YÊN ĐÀI THU VỊNH

CỦA SỨ THẦN ĐOÀN NGUYỄN TUẤN
 

Phạm Trọng Chánh

 

                      

Đoàn Nguyễn Tuấn đi sứ Trung Quốc năm 1790 trong sứ bộ Tây Sơn. Sau trận Đống Đa, nhà Thanh phải vất vả,  hao tổn khá nhiều vàng bạc để tiếp rước, phục dịch ông vua Quang Trung giả, do người cháu vua là Phạm Công Trị đóng vai, và hoàng tử Nguyễn Quang Thùy.  Một sứ bộ 158 người đông đảo chưa từng thấy trong lịch sử, có cả một ban hát bộ 10 người và cống phẩm c̣n có hai con voi đực. Các đoàn sứ bộ b́nh thường chỉ khoảng 30 người. Thời xưa quan niệm thời chiến dùng Vơ, thời b́nh  dùng Văn.

Trên trận tuyến Thi Ca, Đoàn Nguyễn Tuấn là một  Thi tướng tài năng dưới trướng  Chánh sứ Phan Huy Ích, khiến các quan Trung Quốc nể phục. Thơ Đoàn Nguyễn Tuấn được chép trên vách Hoàng Hạc Lâu. Không ngại ngùng trước bài thơ kiệt tác Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu, mà thi hào Lư Bạch phải thán phục: “Trước mắt có cảnh không tả được, V́ thơ Thôi Hiệu ở trong đầu”. Đoàn Nguyễn Tuấn  viết luôn bốn bài Vịnh Hoàng Hạc Lâu. Một bài được Chánh sứ Phan Huy Ích duyệt và cho chép lên vách Hoàng Hạc Lâu (Xem cùng tác giả bài.Hoàng Hạc Lâu qua thi ca các sứ thần Việt Nam, site Chimvietcanhnam, diendantheky, tapchivanhoanghean).

Ngày xưa tại các nước Đông Á : Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên  thi ca là một phương tiện để kẻ sĩ bồi dưỡng nhân cách và tài năng. ‘ Xem văn biết người ‘, do đó thi, phú, chiếu, biểu, văn sách.. được dùng làm thi cử để xem xét chí khí, học vấn, tài năng kẻ sĩ. Khi đi sứ, họ là những thi tướng trên mặt trận văn hóa. Làm thơ khi đi sứ không phải là ‘ chuyện một ḿnh một ngựa bầu rượu túi thơ ’ hay làm thơ ’để làm sang’, mà phải nhanh tay lẹ trí thù tiếp ứng đối trước bàn tiệc, đáp lễ thơ tặng của vua quan Trung Quốc, dùng thi ca để kết bạn t́nh hữu nghị với người đồng sự giao tiếp, trước một di tích thắng cảnh, người thơ phải thông thái thi ca Trung Quốc, điển tích thắng cảnh.. và phải chứng tỏ tài năng thi ca  của kẻ sĩ nước ḿnh là một nước có văn hóa để không bị cười chê là man di kém cỏi, dốt nát.Đi sứ triều cống cũng không phải là chuyện nộp thuế, v́ phần ban thưởng của vua quan Trung Quốc cũng không phải làít. Tùy theo tài năng các sứ thần ứng đối thi ca, phần quà tặng vua, quan  Trung Quốc cũng không kém phần giá trị.

Đoàn Nguyễn Tuấn là anh  Đoàn Nguyễn Thị Huệ, anh vợ thi hào Nguyễn Du đă chứng tỏ cái bản lĩnh đó, ông được Bùi Ứng Thắng  một vị quan y Trung Quốc khen ngợi làm thơ ca tụng : Tài t́nh duy ngă độc tri quân (Bậc người tài t́nh chỉ có tôi là biết ông). Các sứ thần Triều Tiên cũng đọc thơ và ca ngợi .Trong khi đi sứ qua khỏi thành Trịnh Châu qua đ̣ sông  Trăn Vị, xe  Đoàn Nguyễn Tuấn ngựa  ngă xe lăn nhào, bùn đất lấm cả giày áo, ông bị đau khắp ḿnh phải nhờ lương y cứu chữa, có lẽ ông quen thân Bùi Ứng Thắng lúc này. Đến Bắc Kinh vào mùa thu, Đoàn Nguyễn Tuấn đă viết 28 bài thơ tứ tuyệt vịnh cảnh vật mùa thu ở Yên Kinh. Chùm thơ này được vị y quan nhà Thanh, Bùi Ứng Thắng người Cát Thủy khen ngợi và hai  người trở thành bạn tâm giao.

 

Tác phẩm của Đoàn Nguyễn Tuấn đang được trưng bày trong Bảo tàng Quang Trung (B́nh Định),

link: https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90o%C3%A0n_Nguy%E1%BB%85n_Tu%E1%BA%A5n

 

 Thơ nguyên tác chữ Hán, tôi xin dịch  thơ toàn bộ  28 bài tứ tuyệt để người đời nay có thể thưởng thức tài năng thi ca Đoàn Nguyễn Tuấn.

Bài Thu Khuê : Gió thu ôm vuốt tay áo, nước bỗng bắt đầu đóng băng. Pḥng sâu vắng vẻ, lạnh lùng khôn xiết Chữ gấm dệt xong nhưng tin cá vắng. Đêm đêm những chỉ bói điềm vui bằng hoa đèn lạnh.. Bài thơ phản phất dưâm người thiếu phụ trông chồng trong thơ  thi hào Âu Dương Tu đời Tống bài Điệp luyến hoa. Chữ gấm do tích  nàng Tô Huệ mong chồng được về, nàng dệt nên một tấm gấm có những ḍng thỉnh cầu việc đó  dâng lên vua nàng đă được toại nguyện. Người xưa viết thư trên giấy có in h́nh con cáở đầu gọi là ngư thư. Theo thi thoại của Di Bạch Trai : có người đem biếu đôi cá chép, khi mổ ra thấy trong bụng có bức thư : cho nên thư tín c̣n được gọi là tin cá.

 

PH̉NG THU

Gió thu vuốt áo, nước nhen băng,

Vắng vẻ pḥng sâu nỗi lạnh lùng.

