ĐỌC “GÓP NHẶT THỜI GIAN”

CỦA THÍCH NGUYÊN SIÊU
 

Đào Văn B́nh



 

Nhân dịp cư sĩ Nguyên Giác và tôi ra mắt cuốn sách “Thiền Tông Qua Bờ Kia” và “Đạo Phật: Đất Nước, Cuộc Sống và Tâm Linh” tại Chùa Bát Nhă, Nam California ngày 18/11/2017 mà tôi mới có dịp quen biết Ḥa Thượng Thích Nguyên Siêu. Nhân dịp này ḥa thượng tặng tôi cuốn “Góp Nhặt Thời Gian” và tập thơ “Tâm Nguyên Vô Đề”.

Cuộc sống ngày hôm dường như quá vội vă. Con người chạy đua với tốc độ và chỉ thích nghe, thích nh́n (Audio &Visual) và thích nói (talk Show) hơn là thích đọc v́ quá “mất thời giờ”. Thật khó cho bất cứ nhà phê b́nh văn học nào có can đảm đọc và giới thiệu một cuốn sách về đạo, dày tới 543 trang. Thế nhưng do t́nh cảm tri ngộ, tôi cảm thấy ḿnh h́nh như có duyên và niềm vui khi giới thiệu một công tŕnh sáng tác như thế này.

Ở hải ngoại, sách do quư ni/sư in ra thường được các Phật tử nhiệt t́nh chiếu cố nhưng chưa chắc họ đă đọc và t́m hiểu xem tác phẩm nói ǵ. Mua sách về mà không đọc th́ thật tội t́nh cho tác giả. Do đó, v́ ḷng quư mến Ḥa Thượng, tôi đă dành ra khoảng thời gian gần một tuần lễ, có khi thức dậy lúc 5 giờ sáng, làm việc liên tục để đọc phẩm này.

 

Góp Nhặt Thời Gian” là cuốn sách ghi lại những ǵ mà thầy đă sống, đă trải, đă chứng kiến trong suốt thời gian trải dài hơn 50 năm, từ một chú điệu quét rác ở Chùa Long Sơn, Nha Trang cho tới ngày hôm nay, mái tóc đă điểm sương, trụ tŕ Chùa Phổ Đà ở Thành Phố San Diego, California- một thành phố ấm áp, đầy nét văn hóa mà không xô bồ quá như Orange County.

Sách xuất bản năm 2014, khởi đầu bằng những ḍng thơ và điếu văn đầy cảm động khóc ân sư – Ḥa Thượng Thích Tâm Nhẫn, viên tịch năm 2013. Qua những ḍng thơ thật đau đớn, nhưng nhẹ nhàng và thanh thoát, thầy Thích Nguyên Siêu mô tả Ḥa Thượng Thích Tâm Nhẫn đúng là một vị Bồ Tát tại thế, một người cha lành dẫn dắt đàn con ăn và tu học trong cảnh vô cùng nghèo khó :
 

Cam tươi sữa ngọt,

Cưỡi chiếc xe đạp đem ngay cho người.

Chẳng giữ trong tay những ǵ thầy có.

Thầy học hạnh buông xả.

Bềnh bồng như mây.

Thầy đi  t́m hang kiến.

Cho đồ ăn thật đầy.

Cơm nguội, bánh ḿ, đường cát.

Ấy là việc làm xưa nay.

Thầy thương loài vật.

Thầy giúp người ngay.

Thầy làm Bồ Tát hạnh.

Trong cuộc đời này.”

 

Trong chương thứ hai, tác giả tưởng niệm cố Ḥa Thượng Thích Minh Tâm với những đoạn văn, “Suốt đời hoằng pháp từ Việt Nam tới Nhật Bổn rồi cả một trời Tây, các châu lục Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan, Hoa Kỳ, Gia Nă Đại…Ḥa Thượng luôn giảng dạy trách nhiệm của người Phật tử, ǵn giữ Đạo Phật Việt Nam, nhớ ơn lịch đại Tổ Sư hơn 2000 năm qua. Một ḍng lịch sử mang tính thời gian có đủ để khẳng định đối với dân tộc Việt Nam.” Và một đoạn thơ :
 

Paris buồn! Nơi đâu buồn hơn nữa?

Khánh Anh chờ! Buông thơng cánh tay mong.

Hóa thân một kiếp phù trần.

Ngàn năm dâu bể, trăng trong giữa trời.”

 

Tôi rất thích lối thơ của Vũ Hoàng Chương, khởi đầu bằng những câu thơ tự do (không phải song-thất, lục-bát), nhưng khéo kết thúc bằng hai câu lục-bát rất êm và gợi cảm như bốn câu thơ ở trên.

Trong chương thứ ba, tác giả nhớ về Bồ Tát Thích Quảng Đức nhân lễ hiệp kỵ lịch đại Tổ Sư tại Chùa Cổ Lâm, Thành Phố Seattle, Tiểu Bang Washington năm 2013.

Trong chương thứ tư, tác giả nhớ về cố Thượng Tọa Thích Thiện Minh, một nhân vật quan trọng trong Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo đấu tranh cho quyền b́nh đẳng tôn giáo năm 1963.

