NHỮNG BÀI B̀NH THƠ LÊ TRIỀU PHƯƠNG

(PHẦN 1)
 

Quách Giao

 

 

 

 

1.      1. Hai Bài Thơ Có Chung Một Tâm Tưởng

 Lời dẫn: Chúng tôi ba người, thân nhau từ năm học lớp  đệ tứ, niên khóa 1955- 1956 tại trường Tư thục Kim Yến Nha Trang. Những ngày nghỉ hè chúng tôi thường tụ nhau về Thuận Ḥa, quê hương của Triều Phương, sống giữa vườn cây đầy bóng mát và hoa quả. Ngan ngát mùi hoa cau và hương trầu. Ngoài vườn quê xanh đẹp, chúng tôi c̣n nhận được một t́nh thương đằm thắm của mẹ Triều Phương. Đó là người mẹ chung cho ba chúng tôi. Sau khi chúng tôi vào Đại học th́ Triều Phương đi du học và chúng tôi dù cách xa song vẫn liên lạc  thường xuyên với nhau.

Năm 2001 Triều Phương về Việt Nam, chúng tôi có nhiều ngày làm việc chung. Có những chuyến đi xa, có những buổi thảo luận thơ văn bên bờ biển Nha Trang, trên tầng lầu Thuận Ḥa và ngay khi cùng nhau đi trên xe hỏa. Cũng trong một chuyến đi B́nh Định, tràn đầy thú vị th́ được tin mẹ ốm nặng. Và chỉ một ḿnh Trúc Như về kịp c̣n tôi và Triều Phương về muộn một ngày. Mẹ mất vào ngày mồng 4 tháng tư năm Tân Tỵ. Ngày làm tuần đầu gần đúng vào ngày lễ Phật Đản năm 2001.

 

 

 

Khuya ngày 14 âm lịch, Trúc Như tụng kinh trên lầu, tôi và Triều Phương ngồi nơi mái hiên trước nhà lặng lẽ nghe kinh và lắng ḷng vào cảnh vật yên tịnh.  Trăng 14 đă xế tà. Bầu trời xanh cao rộng. Từ cuối thôn vẳng đến tiếng gà gáy sáng. Tâm tư đang buồn bỗng nhiên tiếng gà làm thức tĩnh tâm hồn. Ngẩng mặt nh́n vầng trăng nghiêng xế nơi chân trời, ḷng tôi dâng tràn cảm xúc. Tâm hồn hoàn toàn tĩnh lặng. Tấm thân như bay bỗng lên cao. Xao xuyến v́ tiếng gà, nồng ấm v́ ánh trăng và bát ngát v́ bầu trời xanh cao rộng.  Rồi bầu trời kia hồng lên v́ ánh trăng hay hồng lên v́ mặt trời sắp mọc. Có lẽ cả hai và như vậy th́ không c̣n có sự phân chia giữa ngày và đêm, giữa cái chết và sự sống nữa. Ḷng hoàn toàn thư thái an nhiên. Mặt trăng kia ch́m lặn nơi cuối trời không để mất mà để đem đến sự hồng tươi và niềm an lạc cho tâm tôi. V́ thế nên tuy gió ban mai không thổi mà trời tự nhiên thoảng mát, đưa hồn tôi lâng lâng bay cao vào khung trời xanh bao la đầy hương  nhẹ của buổi mai nguyên thủy.

Trăng không c̣n thấy nữa nhưng tiếng gà gáy sáng vẫn âm vang. Ḷng chợt ngộ ra là mẹ đă mất song t́nh vẫn c̣n măi măi trong cảnh trí, trong màu xanh bích của cỏ cây, của ngôi vườn thân yêu đă được mẹ chăm nom nhiều năm tháng. Cảnh sáng ban mai này khiến ḷng tôi yên thắm và tôi cảm nhận được lời kinh đầy t́nh thương và ấm áp của Trúc Như. Tôi hiểu được rằng khi ḷng ta thanh thản  th́ lời kinh cầu như được sáng tỏ thêm lên và ân t́nh tràn ắp trong giọng đọc dễ truyền cảm xúc đến tận ḷng người. V́ vậy nên tôi như được tan ḥa vào vũ trụ cùng với lời kinh. Và s mất c̣n không là vấn đề bận tâm nữa… Cảm ơn buổi b́nh minh ngày rằm tháng tư năm Tân Tỵ ấy và bài thơ Ban Mai An Lành tuy không xuất sắc song mỗi khi đọc lại, ḷng tôi cảm nhận thấu suốt được cuộc đời có nhiều phút yên lành và trong những phút giây yên lành đó nếu t́nh cờ ta nhận được  th́ ta sẽ hạnh phúc biết là dường nào.