Chữ gấm dệt rồi tin cá vắng,

Đêm đêm báo hỷ, bói hàn đăng.

 

THU KHUÊ

Thu phong bả tụ hốt sơ băng,

Liêu tịch thâm khuê, lănh bất thăng.

Cẩm tự chức thành lân tín diểu,

Hỷ hoa dạ dạ bốc hàn đăng.

 

Bài Thu Dạ viết : Đêm thu dằng dặc nơi chốn đ́nh Bắc.  Tiếng kèn, tiếng ốc không sao nghe nỗi. Bồn chồn dưới đèn lạnh trong quán vắng. Trên áo chăn tràn đầy ánh trăng sao.

 

ĐÊM THU

Thao thức đêm thu chốn  Bắc đ́nh,

Điệu kèn, tiếng ốc chói thanh âm,

Quán vắng bồi hồi đèn lạnh lẽo,

Tràn ngập trăng sao chiếu áo chăn.

 

THU DẠ

Thu da thiều thiều ngọn Sóc đ́nh,

Giá thanh giác vận bất kham thinh.

Bồi hồi cô quán hàn đăng hạ,

Y bí tàn phân măn nguyệt tinh.

 

Bài Mây thu: Sứ đoàn được vua Càn Long cho đi thăm vườn  ngự uyển tại Nhiệt Hà, nơi vua đang nghỉ mát. Tôi có đến thăm vườn này năm 2009.  Năm sắc lộng lẫy trên cành vườn ngự. Mây ngàn một đám bây về nơi đâu ? Lững lờ nếu vượt mặt nước qua biển Nam. Cho gửi thơ nặng tỏ nỗi nhớ xa.

 

MÂY THU

Ngự uyển rực màu mây ngũ sắc,

Một vầng mây lạc dạt về đâu ?

Lững lờ vượt biển Nam trôi măi.

Cho gửi ḷng ta một nỗi sầu.

 

THU VÂN

Ngũ sắc nồng trang ngự uyển chi,

Nhàn vân nhất phiến khứ hà chi ?

Phù du nhược độ Nam minh thủy,

Nghĩ phụ trùng giam đạt viễn ty.

 

Bài Thu Sơn:  Thu tạnh một màu quét sạch mây trôi. Núi biếc, đèo xanh phơi bay vệt gấm. Ta muốn chống gậy lên đỉnh núi cao vút. Cúi nh́n trời đất, ngắm ánh b́nh minh, ánh hoàng hôn.

 

NÚI THU

Một màu thu tạnh, chẳng mây trôi,

Núi biếc, đèo xanh gấm vẻ vời.

Chống gậy muốn trèo lên đỉnh núi.

Ngắm ánh dương soi rạng đất trời.

 

THU SƠN

T́nh thu nhất sắc tảo phù vân,

Thúy nghiễn, thương nhai hiện cẩm vân.

Ngă dục huề cùng đăng tuyệt đỉnh,

Phủ khan đại khối ác triêu huân.

 

Bài Thu Mộng: Núi sông trong mộng không c̣n ǵ là xa cách.Đêm đêm trở về với cảnh thu nơi vườn cũ. Tiếng xe phóng đâu đây khiến ḿnh bừng tỉnh. Thấy ḿnh vẫn là cánh bèo trôi nỗi ở chân trời.

 

MỘNG THU

Mộng về sông núi chẳng c̣n xa,

Trở lại đêm đêm vườn thu nhà.

Tiếng ngựa xe qua ḷng tỉnh giấc,

Chân trời phiêu bạt, cánh bèo hoa.

 

THU MỘNG

Mộng lư sơn xuyên thất trở tu,

Qui lại da dạ cố viên thu.

Kinh xao hà xứ khu xa hưởng,

Y cựu, thiên biên nhất ngạnh phù.

 

Bài Thu Nguyệt : H́nh ta, bóng trăng cộng lại thành đôi. Bốn mươi năm nay bạn bên song nhỏ. Muôn dặm theo nhau tới triền cát Bắc. Tinh thần vẫn như thuở soi xuống sông Quỳnh. Bài thơ cho ta biết được Đoàn Nguyễn Tuấn sinh năm 1750, sinh ở Quỳnh Hải, bên sông Quỳnh tỉnh Thái B́nh.

 

TRĂNG THU

Ta h́nh, ḿnh bóng cộng song đôi,

Bốn chục năm qua sánh bạn đời.

Muôn dặm theo nhau về đất Bắc,

Sông Quỳnh một thuở vẫn c̣n soi.

 

THU NGUYỆT

Ngă h́nh quân ảnh cộng thành song,

Tứ thập niên lai bạn tiểu song.

Vạn lư tương tùy lâm Sóc mạc,

T́nh thần nhất dạng chiếu Quỳnh giang.

 

Bài Thu Thảo: Thu sang màu cỏ thảy đều lóm đóm. Như tóc người buồn điểm thêm sợi bạc. Chưa chịu để gió bụi ràng buộc măi. Tới  mùa xuân ấm cỏ lại tốt tươi.

 

CỎ THU

Thu sang màu cỏ điểm màu sương,

Như tóc người buồn điểm sợi buồn.

Chẳng chịu bụi trần vương vấn măi,

Xuân sang nắng ấm cỏ xanh rờn.

 

THU THẢO

Thu lai, thảo sắc tận thành ban,

Điểm xuất sầu nhân măn nhất ban !

Vị hứa phong trần chung quản thúc,

Dương xuân sinh hậu hảo khai nhan.

 

Bài  Thu Diệp: Hồng tàn không sức chống với trời băng. Xơ xác ĺa cành, xào xạc quanh gối. Đâu bằng Việt Nam tràn trề sức sống. Mùi thơm vẻđẹp không rụng theo mùa thu.

 

LÁ THU

Hồng tàn không sức chống trời băng,

Xạc xào quanh gối lá ĺa cành.

Đâu bằng đất Việt tràn sức sống,

Hương sắc thu sang chẳng rụng tàn.

 

THU DIỆP

Tàn hồng vô lực khống băng thiên,

Tiều tụy từ chi, giáp chẩm biên..

Tranh trự Việt Nam sinh ư hảo,

Bất tùy kim lệnh trụy phương nghiên.