Trong chương thứ năm, tác giả nói về cố Ḥa Thượng Thích Trí Chơn “ Đă đóng góp cho ngôi nhà văn hóa Phật Giáo hải ngoại, đă có 22 dịch phẩm với các chủ đề Tổng Quan Phật Giáo, Truyện Tích, Nhận Vật Phật Giáo, Phật GiáoThời Đại, Phật GiáoXă Hội, Phật Giáo Thế Giới.”

Chương thứ sáu nói về triết gia Phạm Công Thiện mà tác giả gọi là “Thầy Phạm Công Thiện- một nhà giáo dục, một nhà văn hóa, một thi sĩ Phật tử thuần thành, quy y Tam Bảo với Ôn Già Lam, pháp danh Nguyên Tánh tại Phật Học Viện Hải Đức Nha Trang năm 1960.”  Trong chương này, tác giả c̣n tŕnh bày tấm h́nh chụp chung với Giáo Sư Doăn Quốc Sĩ, Triết Gia Phạm Công Thiện tại Texas năm 2007.

Trong chương thứ bảy, tác giả nói về bóng dáng từ bi của Ôn Già Lam trên Đồi Trại Thủy. “Ôn Già Lam. Chỉ cần ba tiếng ấy thôi cũng đủ làm ấm ḷng bao lớp tăng sinh của Phật Học Viện Báo Quốc (Huế), Phổ Đà (Đà Nẵng), Hải Đức (Nha Trang), Già Lam (Sài G̣n).“  Ngoài việc trích dẫn công nghiệp, một số lời dạy, thơ của Ôn Già Lam, tác giả đă làm bài thơ “Dáng Từ Đồi Trại  Thủy” để nhớ về Ôn, mà tôi rất thích:

Tiếng chuông vang vách đá.

Làm tươi thắm lá hoa.

Viên sỏi nằm triền núi.

Đếm thời gian trôi qua

 

Ngày ra đi nắng hạ.

Phượng vĩ đỏ mái chùa.

Từng bước chân thầm lặng.

Như đêm trong cơn mưa.

 

Nhớ người Đồi Trại Thủy.

Nhớ bước chân canh khuya.

Hô thiền giờ chỉ tịnh.

Nhất niệm phút chẳng ĺa.

 

Buổi sáng đường B́nh Minh.

Ôn trong áo nhật b́nh.

Chống gậy trên triền núi.

Độ nhật kiếp nhân sinh.

 

Lời thơ siêu thoát, trữ t́nh không thua kém ǵ lời thơ của Phạm Thiên Thư trong “Đưa Em T́m Động Hoa Vàng”.

Trong “Ngôi Chùa Cổ Trên Đồi Trại Thủy” của chương thứ tám, tác giả đă đi vào ḷng người bằng bút pháp thật văn chương, hiếm thấy trong các tác phẩm của các tu sĩ Phật Giáo, văn thường nghiêm túc, đôi khi ước lệ và khô cứng. ”Rải rác trên những lối ṃn, dưới các bóng cây rậm của những đêm trăng c̣n in đậm dáng dấp của vị sư già tay lần chuỗi hạt ung dung thả bộ, một tâm hồn thư thái, an nhiên. Tâm hồn này là sức sống của ngôi chùa cổ mà trải qua bao thời  gian ẩn tu như chưa hề xao lăng, dầu cuộc sống của thế nhân trải qua bao phế hưng. Đêm nay trời mưa lớn, gió từ biển khơi thổi mạnh, đập vào sườn núi làm tan tác lá hoa trên đồi, làm găy đổ những giàn thanh long đă hết trái. Cảnh đời chuyển động. Biển đời chuyển động, dậy sóng muôn trùng lá bay. Điêu linh của đêm mưa băo. Động! Từng sát-na động! Từng phút giây động! Bản chất của thế gian, như từ vô lượng kiếp.

Trong chương thứ chín, tác giả nói về t́nh cảm của những học tăng từ Sài G̣n phải thuyên chuyển ra các tỉnh nhỏ như Phan Rang, B́nh Định với bao lo âu. Rồi h́nh ảnh của các vị tiếp nhận như Ḥa Thượng Đồng Thiện, Ḥa Thượng Đồng Quán, rồi Ḥa Thượng Giám Viện Thích Huyền Quang từ Sài G̣n ra thăm.

Trong chương mười, qua bài viết “Một Con Người, Một Quê Hương” có lẽ tác giả nói về Ḥa Thượng Thích Măn Giác của Phật Học Viện Quốc Tế qua câu nói, “Sau khi tôi xả bỏ báo thân về nơi cơi Phật, quư thầy hỏa thiêu tôi, lấy tro bón từng gốc cây, cọng cỏ trong vườn Phật Học Viện để có chút phần tươi tốt cho loài thảo mộc.”

Trong chương mười một, tác giả nói về một cây đại thụ của Phật Giáo Việt Nam đó là Ḥa Thượng Thích Mật Thể qua đoạn văn, “Huế được ca ngợi như là đất thần kinh văn vật, với cái đẹp thiên nhiên của đất trời ưu việt dành cho. Từ cảnh núi sông cẩm tú ấy đă sinh ra biết bao bậc tôn túc Thiền gia, trong đó có Ôn Đại Lăo Ḥa Thượng Thích Mật Thể.” Sư Bà Diệu Khôngcảm phục hạnh nguyệnquy ngưỡng tánh đức nhiếp dẫn chúng tăng, làu thông kinh điển của Ôn, đă đề thơ ca tụng:

 

Ḥa thượng kim triêu ngoại thất tuần.

