NGƯỜI HOA Ở SÀI G̉N

Huỳnh Thị Mỹ Nhàn

 

 

Nhà Bè nước chảy chia hai

Ai về Gia Định, Đồng Nai th́ về

Nếu tôi dám liều lĩnh cho rằng ḿnh biết được chút ít về Sàig̣n, từ những tên xóm, tên cầu, tên đường, nhà thờ, nhà chùa, trường học, chuyện nhân vật này, gia đ́nh nọ…, chuyện ngày xưa chút chút, chuyện ngày nay chút chút (ngày nay là khoảng vài năm trước 1970), đó cũng là nhờ báo chí và sau này Internet c̣n nhắc lại, cộng với những tài liệu hoặc vốn sống hiếm, quí do những tay bút từng trải như Vương Hồng Sển, Hoàng Hải Thủy… ghi lại.

Nhưng kiến thức của tôi về Chợ Lớn th́ thật sơ sài, cực kỳ sơ sài.

Mặc dù, ông thầy thuốc Bắc đă chữa trị cho mẹ tôi trong ṿng gần 10 năm trời là ông Miên Kư, có cửa tiệm thuốc Bắc tại Chợ Lớn, mà tôi đă đến vài lần, mỗi lần đều được “hữu nghị” vài quả táo tầu cực ngon. Mặc dù, tôi có bạn gốc Hoa học chung, nhà trong Chợ Lớn, mời tôi đến đôi lần. Mặc dù, tôi có được đi ăn cưới tại nhà hàng Đồng Khánh vài lần, và đă phải chạy xe Honda băng ngang Chợ Lớn để chở ba tôi đến Xóm Củi lấy xe đ̣ đi Long An, nhiều lần.

Bài này là một cố gắng để đền bù vào kiếm khuyết đó, mà cũng là một hoài niệm về một nơi chốn mà nay càng thấy yêu thương, và luyến tiếc.

Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo” … (Bà Huyện Thanh Quan)

 

ĐẠI LỘ GẦN CHỢ LỚN CHỢ LỚN – KÊNH BONNARND 

8-ngc6b0oi-hoa-6.jpgĐúng là luôn luôn trong óc tôi thưở ấu thơ, Chợ Lớn là một phố khách. Người Tầu sống trong đó là những người khách, nhiều người Việt thích gọi họ là “khách trú” hơn “các chú”. Gần sát nách đó, nhưng vẫn là khách. Một thế giới hoàn toàn khác biệt. Những bảng hiệu người Việt đọc không hiểu, cách ăn mặc (áo xẩm, áo xường xám …) khác biệt. Ngôn ngữ khác biệt, nếu họ muốn nói tiếng Tầu với nhau, người Việt không hiểu, nhưng người Việt nói ǵ, phần đông họ hiểu.

Những ngơ ngách trong Sàig̣n thân quen với tôi bao nhiêu, th́ trong Chợ Lớn lại kỳ bí, đáng ngại bấy nhiêu. Có lần đi xe Honda t́m nhà trong vài xóm tại Chợ Lớn, tôi có cảm giác có hàng chục con mắt theo dơi ḿnh ngay từ đầu xóm, dù rằng phần đông đều là những ánh mắt hiền lành, nhưng cảm giác ḿnh là kẻ xa lạ rất rơ rệt. Cảm giác thực của sư “tha hương trên chính quê hương”.

Ngay cả cách thờ phượng cũng khác người Việt. Những bức tượng Quan Công, Châu Xương, Quan B́nh đặt ở đâu là tờ giấy khai nguyên quán của chủ nhà gần như trúng trên 90%. Người Việt ít ai thờ Quan Công lắm, có thể nói là người Việt gốc th́ hoàn toàn không .

Kiến trúc nhà cửa tại Chợ Lớn giống những Phố Tầu trên khắp thế giới nhiều hơn là giống kiến trúc người Việt. Nhất là từ sau khi người Pháp đặt sự cai trị tại Miền Nam, th́ Sài G̣n có nhiều khu nhà kiến trúc theo kiểu thực dân Pháp, dần dần được Việt Nam hóa, phân biệt rạch ṛi hai lối ở khác hẳn nhau.

oOo

“Đất có Thổ Công, sông có Hà Bá”. Giới anh chị Chợ Lớn cũng có trùm riêng cai trị, tên là Mă Thầu Dậu.

oOo

Bây giờ nhớ lại, Chợ Lớn lúc đó là một Chinatown (Phố Tầu) khổng lồ, so với những Chinatown trên thế giới mà tôi đă được ghé thăm như Mă Lai, Singapore, Anh, Pháp, Úc, Mỹ…

Chợ Lớn đă có những trường Tầu, mà vài người bạn Tầu hồi nhỏ trong xóm tôi, phải về đó “du học”. Trường nổi tiếng nhất là trường Bác Ái.

Với nhiều tiệm ăn Trung Hoa, Chợ Lớn đương nhiên là nơi ăn uống rất ngon, và với tài năng buôn bán của cộng đồng Hoa Kiều, cộng với hệ thống mạng lưới kinh doanh chằng chịt trong nước, lẫn Đông Nam Á. Chợ Lớn đương nhiên có những chi phối nhất định trên nền kinh tế cả nước Việt Nam.

Trên lănh vực chính trị, Chợ Lớn hồi đó, nghiễm nhiên được đa số người dân Việt Nam, hiểu ngầm là có những quan hệ sâu xa với Hồng Kông, Đài Loan và Trung Hoa Lục Địa.

oOo

Tại trung tâm Chợ Lớn có nhà thờ Cha Tam, là nơi mà tổng thống Ngô Đ́nh Diệm và em là cố vấn Ngô Đ́nh Nhu đă đến cầu nguyện vào sáng ngày 2/11/1963, trước khi “được” lực lượng quân nhân đảo chánh cho lính “đón” đi, để rồi bị hai sỹ quan tên Nhung và Nghĩa trói quặt tay, và sau đó bị ám sát bằng dao găm và súng trong một chiếc xe thiết giáp, trên đường áp giải hai ông này về Tổng Tham Mưu.

 

diem-nhu-chet-2.jpg

 

Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm và cố vấn Ngô Đ́nh Nhu đă rời khỏi Dinh Độc Lập vào tối ngày hôm trước, và tạm lánh tại nhà một người Việt gốc Hoa, tên là Mă Tuyên. Mă Tuyên là tổng bang trưởng tại Chợ Lớn. Lư do chọn nhà tổng bang trưởng Mă Tuyên để đến, theo lời chứng của ông Cao Xuân Vỹ : “nhà ông Mă Tuyên ở trong Chợ Lớn, phố xá chằng chịt rất khó t́m. Hơn nữa người Tàu rất kín đáo và trung tín

Cho đến nay, không có nguồn tin nào cho biết ai là người đă thông báo chỗ tạm lánh của hai anh em họ Ngô, và có phải là điều ngẫu nhiên, mà quân đội đảo chính đă chờ khi họ đi lễ nhà thờ mới tới “đón” hay không ? Riêng về ông Mă Tuyên, lúc đó, khoảng trên 50, người Triều Châu, làm tổng bang trưởng 10 bang, sau đó 5 ngày cũng bị bắt, bị Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng giam trong 3 năm, tài sản bị tịch thu, đem bán đấu giá, nhưng được người đồng hương Việt gốc Hoa thu mua trả lại.

Lư do “phố xá chằng chịt” đă không thỏa để cứu mạng hai ông, nhưng lư do “người Tàu rất kín đáo” lại có vẻ đúng, v́ ông Mă Tuyên không khai ǵ thêm, và không than van ǵ, mặc dầu sau ngày 30/04/1975, nhà nước Hà Nội lại bắt ông ngay sau khi họ vừa chiếm được miền Nam. Lần đầu là 4 tháng rồi thả và bắt lại sau một thời gian ngắn. Lần bắt sau nầy, ông Mă Tuyên bị giam tới 4 năm tù. Riêng lư do “người Tàu trung tín” th́ lại mờ mịt, v́ có nguồn tin cho rằng tư gia của ông Mă Tuyên là một hang ổ nằm vùng, là Trung Tâm Liên Lạc xưa nay của ông Nhu với MTGPMN (Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam)… Thật khó mà biết phải trung tín với ai, khi ông Mă Tuyên có tới mấy phe nhóm cần trung tín.

oOo

Không rơ 10 bang người Hoa sinh sống tại Chợ Lớn vào giai đoạn ông Mă Tuyên làm tổng bang trưởng, là ǵ, nhưng 5 bang chính gọi là “ngũ bang” gồm Quảng Đông, Tiều (Triều Châu), Hẹ, Hải Nam, và Phước Kiến. Nhiều người Hoa (Tầu) đến từ những tỉnh miền duyên hải phía Nam Trung Hoa (từ sông Dương Tử trở xuống) định cư tại Chợ Lớn. Họ họp nhau, sống chung với nhiều phân khu từng bang hội, tùy theo gốc tích cố hương, vừa vui sống mà vừa dễ sống. Trong giai đoạn phát triển Chợ Lớn, dưới thời Pháp thuộc, họ được người Pháp cho nhiều dễ dăi, thoải mái, điển h́nh là việc xây dựng nhà cửa, phố xá, quy hoạch những khu dân cư, cho phù hợp với lối sống truyền thống của họ, miễn là ḥa nhập vào môi trường địa lư, sinh hoạt mới .

Do đó, những tên hẻm được đặt với những từ cuối như Lư, Hạng, Phường đă được thấy, như hẻm Tuệ Huê Lư (làng Tuệ Huê) ở bên hông hội quán Tuệ Thành của bang Quảng Đông, c̣n sót lại cho đến năm nay (2012), sau nhiều biến cố đổi thay “thương hải biến vi tang điền”. Lư như trong “lư trưởng” có nghĩa tương đương với làng, hoặc thôn. Đó là một quần thể tập hợp khoảng vài chục nóc nhà, họp thành một đơn vị cư trú.

