TOÀN NHẬT THIỀN SƯ - ĐƯA TINH THẦN PHẬT GIÁO

XUỐNG CHO TRIỀU ĐẠI TÂY SƠN  

Thích Phước An

 

(PGVN) Điều quan trọng không phải là sống ở thị thành hay núi rừng. Vấn đề là làm sao giác ngộ được sự thật. Đấy mấu chốt của vấn đề. Ta đă thấy sự giác ngộ có thể t́m thấy ở bất cứ nơi đâu, đặc biệt là chính giữa cuộc đời trần tục đầy những hệ lụy thế sự. Chính trong cuộc sống trần tục ấy mà giác ngộ được th́ giá trị c̣n nâng lên gấp bội.

Nhưng nếu trước khi xuất gia, Toàn Nhật đă từng làm tướng rồi sau đó mới “tuốt dép lánh xa khỏi nơi doanh liễu”. Vậy th́ bây giờ ta thử xem Thiền sư Toàn Nhật đă làm tướng cho triều đại nào ?

Theo tác giả Toàn Nhật Quang Đài, trong những tác phẩm đă t́m lại được th́ chỉ có tác phẩm Xuất gia tối lạc tỉnh thể tu hành văn là Toàn Nhật có nhắc đến triều đại nhà Nguyễn:

 

Ấy triều đại cổ kim thật lục

Nối truyền qua bản quốc Nam thiên

Những v́ thánh chúa tôi hiền

Tượng kinh tôn trọng chùa chiền nghiêm trang.

Nỗi riêng than có thành có quách

Nếu vui thôi th́ ắt thái qua

Mừng nay minh chúa Nguyễn Gia

Trung hưng chánh pháp gần xa tôn sùng. 

Dựng tăng pḥng lại trau Phật điện

Tạo trống chuông nổi tiếng vang lừng

Tăng ni thong thả tu thân

Cảnh thiền tiêu sái áng trần phiền lao.


 

Nhưng thời bấy giờ ở Đàng Trong có hai chúa Nguyễn, là Nguyễn Gia Long và Nguyễn Tây Sơn, vậy câu: “Mừng nay minh chúa Nguyễn Gia” của Toàn Nhật muốn nói đến Nguyễn Gia Long hay Nguyễn Tây Sơn?

Và đây là lời giải đáp của giáo sư Lê Mạnh Thát, tác giả Toàn Nhật Quang Đài:

“Đương nhiên, nó không thể là nhà Nguyễn của các chúa Nguyễn bởi v́ kể từ năm 1771 trở đi, lúc Toàn Nhật mới 14 tuổi, th́ toàn bộ ḍng họ chúa Nguyễn đă bị đánh bật ra khỏi ngôi vị của ḿnh, để có thể làm chuyện “trung hưng chánh Pháp”. Do vậy, chỉ có thể là nhà Nguyễn Tây Sơn hay nhà Nguyễn Gia Long mà thôi. Đối với nhà Nguyễn Gia Long, tuy Toàn Nhật sống hơn 30 năm c̣n lại của đời ḿnh dưới sự thống trị của ḍng họ này và đă biểu thị một thái độ hết sức đặc biệt. Ông hầu như không thừa nhận sự hiện diện của nhà Nguyễn ấy qua việc ông không bao giờ sử dụng niên hiệu của các vị vua nhà Nguyễn trong các tác phẩm để ghi lại những đơn vị thời gian cần thiết.

Chẳng hạn, trong ba bài bạt ta hiện t́m được viết cho những lần in kinh năm 1819 và 1829, th́ một bài bạt không đề ngày tháng ǵ hết, c̣n hai bài bạt kia, ta chỉ thấy ghi “tuế thứ Kỷ Măo” và “tuế thứ Kỷ Sửu”. Việc ghi niên đại kiểu này, trong khi đất nước đang có chủ quyền, là một biểu thị khinh nhờn cực kỳ nghiêm trọng đối với nhà đương quyền. Nói trắng ra, Thiền sư Toàn Nhật không thừa nhận nhà Nguyễn Gia Long là chính thống, do thế đă không sử dụng niên hiệu của Gia Long và Minh Mạng ngay cả lúc cần thiết.[1]

 

 

Trong tác phẩm Lược sử Phật giáo và các chùa Phú Yên, hai tác giả Nguyễn Đ́nh Chúc và Huệ Nguyễn khi viết về Thiền sư Diệu Nghiêm và chùa Từ Quang cũng xác nhận rằng: “Đệ tử thành đạt của tổ sư có đến 28 vị thành danh, trong đó có Thiền sư Toàn Nhật Quang Đài nguyên là mưu thần của vua Quang Trung về sau xuất gia và làm trụ tŕ chùa Viên Quang”.[2]

Nhưng tại sao Toàn Nhật đă gặp được “Chúa thánh tôi hiền” để phục vụ lại phải vội vă từ giả khi mới có 30 tuổi đầu? Chắc chắn phải có một biến cố đau ḷng nào đó? Tác giả Toàn Nhật Quang Đài cho rằng:

“Lư do cho sự từ quan có thể xuất phát từ cuộc tranh chấp nào đó, mà ngày nay v́ thiếu tư liệu, chúng ta không thể nào xác định được một cách rơ ràng. Trong Từ Quang Tự sa môn Pháp chuyên Luật truyền Diệu Nghiêm Thiền sư xuất thế nhân do sự tích, dù được viết vào năm Gia Long thứ 3 (1805) nhà Tây Sơn xung đột với nhau bằng từ ngữ “thủ túc tương tranh”. Ta biết việc kéo quân vào Quy Nhơn vây Nguyễn Nhạc xảy ra vào khoảng tháng 9 năm 1786 sau khi đă rút quân khỏi Thăng Long vào tháng 7 năm Bính Ngọ (1786), và Nguyễn Nhạc đă than khóc với Nguyễn Huệ về việc nồi da xáo thịt. Như vậy khi Toàn Nhật nói ḿnh xuất gia vào năm 30 tuổi, và ông lại sinh vào năm Đinh Sửu (1757), th́ năm Bính Ngọ ông đúng 30 tuổi theo cách tính của người Việt Nam. Việc rũ áo từ quan đi xuất gia của Toàn Nhật do thế phải chăng đă liên hệ với sự kiện anh em Tây Sơn xung đột vừa nói?[3]

Trong suốt 2 tác phẩm Tham thiền văn và Thiền cơ yếu ngữ văn, ta nghe thấy một nỗi buồn nào đó với con đường lợi danh mà Toàn Nhật vừa rũ bỏ để ra đi.
 

Quyết một bề trèo non đào giếng

Kẻo lời phàm đeo tiếng thị phi

(Tham Thiền văn)

Không phải chỉ buồn thôi mà c̣n có một cái ǵ đó vừa chua chát vừa đắng cay:

Danh lợi đă đề nên tiếng sĩ

Đâu ở ḿnh xử kỷ chẳng toan

Súng kia nhắm dạng dè làn

Thiên cơ dễ biết ngộ duyên quân thần

Đă cầm cân non già từng nhắc

Dai hay sao tráo trác đấu đong

(Tham Thiền văn)

Nhưng không sao, v́ Toàn Nhật có đủ nghị lực cũng như ư chí để vượt qua những phong ba băo táp của cuộc đời, v́ ông đă tự nhắc nhở cho chính ḿnh:

Miễn là neo nọc cho bền

Gió lồng mặc gió, vững thuyền th́ thôi

(Tham Thiền văn)
 

hoặc là:

Lời thị phi khen chê mặc thế

Hơi nào mà cấm chợ ngăn sông?

Và nếu Toàn Nhật đă từng theo Chúa Nguyễn Tây Sơn, th́ nhất định triều đại Tậy Sơn phải là một triều đại tôn sùng Phật giáo như Thiền sư Toàn Nhật đă hết ḷng ca ngợi:

Mừng nay minh chúa Nguyễn Gia

Trung hưng chánh Pháp gần xa tôn sùng

Dựng tăng pḥng lại trau Phật điện

Tạo trống chuông nổi tiếng vang lừng

Tăng ni thong thả tu thân

Cảnh thiền tiêu sái áng trần phiền lao

Tác giả Lê Mạnh Thát đă khẳng định như thế này: “Lịch sử và dă sử cũng như truyền thuyết đều xác nhận nhà nước Tây Sơn dưới sự lănh đạo của Nguyễn Huệ, đă có những chính sách cải cách Phật giáo thực to lớn. Điều này cũng không có ǵ lạ khi ta nhớ rằng trong ba anh em nhà Nguyễn Tây Sơn, có người đă ở chùa làm sư rồi sau đó mới ra làm tướng, làm vua.

Có thuyết nói rằng người đă từng làm sư ấy là Nguyễn Lữ, nhưng thuyết đáng tin cậy hơn lại nói người đó chính là Nguyễn Huệ. Ngày nay, tại chùa Trúc Lâm ở Huế c̣n giữ một tấm gấm thêu kinh Kim Cang bằng chỉ đỏ do Ngọc Hân Công chúa thực hiện vào năm Cảnh Thịnh thứ 2. Và văn tế vua Quang Trung do Ngọc Hân viết cũng nói đến cái chết của vua Quang Trung như “miền cực lạc xe mây vùn vụt”. Vua Quang Trung phải là người như thế nào về phương diện tôn giáo, th́ Công chúa Ngọc Hân mới nới tới miền cực lạc. Cũng thế, thái độ tôn giáo của triều đ́nh Tây Sơn Quang Trung như thế nào, th́ Ngọc Hân mới thêu kinh Kim Canh Bát Nhă lên gấm”.[4]

Nguyễn Xuân Nhân, trong tác phẩm Văn học dân gian Tây Sơn cũng xác nhận như thế này đối với thông tin trên:

“Trước khi dấy nghĩa, Nguyễn Lữ cùng theo hai anh học văn học vơ với thầy giáo Hiến. Sau đó có một thời gian xuất gia nên ông c̣n được gọi là thầy Tư Lữ. Mấy năm làm nhà sư, ông có dịp trao đổi vơ thuật với các nhà sư Trung Quốc vốn là những người mang tư tưởng “Phục Minh Kháng Thanh” trú ngụ ở An Thái (B́nh Định). Ông muốn cho bộ môn vơ thuật nước nhà thích hợp với thể chất của người ḿnh nên cùng các chiến hữu t́m hiểu kỹ các thế đánh của đôi gà chọi nhau, rồi sáng tạo nên nhiều thế đánh mới hợp thành một thể thống nhất gọi là Hùng Kê Quyền”.[5]

Nếu những điều trên có thể làm cho ta bán tín bán nghi v́ nửa là lịch sử và nửa là dă sử th́ những bằng chứng sau đây cũng của tác giả Toàn Nhật Quang Đài chắc chắn là sự khẳng định rơ ràng của lịch sử:

“Không những thế, triều đ́nh nhà Tây Sơn, cụ thể là triều đ́nh vua Quang Trung, gồm những người cốt cán lại là những phật tử. Ta có Hải Lượng đại Thiền sư, tức Binh Bộ Thượng Thư Ngô Thời Nhiệm (1746-1803) cùng những người trong Trúc Lâm Thiền viện của ông như Hương Lĩnh Bá Nguyễn Đăng Sở, Phan Huy Ích, Vũ Trinh… Ngoài ra vị quân sư của Nguyễn Huệ là Trần Văn Kỷ, lại có con đi xuất gia có hiệu là Đạo Minh Trung Hậu Ḥa thượng. Triều đ́nh nhà Tây Sơn do thế là một triều đ́nh Phật giáo”.[6]

“Ngoài ra, từ Quang tự sa môn Pháp chuyên Luật truyền Diệu Nghiêm Thiền sư xuất thế nhân do tích chí có cho ta biết về việc thầy của Toàn Nhật là thiền sư Pháp chuyên luật truyền Diệu Nghiêm đă được vua quan nhà Tây Sơn ủng hộ. Chẳng hạn, vào năm Bính Th́n (1796) tại tỉnh Phú Yên, Pháp chuyên đă tổ chức một giới đàn để thọ giới cho hơn 200 tăng ni, th́ đă được chủ trấn là Đoàn Luyện quận công của nhà Tây Sơn ủng hộ.

