KINH PHÁP CÚ - HÁN TẠNG

 Thiền sư Thích Nhất Hạnh dịch Việt

 

Thể kệ : Nguyên Định, dựa theo tác phẩm ”Kết một tràng hoa” của Thiền sư Thích Nhất Hạnh,
Link:
http://langmai.org/tang-kinh-cac/kinh-van/kinh-moi-dich/ket-mot-trang-hoa

 

 

* Tranh minh họa trích từ trang nhà : http://www.buddhanet.net/dhammapada/index.htm

 

           

1. Viết về Kinh Pháp Cú Hán tạng

Thiền sư Thích Nhất Hạnh

 

Ở Ấn Độ, ngày xưa cũng như ngày nay, và ở nhiều nước khác nữa, có tục đi mua những tràng hoa kết sẵn để dâng cúng hay để hiến tặng.

Chúng ta hăy h́nh dung một người kết tràng hoa và bán tràng hoa chuyên nghiệp. Người ấy đi hái nhiều thứ hoa, đem về, để riêng từng loại hoa trước mặt. Người ấy nâng một vài đóa hoa hay chùm hoa lên, ví dụ hoa nhài, rũ một cái, cho những cánh hoa này lộ ra tất cả cái tươi đẹp c̣n lại của chúng, trước khi xâu kết thành một tràng hoa. Công việc của người biên tập kinh Pháp Cú cũng giống như công việc của người chuyên môn xâu kết tràng hoa. Trước hết người ấy phải đi hái hoa, nghĩa là đọc hết các kinh điển, và chọn ra những ư kinh, những bài kệ mang tính chất cốt tủy của Phật pháp. Rồi người ấy tập hợp các bài kệ này dưới những chủ đề khác nhau, cũng như hoa nhài để riêng, hoa huệ để riêng, hoa vạn thọ để riêng. Người ấy bỏ những bài kệ mà nghĩa lư c̣n mù mờ, chỉ chọn những bài kệ nghĩa lư thật sáng tỏ, cũng như cầm hoa mà rũ, làm rơi rụng những cánh hoa không c̣n tươi thắm, để chỉ c̣n những đóa hoa thật tươi, trước khi xâu kết thành tràng hoa.

 

Nguồn gốc kinh Pháp Cú

Tôn giả Pháp Cứu (Dharmatràta), một trong những vị luận sư nổi tiếng của bộ phái Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ ở Kashmir, được coi như là người đă biên tập thành kinh Pháp Cú mà chúng ta có một bản dịch ở Hán Tạng. Đó là kinh thứ 210 trong Đại Tạng Tân Tu. Đầu kinh có ghi là kinh do tôn giả Pháp Cứu tuyển chọn.

Nếu sự ghi chép đó đúng với sự thực, th́ tôn giả Pháp Cứu là một trong những nhà tuyển chọn và biên tập các kinh Pháp Cú. Bởi v́ không phải chỉ có một người làm việc ấy. Có những kinh Pháp Cú chỉ có 500 bài kệ tụng, có những kinh có 700 bài, có kinh có 900 bài, v.v...

Kinh Pháp Cú trong Hán Tạng có tới 39 phẩm với 39 đề tài. Phẩm đầu là phẩm Vô Thường, và cố nhiên chủ đề chung của tất cả các bài kệ tụng trong ấy là tính vô thường của vạn vật. Phẩm này có hai mươi mốt bài kệ tụng.

Phẩm thứ 12 có đề tài là Hoa Hương. Ta hăy đọc hai bài kệ đầu của phẩm này, bởi v́ hai bài ấy nói về chuyện xâu kết tràng hoa và biên tập Pháp Cú:

1. “Ai là người tuyển chọn được các cơi, bỏ đi các vùng tù ngục mà chỉ giữ lại các tầng trời? Ai là người có thể tuyển chọn được Pháp Cú như một kẻ chuyên nghiệp có tài chọn hoa và kết lại thành tràng hoa?”

2. “Một người đang thực tập tu học th́ có thể tuyển chọn được các cơi, bỏ đi các vùng tù ngục mà chỉ giữ lại các tầng trời, có thể nói Pháp Cú, có thể hái được những đóa hoa đức hạnh.”

Đi vào kinh tạng cũng như đi thám hiểm các tầng trời: biết bao nhiêu đóa hoa tuyệt vời của diệu pháp mà ta có thể khám phá trong kho tàng của thế giới ấy. Phải có tu có học thật sự th́ ta mới có khả năng khám phá và nhận diện được những châu báu ấy, để thu nhặt, đúc kết và hiến tặng cho thế gian. Ta không cần có phép thần thông mới đi vào được các cơi trời kia để làm công việc giám sát và chọn lọc. Ta chỉ cần là người có thật tu thật học. Tôn giả Pháp Cứu tin rằng ḿnh làm được công việc tuyển chọn Pháp Cú tại v́ ḿnh có thật tu thật học. Và nếu ai có thật tu thật học cũng đều làm được việc ấy, nghĩa là có khả năng giảng dạy Pháp Cú và gặt hái được những đóa hoa tuệ giác và đức hạnh để kết lại thành những tràng hoa.

Đọc hai bài kệ đầu này của phẩm Hoa Hương ta thấy được đức khiêm cung của tôn giả Pháp Cứu. Nhiều người nói là muốn đọc Đại Tạng Kinh, đang đọc Đại Tạng Kinh hay đă đọc Đại Tạng Kinh. Nhưng đă có mấy người đi vào trong Đại Tạng mà không lạc đường, mà không biết ḿnh đang ở vị trí nào trong cái đại dương mông mênh ấy?

 

Kinh Pháp cú- Nam tông và Kinh Pháp cú- Hán tạng

Kinh Pháp Cú được lưu hành rộng răi ở Việt Nam ngày nay là kinh Pháp Cú của tạng Pali. Kinh này chỉ có 26 phẩm mang 26 đề tài, chứ không phải có tới 39 phẩm như kinh Pháp Cú trong tạng Hán. Nhưng nội dung của 26 phẩm gần giống nhau quá, kể cả tên các phẩm, cho đến nỗi có nhiều học giả cho rằng kinh Pháp Cú trong tạng Hán đă được dịch từ kinh Pháp Cú trong tạng Pali. Nhưng t́m hiểu chi tiết, ta có thể nói rằng cả hai kinh đều có thể đă được phát xuất từ một nguyên bản Prakrit. Có thể là nguyên bản này thuộc về Hữu Bộ hay Ca Diếp Di Bộ, hoặc một bộ phái khác có mặt ở miền Bắc Ấn Độ.

Kinh Pháp Cú tạng Hán có một bài tựa có thể cung cấp cho chúng ta một ít thông tin rất quư báu. Nhờ bài tựa này mà ta biết người dịch kinh tên là Trúc Tương Diễm, tiếng Phạn th́ rất giỏi nhưng vốn liếng tiếng Hán th́ c̣n ít. Vị này đă cùng với một vị khác, tên là Duy Kỳ Nan, từ Ấn Độ qua tới Vũ Xương vào năm thứ ba của niên hiệu Hoàng Vũ, tức là năm 224 của kỷ nguyên Tây Lịch. Họ có đem theo một nguyên bản tiếng Phạn của kinh Pháp Cú có 500 bài kệ tụng.

