THIỀN TRĂNG

Diệu Trân

 

Diệu Trân

 

Diệu Trân

 

 

Hành giả lặng lẽ quán sát thân, tâm, cảnh trí trước khi nhẹ nhàng ngồi xuống tọa cụ trong thế kiết già. Bộ áo lụa nâu, mềm và rộng sẽ giúp thân thoải mái. Tâm đă lắng như bể nước mưa, phiền năo tuy c̣n đâu đó nhưng chắc mờ nhạt lắm, tựa bụi bặm tận sâu đáy bể. Căn pḥng nhỏ nhưng ngăn nắp, sạch sẽ, không giường lớn nệm cao, chỉ có tọa cụ trên tấm thảm nhỏ và chiếc bàn con để dăm cuốn sách với ly nước lạnh. Ḷng bàn tay phải đặt lên tay trái, hai đầu ngón cái chạm nhau như giao ước cho một thời thiền tĩnh lặng, hành giả lắc vai qua phải, qua trái, phía trước, phía sau, kiểm soát thế ngồi cho thoải mái, xong, khép hờ đôi mắt mới thấy thêm vị khách sẽ theo hành giả cùng vào thiền. Đó là ánh trăng mười bốn len qua song cửa, mềm, nhẹ và thơm ngát hương đêm rằm.

Đêm nay hành giả sẽ quán công án KHÔNG. Chỉ Không thôi, không ǵ nữa. Có trăng hay không trăng cũng nằm trong Không, có ta hay không ta cũng nằm trong Không, tọa thiền hay không tọa thiền cũng nằm trong Không. Phải hợp nhất vào Không v́ rốt ráo, v́ tận cùng, v́ sâu thẳm, cái chúng sanh miệt mài đi t́m là cái Thường Hằng, cái Sẵn Có, cái Đă Là, Đang Là, Sẽ Là, cái Chưa Từng Đến, Chưa Từng Đi …… gọi cái đó tên ǵ tùy người t́m kiếm. Cái đó, tự bản thể trong suốt, không biệt phân hư luận mà giải tỏa trùng trùng hư luận, không mầu sắc mà rực rỡ lưu ly, không hương vị mà bát ngát mạn-đà-la mười phương ba cơi. Cái đó là Phật Tánh. Cánh cửa mở ra để thấy được Phật Tánh là Không. Tâm phải được nung đỏ như ḥn sắt, chảy ra, ḥa vào, hợp nhất với Không tới mức “không cả nghĩ tới Không” mới mong nhận thấy cái vi diệu ta vẫn thường hằng có. Cái đó vẫn ở đó, cùng ta, ngay cả phút giây người đi t́m chợt thấy, nó cũng vẫn Thường Là, chẳng hề biến diệt, đổi thay, thêm bớt. Chỉ có người đi t́m, khi bất chợt thấy được th́ sửng sốt, kinh ngạc, nh́n nó như nh́n Thiên Sứ, như nh́n đóa hoa chưa từng thấy, như nghe gịng nhạc chưa từng nghe. Phút giây đó, hốt nhiên vạn hữu chuyển ḿnh, muôn người, muôn loài phủ choàng mầu áo mới, thanh sắc mới, hương vị mới, rực rỡ như chưa từng bao giờ rực rỡ thế. Tất cả, chỉ v́ người t́m kiếm bước qua được cửa Không, thấy Chính Ḿnh, thấy cái “Thiên Thượng Thiên Hạ Vô Ngă Độc Tôn”.

Đơn giản tột cùng mà khổ nhọc vô song !

Chẳng thế mà hành giả vẫn thường thất bại, cả những lần ḥn-sắt-tâm đă nung được tới cực đỏ mà lơ là một niệm khởi lên, nó lập tức nguội lạnh trong tiếng khóc tức tưởi của người thất bại !

Trăng mười bốn mềm và mát như tơ tằm. Hành giả ơi, sao người khổ lụy thế ! Hăy để tâm an nhiên, hăy để nó hát khi muốn hát, khóc khi muốn khóc, dạo khi muốn dạo …… v́ hành giả đă từng thấy nó rồi, đă từng biết Vọng cũng là Chân th́ ngại chi vọng khởi. Hăy để mặc cái vọng tâm dong chơi v́ qua sự quán chiếu của hành giả, vọng tâm tất t́m thấy chân tâm. Đó là sát na khi vọng tâm bước qua cửa Không và nó sẽ đột nhiên bừng sáng ! Vậy hăy mặc nó.

