THƠ TRUNG THU

 

Quách Tấn

 

 

ết Trung Thu. Là một trong ba ngày Tết lớn của dân tộc Việt Nam. Cảnh trời đă đẹp, tiệc vui lại tưng bừng. Đó là một đề tài thông dụng trong làng ngâm vịnh. Nhưng trong số thơ c̣n truyền, không có bài nào nói lên được cảnh đẹp của hóa công và niềm vui của nhân thế. 

Có một bài tôi được nghe và thuộc từ lúc nhỏ, mà đến bây giờ vẫn c̣n nghe nhiều người đọc nhiều người khen:

 

Năm nay vừa mở tiệc Trung thu

Tài tử giai nhân chẳng thiếu đâu

Cảm cảnh non sông thơ nặng túi

Tấm t́nh trăng gió rượu lưng bầu

Cờ cao đôi nước vui càng bận

Đàn đủ năm cây họa với nhau

Cấp củm không chơi thời cũng thiệt

Cái già lúc thúc nó theo sau.

 

Văn chương thanh nhă, đọc nghe thật êm tai. Song nội dung không có ǵ là Trung thu cả! Được nhiều người khen, nhiều người thuộc là v́ lời thơ không khúc mắt, dể nhớ là v́ trong bài có đủ 4 thứ Cầm, Kỳ, Thi, Tửu mà ai cũng nếm được. Bài nầy thuộc loại thơ “Sáo”. Giá trị tương đương với một bó hoa của các người làm vườn bán cho các bà nội trợ mua về cúng rằm, mồng một.

 

 

 

Mộng Phật Tôn Thất Diệm cũng có một bài được truyền tụng:

Tṛn trặn gương nga vẫn đượm màu

Năm nào năm nấy khác ǵ đâu

Chia đôi tháng tám thu nằm giữa

Hết nửa canh ba nguyệt đứng đầu

Rượu lạt xềnh xoàng năm bảy chén

Thơ rơm chắp nối một vài câu

Trông rằm mất ngủ hiềm đêm vắng

Bóng thỏ chênh chênh gác mái tàu.

 

Đó là loại thơ cử nghiệp. Cặp trạng thích thực rơ đầu đề Trung thu. Nhưng ư nghèo nàn, lợt lạt, không đủ sức quyến rủ ḷng người đọc.

Tôi liên tưởng đến bài Hậu Trung Thu Vọng Nguyệt (xem Trăng Đêm 16 tháng 8) của Đỉnh Trai Nguyễn Quí Tân, phong cách tương tự bài Mộng Phật

 

Hây hẩy kim phong thổi phập ph́

Đêm nay nơ biết cái đêm ǵ

Trời thu chín chục già nưa nửa

Ṿng nguyệt mười phần kém tí ti

Chén rượu giơ cao hơi nhạt nhạt

Ngọn đèn khêu thấp tán ŕ ŕ

Tuy sau nhưng trước sang năm đó

Đó một th́ đây cũng một th́.

 

 Cặp trạng tích thức đầu đề cũng thật giỏi. Nhưng vị thơ trong toàn bài chẳng hơn ǵ vị thơ của tác giả “giơ cao hơi nhạt nhạt”.Bài nầy cũng như hai bài trước, đọc xong không c̣n chút dư âm ! 

Chẳng lẽ đêm Trung thu “năm nào năm nấy khác ǵ đâu” như lời Mộng Phật nói, nên thơ cũng “bài nào bài nấy khác ǵ đâu” ? 

Khác lắm chứ! Có năm nào giống năm nào đâu! Tại quí ngài không đi sâu vào cảnh vật, không đi sâu vào nội tâm đó thôi. Mà cũng không cần đi sâu làm chi, chỉ cần nh́n kỷ một chút cũng thấy ngay những nét khác với những nét thường “lêu bêu trong bầu rượu túi thơ ” của các ông thơ sống một đời sống hời hợt.

