TRẦN QUANG LONG 

NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG ĐĂ ĐI QUA

 

 Lê Hiếu Đằng

 

 

 

 

 

 

Bài viết của Lê Hiếu Đằng năm 2004, về một người bạn chiến đấu, cũng là chứng từ về sự dấn thân chính trị của chính anh trong suốt năm mươi năm.

 

 Những ngày ở Huế 

Tôi gặp Trần Quang Long trong phong trào sinh viên học sinh chống chính quyền Ngô Đ́nh Diệm, Nguyễn Khánh của những năm 1963-1964 ở Huế. Lúc ấy tôi học đệ nhị trường Quốc học Huế, c̣n Long đă là sinh viên trường Đại học sư phạm Huế, chủ biên tạp chí Đất mới, tiếng nói của Tổng hội sinh viên Huế. Long hơn tôi hai tuổi. Trong những năm đầu thập kỉ sáu mươi của thế kỉ trước, một bộ phận tuổi trẻ thành phố Huế cũng như các thành thị miền Nam khác, đặc biệt là giới sinh viên, quá thất vọng trước chế độ độc tài gia đ́nh trị của Ngô Đ́nh Diệm và sau đó là của các tướng tá vơ biền, thối nát đang tự t́m cho ḿnh con đường đi. Vào thời điểm ấy, các sáng tác trên các tạp chí Sáng tạo, Hiện đại, Thế kỉ hai mươi.v.v... và những sáng phẩm của Albert Camus, J.P.Sartre... ảnh hưởng khá sâu sắc đến giới sinh viên lúc bấy giờ. Những khái niệm như “dấn thân”, “nổi loạn”, “thân phận con người”, “tha nhân”.v... luôn luôn ám ảnh tôi, thôi thúc chúng tôi từ bỏ cái cũ để dấn thân, đi t́m cái mới, phải hành động v́ một chế độ xă hội công bằng và tốt đẹp hơn, chế độ xă hội mà Phan Duy Nhân (Thiết Sử) đă mơ ước: 

 

Yêu anh em, yêu xă hội công bằng

Người yêu người xây dựng tới muôn năm

 (Thiết Sử - Thư gửi các bạn sinh viên) 

 

Lúc ấy chúng tôi hướng về miền Bắc, hướng về Hà Nội với biết bao hy vọng... Chúng tôi đă quen nhau và đấu tranh trong bối cảnh đó.

Và cho đến nay, tôi vẫn nhớ như in một kỉ niệm sâu sắc về Long. Trong một đêm tối mịt mùng, Trần Quang Long và tôi thoát khỏi ṿng vây của công an, cảnh sát của chính quyền Huế - lúc bấy giờ, vượt qua cầu Bạch Hổ, đi thẳng lên chùa Thiên Mụ. Ngồi bó gối bên nhau, mải miết nh́n ḍng sông Hương chạy dịu dàng dưới đêm tối cô tịch, chúng tôi nhớ đến bạn bè, những nam nữ sinh viên học sinh Huế đang tiếp tục bị tù tội, đàn áp, nhớ đến người nữ sinh Đồng Khánh mà tôi rất mực thương yêu không biết bây giờ đăng ở đâu. Bỗng có một vị sư trẻ đến ngồi bên cạnh Long và tôi, nói nhỏ nhẹ bằng một giọng Huế khá nặng: “Hai anh là sinh viên ở mô mà lên cơi đây lánh nạn?” Long cho  vị sư biết hai chúng tôi là sinh viên đấu tranh chống chế độ độc tài gia đ́nh trị của Ngô Đ́nh Diệm đang bị đuổi bắt nên phải chạy lên đây nương tựa cửa chùa. Một lúc lâu, sau một phút ngần ngại, vị sư nọ th́ thầm nói cho chúng tôi nghe về phong trào đấu tranh của nhân dân các thành thị miền Nam cùng với Huế nổi lên chống lại chế độ Ngô Đ́nh Diệm. Vị sư c̣n cung cấp cho chúng tôi những dữ liệu về phong trào đấu tranh của nông dân ở nông thôn đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng miền Trung và sự ra đời của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam, do luật sư Nguyễn Hữu Thọ, một trí thức yêu nước nổi tiếng làm chủ tịch. Bằng một giọng lạc quan, ông quả quyết thế nào chế độ Diệm cũng bị sụp đổ. Nói xong ông bật nhỏ chiếc radio đeo bên cạnh cho chúng tôi nghe.