. Bài thơ thứ nhất là bài thơ của tôi làm vào dịp vào Phan Rang để làm tuần cho thân mẫu của nhà thơ Lê Triều Phương.

 

Ban Mai An Lành.

Tặng Tâm , Châu.

 

Có vầng trăng mười bốn

Vang tiếng gà b́nh minh

Một bầu trời ửng sáng

Rạng rỡ ánh thanh b́nh.

 

Một vầng trăng mười bốn

Ch́m tận cuối chân trời

 

Hồng tươi niềm an lạc

Cho ḷng thêm thảnh thơi

 

Gió không thổi mà mát

 Hồn không nâng mà cao

T́nh lắng trong rạt rào

Hương trời mai bát ngát .

 

Trăng mười bốn đă khuất

Thanh thản trong tiếng gà

Mẹ già đă đi xa

Vườn xưa xanh biếc ngọc

 

Ḷng con dâng lên mẹ

Lời kinh sớm nguyện cầu

Khói hương lan nhè nhẹ

Ấm từng tiếng từng câu

 

Trời xanh hương cũng xanh

Ban mai đầy an lành

Trăng tan ḥa vũ trụ

Ḷng thấm nhập lời kinh.

 

Sau đây là  lời của Triều Phương:

 

“Ngay sau khi sáng tác xong bài thơ, Tùng Phong đưa cho tôi xem.

“Trong không gian ấm áp lời kinh do Trúc Như tụng, trong sự an lành ngự trị nơi nơi, bài thơ của Tùng Phong đă truyền vào tâm tôi bao cảm xúc mạnh mẽ. Những vần thơ về cuộc ra đi của mẹ lại thầm lặng tuôn trào. Tôi để cho những vần thơ lắng xuống, thả ḷng vào ánh trăng đang giao ḥa cùng ánh hồng của mặt trời đang lên và để nó bay theo tiếng gà tỏa rộng khắp không gian. Tôi quyết tâm lấy vần bài thơ của Quách Tùng Phong làm chuẩn, sắp xếp lại ư thơ của ḿnh cho phù hợp theo đó và viết lên giấy. Sau khi nhận được bản in bài Ban Mai An Lành của Quách Tùng Phong, tôi lại ghi bài thơ của tôi vào bản in ấy.

 

Và bài thơ thứ hai:

Ban Mai An Lành

Tặng Châu, Giao.

 

Một vầng trăng mười bốn

Mát thôn xóm b́nh minh

Non xa trời ửng sáng

Ḷng con nở an lành

 

Có vầng trăng mười bốn

Đưa mẹ về cơi trời

Hoa đưa hương an lạc

Mưa diệu pháp nơi nơi.

 

Mẹ về cơi tươi mát

Ḷng thênh thang trời cao

Hương trầm tỏa ngạt ngào

Theo gió lành bát ngát.

 

Trăng mười bốn ch́m khuất

Thôn xóm vang tiếng gà

Bóng mẹ già khuất xa

Vườn trầu cau biếc ngọc

 

Lời kinh Từ tiễn mẹ

     Lay ánh sao nhiệm mầu

Ngân lá cành nhè nhẹ

Vang vang suối khe sâu.

 

Một bầu trời ngát xanh

Tiếng niệm Phật an lành

Thấm cỏ cây vũ trụ

Nhuộm cơi đời tử sinh.

 

“Năm 2007, nhân chuyến về Việt Nam dưỡng bệnh, tôi mang theo một xấp thơ viết trên giấy tạp với ư định chép lại cho dễ đọc. Tại bệnh viện Pháp Việt tọa lạc nơi khu Phú Mỹ Hưng, tôi phát hiện hai bài thơ của chúng tôi được xếp chung với những bài khác ngay sáng sớm ngày mà Quách Tùng Phong và Trúc Như đến thăm tôi. Bệnh viện rộng và thoáng. Ba chúng tôi lại ngồi bên nhau trong không gian tĩnh mịch của pḥng bệnh.