 

8-ngc6b0oi-hoa-2.jpg

 

Hạng như trong câu thơ “Từ Ô Y Hạng rủ rê sang” của nhà thơ Quách Tấn, có thể dịch là xóm, qui tụ khoảng mươi nóc nhà cận kề nhau. Thường ra, một ông đại gia nào đó, mua một khoảng đất lớn sát một con lộ lớn. Trên miếng đất đó ông ta cho xây ngoài mặt tiền những cửa hàng xoay cửa chính ra ngoài lộ. Giữa những cửa hàng đó, có một con hẻm dẫn vào một khu xóm nhỏ, được lập ở phần sau khu đất, khoảng 7-8 căn nhà, cho họ hàng, con cháu của chủ nhân ở. Đầu con hẻm thường đắp chữ nổi, hay có bảng gỗ nói lên nơi chốn cố hương của chủ nhân, chẳng hạn “Thái Hồ Hạng”, “Xóm Thái Hồ”  v́ quê cũ của ông ta ở Hàng Châu.

C̣n Phường lại là nơi qui tụ những người cùng chung một nghề với nhau. Thường là một hẻm cụt, gồm vài chục căn nhà mà những người làm cùng nghề, hoặc chung một ông chủ, chung tiền ra mua, hoặc được chủ cho ở. Thí dụ như hẻm “Hào Sỹ Phường” là nơi có 34 căn nhà của những công nhân làm nghề chế tạo xà pḥng (xà bông), chà gạo cho một ông tên là Hào Sỹ.

 

oOo

 

Phố Tầu tại Nhật không nằm ngay thủ đô Edo (Tokyo), mà  nằm tại thị trấn cảng Yokohama. Phố Tàu tại Pháp nằm tại quận số 13, bao bởi 3 con đường rue de Tolbiac, avenue de Choisy và boulevard Masséna. Cả hai khu Phố Tầu này không lớn, không được nằm ở khu trung tâm thành phố, nhưng cũng như hầu hết mọi khu Phố Tầu nào khác trên thế giới, đều phải có một cái đền, mà nhiều người gọi là chùa Tầu. Thiếu đền Tầu, chùa Tầu th́ không thể gọi là Phố Tầu.

Đương nhiên là Phố Tầu lớn hạng nhất trên thế giới như tầm cỡ Chợ Lớn phải có một cái đền, đó là Đ́nh Minh Hương. Chữ “hương” mới đầu viết Hán tự theo nghĩa là “hương hỏa” tức “cúng kiếng”, sau viết theo nghĩa “làng” từ năm 1827.

Đền này với cái tên không, cũng đủ cho thấy sự khác biệt với các đền Phố Tầu khác. Đ́nh chứ không phải là đền. Đ́nh trong văn hóa Việt Nam là đơn vị quan trọng dính liền với làng. Đ́nh Minh Hương được dựng cho làng Minh Hương, chứ không phải cho một phố buôn bán, như những Phố Tầu mà ta thấy tại khắp nơi trên thế giới.

Người Tầu qua Chợ Lớn (Việt Nam) sinh sống không phải v́ sinh kế như tại Úc, hoặc Mỹ (phong trào đổ xô kiếm vàng), hay v́ lư do thương mại như tại Nhật… Họ qua v́ lư do chính trị (như họ đến Canada, Vancouver sau này, khi Hương Cảng phải trả lại cho Trung Hoa Lục Địa). Chợ Lớn đă được xây dựng bởi những con người tỵ nạn chính trị. Minh Hương có nghĩa là những người dân Tầu đi theo những di thần – di tướng, dưới triều Minh (1368-1644), v́ không chấp nhận nhà Thanh chiếm nước họ (1662), nên đă phải bỏ qua Việt Nam, sau cái chết của vua Vĩnh Lịch Chu Do Lang.

Qua tới Việt Nam, bất kể nguồn gốc cố hương, Quảng Đông, Hải Nam, Triều Châu, Hẹ, hay Phước Kiến…, nói phương ngữ khác nhau, các di dân nhà Minh cũng quây quần sống chung với nhau, tổ chức thành làng xă, theo kiểu Việt Nam, và  cũng xây cái đ́nh như người Việt Nam. Trong đ́nh, thay v́ họ thờ Phật, Thánh hay Quan Công như mọi Đền Tầu nơi khác, mà thờ Thành Hoàng, các bậc tiên hiền, hậu chủ, và các danh nhân gốc Minh Hương, như vị vơ tướng Trần Thượng Xuyên, một trong những di tướng nhà Minh, sau thành doanh nhân, khai phá Cù Lao Phố. Hay một ông tướng học tṛ của Vơ Trường Toản, mà ông nội đă có mặt trong nhóm 3000 người tỵ nạn tại Đàng Trong, tên là Trịnh Hoài Đức (1765-1825), người đă có công lớn pḥ tá vua Gia Long, Trịnh Hoài Đức lại là tác giả những bộ sách địa dư chí nói về vùng đất Gia Định (sáng tác  bộ Gia Định Thành Thông Chí, đồng sáng tác Gia Định Tam Gia Thi). Nhưng đặc biệt nhất là Đ́nh Minh Hương có thờ một ông tướng Việt Nam, đó là Thống Suất Nguyễn Hữu Cảnh.

 

8-ngc6b0oi-hoa-5.jpg

 

oOo

 

Trong tuần đầu năm 2012, nhân một buổi ăn giỗ đầu thân phụ một người bạn, tôi và một anh bạn thân lan man trà đàm, sao mà lại nhắc đến nguồn gốc của sự thành lập Chợ Lớn.

Anh bạn tôi, cho là Chợ Lớn do người Pháp thành lập. Riêng tôi, tôi lại cho là Chợ Lớn do các di thần, di dân nhà Minh thành lập, và chính xác nhất là nhóm đi theo ông Trần Thượng Xuyên là những cư dân đầu tiên đă định cư một cách có tổ chức tại đó, và có thể chính là do nhu cầu thương măi hay di dân từ biển qua ngả sông Sài G̣n, đi vào Đồng Nai  mà ra. Cộng thêm nhu cầu liên lạc giữa hai nhóm Minh Hương : Nhóm ông Trần Thượng Xuyên và nhóm đi cùng ông Dương Ngạn Địch về Mỹ Tho.

Tôi có hứa là sẽ t́m hiểu lại, và đưa ra những bằng chứng, theo thiển ư, đủ ủng hộ cho giả thuyết này. Việc này buộc phải lùi lại quá khứ tới trên 320 năm, và xa hơn nữa.

 

oOo

 

Sách Đại Nam thực lục Tiền biên chép :

Kỷ Mùi (1679), mùa xuân tháng giêng, tướng cũ nhà Minh là Long Môn tổng binh Dương Ngạn Địch và phó tướng Hoàng Tiến cùng Cao Lôi Liêm tổng binh Trần Thượng Xuyên và phó tướng Trần An B́nh, đem hơn 3000 quân và hơn 50 chiến thuyền đến các cửa biển Tư Dung (Thuận An) và Đà Nẵng, tự trần là bồ thần (bề tôi mất nước, trốn ra nước ngoài) nhà Minh, không chịu làm tôi tớ nhà Thanh, nên đến xin để làm tôi tớ.

Bấy giờ bàn bạc rằng phong tục, tiếng nói của họ đều khác nhau, khó bề sai đúng, nhưng họ bị thế cùng bức bách đến đây th́ không nỡ cự tuyệt. Nay đất Đông phố nước Chân Lạp ph́ nhiêu ngh́n dặm, triều đ́nh chưa rỗi mà kinh lư, chi bằng lấy sức của họ đến khai khẩn để ở, làm một việc mà lợi ba điều. Chúa (Nguyễn Phúc Tần) theo lời bàn, bèn sai đặt yến ủy lạo khen thưởng, trao cho quan chức đến ở đất Đông Phố.

oOo

 

Vào năm đó (1679), nhà Nguyễn có một trại lính đóng tại vùng đất Gia Định, gọi là đồn dinh. Lư do tại sao và trong hoàn cảnh nào có cái đồn dinh đó?

Theo một số sử gia người Pháp và được một số tác giả VN trích lại, vùng đất này, vào khoảng thế kỷ thứ 5 đă có người ở, và thuộc lănh thổ của hai tiểu quốc nằm sát nhau tên là Thù Nai và Ba Lị. Nhưng không lâu sau, hai nước này lại bị vương quốc Phù Nam (Funam) xâm chiếm. Đến khoảng thế kỷ thứ 6, đến phiên Phù Nam lại bị một vương quốc mới tên là Chân Lạp (Tchen-la) tiêu diệt.

Theo họ (G. Maspéro, M. Pelliot), những sách biên niên sử thời nhà Đường bên Tầu, có ghi chép vào sau thời Chen-long (705-706), Chân Lạp gồm có hai vùng, một vùng trũng ủng là Thủy Chân Lạp (Tchen-la d’eau=Vyadhapura=Ankor Bórei), và một vùng khô là Lục Chân Lạp (Tchen-la de terre=Cambhupura=Sambór).

Miền đất sau này có tên Gia Định thuộc về Thủy Chân Lạp, người Việt gọi là Đàng Thổ. Vào thế kỷ thứ 14, nước Chân Lạp bị nước Mă Lai xâm lăng, chịu thần phục nước nầy. Sau đó lại bị Xiêm La thống trị. Chiến tranh xẩy ra khi Chân Lạp vùng dậy làm lănh thổ bất an, nhất là vùng biên giới Xiêm – Chân Lạp.
 