Trần Quang Long và tôi sững sờ, tim như ngừng đập, vừa sung sướng, vừa ngạc nhiên, hồi hộp. Lần đầu tiên chúng tôi được nghe bài “Giải phóng miền Nam” của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước (lúc ấy lấy tên là Huỳnh Minh Siêng) Long và tôi lặng đi v́ xúc động “Vận nước đă đến rồi. B́nh minh chiếu khắp nơi. Nguyện đem tươi sáng đến cho muôn người”... Giọng đồng ca hùng tráng, tiếng kèn vang lên thúc giục, xóa tan đi mọi nỗi u uất, sợ hăi trong ḷng chúng tôi. Long và tôi như được hồi sinh. Và ngay rạng sáng đêm hôm ấy, mặc dầu thành phố c̣n giới nghiêm, Long và tôi vẫn liều lĩnh vượt cầu Bạch Hổ, về lại khu trường đại học Y khoa, Đại học Sư phạm, trường Đồng Khánh, Quốc học, tiếp tục cùng bạn bè chuẩn bị cho các cuộc xuống đường, hội thảo với một sinh lực mới...

Đầu năm 1964, do nghi ngờ tôi và một số học sinh Quốc học là cơ sở bí mật của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam trong phong trào học sinh sinh viên Huế, nên công an Huế đă bắt tôi và hai anh Lí Thiên Sanh, Hà Thúc Thoan. Sau một thời gian khai thác, không t́m được chứng cứ ǵ, chúng chuyển tôi và Lí Thiên Sanh về lao Thừa phủ. Lúc ấy tôi đang học đệ nhất C (ban văn chương). Lí Thiện Sanh học đệ nhất B (ban Toán) của trường Quốc học. Đến ḱ thi tú tài II chúng tôi đấu tranh đ̣i được ra đi thi. Cuối cùng chúng đành chấp nhận với điều kiện là phải có cha hoặc mẹ bảo lănh, đưa đi thi  và đưa về lại lao Thừa phủ Huế. Ba tôi, trong thời gian tôi bị tù, đă 63 tuổi nhưng phải biết bao lần khổ cực vượt qua cánh đồng An Cựu trong mưa gió để thăm nuôi tôi. Nay ông lại bảo lănh, đưa tôi đi thi tú tài II. Không rơ từ nguồn tin nào, đến ngày thi, tôi đă thấy ba tôi cùng Trần Quang Long đứng trước ổng nhà tù để đón tôi. Thấy tôi Long mừng rỡ ôm chầm lấy tôi, lo lắng nh́n tôi không nói một lời. Thấy tôi ốm o, xơ xác, Long bùi ngùi nắm tay tôi thở dài: “Đằng khổ quá”... Như đă chuẩn bị trước. Long nhờ một người bạn chụp cho hai chúng tôi một tấm h́nh làm kỉ niệm ngay gần cổng nhà tù. Không bao giờ tôi quên buổi sáng hôm ấy... H́nh ảnh của một Trần Quang Long chí t́nh với bạn bè, say sưa với phong trào đấu tranh, không chịu khuất phục, luôn luôn lạc quan tiến về phía trước...

 

 


 Trần Quang Long ghi phía sau tấm ảnh: Chiều thứ sáu 22-5-1964 thằng tù trong và thằng tù ngoài. LHĐ (bên phải) đang bị giam tại lao Thừa Phủ được can thiệp ra dự thi tú tài 64 .