“Tôi đưa ra cho hai bạn xem trang giấy có ghi hai bài thơ cùng một nhan đề: Ban Mai An Lành. Hai bài thơ làm vào ngày 6 tháng 6 năm 2001 tức ngày rằm tháng 4 năm Tân Tỵ. Phật lịch 2545). Cả ba đều sửng sốt v́ ngày hôm nay cũng là ngày rằm tháng tư năm Đinh Hợi, ngày Phật Đản năm 2551. Tùng Phong có định viết một bài b́nh cho hai bài thơ Ban mai an lành. Tôi rất hân hoan nhường cho Tùng Phong công việc này”. (Lê Triều Phương)

 

Lời B́nh

 

Hai bài thơ đều bỏ vần như nhau. Nội dung có nhiều khác biệt song lại bổ túc cho nhau, tinh  ư mới nhận ra. Nh́n chung th́ đây là hai bài thơ họa vận về một buổi ban mai an lành. Nếu đem so sánh từng khổ một chúng ta mới nhận thấy đây tuy là hai bài thơ họa vận cùng một đề tài  song nội dung có phần khác biệt.

Trong khổ đầu, cả hai bài thơ cùng chung một vầng trăng mười bốn song bài thơ I “có vầng trăng” c̣n bài thơ II lại “một vầng trăng”, “Có” là khẳng định c̣n “một” là duy nhất. Cả hai ư đều tách biệt nhau để rồi nơi khổ thứ hai lại hoán vị cho nhau. Khổ đầu bài I đi từ cảnh gần  đến cảnh xa để nói lên tâm t́nh man mác rộng theo cùng không gian. Khổ đầu bài II lại đi từ xa đến gần để nói đến ḷng của ḿnh  trước non xa và trời ửng sáng. Từ cảnh quan đến nội tâm.

Khổ thứ hai của bài thơ thứ II bổ túc thêm cho khổ hai bài thơ thứ I v́ trăng tiễn mẹ cho “hồng tươi niềm an lạc”. Hoa hương, diệu pháp góp thêm phần  thảnh thơi cho khắp cả bầu trời.

Khổ thơ thứ III của bài  thứ II đă giải thích v́ sao:

 

 “Gió không thổi mà mát”

 “Hồn không nâng mà cao”

 

là v́ đă có Mẹ, có sự hiện diện của t́nh thương.

Khổ thơ thứ IV của hai bài thơ hoàn toàn  đi song song cùng nhau như đôi bạn nắm tay nhau đi trong vườn hạnh phúc.

Đến khổ thơ thứ V th́ dường như hai người bạn này rời tay nhau ra để cùng cúi ḿnh xuống hái những đóa hoa tư tưởng. Một bên th́ để lời kinh thấm vào ḷng. Một bên th́ đưa câu kinh vang vọng ra xa:

 

Ngân lá cành nhè nhẹ

Vang vang suối khe sâu.

 

Và đến khổ thơ cuối cùng th́ ta lại thấy họ lại tay trong tay cùng  thấm ḥa vào vũ trụ.

Một buổi chiều trong bệnh viện, một buổi chiều tràn đầy vui sống hạnh phúc đến bên ta  như một buổi b́nh minh có vấng trăng mười bốn có tiếng gà rộn ră và an lạc thấm vào tim cùng ḥa nhịp với lời kinh cầu nguyện. An lạc, cầu xin đến cho khắp mọi người.

 

Từ hai bài thơ  Ban Mai An Lành có một bài thơ thứ ba của Quách Tùng Phong ra đời:

 

Canh Gà Khuya Ấy

 

Mẹ có ba người con trai

Một ở phương trời xa

Ḷng bao giờ cũng bùi ngùi thương nhớ

Một ở bên giường hôm sớm chăm lo

Một ở cách xa nhưng vẫn thường về thăm viếng

Ngày mẹ mất

Một người con có mặt

C̣n cả hai về đủ trước khi chôn

Con là ba nhưng chung một tâm hồn

Yêu mến mẹ.

Buổi b́nh minh

Một người con tụng kinh

C̣n hai người ngồi lặng thinh nơi hiên vắng

Ngắm nh́n vầng trăng lặng

Trăng hạ tuần

Ḷng thoáng nhẹ bâng khuâng

Vẳng tiếng gà xa

Bàng bạc trăng tà

Chợt thấy tâm hồn xao xuyến

Cuộc đời này

Đă bao lần như nguyện?!