Hoa niên xuất trục thậm gian truân.

Trực tâm nhất niệm kinh thường diễn.

Phật tánh viên dung luận quán quân.

 

Trong chương thứ mười hai, ngoài những ngôi chùa danh tiếng của đất Thần Kinh như Chùa Thánh Duyên, Chùa Diệu Đế, Chùa Quốc Ân, Chùa Thuyền Tôn, Chùa Từ Hiếu, Chùa Trúc Lâm…tác giả nói nhiều về Chùa Từ Đàm được xây dựng từ cuối Thế Kỷ 17 sau được Chúa Nguyễn Phúc Chu ban tặng năm chữ “Sắc Tứ Ân Tôn Tự” mà nhạc sĩ Văn Giảng đă sáng tác bản nhạc “Từ Đàm Quê Hương Tôi” đă đi vào ḷng người hơn nửa thế kỷ qua. Thế rồi do vận mệnh nổi trôi của đất nước, một số tăng ni đă ra hải ngoại và Ḥa Thượng Thích Tín Nghĩa đă thành lập Tổ Đ́nh Từ Đàm Hải Ngoại tại Dallas, Texas năm 1983.           

Tại chương mười ba, tác giả nói về triết lư sống của người dân Việt qua bài “Năm Nghệ Thuật Sống Của Người Phật Tử” đó là:

- Uyển chuyển như cây tre, dù dông băo thế nào cũng không găy đổ.

- Sống như một ḍng sông, “Nước được đổ từ đầu nguồn xuống hạ nguồn và ra biển. Nếu ḍng sông đó nằm trên cao nguyên th́ ḍng nước chảy nhanh. Nhưng khi xuống dưới trung nguyên hoặc b́nh nguyên th́ ḍng nước chảy một cách nhẹ nhàng, từ từ, nên thơ. Để rồi ḍng sông đó sẽ ḥa nhập vào trong  biển mà không giữ lấy tính chất cố định của nó.”

- Sống như là cây Mai, “Cây mai dù trải qua rất nhiều thời gian mưa nắng, khó khăn đă phủ lên trên cành mai, gốc già của thân mai, cho đến ngày Xuân th́ hoa mai lại nở.” Ư nói cuộc đời này dù gặp bao nhiêu cảnh ngộ th́ chỉ làm cho chúng ta “già dặn” thêm, như gốc Mai và hoa ḷng vẫn nở.

Nơi chương mười bốn tác giả nói về Kinh Lăng Nghiêm. Kinh này có được nhân dịp Ngài A Nam đi khất thực, ỷ y, tí nữa rơi vào ṿng sắc dục của người con gái đă dùng chú Tỳ La Phạm Thiên để mê hoặc khiến Đức Phật phải dùng thần thông để giải cứu. “Kinh Lăng Nghiêm thuộc về biệt giáo. Người học và hiểu ư thú nghĩa kinh là tự mỉnh đả thông tất cả chướng ngại do chấp ngă, chấp kiến, thấu suốt sự chân thật của tâm, chân thật của cảnh.

Trong chương mười lăm nhan đề “Ngày xuân đọc Luật”, tác giả nhớ lại, “Giới luật là mạng mạch của Tăng Già, là tuổi thọ của Phật pháp. Ngày nào giới luật c̣n được giữ ǵn nghiêm minh, ngày đó Phật pháp c̣n hiện hữu với đời một cách vững mạnh, chánh pháp trường tồn. Tác giả nhớ lại lời dạy của Ôn Trí Nghiêm tại Phật Học Viện Nha Trang, “Tui chỉ cần quư thầy thanh tịnh cứ mỗi nửa tháng tới thôi.” và lời dạy của Ôn Đổng Minh, “Các thầy học Luật là để thấy ḿnh có tăng tiến trên con đường tu tập hay không, chứ không phải học Luật để có mặc cảm tội lỗi.”

Trong chương mười sáu, tác giả tri ân và nhớ về các bậc cao tăng tiền bối đă dày công dưỡng dục đệ tử. Có những vị phải trồng dưa cà, rau muống đem ra chợ bán để nuôi đàn hậu học…mỗi vị một bài thơ, bài nào cũng cảm động, cũng hay, trong đó có: Ôn Từ Đàm, Ôn Già Lam, Ôn Đổng Minh, Ôn Trừng San, Ôn Từ Quang, Ôn Minh Châu, Ôn Đồng Thiện, Ôn Trí Nghiêm, Ôn Trí Tín, Ôn Trí Chơn, Ôn Thuyền Ấn. Riêng đối với Ôn Minh Châu tức Thượng Tọa Thích Minh Châu-Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hảnh, tôi có một kỷ niệm. Khoảng năm 1968, tôi và một số bạn họa sĩ là sinh viên Dược Khoa, Văn Khoa, Y Khoa tổ chức một cuộc triển lăm tranh sơn dầu tại Pḥng Thông Tin nằm ở góc Nguyễn Huệ và Tự Do, có mời Ôn cắt băng khánh thành. Khi mời các tùy viên ṭa đại sứ, trên thư mời chúng tôi chỉ ghi Mr….th́ Ôn sửa lại là The Honorable…chứng tỏ Ôn rất rành về thủ tụcngôn ngữ ngoại giao. Ôn Minh Châu ngươi Huế, lúc nào cũng mỉm cườiphúc hậu như Phật Di Lặc vậy.

