KINH PHÁP CÚ - HÁN TẠNG


Thiền sư Thích Nhất Hạnh dịch

 

 

Thể kệ: Nguyên Định

Đà lạt - mùa Vu Lan Báo hiếu Phật lịch 2560

Kinh Pháp Cú - Hán tạng

Thiền sư Thích Nhất Hạnh dịch Việt

 

Thể kệ: Nguyên Định, dựa theo tác phẩm ”Kết một tràng hoa” của Thiền sư Thích Nhất Hạnh,
Link:
http://langmai.org/tang-kinh-cac/kinh-van/kinh-moi-dich/ket-mot-trang-hoa

 

 

 

 

           

Viết về Kinh Pháp Cú Hán tạng

Thiền sư Thích Nhất Hạnh

 

 

Ở Ấn Độ, ngày xưa cũng như ngày nay, và ở nhiều nước khác nữa, có tục đi mua những tràng hoa kết sẵn để dâng cúng hay để hiến tặng.

Chúng ta hăy h́nh dung một người kết tràng hoa và bán tràng hoa chuyên nghiệp. Người ấy đi hái nhiều thứ hoa, đem về, để riêng từng loại hoa trước mặt. Người ấy nâng một vài đóa hoa hay chùm hoa lên, ví dụ hoa nhài, rũ một cái, cho những cánh hoa này lộ ra tất cả cái tươi đẹp c̣n lại của chúng, trước khi xâu kết thành một tràng hoa. Công việc của người biên tập kinh Pháp Cú cũng giống như công việc của người chuyên môn xâu kết tràng hoa. Trước hết người ấy phải đi hái hoa, nghĩa là đọc hết các kinh điển, và chọn ra những ư kinh, những bài kệ mang tính chất cốt tủy của Phật pháp. Rồi người ấy tập hợp các bài kệ này dưới những chủ đề khác nhau, cũng như hoa nhài để riêng, hoa huệ để riêng, hoa vạn thọ để riêng. Người ấy bỏ những bài kệ mà nghĩa lư c̣n mù mờ, chỉ chọn những bài kệ nghĩa lư thật sáng tỏ, cũng như cầm hoa mà rũ, làm rơi rụng những cánh hoa không c̣n tươi thắm, để chỉ c̣n những đóa hoa thật tươi, trước khi xâu kết thành tràng hoa.

 

Nguồn gốc kinh Pháp Cú

Tôn giả Pháp Cứu (Dharmatràta), một trong những vị luận sư nổi tiếng của bộ phái Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ ở Kashmir, được coi như là người đă biên tập thành kinh Pháp Cú mà chúng ta có một bản dịch ở Hán Tạng. Đó là kinh thứ 210 trong Đại Tạng Tân Tu. Đầu kinh có ghi là kinh do tôn giả Pháp Cứu tuyển chọn.

Nếu sự ghi chép đó đúng với sự thực, th́ tôn giả Pháp Cứu là một trong những nhà tuyển chọn và biên tập các kinh Pháp Cú. Bởi v́ không phải chỉ có một người làm việc ấy. Có những kinh Pháp Cú chỉ có 500 bài kệ tụng, có những kinh có 700 bài, có kinh có 900 bài, v.v...

Kinh Pháp Cú trong Hán Tạng có tới 39 phẩm với 39 đề tài. Phẩm đầu là phẩm Vô Thường, và cố nhiên chủ đề chung của tất cả các bài kệ tụng trong ấy là tính vô thường của vạn vật. Phẩm này có hai mươi mốt bài kệ tụng.

Phẩm thứ 12 có đề tài là Hoa Hương. Ta hăy đọc hai bài kệ đầu của phẩm này, bởi v́ hai bài ấy nói về chuyện xâu kết tràng hoa và biên tập Pháp Cú:

1. “Ai là người tuyển chọn được các cơi, bỏ đi các vùng tù ngục mà chỉ giữ lại các tầng trời? Ai là người có thể tuyển chọn được Pháp Cú như một kẻ chuyên nghiệp có tài chọn hoa và kết lại thành tràng hoa?”