Mà chỉ canh gà khuya ấy

Vẫn c̣n đồng vọng măi trong tim

 

 

Phật Đản ngày rằm tháng tư năm Đinh Hợi

( 31 tháng 5 năm 2007)

Quách Giao

 

 

2.      2. T́nh thơ trước biển

Tôi có một người bạn, tâm t́nh rất đơn sơ, t́nh yêu của chàng lúc ban đầu như bao chàng thư sinh trước ngưỡng cửa  t́nh yêu. Nàng  là một nàng tiên áo trắng có mái tóc mây, có dáng đi trên gót hồng e ấp giữa rặng đào hồng của lối mộng t́nh yêu. Rồi chia tay như trăm ngàn mối t́nh đầu của tuổi trẻ. Chàng đi du học và trở thành một giáo sư chuyên về  qui hoạch rừng, qui hoach tổng thể và chuyên về môi trường. Năm tháng trôi qua nhưng ḷng chàng vẫn lưu hằn kỷ niệm mối t́nh yêu thủa ban đầu. Tà áo trắng đứng bên bờ cát trước biển đông trong gió chiều nhẹ nhàng rung rinh mái tóc, không hề phai nhạt trong tâm tư:

 

Tóc huyền xỏa mộng gió bay

T́nh ru ấn tượng liễu gầy đong đưa

Ngày mai vạn dặm nắng mưa

Xuân thu ai ngắm tóc đừa gió ru.

 

Giọng thơ, lời thơ không thoát ra được khuông sáo của thế thường nhưng cái t́nh lại gởi gắm trong  :

Ngày mai vạn dặm nắng mưa

Xuân thu ai ngắm tóc đừa gió ru.

 

Cuộc đời đi xa tổ quốc trên 40 năm mà ḷng c̣n giữ măi h́nh ảnh  gió đừa tóc ru

Ngày chúng tôi gặp lại nhau, câu chuyện mối t́nh đầu lại nối tiếp và nó vẫn nồng cháy như thủa thiếu thời.:

 

Tóc vờn nối sóng trùng dương

Cuộn ḷng lớp sóng yêu thương bể ḷng

Tóc bay mộng chiều đông

Phất phơ hoài niệm đượm nồng hương xưa

(Hương Xưa )

 

Không phải  giờ đây gặp lại biển xưa nhà thơ mớí nhớ đến t́nh  xưa, mà đă từ lâu trên khoảng  đường vạn dặm chàng cũng đă :

 

Sáng nay em hiện đến

Như cơn gió vô t́nh

Lay động cánh buồm xếp

Giữa nước trời lặng thinh

Tóc huyền em bay bay

Gió chếnh choáng say say

Đóa hồng ghen em đó

Má mịn đỏ hây hây

 

Môi hồng mỉm nụ sen

Ôi xôn xao con tim

Sóng t́nh yêu gờn gợn

Lênh đênh thuyền lênh đênh

( Lại Ra Khơi )

 

Tuy đă là một Giáo sư Tiến sĩ nhưng mỗi lúc  giở lại xấp thư xưa ḷng vẫn không nguôi thương nhớ :

 

Lửa t́nh ai giấu vào thư

Từng trang sưởi ấm tâm tư lạnh đồng

Từng trang rướm lệ nến hồng

Thương ai xuân đợi thu trông ỉoi ṃn

Chuông khuya  tĩnh dạ héo hon

Bóng xưa lẫn khói bấc vờn hư không.

Biển xa con sóng chập chờn

Phất phơ áo trắng gió vờn tóc mây

Lửa t́nh thư cũ ḷng say

Trùng dương  sóng vẫn vỗ đầy tâm tư

 

Khi đọc lại thư cũ  t́nh yêu xưa chập chờn con sóng  về đầy ắp tâm hồn, khiến người đọc thơ  muốn được yêu và thêm nhớ bạn mỗi lúc ngồi trước biển.

Khi tuổi đă sáu mươi ngựi thơ ghi lại:

 

Tuổi sáu mươi lá cành héo úa

Như hoa tàn cánh gởi thu bay

Tà áo dịu em nâng đón đợi

Hứng mà chi chút phận tàn phai.

 

Lệ ảo diệu tuôn ḍng suối ngọt

Tưới cành thu nhựa sống ban sơ

Nụ mới nẩy nhung xanh dáng mộng

Núi đồi say chếnh choáng hương thơ

 

Tay trong tay bước đều em nhé

Ta hành hương trở lại tim ḿnh

Nghe con sóng vỗ bờ cát trắng

Tà áo bay trong mộng trời xanh.