 

Bài Thu Suất: Giữa trời thu trong trẽo chốn ải xa, giọt nước đồng hồ lê thê.. Lên bờ ao tiếng dế sầu bi xen với tiếng ve lạnh lẽo. Loài côn trùng bé nhỏ cũng hiểu ḷng kẻđi xa. Gợi mối u hoài chuyễn đưa tới quê nhà.

 

DẾ THU

Đất khách đêm thu giọt nước buồn,

Bờ ao  tiếng dế lạnh kêu thương.

Côn trùng cũng hiểu ḷng chinh khách,

Chuyển mối u hoài đến cố hương.

 

THU SUẤT

Tuyệt tái thanh thu dạ lậu trường,

Tŕ đường bi suất gián hàn tương !

Vi trùng diệc giải chinh nhân tứ,

Liêu dẫn u hoài đáo cố hương.

Chú thích:

Đồng hồ : ngày xưa tính thời gian bằng chiếc hồ bằng đồng nhỏ giọt xuống một cái b́nh khác, trong hồ có vạch nước chỉ thời gian, canh một, canh hai..

 

Bài Thu Thủy: Nước thu trong vắt, tuyệt không gợn bụi. Đó là gương bạc do Tây Đế c̣n gọi là Tây Hoàng,, thẩn chủ tŕ của mùa thu đúc nên chăng ? Chiều dạo bờ ao, nghiêng thấy bóng ḿnh. Râu tóc đă khác với lúc ra đi.

 

NƯỚC THU

Trong vắt nước thu chẳng bụi trần,

Mặt gương Tây Đế đúc nên chăng ?

Chiều dạo bờ ao nghiêng thấy bóng,

Tóc râu đă khác lúc dời chân.

 

THU THỦY

Thanh thanh thu thủy, tuyệt tiêm trần,

Tây Đế dung thành xuất dă ngân.

Văn bộ tŕ đường tà kiến ảnh,

Măn mi bất tự khứ thời nhân.

 

Bài Thu Cầm: Trăng lặn bên song the, giọt ngọc (đồng hồ) trầm trầm.. Tiếng tơ đồng hiu hắt thoảng qua rừng phong. Âm điệu ngàn năm: bài cao sơn lưu thủy. Non cao nước chảy của Bá Nha. Năo ḷng năm canh kẻ góc biển chân trời.

 

ĐÀN THU

Trăng lặn song khuya, giọt ngọc trầm..

Tiếng đồng hiu hắt thoảng rừng phong.

‘Non cao nước chảy’ ngàn năm điệu,

Góc biển chân mây, khách chạnh ḷng.

 

THU CẦM

Nguyệt lạc sa song, ngọc lậu trầm,

Tiêu tiêu đồng vận quá phong lâm.

Cao sơn lưu thủy thiên thu điệu,

Hải giốc thiên nhai, ngũ dạ tâm.

 

Bài Thu Cúc: Trăm cây xơ xác, cúc vẫn xanh ngọn. Cúc vàn giỡn  sương riêng mọc thành từng khóm. Trước hoa chợt nhớ tới lúc dưới dậu đông. Đào Tiềm đời Tấn trồng cúc dưới dậu đông.. Hai ba thu nay phụ t́nh bạn cũ.

 

CÚC THU

Trăm cây xơ xác, cúc c̣n xanh,

Một khóm đùa sương, khóm cúc vàng.

Trước hoa chợt nhớ bên hàng dậu,

Mấy độ thu qua phụ bạn ḷng.

 

THU CÚC

Bách thu điêu linh, thặng lục sao,

Lăng sương kim giáp độc thành bao.

Đối hoa, hốt ức đông ly hạ,

Tam lưỡng thu lai, phụ tố giao.

 

Bài Thu Liễu: Tớ ngắn cành thưa, soi bóng trên sóng biếc. Chiều đến lả lướt, v́ ai mà nhọc sức ? Trên bờđê cũ, trang điểm cho trăm hoa lúc xuân sang. Chắc tới lúc ta về, liễu đă cao vài trượng.

 

LIỄU THU

Tơ ngắn, cành thưa soi sóng biếc,

Chiều về lả lướt, nhọc v́ sao ?

Bờ hồ trang điểm trăm hoa nỡ,

Chắc lúc ta về liễu đă cao.

 

THU LIỄU

Đoản tuyến, sơ chi ảnh bích đào,

Văn lai, phất lược vị thùy lao ?

Cổ bi bách đoá xuân sơ quải,

Ưng cặp qui thời cổ trượng cao.

 

Bài Thu Vũ: Tí tách đầu rèm mưa lúc thưa lúc nhặt. Một ḿnh không ngủ, muốn dậy lại lười. Cô gái Ngô chớ hát khúc thê lương ấy: “Mưa thu buồn bả, Chàng thanh tú của ta, sao chẳng về nhà “. Từđây đến quê nhà (Giang Nam) c̣n xa cách muôn trùng.

 

MƯA THU

Đầu rèm tí tách giọt thưa, nhanh,

Không ngủ, một ḿnh lười chỉ nằm.

Ngô nương chớ hát thê lương khúc,

Giờ cách Giang Nam đến vạn trùng.

 

THU VŨ

Tích lịch thiềm đầu đạm cánh nùng,

Cô miên bất trước, khởi hoàn dung.

Ngô nương mạc xướng tiêu tiêu khúc,

Thử khứ Giang Nam hựu vạn trùng.

Chú thích:

Ngô nương khúc văn: Thu vũ tiêu tiêu, phương lang bất qui. 

Giang Nam:  do bài phú Giang Nam của Dữu Tín, nhớ quê hương,Giang Nam trở thành điển tích chỉ quê nhà.

 

Bài Thu Phong:  Gió lạnh từ phương Tây thổi vào rặng cây phong chiều. hiu hắt thổi tan bao đóa hồng trong vườn ngự uyển. Sông Quỳnh càng xa hơn so với sông Ngô. Mùi vị rau rút cá vượt thảy đều giống nhau. Sông Quỳnh quê hương  Quỳnh Hài của Đoàn Nguyễn Tuấn càng xa hơn so với sông Ngô; nước Ngô thời Xuân Thu Chiến Quốc, người Việt Nam gọi Trung Quốc là nước Ngô, ca dao có câu: “Sông Ngô, bể Sở tung hoành”. Người Nhật Bản cũng gọi  chữ Trung Quốc là Ngô tự.. Sông Ngô chỉ các con sông ở Giang Bắc, Giang Nam. Cá Vượt rau tần chỉ việc trở về quê hương qui ẩn, từ quan. Việc từ quan về hưởng thúđiền viên, nước Nam hay Trung Quốc đều giống nhau.