Người viết bài tựa này là cư sĩ Chi Khiêm, vị đă từng là giáo sư dạy kèm cho hoàng thái tử Tôn Lượng nước Đông Ngô cho đến năm 252, khi phụ hoàng là Ngô Tôn Quyền băng. Chi Khiêm trước đó đă dịch được rất nhiều kinh từ tiếng Phạn ra tiếng Hán. Sách Cao Tăng Truyện nói ông đă dịch được 49 bộ kinh, trong khi sách Lịch Đại Tam Bảo Kư nói ông đă dịch được tới 129 bộ. Công tŕnh phiên dịch này chắc hẳn đă được ông thực hiện một phần nhỏ ở Vũ Xương và một phần lớn ở Kiến Nghiệp, thủ đô nước Đông Ngô, trong khi ông được vua Ngô Tôn Quyền mời dạy cho thái tử. Trước đó, nghĩa là khi nhà Hậu Hán chưa sụp đổ, ông cư trú ở Hà Nam. Ông là người nước Nhục Chi (Indo-Scythe) cùng với thân tộc di cư qua nước Hán hồi c̣n rất trẻ, có thể hồi mới mười tuổi, hiểu tới sáu thứ tiếng. Ông đă được theo học với thầy Chi Lương, thầy này là đệ tử của thầy Chi Lưu Ca Sấm (Locasema), một dịch giả kinh Phật nổi tiếng ở đất Hán. Chi Lưu Ca Sấm, Chi Lương và Chi Khiêm đều là những nhà trí thức thượng thặng có gốc gác nước Nhục Chi, và được người đương thời ca ngợi là Tam Chi (ba vị học giả uyên thâm gốc nước Nhục Chi). Chi Khiêm c̣n được ca tụng là Trí Nang, có nghĩa là một cái túi kiến thức. Sau ngày sụp đổ của nhà Hán, Chi Khiêm đă chạy loạn về Vũ Xương, sau đó mới được vua Tôn Quyền mời dạy thái tử.

Bài tựa Kinh Pháp Cú do Chi Khiêm viết cho biết rằng hai vị Duy Kỳ Nan và Trúc Tương Diễm đă từ Ấn Độ tới Vũ Xương với nguyên bản kinh Pháp Cú bằng tiếng Phạn và ông được gặp hai vị này ở đây. Các vị này đă tới Lạc Dương trước, nhưng v́ thời thế loạn lạc, nhà Hán sụp đổ cho nên mới di tản vào Vũ Xương. Hồi đó Ngô Tôn Quyền chưa xưng đế, nhưng miền Giang Đông do ông kiểm soát tương đối có an ninh. Chi Khiêm cũng đang tỵ nạn ở đấy và hai bên đă có cơ hội gặp nhau. Năm các vị gặp nhau là năm 224, hai năm sau ngày nhà Hán chính thức sụp đổ. Nhà Hán sụp đổ th́ có ba nước được thành lập: Bắc Ngụy, Tây Thục và Đông Ngô. Bài tựa cho biết là chính cư sĩ Chi Khiêm đă đề nghị thầy Trúc Tương Diễm dịch kinh Pháp Cú từ tiếng Phạn ra tiếng Hán và thầy Tương Diễm đă nhận lời.

Bài tựa cho biết rằng tuy thầy Tương Diễm rất giỏi về tiếng Phạn nhưng tiếng Hán c̣n kém. Nếu Chi Khiêm lúc đó đă là một dịch giả xuất sắc từng dịch được nhiều kinh từ Phạn ra Hán th́ tại sao không tự nguyện dịch lấy mà phải nhờ thầy Tương Diễm dịch? Chỉ có một câu trả lời: hồi đó, tiếng Phạn của Chi Khiêm c̣n yếu, và Chi Khiêm chưa bắt đầu sự nghiệp dịch thuật của ḿnh. Bài tựa c̣n cho biết có nhiều chỗ khó dịch, cho nên bản dịch không có được những đoạn khó dịch ấy, và do đó đă có những rơi rụng đáng tiếc.

Hồi ấy, cư sĩ Chi Khiêm suưt soát 30 tuổi, và đă nổi tiếng là văn hay chữ tốt. Ngồi trong hội đồng phiên dịch, ông có nói lên sự không hài ḷng của ông, nhưng các vị trong ban phiên dịch, trong đó có Duy Kỳ Nan và Trúc Tương Diễm nói rằng không cần văn hay, chỉ cần lột được ư chính của Kinh là được rồi. Cư sĩ Chi Khiêm ngồi đó trong ban dịch thuật, ghi xuống những câu đă được thầy Tương Diễm đọc ra bằng tiếng Hán, và hứa sẽ để nguyên như vậy mà không trau chuốt. Duy Kỳ Nan cũng có ngồi đó, hạ lạp tuy lớn hơn thầy Tương Diễm, nhưng vốn liếng tiếng Hán c̣n quá ít nên cũng chỉ đóng góp bằng sự có mặt của ḿnh.

Có thể v́ lư do ấy mà cư sĩ Chi Khiêm từ đó đă bắt đầu nỗ lực học tiếng Phạn cho giỏi để tự ḿnh trực tiếp dịch kinh. Ông là người thông minh và có khiếu văn chương ngôn ngữ, biết được tới sáu thứ tiếng, thành ra học rất nhanh. Sau đó ông mới bắt đầu sự nghiệp dịch kinh của ḿnh. Trước khi vào Vũ Xương, ông cũng đă từng được học tiếng Phạn và kinh điển từ thầy Chi Lương, đệ tử của dịch giả lừng danh Chi Lưu Ca Sấm.

Theo bài tựa, Chi Khiêm đă có dịp gặp lại thầy Tương Diễm một lần thứ hai để chất vấn về những điểm chưa rơ ở trong bản dịch Pháp Cú, và được thầy này trao thêm cho nhiều tài liệu tiếng Phạn, cũng cùng một đề tài Pháp Cú. Với những tài liệu này, Chi Khiêm đă dựng thêm được 13 chương mới nữa của Kinh Pháp Cú, và những chương này, một số được đặt trước các chương có sẵn, một số được đặt sau các chương có sẵn. Những chương đặt phía trước có tính chất của văn học Phật giáo Hữu Bộ miền Bắc, và những chương đặt phía sau lại có tính chất của văn học Phật giáo Thượng Tọa Bộ miền Nam.

Mười ba chương mới này không có mặt trong kinh bản Pháp Cú tiếng Pali. Chắc chắn rằng sau này khi vốn liếng tiếng Phạn đă vững chắc, cư sĩ Chi Khiêm đă trùng tu lại bản dịch của Tương Diễm, và v́ vậy ta thấy văn chương của Kinh Pháp Cú tạng Hán khá điển nhă, không phải thứ văn chương của người mới học tiếng Hán vài ba năm. Hai vị Duy Kỳ Nan và Tương Diễm tới Vũ Xương năm 224 và có lẽ ba bốn năm sau thầy Tương Diễm mới có tạm đủ tiếng Hán để nhận lời Chi Khiêm khởi sự dịch kinh Pháp Cú.