 

Khổ thơ cuối cùng  là giấc mơ đẹp , là lời thơ diễm tuyệt cho những kẻ có mối t́nh trước biển..

Tuổi già đến cùng vời tấm ḷng nhớ đến người xưa, người thơ đă dấn thân vào ḍng thơ Đường luật :

 

T́m ai bát ngát cơi thu này

Ḷng tím hoàng hôn mây nhớ bay

Điệp điệp t́nh sâu trào biển sóng

Trùng trung nghĩa nặng cuộn ngàn mây

Đâu tà áo mộng vương hồn gió

Nào tóc huyền mơ quyện giấc say

Thắp sáng  đèn câu  trời vọng tưởng

Băi dài hiu hắt gió  thơ ngây.

( T́m Bóng Xưa )

 

Bài thơ niêm luật nghiêm chỉnh.  Câu nhập đề đầy t́nh tứ.

 

T́m ai bát ngát cơi thu này

Ḷng tím hoàng hôn mây  nhớ bay

 

Hai câu thơ này chứa t́nh, gợi cảm nhiều hơn là tả cảnh. Bát ngát cơi thu này là khung trời nhớ tưởng, nó được nói lên để chuỷển sang mây nhớ bay v́ ḷng  người đă tím cả hoàng hôn. Hai câu nhập và chuyển êm như  mây nhẹ như t́nh.

Hai câu trạng chỉ giữ đúng thể cách và nhiệm vụ của một câu diễn tả chính xác đầu bài:  Biển và trời.  Hai câu luận  làm rộng thêm việc diễn đạt đầu đề vừa gợi lại kỷ niệm xa xưa đă là nguồn thơ của bài thơ. Có biết được mối t́nh đầu của người thơ xuất phát từ một tà áo trắng, một mái tóc huyền đứng trước biển th́ mời thấy những câu trạng , luận đă chu toàn trách nhiệm của ḿnh. Đến hai câu chuyển và kết th́ thật là thơ và kỷ thuật.:

 

Thắp sáng đèn câu trời vọng tưởng

Băi dài hiu hắt gió thơ ngây.

 

Hai câu  thơ này hay là v́ chứa nhiều h́nh ảnh liên tưởng đến nhau . Đèn câu là cảnh trước mắt, trời vọng tưởng là tấm ḷng nhớ về quá khứ. Nh́n cảnh đèn câu giăng dài nơi chân trời góc biển du khách chỉ thấy đẹp c̣n tác giả th́  lại nhớ về quá khứ nhớ lại mối t́nh đầu trước biển..

Băi dài hiu hắt cũng là cảnh thực, là cảnh hiện tại. Và gió thơ ngây là gió thủa ban đầu. Thực tại và quá khứ chen lẫn vào nhau, khắng khít cùng nhau và t́nh thơ đă tạo nên một  từ ngữ nên thơ : gió  thơ ngây. Tôi tin rằng  đây là lần đầu tiên  ư tưởng gió thơ ngây được sữ dụng. Nhất là trong một bài thơ Đường luật

Vâng có thể có nhiều ư thơ rất táo bạo có rất nhiều trong các bài thơ mới nhưng có rất ít  ư thơ sáng tạo mới mẻ trong thơ Đường luật của Việt Nam Như là :

 

Cành gió hương xao hoa tỷ muội

Đồi sương sóng lượn cỏ vương tôn

( Chiều Xuân )

Và :

Bên đèn trang sách cổ

Lành lạnh sắc chiêm bao

(Bóng Khuya )

hay

Vàng ngọc nhảy reo câu khiển hứng

Non sông huyền hoặc sắc chiêm bao

(Gió Khuya )

 

Sân mai ngấm lệ hương gầy gơ

Đài sáp ngời thu bút hắt hiu

( Nguyên tiêu Ất Măo )

 

Tất cả những câu thơ trên là của Quách Tấn, được trích dẫn chỉ cốt để chứng minh rằng thơ của Lê Triều Phương khi bước vào vườn thơ Đường luật người học tṛ của nhà thơ Mùa Cổ Điển đă ứng dụng cách dùng tự như cách viết của thầy.

 

Gió thơ ngây là gió hiu hiu, gió của ngày xưa thơ dại, gió của t́nh yêu nguyên thủy. Gió thơ ngây ở đâu cũng có  nhưng cần phải có một  tâm hồn tinh tế, một tấm ḷng thiết tha, một mối t́nh tuyệt đẹp th́ người thơ mới cảm nhận được,  mới ôm được vào ḷng.