Đêm nay, hành giả hăy cùng Trăng tọa thiền, hăy lặng thinh, êm ả, hăy như gịng suối trong, hăy như bờ cát trắng, hăy như giải mây bay lăng đăng, như làn gió xôn xao giữa nội cỏ hoa ngàn ….. Hành giả đang mỉm cười rồi, Trăng biết, hành giả đang cùng Trăng nghe được gịng nhạc đêm, không phải từ cung trời Đao Lợi đâu, từ ngay cơi ta-bà của hành giả đấy:

“Đá ṃn phơi nẻo tà dương

Nằm nghe nước lũ khóc chừng cuộc chơi

Ngàn năm vang một nỗi đời

Gió đưa cuộc lữ lên lời viễn phương

Đan sa ră mộng phi thường

Đào tiên trụi lá bên đường tử sinh

Đồng hoang mục tử chung t́nh

Đăm chiêu dư ảnh nóc đ́nh hạc khô”.

 

 

Những mỹ từ được bọn vô minh dụng ư xử dụng để “mị” người chỉ là “ngàn năm vang một nỗi đời” thôi, có hơn ǵ “đào tiên trụi lá”. Hành giả đừng vội thất vọng v́ bên cuộc lữ đó, có những hạt ngọc phủ trong áo tơi:

“Đồng hoang mục tử chung t́nh

Đăm chiêu dư ảnh nóc đ́nh hạc khô”

T́nh người ở nơi gần gũi nhất, lặng thinh nhất, tầm thường nhất, như khi hành giả khổ nhọc quán Không mà Không ở ngay nơi “không ǵ cả”!

Ly nước lạnh của hành giả c̣n nguyên trên bàn đây, hăy nhấp một hớp rồi ta thiền tiếp. Bây giờ th́ hành giả nghe thấy trước Trăng rồi, tiếng vĩ cầm quyện vào sáo trúc đó:

“ … Ta hỏi kiến nơi nào cơi tịnh

Ngoài hư không có dấu chim bay

Từ tiếng gọi mầu đen đất khổ

Thắp tâm tư thay ánh mặt trời?

Ta gọi kiến, ngập ngừng mây bạc

Đường ta đi, non nước bồi hồi

Bóc quá khứ, thiên thần kinh ngạc

Cắn vô biên trái mộng vỡ đôi …”

A, chính hành giả cũng đang kinh ngạc như thiên thần ư ? kinh ngạc v́ sự tàn phá thâm hiểm của vô minh, tàn phá từ ḷng đất ! đất nuôi người mà đất nhiễm độc hại th́ người không phải chỉ bị hủy diệt một đời mà là nhiều đời ! Hăy nh́n chính sách ngu dân và nghèo đói quanh hành giả mà xem, có phải là vô t́nh mà dân ngu dân đói đâu ! Khi kẻ cầm quyền dùng bụng (bao tử) để kiểm soát đầu (trí tuệ) th́ không c̣n bao nhiêu cái đầu có thể làm chủ cái bụng, v́ khi bụng lên tiếng khóc, đầu sẽ đầu hàng! Khi đời cha bị hủy diệt trí tuệ th́ đời con, đời cháu c̣n chi !

Chúng ta đi xa thiền quá rồi ư ? Không đâu, Trăng nghĩ là ta vẫn đang trong thiền đấy chứ. Tác giả bài thơ mơ màng viết “Ta hỏi kiến nơi nào cơi tịnh ?” vậy mà bất ngờ có câu trả lời “Ngoài hư không có dấu chim bay”. Câu trả lời đầy thiền vị, khác chi giai thoại có người đến hỏi thiền sư “Thế nào là đạo?” Thiền sư trả lời: “Gạo ở Lô Lăng giá bao nhiêu?” Hành giả tu thiền th́ đă biết rơ dụng ư câu trả lời này rồi, v́ nếu thiền sư giảng giải đạo là ǵ th́ người hỏi sẽ lập tức bị cái lưới hư luận ngôn từ phủ chụp xuống, c̣n biết đâu đường ra để mà quán chiếu; câu trả lời không dính nhập tới câu hỏi mới giúp người đó chặt đứt ḍng suy tư mà có thể đón nhận lời chỉ dạy một cách nhẹ nhàng, thoải mái. Như có vị học giả mang đầy bụng kiến thức tới tham vấn thiền sư chỉ v́ ṭ ṃ, thiền sư rót nước mời khách, nước tràn ly rồi mà vẫn rót, rót măi … tới lúc khách không chịu nổi, phải nhắc khẽ : “Thưa ngài, nước đă tràn”, thiền sư mới nhẹ nhàng bảo: “Vâng, tôi biết, cũng như ông, ông đến đây với đầy ắp kiến thức, tôi c̣n ǵ để nói nữa?!”.