Rồi đến năm Mậu Ngọ (1798) Thiền sư Diệu Nghiêm lại được Hoàng Thái hậu nhà Tây Sơn mời ra Huế để chứng minh việc đúc Đại Hồng Chung và được ban cà sa màu tím. Ta biết những năm 1796 cho đến 1798, quân Nguyễn Ánh chưa lấy được Phú Yên và Thuận Hóa”.[7]

Và như vậy, tác giả Toàn Nhật Quy đài kết luận:

“Trên cơ sở những phân tích vừa thấy “minh chúa Nguyễn Gia”, tất không thể ai hơn là vua Quang Trung. Từ đó, nếu trước khi xuất gia, Toàn Nhật đă làm quan và làm tướng th́ ông đă làm quan làm tướng với nhà Tây Sơn”.[8]

Bởi vậy nên mặc dù đă rời bỏ hàng ngũ của phong trào Tây Sơn để đi xuất gia, nhưng Toàn Nhật vẫn tích cực hỗ trợ cuộc cách mạng của Tây Sơn. Chính v́ sự hỗ trợ này nên khi nhà Tây Sơn sụp đỗ và Nguyễn Gia Long chiếm được chính quyền th́ Toàn Nhật lại phải sống lao đao cùng với vận nước nổi trôi, như chính Toàn Nhật đă ghi lại trong một bài phú:

Ở không nơi; về không chốn

Than rằng biển khổ rất mênh mông

Lênh đênh chẳng khác thuyền trôi

Biết đâu dừng đỗ. 

Lăng đăng cũng như bèo nổi

Theo đó hợp tan

Công đă đi tu

Phận muối dưa lại không an phận. 

Ḷng toan học đạo,

Thân bả bô chẳng đặng dung thân

Ở không nơi, phải tạm ở đ́nh

Đ́nh vốn rộng trống sau trống trước. 

Quán cũng lạ không vào ngụ quán

Quán tuy nhiều, khó mượn khó toan

Đặng gặp nơi nào

Cũng nhờ chốn ấy.

(Thơ Bà Văi)
 

Nhưng tại sao một người như Toàn Nhật lại hết ḷng ủng hộ cuộc khởi nghĩa của Tây Sơn? V́ Tây Sơn đă đánh đuổi chúa Nguyễn ở Đàng Trong, đă xóa tên hai tập đoàn phong kiến là chúa Trịnh và vua Lê ở Đàng Ngoài, đặc biệt là đă oanh liệt đánh tan tành hai cuộc xâm lăng của nhà Thanh ở phương Bắc và Xiêm La ở phương Nam chăng?

Nếu chỉ hùng mạnh về quân sự không th́ chưa đủ để thuyết phục một nhà trí thức lỗi lạc như Toàn Nhật, để Toàn Nhật có thể ủng hộ cuộc khởi nghĩa của Tây Sơn. V́ sao? V́ lư do đơn giản là xưa nay lịch sử đă từng chứng minh rằng, một chế độ chỉ biết đề cao vơ trị th́ chế độ đó luôn luôn chuyên quyền và độc đoán và nạn nhân thê thảm cho sự chuyên quyền và độc đoán này chính là người dân vô tội chứ không ai khác.

Vậy chắc chắn triều đại Tây Sơn ngoài sức mạnh về quân sự ra th́ phải c̣n có những chính sách nào đó rất phù hợp với ḷng dân nên một trí thức như Toàn Nhật mới ủng hộ một cách tích cực như vậy chăng?

 

 

Cố học giả Trần Trọng Kim, đă nhận định về con người của Quang Trung Nguyễn Huệ như thế này:

“Vua Quang Trung nhà Nguyễn Tây Sơn là ông vua anh dũng, lấy vơ lược mà dựng nghiệp, nhưng ngài có độ lượng, rất am hiểu việc trị nước, biết trọng những người hiền tài văn học. Khi ngài ra lấy Bắc Hà, những người như Ngô Thời Nhiệm, Phan Huy Ích, đều được trọng dụng và nhất là đối với một người xử sĩ như Nguyễn Thiếp th́ thật là khác thường.

Nguyễn Thiếp, tức là Khải Chuyên hiệu là Nguyệt Úc, biệt hiệu là Hạnh Am. Ông làm nhà ở Lục Niên thành, thuộc huyện La Sơn, Hà Tĩnh bây giờ, cho nên người ta gọi là Lục Niên tiên sinh hay là La Sơn Phu tử.

Vua Quang Trung từ khi đem quân ra đánh Bắc Hà, biết tiếng Nguyễn Thiếp, đă mấy lần cho người đem lễ vật mời ông ra giúp, ông không nhận lễ và cũng từ chối không ra. Đến khi ngài đăng cực, lại mấy lần cho người đến mời ông, ông có đến bái yết và khuyên vua nên lấy nhân nghĩa mà trị dân trị nước, rồi lại xin về. Vua Quang Trung tuy không dùng được ông, nhưng bao giờ cũng tôn kính ông như bậc thầy, và việc chính trị trong nước thường theo ư mà Nguyễn Thiếp đă tŕnh bày”.[9]

Đó là chính sách của nhà nước Tây Sơn đối với giới trí thức, c̣n đối với người dân th́ sao? Người dân nước ta ở nửa cuối thế kỷ 18 th́ hầu hết đều sống bằng nghề nông, lao động suốt ngày nhưng vẫn nghèo khổ. Vậy chính sách của nhà nước Tây Sơn đối với những người nghèo khổ này th́ sao? Những người Tây phương có mặt từ những ngày đầu của cuộc khởi nghĩa Tây Sơn nói rằng, khẩu hiệu của nghĩa quân là “hăy tước đoạt của ngưởi giàu chia cho người nghèo”.

“Bọn Nguyễn Nhạc muốn đem ánh sáng công lư soi tới chúng dân và giải thoát khỏi gông cùm của nhà vua, các quan và các cố vấn. Bọn chúng tuyên truyền tính b́nh đẳng trong mọi địa hạt. Trung thành với thuyết tân xă hội, bọn Nguyễn Nhạc tước đoạt tài sản của các quan thống trị giàu có và đem chia cho dân cùng đinh khố rách”[10].

Như vậy, chắc chắn những tác phẩm của Toàn Nhật, đặc biệt là Hứa sử truyện văn đă được Toàn Nhật viết ra để hỗ trợ cho cuộc khởi nghĩa do chính những người từ giới nông dân nghèo khổ ấy cầm đầu. Bởi thế, theo tác giả Toàn Nhật Quang Đài th́: “Thể hiện rơ nét bản lĩnh tư duy của nhân dân ta trước những vấn đề trọng đại của đất nước. Chúng không phải là những luận đề cũ rích vay mượn từ những sách vở Trung Quốc, không có một liên quan thiết yếu đến đời sống dân tộc.

Trái lại, chúng là những vấn đề nóng bỏng của thời đại tác giả sống, đ̣i hỏi phải có những giải đáp thích đáng. Cho nên, chúng không cần phải bao bọc trong những câu thơ óng chuốt, trưởng giả, đầy những điển cố chữ nghĩa, sự tích xuất phát từ ḍng văn hoá bác học và ít nhiều mang tính ngoại lai.

Thay vào đó, chúng được tŕnh bày một cách thẳng thắn, cố nhiên là dưới h́nh thức truyện văn, qua những lời thơ b́nh dị, trong sáng đến nỗi giống như lời nói hằng ngày của nhân dân. Do thế, trên toàn bộ, Hứa sử truyện văn đă thể hiện sức sống dạt dào đang cuồn cuộn dâng lên của dân tộc ta trong thời kỳ nổ ra cuộc cách mạng Tây Sơn do nhà anh hùng áo vải Nguyễn Huệ lănh đạo lần đầu tiên đánh thắng hai thế lực quân chủ lực kỳ phản động trong nước và thế lực xâm lược ngoại bang”.[11]

Nhưng với Toàn Nhật, một người được nuôi dưỡng từ truyền thống tư tưởng của Phật giáo, th́ chỉ công bằng trên b́nh diện xă hội không chưa đủ mà c̣n phải b́nh đẳng và công bằng ngay cả trên phương diện nhân phẩm của mỗi cá nhân con người nữa. Như vấn đề gọi là chính thống và ngụy triều sau đây chẳng hạn:

“Những người làm quốc sư nước Tàu và nước ta thường chia những nhà làm vua ra chính thống và ngụy triều. Nhà nào, một là đánh giặc mở nước, sáng tạo ra cơ nghiệp, hai là được kế truyền phân minh, thần dân đều phục, ba là dẹp loạn yên dân, dựng nghiệp ở đất Trung Nguyên, th́ cho là chính thống. Nhà nào, một là làm tôi cướp ngôi vua, là sự thoán đạt không thành, hai là xưng đế, xưng vương ở chỗ rừng núi, hay là ở đất biên địa, ba là những người ngoại chủng vào chiến nước làm vua th́ cũng cho là ngụy triều”.[12]

Như vậy, nhà Tây Sơn được xem là kẻ ở rừng núi, ở biên địa, là ngoại chủng vào cướp nước làm vua nên sử nhà Nguyễn đă gọi là Ngụy Tây Sơn.

Thế nào là chính thống và thế nào là ngụy triều? Và ai là kẻ có thẩm quyền đứng ra để bảo rằng triều đại này là chính thống và triều đại kia là ngụy triều là không chính thống? Và có cái ǵ để bảo chứng rằng những người được sinh ra từ giới thống trị, sanh ra ở vùng trung nguyên là hơn kẻ sanh ra ở vùng biên địa hay thôn dă quê mùa?