 

GIÓ THU

Gió Tây hiu hắt thổi rừng phong,

Vườn Ngự tàn rơi mấy cánh hồng.

Sông Quỳnh xa cách sông Ngô mấy ?

Cá vược rau tần một vị cùng.

 

THU PHONG

Túc khí Tây lai nhập văn phong,

Tiêu tao suy tán ngự viên hồng.

Quỳnh giang cánh tỷ Ngô gfiang viễn,

Chuyên thái, lô ngư nhất vị đồng.

 

Bài Thu Hà: Ao mùa thu đă tàn tạ, mùi hương lạ cũng tiêu tan. Trăng mờ, gió lạnh, bạn cùng quạnh vắng. Vẫn c̣n rễ sâu cắm trong bùn. Hàng năm lại nẩy ngó sen như cũ.

 

SEN  THU

Ao thu  tàn tạ, sắc tiêu điều,

Gió lạnh, trăng mờ nỗi quạnh hiu.

Vẫn c̣n rễ cắm trong bùn đất,

Năm năm lại nẩy ngó thanh tao.

 

THU HÀ

Sơ y  thoát tận, dị hương tiêu,

Đạm nguyệt thê phong bạn tịch liêu.

Hoàn hữu thân căn nê lư tại,

Niên niên y cựu lộ thanh tiêu.

Chú thích:  Đoàn Nguyễn Tuấn có hai bài thơ nhan đề là "Thu hà". Hai chữ "hà" có sự khác nhau về mặt văn tự. Chữ "hà" bài thơ thứ hai  là chữ 霞 (nghĩa là ráng) c̣n chữ "hà" của bài thơ trên là 荷 (nghĩa là hoa sen).  Link: http://www.thivien.net/%C4%90o%C3%A0n-Nguy%E1%BB%85n-Tu%E1%BA%A5n/Thu-h%C3%A0/poem-CS5xpQpEVbxs0O8zoJ86Xg

 

 Bài Thu Địch. Trên đường xe ngựa  chạy suốt ngày vang rền như sấm, mấy tiếng sáo xa vọng tự hướng vầng trăng mọc. Lữ khách buồn hiu, nằm trùm  khăn kín đầu. Vô cớ bên tai cứ giục giă hoài.

 

SÁO THU

Xe ngựa đường xa tựa sấm rền,

Bổng nghe tiếng sáo vọng trăng lên.

Hắt hiu lữ khách đầu khăn kín,

Vô cớ bên tai vọng tiếng buồn.

 

THU ĐỊCH

Xa mă đồ trung tận nhât lôi,

Kỷ thanh viễn địch nguyệt biên lai.

Cơ nhân sầu cực mông đầu ngọa,

Nhĩ bạn vô đoan sác sác thôi.

 

Bài Thu Lộ: Hoa sương kết thành cửa sổ gíấy trống rỗng. Trời đất y hệt như sau cơn mưa ướt dầm. Chợt nhớ lối tùng cúc trong vườn cũ. Vẫn một sức sống tự nhiên như xưa.

 

SƯƠNG THU

Sương hoa kết tụ cửa song thưa,

Trời đất như vừa đầm ướt mưa.

Cúc tùng chợt nhớ nơi vườn cũ,

Vẫn c̣n sức sống tự như xưa.

 

THU LỘ

Sương hoa kết tụ chỉ song hư,

Thiên địa chân như yêm hấp dư.

Hốt ức cố viên tùng cúc kính,

Nhất ban sinh ư tự như như.

 

Bài Thu Châm: Vằng vặc sông Ngân soi khắp sáu phố phường. Sông Ngân Hà hiện rơ rào mùa thu tương truyền đàn quạ rụng lông đầu để bắt cầu trên sông Ngân cho Ngưu Lang, Chúc nữ gặp nhau. Ḷng hiu quạnh không ngủ được, đứng trên thềm vắng. Tiếng chày đập vải lạnh lùng từđâu vắng tới. Đập nát ḷng kẻđi  xa quê hương ở ngoài muôn dậm.

 

TIẾNG ĐẬP VẢI ĐÊM THU

Vằng vặc sông Ngân sáu phố phường,

Quạnh hiu không ngủ đứng bên thềm.

Tiếng chày đập vải từ xa vẳng,

Đập nát ḷng ai vạn dậm trường.

 

THU CHÂM

Cảnh cảnh tinh hà chiêu lục nhai,

Cô khâm bất mị lập không giai.

Hàn châm hà xứ đinh đông hưởng,

Đảo toái du nhân vạn lư hoài.

 

Bài Thu Lan: Sương tràn ngập trăm loài cây cỏ, làm rụng cánh hoa thơm. Hoa Lan là chúa các loài hoa trong chậu vẫn trổ bông lạ Khổng Tử cho lan là loài hoa có hương vương giả (Lan vi vương giả hương). Hăy thử mang đến chốn điện cung Quếđỏ (Mặt Trăng) Quế cũng nở hoa mùa thu, lan cũng nở hoa mùa thu, cả hai đều là loại hoa quư. So hương, khó khen loại nào thơm hơn.!

 

LAN MÙA THU

Sương lan cây cỏ rụng hoa thơm,

Hoa chúa phong lan nở sắc hương.

Hăy thử mang vào cung Quế đỏ,

So hương khó kén loại nào hơn.

 

THU LAN

Sương xâm bách thảo trụy phương hoa,

Bồn lư hoa vương đối dị ba.

Thí vị chí lai đan quế điện,

Chân hương đối hiệu định nan ta.

 

Bài Thu T́nh, Mùa thu trong sáng: Muôn ánh hào quang giởn trong ánh sáng chiều. Ánh nắng hồng điểm trang trăm hoa rực rỡ. Đẩy song cửa có khách thảnh thơi ngắm cảnh. Chỉ thấy trên trời cánh nhạn bay ngang.