Trong chương mười bảy, tác giả ghi lại ngày hiệp kỵ lịch đại tổ sư tại Lyon, Pháp Quốc năm 2011.

Trong chương mười tám, tác giả nói về HT. Thích Đồng Minh- ân sư của nhiều thế hệ. Tác giả đă khóc khi nhớ lại lời của thày, “Ra nước ngoài hăy nhớ làm Phật sự. Đừng phản bội, quay lưng lại lư tưởng của ḿnh.”

Trong chương mười chín, tác giả nói về Tổ Liễu Quán đă thiết lập Thiền Phái Liễu Quán vào hậu bán Thế Kỷ 18 trước khi viên tịch vào năm 1742, ngài tự tay viết bài kệ như sau:

Thất thập niên dư thế giới trung.

Không không, sắc sắc diệc dung thông.

Kim triêu nguyện măn hoàn gia lư.

Hà tất bôn nan vấn tổ tông.

Rơ ràng, đối với các vị tu hành chứng đắc của Phật Giáo th́ không có cái chết mà chỉ là sự xả bỏ báo thân một cách nhẹ nhàng.

Trong chương hai mươi, tác giả bàn luận về đề tài “Văn Học Phật GiáoCon Đường Tri Thức Vượt Thoát”  xây dựng trên các cột trụ như Thiền, công án, Bát Nhă, Hoa Nghiêm, Pháp HoaPháp Cú.

Trong chương mười ba, nói về “Đạo Phật Qua Cái Nh́n Của Thế Giới Âu Tây” tác giả viết, “Thế giới Âu Tây ngày hôm nay, con người tiếp xúc với Đạo Phật, đă nghiên cứutu chứng. Họ chấp nhận Đạo Phật như tôn giáo của chính họ.”

Trong chương mười bốn, tác giả bàn về Lư Duyên SinhTinh Thần Vô Ngă.

Trong chương mười lăm, tác giả nói về Vu Lan: Mùa Cứu Độ Các Oan Hồn Phiêu Bạt.

Trong chương mười sáu, tác giả dẫn chứng lời Phật dạy để nói về:

- Tuổi thọ của Tăng Già.

- Sự hưng thịnh của chúng tăng.

- Tầm nh́n đích thực của Tăng Già Việt Nam qua lời kêu gọi của Ḥa Thượng Thích Đôn Hậu (1991), Ḥa Thượng Thích Trí Thủ (2002) và Ḥa Thượng Thích Trí Quang.

 

Trong các chương mười bảy, mười tám, tác giả tiếp tục nói về ngày tưởng niệm chư vị thiền sư, tổ đức theo phong tục tập quán của người dân Việt NamUống nước nhớ nguồn” trong đó có Ngài Ngô Chân Lưu đời Vua Đinh Tiên Hoang, Pháp Thuận Thiền Sư đời Vua Lê Đại Hành, Vạn Hạnh Thiền Sư đời Lư và Phật Hoàng Trần Nhân Tông đời Trần.

Trong chương mười chín, tác giả nói về “Kỷ Niệm 20 Năm Khóa Tu Học Phật Pháp Âu Châu”

Trong chương hai mươi, tác giả nói về chủ đề “Sức Mạnh Của Tăng Già hay Những Nguyên Tắc Nhiếp Chúng” bằng cách trích dẫn lời Phật dạy qua các lănh vực:

- Bảy pháp không bị suy giảm của một chúng tỳ kheo.

- Bảy pháp xử trị người phạm giới.

- Sáu pháp ḥa kính (Lục Ḥa).

- Tứ nhiếp pháp, trong đó tác giả nhắc nhở, “Đức Phật dạy vai tṛ của người tại gia bằng bốn pháp nhiếp sự mà nếu không áp dụng bốn pháp nhiếp sự vào đời sống hàng ngày th́ ngay nơi bản thân con người đă đánh mất trách nhiệm của chính ḿnh đối với đời sống gia đ́nh và những người chung quanh, mà cũng chẳng có lợi íchtiến bộ trong Phật pháp.” Theo ư của đoạn văn này th́ “tu tại gia” trước, tức lo chuyện gia đ́nh cho chu toàn trước rồi mới “tu chợ” rồi sau đó “tu chùa”. Chuyện nhà hỏng, th́ chuyện chùa cũng hỏng. Trong chương này tác giả c̣n nói thêm về Hạnh Bố ThíÁi Ngữ.

Nơi chương hai mươi mốt, nhân Đại Lễ Phật Đản 2551 tại Houston, Texas,  tác giả nói về “Đức Phật và Văn Hóa Giác Ngộ” cho chúng Tỳ Kheo, cho nam-nữ Phật tử, cho nhà vua, hội đồng nội các của một quốc gia trong đó có những đức tính như:

- Độ lượng, từ bi, bố thí.

- Có đạo đức cao, không sát sinh, trộm cắp, tà hạnh, nói dối, uống rượu.

- Hy sinh tất cả v́ lợi ích của toàn dân.

-Thẳng thắn, thành thậtliêm khiết.

- Ḷng từ ái, hiền ḥa.

- Khổ hạnh trong nếp sống.

- Không sân hận thù hiềm.