Kinh Pháp Cú trong Hán tạng có ghi ḍng chữ: Kinh này do các vị Duy Kỳ Nan v.v… phiên dịch. Theo tinh thần của bài tựa th́ chính Tương Diễm cầm bản tiếng Phạn đọc ra tiếng Hán và Chi Khiêm ghi chép xuống. Duy Kỳ Nan chỉ ngồi đó yểm trợ và chứng minh, bởi v́ ông là bậc trưởng thượng. Chữ vân vân (đẳng) có nghĩa là cùng với Duy Kỳ Nan có những vị khác đóng góp vào việc phiên dịch, trong đó có Tương Diễm và có cư sĩ Chi Khiêm. Chắc chắn là cư sĩ Chi Khiêm, sau khi giỏi tiếng Phạn, đă dày công duyệt lại bản dịch và cho nó trở thành một dịch bản có giá trị về cả hai mặt văn chương và nghĩa lư. Bài tựa này không được đặt ở đầu kinh mà được đặt ở giữa quyển thượng và quyển hạ, và không mang chữ kư của Chi Khiêm: sự kiện này cũng nói lên được đức khiêm cung của vị cư sĩ bác học này.

 

Vai tṛ của Chi Khiêm và Tăng Hội

Loạn lạc gây nên do sự sụp đổ của nhà Hán xảy ra vào khoảng năm 220. Chi Khiêm cũng như nhiều nhà trí thức khác ở Lạc Dương đă chạy về miền Nam tỵ nạn. Có nhiều nhà trí thức chạy loạn và vào tận đất Giao Châu, trong đó có Mâu Tử, sau này là tác giả của Lư Hoặc Luận, tác phẩm về Phật giáo đầu tiên viết bằng tiếng Hán và sáng tác tại Giao Châu. Những cộng sự viên của thiền sư An Thế Cao như B́ Nghiệp và Trần Tuệ cũng đă chạy nạn về tận Giao Châu và đă tham dự vào trong ban phiên dịch kinh điển của thầy Tăng Hội hồi đó đang chủ tŕ trung tâm Phật giáo Luy Lâu ở Giao Châu.

Cư sĩ Chi Khiêm đă chỉ chạy vào tới Vũ Xương. Và đă gặp hai vị Duy Kỳ Nan và Tương Diễm ở đấy. Măi tới năm 229 Ngô Tôn Quyền mới xưng đế, trước hết ở Vũ Xương, lấy quốc hiệu là Ngô, và măi tới năm 238 mới dời về Kiến Nghiệp. Vũ Xương tức là thành Kinh Châu ở tỉnh Hồ Bắc, c̣n Kiến Nghiệp là tên mới của thành Mạt Lăng ở Dương Châu, tỉnh Giang Tô. Tên Kiến Nghiệp là do vua Tôn Quyền đặt. Có lẽ Chi Khiêm đă được vua Tôn Quyền mời dạy cho thái tử là Tôn Lượng ngay từ lúc kinh đô nước Ngô c̣n đặt ở Vũ Xương. Kèm cho hoàng thái tử học lại có nhiều nhà trí thức khác trong đó có học giả Vi Diệu, tên tự là Vi Chiếu. V́ Chi Khiêm là người nước ngoài nên không được chính thức ghi tên trong Ngô Sử.

Trong số các kinh điển do Chi Khiêm phiên dịch có những kinh điển Đại Thừa như kinh Duy Ma Cật, kinh Đại Bát Niết Bàn, kinh Bát Nhă (Đại Minh Độ Kinh), cũng có những kinh nguyên thỉ như kinh Pháp Cú và kinh Nghĩa Túc. Điều cần ghi nhớ là hồi ấy tư liệu của cả hai truyền thống đều có mặt.

Sách Cao Tăng Truyện của thiền sư Huệ Hạo cho biết là thầy Tăng Hội đă từ Giao Châu tới kinh đô Kiến Nghiệp của nước Đông Ngô vào năm 247, năm thứ mười của niên hiệu Xích Ô. Lúc đó vua Tôn Quyền đă ở ngôi được 18 năm, và chắc rằng trong mười tám năm này cư sĩ Chi Khiêm đă có cơ hội dịch được nhiều kinh điển tại Kiến Nghiệp. Sách Cao Tăng Truyện cũng cho biết là khi thiền sư Tăng Hội bước chân đến Đông Ngô (“miền Giang Tả”) th́ đó là lần đầu tiên vương quốc Đông Ngô thấy được h́nh dáng một vị sa môn. Như vậy cũng có nghĩa là lúc bấy giờ các vị Duy Kỳ Nan và Tương Diễm chưa đến đó, hoặc chưa có mặt ở đó. Có thể hai vị này chỉ đến Vũ Châu và ở lại Vũ Châu. Cũng có thể hai vị này không phải là người xuất gia, mà chỉ là những vị cư sĩ như Chi Khiêm. Hai cái tên Duy Kỳ Nan (Vighna) và Tương Diễm (sách Cao Tăng Truyện nói Tương Diễm c̣n có tên khác là Luật Diễm) cũng không có dáng dấp của những pháp danh của người xuất gia.

Cao Tăng Truyện cho biết rằng Chi Khiêm (hiệu Cung Minh) là người học rộng, biết nhiều, nói được sáu thứ tiếng, người cao, gầy mà hơi đen. Trong hai mắt, tṛng trắng th́ lớn mà con ngươi th́ màu vàng. Tuy người mảnh khảnh nhưng đó là một cái túi hiểu biết, người đương thời hay nói như thế. Vua Tôn Quyền nghe tiếng mới mời đến kèm dạy cho thái tử. Thái tử tên là Tôn Lượng.

Sách Cao Tăng Truyện nói rằng khi Tăng Hội tới Kiến Nghiệp, việc đầu tiên mà thiền sư làm là dựng một mái lá, đặt lên một tượng Bụt và bắt đầu thực tập thiền hành. “Đây là lần đầu tiên ở nước Ngô xuất hiện một vị sa môn”, sách Cao Tăng Truyện viết. Vua Tôn Quyền nghe nói, vời đến, đặt ra nhiều thử thách và cuối cùng tuân phục, giúp thầy Tăng Hội lập nên ngôi chùa đầu tiên ở nước Ngô, gọi là chùa Kiến Sơ, và cho xây bảo tháp bên cạnh. Khu xây cất ấy được gọi là Trung Tâm Phật giáo (Phật Đà Lư).

Chắc chắn là cư sĩ Chi Khiêm đă đóng góp một phần quan trọng vào việc yểm trợ xây dựng Trung Tâm Phật Giáo này, bởi v́ ông đang được vua Tôn Quyền tin tưởng, giao cho công việc dạy dỗ thái tử. Và từ năm 247 trở đi cho đến khi vua Tôn Quyền băng (252), thầy Tăng Hội và cư sĩ Chi Khiêm đă có cơ hội làm việc dịch thuật với nhau trong một khung cảnh rất thuận lợi là chùa Kiến Sơ, là Trung Tâm Phật Giáo Phật Đà Lư.