Nhiều người dân sinh sống vùng Lục Chân Lạp như Mă, Chàm, Việt, Chân Lạp, cùng lính đào ngũ chạy loạn, một số chạy xuống vùng trũng Thủy Chân Lạp để được an toàn. Vùng này trở nên một vùng đất “đa văn hóa”, dân tương đối mạnh ai nấy sống trong “ḥa nhi bất đồng”.

Trong lúc đó, thế lực trung ương tại triều đ́nh Chân Lạp không đủ mạnh, lại thêm hoàng gia chia rẽ liên miên giữa các phe thân Xiêm, Lào hay Việt.

Năm sáu năm trước khi vụ Dương Ngạn Địch xin tỵ nạn, tức1673-1674, hai phe quyền lực chính trị đă nổ ra cuộc tranh chấp quyền lực: một bên là hai anh em Nặc Đài và Nặc Thu (Ang Ji và Ang Sur), bên kia là hai bác cháu Nặc Tân và Nặc Nộn (Ang Tan và Ang Nan). Phe Nặc Tân – Nặc Nộn (sử Việt viết là Nặc Ông Chân, Nặc Ông Nộn) cầu cứu chúa Hiền (Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần, chữ Hán: 阮福瀕, 1620 – 1687).

Triều đ́nh Đàng Trong cho 3000 quân qua giúp Nặc Ông Nộn để bảo vệ vùng Đồng Nai, đánh thắng quân Miên tại Mỗi Xuy (Mô Xoài), bắt Nặc Ông Chân về giam tại Quảng B́nh, sau đó tha ra. Đến năm 1674, Nặc Ông Chân chết. Năm 1677, Nặc (Ông) Đài thua chạy, bị đồng bọn giết.  Chúa Hiền đề nghị một giải pháp ngoại giao có ảnh hưởng tối quan trọng cho sau này. Ông phong cho Nặc (Ông) Thu làm chính vương, đóng đô tại Udong (Long Úc, Nam Vang), và Nặc Ông Nộn đóng đô tại Prei Nokor (Sài Côn phiên âm tức Sài G̣n sau này).

 

oOo

 

Cho đến đây th́ cái nút kết “lư do quân đội nhà Nguyễn có một đồn dinh” tại cái phần đất gọi là Đông Phố đă bắt đầu được nới lỏng. Nhưng vẫn chưa mở được.  V́ cái nút thật sự nằm ẩn trong cái nút chính là “tại sao người Chân Lạp lại nhờ người Việt vào giải quyết chuyện của nước họ ?

Muốn mở, một cách khách quan, ta lại phải lần t́m qua tới xứ Chân Lạp (Khmers-Kampouchea-Krom), hiện nay xem người ta nghĩ thế nào.

 

oOo

 

Trang báo mạng “The Specific Expansion of Viet Nam” (http://khmerkrom.org/node/11) cho biết, lư do người Việt có được Miền Nam, chính là do cái bẫy “mỹ nhân kế” tương tự như thời vua Chàm Chế Mân vào năm 1307. Họ cho rằng vào năm 1620, Chúa Nguyen Hi Tong (tức Chúa Sải hay Sải Vương Nguyễn Phúc Nguyên,1613-1635) đă “đưa” cô con gái “quí hiếm, lạ” (họ dùng chữ exotic)  là Công Chúa Ngọc Vạn cho  vua Chân Lạp Chey Chetha II  (1618-1628) làm vợ, nhằm đổi lại vài “đặc quyền, đặc lợi, đặc ân” sau :

Vào năm 1623, Chúa Nguyễn xin triều đ́nh Chân Lạp tại Udong (Nam Vang) cho phép người dân Việt buôn bán tại vùng Morea (tức Bà Rịa) và Prei Nokor (tức Sài G̣n), và được mở trạm thâu thuế.

Sau đó, triều đ́nh Huế, lại khôn khéo dùng mẹo đưa quân lính vào, dưới chiêu bài t́nh nguyện giúp cơ quan triều đ́nh Chân Lạp giữ an ninh cho khu vực.  Một vài tài liệu sử (không đưa rơ) của người Khờ Me (Khmer tức bao gồm Chân Lạp …) cho biết, lúc đầu triều đ́nh Huế chỉ yêu cầu sử dụng một vài khu vực tại Prei Nokor (Sài G̣n) tập luyện quân sự cho cuộc chiến chống lại người Trung Hoa, và sẽ trả lại cho triều đ́nh Chân Lạp trong ṿng 5 năm. Nhưng vào năm 1628, khi vua Chey Chetha II từ trần, những vùng đất Prei Nokor, Morea, Do Nai, và Toul Ta Mauk đă có nhiều quân dân Việt đến ở.

Sau đó dần dần thuộc quyền kiểm soát của Chúa Nguyễn : Kampong Srakartrey (Biên Ḥa) vào năm 1651; Prah Suakea hay Morea (Bà Rịa) vào năm 1651; Kampong Kou (Long An) vào năm 1669; Tuol Ta Mauk vào năm 1696; và  Kampong Krabey Prei Nokor (Sài G̣n) vào năm 1696.

 

oOo

 

Một lối nh́n khác, theo sử Việt Nam, vấn đề phức tạp hơn, và vua Chey Chetha II muốn cầu thân với Chúa Sải là v́ muốn nhờ người Việt Nam ủng hộ để đối đầu với quân Xiêm (tức Thái Lan sau này). Nhờ sự liên minh với quân đội Việt Nam mà quân Chân Lạp đă đánh thắng quân Xiêm hai trận, vào hai năm 1621 và 1623.

Sau đó vua Chân Lạp cho dời đô từ Lovet về Oudong (tức Nam Vang ngày nay).

Năm 1622, quân Xiêm cho 2 đạo quân đánh vào Oudong đều thất bại. Triều đ́nh Xiêm Ayutthaya mang chiến thuyền đánh, nhưng vẫn thất bại. Đó là do công của sự liên minh với Chúa Nguyễn.
 

V́ muốn tỏ ḷng ghi ơn, và muốn củng cố thêm t́nh liên minh, vua Chey Chetha II cũng muốn nói lên ḷng yêu mến công chúa Ngọc Vạn, và cảm ơn Chúa Nguyễn, nên vua Chân Lạp (hay vua Miên) chấp thuận cho người Việt khẩn hoang vùng Đồng Nai, và Mô Xoài …

 

oOo

 

Tóm lại, vào mùa xuân năm 1679, tức là năm mà các tướng quân thuộc lực lượng “Kháng Thanh Phục Minh” của Trịnh Thành Công (Hán tự Giản thể:郑成功, Phồn thể: 鄭成功, bính âm: Zhèng Chénggōng) trước đây, từ Trung Hoa mang  3000 di thần, di dân nhà Minh di tản trên 50-60 chiến thuyền tới các cửa tại Thuận An,  Đà Nẵng xin tị nạn, th́ ông phó vương Miên trấn thủ vùng Thủy Chân Lạp là Nặc Ông Nộn, đang có kinh thành tại Prei Nokor (Sài G̣n), lại là con ruột của công chúa Ngọc Vạn, và là anh em họ với Chúa Hiền (cháu gọi Sải Vương là ông nội).

Chúa Hiền liền viết thư cho Nặc Ông Nộn, yêu cầu Nặc Ông Nộn chia cấp đất cho 3000 di dân Minh Hương làm ăn sinh sống quanh vùng Prei Nokor, nhân thể trở thành lực lượng bảo vệ cho triều đ́nh phó vương Chân Lạp lai Việt này. Phó vương Nặc Ông Nộn đồng ư.

Có lẽ, Chúa Hiền lúc đó đang ngần ngại về việc phải đưa quân đi xa mang tiếng. “Ngặt cái, nếu không đỡ đần người anh em họ, th́ chắc Nặc Ông Nộn sẽ khó mà trụ lâu. Nay nhân gặp chuyện khó xử, chuyển xui thành hên, phân nhóm 3000 người tỵ nạn ra làm hai, cho họ tới khai khẩn đất, tự sống, không tốn tiền ai cả”. Hơn nữa, với vơ công đă có, hai nhóm người này dư sức tự bảo vệ, và bảo vệ cho cả triều đ́nh phó vương Nặc Ông Nộn.


Nhưng, có lẽ Chúa Hiền cũng ngại, nếu cho họp hết 3000 người vào một nơi, họ có thể tạo thành thế lực lớn, gây nguy hiểm cho phó vương. Do đó, giải pháp tốt đẹp nhất là phân ra làm hai nhóm, cho người hướng dẫn đưa họ tới hai miền đă có người Việt sinh sống, hơi xa khu triều đ́nh tại Prei Nokor, tránh được nguy cơ chính trị, nhưng lại là hai cửa chắn tầm mức chiến lược quân sự quan trọng để bảo vệ Đàng Thổ. C̣n những  toan tính “xâm thực” dần dần, có thể có hay không, trong ḷng Chúa Hiền, và các đại quan người Việt…, lại là một chuyện khác, thật khó có bằng cớ để luận bàn những “toan tính lịch sử”.

Như vậy, coi như đă sáng tỏ việc tại sao, viên cựu tổng binh nhà Minh ở thành Long Môn, Quảng Tây, Dương Ngạn Địch (楊彥迪,-1688), đă được phép triều đ́nh Huế đem thuyền chở người đến vùng đất Peam Mesar (Mỹ Tho) tiến vào cửa Lồi Lạp, theo cửa Đại, cửa Tiểu, qua Xoài Rạp để khai khẩn, sinh sống. và viên cựu tổng binh ba châu Cao, Lôi, Liêm, Quảng Đông, Trần Thượng Xuyên ((陳上川, 1655–1720))  đem thuyền chở người vào cửa Cần Giờ, đến ở vùng Kâmpéâp Srêkatrey (Biên Ḥa) định cư tại Bàn Lân.