- Không giết người, tạo lập ḥa b́nh và tinh thần bất bạo động.

- Nhẫn nhục, bị chỉ trích vẫn b́nh tĩnh.

- Không chống lại ư muốn của dân, chiều theo ư dân.

 

Trong chương hai mươi hai, tác giả luận bàn về “Huyền Thoại Duy Ma Cật”. Trong pháp hội tại Vườn Am La, Đức Phật giảng dạy thế nào là Pháp Môn Bất Nhị (Không Hai), thế nào là Bồ Tát Hạnh, thế nào là thần lựctâm định của Duy Ma Cật…tất cả đều không thể nghĩ bàn.

Nơi chương hai mươi ba, tác giả nói về “Những Hạt Kim Cương Từ Lời Thuyết Pháp Của Đức Phật”  trong đó có :

 

- Công việc thường nhật nhưng luôn ở trong đại định.

- Trụ tâm và hàng phục tâm.

- Độ chúng sinh nhập Vô Dư Niết Bàn.

- Hành các pháp thiện.

 

Trong chương hai mươi bốn tác giả nói về “Bồ Tát và Trụ Xứ Độ Sinh” theo đó, Bồ Tát hay nơi Bồ Tát cư ngụ không phải là một Cung Trời mà ngay nơi thế gian này:

-Nơi nào có tâm Bồ Đề được phát khởi, nơi đó là quốc độ của Bồ Tát.

-Nơi nào có Thân-Tâm, nơi đó là quốc độ của Bồ Tát.

-Nơi nào có chứng nhập các Trụ Địa, nơi đó là quốc độ của Bồ Tát.

-Nơi nào có phát đại nguyện, nơi đó là quốc độ của Bồ Tát.

-Nơi nào có Đại-Từ-Bi, nơi đó là quốc độ của Bồ Tát.

-Nơi nào có Chánh Kiến, nơi đó là quốc độ của Bồ Tát.

-Nơi nào Đại Thừa quảng bá, nơi đó là quốc độ của Bồ Tát.

-Nơi nào có giáo hóa chúng sinh, nơi đó là quốc độ của Bồ Tát.

-Nơi nào có Phương Tiện Trí, nơi đó là quốc độ của Bồ Tát.

-Nơi nào có tu tập hết thảy các Phật pháp, nơi đó là quốc độ của Bồ Tát.

 

Trong chương hai mươi lăm, tác giả nói về “Trí Tuệ và Ḷng Từ Bi”. Trong bài này tác giả dẫn chứng một giai thoại về Trí TuệTừ Bi siêu việt của Đức Phật:

“Một hôm trên con đường du hóa trở về, Đức Phật gặp một người gánh phân, áo quần lấm lem, thân thể gầy ốm đi ngược chiều với Đức Phật và hàng thánh chúng, đang tiến gần về phía ngài. Ngay khi ấy người gánh phân lo sợ và vội vàng gánh phân tránh xuống vệ đường, cúi mặt xuống đất, không dám đối diện với Đức Phật. Nhưng với ḷng từ bi, ngài dừng lại hỏi:

- Này vị cư sĩ kia, tại sao lại tránh Như Lai?

- Bạch Thế Tôn, con không dám đối diện với ngài v́ con thuộc ḍng nô lệ.

- Này thí chủ, trong thánh pháp của Như Lai không có giai cấp. Hơn nữa nơi đây Như Lai không hỏi giai cấp v́ đối với Như Lai mọi người đều b́nh đẳng, trong ḍng máu cùng đỏ và nước mắt cùng mặn. Bất cứ ai nỗ lực tu tập bằng tâm thuần tịnh cũng đều chứng đắc quả Thánh, không kể nô lệ hay không nô lệ. Người nô lệ mà được trang sức bằng hương giới thanh tịnh th́ cũng thành cao quư.

- Bạch Đức Thế Tôn, v́ thân thể con hôi dơ, phân đất dính đầy người.

- Như Lai không chú trọng danh, tướng bên ngoài. Phân bụi bặm có thể dùng nước mà rửa sạch. C̣n xú uế của tâm có thể tẩy trừ được hay không?

- Xin Đức Thế Tôn cho phép con đảnh lễ Phật cùng hàng Thánh chúng và xin quy y Tam Bảo.

 

Kể từ đó người gánh phân tên Nan Đề tinh tấn thực tập Thiền Địnhđắc quả A La Hán.

Ngoài ra, Đức Phật luôn luôn khiêm nhường và chỉ nhận ḿnh là Đạo Sư tức người thầy chỉ đường mà thôi và không buộc ai phải tùy thuộc  nơi người. Trước khi Phật nhập Niết Bàn ba tháng, một hôm ngài A Nan- thị giả của Đức Phật - thưa với Đức Thế Tôn:

- Bạch Đức Thế Tôn, nếu Đức Thế Tôn nhập diệt rồi th́ hàng chúng tăng lấy ai để nương tựa, lấy ai để làm thày chỉ dạy?

- Này A Nan, các con đừng nghĩ rằng Như Lai phải cai quản hàng chúng tăngchúng tăng phải tùy thuộc vào Như Lai. Không phải vậy, Như Lai là bậc đạo sư chỉ bày phương tiện để các con nương vào phương tiện thiện xảo ấy mà đạt Thánh quả. Các con phải lấy giới luật làm Thầy. V́ giáo pháp là kim chỉ nam, là con đường dẫn dắt các con đến mục đích tối hậu,cứu cánh tịch diệt. Dù cho Như Lai có sống măi ở đời mà các con không tinh tấn thực hành Thiền Định, nỗ lực tu tập th́ cũng chẳng ích ǵ.”