 

Những ngày ở Huế c̣n đọng lại trong tôi nhiều kỉ niệm khác về Long. Những ngày cùng nhau lang thang trên đường Trần Hưng Đạo, Phan Bội Châu (nay là đường Phan Đăng Lưu). Những buổi hội thảo, xuống đường. Những sáng mai ngồi bên tách cà phê nóng hổi ở quán Dung trong thành nội bàn chuyện văn chương, chuyện thời sự, nghe nhạc t́nh... Nỗi mừng vui khi số đầu tiên của tạp chí Đất mới - tiếng nói của Tổng Hội sinh viên Huế mới in xong, c̣n thơm mùi giấy mới. Những đêm gặp gỡ ở quán Bạn... Long vẫn như c̣n đó

 

“Vẫn yêu muôn đời nàng Quỳnh  Như thuở đó...” và những ngày ở Sài G̣n

 Năm 1967, Long dạy học ở Cần Thơ, cuối tuần hay về Sài G̣n - Long thường rủ tôi đi uống caphe và trong những lúc như vậy Long đều đề nghị chủ quán cho nghe bài Hương xưa của Cung Tiến. Một hôm khi nghe đến đoạn: “vẫn yêu muôn đời nàng Quỳnh Như thuở đó...” Long bỗng hỏi tôi: Đằng đó biết Quỳnh Như đang học Đại học Kiến Trúc không? Ḿnh gặp Quỳnh Như ở trại hè đà Lạt. Gặp nhau thời gian ngắn nhưng sao thấy thích Quỳnh Như quá. Ḿnh có viết thư cho Quỳnh Như một vài lần nhưng không thấy hồi âm. Giá như được gặp lại...” Tôi cười thầm v́ Long đă hỏi đúng địa chỉ. Đối với tôi, gia đ́nh Giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ xem tôi như người thân. Một hôm, sau khi đă  hẹn trước với Quỳnh Như, Long và tôi đến thăm. Quỳnh Như tiếp chúng tôi rất thân t́nh. Trước  sự vồn vă, mạnh bạo của Quỳnh Như, Long có vẻ khớp chỉ ngồi cười mỉm... Ngồi một lúc, tôi lấy cớ đi họp ở Tổng hội sinh viên Sài G̣n nên để Long lại một ḿnh. Và từ đó mỗi chiều thứ bẩy, chủ nhật cuối tuần, Long chống nạng (do hậu quả của cuộc đàn áp ở Quy Nhơn) vượt qua cầu Trương Minh Giảng (nay là cầu Lê Văn Sỹ) hăm hở đến thăm Quỳnh Như. Mối t́nh giữa Long và Quỳnh Như khởi đầu như thế đó.

Thời gian này Long thường xuyên về Sài G̣n nên Tổng hội sinh viên Sài G̣n mời Long làm ủy viên văn nghệ của Tổng hội và làm Chủ tịch Hội sinh viên sáng tác, chuẩn bị cho sự ra đời của tuyển tập “Tiếng hát của những người đi tới” - Long lao vào công việc mới một cách say mê, như mê say trong t́nh yêu mới của ḿnh. Trong không khí sôi sục của Sài G̣n của những năm 1966-1967, Long đă sáng tác “Thưa mẹ, trái tim...”, một bài thơ có sức lay động dữ dội mà sinh viên học sinh Sài G̣n cũng như ở các thành thị miền Nam đă trích một số câu để sử dụng như là khẩu hiệu hành động, thúc giục sinh viên học sinh vượt qua mọi khó khăn, trở ngại tiến lên...

Cuối năm 1967, để chuẩn bị cho việc tập hợp lực lượng quần chúng phục vụ cho cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, Tổng hội sinh viên Sài G̣n tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ. Tập thơ Tiếng hát những người đi tới, ra đời trong bối cảnh đó mà người đem hết tâm sức ra để làm nên tập thơ chính là Trần Quang Long.

Tôi c̣n nhớ khi tập thơ này mới in xong, Trần Quang Long, Trương Th́n và tôi đă tổ chức một buổi đọc thơ, ngâm thơ tại nhà chị Đồng, chị của Long, trong cư xá sĩ quan Chí Ḥa (nay là cư xá Bắc Hải quận 10.Tp.HCM). Buổi giới thiệu tập thơ đă thu hút nhiều anh chị em trong phong trào sinh viên Sài G̣n, trong Tổng hội sinh viên Sài G̣n và từ đêm đó, tập thơ đă trở thành người bạn đường của sinh viên học sinh Sài G̣n trong những ngày đấu tranh quyết liệt trên đường phố, trong giảng đường, trường học, trong những đêm không ngủ bên ánh lửa bập bùng...