 

T̀NH THU

Muôn ánh tường quang lộng nắng chiều,

Trăm hoa trang điểm sắc đua màu.

Đẩy song có khách thi nhân ngóng,

Chỉ thấy lưng trời cánh nhạn cao.

 

THU T̀NH

Vạn đạo tường quang lộng văn t́nh,

Hồng trang bạch tiễn bách hoa minh.

Thôi song hữu khách thư nhàn vọng,

Duy hữu trường không nhất nhạn t́nh.

 

Bài Thu sắc, Cảnh sắc mùa thu; Bát ngát trời cao màu xanh phong kín. Bốn phía đồng nội mông mênh, tùng sam già cỗi. Muốn mời bàn tay tiên làm thợ vẽ. Lượm hết dáng mùa thu, vẽ thành tranh cuộn lại thành từng ống tranh bỏ vào ḥm khách.

 

SẮC THU

Bát ngát trời cao một sắc xanh,

Đồng nội mênh mông một gócthành.

Muốn gửi tay tiên ai khéo vẽ,

Góp hết thu dung một bức tranh.

 

THU SẮC

Đạm đăng tràng thiên nhất bích hàm,

Thương thương tứ dă lăo tùng sam.

Họa công dục thỉnh chân tiên thủ,

Liễm tận thu dung nhập lữ hàm.

 

Bài  Thu Ngô: Thu đến sương gieo lá ngô đồng rụng cuống trôi theo ḍng  sóng nước bạc. Thân cây già xơ xác trên bờđê lạnh. Thương thay Tây đế, Thần coi về mùa thu thật nỡ vô t́nh. Chẳng v́ chim thiêng, chim phương hoàng mà che chỡ cho một cành.

 

NGÔ ĐỒNG MÙA THU

Lá rụng theo sương trôi sóng bạc,

Tiêu điều gốc lạnh cành bờ đê.

Thương thay Tây đế vô t́nh nhỉ ?

Chẳng để chim thiêng một cảnh về.

 

THU NGÔ

Diệp chiến sương uy phó bạch ba,

Tiêu điều lăo cán thặng hàn đê.

Khả liên Tây đế vô t́nh cực,

Bất vị linh cầm tí nhất kha.

 

Chú thích;

Chim thiêng: tương truyền chim phượng hoàng đậu trên cây ngô đồng.

 

Bài Thu Lô: Phía Nam viện khách có cái đỉnh nhỏ xua tan hơi rét. Làn khói nhạt bay lẫn vào đám mây chiều. Căn trần tục của thân thế phù sinh c̣n nặng. Dốc sức vào ḷ lửa đến nay đă ba năm rồi. Đoàn Nguyễn Tuấn muốn nói ḿnh ra làm quan Tây Sơn từ năm 1787 v́ căn trần tục ḿnh c̣n nặng nên phải dốc sức vào ḷ lửa luyện đan đă ba năm nay giống nhưđạo sĩ luyện đan làm thuốc trường sinh bất tử.

 

L̉ SƯỞi MÙA THU

Phía Nam viện khách đỉnh than hồng,

Mây chiều pha khói nhạt màu lam.

Bởi phù sinh vướng căn trần nặng,

Ḷ hồng chăm sóc đă bao năm.

 

THU LÔ

Tiểu đỉnh khu hàn khách viện Nam,

Đạm yên phi nhập mộ vân hàm.

Phù sinh thân thế trần căn mộng,

Lô hỏa cần phao tuế dĩ tam.

 

Bài Thu Thanh: Thê lương năo ruột lọt vào bức rèm thưa. Trời đất không có tiếng mà ngẫm lúc bỗng lúc trầm. Lúc th́ yên, lúc th́ gợi ra như vạn mối sầu. Cứ sáng ra, mái tóc lại bạc thêm mấy sợi. Âu Dương Tu cũng có bài Phú Tiếng Thu tuyệt tác. Bài Thu Thanh của Đoàn Nguyễn Tuấn gợi vài câu mùa thu thi hào Âu Dương Tu, và kết luận bằng h́nh ảnh câu thơ Lư Bạch, mái tóc sớm xanh chiều đă bạc.(Xem bài cùng tác giả Nguyễn Du qua mộ Âu Dương Tu. Site tapchivanhoanghean, chimvietcanhnam..)

 

TIẾNG THU

Thê lương năo ruột nhập rèm thưa,

Trời đất vô thanh, trầm bổng mà !

Lúc gợi, lúc yên sầu vạn mối,

Sáng ra tóc bạc mái đầu xưa.

 

THU THANH

Thê thê thiết thiết nhập sơ liêm,

Thiên địa vô thanh khởi phục tiềm.

Bài dẫn u sầu thiên vạn chủng,

Hiểu lai bạch phát sổ hành thiêm.

 

Bài Thu Phố: Khói liễu đu đưa, gió chiều lạnh lẽo. Trời sông hiu quạnh chẳng nỡ ngắm nh́n. Vài ba chim âu trên băi cát giật ḿnh muốn vùng dậy. Ngưông đi về bến nước đầy rau tần xanh.

 

BẾN THU

Khói liễu điều hiu lạnh gió chiều,

Trời sông biếng ngắm cảnh đ́u hiu.

Vài chim âu trắng kinh hoàng dậy,

Ngư phủ đi về nơi bến rêu.

 

THU PHỐ

Liễu yên phi phất văn phong hàn,

Đạm đăng giang thiên bất nhẫn khan.

Tam lưỡng sa âu kinh dục khởi.

Ngư ông qui khứ lục tần than.

 

Bài Thu Hà, chữ Hà này là ráng chiều mùa thu. Ánh thu vạn dậm ở trong bầu ngọc. Rán hồng lả bóng vào trong kinh đô. Trên hội Bàn Đào, trời cùng vui chung. Cửa trời mở ra như bức tranh treo. Nh́n  ráng hồng chiều thu, Đoàn Nguyễn Tuấn tưởng tượng đến cảnh Tây Vương Mẫu hiến bàn đào, mở tiệc ăn trái đào trên trời. Cảnh trời đât như chung vui với nhau.

 

RÁNG THU

Vạn dậm ánh thu ngọc một bầu,

Ráng hồng lả bóng xuống kinh đô.