Đúng là lời khuyên của một bậc Thầy vĩ đại!

Trong chương hai mươi sáu, tác giả nói về “Ba Mươi Bảy Phẩm Trợ Đạo” trong đó có Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ư Túc, Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Giác ChiBát Chánh Đạo.

Với bài viết “Biển Cả” trong chương hai mươi bảy, tác giả đă phô diễn khả năng văn chương truyền cảm của một người viết văn hơn là của một tu sĩ xuất thân từ Thiền Môn khi c̣n là chú điệu 10 tuổi. Tôi xin trích dẫn một vài đoạn:

Mỗi khi mặt trời lặn, ánh nắng c̣n sót lại một vài tia chiếu rọi, trên băi cát vàng, làm lóng lánh mặt nước xanh, muôn ngàn, vô trùng con sóng nhấp nhô nhè nhẹ. Bóng h́nh tôi đổ dài trên lưng những con c̣ng, con hến, cái rêu, con ốc, miên man như thời gian vô tận. Gió cứ thổi về phương trời vô định. Mây cứ trôi bềnh bồng trên không. Biển cứ dạt dào như th́ thầm tâm sự ḷng sâu như đại dương vô để.

Bây giờ là mùa hạ, nên gió mát, nước trong, cát mịn, nhiều loài cua chân cao, chân thấp, cá thóc, con tầm đục hang loang lỗ trên tấm cát mịn màn của đất trời non nước. Một con ra khỏi hang. Hai con đang húc đầu đấu đá. Ba con đang ḅ nhanh đến đống cát cao bên cạnh để kiếm mồi, và những đàn con khác đang lim dim ph́ bọt tí tách, tí tách, dương tṛn đôi mắt trong mơ màng âm hưởng thiên thu thù tạc. Cái lẽ vô thường của tự thân hay khách thể. Tưởng tượng mà đi. Những hạt cát lăn tṛn. Những bọt sóng vỡ tan. Những hột nước xoi ṃn bờ gềnh, sỏi đá...Gió không thổi. Biển không gầm. Biển im. Biển không sóng. Tĩnh lặng và sâu thẳm. Biển xanh và trong suốt như ḷng người thanh thảnvạn vật đều tươi vui. Hiện rơ sum la vạn tượng mà từ thời Phật Oai Âm Vương đến bây giờ không thêm không bớt. Ḷng biển vẫn bao ladung nạp, nuôi sống vô lượng loài thủy tộc. Biển Phật pháp mênh mông vô lượng phương tiện cứu vớt vô lượng loài chúng sanh…. Có người hỏi tại sao biển xanh? Tại sao biển sâu? Tại sao biển vổ vào bờ? Và lắm lúc tại sao biển phong ba băo tố xô ngă mọi thành tŕ ngăn ngại? V́ biển lớn. Biển bao la. Nước biển mềm. Vô tướng. Vô h́nh. Vô dạng. Không nhất thiết giữ nguyên một dạng thể. Ở sâu th́ biển xanh. Ở cạn th́ biển trong, thấy từng hạt cát, từng loài rong rêu nhỏ nhiệm. Biển băo tố là do phong cảnh tác động mà dậy sóng ba đào. Ḷng chẳng nhất tâm là do khách trần phiền năo dấy khởi.

Trong chương hai mươi tám, tác giả nói về “Lục Độ Vạn Hạnh” và chương hai mươi chín trong “Niệm Phật” tác giả nhận thấy, “Người niệm Phật thấy ḿnh có đủ ba đức tánh Vô Lượng Thọ, Vô Lượng QuangVô Lượng Công Đức.”

Trong chương ba mươi, tác giả trích dẫn lời thưa hỏi của Thiên Tử Kakudha để cho thấy “vui và buồn” đều đem tới phiền năo. Chỉ có tâm b́nh an, thâm-thường-định là cứu cánh của hạnh phúc mà thôi. Giống như Hương Hải Thiền Sư đă trả lời Vua Lê Dụ Tông, “B́nh thường tâm thị đạo”.

“ Rồi Thiên tử Kakudha, sau khi đêm đă gần tàn, với nhan sắc thù thắng chiếu sáng toàn khu rừng Anjana, rồi đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ, rồi đứng một bên, bạch Phật:

- Thưa Đức Thế Tôn, Ngài có hoan hỷ (vui) không?

- Này hiền giả, Như Lai có được cái ǵ mà Như Lai hoan hỷ?

- Nếu vậy, thưa Thế Tôn, có phải Thế Tôn sầu muộn (buồn) không ?

- Này Hiền giả, cái ǵ bị già yếu? Như Lai đâu mất cái ǵ mà Như Lai sầu muộn?

Vậy th́, thưa Thế Tôn, Ngài không hoan hỷ và không sầu muộn?

- Thật vậy, này Hiền giảNhư Lai không hoan hỷ cũng không sầu muộnNhư Lai giữ tâm định tĩnh.

Hoan hỷ chỉ đến với người tâm sầu muộn.

