnh viện, bảo hiểm sức khỏe, cúng dường, bố thí, đức tin..., tất cả cũng chỉ là hậu quả phát sinh từ sự thúc đẩy của ba thứ bản năng sinh tồn, truyền giống và sợ chết. Qua góc nh́n đó thế giới sẽ trở nên "giản dị" hơn, không có ǵ là quá "khó hiểu" cả.

            Thế nhưng, dù hiểu được thế giới là ǵ nhưng một người tu tập Phật giáo không nhin vào thế giới, bởi v́ nguyên nhân sâu xa của thế giới không ở trong thế giới mà là ở bên trong con người của ḿnh. Thiền định là cách nh́n vào bên trong chính ḿnh, t́m hiểu ḿnh là ǵ, nguyên nhân nào tạo ra các thứ bản năngxô đẩy ḿnh vào thế giới, các bản năng ấy thúc đẩy ḿnh ra sao và gây ra cho ḿnh những khổ đau như thế nào? Đấy là cách giúp ḿnh hóa giải các nguyên nhân ấy hầu giải thoát ḿnh ra khỏi thế giới. Chẳng phảiĐức Phật đă dạy rằng phải tự làm đuốc soi đường cho ḿnh, tự xem ḿnh là một ḥn đảo làm nơi an trúcho chính ḿnh hay sao?

            Thái tử Tất-đạt-đa tử bỏ mọi tiện nghi để sống cuộc đời khất thực là cách không bám víu vào bản năng sinh tồn; từ bỏ gia đ́nh là cách chối bỏ bản năng truyền giống; ḥa ḿnh với Đạo Đức để đi t́m Sự Thật là cách đương đầu với vô thường và hóa giải bản năng sợ chết. Đức Phật không hề hợp tác với vương quyền, cũng không liên kết với một vị Thầy tâm linh nào cả. Nhiều bài kinh thuật lại vua chúa đương thời t́m Đức Phật để tham vấn  học hỏi, các giáo sĩ Bả-la-môn và đạo Ja-in t́m Ngài để nghe giảng và xin được làm đệ tử của Ngài. Không ai có thể biến Giáo Huấn của một con người đă từ bỏ tất cả thành mộtphương tiện phục vụ cho ḿnh hay bất cứ một quyền lực nào. Giáo Huấn của Đức Phật chỉ mang mục đíchduy nhất  phục vụ tất cả chúng sinh, không phân biệt một chúng sinh nào. Sức mạnh tàng ẩn bên trongGiáo Huấn đích thật đó sẽ giúp người tu tập vượt lên trên tất cả ba thứ bản năng "sinh tồn", "truyền giống" và "sợ chết". Kín đáo nhưng cũng thật bao la, sức mạnh đó không ai có thể bẻ cong hay "công cụ hóa" được.   

            Phật giáo mà ngày nay người ta đang t́m cách biến nó trở thành một công cụ tất nhiên không phải là "Phật giáo" của Đức Phật, mà chỉ là một sự lường gạt, một tṛ hề, chẳng khác ǵ như hai đế quốc nhà Chu và La-mă mượn tay "Trời" để t́m cách thống trị thiên hạ mà thôi.           

Bures-Sur-Yvette, 13.11.17

Hoang Phong chuyển ngữ   


(Nguồn: Thư Viện Hoa Sen)