Bàn đào mở hội trời chung hưởng,

Trời mở như treo một họa đồ.

 

THU HÀ

Vạn lư thu quang tại ngọc hồ,

Hồng  hà đồ ảnh nhập hoàng đô.

Bàn đào hội thượng thiên đồng lạc,

Xương hạp môn khai quải họa đồ.

 

Bài Thu Sương viết: Đèn lẽđêm dài hơi lạnh thấm áo. Lác đác hoa sương bay phủ quanh mặt. Râu tóc một nửa bạc theo nỗ sầu. Chẳng cần vị thần sương Thanh Nữ bạn cùng cửa lạnh.

 

SƯƠNG THU

Đèn quạnh đêm thâu lạnh áo choàng,

Mặt người lác đác phủ hoa sương.

Tóc râu một nửa sầu lên bạc,

Chẳng bạn nàng Thanh chốn cửa hàn.

 

THU SƯƠNG

Cô đăng dạ vĩnh lănh xâm y,

Lạc mạc sương hoa táp diện phi.

Mao mấn bán tùy sầu lư bạch,

Mạc tu Thanh Nữ bạn hàn phi.

Chú thích: 

Thanh Nữ:  theo sách Hoài Nam Tử là vị thần của sương.

 

Bài Thu Nhạn: Phía Nam huyện Hành Dương, tỉnh Hồ Nam có dăy Hành Sơn, gồm có 70 ngọn núi, trong đó có ngọn Hồi Nhạn Phong là đỉnh núi cao nhât. Tương truyền chim nhạn bay đến đó th́ quay về. Mấy bóng chim nhạn sà ở đầu tường. Mộng về Hành Dương bởi ai nên chậm ?Ân cần cùng người kể chuyện tâm t́nh. Hăy theo gió Tây mà t́m cành cũ.

 

NHẠN THU

Chim nhạn đầu tường thoáng bóng sa,

Hành Dương mong nhớ chậm ai về.

Ân cần tâm sự cùng ai đó,

Quay hướng Tây phong kiếm lối xưa.

 

THU NHẠN

Sổ cá tường đầu nhạn ảnh đê,

Hành Dương vi mộng vị thùy kê.

Ân cần dữ nhĩ thoại trung khúc.

Hảo tưởng cô phong mịch cố chi.

 

Mùa thu Việt Nam không rơ nét, trên quê hương Việt Nam hai mùa mưa nắng.  Không có cảnh rừng thu phong đă nhuốm màu quan san. Cảnh vật rực đỏ màu lá phong khi sương muối về chen lẫn màu vàng rực rỡ, trong mưa thu, trong gió heo may. Trong thi ca cổ điển Việt Nam, chúng ta chỉ biết những bài thơ mùa thu của Nguyễn Khuyến: Ao Thu, Thu Điếu, Thu Vịnh thỉnh thoảng cá vài chiếc lá vàng rơi rụng trên ao thu,  hay  h́nh ảnh  cung điện thành quách ngậm ngùi bên màu cỏ úa : Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo của Bà Huyện Thanh Quan Nguyễn Thị Hinh. Nguyễn Du có bài tả cảnh mùa thu tại miền núi  Vân Nam trong Thanh Hiên Thi tập. Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương có  những bài thơ t́nh mùa thu đối đáp nhau chép trong Hương Đ́nh Cổ nguyệt thi tập, Lưu Hương Kư  và Thanh Hiên thi tập (xem bài cùng tác giả:Đi t́m Cổ Nguyệt Đường và mối t́nh Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du) nhưng  28 bài thơ Đoàn Nguyễn Tuấn là một chùm thơ viết về mùa thu thật là đặc sắc, nói lên tâm sự người đi sứ xa  nhớ về quê hương. Xin giới thiệu cùng độc giả những bài thơ tuyệt tác trong kho tàng thi ca chữ Hán Việt Nam của Đoàn Nguyễn Tuấn viết tại Bắc Kinh để đọc  uống trà, ngâm thơ, ngắm hoa cúc mỗi độ thu về. Link: http://www.thivien.net/%C4%90o%C3%A0n-Nguy%E1%BB%85n-Tu%E1%BA%A5n/author-GrfZ83486gEgzshT4ctASA

 

Tài liệu  tham khảo : Thơ Văn Đoàn Nguyễn Tuấn. Hải Ông Thi Tập. Viện Hán Nôm. Nxb Khoa Học Xă Hội. Hà Nội 1982.

 

Paris, 7-3-2017

Phạm Trọng Chánh

 

 
Tác giả: Hồ Xuân Hương nàng là ai ? Khuê Văn 2000 ;  Nguyễn Du , Mười năm gió bụi và mối t́nh Hồ Xuân Hương,  Khuê Văn Paris 2010; Truyện Thơ Odyssée qua 12110 câu thơ lục bát, Khuê Văn 2005; Sử Thi Iliade qua 16933 câu thơ lục bát, Khuê Văn 2009; Tự điển t́nh yêu bằng thơ t́nh Xuân Diệu, Khuê Văn 201; Giáo Dục Việt Nam thời Pháp thuộc (1940-1945) Paris 1976; Giáo Dục Miền Nam Việt Nam 1954-1975, Paris 1980; Thơ t́nh Nhất Uyên (Huy Cận, Xuân Diệu đề tựa), Paris, 1996; Công cha như núi Trường Sơn 1975. Cánh chim từ vùng lửa đỏ (thơ nhạc với Tốn Thất Lập) HSVST 1974; Bóng thời gian, Thời gian ta măi măi c̣n xanh (với Nguyễn Đăng Hưng Liège 1972); Chiêm Bao Trắng, Thơ Sàigon 1969.


 

 


 

 

Mời đọc những bài viết khác của cùng tác giả : 

 

Nguyễn Du qua Quản Trọng Tam Qui Đài - TS. Phạm Trọng Chánh

Nguyễn Du đi qua Đài Tam Qui của Quản Trọng ở Sơn Đông trên đường đi sứ về trong khoảng thời gian 21 tháng 11 đến 11 tháng 12 năm ...

 Nguyễn Du và cây liễu xưa đền Mạnh Tử - TS.Phạm Trọng Chánh

Tại sao Nguyễn Du nói đến cây liễu trước đền, gỗ cây liễu tượng trưng cho bản chất tự nhiên của con người, giáo dục như đẽo gọt gỗ thành ...