Các học giả ai cũng công nhận là văn phong của cả hai vị này đều rất điển nhă. Họ đă có can đảm sử dụng các danh từ Khổng giáo và Lăo giáo có sẵn để dịch những danh từ Phật học, đă t́m cách dịch nghĩa chứ không chịu chỉ chấp nhận phiên âm, trừ những danh từ khó dịch nhất. Nước Ngô chỉ cường thịnh trong thời gian vua Tôn Quyền trị v́. Sau khi vua băng (252) th́ quyền thần chống đối lẫn nhau làm cho nội bộ suy yếu. Thái tử Tôn Lượng lên ngôi, không đủ sức trị v́. Cư sĩ Chi Khiêm bỏ vào núi Khung Ải (Long Sơn) để tĩnh tu. Tôn Hưu (Cảnh Đế) lên ngôi cho đến năm 264 th́ băng và Tôn Hạo lên kế vị. Vua Tôn Hạo tính t́nh nóng nảy, bạo động, đă giết hại nhiều vị trung thần. Nghe lời dèm pha, Tôn Hạo muốn đàn áp Phật giáo và triệt tiêu chùa Kiến Sơ. Nhưng với đức độ và phong thái bất bạo động của ḿnh, thầy Tăng Hội đă cảm hóa được vua Tôn Hạo và cuối cùng vua này chịu quy y và thọ tŕ năm giới. Trong khi cư sĩ Chi Khiêm bỏ vào núi ẩn tu th́ thiền sư Tăng Hội vẫn tiếp tục chủ tŕ Trung tâm Phật giáo Kiến Sơ, tổ chức đại giới đàn thu nhận đệ tử người Ngô xuất gia, và làm cho đạo Bụt trở nên hưng thịnh ở miền Giang Tả. Để tổ chức những giới đàn truyền giới như thế, chắc hẳn thiền sư đă cho mời các vị cao tăng ở Giao Châu tới để thành lập hội đồng truyền giới có đủ tam sư và thất chứng.

Cả hai vị Tăng Hội và Chi Khiêm đă đóng góp đáng kể về mặt nghi thức hành tŕ và tán tụng. Chi Khiêm đă soạn được Phạm Bối Tam Khế  Tán Bồ Tát Liên Cú căn cứ trên Vô Lượng Thọ Kinh và Thái Tử Thụy Ứng Bản Khởi Kinh. Tăng Hội cũng soạn được những điệu tán tụng rất trong sáng đẹp đẽ và cảm động được ḷng người gọi là Nê Hoàn Phạm Bối.

Ta biết bài tựa kinh An Ban Thủ Ư đă được thiền sư Tăng Hội viết tại Luy Lâu, nhưng ta không biết Lục Độ Tập Kinh được dịch ở Luy Lâu hay ở Kiến Nghiệp. Có một kinh do Chi Khiêm dịch đă được đưa vào phần cuối của Lục Độ Tập Kinh, đó là kinh Kính Diện Vương. Điều đó cho ta thấy cái giao t́nh mật thiết giữa hai vị học giả. Chắc chắn là thầy Tăng Hội đă sử dụng kinh Pháp Cú và các kinh khác do cư sĩ Chi Khiêm dịch để giảng dạy cho đồ chúng tại chùa Kiến Sơ.

Hồi đó bốn bộ kinh A Hàm c̣n chưa được dịch ra tiếng Hán. Những từ ngữ mà các vị Chi Khiêm và Tăng Hội sử dụng đă đóng góp rất nhiều cho công tŕnh phiên dịch các kinh A Hàm trong những thế kỷ kế tiếp.

Năm 280, vào tháng tư, vua Tôn Hạo ra đầu hàng nhà Tấn. Tháng chín năm ấy thiền sư Tăng Hội viên tịch. Vậy là vị thiền sư gốc Việt này đă hành hóa tất cả được 31 năm ở nước Đông Ngô.

Đầu năm nay khi phiên dịch xong kinh Nghĩa Túc, tôi bắt đầu dịch kinh Pháp Cú và khám phá ra rằng cư sĩ Chi Khiêm cũng đóng một vai tṛ quan trọng trong việc cầm bút và biên tập trong ấy. Như đă nói ở đầu bài này, kinh Pháp Cú chữ Hán có tới mười ba phẩm mà kinh Pháp Cú chữ Pali không có. Đó là do công tŕnh của cư sĩ Chi Khiêm. Những phẩm như phẩm Vô Thường hay Niết Bàn đều không có trong kinh Pháp Cú tiếng Pali, trong khi các đề tài ấy rất quan trọng. Các phẩm không có trong bản Pali là: Vô Thường, Giáo Học, Đa Văn, Mă Tín, Phá Giới, Duy Niệm, Từ Nhân, Ngôn Ngữ, Lợi Dưỡng, Nê Hoàn,  Sinh Tử, Đạo Lợi và Cát Tường. Cát Tường, phẩm chót, là một kinh rất phổ biến ở các nước Phật giáo Nam phương, thường được các Phật tử tại gia học thuộc ḷng. So với bản tiếng Pali, th́ trong bản tiếng Hán, tám phẩm đầu trong số mười ba phẩm vừa nêu tên được để lên đầu, và năm phẩm c̣n lại được đặt ở cuối.  

Những tư liệu mà cư sĩ Chi Khiêm sử dụng để làm ra mười ba phẩm ấy được thầy Tương Diễm cung cấp mà cũng có thể đă được thầy Tăng Hội cung cấp. Trong bài tựa kinh Pháp Cú Hán Tạng, tuy không có tên người đề tựa ở đầu bài hay cuối bài, nhưng căn cứ trên nội dung ta biết cư sĩ Chi Khiêm là tác giả. Đọc câu: “Khi nghe Khiêm tôi nói rằng lời dịch c̣n chưa được thuần nhă th́ thầy Duy Kỳ Nan nói rằng Bụt chỉ cần nương vào nghĩa chứ không cần để ư tới tô điểm văn hoa” (Sơ Khiêm kỳ vi từ bất nhă Duy Kỳ Nan viết Phật ngôn y kỳ nghĩa bất dụng tiết), ta biết người viết tựa là Chi Khiêm. Đoạn sau ông lại viết: “Hội tương viêm lai, cánh tùng nặc vấn tạo thử kệ bối, phục đắc thập tam phẩm.” Chữ Viêm ở đây chắc là do chữ Diễm viết lầm, cho nên ai cũng đọc là Diễm, và ai cũng dịch là “gặp Tương Diễm tới” (Gặp Tương Diễm tới, tôi lại có dịp chất vấn thêm. Nhân cơ hội ấy tôi lại nhận được thêm một số các bài kệ nữa cho nên góp được thêm mười ba phẩm mới vào). Tôi thấy dịch “hội tương diễm lai” là “gặp Tương Diễm tới” th́ có cái ǵ không ổn. Trước đă nói khi Tương Diễm tới Vũ Xương, ḿnh đă được gặp và đă yêu cầu Tương Diễm dịch Kinh Pháp Cú rồi mà. Nếu lần này gặp nữa th́ không phải là lần gặp đầu. Cho nên chữ lai không thể dịch là tới mà phải dịch là trở lại. Theo tôi th́ chữ Hội đây có nghĩa là Tăng Hội, cũng như chữ Khiêm phía trên có nghĩa là Chi Khiêm. Và tôi nghĩ rằng ḿnh có thể dịch ‘hội tương diễm lai’ là “khi thầy Tăng Hội đưa ông Diễm tới lại” (chữ tương cũng có nghĩa là đem). Điều này có nghĩa là thầy Tăng Hội đă có cơ hội gặp hai vị Duy Kỳ Nan và Tương Diễm ở Kiến Nghiệp trong thời gian sau khi chùa Kiến Sơ đă được kiến lập, và tư liệu đưa ra kỳ này là do cả hai thầy Tương Diễm và Tăng Hội cung cấp. Rất có thể thầy Tăng Hội đă mời hai vị tham dự vào hội đồng truyền giới đầu tiên tổ chức tại chùa Kiến Sơ cho người Ngô được xuất gia, bởi v́ vào đời Hán, người Hán tộc chưa ai được phép cắt tóc làm sa môn.