“Sự sanh trưởng không làm cho con người được liệt vào giai cấp Bà la môn hay bị loại ra khỏi giai cấp này. Chính nếp sống hàng ngày tạo ra người nông dân, thương gia hay nô bộc. Nếp sống hàng ngày tạo ra hạng trộm cắp, binh sĩ, tu sĩ hay vua chúa.

Và thông điệp này cứ được nhắc đi nhắc lại măi trong giáo pháp của đức Phật:

“Là cung đ́nh không phải do sanh trưởng là Bà la môn không phải do sanh trưởng do hành động, người này là cung đ́nh do hành động người này là Bà la môn (Sutta Nipàta –Vasalasutta).

Từ lời khẳng định này của Phật giáo ta mới thấy rằng cái gọi là chính thống cũng như không chính thống, gọi là ngụy triều hay chính triều chỉ là tṛ bày đặt của giai cấp thống trị mà thôi chứ chẳng có bất cứ một giá trị đích thực nào cả.

 

 

Vậy bây giờ ta thử xem Thiền sư Toàn Nhật đă phải làm ǵ để đập tan cái lư luận bất công này mà hỗ trợ cho cuộc cách mạng Tây Sơn? Những người được sanh ra từ nơi thôn dă quê mùa?

Tác giả Lê Mạnh Thát viết: “Thế th́ Hứa sử truyện văn có thể được Toàn Nhật “san bổ” trước những năm 1798. Phải chăng nó ra đời nhằm đáp ứng những yêu cầu lư luận chính trị phục vụ cho sự nghiệp xưng đế và chống ngoại xâm của Quang Trung?

Với lư thuyết chống tôn quân, phải chăng nó đă gián tiếp biện minh cho việc Quang Trung xưng đế không thừa nhận quyền uy chính thống của Vua Lê? Thậm chí, nếu “Văn Hứa sử”, tiền thân của Hứa sử truyện văn lưu hành trước Toàn Nhật đă có nội dung chống tôn quân khi Hứa sử truyện văn, thế phải chăng tiền thân ấy đă cung ứng phần nào lư luận cho việc lên ngôi của Nguyễn Nhạc, chứ không phải chỉ đợi đến Quang Trung?”

Cũng theo giáo sư Lê Mạnh Thát th́ Hứa sử truyện văn, ngoài những vấn đề về tư tưởng Phật giáo ra, th́ nổi bật nhất có ba chủ đề chính, nhưng giáo sư cho rằng luận đề thứ nhất mới là luận đề quan trọng nhất v́ nó đă “tiến công đập tan chủ nghĩa tôn quân chuyên chế và cực đoan, phá vỡ cái trật tự phong kiến quân – sư – phụ hàng ngàn năm đè nặng lên đầu lên cổ nhân dân. Đó là thầy quan trọng hơn cả vua và cha mẹ. Dưới h́nh thức lời phán của Diêm vương, Hứa sử truyện văn đă nêu câu hỏi:

Tội ai bằng Hoàng tử Anh

Giết cha rồi lại tung hoành hung hăng

Xét ḿnh nghịch ác chẳng an

Quy y niệm Phật ba đàng thoát qua. 

Xà vương giết hại vua cha

Quy y niệm Phật đặng tha tội đày

Có một sự tội phụ thầy

Phật không cứu đặng, ta rầy khó bênh

Hứa sử đứng lên xin hỏi: Thế th́ thực sự thầy quan trọng hơn vua và cha mẹ sao?

Và như quân phụ sư ân

Trong đời đạo thiệt bằng cân cao dày

Làm tôi buông thói thẳng ngay

Làm con không thảo giết đày vua cha

Lẽ thời tội ấy không tha. 

Quy y sao lại thoát ra tội dày

Đệ tử nếu phụ ân thầy

Phật không cứu đặng, lịnh này chẳng tha

Vậy thời thầy hơn vua cha

Tôi nghe lẽ ấy ḷng mà chưa thông.

Để trả lời câu hỏi của Hứa sử, một lần nữa dưới h́nh thức lời phán của Diêm vương, Hứa sử truyện văn đă đưa ra lư lẽ sau:

Trong đời muôn việc không thầy

Thế gian thường nói đố mày làm nên

Tớ đương nghĩa trả ơn đền

Nếu mà phụ bạc tội dường hằng sa

Tớ thầy, tôi chúa, con cha

Trong đời ba ấy rất là trọng thay

Sanh con bằng chẳng có thầy

Lấy ai giáo hóa cho rầy nên thân

Chẳng noi đạo đức nghĩa nhân

Làm đường nghịch ác vong thân làm ǵ

Ví như tẩu nhục hành thi

Làm chi nên chuyện kể th́ là con

Cho hay khắc chấn gia môn

Chói danh hai họ tiếng đồn muôn thu

Cũng là tiết nghĩa pḥ vua

Trạc dân trí chúa cơ đồ đặng yên

Vua cùng cha mẹ rơ ràng

Các điều thành tựu nhờ ơn có thầy.

Rơ ràng xuất phát từ quan điểm dân chủ tự phát của nhân dân, Toàn Nhật đă tiếp thu những yếu tố dân chủ tự phát đó và triển khai chúng thành một lư tưởng dân chủ có cơ sở lư luận, tiến công trực diện vào lập trường tôn quân chuyên chế và cực đoan do các thế lực phong kiến suy tàn cố dựng lên.

Có thể nói, đây là lần đầu tiên và có lẽ duy nhất trong lịch sử chế độ phong kiến nước ta, một tác phẩm văn học dám nêu lên một lư thuyết dân chủ, dám thẳng thừng tuyên bố không úp mở: “Vậy thời thầy hơn vua, cha”. Vua là thiên tử, là con trời: “Khắp dưới gầm trời, không đâu không là đất của vua, dân ở khắp đất không ai không là bề tôi của vua”. Tuyên ngôn phong kiến đă dơng dạc xác định quyền uy tối thượng và bất khả xâm phạm của thiên tử là thế, của vua là thế.

Cho nên, nói rằng có một lớp người nào đó hơn cả vua nữa là phạm thượng, là xúc phạm đến chính cốt lơi, đến chính điểm huyệt sống chết của vấn đề, cần phải loại trừ không chút khoan nhượng, Toàn Nhật đă mạnh mẽ lên tiếng minh định cái trật tự phong kiến quân – sư – phụ bất di bất dịch có thể bị đả đảo, để sư quan trọng, thiết yếu hơn quân và phụ, bởi v́:

Trong đời muôn việc không thầy

Thế gian thường nói đố mày làm nên.

Và tiếng nói đả đảo đó không phải xuất phát từ những truyền thống tư tưởng ngoại lai, từ lư thuyết Khổng Mạnh. Trái lại, nó nổi lên từ kho tàng trí tuệ tích luỹ những kinh nghiệm và nhận thức của dân tộc và nhân dân.

Trên cơ sở nhận thức “Không thầy đố mày làm nên”, với nội dung tất yếu giới hạn của nó, Toàn Nhật đă phát triển thành một luận đề bẽ găy cái trật tự quân – sư – phụ, để đẩy lùi cái bóng ma gian ác của trật tự ấy, mà vào thời Toàn Nhật đă trở thành rữa nát và cực kỳ phản động, đang cản trở bước tiến của dân tộc, phủ lên cuộc sống của nhân dân một màn đau thương thống khổ.

 

Hăy tưởng tượng lại cái thời kỳ mà vua chúa c̣n hoàn toàn nắm trong tay quyền sinh sát đối với mọi người dân, và khi mọi người mặc nhiên nh́n nhận sự kiện ấy như một tất yếu không phải bàn căi, ta mới thấy hết tính vĩ đại hùng tráng của một tiếng nói Toàn Nhật.

Cũng hăy tưởng tượng lại cái thời kỳ khi ư thức hệ và nền giáo dục chính thống chỉ tập trung nhồi sọ cho người ta cái chủ thuyết tôn quân cực đoan, ta mới thấy hết bản lĩnh dám nghĩ dám làm của dân tộc ta, thể hiện qua những con người như Toàn Nhật. Mà Toàn Nhật có được cái tầm vóc tư tưởng vĩ đại ấy, có được cái bản lĩnh dám nghĩ dám làm ấy, đó là ông đă biết bám vào nhân dân, lấy cuộc sống, kinh nghiệm, nhận thức và t́nh cảm của dân tộc, của nhân dân là chủ để thể hiện của ḿnh, mà giải quyết những vấn đề do thời đại đặt ra.

Ông đă tập tan cái trật tự phong kiến quân – sư – phụ hàng ngàn năm đè nặng lên ư thức của nhân dân, không bằng những viện dẫn từ sách vở ngoại lai, trái lại bằng chính những tri thức, kinh nghiệm và t́nh cảm của dân tộc, của nhân dân kết tinh trong những câu ca dao tục ngữ. Dựa vào và khai thác một cách có chọn lọc kho tàng quư giá vô tận ấy, Toàn Nhật đă làm nổi bật thêm cái chân lư sáng ngời là đứng trong hàng ngũ nhân dân, người ta càng trở nên to lớn theo kích thước vĩ đại của nhân dân trong lịch sử, càng trở nên tin tường vào trí tuệ tuyệt vời, vào t́nh cảm trong sáng và vào sức mạnh vô địch của họ”.

(…) Do thế, tư tưởng dân chủ của Toàn Nhật là một điểm son trong lịch sử tư tưởng Việt Nam. Lần đầu tiên nhân dân ta dám công khai nghĩ tới và tuyên bố rằng vua không phải là vị tối thượng của nước, có quyền uy tuyệt đối với mọi người.[13]

Nếu đă gần hai thế kỷ qua, những người làm công tác nghiên cứu văn học ở nước ta đă “không một lần tên Toàn Nhật được nhắc tới, không bất kỳ một ḍng nào dành cho tác phẩm của ông” th́ những lời đánh giá trên của giáo sư Lê Mạnh Thát theo tôi, là đă đủ để chuộc lại phần nào lỗi lầm của chúng ta, những thế hệ sau đối với Toàn Nhật vậy.

Nhưng nếu quả đúng là Toàn Nhật viết Hứa sử truyện văn là để “nhằm đáp ứng những yêu cầu lư luận chính trị phục vụ cho sự nghiệp xưng đế và chống ngoại xâm của Quang  Trung? Với lư thuyết chống tôn quân, phải chăng nó đă gián tiếp biện minh cho việc Quang Trung xưng đế và không cần thừa nhận quyền uy của vua Lê” như sự nhận định của tác giả Toàn Nhật Quang Đài th́ theo tôi không chỉ những người phật tử Việt Nam hiện tại mà cả mai sau nữa, phải học lấy bài học mà Toàn Nhật, với tư cách là một thiền sư đă ủng hộ cuộc cách mạng Tây Sơn như thế nào? Nghĩa là Toàn Nhật không hề xưng tụng hay tôn sùng cá nhân của Thái Đức Nguyễn Nhạc hay Quang Trung Nguyễn Huệ mà Toàn Nhật chỉ ủng hộ chính sách đúng đắn  có lợi cho dân cho nước mà cuộc cách mạng Tây Sơn đă đề ra mà thôi.