Ba ngàn người Minh Hương, coi như những người “Việt vừa nhập tịch”, đă được triều đ́nh Chân Lạp, đại diện là một vị Phó Vương, đầu tiên chính thức cấp đất, làm chủ tại Miền Nam.

Trong tuần đầu năm 2012, nhân một buổi ăn giỗ đầu thân phụ một người bạn, tôi và một anh bạn thân lan man trà đàm, sao mà lại nhắc đến nguồn gốc của sự thành lập Chợ Lớn.

Anh bạn tôi, cho là Chợ Lớn do người Pháp thành lập. Riêng tôi, tôi lại cho là Chợ Lớn do các di thần, di dân nhà Minh thành lập,
và chính xác nhất là nhóm đi theo ông Trần Thượng Xuyên là những cư dân đầu tiên đă định cư một cách có tổ chức tại đó, và có thể chính là do nhu cầu thương măi hay di dân từ biển qua ngả sông Sài G̣n, đi vào Đồng Nai  mà ra. Cộng thêm nhu cầu liên lạc giữa hai nhóm Minh Hương : Nhóm ông Trần Thượng Xuyên và nhóm đi cùng ông Dương Ngạn Địch về Mỹ Tho.

Tôi có hứa là sẽ t́m hiểu lại, và đưa ra những bằng chứng, theo thiển ư, đủ ủng hộ cho giả thuyết này. Việc này buộc phải lùi lại quá khứ tới trên 320 năm, và xa hơn nữa.

 

oOo

 

Sách Đại Nam thực lục Tiền biên chép :

Kỷ Mùi (1679), mùa xuân tháng giêng, tướng cũ nhà Minh là Long Môn tổng binh Dương Ngạn Địch và phó tướng Hoàng Tiến cùng Cao Lôi Liêm tổng binh Trần Thượng Xuyên và phó tướng Trần An B́nh, đem hơn 3000 quân và hơn 50 chiến thuyền đến các cửa biển Tư Dung (Thuận An) và Đà Nẵng, tự trần là bồ thần (bề tôi mất nước, trốn ra nước ngoài) nhà Minh, không chịu làm tôi tớ nhà Thanh, nên đến xin để làm tôi tớ.

Bấy giờ bàn bạc rằng phong tục, tiếng nói của họ đều khác nhau, khó bề sai đúng, nhưng họ bị thế cùng bức bách đến đây th́ không nỡ cự tuyệt. Nay đất Đông phố nước Chân Lạp ph́ nhiêu ngh́n dặm, triều đ́nh chưa rỗi mà kinh lư, chi bằng lấy sức của họ đến khai khẩn để ở, làm một việc mà lợi ba điều. Chúa (Nguyễn Phúc Tần) theo lời bàn, bèn sai đặt yến ủy lạo khen thưởng, trao cho quan chức đến ở đất Đông Phố.

 

oOo

 

Vào năm đó (1679), nhà Nguyễn có một trại lính đóng tại vùng đất Gia Định, gọi là đồn dinh. Lư do tại sao và trong hoàn cảnh nào có cái đồn dinh đó?

Theo một số sử gia người Pháp và được một số tác giả VN trích lại, vùng đất này, vào khoảng thế kỷ thứ 5 đă có người ở, và thuộc lănh thổ của hai tiểu quốc nằm sát nhau tên là Thù Nai và Ba Lị. Nhưng không lâu sau, hai nước này lại bị vương quốc Phù Nam (Funam) xâm chiếm. Đến khoảng thế kỷ thứ 6, đến phiên Phù Nam lại bị một vương quốc mới tên là Chân Lạp (Tchen-la) tiêu diệt.

Theo họ (G. Maspéro, M. Pelliot), những sách biên niên sử thời nhà Đường bên Tầu, có ghi chép vào sau thời Chen-long (705-706), Chân Lạp gồm có hai vùng, một vùng trũng ủng là Thủy Chân Lạp (Tchen-la d’eau=Vyadhapura=Ankor Bórei), và một vùng khô là Lục Chân Lạp (Tchen-la de terre=Cambhupura=Sambór).

Miền đất sau này có tên Gia Định thuộc về Thủy Chân Lạp, người Việt gọi là Đàng Thổ. Vào thế kỷ thứ 14, nước Chân Lạp bị nước Mă Lai xâm lăng, chịu thần phục nước nầy. Sau đó lại bị Xiêm La thống trị. Chiến tranh xẩy ra khi Chân Lạp vùng dậy làm lănh thổ bất an, nhất là vùng biên giới Xiêm – Chân Lạp.  

Nhiều người dân sinh sống vùng Lục Chân Lạp như Mă, Chàm, Việt, Chân Lạp, cùng lính đào ngũ chạy loạn, một số chạy xuống vùng trũng Thủy Chân Lạp để được an toàn. Vùng này trở nên một vùng đất “đa văn hóa”, dân tương đối mạnh ai nấy sống trong “ḥa nhi bất đồng”.

Trong lúc đó, thế lực trung ương tại triều đ́nh Chân Lạp không đủ mạnh, lại thêm hoàng gia chia rẽ liên miên giữa các phe thân Xiêm, Lào hay Việt.

Năm sáu năm trước khi vụ Dương Ngạn Địch xin tỵ nạn, tức1673-1674, hai phe quyền lực chính trị đă nổ ra cuộc tranh chấp quyền lực: một bên là hai anh em Nặc Đài và Nặc Thu (Ang Ji và Ang Sur), bên kia là hai bác cháu Nặc Tân và Nặc Nộn (Ang Tan và Ang Nan). Phe Nặc Tân – Nặc Nộn (sử Việt viết là Nặc Ông Chân, Nặc Ông Nộn) cầu cứu chúa Hiền (Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần, chữ Hán: 阮福瀕, 1620 – 1687).

Triều đ́nh Đàng Trong cho 3000 quân qua giúp Nặc Ông Nộn để bảo vệ vùng Đồng Nai, đánh thắng quân Miên tại Mỗi Xuy (Mô Xoài), bắt Nặc Ông Chân về giam tại Quảng B́nh, sau đó tha ra. Đến năm 1674, Nặc Ông Chân chết. Năm 1677, Nặc (Ông) Đài thua chạy, bị đồng bọn giết.  Chúa Hiền đề nghị một giải pháp ngoại giao có ảnh hưởng tối quan trọng cho sau này. Ông phong cho Nặc (Ông) Thu làm chính vương, đóng đô tại Udong (Long Úc, Nam Vang), và Nặc Ông Nộn đóng đô tại Prei Nokor (Sài Côn phiên âm tức Sài G̣n sau này).

 

oOo

 

Cho đến đây th́ cái nút kết “lư do quân đội nhà Nguyễn có một đồn dinh” tại cái phần đất gọi là Đông Phố đă bắt đầu được nới lỏng. Nhưng vẫn chưa mở được.  V́ cái nút thật sự nằm ẩn trong cái nút chính là “tại sao người Chân Lạp lại nhờ người Việt vào giải quyết chuyện của nước họ ?

Muốn mở, một cách khách quan, ta lại phải lần t́m qua tới xứ Chân Lạp (Khmers-Kampouchea-Krom), hiện nay xem người ta nghĩ thế nào.

 

oOo

 

Trang báo mạng “The Specific Expansion of Viet Nam” (http://khmerkrom.org/node/11) cho biết, lư do người Việt có được Miền Nam, chính là do cái bẫy “mỹ nhân kế” tương tự như thời vua Chàm Chế Mân vào năm 1307. Họ cho rằng vào năm 1620, Chúa Nguyen Hi Tong (tức Chúa Sải hay Sải Vương Nguyễn Phúc Nguyên,1613-1635) đă “đưa” cô con gái “quí hiếm, lạ” (họ dùng chữ exotic)  là Công Chúa Ngọc Vạn cho  vua Chân Lạp Chey Chetha II  (1618-1628) làm vợ, nhằm đổi lại vài “đặc quyền, đặc lợi, đặc ân” sau :

Vào năm 1623, Chúa Nguyễn xin triều đ́nh Chân Lạp tại Udong (Nam Vang) cho phép người dân Việt buôn bán tại vùng Morea (tức Bà Rịa) và Prei Nokor (tức Sài G̣n), và được mở trạm thâu thuế.

Sau đó, triều đ́nh Huế, lại khôn khéo dùng mẹo đưa quân lính vào, dưới chiêu bài t́nh nguyện giúp cơ quan triều đ́nh Chân Lạp giữ an ninh cho khu vực.  Một vài tài liệu sử (không đưa rơ) của người Khờ Me (Khmer tức bao gồm Chân Lạp …) cho biết, lúc đầu triều đ́nh Huế chỉ yêu cầu sử dụng một vài khu vực tại Prei Nokor (Sài G̣n) tập luyện quân sự cho cuộc chiến chống lại người Trung Hoa, và sẽ trả lại cho triều đ́nh Chân Lạp trong ṿng 5 năm. Nhưng vào năm 1628, khi vua Chey Chetha II từ trần, những vùng đất Prei Nokor, Morea, Do Nai, và Toul Ta Mauk đă có nhiều quân dân Việt đến ở.

Sau đó dần dần thuộc quyền kiểm soát của Chúa Nguyễn : Kampong Srakartrey (Biên Ḥa) vào năm 1651; Prah Suakea hay Morea (Bà Rịa) vào năm 1651; Kampong Kou (Long An) vào năm 1669; Tuol Ta Mauk vào năm 1696; và  Kampong Krabey Prei Nokor (Sài G̣n) vào năm 1696.