 

 

Mặt trời, mặt trăng đều chiếu sáng thế gian

Tôi có thật nhiều hạnh phúc trong khi dịch kinh Pháp Cú chữ Hán, tuy đôi khi cũng vấp phải một vài khó khăn. Dịch kinh Pháp Cú cho tôi nhiều cảm hứng. Ví dụ khi dịch đến bài kệ thứ 17 trong phẩm Phóng Dật, tức là phẩm thứ 10:

“Xuất gia từ khi c̣n trẻ tuổi mà tu tập theo giáo pháp của Bụt một cách đầy đủ th́ sẽ chiếu sáng được cho thế gian như một mặt trăng trong bầu trời không mây.”

Nguyên văn chữ Hán:

Thiếu tráng xả gia

Thịnh tu Phật giáo

Thị chiếu thế gian

Như nguyệt vân tiêu

Trong chương thứ 34, phẩm Sa Môn, ở bài kệ thứ 23 cũng có h́nh ảnh của một vầng mặt trời:

“Người xuất gia dù c̣n trẻ nhưng hết ḷng thực tập Phật pháp th́ cũng giống như một vầng thái dương soi sáng thế gian trong khung trời không có mây ám.”

Nguyên văn chữ Hán:

Thảng hữu thiếu hành

Ứng Phật giáo giới

Thử chiếu thế gian

Như nhật vô ế

Phía bên kinh bản tiếng Pali, ta có một bài kệ, cũng trong phẩm Sa Môn, cũng bài thứ 23, mà thay v́ mặt trời, ta lại thấy mặt trăng:

Yo have daharo bhikkhu

yuñjati buddhasāsane

So imam lokam pabhāseti

abbhā mutto’ va candimā

 Tôi nhớ lại hồi Bụt mới thành đạo, đại đa số người xuất gia theo Ngài là người trẻ. Lấy cảm hứng ở bài kệ trên, bắt đầu từ năm 2010 tôi đă đặt pháp tự cho những người xuất gia bằng chữ trăng  trời. Các sư cô trẻ có những tên như Chân Trăng Mười Sáu, Chân Trăng Phương Nam, Chân Trăng Chùa Xưa, v.v… và các sư chú trẻ có những tên như Chân Trời Phương Bối, Chân Trời Thân Hữu, Chân Trời Huyền Thoại, v.v… để nhớ là dù ḿnh c̣n trẻ tuổi, nếu ḿnh tu học cho tinh chuyên th́ cũng sẽ như mặt trời hay mặt trăng, chiếu sáng được cho thế gian. 

Tôi đă cố ư dịch các bài kệ thành văn xuôi để cho dễ hiểu. Ngày xưa văn học Phật giáo, trong những thế kỷ đầu, là văn học truyền khẩu; thi kệ là phần dễ nhớ dễ thuộc cho nên trùng tụng (già đà, gathà, thi kệ) là thể tài được ưa chuộng nhất. Nó cũng như ca dao, dễ nhớ, dễ thuộc. Nhưng bây giờ ta đă viết xuống được rồi th́ ta cũng có thể cất giữ lâu dài mà không sợ quên, do đó ta không hẳn phải dịch thành thi kệ. Tuy nhiên, nếu có dịp, tôi cũng sẽ lấy ư của văn xuôi để dịch lại thành thi kệ.

Tôi viết bài tựa này cũng để ghi nhớ công ơn chư tổ đă làm mọi cách để cho Phật pháp được truyền bá rộng răi và lâu dài về sau, và cũng để nhớ về thiền sư Tăng Hội và cư sĩ Chi Khiêm …

Tôi đă có cơ hội giảng được ba phẩm trong kinh này, đó là phẩm Nê Hoàn (phẩm thứ 36), được tôi đặt tên là Kinh Rong Chơi Trời Phương Ngoại, phẩm Ái Dục (phẩm thứ 32), được tôi đặt tên là Kinh Chiếc Lưới Ái Ân, và phẩm Cát Tường (phẩm thứ 39) mà tôi đặt tên là Kinh Điềm Lành Lớn Nhất. Có dịp tôi sẽ b́nh giải tiếp. Xin mời các vị đă từng đọc và thực tập kinh Pháp Cú dịch từ tiếng Pali thưởng thức kinh văn này dịch từ tiếng Hán. Sẽ có những cái bất ngờ …

Tiếp theo: Bài tựa Kinh Pháp Cú » 

 

2. Bài tựa Kinh Pháp Cú

Trong tạng kinh chữ Hán

Người viết: Cư sĩ Chi Khiêm (thế  kỷ thứ III)

Người dịch: Thích Nhất Hạnh

 

Dhammapada là giáo nghĩa thiết yếu của các kinh. Dhamma là pháp, Pada là câu, là cú, là kệ. Pháp Cú có nhiều bộ khác nhau: có bộ có 900 câu kệ, có bộ 700 câu, và có bộ 500 câu. Kệ là những lời ngắn gọn, như bài thơ, bài tụng. Những câu ấy do Bụt nói ra, không phải một lần tất cả các câu, mà chỉ khi nào xúc sự th́ mới nói lên một câu. Tất cả các câu ấy đều có gốc gác rải rác trong các kinh.