Đây chúng ta hăy nh́n Trung thu theo đôi mắt của Trần Tế Xương :

 Tết này tục gọi Tết chơi trăng

Có phải hay chăng hỡi chị Hằng?

Trên cổ ngư ông ngồi chểm chuệ

Ngoài đồng sư tử múa thung thăng

Ơ vui vẻ nhĩ bầy con trẻ

Khéo lẳng lớ chi lũ gái măng

Chẳng lẻ người vui ta chịu tẻ

Cũng chè cũng chén cũng lăng nhăng.

 

- Có ǵ lạ những cảnh “ngư ông ngồi cao đánh chén” “sư tử múa thung thăng ngoài đường”, “trẻ em nhộn nhịp vui đùa”, “gái tơ nhí nha nhí nhảnh”?

- Lạ lắm chứ! Lạ là khác thường, khác ngày thường. Thử nghĩ xem:

Ngư ông sống nghề chài lưới, quanh năm làm ăn nơi sông dài, biển rộng, không mấy khi lai văng nơi đô hội phồn hoa. Thế mà đêm Trung thu thấy họ ngồi chểm chệ nơi tửu điếm trà đ́nh như thế, chẵng lạ lắm sao?

Sư tử vốn ở nơi non cao rừng rậm, gầm một tiếng muôn thú đều run, mà đêm Trung thu lại xuống đường múa thung thăng cho người thưởng thức, như thế chẳng lạ lắm sao?

Trẻ em vui với những ǵ ? Với lồng đèn giấy trăm h́nh ngh́n sắc. Đêm Trung thu đă có trăng tỏ hơn đêm rằm nào hết, mà không “chơi trăng” lại “chơi đèn”, như thế chẳng lạ lắm sao?

Gái măng tức là gái tơ, tức là gái bẻ găy sừng trâu. Đối với con gái lứa tuổi này, thời phong kiến cha mẹ luôn luôn ḱm kẹp, ban đêm ít khi cho ra khỏi nhà. Thế mà đêm trung thu lại kéo từng bầy nhí nha nhí nhảnh ngoài đường, như thế chẳng lạ lắm sao ?

Nhưng những nét độc đáo của bài thơ, những thú vị trong bài thơ, chưa phải do những cảnh khác thường kia gây nên. Đặc điểm của bài thơ là cách bố trí cảnh vật:

Đem sư tử đặt cạnh ngư ông, để ngư ông đối chọi với sư tử. Phép đối chọi th́ “ông” phải đối với “bà”, tức Nam phải đối với Nữ. Ngư ông là nam th́ không nói ai cũng ngầm hiểu là sư tử là bà. Đă biết sư tử múa tung tăng kia thuộc phái nữ th́ đố ai khỏi nghĩ đến giống sư tử đă làm khiếp vía các nhà thơ thường ngâm câu:

 

Khuyên ai chớ sợ trời hơn vợ

Trời ở c̣n xa vợ ở gần.

 

Có ngư ông ngồi chểm chuệ, có sư bà múa tung tăng như thế th́ cái Tết chơi trăng đă được truyền thần bằng phép “tá vân tả nguyệt”(1) và cái thú chơi trăng đă được chị Hằng “chứng minh”.

Cho rằng chưa đủ, ông Tú Vị Xuyên c̣n bồi thêm một cảnh nữa:

Đem trẻ em đặt bên gái măng. Trẻ em chỉ biết chơi đèn. Gái măng dù có muốn bắt chước “sư tử hí cầu dưới nguyệt” cũng đành lẳng lơ để mà lẳng lơ.

Đặt vẻ chất phát thật thà bên cạnh vẻ làm duyên làm dáng, đặt vẻ trong trắng ngây thơ bên vẻ đú đa đú đởn…ông Tú đă tạo nên một bức tranh trào lộng với những nét linh động đơn sơ.