Khi một cá nhân hay một tổ chức chính trị nào đó đề ra được một chính sách phù hợp với ḷng dân th́ nhất định cá nhân ấy, tổ chức ấy đương nhiên xứng đáng đứng ra đại diện cho đất nước chứ không nhất định là họ đă được sanh ra từ giai cấp nào, họ đang ở trung nguyên hay nơi quê mùa thôn dă.

Trong bối cảnh chính trị và xă hội vào thời của Toàn Nhật ở nửa cuối thế kỷ 18 th́ người đó nhất định không phải là Lê Chiêu Thống, mặc dù ông này được xem là “chính thống” theo quan điểm của cái gọi là “quốc sử” của mốt số nhà sử học nước ta cũng như của Trung Quốc, mà người có đủ điều kiện đứng ra đại diện cho đất nước lúc đó đương nhiên là Quang Trung Nguyễn Huệ, dù Nguyễn Huệ không phải “chính thống” cũng như không sanh ra ở Trung nguyên mà lại sanh ra tại một nơi xa xôi hẻo lánh ở tận nơi núi rừng Tây Sơn.

Nhưng con người được sinh ra tại nơi quê mùa ấy lại được một sử gia viết là: “… c̣n như Nguyễn Huệ là vua Thái tổ của nhà Nguyễn Tây Sơn, th́ trước giúp anh bốn lần vào đánh đất Gia Định đều được toàn thắng, phá hai vạn quân hùm beo của Xiêm La, chỉ c̣n được mấy trăm người lủi thủi chạy về nước; sau lại ra Bắc Hà, dứt họ Trịnh, tôn vua Lê, đem lại mối cương thường cho rơ ràng. Ấy là có đủ sức mạnh mà lại biết làm việc nghĩa.

Nhưng v́ nhà Lê nhu nhược, triều thần lúc bấy giờ không ai có tài kinh luân, lại để cho Trịnh Bồng và Nguyễn Hữu Chỉnh nối nhau mà chuyên quyền cho đến nỗi thành ra tán loạn. Dẫu thế măc ḷng, khi Nguyễn Huệ giết Vũ Văn Nhậm rồi, không nỡ dứt nhà Lê, đặt giám quốc để giữ tông miếu tiền triều; như thế th́ cách ở với nhà Lê không lấy ǵ làm bạc.

Sau vua Lê Chiêu Thống và Hoàng Thái Hậu đi sang kêu cứu bên Tàu, vua nhà Thanh nhân dịp ấy mượn tiếng cứu nhà Lê, để lấy nước Nam, bèn sai binh tướng sang giữ thành Thăng Long. Bấy giờ cứ theo mật dụ của vua nhà Thanh, th́ nước Nam ta, bề ngoài tuy chưa mất hẳn, nhưng kỳ thật đă vào tay người Tàu rồi.

Vậy nước mất, th́ phải lấy nước lại, ông Nguyễn Huệ mới lên ngôi Hoàng đế, truyền hịch đi các nơi, đường đường chính chính đem quân ra đánh một trận phá 20 vạn quân Tàu, tướng nhà Thanh là Tôn Sĩ Nghị phải bỏ cá ấn tín mà chạy, làm cho vua tôi nước Tàu khiếp sợ, tướng nhà Thanh phải thất đảm. Tưởng từ xưa đến nay nước ta chưa có vơ công nào lẫm liệt như vậy.

Và đánh đuổi người Tàu đi rồi lấy nước lại mà làm vua th́ có điều ǵ mà trái đạo? Vậy lẽ ǵ mà gọi là nguỵ triều?”[14]

 

Nhưng Toàn Nhật biết rằng triều đại nào rồi cũng sẽ qua đi, kể cả những triều đại được ca tụng nhất trong lịch sử của loài người xưa nay:

Lợi danh tợ bọt nước xao

Hán Đường Triệu Tống th́ nào thấy đâu?

(Xuất gia văn)

Triều đại Tây Sơn dù được ca ngợi là “Bách chiến bách thắng” là “vô địch” th́ cũng chỉ tồn không đầy nửa thế kỷ, nghĩa là không triều đại nào là “muôn năm” hết.

Bởi vậy, là một tư tưởng gia của Phật giáo, nên Toàn Nhật ư thức được rằng con đường đi của Phật giáo là: “Phật giáo Việt Nam không gắn bó tuyệt đối với triều đại nào, dù triều đại đó do Phật giáo dựng lên hay lănh đạo. Phật giáo chỉ gắn bó và trung thành với quyền lợi dân tộc, quyền lợi của dân chúng mà thôi”.[15]

Chính đó là lư do v́ sao Toàn Nhật ủng hộ cho cuộc cách mạng Tây Sơn mà không hề ca tụng bất cứ một cá nhân nào trong phong trào ấy, dù đó là cá nhân của Nguyễn Nhạc hay Nguyễn Huệ.

Dù không trực tiếp nhắc ǵ đến cuộc cách mạng Pháp 1789, nhưng khi đề cập đến tiểu luận Sa di oai nghi tăng chú giảo ngụy tự tiểu thiên của Toàn Nhật, Lê Mạnh Thát có viết rằng:

“Phải chăng nó đáp ứng lại xu thế chung của lịch sử thế giới thời bây giờ, thể hiện một xu thế đi t́m ánh sáng, đi t́m chân lư, dựa trên khả năng hiểu biết và t́m kiếm của con người, chứ không c̣n tin tưởng một cách mù quáng vào những ǵ do truyền thống hay những quyền uy khác truyền lại”.[16]

Từ những nhận định trên của tác giả Toàn Nhật Quang Đài, ta thử làm một chút so sánh th́ sẽ thấy có một sự trùng hợp lạ lùng giữa cuộc cách mạng Pháp 1789 và t́nh h́nh chính trị cũng như xă hội ở nước ta vào nửa cuối thế kỷ 18.

Nếu các vua Louis 14 và 15 đă giam hăm xă hội Pháp trong 4 vách tường đến vua Louis 16 th́ người dân của nước Pháp không thể nào chịu đựng sự giam hăm và kiềm kẹp này được nữa, nên vào ngày 14 tháng 7 năm 1789 đă đồng loạt kéo đến đập phá tan tành nhà ngục Bastille, nhà ngục này trong nhiều thế kỷ đă là nơi giam giữ những người yêu nước dám lên tiếng chống đối chế độ, và là tiêu biểu cho chính sách chuyên chế và hà khắc của chế độ phong kiến Pháp.

Cũng xấp xỉ vào khoảng thời gian đó, Lê Mạnh Thát viết:

“…Nước ta vào thời Toàn Nhật cũng đang đứng trước một t́nh thế hết sức hiểm nguy. Bên trong th́ các thế lực phong kiến phản động đang suy tàn cấu xé tiêu diệt lẫn nhau một cách tàn nhẫn trên thống khổ tuyệt vọng của nhân dân. Bên ngoài th́ các thế lực ngoại bang đang lăm le và thực sư lợi dụng t́nh h́nh đó của dân tộc để thực hiện những mưu đồ xâm lược nham hiểm của chúng. Chính trong t́nh thế đó của đất nước, mà hàng ngày đă xảy ra những cảnh:


 

Non chen ngù  giáo đỏ cây

Mác hoa đường tuyết, tên bay mát trời

Thảm thương chật đất phơi thây

Đỏ hoe máu rắc đ̣i nơi dầm dề.

Chúng dân ĺa bỏ xóm giềng

Chằm non trốn núp của tiền đoái chi

Mắc cơn lửa dữ một kỳ

Đá kia ngọc nọ đều th́ cháy leo

(Hứa sử truyện văn)

Xảy ra nhan nhản khắp nơi. Nếu không có một cuộc khởi nghĩa nông dân vĩ đại dưới sự lănh đạo thiên tài của Nguyễn Huệ bùng nổ, th́ đất nước tưởng chừng như không c̣n có cơ sống sót. Nhưng làm sao một sự việc như thế có thể quan niệm được, khi mà những người như Toàn Nhật xuất thân từ nhân dân đă nêu cao ngọn cờ chủ nghĩa nhân đạo chiến đấu, đă nêu cao lư tưởng đạo đức lao động, kiên quyết đứng về phía những người bị áp bức, nói lên tâm t́nh và nguyện vọng giải phóng của họ. Do thế, sẽ không có ǵ đáng ngạc nhiên khi cuộc khởi nghĩa Tây Sơn sau khi giành chính quyền trong cả nước về tay nông dân, đă cùng một lúc đánh bại được hai thế lực phong kiến phản động trong nước và phong kiến ngoại bang xâm lược, tạo nên một khí thế hào hùng, đưa dân tộc lên một đỉnh cao của thời đại mới”.[17]

Nhưng đằng sau bất cứ một cuộc cách mạng nào cũng đều được dưỡng bồi bởi một sức mạnh tư tưởng trầm lặng nào đó. Nếu đỉnh cao của cuộc cách mạng Pháp là việc nhân dân nổi dậy phá ngục Bastille vào năm 1789 th́ trước đó người dân cũng đă thấm nhuần những tư tưởng về tự do, về dân chủ và nhân quyền của các tư tưởng gia  như Voltare, Rousseau, Montesquieu… Cùng thế, đỉnh cao của cuộc cách mạng Tây Sơn là cuộc đánh bại đoàn quân xâm lược khổng lồ của phong kiến phương Bắc cũng vào năm 1789 cũng không ra ngoài thông lệ đó, nghĩa là cũng được nuôi dưỡng bởi một sức mạnh tư tưởng trầm lặng từ truyền thống của dân tộc Việt:

“Trong ṿng hơn 300 năm trở lại đây, Cư Trần lạc đạo Phú và Đắc thú lâm truyền thành đạo ca đă được in lại nhiều lần. Điều này chứng tỏ tư tưởng Cư Trần lạc đạo vẫn tiếp tục được học tập và truyền bá dù Phật giáo cũng như đất nước đang chuyển ḿnh qua một giai đoạn mới. Giá trị lư luận của Cư Trần lạc đạo từ đó vẫn c̣n có sức hấp dẫn mạnh mẽ, đặc biệt là vào cuối thế kỷ 18 với những chiến công Ngọc Hồi, Đống Đa oanh liệt của quân và dân Tây Sơn. Trong đó nổi bật những khuôn mặt phật tử nhận ḿnh là người kế thừa truyền thống Trúc Lâm như binh bộ Thượng thư Tỉnh Phái Hầu Ngô Thời Nhiệm là Hải Lượng Thiền sư, Hương Lĩnh Bá tiến sĩ Nguyễn Đăng Sĩ là Thiền sư Hải Âu…”[18].