Bụt là bậc có Nhất Thiết Trí, bản chất của Người là đại nhân từ, v́ thương xót nhân gian cho nên mới xuất hiện trên cuộc đời này để mở bày đạo nghĩa, giải cứu cho con người. Mười hai thể tài kinh điển nói lên được một cách tổng quát những ǵ thiết yếu nhất của đạo nghĩa ấy để được phân thành một số kinh bộ. Bốn bộ kinh A Hàm được lưu truyền lại sau khi Bụt qua đời là do công phu của thầy A Nan tụng đọc lại. Các kinh dù lớn hay nhỏ đều bắt đầu bằng câu “Đây là những ǵ tôi đă được nghe khi Bụt đang cư trú ở miền…v.v.” Về sau các vị sa môn trong năm bộ phái Phật giáo đă nghiên cứu thông suốt về giáo nghĩa trong các bộ kinh ấy, sưu tầm và chép ra thành những bài kệ bốn câu hoặc sáu câu, xét theo ư nghĩa mà xếp riêng thành từng phẩm. Đối với mười hai thể tài giáo lư, không cần phải châm chước, không cần phải gọi bằng một cái tên riêng, cho nên mới gọi là Pháp Cú. Các kinh điển đều là do sự tập hợp của các câu nói về chánh pháp mà có. Pháp Cú cũng là sự tập hợp của các câu nói về chánh pháp.

Cận đại có nhà họ Cát lưu truyền một bộ kinh Pháp Cú có 700 bài kệ. Nghĩa lư của các bài kệ rất sâu, những người dịch chưa thật sự lột được hết nghĩa lư ấy. Được gặp Bụt đó là một việc hiếm có, được nghe lời dạy của Bụt cũng là một chuyện hiếm có. Với lại các vị Bụt lại hay xuất hiện ở miền Tây Trúc. Mà ngôn ngữ Tây Trúc rất khác với văn Hán. Sách là sách Ấn Độ, chữ cũng là chữ Ấn Độ, tên người và tiếng gọi sự vật không giống nhau, cho nên phổ biến được kinh điển là chuyện khó.

Ngày xưa có các thầy An Thế Cao và Phật Điều đă từng dịch kinh tiếng Phạn ra tiếng Tần, lột được ư, bây giờ ít ai nối tiếp được công việc ấy. Những người dịch kinh sau đó tuy không làm được cẩn mật như thế nhưng ít nhất cũng đă truyền đạt được phần đại ư, tuy c̣n thô thiển nhưng cũng đă là quư hóa lắm rồi. Trước hết là thầy Duy Kỳ Nan, từ Ấn Độ tới Vũ Xương vào năm thứ ba của niên hiệu Hoàng Vũ. Chính tôi đă được thầy ấy trao cho bản Pháp Cú có 500 bài kệ. Tôi mới mời vị đồng đạo của thầy ấy là ông Trúc Tương Diễm dịch ra chữ Hán. Ông Diễm tuy giỏi tiếng Phạn nhưng vốn liếng chữ Hán vẫn chưa đủ. Những lời dịch của ông ta c̣n mang rất nhiều tiếng phiên âm và ngữ pháp phạn ngữ, c̣n có vẻ chất phác quá. Khi nghe Chi Khiêm tôi nói rằng lời dịch c̣n chưa được thuần nhă, th́ thầy Duy Kỳ Nan nói rằng Bụt chỉ cần nương vào nghĩa chứ không cần để ư tới tô điểm văn hoa. Chỉ cần chủ yếu lấy được cái pháp thôi chứ không cần đẹp. Những người truyền dịch kinh điển chỉ cần làm cho lời kinh dễ hiểu, đừng làm cho thất thoát cái nghĩa chính, đó là tốt rồi. Ngồi trong ban phiên dịch, có người nói: Ngày xưa Lăo Tử đă từng nói, “Lời nói hay th́ khó tin, lời nói tin th́ khó hay.” Đức Khổng Tử cũng từng nói, “Sách không thể nói hết lời, lời không thể nói hết ư.” Những lời nói như thế cho ta thấy rơ rằng ư của các bậc thánh nhân rất sâu sắc vô cùng. Bây giờ dịch từ tiếng Phạn ra th́ phải thật sự lột được ư kinh. Cho nên người dịch phải tự xem bài kệ bằng tiếng Phạn và đọc lên tiếng Hán bằng chính miệng của ḿnh. Do đó phải cố gắng nói ra cho được cái ư chỉ trong bản gốc mà không cần phải thêm thắt văn hoa. Những chỗ nào người dịch không hiểu th́ thà rằng đừng dịch. Cũng v́ lẽ đó mà trong công việc dịch thuật thế nào cũng đă có những thất thoát, và có nhiều cái bị bỏ lại.

Tuy nhiên, dù lời c̣n chất phác nhưng ư chỉ rất thâm uyên, câu văn c̣n giản ước nhưng nghĩa lư rộng sâu và các sự việc nhắc tới đều có liên hệ mật thiết với các kinh. Chương nào cũng có gốc rễ của chương ấy và bài kệ nào cũng có nghĩa lư của bài kệ ấy.

Bên Ấn Độ, những người mới tu mà không chịu học kinh Pháp Cú là những người được gọi là ưa học nhảy lớp, không theo tŕnh tự. Kinh Pháp Cú là đối tượng nghiên cứu quan trọng của người mới học mà cũng là kho tàng uyên áo cho những người đă đi sâu vào Phật học. Kinh này có khả năng chỉ bày cho những kẻ mê mờ, làm sáng tỏ cho những người c̣n nhiều nghi hoặc và giúp cho người ta tự học được một ḿnh. Nhờ kinh này mà kẻ học giả tuy công phu bỏ ra c̣n ít nhưng kết quả thu hoạch được th́ rất lớn. Cho nên ta có thể nói rằng kinh này là cốt tủy của giáo pháp vi diệu.

Lúc trước, khi tiếp nhận kinh này tôi thấy có nhiều chỗ tôi không hiểu được. Khi thầy Tăng Hội đem ông Diễm tới tôi lại có cơ hội chất vấn thêm. Nhân cơ hội ấy tôi lại nhận được thêm (từ các vị ấy) một số các bài kệ nữa, cho nên góp được thêm mười ba phẩm mới vào. Tham cứu các văn bản xưa và làm công việc hiệu đính th́ kết quả là sau khi thêm mười ba phẩm mới vào, kinh này có được tất cả 39 phẩm và 752 bài kệ. Điều này đă đem lại nhiều bổ ích và giúp cho sự học vấn của chúng ta rộng răi thêm nhiều.

« Trước: Bài tựa - Kết một tràng hoa Tiếp theo: Kinh Quán Chiếu Vô Thường » 

 

 

3. Phẩm thứ 1. Kinh Quán Chiếu Vô Thường

Ngày nay đă qua

Đời sống ngắn lại

Hăy nh́n cho kỹ

Ta đă làm ǵ?

Đại chúng hăy cùng tinh tấn

Thực tập hết ḷng

Sống cho sâu sắc và thảnh thơi

Hăy nhớ vô thường

Đừng để tháng ngày trôi đi oan uổng.

 

 

Vô thường phẩm  Pháp Cú kinh đệ nhất

Kinh Quán Chiếu Vô Thường

Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng

 

Phẩm thứ 1

 

Vô thường là một phép quán, giúp cho ta thấy được tính cách biến đổi thành hoại mau chóng của h́nh hài cũng như của mọi vật, trong đó có cả tâm ư. Quán vô thường giúp ta trân quư những ǵ đang có mặt và sống được sâu sắc mỗi giây phút của sự sống hằng ngày. Quán vô thường ta sẽ buông bỏ được những ǵ phù hoa, không thật, không đem lại b́nh an thật sự cho ta sau này. Vô thường cũng là một phép thiền định. Cái thấy vô thường đưa tới cái thấy vô ngă và tháo gỡ được cho ta tất cả các phiền năo như tham, giận, kiêu căng...