 Tử Xuân Hàm Nghi (1872 -1942), vị vua lưu đày thành nghệ sĩ - TS. Phạm Trọng Chánh

Năm 1926, để kỷ niệm 10 năm thành lập Viện Bảo tàng Auguste Rodin (1840-1917)  Hotel Biron 79 rue de Varenne, Paris 7è, năm 1916, Rodin nhà điêu khắc vĩ ...

 Nguyễn Du qua sông hoài nhớ Văn Thiên Tường - TS. Phạm Trọng Chánh

Đầu thế kỷ 20, những người Việt Nam đi làm cách mạng thuộc ḷng hai câu thơ :  Nhân sinh tự cổ thùy vô tử. Lưu thủ đan tâm chiếu hăn ...

 Tiểu sử Nguyễn Du qua những phát hiện mới - TS. Phạm Trọng Chánh

Nguyễn Du có quyển Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Nhân không phải lúc đi sứ năm 1813 mà có từ năm 1790 tại Hàng Châu. Giáo Sư ...

 Đi t́m Cổ Nguyệt Đường và mối t́nh Hồ Xuân Hương và Nguyễn Du - TS.Phạm Trọng Chánh

Mùa hè 2011, sau một chuyến du hành khắp nước, tôi dành 5 ngày về ở tại Làng Nghi Tàm trên đường Xuân Diệu. Suốt năm ngày dù trời mưa ...

 Tiếc thương Nhạc sĩ thiên tài Nguyễn Thiên Đạo (1940-2015) - TS.Phạm Trọng Chánh

Sáng ngày 27-11-2015 tôi  đến nghĩa trang Père Lachaise để tiễn nhạc sĩ Nguyễn Thiên Đạo đến nơi yên nghỉ cuối cùng; sau khi hỏa táng, anh sẽ nằm trong ...

Hoàng Hạc Lâu qua thi ca các sứ thần nước Nam - Phạm Trọng Chánh

Hoàng Hạc Lâu  được xây dựng tại Vũ Hán từ năm 223  do Tôn Quyền thời Tam Quốc : khi xây cổ thành Hạ Khẩu, phía Tây giáp Trường Giang, góc ...

Nguyễn Du qua đ́nh Tô Tần - TS. Phạm Trọng Chánh

Nguyễn Du có hai bài thơ viết về   đ́nh Tô Tần  khi đi qua cố kinh  Lạc Dương, nơi quê hương Tô Tần. Lạc Dương là một trong 4 kinh ...

Nguyễn Du trên quê hương Khuất Nguyên - TS.Phạm Trọng Chánh

Khi đi qua Trung quốc, Nguyễn Du đă nhiều lần đến nước Sở, quê hương  Khuất Nguyên:  Năm 1788- 1790 trong thời  tuổi trẻ đi giang hồ Trung Quốc  lượt ...

Nguyễn Du trên quê hương Đỗ Phủ - TS.Phạm Trọng Chánh

Đỗ Phủ (712-770)  thời nhà Đường, sống trong thời đại loạn An Lộc Sơn  trong 8 năm, làm tiêu hao 2/3 dân số Trung Quốc. Năm 755 nước này có ...

Nguyễn Du đi sứ trên quê hương Lư Bạch - TS.Phạm Trọng Chánh

Nguyễn Du lấy bút hiệu là Thanh Hiên, kết hợp từ chữ Thanh, bút hiệu Thanh Liên của thi hào Lư Bạch (701-762), và chữ Hiên thường dùng của gia ...

Đi theo hành tŕnh “Bắc hành tạp lục” của Nguyễn Du - TS.Phạm Trọng Chánh

Đọc “Bắc Hành Tạp Lục” nhiều nhà nghiên cứu có cảm giác Nguyễn Du rất cô đơn trước cảnh sắc và  con người tại Trung Quốc. TS Nguyễn Thị Nương ...

Tưởng nhớ Giáo sư Trần Văn Khê - TS.Phạm Trọng Chánh

Thuở thư sinh lên đường du học Âu Châu  năm 1970, túi đàn cặp sách, tuổi hai mươi : «  cầm kỳ thi họa đủ mùi ca ngâm », hành trang tôi ...

Mối t́nh “ông vua thơ Nôm” Lê Thánh Tông và Trường-Lạc hoàng hậu - TS.Phạm Trọng Chánh

Phạm Đ́nh Hổ trong Tang thương ngẫu lục quyển II,  tr 232 có chép chuyện vua Lê Thánh Tông và Trường Lạc Hoàng Hậu, một chuyện t́nh tuyệt đẹp, giữa ...

Kỷ niệm với Họa Sư LÊ BÁ ĐẢNG (1921-2015) - Ts Phạm Trọng Chánh

Những năm 1973-1976, đến Paris  tôi bắt đầu công việc sinh viên, vừa làm vừa học, là kư tên và đánh số giùm tranh litho cho  Họa sĩ Lê Bá ...

Hồ Sĩ Đống (1739-1785) - bậc thầy thi ca thời Lê trung hưng - TS. Phạm Trọng Chánh

Hồ Sĩ Đống được Phạm Đ́nh Hổ trong Vũ Trung tùy bút, bài Thi ca kể tên cùng Nguyễn Tông Khuê, Nguyễn Huy Oánh là ba bậc thầy phục hưng ...

 Đọc bài “Về cuốn sách Lịch Sử Việt Nam được cho là kiệt tác sử học” - TS Phạm Trọng Chánh.

Nhân đọc bài : Về cuốn sách được cho là kiệt tác sử học của ông Tiến Anh Hồng Quang đăng trên Nhân Dân Điện tử thứ năm 27-1-2014. Bài viết có nhiều hiểu lầm; Giáo sư Lê Thành Khôi nay đă lớn tuổi 93 tuổi, chẳng phải bận rộn với bài viết nhỏ mọn này, là môn sinh Giáo sư Lê Thành Khôi tôi xin thay mặt Giáo sư trả lời các điểm thắc mắc của ông Tiến Anh Hồng Quang.