Lời dặn ḍ sau đây của Quang Trung Nguyễn Huệ với Ngô Thời Nhiệm dưới chân núi Tam Điệp càng chứng tỏ sự nhận định trên của giáo sư Lê Mạnh Thát là hoàn toàn có cơ sở:

“Vua Quang Trung cuời mà nói rằng: “Chúng nó sang phen này là mua cái chết đó thôi. Ta ra Bắc chuyến này đích thân coi việc quân đánh giữ, đă định mẹo rồi, đuổi quân Tàu về chẳng qua 10 ngày là xong việc. Nhưng chỉ nghĩ chúng là nước lớn gấp 10 lần nước ta, sau khi chúng thua một trận rồi, tất chúng lấy làm xấu hổ, lại mưu báo thù, như thế th́ chỉ đánh nhau măi không thôi, dân ta hại nhiều, ta sao nỡ làm thế. Vậy đánh xong trận này, ta phải nhờ Ngô Thời Nhiệm dùng lời nói cho khéo để đ́nh chỉ việc chiến tranh, Đợi mười năm nữa, nước ta dưỡng được sức phú cường rồi, th́ ta không cần phải sợ chúng nữa”.[19]

Và ta vẫn c̣n nhớ là ngày 28 tháng 10 năm Mậu Thân (1789) khi đại quân của Thanh triều dưới sự chỉ huy của Tổng đốc lưỡng quản là Tôn Sĩ Nghị vượt ải Nam Quan tiến  về Thăng Long th́ tất cả tướng lănh Tây Sơn ở Bắc Hà bây giờ đều chủ trương đem quân chặn đánh với lư do suy diễn của họ là “lấy quân nghỉ ngơi mà đánh quân mệt nhọc” nhưng ư kiến của Ngô Thời Nhiệm th́ lại khác “Toàn quân rút lui, không nên mất một mũi tên, cho nó ngủ trọ một đêm rồi mai lại đuổi chúng nó đi” và ư kiến của Ngô Thời Nhiệm đă được Ngô Văn Sở và các tướng lănh Tây Sơn chấp thuận. Nhờ ư kiến đó mà đại quân của Tây Sơn đă rút lui một cách an toàn về núi Tam Điệp, để tạo điều kiện cho Quang Trung Nguyễn Huệ thần tốc tiến quân ra giải phóng Thăng Long chưa đầy 10 ngày.

Như vậy là ảnh hưởng của Thiền phái Trúc Lâm ở đời Trần qua Hải Lượng Thiền sư Ngô Thời Nhiệm đối với chiến thắng Ngọc Hồi, Đống Đa của triều đ́nh Tây Sơn là hiển nhiên, không cần phải bàn căi ǵ thêm nữa.

Nhưng sau chiến thắng oanh liệt này th́ lịch sử của dân tộc một lần nữa lại bị dang dở bởi sự ra đi đột ngột của Quang Trung Nguyễn Huệ. Tác giả Toàn Nhật Quang Đài nói lên sự luyến tiếc cho đất nước cũng như cho giới trí thức như Toàn Nhật đă lỡ mất cơ hội để đưa dân tộc tiến lên cùng với thế kỷ của ánh sáng:

“Với phong cách và tinh thần làm việc đó, đúng ra bước sang thế kỷ 19 dân tộc ta phải bước lên vũ đài khoa học thế giới. Thế mà, với sự ngóc đầu dậy của một hệ ư thức phong kiến cực kỳ phản động, phong cách và tinh thần làm việc của Toàn Nhật không có cơ hội phát triển và kế thừa, để cuối cùng đất nước ta đă rơi vào tay bọn xâm lược”.

 

Một nhà thơ hàng đầu của Việt Nam ở nửa thế kỷ 20 cũng chia sẻ nỗi luyến tiếc này đối với cái chết của Quang Trung Nguyễn Huệ và sự dở dang của lịch sử dân tộc:

Thôi xin người đừng nức nở

Nếu sau này đường dang dở

Những ai về

Ôm măi mộng người đi.

(Nguyễn Huệ – Mưa nguồn)

Toàn Nhật c̣n viết một câu chuyện t́nh tên là Tống Vương truyện. Nội dung kể lại câu chuyện t́nh giữa chàng thái tử nước Tống đem ḷng yêu một người con gái, con của một ngư ông nghèo khổ bên bờ sông Vị Thuỷ. Nhưng trước khi đến được với người con gái chài lưới ở ḍng sông Vị Thủy đó, th́ chàng thái tử đa t́nh này đă phải từ chối biết bao nhiêu là công chúa xinh đẹp ở các nước láng giềng muốn chiếm được trái tim của chàng:

Nước Tần nước Tấn

Nước Sở nước Tề

Toàn những tiên phi

Cùng nàng công chúa

Nước Lương nước Sở

Nước Trịnh nước Tuỳ

Toàn những tiên phi

Cùng nàng quế liễu

Nước Trần nước Triệu

Nước Hán nước Đường


 

Nhưng mà:

Thái tử chẳng ngó

Mặt ủ dàu dàu

Triều đ́nh xem ai nấy lắc đầu

Ghê mặt thấy đều th́ mất vía.

Ở trần gian không có người con gái nào vừa ḷng thái tử, nên cuối cùng vua cha phải cầu cứu Ngọc Hoàng:

Tống Vương rằng rầy con đă kén chê

Cha cũng phải cầu tiên thượng giới.

Nhưng sau khi:

Bước lên lầu rồng

Xem năm tiên nữ

Xem rồi tự sự

Bèn trở vào đền

Tâu vua cha duyên chẳng xứng duyên

Xin cha chớ ép con sự ấy


 

Nhưng rồi một hôm:

Ngày giao sự ước chơi vị thuỷ

Th́ trời xui xảy gặp ngư ông

Chèo thuyền đánh cá giữa ḍng

Thái tử  lại gần thuyền ngư phủ.


 

Sau khi gặp người con gái của người chài lưới nghèo khổ th́ trái tim thái tử đă thực sự rung động:


 

Mới trở về nhà

Tưởng nàng Thụy nữ

Ta muốn cùng thưa vương phụ

Lại sợ có triều đ́nh

Lo lượng một ḿnh

Sợ người quở phạt.

Khi nghe tin thái tử đem ḷng yêu thương người con gái của người chài lưới nghèo khổ, nhà vua tức giận mà than thở:

Nhà sinh con vô phúc

Nên rối sửa số căn

Con chư hầu các nước th́ chê

Mà khiến lấy con nhà thuyền rớ.

Nhưng ḷng chàng thái tử đă quyết cùng với sự thương con của hoàng hậu, nên cuối cùng nhà vua cũng phải miễn cưỡng đồng ư.

Rồi sau khi Thái tử và Thụy nữ, người con gái của người chài lưới đẹp duyên cùng nhau thi vua cha thoái vị và nhường ngôi cho Thái tử:
 

Sửa sang chính sự

Ta nay Thái tử

Nối nghiệp trị ngôi

Nội ngoại tề gia

Cùng là ngư phụ

Quốc lăo nội triều

Cha đà tác cao

Trước xe sau gía

Hồi đầu Phật Tổ

Thế phát tu hành.


 

Từ đó:

Con nối ngôi truyền đă tạo thanh

Muôn đời để lưu danh thiên hạ.

Vậy là để đến được với nàng con gái ḿnh yêu thái tử đă phải đấu tranh quyết liệt mới có thể vượt qua những công ước giả tạo của xă hội như giàu nghèo, tiện dân hay quư tộc v.v… Nhưng tác giá Toàn Nhật Quang Đài với cái nh́n của một sử gia đă nhận xét v́ sao Toàn Nhật đă viết Tống vương truyện:

“V́ vậy, viết Tống vương truyện ca ngợi mối t́nh đẹp đẽ giữa chàng thái tử quyền quư với một nàng con gái con nhà chài lưới, thực sự là ngợi ca những nét đẹp của cuộc khởi nghĩa Tây Sơn, giải phóng những người bị áp bức, tạo cơ hội cho họ lập nên những chiến công hiển hách, những thành quả văn hoá xă hội rực rỡ. Từ chỗ áp bức mà đứng lên, họ đă dành cho bản thân một địa vị xứng đáng trong lịch sử dân tộc. Cũng như loài người. Tả lại: một chàng thái tử đi t́m một cô gái chài lưới, chính là khắc họa việc kết hợp giữa lực lượng nông dân với xu thế của thời đại để làm nên cuộc khởi nghĩa Tây Sơn vĩ đại”.[20]

Nhưng nếu một người cầm bút mà chỉ biết có ca ngợi các thủ lănh nhà nước đương quyền, dù là nhà nước đó có được ḷng dân đi nữa, th́ sự ca ngợi đó cũng chẳng có ư nghĩa ǵ hết, nếu người cầm bút không vạch ra được một lư thuyết, một hướng đi có lợi cho dân cho nước. Toàn Nhật với tư cách là một nhà văn, nhà thơ nhà tư tưởng của cuộc cách mạng Tây Sơn và đồng thời cũng là một Thiền sư của Phật giáo Việt Nam, Toàn Nhật biết ḿnh phải làm ǵ để hỗ trợ cho nhà nước Tây Sơn.

“Trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, ngoài Lư Trần th́ chỉ ở thời Tây Sơn những người Phật giáo mới một lần nữa đề cao quan niệm sống thoát ly để nhập cuộc một cách mạnh mẽ và hào hùng. Điều đó cũng không có ǵ lạ bởi thời đại Tây Sơn đă có những con người điển h́nh như Ngô Thời Nhiệm và Toàn Nhật”.[21]

 

Quan điểm sống thoát ly để rồi nhập cuộc một cách mạnh mẽ và hào hùng đó, nếu ở đời Lư chỉ mới khởi đầu, phải đợi đến thời Trần th́ quan điểm sống đó mới được áp dụng một cách triệt để:

“Cách sống đó bắt buộc người ta phải vào đời nhưng phải vượt lên cơi đời, vào đạo nhưng phải xuyên qua đời. Những nhân vật chính trong các tác phẩm của Toàn Nhật như Hứa sử truyện văn, Tống vương truyện đều thể hiện quan niệm sống đó của ông. Họ làm vua rồi họ đi tu, họ đi tu rồi họ đứng ra làm tướng. Phải chăng Toàn Nhật muốn t́m về nếp sống của các vua nhà Trần Việt Nam”.[22]

Bây giờ người ta xem thử Toàn Nhật của thời Tây Sơn đă “muốn t́m về nếp sống của các vua đời Trần” như thế nào trong các tác phầm của ông trước hết là kinh Kim Cang.

Trong lời tựa cho Thiền Tông chỉ Nam, Trần Thái Tông, vị vua khai sáng ra triều đại nhà Trần có viết rằng: “Đến các kinh điển của đại giáo th́ không kinh nào là không nghiên cứu. Trẫm thường đọc kinh Kim Cang đến câu “ủng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” vừa gấp sách lại ngâm nga bỗng nhiên giác ngộ…” th́ lập tức sau đó kinh Kim Cang đă trở thành quyển kinh căn bản nhất của Phật giáo đời Trần. Điều đó ta có thể dễ dàng nhận thấy khi đọc Cư Trần Lạc đạo phú của vua Trần Nhân Tông hay bài phú vịnh chùa Hoa Yên của Thiền sư Huyền Quang.