Sầu muộn chỉ có đến với người tâm hoan hỷ

Do vậy người tu tập,

Không hoan hỷ hay sầu muộn,

Vậy nên, này hiền giả, người phải biết như vậy. “

Cái Tâm không vui, không buồn là Tâm Thường Định, Tâm Đại Định chỉ có A La Hán, Bồ Tát , Phật mới đạt tới cái Tâm này mà thôi. C̣n chúng sinh như chúng ta th́ bập bềnh, trôi nổi trong  bể vui buồn. Hết vui rồi lại buồn, hết buồn rồi lại vui, hết khóc rồi lại cười, hết yêu rồi lại ghét.

Trong chương ba mươi mốt nói về “Sơ Tâm” tác giả nhớ lại lúc mới 10 tuổi,  “Buổi chiều, sau bữa cơm tối. Mẹ tôi gọi lại, hôm nay, cho con đi tu với Thầy đó nghe. Mang xách theo Thầy mà ḷng cũng không quyến luyến. Chẳng tự hỏi ḿnh có tu được không. Tự dưng bỏ cha mẹ, anh em, bỏ bạn bè vào chùa tu! Cúi đầu bước theo sau Thầy, sang bên kia bờ sông. Ngôi chùa nơi đó. Một ḍng sông ngăn cách, bên kia bờ là t́nh thương của mẹ. Bên này bờ là ḷng đại bi của Đấng Thế Tôn. Do vậy, cứ mỗi lần chèo đ̣ đưa Thầy đi Phật sựmột ḿnh quay về, gác mái chèo, nh́n qua bên kia bờ sông mà nhớ một cái ǵ đó đă tiềm tàng trong ḷng tự bao giờ. Tự nhiên. Nhẹ nhàng. Đôi chút bâng quơ. Hương thừa của tuổi trẻ, th́ chính những giây phút này sơ tâm giao độngḶng từ bi của Phật, ư niệm yêu thương của mẹ cha …” Câu chuyện giống như một cuốn tiểu thuyết cảm động c̣n hơn “Hồn Bướm Mơ Tiên” hay “Lan và Điệp” nữa.

Trong chương ba mươi hai, qua đề tài “Vài Nét Biểu Trưng của Người Cư Sĩ Phật Tử nơi Hải Ngoại” tác giả thấy người cư sỹ Phật tử cần có cái nh́n tổng quan Phật Giáo Hải Ngoại và đặt ḿnh đúng vị trí trong vai tṛ hộ pháp, bao gồm:

 

-Khẳng Định Tín Tâm Đối Với Tam Bảo

-Thích Nghi Với Môi Trường Hiện Sống Mà Tùy Duyên Hộ Pháp

-Phát Huy Tinh Thần Tu Học Phật Pháp Qua Các Phương Tiện:

-Tham Gia Các Khóa Tu Học Được Tổ Chức Tại Các Tự Viện

-Nghe Băng Thuyết Pháp

-Hệ Thống Internet – Paltalk

-Hệ Thống Các Tự Viện Tại Địa Phương Là Ngôi Nhà (Tâm LinhPhật Pháp Của Chính Ḿnh:

-Gây Ư Thức Và Tạo Dựng Niềm Tin Phật Cho Con Em – Thế Hệ Kế Thừa

-Quan Hệ Mật Thiết Giữa Người Tu Sỹ Xuất Gia Và Người Cư Sỹ Tại Gia

 

Trong chương ba mươi ba, với đề tài “Thi Kệ Thiền hay Phong Thái của Người Đạt Đạo” tác giả trích dẫn lời chư Tổ nói rằng Thiền là giáo ngoại biệt truyền, “Bản lai diện mục của các pháp là như vậy, cho nên người tham cứu Thiền học hay thực nghiệm Thiền cần giữ tâm thanh thản, an b́nh - mà chúng ta thường nghe: "Tâm an tức thị Thiền". Hay: "Đương b́nh tâm địa, tắc thế giới địa, nhất thiết giai b́nh." - Tâm của ḿnh được an b́nh th́ cảnh giới bên ngoài tất cả đều được an b́nh, có nghĩa là tâm b́nh th́ thế giới b́nh. V́ tâm hồn thanh thảnh, tấm ḷng b́nh yên sống bằng những giây phút hiện tại, tĩnh giác để nh́n sự vật diễn tiến một cách khách quan, mà không khen, chẳng chê, không b́nh phẩm, không khởi tâm thẩm định, mà phải tự cảm nhận giá trị nhiệm mầu và vĩnh cửu của cái bây giờ và ở đây. “ Đây cũng là “Đối cảnh vô tâm” của Tuệ Trung Thượng Sĩ hay “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” trong Kinh Kim Cang.

Tác giả c̣n nói thêm, ”Giá trị tối thắng của người thực tập Thiền định là tạo điều kiện để trí tuệ phát khởi, từ đó chơn tâm được hiển lộ, mà qua tinh thần giáo pháp Tam Vô Lậu Học: Tức là Giới, Định, Huệ.” Do đó tập Thiền mà không giữ Giới th́ đúng là hí luận, tập thở ra hít vào giống như tập Yoga mà thôi.

Trong chương ba mươi bốn, tác giả làm dịu ḷng người khoảng 18 bài thơ, như bài thơ “Sự Sống An Lành”,  trong đó có những đoạn :

Bước chân người qua nhanh.

In ḍng thời gian lạnh.