Tôi rất thích bài kệ đầu: Ư thức là ḿnh vừa mới ngủ dậy th́ nên mở tâm vui mừng. Ngày xưa tôi đă viết bài hát “Thức dậy hôm nay tôi thấy trời xanh, chắp tay tôi cám ơn đời mầu nhiệm…”. Tôi cũng đă viết bài kệ:

“Thức dậy mỉm miệng cười

Hăm bốn giờ tinh khôi

Xin nguyện sống trọn vẹn

Mắt thương nh́n cuộc đời”.

Bài kệ thứ hai tóm thu được toàn bộ giáo lư đạo Bụt: đó là bài kệ nổi tiếng:

“Chư hạnh vô thường

Thị sinh diệt pháp

Sinh diệt diệt dĩ

Tịch diệt vi lạc”

Tất cả các pháp hữu vi đều vô thường, có sinh rồi th́ phải có diệt. Nếu vượt được ư niệm sinh diệt th́ tiếp xúc được với cái vui của Niết Bàn. Hai câu đầu nói về thế giới hiện tượng hữu vi, hai câu sau nói về thế giới bản thể vô vi. Niết Bàn và Sinh Diệt không phải là hai thực tại tách rời nhau.

Bài kệ thứ 13 đă được đưa vào Thiền Môn Nhật Tụng để xướng trong buổi công phu chiều: “Thị nhật dĩ quá, mạng diệc tùy giảm, như thiểu thủy ngư, tư hữu hà lạc...”. Tại Làng Mai bài kệ vô thường đă được dựng lại như sau:

Ngày nay đă qua

Đời sống ngắn lại

Hăy nh́n cho kỹ

Ta đă làm ǵ?

Đại chúng hăy cùng tinh tấn thực tập hết ḷng

Sống cho sâu sắc và thảnh thơi

Hăy nhớ vô thường

Đừng để tháng ngày trôi đi oan uổng.”

  

Bài kệ 1

Thụy miên giải ngụ                             
Nghi hoan hỉ tư                            
     
Thính ngă sở thuyết
                        
Soạn kí Phật ngôn 
                        


 
Ư thức là ḿnh vừa ngủ dậy th́ nên mở tâm vui mừng. Hăy lắng nghe những lời sau đây ghi chép lại giáo lư của Bụt.

 

 Lúc vừa ngủ dậy

Mở tâm vui mừng

Lắng nghe những lời

Giáo lư của Bụt.

 

 

Bài kệ 2

Sở hạnh phi thường                             
Vị hưng suy Pháp                          
     
Phu sanh triếp tử                          
     
Thử diệt vi lạc                               
     


 

 Tất cả các hành đều vô thường, tất cả đều là những cái đă được h́nh thành và đều sẽ phải suy yếu. Hễ có sinh là phải có diệt. Vượt thoát được cái sinh cái diệt ấy là hạnh phúc lớn.

 Vạn pháp vô thường

H́nh thành suy yếu

Có sinh có diệt

Vượt thoát đem vui.

 

 

Bài kệ 3

Thí như đào gia                                 
Duyên thực tác khí                      
     
Nhất thiết yếu hoại                       
     
Nhân mạng diệc nhiên                  
     


Như người thợ gốm sử dụng khuôn và đất sét để nặn ra các vật dụng, tất cả những ǵ được tạo tác ra cuối cùng cũng đều phải bị hư hoại. Mạng sống con người cũng thế.

 Như người thợ gốm

Nặn ra vật dụng

Rồi sẽ hư hoại

Mạng người cũng thế.

   

Bài kệ 4

Như hà sử lưu                                   
Văng nhi bất phản                         
     
Nhân mạng như thị                        
     
Thệ giả bất hoàn                           
     


Như con sông chảy xiết, đi mà không trở lại, mạng sống con người cũng như thế, một khi đi qua th́ không trở về, già đi th́ không trẻ trở lại.

 Như sông chảy xiết

Đi không trở về

Mạng người cũng thế

Già đến trẻ lùi.

 

Bài kệ 5

Thí nhân thao trượng                          
Hành mục thực ngưu                     
     
Lăo tử do nhiên                            
     
Diệc dưỡng mạng khứ                   
     


Như kẻ mục đồng cầm gậy lùa ḅ đi ăn cỏ, cái già và cái chết cũng lùa mạng sống của chúng ta đi về nẻo chết.

 Như kẻ cầm gậy

Lùa ḅ ăn cỏ

Già chết cũng lùa

Mạng sống chúng ta

Đi về nẻo chết.

 

Bài kệ 6

Thiên bách phi nhất                            
Tộc tính nam nữ                            
     
Trữ tụ tài sản
                                     
Vô bất suy tang                             
     


Bất cứ ai, bất cứ là nam hay là nữ, bất cứ thuộc ḍng họ nào, trăm ngàn như một, dù có chất chứa tài sản nhiều cách mấy cũng không ai thoát khỏi sự suy tàn.

 Trăm họ như một

Dù nam hay nữ

Tích tụ tài sản

Sao khỏi suy tàn.

 

 

Bài kệ 7

Sanh giả nhật dạ                                 
Mạng tự công tước                       
     
Thọ chi tiêu tận                             
     
Như huỳnh xuyên thủy                    
    穿 


Mỗi ngày mỗi đêm, sinh mạng tự giảm xuống, tuổi thọ cứ tiêu hao dần dần cho đến hết, như nước cạn trong hồ.

 Mỗi ngày mỗi đêm

Sinh mạng tự giảm

Tuổi thọ tiêu dần

Như nuớc trong hồ.

 

Bài kệ 8

Thường giả giai tận                              
Cao giả diệc đọa                           
     
Hợp hội hữu  ly                             
     
Sanh giả hữu tử                            
     


Cái c̣n dù có dài lâu cách mấy cuối cùng cũng phải trở thành cái hết, cái cao trở thành cái thấp, cái phối hợp đi tới cái ly tan, cái sinh đưa tới cái tử.

 Dài lâu cũng hết

Cao trở thành thấp

Phối hợp sẽ tan

Sinh rồi cũng chết.

 

 Bài kệ 9

Chúng sanh tướng khắc                      
Dĩ tang kỳ mạng                           
     
Tùy hành sở đọa                           
     
Tự thọ ương phước                      
     


Các loài chúng sanh thường xung đột với nhau, do đó mà mạng sống bị tan vỡ, tùy theo hành động của ḿnh mà bị sa đọa hoặc nhận chịu tai ương hoặc thừa hưởng phúc báo.

 Chúng sinh xung đột

Mạng sống vỡ tan

Sa đọa tai ương

Phúc báo do ḿnh.

 

Bài kệ 10

Lăo kiến khổ thống                              
Tử tức ư khứ                                 
     
Lạc gia phược ngục  
                         
Tham thế bất đoạn                        
     


Tuổi già phải gánh chịu đau nhức, khi chết, trước khi tâm thức ĺa bỏ thân xác th́ lại bị sự tham tiếc gia đ́nh ràng buộc như nơi chốn tù ngục, như vậy th́ không thể chấm dứt được luân hồi trong thế gian.