Toàn Nhật ở thời Tây Sơn cũng thế, không những đă viết riêng một tác phẩm có tên là Bát nhă ngộ đạo văn, trong đó có những câu vô cùng hoành tráng, hoành tráng chẳng khác ǵ tiếng sấm chẻ:

Cơi Nam đà mở rộng cửa lầu

Đèn trí tuệ hào quang chói chói

Thuyền Bát nhă nghênh ngang bốn cơi

Nước ma ha rữa sạch ba ḷng.

Hoặc là:

Cửa Bát nhă vào ra thong thả

Trống đại hùng đà thu ư mă

Chuông Linh sơn hăy tỏa tâm viên

Ngọc mâu ni há dễ khinh tuyền

Kinh Bạch tự dám đâm vọng tiết.

Những câu sau đây trong Tham Thiền văn của Toàn Nhật:

Bạn thuyền Bát nhă hôm mai

Xem hoa lập cảnh dồi mài Kim Cang.
 

Hay:

Một nồi hương huệ đất xông

Ba biến kinh ḷng thường niệm hôm mai.


 

Khiến ta nhớ đến những câu:

Khuya sớm sáng chong đèn Bát nhă

Hôm mai rửa sạch nước ma ha.

của Huyền Quang Thiền sư ở đời Trần ở thế kỷ 13.

Và cũng như vua Trần Thái Tông nhờ đọc kinh Kim Cang mà giác ngộ th́ Toàn Nhật chắc cũng như vậy, nghĩa là cũng nhờ thấy lẽ sắc không của Bát nhă mà ngộ đạo, như Toàn Nhật đă ghi lại trong một bài thơ bằng chữ Hán:

Trần duyên đoạn hậu tự tiêu dung

Thanh tịnh phương tư sắc thị không

Phật tức tâm hề tâm tức Phật

Thanh Son chỉ tại bạch vân trung

(Trung niên xuất gia)

Lê Mạnh Thát dịch:

Duyên đời đă dứt tự thong dong

Thanh tịnh phương tri sắc thị không

Phật tức ḷng chừ ḷng tức Phật

Ngay trong mây trắng núi xanh rờn.

Và mặc dù chỉ là viết lại hành trang của Lục Tổ Huệ Năng, nhưng chúng ta phải hiểu rằng Toàn Nhật cũng xem kinh Kim Cang là quyển kinh căn bản nhất để đưa con người đến chân trời giác ngộ như vua Trần Thái Tông của đời Trần:

Bây giờ cảm động thiết t́nh

Nghe câu sở tục tâm truyền Kim Cang

Trực liền ngộ đặng linh quang

Diệu xưa Phật Tổ thấy toàn chân như.

Quan điểm ấy càng rơ ràng hơn nữa khi trong Bát Nhă Ngộ Đạo văn Toàn Nhật lặp lại:

Giảng cho thông tứ cú Kim Cang

Th́ mới thấy bổn lai diện mục.

Dưới ảnh hưởng của những nhà trí thức lỗi lạc của thời đại như Ngô Thời Nhiệm và Toàn Nhật th́ rơ ràng kinh Kim Cang cũng trở thành quyển kinh được triều đ́nh Tây Sơn xem như quyển kinh quan trọng nhằm vạch ra một hướng đi tinh thần cho dân tộc Việt, điều đó được thể hiện qua việc Ngọc Hân Công chúa tức Bắc cung Hoàng hậu của triều đ́nh Tây Sơn chủ tŕ việc thêu kinh Kim Cang Bát Nhă lên gấm. Hiện chùa Trúc Lâm ở Huế vẫn c̣n giữ ǵn tấm thêu bằng gấm này.

Bởi vậy, xin được lập lại câu hỏi rất có ư nghĩa của tác giả Toàn Nhật Quang Đài “Thái độ tôn giáo của triều đ́nh Quang Trung như thế nào, th́ Ngọc Hân Công chúa mới thêu Kinh Kim Cang Bát Nhă lên gấm chứ!”

Hỏi tức là đă trả lời vậy.

Nhưng ảnh hưởng mănh liệt nhất tinh thần Phật giáo đời Trần đối với Toàn Nhật vẫn là trong Hứa sử truyện văn. Tôi có cảm tưởng là khi viết tác phẩm này mục đích của Toàn Nhật không ǵ khác hơn là nhằm giải thích hai tác phẩm quan trọng nhất của đời Trần là bài tựa Thiền Tông chỉ Nam của vua Trần Thái Tông và Cư Trần Lạc Đạo phú của vua Trần Nhân Tông.

Trong Thiền Tông chỉ Nam, vua Trần Thái Tông đă nói lên nỗi day dứt cũng như đau khổ và dằn vặt của ḿnh đối với công danh sự nghiệp: “Lại nghĩ sự nghiệp đế vương thời trước, hưng phế bất thường, cho nên t́m đến núi này chỉ muốn cầu làm Phật, chứ không cầu ǵ khác”.

Nhưng Quốc sư Trúc Lâm đă khuyên vua Trần Thái Tông rằng:

“Trong núi vốn không có Phật, Phật ở ngay trong ḷng. Lặng lẽ mà hiểu, đó chính là chân Phật. Nay nếu bệ hạ giác ngộ tâm đó th́ lập tức thành Phật, không nhọc t́m bên ngoài”

Nhưng sau câu nói ấy, Quốc sư Trúc Lâm thấy nhà vua vẫn phân vân lưỡng lự chưa chịu xuống núi, nên Quốc sư mới nói tiếp:

“Phàm đă là bậc nhân quân th́ phải lấy ư muốn của thiên hạ làm ư muốn của ḿnh, lấy tấm ḷng của thiên hạ làm tấm ḷng của ḿnh. Nay thiên hạ muốn đón bệ hạ về th́ bệ hạ không về sao được! Duy chỉ có việc nghiên cứu nội điển th́ xin bệ hạ đừng chút xao ḷng mà thôi”.

Chính v́ đời Trần đă “lấy ư muốn của thiên hạ làm ư muốn của ḿnh, lấy tấm ḷng của thiên hạ làm tấm ḷng của ḿnh” một cách triệt để, nên không có ǵ lạ trong hơn một thế kỷ tồn tại, vương triều Trần không chỉ một lần mà cả đến ba lần đánh bại đội quân xâm lược hung hăn mà thời bấy giờ chỉ mới nghe nhắc đến Tartar (Thát Đát) thôi th́ đă lên cơn sốt rồi. Nhưng không chỉ mạnh về mặt quân sự, mà trên mặt văn học tư tưởng cũng thế, nghĩa là cũng “lấy tấm ḷng của thiên hạ làm tấm ḷng của ḿnh” nên nền văn học đời Trần đă phát triển rực rỡ. 

 

 

Dù bị kẻ ngoại xâm cũng như thiên tai địch họa phá hủy rất nhiều, nhưng những ǵ c̣n lại của nền văn học ấy vẫn tiếp tục nuôi dưỡng ḷng tự hào dân tộc cho đến ngày hôm nay. Bởi thế ta chẳng lấy ǵ làm lạ, vào những năm cuối cùng của thế kỷ 20, một phần của nhân loại đă nhận ra rằng, những ư thức hệ ngoại lai mà bấy lâu nay họ tôn thờ thực sự chẳng giúp ích ǵ cho sự phát triển của quốc gia họ cả, mà c̣n gây ra không biết bao là thống khổ và hận thù cho dân tộc họ nữa.

Bởi vậy, hơn bao giờ hết, cái h́nh bóng cô đơn heo hút của “một lăo Tăng sống trên núi hoang, xương gầy mặt vơ, ăn rau đắng, nếm hạt dẻ, chơi cảnh rừng, uống nước suối, ḷng như mây nổi” trên núi Yên Tử cách đây bảy thế kỷ căn dặn nhà lănh đạo của dân tộc Việt “phải lấy ư muốn của thiên hạ làm ư muốn của ḿnh, lấy tấm ḷng của thiên hạ làm tấm ḷng của ḿnh” đă trở thành một bức thông điệp khẩn thiết hơn bao giờ hết đối với dân tộc Việt Nam trong lúc này.

Trong Hứa sử truyện văn của Thiền sư Toàn Nhật của thời Tây Sơn, Đồng Vân, một vị quan bách chiến bách thắng đang trấn giữ miền biên giới của nước Trung Quốc Việt Vương cùng ám ảnh nỗi sầu muôn thuở ấy của kiếp người như Trần Thái Tông của đời Trần:

Đời tham cả lộc cao ngôi

Ví như lá vược hớp mồi mắc câu

Tuổi xanh khiến sớm bạc đầu

Phút đau lại chết khổ sầu mà thôi.

Và Đồng Vân cũng đă vứt bỏ cả lộc cao ngôi vua bỏ vợ con lên chùa xuất gia với Thiền sư Mật Hạnh. Khi nghe tin Đồng Vân đă xuất gia th́ Triệu Tân bên nước láng giềng liền ráo riết chuẩn bị xâm lăng:

Lệnh truyền tướng tá các nha

Chỉnh tu binh mă can qua sẵn sàng

Triệu Tân mới cất binh sang

Ngựa ăn chật nội quân hàn dăy non.

Chỉ mới có giao tranh trận đầu quân của nước Trung Quốc Việt vương đă thảm bại v́:

Triệu Tân tài mạnh tột đời

Tướng việt sa thế, ră rời chạy đi

Triệu Tân sách mà huy kỳ

Trống sáu reo đuổi ầm ỷ vang rân

Quân việt ră chạy rần rần

Triệu Tân chém tướng tưng bừng Đông Tây.

Không c̣n cách nào hơn, vua Việt vương đành phải cùng các quan xa giá đến chùa để xin Đỗng Vân cứu nguy xă tắc. Cũng như Trần Thái Độ đă cùng với các quan trong triều lên tận núi Yên Tử để xin vua Trần Thái Tông hăy v́ xă tắc mà xuống núi.

Trong Thiền Tông chữ Nam, Trần Thái Độ đă thưa với Trần Thái Tông:

“Vả Thái Tổ bỏ thần mà đi, nắm đất trên mồ chưa khô, lời trăn trối bên tai c̣n đó. Thế mà bệ hạ lại lánh gót ẩn cư nơi núi rừng, để theo đuổi cái chí riêng của ḿnh. Như thần nghĩ, bệ hạ tính kế tự tu đă vậy, nhưng c̣n quốc gia xă tắc th́ sao?”

Trong Hứa sử truyện văn, vua Việt Vương cũng đă nói với quan Đỗng Vân những lời tương tự:

Vả ông dũng lược ân oai

Triệu Tân ni đă sợ tài xưa nay

Xin ông phương tiện ra tay

Chống đàn xă tắc khỏi ngày khuynh nguy

Đạo là cứu độ từ bi

Nước nghèo dân chết bỏ đi  nỡ nào

Ḱa lời tục ngữ thường rao

Liền giết một mèo, cứu chuột muôn con

Xin ông đoái tưởng cựu ân

Ra tay giúp nước cứu dân phen này.