2. “Một người đang thực tập tu học th́ có thể tuyển chọn được các cơi, bỏ đi các vùng tù ngục mà chỉ giữ lại các tầng trời, có thể nói Pháp Cú, có thể hái được những đóa hoa đức hạnh.”

Đi vào kinh tạng cũng như đi thám hiểm các tầng trời: biết bao nhiêu đóa hoa tuyệt vời của diệu pháp mà ta có thể khám phá trong kho tàng của thế giới ấy. Phải có tu có học thật sự th́ ta mới có khả năng khám phá và nhận diện được những châu báu ấy, để thu nhặt, đúc kết và hiến tặng cho thế gian. Ta không cần có phép thần thông mới đi vào được các cơi trời kia để làm công việc giám sát và chọn lọc. Ta chỉ cần là người có thật tu thật học. Tôn giả Pháp Cứu tin rằng ḿnh làm được công việc tuyển chọn Pháp Cú tại v́ ḿnh có thật tu thật học. Và nếu ai có thật tu thật học cũng đều làm được việc ấy, nghĩa là có khả năng giảng dạy Pháp Cú và gặt hái được những đóa hoa tuệ giác và đức hạnh để kết lại thành những tràng hoa.

Đọc hai bài kệ đầu này của phẩm Hoa Hương ta thấy được đức khiêm cung của tôn giả Pháp Cứu. Nhiều người nói là muốn đọc Đại Tạng Kinh, đang đọc Đại Tạng Kinh hay đă đọc Đại Tạng Kinh. Nhưng đă có mấy người đi vào trong Đại Tạng mà không lạc đường, mà không biết ḿnh đang ở vị trí nào trong cái đại dương mông mênh ấy?

 

Kinh Pháp cú - Nam tông và Kinh Pháp cú- Hán tạng

Kinh Pháp Cú được lưu hành rộng răi ở Việt Nam ngày nay là kinh Pháp Cú của tạng Pali. Kinh này chỉ có 26 phẩm mang 26 đề tài, chứ không phải có tới 39 phẩm như kinh Pháp Cú trong tạng Hán. Nhưng nội dung của 26 phẩm gần giống nhau quá, kể cả tên các phẩm, cho đến nỗi có nhiều học giả cho rằng kinh Pháp Cú trong tạng Hán đă được dịch từ kinh Pháp Cú trong tạng Pali. Nhưng t́m hiểu chi tiết, ta có thể nói rằng cả hai kinh đều có thể đă được phát xuất từ một nguyên bản Prakrit. Có thể là nguyên bản này thuộc về Hữu Bộ hay Ca Diếp Di Bộ, hoặc một bộ phái khác có mặt ở miền Bắc Ấn Độ.

Kinh Pháp Cú tạng Hán có một bài tựa có thể cung cấp cho chúng ta một ít thông tin rất quư báu. Nhờ bài tựa này mà ta biết người dịch kinh tên là Trúc Tương Diễm, tiếng Phạn th́ rất giỏi nhưng vốn liếng tiếng Hán th́ c̣n ít. Vị này đă cùng với một vị khác, tên là Duy Kỳ Nan, từ Ấn Độ qua tới Vũ Xương vào năm thứ ba của niên hiệu Hoàng Vũ, tức là năm 224 của kỷ nguyên Tây Lịch. Họ có đem theo một nguyên bản tiếng Phạn của kinh Pháp Cú có 500 bài kệ tụng.