 Tuổi già đau nhức

Tâm thức ĺa thân

Lúc chết tham tiếc

Gia đ́nh vây hăm

Ĺa thế được sao.

 

 Bài kệ 11

Đốt ta lăo chí                                      
Sắc biến tác mạo                          
     
Thiểu thời như ư                            
     
Lăo kiến đạo tạ                             
     


Thương biết bao nhiêu! Khi tuổi già đến, nhan sắc biến đổi, suy tàn, ít có điều như ư, tuổi già chỉ thấy dẫm chân tại chỗ.

 Thương thay tuổi già

Nhan sắc suy tàn

Ít điều vừa ư

Giẫm chân tại chỗ.

  

Bài kệ 12

Tuy thọ bách tuế                                  
Diệc tử quá khứ                            
     
Vi lăo sở yếm                               
     
Bệnh điều chí tế                            
     


Dù có sống tới một trăm tuổi rồi cũng phải chết, tuổi già hay trở nên ngán ngẩm, bệnh tật liên miên cho đến hết đời.

Dù sống trăm tuổi

Rồi cũng phải chết

Tuổi già ngán ngẫm

Bệnh tật liên miên.

  

Bài kệ 13

Thị nhật dĩ quá                                   
Mạng tức tùy giảm                       
     
Như thiểu thủy ngư                       
     
Tư hữu hà lạc                              
     


Ngày hôm nay đă qua, mạng sống theo đó mà rút ngắn lại, t́nh trạng giống t́nh trạng con cá thiếu nước, c̣n có cái vui ǵ?

Mỗi ngày qua đi

Mạng sống ngắn lại

Như cá thiếu nuớc

Có ǵ vui đâu.

 

Bài kệ 14

Lăo tắc sắc suy                                    
Sở bệnh tự hoại                              
     
H́nh bại hủ hủ                                 
     
Mạng chung tự nhiên                       
     


Tuổi già th́ nhan sắc tàn phai, bệnh tật hủy hoại cơ thể, h́nh hài suy yếu hư nát, tất nhiên phải chết.

 Tuổi già sắc phai

Bệnh tật hủy hoại

H́nh hài hư nát

Tất nhiên phải chết.

 

 Bài kệ 15

Thị thân hà dụng                                
Hằng lậu xú xứ                            
     
Vi bệnh sở khốn                          
     
Hữu lăo tử hoạn                          
     


Thân này cần được sử dụng như thế nào? Từ đó chảy ra những chất bất tịnh, bị bệnh tật đưa vào t́nh trạng khốn đốn. Cái nạn già và chết luôn luôn có đó.

Thân này là ǵ

Bao hôi hám chảy

Bệnh tật vây quanh

Già chết tất đến.


 

Bài kệ 16

Thị dục tự tứ                                       
Phi pháp thị tăng                           
     
Bất kiến văn biến                          
     
Thọ mạng vô thường                     
     


Cứ mặc ư phóng túng trong ṿng tham dục th́ những điều trái với đạo lư càng ngày càng dồn chứa thêm. Chưa từng thấy cái nghe về sự vô thường biến thiên của vạn pháp cho nên người ta không biết là thọ mạng cũng vô thường.

Phóng túng tham dục

Sai trái càng tăng

Sao không nghe thấy

Mạng sống vồ thường.

 

 Bài kệ 17

Phi hữu tử thị                                     
Diệc phi phụ huynh
                            
Vi tử sở bách                               
     
Vô thân khả hỗ                             
     


Dù có con cháu, dù có cha anh ở đấy đi nữa th́ khi thần chết đến mời, không người thân nào có thể nương tựa giúp giữ  ḿnh ở lại.

Dù có con cháu

Cha anh vây quanh

Khi thần chết đến

Không ai giúp được.

 

Bài kệ 18

Trú dạ mạn nọa                                 
Lăo bất chỉ dâm                            
     
Hữu tài bất thí                              
     
Bất thọ Phật ngôn                         
     
Hữu thử tứ tệ
                                    
Vi tự xâm khi                                
     


Đêm ngày kiêu mạn, lười biếng, cho đến già rồi vẫn c̣n giữ thói dâm dật, có của mà không chịu chia sẻ cho kẻ thiếu thốn, chẳng biết vâng làm theo lời Bụt dạy, chính những cái thói xấu ác này sẽ làm hại chính ḿnh.

Đêm ngày kiêu ngạo,

Lười biếng dâm dật

Có của không chia

Không vâng lời Bụt

Bốn điều xấu này

Làm hại chính ḿnh.

 

 Bài kệ 19

Phi không phi hải trung                       
Phi nhập sơn thạch gian             
       
Vô hữu địa phương sở               
       
Thoát chi bất thọ tử                    
       


 Dù có đi trốn tới một địa phương nào đi nữa, trên không trung, dưới đáy biển hay trong hốc núi cũng không thể nào thoát được cái chết.

Dù trốn ở đâu

Đáy biển, hốc núi

Không một nơi nào

Giúp thoát cái chết.

 

Bài kệ 20

Thị vụ thị ngô tác                                 
Đương tác lệnh trí thị                  
       
Nhân vi thử táo nhiễu                  
       
Lư tiễn lăo tử ưu 
                              


Sự việc xảy ra như đă xảy ra trong hiện tại, là do tự ta gây ra, sự việc sẽ xảy ra trong tương lai cũng thế, là do tự ta cả. Con người lâm vào t́nh trạng nhiễu loạn thảm thương như thế cho nên cứ phải măi măi đi tới với nỗi lo âu về cái già và cái chết.

 Sự việc hôm nay

Do ta gây ra

Ngày mai cũng thế

Đời người nhiễu loạn

Măi lo già chết.

 

 Bài kệ 21

Tri thử năng tự tịnh                              
Như thị kiến sanh tận                   
       
Tỳ-kheo yếm ma binh                   
       
Tùng sanh tử đắc độ                    
       


Biết được như thế ta phải cương quyết tự thanh tịnh hóa thân tâm và làm khô cạn chất liệu luân hồi. Vị khất sĩ làm được như vậy mới mong thoát được ṿng vây của binh đội ma vương và vượt thoát được lưới sinh tử.

 Nên tự thanh tịnh

Khô ḍng luân hồi

Đẩy lùi ma vương

Thoát lưới sinh tử.

 

 

 

 

Kinh Pháp Cú - Hán tạng.

Thể kệ.

Hoàn tất ngày 12/8/ 2016, Đà lạt - mùa Vu Lan Báo hiếu Phật lịch 2560

Xin hồi hướng công đức đến  Sư Ông Làng Mai được vạn sự cát tường

Và hương linh phụ mẫu.

 

Nguyên Định.

 

 

Link: https://thuvienhoasen.org/p16a19456/4/kinh-quan-chieu-vo-thuong ;

https://thuvienhoasen.org/p16a19453/4/kinh-phap-cu-han-tang