Sau đó Thiền sư Mật Hạnh, thầy của Đỗng Vân đă phải giải thích mọi thắc mắc trong ḷng của Đỗng Vân, v́ Đỗng Vân đang phân vân lưỡng lự là có nên tránh xa xă hội loạn lạc đau khổ để đi t́m hạnh phúc riêng cho ḿnh không?

Mật Hạnh lời mới tỏ phân

Chúng ta v́ tưởng bốn ân tu hành

Gặp cơn ác Đảng tung hoành

Dễ ta đâu khá nỡ đành ngồi coi

Huống thêm nghĩa cũ vua tôi

Ḿnh vàng hiểm trở xa xôi t́m vời

Phải chi vũ lực tột đời

Cũng ra giúp người thầy chẳng tiếc công

Vả chăng quyền xảo thích trung

Bồ Tát đa hạnh thiệt trong đạo này

Làm sao mà đặng lợi người

Giúp nước cứu đời cũng một việc tu.

Như vậy là Thiền sư Mật Hạnh đă bảo cho Đỗng Vân, đệ tử của ḿnh biết rằng “giúp dân cứu nước” mới là việc quan trọng nhất của người xuất gia.

Một sự thắc mắc nữa cũng không kém phần quan trọng là giới sát. Nếu một người đă xuất gia mà tham dự chiến tranh th́ có phạm giới sát không?

Hăy c̣n ngại việc sát sanh

Thôi lại quỳ gối  thưa tŕnh bổn sư

Thầy phân tôi đă hiệp cơ

Nhưng mà c̣n ngại, hăy chưa yên tĩnh

Vả như một sự sát sinh

Đầu trong các giới, chẳng khinh thiệt thà

Dầu kẽ tại gia xuất gia

Chẳng dám trái phạm ấy là phép chung

Nhẫn loài nhỏ nhít côn trùng

Cũng chẳng nên giết huống đồng loại ta

Nay tôi chấn động can qua

Sao cho khỏi hại người ta bây giờ

Thiền sư Mật Hạnh đáp rằng:

Giả như cố ‎ư bất nhân

Buông ḷng sát hại tội dường hằng sa

Vốn nay v́ sự nước nhà

Cứu dân giúp nước, sao mà chẳng nên

Luật rằng phương tiện xảo quyền

Tùy cơ lội vật, pháp trần xưa nay

Đỗ Trường Ấn phong hai thầy

Ở trong quân trận ngày ngày ngăn binh

Qui Tôn giết rắn làm lành

Việc xưa tỏ chép đành rằng đến nay.

Sau khi dẫn chứng truyện xưa, Thiền sư Mật Hạnh nói cho Đỗng Vân biết chuyện của ngày hôm nay, nghĩa là ngày hôm nay muôn dân cũng đang rên siết dưới sự bạo tàn của kẻ xâm lược:

Vả như luận sự giặc này

Triệu Tân một đứa, tai đầy muôn dân

Buông ḷng tham ngược bất nhân

Vạn thặng căm hờn, thiên hạ nghiến răng

Ḷng trời ắt cũng chẳng ưng

Để vầy quen nó lung lăng quấy th́

Kinh rằng đại lực đại bi

Hay ông tới đó mặc khi máy dùng

Trước ra văn đức vỗ ḷng

Bằng nó cứng cổ sẽ dùng gia binh

Ông hăy cứ việc thi hành

Diêm vương bắt tội thầy đành chịu thay.

Vậy là kể từ khi lư tưởng Bồ tát được Lục Độ Tập kinh công bố: “Bồ Tát thấy dân kêu ca, do vậy gạt lệ, xông vào chính trị hà khắc để cứu dân khỏi nạn lầm than” th́ tuyên ngôn ấy đến nửa cuối thế kỷ 18 lại được những con người đang nuôi dưỡng lư tưởng Bồ tát khẳng định mạnh mẽ hơn nữa:

Trước ra văn đức vỗ ḷng

Bằng nó cứng cổ sẽ dùng gia binh

Ông hăy cứ việc thi hành

Diêm vương bắt tội thầy đành chịu thay.

Lư do có lẽ cũng không có ǵ khó hiểu cho lắm. Nếu như những thế kỷ trước đó, dân tộc ta chỉ có một kẻ thù ở phương Bắc, th́ đến nữa cuối thế kỷ 18, phong trào Tây Sơn không những chỉ đối đầu với ba tập đoàn phong kiến bên trong (Trịnh Lê Nguyễn) mà c̣n phải đối đầu với phương Bắc và Xiêm La ở phương Nam và đặc biệt một kẻ thù mới c̣n nguy hiểm hơn, đó là việc các tàu chiến của các nước Tây phương đang cấu kết với tay sai trong nước ngày đêm lăng văng ngoài bờ biển của phía Nam tổ quốc với mục đích là đưa tôn giáo mới vào nhằm thay thế những tôn giáo đă được dân tộc tiếp thu từ những ngày đầu mới lập quốc. Trong Bát Nhă Ngộ đạo văn Toàn Nhật đă đau ḷng thốt lên:

Sao chẳng nhớ câu chân giả

Mà học thói Tây phương!

Và cũng như Trần Thái Tông nghe lời khuyên của Quốc sư Trúc Lâm mà xuống núi, th́ Đổng vân trong Hứa sử truyện văn của Toàn Nhật ở thời Tây Sơn cũng phải rời chùa Huệ Lâm, để ra tay cứu vớt muôn dân đang sống trong cảnh lầm than. Toàn Nhật tả lại cảnh Đỗng vân xuống núi xuất quân như sau:

Một mai trận thượng cất ra

Giặc ấy chẳng đánh nó mà cũng tan

Ví dầu nó có chống ngang

Nghe ta đóng lịnh, giao thương hăy dùng

Dụ thôi mới bát tiên phương

Tả chi, Hữu dực, Trung quân ân cần

Hậu tiếp đốc binh Đỗng vân

Bát rồi rắt rắt rần rần kéo qua

Chư quân đều niệm Di Đà

Trước sau nổi tiếng nghe ḥa vang rân

Khắp trong quận huyện quan dân

Dựng cờ ứng nghĩa rần rần kéo ra

Con thề đánh trả thù cha

Em nguyện liều  thác, báo ḥa thù anh.

Vậy là dù ư muốn của Trần Thái Tông là ở lại với núi Yên Tử để t́m sự giải thoát riêng cho ḿnh, nhưng cuối cùng theo lời dạy của Quốc sư Trúc Lâm “Phàm đă là bậc nhân quân tất phải lấy ư muốn của thiên hạ làm ư muốn của ḿnh”, mà ư muốn của thiên hạ là phải xuống núi, nên Trần Thái Tông phải xuống núi trở lại và Đỗng Vân trong Hứa sử truyện văn của Toàn Nhật cũng thế, nghĩa là cũng muốn ở lại chùa để t́m sự an lạc riêng cho ḿnh, nhưng theo lời khuyên của Thiền sư Mật Hạnh cũng phải rời chùa để cứu muôn dân ra khỏi chốn nô lệ lầm than.

 

Trong Tống vương truyện, sau khi thái tử nước Tống lấy con gái của một người chài lưới nghèo khổ, th́ nhà vua nhường ngôi cho con để “hồi đầu phật tử, thế phát tu hành”, c̣n trong Hứa sử truyện văn, vị quan Đỗng Vân sau khi dẹp xong quân ngoại xâm th́ vua nước này là Việt vương cũng đă “tuổi cao tỉnh ngộ, hỏi ḍ Phật gia” để rồi cuối cùng:

Cởi quăng ngọc toă kim già

Cao xương huệ kiếm, diệt tà vô minh.

Đều hay lánh chốn trần lao

Vượt ra ma vơng, thẳng vào Phật môn.

Dường như v́ h́nh bóng của các vua Trần ở thế kỷ 13 nhất là Trần Thái Tông và Trần Nhân Tông, những ông vua có thể nói là minh triết nhất trong lịch sử dân tộc ta, sau khi đánh bại ngoại xâm, đất nước thái b́nh thịnh trị th́ cũng đều nhường ngôi lại cho con mà xuất gia học đạo. Phải chăng những ông vua đó vẫn luôn luôn là h́nh bóng “lư tưởng” mà Toàn Nhật muốn triều đại Tây Sơn cũng phải có những ông vua như đời Trần oanh liệt?

Không biết khởi đầu từ bao giờ nhưng có phần chắc là kể từ khi Thái tử Tất Đạt Đa từ bỏ ngôi vua vào rừng sâu để t́m đạo, kể từ khi Lăo Tử cỡi trâu đi biệt tăm sau khi đă giao bản thảo đạo đức kinh cho Doăn Hỷ th́ có lẽ vấn đề mới được đặt ra là: Nếu muốn thành tựu con đường sống đạo th́ nên vào rừng ở ẩn hay là cứ ở lại chốn phồn hoa đô hội mà vẫn làm chủ được tâm ḿnh không hề bị đời sống phồn hoa cám dỗ. Đó chính là vấn đề được hai tác giả lớn của đời Trần đề cập. Từ câu nói lừng danh của vị Quốc sư Trúc Lâm trên núi Yên Tử ở thế kỷ 13: “Trong núi vốn không có Phật, Phật ở ngay trong ḷng” đến hai câu mở đầu bài phú Cư Trần lạc đạo của Trần Nhân Tông:

Ḿnh ngồi thành thị

Nết dụng Sơn Lâm.

Trong Hứa Sử truyện văn của Thiền sư Toàn Nhật, Hứa Sử cùng đặt vấn đề ấy với Việt Vương:

Thị thành lại với lâm tuyền

Tu hành công đức hai đường đâu hơn?

Việt Vương trả lời:

Nay thầy lời đă hỏi ta

Lấy trong sự lư phân ra cho tường

Lâm truyền thanh cảnh náu nương

Đặng phần tịch mịch, khỏi đường huyên hoa

Song thời cũng ở ḷng ta

Ḷng ta thanh tĩnh, cảnh hoà cùng thanh

Dẫu mà ở chốn non xanh

Ḷng c̣n loạn động thị thành khác chi

Thị thành xao xuyến nhiều bề

Ḷng ta thanh tĩnh khác ǵ Sơn Lâm

Tu hành yếu vốn tại tâm

Nếu nệ nơi cảnh, mắc lầm hoà hai.