Người viết bài tựa này là cư sĩ Chi Khiêm, vị đă từng là giáo sư dạy kèm cho hoàng thái tử Tôn Lượng nước Đông Ngô cho đến năm 252, khi phụ hoàng là Ngô Tôn Quyền băng. Chi Khiêm trước đó đă dịch được rất nhiều kinh từ tiếng Phạn ra tiếng Hán. Sách Cao Tăng Truyện nói ông đă dịch được 49 bộ kinh, trong khi sách Lịch Đại Tam Bảo Kư nói ông đă dịch được tới 129 bộ. Công tŕnh phiên dịch này chắc hẳn đă được ông thực hiện một phần nhỏ ở Vũ Xương và một phần lớn ở Kiến Nghiệp, thủ đô nước Đông Ngô, trong khi ông được vua Ngô Tôn Quyền mời dạy cho thái tử. Trước đó, nghĩa là khi nhà Hậu Hán chưa sụp đổ, ông cư trú ở Hà Nam. Ông là người nước Nhục Chi (Indo-Scythe) cùng với thân tộc di cư qua nước Hán hồi c̣n rất trẻ, có thể hồi mới mười tuổi, hiểu tới sáu thứ tiếng. Ông đă được theo học với thầy Chi Lương, thầy này là đệ tử của thầy Chi Lưu Ca Sấm (Locasema), một dịch giả kinh Phật nổi tiếng ở đất Hán. Chi Lưu Ca Sấm, Chi Lương và Chi Khiêm đều là những nhà trí thức thượng thặng có gốc gác nước Nhục Chi, và được người đương thời ca ngợi là Tam Chi (ba vị học giả uyên thâm gốc nước Nhục Chi). Chi Khiêm c̣n được ca tụng là Trí Nang, có nghĩa là một cái túi kiến thức. Sau ngày sụp đổ của nhà Hán, Chi Khiêm đă chạy loạn về Vũ Xương, sau đó mới được vua Tôn Quyền mời dạy thái tử.

Bài tựa Kinh Pháp Cú do Chi Khiêm viết cho biết rằng hai vị Duy Kỳ Nan và Trúc Tương Diễm đă từ Ấn Độ tới Vũ Xương với nguyên bản kinh Pháp Cú bằng tiếng Phạn và ông được gặp hai vị này ở đây. Các vị này đă tới Lạc Dương trước, nhưng v́ thời thế loạn lạc, nhà Hán sụp đổ cho nên mới di tản vào Vũ Xương. Hồi đó Ngô Tôn Quyền chưa xưng đế, nhưng miền Giang Đông do ông kiểm soát tương đối có an ninh. Chi Khiêm cũng đang tỵ nạn ở đấy và hai bên đă có cơ hội gặp nhau. Năm các vị gặp nhau là năm 224, hai năm sau ngày nhà Hán chính thức sụp đổ. Nhà Hán sụp đổ th́ có ba nước được thành lập: Bắc Ngụy, Tây Thục và Đông Ngô. Bài tựa cho biết là chính cư sĩ Chi Khiêm đă đề nghị thầy Trúc Tương Diễm dịch kinh Pháp Cú từ tiếng Phạn ra tiếng Hán và thầy Tương Diễm đă nhận lời.

Hồi ấy, cư sĩ Chi Khiêm suưt soát 30 tuổi, và đă nổi tiếng là văn hay chữ tốt. Ngồi trong hội đồng phiên dịch, ông có nói lên sự không hài ḷng của ông, nhưng các vị trong ban phiên dịch, trong đó có Duy Kỳ Nan và Trúc Tương Diễm nói rằng không cần văn hay, chỉ cần lột được ư chính của Kinh là được rồi. Cư sĩ Chi Khiêm ngồi đó trong ban dịch thuật, ghi xuống những câu đă được thầy Tương Diễm đọc ra bằng tiếng Hán, và hứa sẽ để nguyên như vậy mà không trau chuốt. Duy Kỳ Nan cũng có ngồi đó, hạ lạp tuy lớn hơn thầy Tương Diễm, nhưng vốn liếng tiếng Hán c̣n quá ít nên cũng chỉ đóng góp bằng sự có mặt của ḿnh.

Có thể v́ lư do ấy mà cư sĩ Chi Khiêm từ đó đă bắt đầu nỗ lực học tiếng Phạn cho giỏi để tự ḿnh trực tiếp dịch kinh. Ông là người thông minh và có khiếu văn chương ngôn ngữ, biết được tới sáu thứ tiếng, thành ra học rất nhanh. Sau đó ông mới bắt đầu sự nghiệp dịch kinh của ḿnh. Trước khi vào Vũ Xương, ông cũng đă từng được học tiếng Phạn và kinh điển từ thầy Chi Lương, đệ tử của dịch giả lừng danh Chi Lưu Ca Sấm.