Trong những ngày tháng ở Sài G̣n, Long đă yêu đă sống và chiến đấu như thế đó...

 

Những ngày cuối cùng ở chiến khu

Đầu năm 1968 trong khói lửa mịt mù của cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân, tôi rời Sài G̣n để tham gia Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và ḥa b́nh Việt Nam(LM các LLDTDC&HBVN). Vừa đi, tôi vừa lưu luyến nh́n về phía Sài G̣n, ở đó, bạn bè, đồng đội tôi đang chiến đấu trong một hoàn cảnh hết sức khó khăn, trong đó có Trần Quang Long. Tâm trạng tôi hoàn toàn khác với Nguyễn Đ́nh Thi khi rời Hà Nội trong những ngày toàn quốc kháng chiến 1946:

 

Người ra đi đầu không ngoảnh lại

Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy...

 

Vượt qua Maren, qua đồng Chó ngáp, theo con đường du kích tôi đến địa điểm tổ chức Đại hội thành lập Liên minh các LLDTDC&HBVN vào lúc mờ sáng sau một đêm không nghỉ và thức trắng. Thật vui mừng và bất ngờ khi tôi gặp lại ở đây giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ thân sinh chị Quỳnh Như vợ của Trần Quang Long. Giáo sư Dương Kỵ trước đây dạy tại đại học Văn khoa Sài G̣n, cùng nhiều nhân sĩ, trí thức khác tham gia phong trào Ḥa b́nh Dân tộc tự quyết nên đă bị chính quyền lúc bấy giờ “tống xuất” ra miền Bắc qua cầu Bến Hải (cầu Hiền Lương) cùng với bác sĩ Phạm Văn Huyến (thân sinh luật gia Ngô Bá Thành), nhà báo Cao Minh Chiến. Biết tôi là bạn thân của Trần Quang Long nên giáo sư hỏi rất nhiều về người con rể mà giáo sư chưa hề gặp mặt. (Mời xem thêm về giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ link: http://gactholoc.net/c70/t70-510/gioi-thieu-sach-giao-su-ton-that-duong-ky-nha-tri-thuc-yeu-nuoc.html )

 Thời gian sau, Trần Quang Long, Trần Triệu Luật cũng lên địa điểm tổng kết. Tôi mừng rỡ ôm chầm lấy hai anh, cảm giác lẻ loi trong những ngày đầu ở chiến khu không c̣n nữa. Biết hoàn cảnh Long và Luật nên tôi càng cảm phục hai anh. Trần Triệu Luật xuất thân từ một gia đ́nh miền Bắc di cư vào Nam năm 1954. Anh là sinh viên Đại học Sư phạm Sài G̣n và là một cây bút sinh viên hết sức sắc bén trong các bài chính luận, đồng thời là một thuyết tŕnh viên đanh thép, sôi nổi trong các cuộc hội thảo đ̣i ḥa b́nh, đ̣i quyền dân tộc tự quyết, chống lại sự có mặt của quân đội Mỹ ở Việt Nam. Tôi cứ đinh ninh rằng với hoàn cảnh gia đ́nh của anh, anh khó có thể dứt bỏ tất cả đi vào chiến khu theo cách mạng. C̣n hoàn cảnh Trần Quang Long càng thương tâm hơn ở khía cạnh khác. Anh ra đi trong lúc vợ anh - chị Quỳnh Như đang mang thai cháu Xuân Thắng. Đêm đầu tiên nằm kề nhau trên cánh vơng, Long đă nói cho tôi nghe những đấu tranh, dằn vặt, đau đớn của anh khi phải rời xa người vợ yêu thương đang mang thai đứa con đầu ḷng để ra đi mà không biết bao giờ trở về... Như là một định mệnh, Long đă có những câu thơ như báo trước số phận của ḿnh:

 

Ta đi không kịp ẵm con thơ

Không kịp về thăm người vợ chờ

Bao năm biền biệt chẳng tăm hơi

Em chắc ngờ ta đă chết rồi

Chôn chặt căm thù trong đất lạnh

Rừng chiều núi sớm vọng hồn ai

(Tiếng hát của người tù. Trích Vực thẳm và hi vọng)

 

Không khí chuẩn bị Đại hội thành lập Liên Minh các LLDTDC&HBVN rất sôi nổi nhưng Long ít nói, có vẻ buồn, trầm ngâm suốt ngày. Tuy nhiên một thời gian ngắn sau đó, Long gạt bỏ mọi nỗi buồn, lao vào cuộc sống ở chiến khu như một chiến sĩ. Anh lấy bí danh là B40, tên của một loại vũ khí chống tăng có sức xuyên phá rất hiệu quả của quân giải phóng. Chắc hẳn thơ anh giờ đây không chỉ là chông gai “xuyên gan lũ giặc”, không chỉ là kiếm sắc “chặt đầu bọn tay sai” mà c̣n dữ dội như khẩu B40 có sức công phá phi thường. Anh và Trần Triệu Luật đă sống rất ḥa b́nh với anh em cán bộ, chiến sĩ trong cơ quan, chịu đựng mọi gian khổ, hiểm nguy, bệnh tật, không một lời than văn, được mọi người yêu mến kính trọng.

Sau đại hội thành lập Liên minh các LLDTDC&HBVN, tôi và một số thành viên trong liên minh được phân công qua Ban tuyên huấn Trung ương  cục miền Nam (B9)  để thực hiện giờ phát thanh của Liên minh trên đài Giải Phóng. Tổ gồm nhà giáo Thiên Giang, nữ văn sĩ Vân Trang, kỹ sư Trần Thiện Tứ, Trần Quang  Long, Trần Triệu Luật và tôi. Bốn anh em chúng tôi được ở chung một nhà, sinh hoạt đầm ấm, vui vẻ mặc dầu bom đạn, bệnh tật vẫn ŕnh rập quật ngă chúng tôi không biết khi nào. Thời gian này Long thường nhắc đến Quỳnh Như và đứa con sắp ra đời. Long buồn v́ đă để Quỳnh Như ở lại một ḿnh trong nỗi cô quạnh của những tháng ngày thai nghén không có chồng bên cạnh. Quỳnh Như là người bề ngoài rất mạnh mẽ nhưng trong sâu kín lại rất nhạy cảm hay buồn tủi. (Mời xem thêm link bài của Ngô Minh: http://cadn.com.vn/news/68_100034_nha-tho-lie-t-si-tra-n-quang-long-tra-i-tim-tho-da-p-ma-i-.asp )

Có những buổi chiều, Long và tôi ra ngoài trảng trống, im lặng ngồi bên nhau, nhớ về Sài G̣n. Tôi chợt nhớ 4 câu thơ của Lê Anh Xuân:

 

Đă bao năm ḷng ta bầm đỏ

Phía trời xa, thành phố Sài G̣n

Cái vầng sáng bồn chồn thương nhớ đó

Cứ đêm đêm nức nở gọi ta về.

 

Long kể cho tôi nghe thời gian sau ngày tôi giới thiệu Long với Quỳnh Như. Long yêu Quỳnh Như mănh liệt, mê đắm. Trong t́nh yêu, Long bao giờ cũng vậy... Thoạt đầu Quỳnh Như kiêu hănh chưa chấp nhận t́nh yêu của Long. Nhưng với sự ĺ lợm, kiên tŕ vốn có của Long cộng với sự chân t́nh của một t́nh yêu thật sự say đắm, cuối cùng Quỳnh Như chấp nhận lời cầu hôn của Long. Thế là hai người bạn của tôi đă sống bên nhau, khi đằm thắm, khi dữ dội. Long nhắc lại những ngày ấy với một giọng buồn thương da diết và bảo tôi hát lại cho Long nghe bài “Hương xưa” của Cung Tiến. “Vẫn yêu muôn đời nàng Quỳnh Như thuở đó”...