Để xây dựng bài thơ, tác giả dùng câu “Tết này tục gọi tết chơi trăng” để tạo ư, lấy hai chữ “chơi trăng” để quán xuyến cả thiên, rồi lại dùng “ba cái lăng nhăng” của ḿnh để kết thúc (2) Thật rất mực tài t́nh!

Bài thơ phản ảnh phần nào trạng thái xă hội và thái độ của phần đông sĩ phu thời Trần Tế Xương.

Trước thời Trần Tế Xương và từ đời Trần Tế Xương đến hết đời thực dân phong kiến, tết Trung thu tục gọi là “Tết Chơi Trăng” (Trung thu thưởng nguyệt). Nhưng sau ngày cách mạng tháng tám năm 1945 tết Trung thu đổi là tết Nhi đồng. Những cuộc vui chơi hầu hết đều dành cho trẻ em.

Quang cảnh cũng tưng ừng rộn rịp lắm.

Nhưng từ thu 1975 cho đến nay, Tết Nhi đồng không c̣n vẻ Tết nữa. Một vài nơi c̣n tổ chức cuộc rước đèn, múa lân nho nhỏ. Một đôi nhà c̣n sắm lồng đèn cho trẻ em chơi, sắm bánh trái cho người lớn hưởng. C̣n phần lớn chỉ chưa quên tên “trung thu” mà thôi.

Nhà thơ Đông Xuyên có 2 bài Trung Thu Tân Sửu (1961) và Trung Thu Kỷ Mùi (1979):

 

I

Bao nhiêu cờ kéo với đèn treo

Cái Tết Trung thu Tết dễ yêu

Năm có một đêm trăng sáng nhất

Trẻ trong khắp nước bóng thêm nhiều

Sẵn cây bạch lạp trưng vài ngọn

Rốc chén hoàng hoa uống một kèo

Một khắc ngh́n vàng xuân quí giá

À, thu th́ đáng giá bao nhiêu?

(1961)

--

(1) Tá vân tả nguyệt: Mượn mây để tả trăng. Đó là một phép hành văn của người xưa.

(2) Ông Tú có “ba cái lăng nhăng”. Ông đă nói ra rồi. Nói lại sợ bị rầy. Nên ai muốn biết tự t́m lấy

 

II

Trung thu nay gọi Tết Nhi đồng

Đèn cá không mà bánh dẽo không

Ngồi xó bạn già chơi tứ sắc

Ra đường lũ trẻ đá banh lông

Ảnh treo chót vót gương trên cửa

Cờ cắm lưa thưa giấy trước sông

Đă mấy thu rồi suông cổ tết

Ḷng thương con có, túi tiền không.

(1979)

 

Hai bài thơ phản ánh hai giai đoạn của Tết Nhi đồng.

Tứ mới lời tự nhiên. Mới đọc qua th́ dường như tác giả thản nhiên trước cảnh. Nhưng chíp chắp th́ một nỗi buồn, lành lạnh cay cay thấm dần vào ḷng, như khí lạnh trong nắng trưa ở Đà Lạt.

 

 

Phong cách và khí vị thơ Trung thu Đông Xuyên khác hẳn thơ Vị Xuyên. Nhưng về điểm công xảo th́ Đông Xuyên phải nhượng Vị Xuyên

Và sau này, sau trăm năm nữa, khách yêu thơ Hàn luật c̣n t́m thấy bóng dáng của Tết Trung thu trong giai đoạn từ đầu đến cuối thế kỷ thứ XX và ở dưới con mắt của “Đông Vị nhị Xuyên”.

C̣n cảnh đẹp thiên nhiên, nỗi vui buồn của dân tộc, trong những Tết Trung thu đă trải qua từ đời Trần đến nay, không biết có c̣n đọng lại ít nhiều trong những vần thơ khuất lấp?

 

QUÁCH TẤN.

(Trích trong tập Thi Thoại HỨNG PHẤN NÂNG HƯƠNG nxb Hồng Đức 2012)