Theo bài tựa, Chi Khiêm đă có dịp gặp lại thầy Tương Diễm một lần thứ hai để chất vấn về những điểm chưa rơ ở trong bản dịch Pháp Cú, và được thầy này trao thêm cho nhiều tài liệu tiếng Phạn, cũng cùng một đề tài Pháp Cú. Với những tài liệu này, Chi Khiêm đă dựng thêm được 13 chương mới nữa của Kinh Pháp Cú, và những chương này, một số được đặt trước các chương có sẵn, một số được đặt sau các chương có sẵn. Những chương đặt phía trước có tính chất của văn học Phật giáo Hữu Bộ miền Bắc, và những chương đặt phía sau lại có tính chất của văn học Phật giáo Thượng Tọa Bộ miền Nam.

Mười ba chương mới này không có mặt trong kinh bản Pháp Cú tiếng Pali. Chắc chắn rằng sau này khi vốn liếng tiếng Phạn đă vững chắc, cư sĩ Chi Khiêm đă trùng tu lại bản dịch của Tương Diễm, và v́ vậy ta thấy văn chương của Kinh Pháp Cú tạng Hán khá điển nhă, không phải thứ văn chương của người mới học tiếng Hán vài ba năm. Hai vị Duy Kỳ Nan và Tương Diễm tới Vũ Xương năm 224 và có lẽ ba bốn năm sau thầy Tương Diễm mới có tạm đủ tiếng Hán để nhận lời Chi Khiêm khởi sự dịch kinh Pháp Cú. 

(trích đoạn)

 

 

https://thuvienhoasen.org/a19453/kinh-phap-cu-han-tang

 

////////////////////////////////////////////////////

 

 

Kinh Điềm Lành Lớn Nhất

 

Cát Tường Phẩm Pháp Cú Kinh đệ tam thập cửu

吉祥品法句經第三十九

Kinh Điềm Lành Lớn Nhất

Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng

Phẩm thứ 39

 

Phẩm này có 16 bài kệ. Kinh này xuất xứ từ Kinh Tập (Suttanipata) của văn hệ Pali. Ở các nước Phật giáo Nam tông, đa số các Phật tử cư sĩ đều thuộc ḷng kinh này. Lời dạy rất thực tế. Xin xem phần b́nh giảng ở phần sau sách này.

 

Bài kệ 1

Phật tôn quá chư thiên                            
Như Lai thường hiện nghĩa
              
        
Hữu phạm chí đạo sĩ
                      
       
Lai vấn hà cát tường                      
       

 

Bụt được tôn quư hơn cả trong hai giới trời và người
v́ Ngài thường có khả năng đưa ra những giáo nghĩa mầu nhiệm của một bậc Như Lai. 
Một ngày kia, có một vị đạo sư Bà la môn tới hỏi: Cái ǵ mới thật là điềm lành lớn nhất?

 

Bụt được tôn quư

Trong giới trời người,

V́ Ngài đưa ra

Giáo nghĩa mầu nhiệm

Của bậc Như lai

Phạm chí tới hỏi:

Cái ǵ mới là

Điềm lành lớn nhất?

 

 

Bài kệ 2

Ư thị Phật mẫn thương                         
Vị thuyết chân hữu yếu 
                 
       
Dĩ tín lạc chánh pháp                    
       
Thị vi tối cát tường
                        
       

 

Ngay lúc đó với ḷng xót thương, Bụt đă thuyết giảng về những ǵ thiết yếu và chân thật. Ngài dạy: Có niềm tin nơi chánh pháp và có hạnh phúc trong khi học hỏi giáo pháp. Đó là điềm lành lớn nhất.

 

Với ḷng xót thương

Bụt đă thuyết điều

Thiết yếu chân thật:

Tin nơi chánh pháp

Vui học giáo pháp

Điều lành lớn nhất.

 

 

Bài kệ 3

Nhược bất tùng thiên nhân                      
Hy vọng cầu kiểu hạnh                    
       
Diệc bất đáo thần từ                      
        
Thị vi tối cát tường                        
       

 

Không chạy theo các giới trời và người để cầu mong ban phúc và tránh họa, cũng không đến cầu đảo ở các đền miếu. Đó là điềm lành lớn nhất.

 

Không theo các giới

Trời người cầu mong

Ban phúc tránh họa

Không cầu đền miếu

Điềm lành lớn nhất.