Nguyễn Tông Khuê - bậc thầy thi ca đời Lê Trung Hưng - TS. Phạm Trọng Chánh

Phạm Đ́nh Hổ trong Vũ Trung Tùy Bút có nói đến ba nhà thơ lớn, ba bậc thầy thi ca thời Lê Trung Hưng : Nguyễn Tông Khuê (1693-1767), Nguyễn Huy ...

GS.Lê Thành Khôi & lịch sử Việt Nam - TS.Phạm Trọng Chánh

Cuối tháng 8-2014  Nhà Xuất bản Thế Giới Hà Nội cho ra mắt quyển  « Lịch Sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XX » của Giáo Sư Lê Thành ...

Đọc sách : "Đạo Cao Đài và Victor Hugo" của TS.Trần Thu Dung - TS.Phạm Trọng Chánh

Victor Hugo là một nhà văn lớn, nhà chính trị Cộng ḥa  Pháp, chống lại Đế Chế Napoléon III, từng phải lưu vong xa nước 17 năm. Ông qua đời ...

Patrick Modiano giải Nobel văn chương 2014 - TS.Phạm Trọng Chánh

Sinh ngày 30-7-1945 tại Boulogne Billancourt, ngoại ô Paris, tác giả hơn 30 quyển tiểu thuyết, truyện phim, giải thưởng Văn Chương Hàn Lâm Viện Pháp, giải thưởng Goncourt, tác ...

Hồ Xuân Hương đi buôn (1807-1811) : “mẹ già nhà túng, ăn ở không yên ổn” - TS. Phạm Trọng Chánh

Trong bài tựa Lưu Hương Kư, Tốn Phong viết:  “ Từ đó  (sau lần đến thăm xuân 1807) có những lúc tôi phải vào Nam, ra Bắc, không thể cùng ...

Nguyễn Du : Ra Bắc 1796, t́nh duyên tan vỡ - Ts.Phạm Ttrọng Chánh

Nguyễn Du cho rằng việc vào Nam từ năm 1794 đến 1796 là hoài công, vô ích. Và mong rằng việc ra Bắc năm 1796 sẽ làm nên việc.  Sau ...

Đọc sách : Nguyễn Du trên đường gió bụi của Hoàng Khôi - Nhà Xuất bản Văn Học. Hà Nội- 2013 - Ts.Phạm Trọng Chánh

Có ǵ vui hơn, khi những thành quả nghiên cứu văn học của ḿnh được bè bạn Hội Kiều Học trong nước hưởng ứng viết thành tiểu thuyết.  Nhận được ...

 Hồ Xuân Hương cô hàng bán sách phố Nam thành Thăng Long (1804-1807) - TS. Phạm Trọng Chánh

Khoảng 10 năm trước năm 1813 Tốn Phong đă đến thăm  Xuân Hương Hồ Phi Mai tại hiệu sách Xuân Hương, Phố Nam thành Thăng Long, thuở ấy nàng ở ...

Nguyễn Du : những mỹ nhân trên đường mười năm gió bụi (1786-1796) - TS. Phạm Trọng Chánh

Sau ba năm đi giang hồ Trung Quốc, Nguyễn Du trở về ở tại Thăng Long từ cuối năm 1790 cho đến năm 1794. Đó là ba năm « Chữ t́nh ... 

Nguyễn Du gặp Đoàn Nguyễn Tuấn, sứ đoàn Tây Sơn tại Hoàng Châu 1790 - TS. Phạm Trọng Chánh

Nguyễn Du sau khi đậu Tam Trường (1783) ở Trường thi Sơn Nam lúc 17 tuổi, được anh là Nguyễn Khản, Thượng Thư Bộ Lại kiêm Trấn thủ Hưng Hóa, ...

Nguyễn Du : nhà sư Chí Hiên “Giang Bắc, Giang Nam túi tiền không” (1788-1790) 
TS. Phạm Trọng Chánh

Nguyễn Du, mang danh hiệu Chí Hiên, danh hiệu Nguyễn Du dùng cho đến năm 1796, kư tên hai bài thơ  tặng Hồ Xuân Hương, lưu lại trong Lưu Hương ...

Nguyễn Du chia tay Nguyễn Đại Lang, Nguyễn Sĩ Hữu tại Liễu Châu 1788 - TS. Phạm Trọng Chánh

Nguyễn Du gọi cuộc đời từ 20 đến 30 tuổi của ḿnh là « 10 năm gió bụi » (1786-1796), gia phả và sách vở giáo khoa trăm năm qua  lại viết ...

Nguyễn Du từ Thái Nguyên sang Vân Nam cuối năm 1787 - TS. Phạm Trọng Chánh

Bao nhiêu năm nghiên cứu về Nguyễn Du, chúng ta đă biết hết cuộc đời Nguyễn Du chưa ?  Nguyễn Du có quyển Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm .

Dịch chương “Nhă Ca”, một dâm thơ trong Cựu ước - TS. Phạm Trọng Chánh

“Nhă Ca”  (CANTIQUES) là một tác phẩm văn chương cổ đại của dân tộc Do Thái, cách chúng ta khoảng 630 năm trước Tây lịch. Một áng văn chương trữ ...

Đọc Lưu Hương Kư của Hồ Xuân Hương - TS. Phạm Trọng Chánh

Giữa thời điểm các nhà sách hải ngoại thi nhau đóng cửa, người đọc tiếng Việt ngày càng thưa thớt, tác giả gửi sách đi cho các nhà sách, không

Hồ Xuân Hương và quan Hiệp Trấn Sơn Nam Thượng Trần Ngọc Quán - Phạm Trọng Chánh

Trần Ngọc Quán quê Nghệ An, trước làm quan Cai Bạ doanh Quảng Đức (Chức vụ đứng đầu một doanh, tỉnh Thừa Thiên ngày sau). Tháng 2 năm Ất ..

Hồ Xuân Hương và Phật giáo - TS. Phạm Trọng Chánh

Điều nghịch lư trong thơ truyền khẩu gán cho Hồ Xuân Hương là Xuân Hương thường đi chùa, cuối đời có đi tu một thời gian, nhưng trong thơ lại ...

* Đối thoại với Giáo ḥang: Sở tri chướng và kinh tế thị trường – Phạm Trọng Chánh, Ph.D., Paris, Pháp,  
              Link :
http://giaodiemonline.com/baiup/DTGH(3).htm