Trang kinh Hải Triều Âm.

Vô tâm Phật viên thành.

 

Chuông ngân ḷng tỉnh thức.

Đến tận cơi hà sa.

Vô thường hay vô ngă.

Chúng sinh người và ta.

 

Mây trắng vờn đỉnh núi.

Sương hôm quyện cà sa.

Dáng người bên khung cửa.

Khơi dậy ánh trăng tà.

 

Trong chương ba mươi lăm, tác giả gợi lại h́nh ảnh Thầy Thích Tuệ Sĩ nấu bánh chưng cho dân làng với “Cuộc du hành phong tuyết nguyệt, có người thuật lại lời thầy: Đi vậy ḿnh thấy được Phật giáo dân dă thế nào, chứ trước giờ ḿnh chỉ thấy Phật giáo tự viện đó là Phật giáo của nhà giàu, Phật tử giàu đến chùa giàu... Ở Già Lam mười mấy năm chưa từng có người nghèo nàn, bần cùng đến thăm. Bây giờ rất thú vị khi trên đường có cụ già chạy theo cho ổ bánh ḿ không, có thẳng nhỏ kêu cho lon gạo, có thanh niên chở củi cho quá giang đoạn đường đèo.”

Và, “Giữa chốn rừng xanh, Am Thị Ngạn được cất lên, dưới những tàng cây quanh năm che bóng mát. Khoảng giữa của thất là nơi thờ Phật. Từng trên của chiếc bàn nhỏ là tôn tượng đức Bổn Sư. Phía dưới là chiếc bàn h́nh chữ nhật, cặp đèn bạch lạp, chính giữa là lư hương, và dưới sàn nhà là cặp chuông mơ nho nhỏ. Hai bên treo hai câu liễn, do Thầy viết chữ thảo. Phía bên tay trái từ ngoài nh́n vào là chiếc bàn thờ Tổ tiên cũng nho nhỏ, đơn sơ chỉ có cặp đèn cầy tí xíu. Một lư hương cũng tí xíu, chẳng có bông hoa, trà quả. Ngoài hiên thất, trước là vách b́nh phong, chạm chữ Phật trong ṿng tṛn, và chiếc vơng đu đưa bên vài chậu cúc vàng đại đóa. Chừng ấy h́nh ảnh của Thị Ngạn Am đủ cho thấy đời sống của Thầy đơn sơtri túc cỡ nào.”

Chương tiếp theo được dành để nói về “Thơ và Tư Tưởng Triết Học của Tuệ Sĩ” với tập Ước Mơ Trường Sơn sáng tác sau năm 1975 trong đó có những bài :

 

Đá ṃn phơi nẻo tà dương.

Nằm nghe nước lũ khóc chừng cuộc chơi.

Ngàn năm vang một nỗi đời

Gió đưa cuộc lữ lên lời viễn phương.

Rồi:

Ai biết ḿnh tóc trắng

V́ yêu ngọn lửa tàn

Rừng khuya bên bếp lửa

Ngồi đợi gió sang canh"

Và:

Một đêm thôi mắt trầm sâu đáy biển

Hai bàn tay khói phủ tóc tơ xa

Miền đất đó trăng đă gầy vĩnh viễn

Từ vu vơ bên giấc ngủ mơ hồ

Một lần định như sao ngàn đă định

Lại một lần nông nổi vết sa cơ

Trời vẫn vậy vẫn mây chiều gió tỉnh

Vẫn một đời nghe kể chuyện không như

Vẫn sống chết với điêu tàn vờ vĩnh

Để mắt mù nh́n lại cơi không hư

Một lần ngại trước thông già cung kính

Chẳng một lần lầm lỡ không ư?

Ngày mai nhé ta chờ mi một chuyến

Hai bàn tay khói phủ tóc tơ xa.”

(Hoài Niệm –Tuệ Sỹ)

Theo tôi, những vần thơ như thế này th́ không thể b́nh giải được mà chỉ c̣n đọc rồi im lặng mà nghe ḷng thổn thức.

Trong chương tiếp theo, tác giả tiếp tục nói về “Tuệ Sĩ: Thái Độ Của Nhà Sư Nhập Thế” rồi “Tuệ Sĩ: Cơi Thơ và Con Đường Trung Đạo”.

Cuối cùng tác giả ca ngợi Thích Tuệ Sĩ và Thích Trí Siêu (đă hoàn tục) là những thiên tài lỗi lạc của Phật Giáo.

 

Lời Kết :

Đọc tới trang cuối cùng của cuốn sách tôi thở phào nhẹ nhơm v́ cuộc hành h́nh khá dài với tác giả vừa hoàn măn. Đây là một tác phẩm có lúc mang h́nh thức như một cuốn tiểu sử (biography), có lúc như một Phật Giáo sử, xen kẽ là những bài thơ và tiểu luận văn chương…không ngoài mục đích dàn trải tâm t́nh của một nhà tu hành từ thuở ấu thơ, xiển dương giáo lư của Đức Phật và các phương tiện tu chứng. Quư vị nào muốn có sách xin liên lạc :

Chùa Phật Đà

4333 3oth Street

San Diego, CA 92104

Đào Văn B́nh

(California ngày 25/11/2017)

 

 

Source : https://thuvienhoasen.org/a28960/doc-gop-nhat-thoi-gian-cua-thich-nguyen-sieu