Trăng đoán rằng tác giả những câu thơ này vừa ngồi thiền vừa làm thơ. Nếu người ấy không là một thi sỹ thiền sư th́ cũng là một thiền giả mang tâm từ bi, cùng khổ với dân khổ, cùng đói với dân đói, nhưng, vượt trên bờ sinh tử, người ấy giữ vững trí tuệ sáng ngời để dẫn dắt chúng sanh:

“ … Non nước ấy trầm ngâm từ độ

Lửa rừng khuya yêu xác lá khô

Ta đi t́m trái tim đă vỡ

Đói thời gian, ta gặm hư vô”

À, hành giả đă cảm thấy được an ủi rồi phải không ? Trong tuyệt vọng chẳng phải tận cùng tuyệt vọng đâu mà c̣n có lửa rừng yêu lá khô, có hư vô che chở.

Ly nước của hành giả cạn rồi, có cần rót thêm không ? Hành giả lại biết đùa rồi đấy, đ̣i uống ánh trăng khuya ! Vâng, xin mời, uống trăng rồi, theo với Trăng, hành giả đă thấp thoáng thấy thêm:

“ … Đàn c̣ đứng gập ghềnh không ngủ

Ngóng chân trời con mắt u linh

Chân trời sụp, ngàn cây bóng rủ

Cổng luân hồi mở rộng b́nh minh”

Trời hỡi, hành giả là Phật tử mà thấy “cổng luân hồi mở rộng” hẳn là đau đớn biết bao cho cơi-người đó ! Nhưng khoan, đừng vội bi thương v́:

“Chờ dứt cơn mưa ta vô rừng

Bồi hồi nghe khói lạnh rưng rưng

Ngàn lau quét nắng lùa lên tóc

Ảo ảnh vô thường, một thoáng chưng !”

Một thoáng chưng. Đêm đă tàn rồi ư?

Hành giả thở mạnh một hơi, dài thật dài. Mở mắt. Trăng không c̣n nữa, mà là tia nắng sớm. Ly nước trên bàn vẫn đầy như tấm ḷng chưa vơi. Phải, hành giả vẫn tự biết ḷng này chưa vơi nên dẫu cố gắng vẫn chẳng thể vượt cửa Không bằng tâm của người-ngoại-cuộc. Cuộc đây là cuộc lữ của cả một dân tộc đang vùng vẫy trong lưới vô minh. Đêm nay, có ngờ đâu, với Trăng, hành giả đă vừa bước qua cánh cửa vô h́nh đó, không bằng công án mà bằng những câu thơ:

“Ta lên bờ, nắng vỗ bờ róc rách

Gió ở đâu, mà sông núi th́ thầm?

Ḱa bóng cỏ nghiêng ḿnh che hạt cát

Ráng chiều xa, ai thấy mộ sương dầm?”

Hay như:

“Khói ơi, bay thấp xuống đi

Cho ta nắm lại chút ǵ thanh xuân

Ta đi trong cơi Vĩnh Hằng

Nhớ tàn cây nhỏ mấy lần rụng hoa”

Bất cứ khi thơ khóc, thơ đau, thơ nhục, ngay cả khi thơ tự khai là thơ chết mà người đọc, người nghe vẫn nhận ra cả một trời bất tử với ngân nga chuông Bát Nhă, với thấp thoáng bóng Bồ Tát từ bi, với rượi mát từng hạt mưa Cam Lộ.

Đó là ǵ? Có phải trong mỗi chúng sanh đều sẵn ngôi nhà Phật. Đó là nơi an toàn đầu tiên và cuối cùng cho chúng ta. T́m ra được nơi an toàn đó, chúng ta sẽ không bao giờ c̣n sợ hăi trước bất cứ sức mạnh nào bên ngoài.

Tạ ơn Thượng Tọa Thích Tuệ Sỹ, tác giả những gịng thơ rực lửa-bản-thể đă đốt đuốc cho chúng ta thấy đường t́m về nhà Phật.

 

 

Source :  http://linhsonphatgiao.com/25/5/2017/thien-trang.html