 

 

 

Bài kệ 4

Hữu hiền trạch thiện cư                          
Thường tiên vi phúc đức               
       
Sắc thân thừa trinh chánh              
       
Thị vi tối cát tường                       
       

 

Chọn được môi trường tốt, có nhiều bạn hiền, có dịp làm những việc phúc đức, giữ ḷng cho trinh bạch và chân chánh. Đó là điềm lành lớn nhất.

 

Chọn môi trường tốt

Có nhiều bạn hiền

Làm việc phúc đức

Giữ ḷng chánh trinh

Điềm lành lớn nhất.

 

 

Bài kệ 5

Khứ ác tùng tựu thiện                              
Tị tửu tri tự tiết                                
       
Bất dâm ư nữ sắc                           
       
Thị vi tối cát tường                           
       

 

Biết bỏ ác theo lành, không uống rượu, biết tiết chế, không đắm trong sắc dục. Đó là điềm lành lớn nhất.

 

Bỏ ác theo lành

Không mê rượu chè

Biết tự tiết chế

Không đắm sắc dục

Điềm lành lớn nhất.

 



 

Bài kệ 6

Đa văn như giới hành                             
Pháp luật tinh tấn học                    
       
Tu kỷ vô sở tranh                           
       
Thị vi tối cát tường                        
       

 

Học rộng biết tŕ giới. Siêng năng tu tập theo giáo pháp và luật nghi. Biết tu dưỡng thân tâm, không vướng vào các cuộc tranh chấp. Đó là điềm lành lớn nhất.

 

Học rộng, tŕ giới

Siêng năng tu tập

Giáo pháp, luật nghi

Tu dưỡng thân tâm

Không vướng tranh chấp

Điềm lành lớn nhất.

 

 

Bài kệ 7

Cư hiếu sự phụ mẫu                              
Trị gia dưỡng thê tử                      
       
Bất vi không phạp hành                  
       
Thị vi tối cát tường                        
       

 

Là người con hiếu thảo, có cơ hội phụng dưỡng mẹ cha. Biết chăm sóc gia đ́nh, giữ cho trong nhà êm ấm, không để cho lâm vào cảnh nghèo đói. Đó là điềm lành lớn nhất.

 

Làm con hiếu thảo

Phụng dưỡng mẹ cha

Chăm sóc gia đ́nh

Trong nhà êm ấm

Không lâm nghèo đói

Điềm lành lớn nhất.

 

 

Bài kệ 8

Bất mạn bất tự đại                                   
Tri túc niệm phản phúc                     
       
Dĩ thời tụng tập kinh                        
       
Thị vi tối cát tường                          
       

 

Không kiêu mạn, không cho ḿnh là hơn người. Biết tri túc, biết xét suy. Có th́ giờ đọc tụng và thực tập kinh điển. Đó là phước đức lớn nhất.

 

Không được kiêu mạn

Cho ḿnh hơn người

Tri túc, xét suy

Tụng học kinh điển

Phước đức lớn nhất.

 

Bài kệ 9

Sở văn thường dục nhận                       
Nhạo dục kiến sa môn                  
       
Mỗi giảng tiếp thính thọ                
       
Thị vi tối cát tường                        
       

 

Biết nhẫn nhục khi nghe điều bất như ư. Có hạnh phúc mỗi khi được gặp người xuất gia. Mỗi khi nghe pháp hết ḷng tiếp nhận để hành tŕ. Đó là điềm lành lớn nhất.

 

Nhẫn nhục khi nghe

Điều bất như ư

Vui gặp xuất sĩ

Mỗi khi nghe pháp

Hết ḷng tiếp nhận

Cố gắng hành tŕ

Điềm lành lớn nhất.

 

 

Bài kệ 10

Tŕ trai tu phạm hạnh                             
Thường dục kiến hiền minh             
       
Y phụ minh trí giả                          
       
Thị vi tối cát tường                         
       

 

Biết ăn chay, biết tu theo phạm hạnh. Có hạnh phúc khi gặp các hiền đức. Biết nương vào các bậc có trí sáng. Đó là điềm lành lớn nhất.