 

oOo

 

Một lối nh́n khác, theo sử Việt Nam, vấn đề phức tạp hơn, và vua Chey Chetha II muốn cầu thân với Chúa Sải là v́ muốn nhờ người Việt Nam ủng hộ để đối đầu với quân Xiêm (tức Thái Lan sau này). Nhờ sự liên minh với quân đội Việt Nam mà quân Chân Lạp đă đánh thắng quân Xiêm hai trận, vào hai năm 1621 và 1623.

Sau đó vua Chân Lạp cho dời đô từ Lovet về Oudong (tức Nam Vang ngày nay).

Năm 1622, quân Xiêm cho 2 đạo quân đánh vào Oudong đều thất bại. Triều đ́nh Xiêm Ayutthaya mang chiến thuyền đánh, nhưng vẫn thất bại. Đó là do công của sự liên minh với Chúa Nguyễn.

V́ muốn tỏ ḷng ghi ơn, và muốn củng cố thêm t́nh liên minh, vua Chey Chetha II cũng muốn nói lên ḷng yêu mến công chúa Ngọc Vạn, và cảm ơn Chúa Nguyễn, nên vua Chân Lạp (hay vua Miên) chấp thuận cho người Việt khẩn hoang vùng Đồng Nai, và Mô Xoài …

 

oOo

 

Tóm lại, vào mùa xuân năm 1679, tức là năm mà các tướng quân thuộc lực lượng “Kháng Thanh Phục Minh” của Trịnh Thành Công (Hán tự Giản thể:郑成功, Phồn thể: 鄭成功, bính âm: Zhèng Chénggōng) trước đây, từ Trung Hoa mang  3000 di thần, di dân nhà Minh di tản trên 50-60 chiến thuyền tới các cửa tại Thuận An,  Đà Nẵng xin tị nạn, th́ ông phó vương Miên trấn thủ vùng Thủy Chân Lạp là Nặc Ông Nộn, đang có kinh thành tại Prei Nokor (Sài G̣n), lại là con ruột của công chúa Ngọc Vạn, và là anh em họ với Chúa Hiền (cháu gọi Sải Vương là ông nội).

Chúa Hiền liền viết thư cho Nặc Ông Nộn, yêu cầu Nặc Ông Nộn chia cấp đất cho 3000 di dân Minh Hương làm ăn sinh sống quanh vùng Prei Nokor, nhân thể trở thành lực lượng bảo vệ cho triều đ́nh phó vương Chân Lạp lai Việt này. Phó vương Nặc Ông Nộn đồng ư.

Có lẽ, Chúa Hiền lúc đó đang ngần ngại về việc phải đưa quân đi xa mang tiếng. “Ngặt cái, nếu không đỡ đần người anh em họ, th́ chắc Nặc Ông Nộn sẽ khó mà trụ lâu. Nay nhân gặp chuyện khó xử, chuyển xui thành hên, phân nhóm 3000 người tỵ nạn ra làm hai, cho họ tới khai khẩn đất, tự sống, không tốn tiền ai cả”. Hơn nữa, với vơ công đă có, hai nhóm người này dư sức tự bảo vệ, và bảo vệ cho cả triều đ́nh phó vương Nặc Ông Nộn.

Nhưng, có lẽ Chúa Hiền cũng ngại, nếu cho họp hết 3000 người vào một nơi, họ có thể tạo thành thế lực lớn, gây nguy hiểm cho phó vương. Do đó, giải pháp tốt đẹp nhất là phân ra làm hai nhóm, cho người hướng dẫn đưa họ tới hai miền đă có người Việt sinh sống, hơi xa khu triều đ́nh tại Prei Nokor, tránh được nguy cơ chính trị, nhưng lại là hai cửa chắn tầm mức chiến lược quân sự quan trọng để bảo vệ Đàng Thổ. C̣n những  toan tính “xâm thực” dần dần, có thể có hay không, trong ḷng Chúa Hiền, và các đại quan người Việt…, lại là một chuyện khác, thật khó có bằng cớ để luận bàn những “toan tính lịch sử”.

Như vậy, coi như đă sáng tỏ việc tại sao, viên cựu tổng binh nhà Minh ở thành Long Môn, Quảng Tây, Dương Ngạn Địch (楊彥迪,-1688), đă được phép triều đ́nh Huế đem thuyền chở người đến vùng đất Peam Mesar (Mỹ Tho) tiến vào cửa Lồi Lạp, theo cửa Đại, cửa Tiểu, qua Xoài Rạp để khai khẩn, sinh sống. và viên cựu tổng binh ba châu Cao, Lôi, Liêm, Quảng Đông, Trần Thượng Xuyên ((陳上川, 1655–1720))  đem thuyền chở người vào cửa Cần Giờ, đến ở vùng Kâmpéâp Srêkatrey (Biên Ḥa) định cư tại Bàn Lân.

Ba ngàn người Minh Hương, coi như những người “Việt vừa nhập tịch”, đă được triều đ́nh Chân Lạp, đại diện là một vị Phó Vương, đầu tiên chính thức cấp đất, làm chủ tại Miền Nam.

 

8-ngc6b0c6a1i-hoa-11.jpg

 

Khác với đoàn thuyền của cựu tổng binh Zhèng Chénggong (hay Yang Andi  hay Dương Ngạn Địch) đi tới một nơi không có đồn lũy của nhà Nguyễn được ghi rơ lại trong sử (dù rằng người Việt đă tới sinh sống tại đây từ trước, do đó triều đ́nh Huế mới chỉ định chỗ đến). Đoàn thuyền của cựu tổng binh Chen Shang Chuan (Trần Thượng Xuyên) đi qua cửa Cần Giờ, vào đến Bến Nghé, không thể nào không tiếp xúc với người Việt đang sinh sống ở đó, nơi có hai cơ sở hành chánh là hai trạm thu thuế đă được Chúa Sải lập từ năm 1623, một ở  Bến Nghé (Quận I, hồi đó có tên là Kas Krabei, sau là Bến Nghé), và một ở Phiên Trấn (Quận 5, hồi đó có tên là Prei Nokor, sau là Sài G̣n rồi Chợ Lớn). Người Việt sống tại đây được một đồn dinh bảo vệ, được lập cùng năm, tên là đồn binh Tân Mỹ, gần chợ Thái B́nh ngày nay. (Có thể ví bậy như trại lính Mỹ tại Okinawa chăng ?). Khu vực giữa Kas Krobei và Prei Nokor là nơi các thương nhân Việt Nam sinh sống, khi họ đi làm ăn với các nước Xiêm, Chân Lạp…

Mười chín năm sau đó, tức vào năm 1698, ngay tại vùng Phiên Trấn này, đă thấy h́nh thành làng Minh Hương đầu tiên tại Việt Nam.

 

oOo

 

Đến đây, ta có thể đặt ra câu hỏi : “Tại sao làng Minh Hương đầu tiên không được thành lập tại Cù Lao Phố (Biên Ḥa), một nơi cưc kỳ phồn hoa đô hội, hay vùng Mỹ Tho là nơi dân Minh Hương đang canh tác, và phát triển nông công ngư nghiệp ?”.

 

8-ngc6b0c6a1i-hoa-13.jpg

 

Câu trả lời có thể,  đây là đầu cầu liên lạc chính thức giữa những người Minh Hương và người Việt. Đó là nơi mà người Minh Hương đă gặp quan Chưởng Cơ Nguyễn Hữu Cảnh (1650-1700) vào Nam lập phủ Gia Định (1698), xác nhận quyền sở hữu chính trị của người Việt, để xin thành lập làng Minh Hương ngay trên vùng lănh thổ mới khai sinh.

Những nhân vật đại diện người Minh Hương tại đây phải là những người cự phách, được sự tin cẩn của mọi bang hội người Minh Hương, không những từ trong hai nhóm của hai cựu tổng binh, mà c̣n từ nhóm ông Mạc Cửu (鄚玖,hay Mạc Kính Cửu (鄚敬玖): 1655 – 1735), đă đến Hà Tiên từ năm 1671 nữa.  Những người dân tại đây khá giả, phong lưu, như câu ca dao nói về phong hóa làng Minh Hương :

Gỏi chi ngon bằng gỏi tôm càng

Đố ai lịch sự cho bằng làng Minh Hương.

 

oOo

 

8-ngc6b0c6a1i-hoa-14.jpg

 

Theo thiển ư, khu vực chung quanh Làng Minh Hương (vùng Sài G̣n, tức Prei Nokor) đó đă là cột mốc, cái nền đầu tiên để tạo dựng ra Chợ Lớn sau này. Lư do chính trị, hành chánh đă được đưa ra. Nhưng lư do kinh tế coi ṃi cũng quan trọng không kém.

 

oOo

 

Đó là đất Phiên Trấn (tạm gọi khu đất nằm trong vùng đất tên Prei Nokor, dân Việt gọi là Sài G̣n, rồi đổi tên thành Chợ Lớn) nằm gần ngay một con rạch rất thuận tiện (không rơ tên gọi lúc đó, nhưng vào thời vua Gia Long trị v́, đă có tên là rạch An Thông, sau đó được vét lại rồi mang tên Kinh Tàu Hũ, Pháp gọi là Arroyo Chinois). Diện tích vùng đất, vào lúc phát triển sau này, để trở thành khu phố chợ cho người Hoa vào khoảng hơn 1 cây số vuông.

Mới đầu, người ta đặt tên hành chánh vùng đất đó là Phiên Trấn, sau người Tầu gọi là, Tài Ngọn (Đề Ngạn), Thầy Ngọn, Xi Coón, Sài Côn, Tây Cống (nhưng người Việt luôn gọi là Sài G̣n), để phân biệt với khu người Việt sinh sống là Bến Nghé.