 

Nhà thơ Trần Quang Long

 

Thế rồi như là một định mệnh, thơ anh đă thành hiện thực: Long không bao giờ gặp lại Quỳnh Như và đứa con đầu ḷng được nữa. Thật ḱ lạ, đến trước buổi sáng oan nghiệt đó, Long nhận được thư của Quỳnh Như và h́nh của đứa con trai đầu ḷng mới được mấy tháng tuổi. Long vui như mở hội, đem khoe với chúng tôi. Quỳnh Như đă đặt tên cho con là Xuân Thắng, như là một thông điệp gửi cho Long và bạn bè trong chiến khu một niềm tin về một mùa xuân thắng lợi. Nhưng đau đớn và xót xa biết bao khi Long đă cùng Trần Triệu Luật ngă xuống vào buổi sáng ngày 11-10-1968 sau một trận đánh bom ác liệt  của máy bay Mỹ vào căn cứ của Ban tuyên huấn Trung ương cục Miền Nam(B9). Quả bom 500kg của máy bay phản lực F105 của Mỹ đă rơi trúng ngay căn hầm của Long và Luật, đào thành một hố sâu hoắm, chỉ cách căn hầm tôi núp 15 mét. Trần Quang Long, Trần Triệu Luật đă hy sinh như thế đó. Hôm truy điệu hai anh, nhiều vị thành viên trong Liên minh, nhiều cán bộ chiến sĩ của cơ quan Liên minh đă không cầm được nước mắt, khóc cho cuộc đời ngắn ngủi của hai anh. Tôi đọc điếu văn mà nước mắt chảy ṛng ṛng... Cầm trên tay bản thảo tập thơ Sao Rừng lỗ chỗ miểng bom, tôi lại nhớ đến chị Quỳnh Như và cháu Xuân Thắng.

Tôi viết những ḍng hồi ức này về những chặng đường đă qua của Trần Quang Long như là một nén hương tưởng nhớ đến anh, đến Trần Triệu Luật và biết bao bạn bè, người thân trong phong trào học sinh sinh viên đă nằm xuống măi măi v́ lí tưởng công bằng xă hội, v́ Miền Nam hoàn toàn được giải phóng. Đă 36 năm ngày Long, Luật hi sinh (11-10-1968 - 11-10-2004) đă gần 30 năm ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất một nhà, khoảng thời gian dài của một nửa đời người nhưng chúng ta đă làm được ǵ? Câu hỏi ấy cứ ám ảnh tôi măi và những ǵ mà anh và biết bao người đă ngă xuống để lại cho đời, cho đất nước này luôn nhắc nhở chúng ta những người c̣n sống sót sau những năm tháng chiến tranh, không thể vô ơn, quên lăng nỗi khát khao cháy bỏng của biết bao thế hệ tuổi trẻ Việt Nam về một xă hội công bằng, một xă hội mà “Đến con trâu cũng nghé ọ yêu người” (Thơ Thiết Sử - Thư gửi các bạn sinh viên), về một đất nước Việt Nam thật sự Độc lập - Tự do - Hạnh phúc.

Hăy nghĩ đến họ mỗi khi thấy ḷng ta bắt đầu nguội lạnh, thờ ơ trước cảnh các em bé gầy c̣m tranh nhau kiếm sống trên các băi rác ở ngoại ô thành phố mỗi lúc hoàng hôn xuống. Hăy nhớ đến họ mỗi khi chúng ta cơ hồ xuôi tay, bất lực trước bất công xă hội, trước những tệ nạn quan liêu, tham ô, lăng phí... Hăy đứng lên cùng nhau tiếp tục đi theo con đường mà cả một thời trai trẻ chúng ta đă chọn lựa...

 

Tháng 10-2004

LÊ HIẾU ĐẰNG

(Trích trong tập Trần Quang Long - cuộc đời và tác phẩm, NXB Thuận Hóa 2005)

 


 

 

Đọc thêm :

 

Thưa mẹ, trái tim ...