 

Biết ăn chay tịnh

Tu theo phạm hạnh

Vui gặp người hiền

Nương vào người trí

Điềm lành lớn nhất.

 

 

Bài kệ 11

Dĩ tín hữu đạo đức                                
Chánh ư hướng vô nghi                  
      
Dục thoát tam ác đạo                    
       
Thị vi tối cát tường                        
       

 

Có niềm tin, có một đời sống tâm linh. Tâm ư ngay thẳng, không bị hoài nghi che lấp. Có quyết tâm lánh xa ba nẻo về xấu ác. Đó là điềm lành lớn nhất.

 

Có được niềm tin

Đời sống tâm linh

Tâm ư ngay thẳng

Không c̣n hoài nghi

Quyết tâm lánh xa

Ba nẻo xấu ác

Điềm lành lớn nhất.

 

Bài kệ 12

Đẳng tâm hành bố thí                           
Phụng chư đắc đạo giả                 
       
Diệc kính chư thiên nhân               
       
Thị vi tối cát tường                       
       

 

Biết bố thí với tâm niệm b́nh đẳng. Biết phụng sự những bậc đắc đạo. Biết tôn quư những kẻ đáng tôn quư trong hai giới nhân và thiên. Đó là điềm lành lớn nhất.

 

Thực hành bố thí

Với tâm b́nh đẳng

Biết phụng sự những

Bậc tu đắc đạo

Tôn quư người hiền

Hai cơi trời người

Điềm lành lớn nhất.

 

Bài kệ 13

Thường dục ly tham dâm                      

Ngộ si sân nhuế ư                                  
Năng tập thành đạo kiến                
       
Thị vi tối cát tường                        
       

 

Biết xa ĺa tham dục, sân hận và si mê. Thường tu tập để mong đạt được chánh kiến. Đó là điềm lành lớn nhất.

 

Xa ĺa tham dục

Sân hận si mê

Tu tập chánh kiến

Điềm lành lớn nhất.

 

 

Bài kệ 14

Nhược dĩ khí phi vụ                                
Năng cần tu đạo dụng                     
       
Thường sự ư khả sự                      
       
Thị vi tối cát tường                         
       

 

Biết buông bỏ những nghiệp vụ phi nghĩa. Có khả năng áp dụng đạo pháp vào đời sống hằng ngày. Biết theo đuổi một lư tưởng đáng được theo đuổi. Đó là điềm lành lớn nhất.

 

Bỏ điều phi nghĩa

Áp dụng đạo pháp

Đời sống hàng ngày

Theo đuổi lư tưởng

Điềm lành lớn nhất.

 

 

 

Bài kệ 15

Nhất thiết vi thiên hạ                               
Kiến lập đại từ ư                            
       
Tu nhân an chúng sinh                   
       
Thị vi tối cát tường                        
       

 

V́ tất cả nhân loại vun bón tâm đại từ. Nuôi dưỡng t́nh

thương để đem lại an b́nh cho thế gian. Đó là điềm lành lớn nhất.

 

V́ cả nhân loại

Vun tâm đại từ

Nuôi dưỡng t́nh thương

Đem lại an b́nh

Điềm lành lớn nhất.

 

 

Bài kệ 16

Trí giả cư thế gian                                  
Thường tập cát tường hạnh            
       
Tự trí thành tuệ kiến                       
       
Thị vị tối cát tường                         
       

 

Là bậc trí giả ở trong cuộc đời thường tập hạnh tạo tác những điềm lành cho đến khi chính ḿnh thành tựu được tuệ giác lớn. Đó là điềm lành lớn nhất.

 

Trí giả trong đời

Tạo tác điềm lành

Đến khi thành tựu

Được tuệ giác lớn

Điềm lành lớn nhất.

 

* * * *

 

 

                                                  

Kinh Pháp Cú - Hán tạng

 Thể kệ

 

Hoàn tất ngày 12/8/ 2016, Đà lạt - mùa Vu Lan Báo hiếu Phật lịch 2560, bổ túc tháng 12/2017.

Xin hồi hướng công đức đến Sư Ông Làng Mai được vạn sự cát tường

Và hương linh phụ mẫu.

 

Nguyên Định.