 

oOo

 

Có rất nhiều xác suất, chính nhóm của ông Trần Thượng Xuyên đă nh́n ra địa lợi đầu tiên của vùng đất mang tên Chợ Lớn sau này (sau khi tên Sài-G̣n được đem đặt  cho Bến Nghé), tương tự như lư do tại Biên Ḥa, nhóm này đă chuyển từ Bàn Lân lên Cù Lao Phố, để lập nghiệp.

Lư do chính là Bàn Lân là nơi rừng rú, lúc đó c̣n nhiều hươu nai ở, người Việt sống tại đây săn bắn với làm nông, rẫy là chính (Lộc Dă chính là chữ Hán để dịch nghĩa cánh đồng có nhiều nai,  Đồng Nai tiếng Việt, người Tầu đọc ngọng thành Nông Nại). Ở chung với người Việt một thời gian, những người Tầu gốc Đông Nam Trung Quốc, thạo nghề công nghiệp, và nhất là mua bán, phát hiện ra một nơi mà người Việt gọi là phố cù lao, sau này họ gọi là Cù Lao Phố.

Đó là một băi cát do sông Hương Phước (một đoạn sông Đồng Nai) bồi lên. Chiều dài khoảng 3 cây số, chiều ngang khoảng 2 cây số.

Tuy Cù Lao Phố khá xa biển, nhưng nhờ đường sông sâu, rộng, nước chẩy hiền ḥa có thể đi ra biển qua nẻo Cần Giờ, hoặc bắt đường bộ sang Miên, hay lên miền Bắc khai thác lâm sản. Không mấy lâu sau, đại đa số người Hoa dời ra sống trên Cù Lao Phố, làm ăn buôn bán phát đạt. Khu này mau chóng biến thành một trung tâm kinh tế đầu năo cho cả vùng Đông Nam Bộ, lên đến Miên.

 

8-ngc6b0c6a1i-hoa-15.jpg

 

Nhưng Cù Lao Phố không thể thành một trung tâm hành chánh, hay kinh tế cho cả Miền Nam. Vị trí của nơi này phải là nơi giao điểm của những giao thương quốc nội, và quốc tế. Bến Nghé đă là nơi của Chúa Nguyễn giành cho người Việt, nhưng Phiên Trấn lại nhờ con rạch nhỏ (có thể sau này có tên là An Thông, rồi đào lớn thành Kinh Tàu Hủ, có người  gọi là Kênh Cổ Hủ, và cho là v́ h́nh dạng như cổ cái hũ, to rồi thắt lại), mà có thể là nơi giao lưu đi khắp nơi, tầu từ Trung Hoa, Mă Lai, Ấn Độ, Ḥa Lan … ghé cảng Bến Nghé, xuống hàng hay nhận hàng tại đó. Rồi theo những đường sông rạch mà qua các tỉnh miền đông và miền tây.

Lư luận trên chỉ có lư khi lúc đó có một con rạch nối từ sông Sài G̣n (tức khu Bến Nghé) đến Prei Neikor, mà sau này được đào rộng ra thành con Kinh Tàu Hủ. Theo như tác giả Vương Hồng Sển, th́ trong địa đồ của ông Trần Văn Học vẽ về tỉnh Gia Định (trước năm 1815) th́ không thấy con rạch đó. Theo thiển ư, tác giả Lê Ngọc Trụ đă không sai khi cho rằng có một con lạch nhỏ, đúng như Trịnh Hoài Đức đă ghi lại trong bộ Gia Định Thông Chí. Nhưng có lẽ đến lúc ông Trần Văn Học vẽ địa đồ, nó đă gần như bị lấp, nên sau  đó vua Gia Long cho lệnh phải đào rộng ra thành con Kênh Tàu Hủ.

Đừng quên rằng hệ thống kinh rạch đă biến đổi rất nhiều với thời gian. Nhiều con rạch đă bị lấp như con rạch Chợ Lớn, ngày xưa từng là đường giao thông thịnh vượng.

Những thức ăn, mỹ phẩm, đồ cúng kiếng, vật liệu xây cất … từ bên Tầu có thể dễ dàng theo đường biển vào tới sông Sài G̣n, mượn cảng Bến Nghé xuống con lạch nào đó, chẳng hạn rạch Bến Nghé, rồi  được chuyển tới những kho chứa hàng để sau đó tản đi mọi nơi.

 

oOo

 

Tuy nhiên, để cho khu Phiên Trấn (Sài G̣n) trở thành một khu chợ khổng lồ của người Minh Hương và Hoa Kiều, c̣n cần phải thêm nhiều máu và nước mắt.

Vào năm 1747, tức 68 năm sau khi hai ông cựu tổng binh họ Dương và họ Trần cùng 3000 di thần, di dân nhà Minh, quyết để tóc dài, không chịu thắt bím, thà làm người dân thường đất Nam (An Nam Dzành), chứ không hàng nhà Thanh. Có một nhóm khách thương người Phúc Kiến, đă muốn “tạo riêng một góc triều đ́nh Trung Quốc” tại Cù Lao Phố.  Họ thường đi đi về về qua khu phố sầm uất này buôn bán, bàn luận với nhau, bỗng nổi ḷng tham, một phần thấy tài sản đâm mù lư trí, một phần coi thường triều đ́nh Huế ở quá xa. Lư Văn Quang họp trên dưới cả trăm người gốc Hoa, đánh úp dinh Trấn Biên (tức Biên Ḥa sau này), giết chết Cẩn Thành Hầu (Nguyễn Cư Cẩn), là viên quan người Việt cai quản dinh. Sau đó Lư Văn Quang tự xưng vua, lấy tên là Giản Phố Đại Vương. Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát nghe tin báo, ra lệnh cho Cai Cơ Tống Phước Đại (tước Đại Thắng Hầu) đem quân đi dẹp. Từ Mô Xoài, quân nhà Nguyễn kéo vào Trấn Biên, phá tan và bắt giam Lư Văn Quang, cùng đồng bọn 57 người.

Cù Lao Phố chịu nhiều thiệt hại, nhưng tai hại nhất là lộ ra tính bất an ninh của vị trí. Dân chúng tại đây, có thể tin vào phong thủy không tốt của vùng đất bồi, thu góp tài sản đi t́m một nơi an ninh, văn minh hơn để sống. Họ thấy, không đâu bằng khu Phiên Trấn gần Bến Nghé, nơi có đồn binh Chúa Nguyễn đóng kề. Hơn nữa, rất có thể, bây giờ đă có tiền, có của, họ chọn nếp sống thị thành, chuyên thương măi, làm tiểu công nghiệp, dễ sống, đỡ mệt thân hơn.

 

oOo

 

Vào thời Cù Lao Phố bị loạn, chính sự của triều đ́nh Huế cũng đă không c̣n tốt đẹp như trước. Vũ Vương tham lam, đánh thuế dân với một hệ thống nhiêu khê, phức tạp. Thuế thổ sản đánh trên hàng ngàn thứ, chi li bần tiện. Quan lại cấp dưới, nhân vào đó, mà tham nhũng, ức hiếp dân nhiều hơn. Thượng Bất Chính Hạ Tắc Loạn là câu người Tầu thường dùng để nói về việc “dột từ nóc dột xuống” của một cơ cấu chính trị, hành chánh, rất ứng vào giai đoạn này.

Cho đến khi Vũ Vương chết (1765), tức th́ xẩy ra vụ Trương Phúc Loan chuyên quyền, giết cha của Nguyễn Ánh, triều chính rối ren, quân Trịnh từ Bắc đánh vào, lại đến chiến tranh giữa Tây Sơn  và  nhà  Nguyễn (bắt đầu vào năm 1771), làm đời sống người dân Miền Nam rối bù.

 

8-ngc6b0c6a1i-hoa-10.jpg

 

Lúc đầu, đa số người Hoa Kiều hầu như đứng ngoài mọi biến cố chiến tranh và chính trị của người Việt. Cho đến lúc có lực lượng người gốc Hoa như đạo quân của Lư Tài, Tập Đ́nh tham gia lực lượng Tây Sơn.  Đặc biệt là đội  Ḥa Nghĩa Quân (Harmony Army) do Lư Tài chiêu mộ, trong những người Hoa miền Nam Trung Bộ, được thành lập từ năm 1773, từ đó mới bắt đầu  lộ sự khác biệt giữa những người Việt “thuần”, với người gốc Hoa.

Trong khi đó, tướng Đông Sơn Đỗ Thanh Nhân, gốc Minh Hương (Hương Trà, Thừa Thiên), lại pḥ quân nhà Nguyễn.

Tập Đ́nh bỏ cuộc rất mau, chỉ thất bại có một trận dưới tay quân Trịnh, đă t́m đường chạy về Tàu. Lư Tài cũng bị đánh bại liên tiếp, cho đến khi chịu làm phó tướng, nhường chức đại tướng chỉ huy cho Nguyễn Huệ, mới thắng được trận Phú Yên.

Tuy nhiên, Lư Tài đâm ra bất măn, thù hận và nghe theo lời chiêu dụ, về đầu hàng tướng nhà Nguyễn là Tống Phước Hiệp. V́ cùng ham mê quyền hành tối cao, hai ông tướng gốc Hoa là Đỗ Thanh Nhân và Lư Tài tranh chấp, đem quân tàn sát nhau ngay sau khi Tống Phước Hiệp chết. Mới đầu Đỗ Thanh Nhân yếu thế hơn, phải về trấn giữ Bến Nghé, Lư Tài đóng ở núi Châu Thới. Nhưng sau đó, Lư Tài, đánh thua quân Nguyễn Huệ, chạy về ngang Ba Giồng, bị quân của Đỗ Thanh Nhân đón đường giết chết (1777). Tuy vậy, một số tàn quân Nghĩa Ḥa của Lư Tài vẫn tiếp tục ủng hộ ngầm Nguyễn Ánh.