 Thơ Trần Quang Long

 

NQL : Thơ của nhà thơ liệt sĩ Trần Quang Long viết từ thời chống Mỹ mà cứ ngỡ như anh vừa viết xong bây giờ, c̣n chưa ráo mực, hu hu...

 

 Thưa mẹ,

 

năm nay con hai mươi lăm tuổi đầu

công danh ǵ chẳng có

cuộc sống lại cơ cầu

bữa đói bữa no cậy nhờ bè bạn

lây lất chẳng ra sao

mai mốt trát đ̣i con vào Thủ Đức

chắc ǵ mẹ gặp con đâu

anh Cả, anh Hai, chú Cường, chú Phúc

người chết triền đồi, người người chết lũng sâu

chỉ c̣n tờ điện tín xanh lạnh lùng để lại

 

Bây giờ con sống đây

bên những người đă chết

bên những người đang chết

cuộc sống mù ḷa giữa mặt trời đen

con mang máng thấy ḿnh c̣n sống

khi ngồi âm thầm đếm nhịp trái tim

Và con đếm nhịp trái tim

trong cơn hấp hối

những nhịp im ĺm như móng chân rắn mối

bước vào trong nỗi ăn năn

những nhịp băn khoăn

như những lá rơi t́nh đầu chờ đợi

những nhịp giận dỗi

thuở con thơ đ̣i mẹ bế bồng

những nhịp ngoan hiền như gió thoảng bờ sông

căn nhà ḿnh, mẹ con cơm cá

và con rùng ḿnh những âm thanh lạ

xoáy tṛn trong mỗi thớ tim

 

Con nghe tiếng kêu la của bà mẹ đi t́m

quờ quạng xác con trong căn nhà gạch vụn

oanh tạc vùng t́nh nghi

Con nghe tiếng quay cuồng của vũ điệu về khuya

từng tràng cười ré lên như địa ngục

những tiếng cười xen vào tiếng nấc

thằng bé con lượm mẩu bánh ḿ rơi

 

Con nghe tiếng người quằn quại kêu la

những tràng súng vô nhân giữa ḷng đô thị

bắn chết trẻ em, ông lăo, bà già

rồi “bồi thường xứng đáng”

câu chuyện sẽ dần qua

 

Con nghe giữa phố phường

lựu đạn cay và đá, chai độc thoại

máu đổ rồi sẽ thấy mặt anh em

 

Con đang nghe trái tim

nổ tung từng mảnh vụn

máu từng ḍng im ĺm

máu từng ḍng phẫn nộ

 

Trên bàn tay con đó

trên dải đất khô cằn

trên mặt mày khốn khổ

trên cuộc sống lầm than

 

Mẹ ơi, con của mẹ

chỉ c̣n có trái tim

sẽ sống nhờ trái tim

sẽ chết nhờ trái tim

 

Là tâm hồn con đó

là vần thơ con đây

bài học i tờ ngày xưa mẹ dạy

con viết thành lời đắng cay

ḍng máu anh hùng cha con kháng Pháp

con luyện thành lời hăng say

 

Con sẽ vót nhọn thơ thành chông

xuyên vào gan lũ giặc

con sẽ mài thơ như kiếm sắc

chặt đầu văn nghệ tay sai

trả thù cho cha, rửa hờn cho nước

cho con ngẩng đầu nh́n thẳng tương lai

 

Nếu thơ con bất lực

con xin nguyện trọn đời

dùng chính quả tim ḿnh làm trái phá

sống chết một lần thôi

Con sẽ chết như những người đă chết

và những người đang chết

nhưng trái tim con

sẽ đời đời bất diệt

dẫu đă nổ tan tành

dẫu đă khô máu hết

 

V́ mẹ ơi, con biết

trái tim con là thơ

trái tim con là rừng là núi

là lúa là ngô là cam là bưởi

là quá khứ, là tương lai

là khổ đau, là hạnh phúc

là đấu tranh, là bất khuất

 

Trái tim là của con người

viết lịch sử ḿnh trên mặt đất

bằng từng nét máu thắm tươi.