Ta phải hiểu thế nào về quan điểm trên của Toàn Nhật, có phải Toàn Nhật muốn nói như thế này chăng:

“Điều quan trọng không phải là sống ở thị thành hay núi rừng. Vấn đề là làm sao giác ngộ được sự thật. Đấy mấu chốt của vấn đề. Ta đă thấy sự giác ngộ có thể t́m thấy ở bất cứ nơi đâu, đặc biệt là chính giữa cuộc đời trần tục đầy những hệ lụy thế sự. Chính trong cuộc sống trần tục ấy mà giác ngộ được th́ giá trị c̣n nâng lên gấp bội”.[23]

C̣n một vấn đề quan trọng nữa mà tôi nghĩ rằng có lẽ Toàn Nhật cũng muốn triều đại Tây Sơn phải tiếp tục con đường mà đời Trần đă vạch ra, đó là vấn đề sử dụng chữ quốc âm. Khi đọc những bài thơ chữ Hán của Toàn Nhật, tác giả Toàn Nhật Quang Đài nhận xét rằng:

“… Qua những bai thơ chữ Hán, chứng tỏ khả năng sử dụng chữ Hán văn rất điêu luyện và thành thục của Toàn Nhật. Điều hăy c̣n cho ta thấy là việc phần lớn tác phẩm Toàn Nhật viết bằng tiếng quốc âm không có nghĩa là ông không thể sử dụng chữ Hán. Ngược lại, dù là một người rất giỏi chữ Hán nhưng ông đă t́m về với tiếng nói của dân tộc để chuyển tải những ǵ ḿnh muốn nói với nhân dân. Ư muốn xây dựng một nền văn học quốc âm, không chỉ dân tộc mà c̣n cho Phật giáo, đă đặt Toàn Nhật không những vào những nhà thơ lớn của dân tộc mà c̣n của Phật giáo. Thứ đến, với những bài thơ đó nền văn học quốc âm của dân tộc ta vào cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19 chứng tỏ sự đa dạng và phong phú với những t́nh tự và nhận thức của những con người khác nhau”.[24]

Tiếng quốc âm của dân tộc ta chắc chắn đă có từ rất lâu, có thể từ các triều đại vua Hùng trước Tây lịch, nhưng “chỉ đến thời vua Trần Nhân Tông, với hai tác phẩm của ḿnh là Cư Trần lạc đạo phú và đắc thú lâm truyền thành đạo ca cùng Vịnh Vân Yên tự phú của Thiền sư Huyền Quang (1234-1334) và giáo tử phú của Mạc Đĩnh Chi (1284-1361), th́ nền văn học tiếng việt mới có những tác phẩm đầu tiên hoàn chỉnh của ḿnh c̣n được bảo tồn đến ngày nay. Vị trí văn học của vua Trần Nhân Tông do thế đối với dân tộc ta rất là vĩ đại”.[25]

Cố học giả Trần Trọng Kim trong phần viết về việc học hành và thi cử đời Tây Sơn có nói rằng: “việc cai trị thường hay dùng chữ Nôm. Nhà vua muốn nói rằng người Việt Nam th́ phải dùng tiếng Việt Nam, để gây thành cái tinh thần của nước nhà, và cái văn chương đặc biệt, không phải đi mượn tiếng mượn chữ của nước Tàu. Vậy nên khi thi cử thường bắt quan ra bài chữ Nôm và bắt sĩ tử làm bài bằng chữ Nôm. Thời bây giờ nhiều người không hiểu rơ cái ư nghĩa sâu xa ấy, cho là nhà Tây Sơn dùng hà chính mà ức hiếp nhân dân”.[26] 

Bằng chứng hùng hồn về ḷng tự hào đối với tiếng nói của dân tộc ḿnh, đó là việc vua Quang Trung đă dơng dạc đọc bản tuyên ngôn độc lập bằng tiếng Nôm trước ba quân trước khi xuất quân đi đánh đuổi quân Tàu:

Đánh cho để dài tóc

Đánh cho để răng đen

Đánh cho nó chích luôn bất phản

Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn

Đánh cho nó sử tư Nam Quốc anh hùng chi hữu chủ.

Nếu quả đúng Toàn Nhật là tướng của Tây Sơn hay quan trọng hơn nữa là mưu thần của vua như hai tác giả Nguyễn Đ́nh Chúc và Huệ Nguyễn đă xác nhận trong tác phẩm biên khảo Lịch sử Phật giáo và các chùa ở Phúc Yên th́ chắc hẳn việc sử dụng tiếng Nôm như tiếng chính thức trong hành chánh công như trong thi cử của triều đ́nh Tây Sơn Quang Trung th́ tất nhiên phải có sự đóng góp công sức lớn lao của Toàn Nhật, vị thiền sư đă hết ḷng yêu thương tiếng nói của dân tộc ḿnh, và mặc dù rất giỏi chữ Hán nhưng đă để lại gần hai mươi tác phẩm bằng chữ Nôm.

Và không c̣n hồ nghi ǵ nữa, một người biết trân trọng tiếng Nôm mà c̣n là một thiền sư của Phật giáo Việt Nam th́ qua hai tác phẩm Cư Trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm truyền thành đạo ca, Toàn Nhật đă ư thức một cách triệt để rằng “Tiếng Việt như một ngôn ngữ có thể phát biểu những tư tưởng trừu tượng tương đối khó nắm bắt một cách khéo léo và dễ hiểu. Từ đó Tiếng Việt đă từ thành một ngôn ngữ đủ khả năng chuyển tải bất cứ nội dung tư tưởng khác nhau nào và có vẻ đẹp riêng của nó”.[27]

 

Lời kết:

Chúng ta, những người phật tử Việt Nam nên nh́n sự hưng thịnh cũng như suy vong như thế nào của lịch sử Phật giáo Việt Nam qua các thời đại? Và có phải chỉ có các triều đại Đinh Lê và nhất là Lư Trần th́ mới đựơc xem là thời kỳ hưng thịnh nhất của Phật giáo Việt Nam chăng?

“Chẳng hạn, các triều đại Đinh, Lê, Lư, Trần thay đổi khác nhau, hết triều đại này tới triều đại kia, nhưng Phật giáo vẫn vươn lên phát triển và có những đóng góp to lớn cho dân tộc. Điều này chứng tỏ bên ngoài sự thay đổi của các triều đại, dân tộc vẫn phát triển theo tính quy luật của nó, bất chấp ư chí chủ quan của một triều đại. Có vẻ như dân tộc có một sức sống của riêng nó, và Phật giáo biết bám vào sức sống này của dân tộc để cùng dân tộc đi lên. Các triều đại thay đổi và chúng đă không đáp ứng được yêu cầu của sức sống dân tộc, nên đă bị loại bỏ”.[28]

Giả như không có trường hợp của Toàn Nhật th́ quan điểm trên về lịch sử Phật giáo Việt Nam của giáo sư Lê Mạnh Thát khó có thể chấp nhận đối với nhiều người, v́ ai cũng có thói quen nghĩ rằng, chỉ có Đinh, Lê và đặc biệt là Lư, Trần mới là thời cực thịnh của Phật giáo Việt Nam, c̣n sau đó th́ Phật giáo suy tàn và Nho giáo đă thay thế chỗ đứng của Phật giáo. Nhưng v́ có trường hợp của Thiền sư Toàn Nhật nên theo tôi quan điểm lịch sử ấy hoàn toàn chính xác, nghĩa là Toàn Nhật đă tham gia cuộc cách mạng của Tây Sơn, v́ theo quan điểm của Toàn Nhật cuộc cách mạng ấy phù hợp với ḷng dân nhưng khi cuộc cách mạng Tây Sơn tan ră, triều đại khác lên thay, Toàn Nhật nhận thấy triều đại ấy không đáp ứng được yêu cầu của sức sống dân tộc th́ vị thiền sư của chúng ta chỉ c̣n “biết bám vào sức sống của dân tộc”.

Kết quả là, ngày nay chúng ta có được gần 20 tác phẩm bằng tiếng quốc âm, mà theo giáo sư Lê Mạnh Thát th́: “Kho tàng văn học cổ điển Việt Nam chưa bao giờ có một nhà thơ nhà văn để lại một lượng lớn tác phẩm bằng tiếng quốc âm như Toàn Nhật. Chỉ với số lượng đó thôi, nó đă biển thị không những sức sống dạt dào của dân tộc đang lên thể hiện qua tiếng nói nhân dân”.[29]

Nhưng theo tôi, điều quan trọng nhất trong quan điểm đó là chúng ta, những người Phật giáo Việt nam hiện tại cũng như mai sau nên “bám vào sức sống của dân tộc để đi lên” thay v́ chỉ biết bám vào các triều đại hay các nhà nước, v́ “các triều đại sẽ phải thay đổi khi không c̣n đáp ứng được yêu cầu của sức sống dân tộc”.

Vậy là, chỉ có “bám vào sức sống của dân tộc” th́ Phật giáo Việt nam mới có thể tồn tại măi trong ḷng của dân tộc mà thôi.

Có phải đó là bài học lịch sử lớn lao mà Thiền sư Toàn Nhật ở nửa cuối thế kỷ 18 đă để lại cho chúng ta, những người Phật giáo Việt Nam hôm nay chăng?

Thích Phước An


 

Chú thích:

[1] Toàn Nhật Quang Đài toàn tập I, NXB TP.HCM.2005 trang 27-28.

[2] NXB Thuận Hóa 1999 trang 90.

[3] Toàn Nhật Quang Đài tập I, NXB TP HCM 2005, trang 30.

[4] Sdd tập I trang 28.

[5] NXBTrẻ TP. HCM 1999.

[6] Sdd tập I trang 28.

[7] Sdd tập I trang 29.

[8] nt.

[9] Việt Nam sử lược NXB tổng hợp TP.HCM tái bản 2005 trang 373.

[10] Ngô Thời Nhiệm trong văn học Tây Sơn của Mai Quốc Liên NXB VHTT Nghĩa B́nh 1985 trang 110.

[11] Sdd tập I trang 41.

[12] Trần Trọng Kim, Sdd trang 359.

[13] Sdd tập I trang 67-70.

[14] Trần Trọng Kim, Sdd trang 360-361.

[15] Trần Nhân Tông toàn tập của Lê Mạnh Thát, NXB TP.HCM năm 2000.

[16] Sdd tập II, trang 290.

[17] Sdd tập I, trang 78-79.

[18] Trần Trọng Kim, Sdd trang 364.

[19] Sdd tập II, trang 291.

[20] Sdd tâp II, trang 93.

[21] Sdd tâp II, trang 179.

[22] Sdd tâp II, trang 148.

[23] Trần Nhân Tông toàn tập, sdd trang 251.

[24] Sdd tập II, trang 265.

[25] Trần Nhân Tông toàn tập Sdd trang 269-270.

[26] Trần Trọng Kim Sdd trang 375.

[27] Trần Nhân Tông toàn tập, Sdd trang 274.

[28] Lịch sử Phật giáo Việt Nam tập II của Lê Mạnh Thát – NXB TP Hồ Chí Minh 2001, lời tựa.

[29] Sdd tập I, trang 11-12.

Source : http://phatgiao.org.vn/tu-lieu/201702/Toan-Nhat-Thien-su-dua-tinh-than-Phat-giao-xuong-cho-trieu-dai-Tay-Son-24751/