 

oOo

 

Năm 1778, sau khi bị Tây Sơn phá hủy Cù Lao Phố (Biên Ḥa), người Hoa đành chạy về vùng Phiên Trấn (tức Prei Nokor hay Sài G̣n), tức khu đă có làng Minh Hương, để sống gần đồng hương.

Ngờ đâu, vụ Lư Tài phản Tây Sơn và các tướng Minh Hương như Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch đều là tướng nhà Nguyễn, lại trở thành tai họa cho người Việt gốc Hoa, thật ra, vào lúc đầu, đa số muốn đứng ngoài cuộc chiến tranh.

Trong khoảng những năm 1776-1779, trong mấy lượt quân Tây Sơn vào đánh Miền Nam, Cù Lao Phố nhiều lần bị tàn phá trong các cuộc giao tranh. Một số tác giả sau này, dựa vào sách của Trịnh Hoài Đức, cùng lời kể từ ông cha họ, cho biết nhà cửa dân chúng, tiệm buôn, phố xá, kho chứa hàng bị thiêu đốt nhiều không thể kể.

Các cơ sở thủ công bị gỡ phá, vật liệu quí báu cũng bị cướp. Dân chúng bị ức hiếp, thậm chí tàn sát.

Trịnh Hoài Đức mô tả : “Nơi đây biến thành g̣ hoang, sau khi trung hưng người ta tuy có trở về nhưng dân số không được một phần trăm lúc trước” (Gia Định thành thông chí).

Những người Minh Hương c̣n sống sót bồng bế nhau lánh nạn về Bến Nghé, và Phiên Trấn. Họ hợp với nhóm người Hoa Kiều tỵ nạn họa Tây Sơn từ Mỹ Tho, và những vùng khác, thành đợt di cư lớn, vào năm 1788, tới vùng mà sau này gọi là Chợ Lớn (trước là quận 5 quận 6). Họ lập chợ, biến vùng này thành trung tâm thương mại lớn nhất Miền Nam sau này, khi Cù Lao Phố tàn tạ, c̣n Mỹ Tho dần bị Việt hóa, dù nền sản xuất nông – ngư sản và kinh doanh hàng hóa địa phương ở thời điểm đó đă có những bước phát triển ngoạn mục, đặc biệt là ngành buôn bán, giao thông đường thủy.

 

oOo

 

Khi về đến Bến Nghé – Phiên Trấn, những người Hoa Kiều bao gồm Minh Hương c̣n phải chịu một trận “tai trời ách nước” chia chung số phận với người Việt khắp Đàng Trong.

Cuộc tranh chấp  bằng vơ lực giữa ba anh em nhà Tây Sơn và Nguyễn Ánh càng kéo dài, số người Minh Hương ngả hẳn theo phe Nguyễn Ánh càng nhiều. Lư do, không những v́ họ là con cháu của 3000 người đă được Chúa Hiền thu nạp, và bảo vệ. Mà v́ quân Tây Sơn đánh xuống Miền Nam, không với mục đích thâu phục nhân tâm dân xứ này, nói chung, v́ biết là không được. (Tháng 2 năm 1776, Nguyễn Lữ kéo vào đánh Gia Định, chỉ giữ được 3 tháng, phải kéo về lại Qui Nhơn với 200 con thuyền chở lúa cướp từ kho Gia Định). Họ chỉ muốn lùng giết mọi tàn tích của triều đ́nh Nguyễn tộc, và đánh cướp kho tàng, lương thực, vật liệu…, để chở về Qui Nhơn mà thôi.

Nhưng oái oăm thay, cũng qua các cuộc tấn công của Tây Sơn, mà thương cảng Bến Nghé trở thành quan trọng, trù phú hẳn lên. Để pḥng thủ, quan quân hội cả ở trấn Phiên An, thuyền buôn cũng dời về đậu ở sông Tân B́nh (sông Sài G̣n).

 

8-ngc6b0c6a1i-hoa-8.jpg

 

Người Việt đánh nhau là một chuyện, việc mua bán với nước ngoài, và bên trong nước vẫn tiếp diễn. Người Hoa Kiều đương nhiên vẫn cần thiết để lo phần vụ không thể thiếu của họ, trong những hoạt động kinh doanh và kinh tế cho xă hội, càng lúc càng trở nên phức tạp.

 

oOo

 

Vào khoảng tháng Ba năm 1781, Nguyễn Nhạc  nghe tin Nguyễn Ánh giả bệnh sai mời Đỗ Thanh Nhân đến, rồi phục vơ sỹ, đâm chết. (V́ quần thần đàm tấu cho rằng Đỗ Thanh Nhân quá hống hách, lạm quyền).

Nghe tin này Nguyễn Nhạc họp bàn tướng sỹ nói : “Thanh Nhơn chết rồi, các tướng khác không đáng sợ nữa”, rồi cùng Nguyễn Huệ dẫn đại binh đánh thẳng vào cửa Cần Giờ. Nguyễn Ánh đại bại trận thủy chiến trên sông Ngă Bảy, phải bỏ thành Gia Định (Sài G̣n sau này) chạy về Ba Giồng, rồi lánh sang rừng Romdoul, Chân Lạp (tháng 2 qua tháng 3, năm 1782).

Quân Tây Sơn truy đuổi quân Nguyễn Ánh đến 18 thôn Vườn Trầu, bị phục kích thua thảm bại. Một viên tướng lớn, được Nguyễn Nhạc thương yêu, là hộ giá Phạm Ngạn bị tử trận. Lính của Nguyễn Nhạc thoát về, khai nhận ra nhóm phục kích, gồm nhiều người gốc Hoa, trong đạo quân Ḥa Nghĩa của Lư Tài, đă phản Tây Sơn và ẩn trốn Đỗ Thanh Nhân, nay nghe tin Đỗ Thanh Nhân bị giết, họ lại quay về ủng hộ Nguyễn Ánh. V́ đoàn quân này hiểu rơ cách hành quân của Tây Sơn, nên đă có thể phục kích hữu hiệu như vậy.

Nguyễn Nhạc, nổi giận đă ra một lệnh tàn ác, thất đức : “phàm người Tầu, không kể mới, cũ đều cho phép giết cả, trả thù cho hộ giá Ngạn”. Quân Tây Sơn được lệnh thi nhau chém. giết những người Hoa, dù thắt bím hay không, miễn mặc quần áo Tầu, nói tiếng Tầu là “phập”.  Theo như nhiều nguồn (trong đó có Trịnh Hoài Đức) kể lại, có khoảng 10,000 người Hoa bị giết từ Bến Nghé đến sông Sài G̣n. Tử thi quăng xuống rạch làm nước không chảy nổi. Nước bị ô nhiễm đến độ, cách 2-3 tháng sau, người dân không dám ăn cá tôm bắt từ sông Tân B́nh lên. Sự “bài Hoa” của quân Tây Sơn ghê đến mức, các dụng phẩm như vải sô, lụa Hàng-Tô Châu, trà Tầu, thuốc Bắc, nhang đèn, hàng mă, giấy bổn, giấy viết, nhất thiết mọi thứ hàng Tầu … đều được người dân, v́ sợ hăi, quăng xuống sông, liệng ra đường.

Người đi đường thấy nhều món c̣n tốt cũng không dám lụm mót đem về.

 

8-ngc6b0oi-hoa-3.jpg

 

oOo

 

Sau này, có sử gia cho rằng, có thể một trong những lư do mà Nguyễn Nhạc ra lệnh tàn sát đó, là để tàn phá bộ máy kinh tế của Miền Nam, đa số nằm trong tay người Minh Hương, luôn phục vụ cho Nguyễn Ánh.

Sự thật là, những vụ cướp bóc, giết người, ít nhiều mang tính “kỳ thị chủng tộc” của quân Tây Sơn đó, đă khiến một số nhỏ người Minh Hương bực tức và có những thái độ trả đũa. Ở một vài nơi, nghe nói đă có những vụ người Hoa tỵ nạn trong rừng gặp người Việt là đánh giết trả thù (nguồn tin này do các cha đạo người Tây Phương, thuở đó ghi chép lại, người viết đọc được ở đâu đó, nhưng nay đă mất bản gốc, chỉ xin đăng lại đây để dành kiểm chứng lại). Tuy nhiên chắc chắn đă không có vụ chem. giết v́ lư do chủng tộc, giữa người Việt và người Hoa nào được ghi lại. Ngược lại sử kiện này cho thấy người dân Việt không chấp nhận “sự kỳ thị chủng tộc”, dù mang mặt nạ ǵ chăng nữa).

Trường hợp Vơ Trường Toản cho thấy sự hội nhập hoàn toàn của người Minh Hương vào xă hội người Việt. Ông chọn nơi cư trú tại khu người Việt sinh sống là khu Ḥa Hưng. Học tṛ ông gồm cả Việt lẫn người gốc Minh Hương. Học tṛ của ông khá đông và nhiều người nổi tiếng như Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tịnh, Lê Quang Định, Ngô Tùng Châu, Phạm Đăng Hưng, Lê Bá Phẩm, Phạm Ngọc Uẩn…  Ngay cả sau vụ quân Tây Sơn tàn sát người gốc Hoa, Vơ Trường Toản đă không v́ thế tham gia chính sự, mặc dầu Nguyễn Ánh rất mến mộ ông, mỗi khi ghé Gia Định thường triệu ông đến để đàm đạo, nhờ giảng sách. Nhiều người trong đám học tṛ ông trở thành đại công thần cho triều Nguyễn. Riêng ông, ông khéo từ chối mọi lời mời của Nguyễn Ánh, chỉ tiến chúa Nguyễn 10 điều về phương lực cứu quốc và kiến quốc.

Trong lúc Nguyễn Nhạc tàn ác với người Hoa v́ một vài viên tướng phản ḿnh, Nguyễn Ánh vẫn tin tưởng lưu dụng những viên tướng của cánh quân Đông Sơn, ngay cả sau khi đă giết Đỗ Thanh Nhơn, và nhiều tướng thuộc hạ cũ của Đỗ Thanh Nhơn trở thành kẻ thù của Nguyễn Ánh. Điển h́nh là Nguyễn Huỳnh Đức (tên thật là Huỳnh Tường Đức), đă từng là thuộc hạ của Đỗ Thanh Nhân. Ngay cả sau khi Nguyễn Huỳnh Đức đă bị Nguyễn Huệ bắt vào năm 1783, thu dùng mang ra Bắc đánh, rồi trốn về. Nguyễn Huỳnh Đức, sau làm đến chức Tổng Trấn Bắc Thành (1810), rồi Tổng Trấn Gia Định (1816), cùng với Trịnh Hoài Đức, cai quản cả Miền Nam.

 

oOo

 

Trở lại đề tài chính của bài viết là sự h́nh thành của Chợ Lớn. Từ sau biến cố 1782, không thấy sử ghi chép nhiều về khu Phiên Trấn. Ngoại trừ Trịnh Hoài Đức có kể lại rằng : “Qua năm sau, thứ trà xấu một cân giá bán lên đến 8 quan, 1 cây kim bán 1 quan tiền, c̣n các loại vật khác cũng đều cao giá, nhân dân cực kỳ khổ sở”. Điều này cho thấy, vào năm 1783, tại khu Bến Nghé và Phiên Trấn, người dân đă bắt đầu t́m cách sinh sống lại b́nh thường, dù đời sống cơ cực.

 

8-ngc6b0oi-hoa-4.jpg

 

Cho đến thời kỳ mà Trịnh Hoài Đức gọi là trung hưng, tức vào năm 1788, sau khi người duy nhất c̣n lại trong “Gia Định Tam Hùng” là Vơ Tánh (cả ba tướng Châu Văn Tiếp, Đỗ Thanh Nhân, và Vơ Tánh đều gốc Minh Hương), đem 1 vạn quân, từ G̣ Công, về hợp tác với Nguyễn Ánh, được chúa phong cho chức Tiên phong dinh Khâm sai chưởng cơ, và được chúa gả cho em gái là Ngọc Du, th́ thế lực của Chúa Nguyễn mạnh hẳn lên. Nguyễn Ánh lấy lại được Gia Định.

Cùng năm 1788, Nguyễn Ánh cho lập kho Bốn Trấn làm kho chung cho các trấn Phiên An, Biên Ḥa, Vĩnh Thanh, và Định Tường để thu thuế và làm ngân quỹ cấp lương bổng cho quan lại. Ít nhất đă có Trịnh Hoài Đức, Ngô Ṭng Châu là hai người gốc Minh Hương đă được Nguyễn Ánh sung vào vị trí quan trọng, cùng với 10 người nữa, để thành 12 ông quan điền toán, đi khắp 4 trấn lo việc đôn đốc việc sản xuất nông nghiệp.

Đương nhiên là khu Phiên Trấn (làng Minh Hương) lại có dịp phát triển trở lại, nhờ ba yếu tố chính là vị trí thuận lợi,  các kho hàng chứa gạo đă có sẵn, và các thương gia gốc Minh Hương đă nắm vững mối riềng kinh doanh, gom thu sản phẩm nông-ngư,  từ thời Dương Ngạn Địch c̣n sống.

 

oOo

 

Có rất nhiều xác suất, hay nói một cách khác, người ta có thể đặt giả thuyết là, có một con kinh hay con rạch lúc đó, đột nhiên trở nên một sinh mạch quan trọng, và cần chỉnh trang lại hai bên bờ đê của nó. Cùng với việc hai sỹ quan Pháp Theodore Lebrun, và de Puymanel thiết kế thành Gia Định theo kiểu Vauban, với tổng số nhân công là 30,000 người, với vật liệu xây cất là đá granite. Có thể vào khoảng thời gian này  người ta đă cho đắp đê cao lên hai bờ con kênh, và cẩn  đá hai bờ rạch một vài đoạn chính, v́ ảnh hưởng bởi công tŕnh xây thành Gia Định. V́ người Việt quen gọi vùng này là Sài G̣n, họ nhân đó đặt luôn tên theo âm Hán Việt là “Đề Ngạn” (堤岸), đọc theo giọng Quảng Đông là “Thầy Ngồn” (Tài Ngọn) để phiên âm hai chữ Sài G̣n, tức ngược với thuyết của Aubaret và Francis Garnier mà đă được hai ông Vương Hồng Sển và Thái Văn Kiểm đồng ư. Chúng ta đă biết cách người Hoa Kiều đặt tên, họ thường lấy những tên đă có tại cố hương bên Tầu mà đặt. Tên “Đề Ngạn” mới quá, thông tục quá, mà nghĩa th́ không nói lên được ǵ, v́ “đề” là “Bờ đê, đắp đê pḥng nước tràn vào. Tục viết là 堤”, “ngạn” là “Bờ. Như Đê Ngạn 堤 岸 Bờ Đê”; quá chung chung, khác hẳn những tên thường thấy bên Trung Hoa, như “Tiểu Hà”, “Đại Hà”…, ví con kênh như sông lớn, sông bé.

C̣n lư do tại sao lại có tên Sài G̣n th́ giả thuyết đưa ra bởi Trương Vĩnh Kư được nhiều người cho là hợp lư nhất, v́ theo ngôn ngữ học, Prei Nokor (hay Brai Nagara theo tiếng Phạn mà người Miên mượn), có nghĩa là “Thị trấn ở trong rừng”, “Prei” hay “Brai” là “rừng”, “Nokor” hay “Nagara” là “thị trấn”. Theo tiến tŕnh của ngôn ngữ, Prei hay Brai biến thành Rai, thành “Sài”, Nokor bị bỏ “no” thành “kor”, và từ “kor” thành “g̣n”. (có nghĩa là người Miên  b́nh dân đọc tắt Prei Nokor là Rai kor, người Việt nghe thành nghe Sài G̣n)

 

oOo

 

Riêng với con kênh Tàu Hũ, th́ sau khi được đào xong vào năm 1819, nó mau chóng trở thành con đường huyết mạch giúp cho Chợ Lớn (lúc đó c̣n mang tên Sài G̣n) sau này giầu thêm nhiều. Con kênh này nối sông Sài G̣n với sông Tiền qua Kênh Ruột Ngựa, sông Rạch Cát hay sông Chợ Đệm, sông Vàm Cỏ, kênh Bà Bèo (kênh Tháp Mười sau này). Sông Tiền hay Tiền Giang  là một trong hai nhánh sông Cửu Long trước khi đổ ra Thái B́nh Dương.

Trong “Kư ức lịch sử về Sài G̣n và các vùng phụ cận (năm 1885)”, Trương Vĩnh Kư viết : “Hai bên bờ rạch Chợ Lớn là hai dăy nhà phố lớn bằng gạch gọi là Tàu Khậu để cho người Hoa từ Trung Quốc hàng năm đi ghe biển tới thuê. Họ đem hàng hoá chứa trong các phố đó, hoặc để bán sỉ hoặc để bán lẻ khi lưu trú tại Sài G̣n”. Theo Huỳnh Tịnh Của th́ Tàu Khậu là giọng người Triều Châu phát âm từ Thổ khố, tức là khu nhà lớn bằng gạch để chứa hàng hoá, sau đọc trại ra thành Tàu Hũ.

 

oOo

 

Đến đây, có lẽ chúng ta đă phân biệt được hai chữ gốc Minh Hương và gốc Hoa Kiều. Tuy đều từ Tầu qua, nhưng người Minh Hương qua v́ tỵ nạn chính trị, đa số nhận nước Việt làm quê hương, mau chóng hội nhập và thành người Việt 100%.  Đợt di dân qua Việt Nam lớn nhất do hai tổng binh Dương Ngạn Địch và Trần Thượng Xuyên vào năm 1679. Theo như đă chứng minh, họ chính là những người đă đặt nền móng xây nên Chợ Lớn mà ngày đó mang tên Sài G̣n. Đó là lư do  giải thích việc Đ́nh Minh Hương tại Chợ Lớn ngày nay lại thờ thống suất Nguyễn Hữu Cảnh, đô đốc tướng quân Trần Thượng Xuyên, và  hai ông quan thượng thư gốc Minh Hương Trịnh Hoài Đức và Ngô Nhân Tịnh.

 

8-ngc6b0c6a1i-hoa-12.jpg

 

Hoa Kiều là những người Trung Hoa qua Việt Nam sinh sống, họ có thể qua v́ nhiều lư do như thương nghiệp, hàng hải, nghề nghiệp, gia đ́nh… Nhưng họ không qua v́ lư do “kháng Thanh, phục Minh”.  Họ lưu dân ở khắp nơi trên thế giới và thường là thương nhân, luôn hướng về đất tổ như Đài Loan (phe chống Cộng), Hồng Kông (do Anh quốc cai trị) Ma Cao (do Bồ Đào Nha cai trị) và Trung Hoa lục địa. Khi đó cả bôn nơi này c̣n là một quốc gia thống nhất, bị chia cắt sau thế chiến thứ I và thứ II.

 

 

Source : https://nghiencuulichsu.com/2016/09/21/nguoi-hoa-o-sai-gon/