Tôi bước vào  t́nh thơ trước biển bằng những bài thơ của một người bạn. Tôi và bạn là một. Nhưng mối t́nh của bạn, tôi chỉ được cảm thông chớ không hề tham dự. Cho nên thơ của bạn tôi cũng được ghé ḷng vào để hưởng chút gió thơ ngây từ ngh́n xưa thổi về.

 

Gió thơ ngây thổi đầy tâm tưởng

Ta ngồi bên nhau tận hưởng t́nh đầu

Ngh́n sau ai có biết đâu

Nghe trong hương gió thoảng màu hương yêu.

 

 

 Biển Ninh Chữ- Ninh Thuận,

link: http://www.phunutoday.vn/6-bai-bien-hoang-so-tuyet-dep-o-ninh-thuan-
                   d104024.html#7ytMJAv0SRDOZfC5.97

 

3.      3. Họa  Khúc Đường Quanh  của  Quách Tấn

 

Bài Xướng

Cũng bởi ḷng ngay cũng bởi danh

Tuổi già lận đận khúc đường quanh

Vườn dưa lỡ vói tay cài dép

Ao cá xui lây vạ cháy thành

Giá lẫn vàng thau khôn biện bạch

T́nh chung non nước có cao xanh

Biết đâu chẳng gặp may trong rủi

Én lạc vào thu đậu trước mành

 

  Quách Tấn

    20.5.1983

 

Bài Họa

 

Chẳng phải oan gia chẳng lợi danh

Mà v́ số phận phải đi quanh

Tiền thân trước đă duyên tương ngộ

Hậu nghiệp sau nên phúc tạo thành

Thân áo gió đừa trăng nước biếc

Ḷng thơ sóng vỗ biển trời xanh

Trôi ḍng tâm sự hiên mây vắng

Nắng giọi vào song ấm bức mành.

 

Lê Triều Phương

 

Giảng  b́nh

 

Đôi lời b́nh giảng về bài thơ Khúc Đường Quanh của Quách Tấn:

 

Cũng bởi ḷng ngay cũng bởi danh

Tuổi già lận đận khúc đường quanh

Vườn dưa lỡ vói tay cài dép

Ao cá xui lây vạ cháy thành

Giá lẫn vàng thau khôn biện bạch

T́nh chung non nước có cao xanh

Biết đâu chẳng gặp may trong rủi

Én lạc vào thu đậu trước mành.

 

Xuất xứ.

Bài thơ này làm vào năm 1983 nhân v́ một nhóm người tại thành phố Hồ Chí Minh bị bắt trong một vụ chính trị khai là có liên hệ với nhà thơ. Sau 18 ngày bị điều tra thi sĩ được xác nhận là không có can dự. Về nhà thi sĩ sáng tác bài này.

Nội dung

Muốn hiểu rơ nội dung bài thơ th́ nên diễn ra văn xuôi:

Cũng bởi v́ ḷng dạ ḿnh ngay thẳng không hề suy nghĩ cần phải đề pḥng khi giao du với những người không tốt.

Mà cũng tại ḿnh nhờ có một chút ít tiếng tăm trên văn đàn cho nên mới bị người xấu dùng sự quen biết mà đem tên tuổi ḿnh ra để lợi dụng.

V́ vậy khi tuổi đă về già mà vẫn c̣n vướng bận trên đường đời. Những tưởng con đường cuối đời sẽ thẳng tắp, nào hay đâu lại gặp khúc đường quanh.

Nghĩ lại thân phận ḿnh v́ sao nên nỗi này. Câu tục ngữ cổ khuyên ta không nên, khi đi ngang qua ruộng dưa đừng dừng lại để cài quai dép. Hành động này khiến cho người đời ở xa trông thấy có thể nghi ngờ là ta giả vờ cài lại dép để ăn cắp dưa. Câu này thoát thai từ câu “Qua điền ,lư hạ” từ câu cổ thi :

Qua điền bất nạp lư

Lư hạ bất chỉnh quan

 

Có nghĩa là : Đi qua ruộng dưa đừng cúi xuống sửa dép, sợ người ta nghi ăn cắp dưa. Dừng chân dưới gốc mận đừng sửa mũ sợ người ta nghi muốn hái mận trộm

(Có một sự việc đáng lưu ư là trong câu tục ngữ nơi dừng chân sửa dép là ruộng dưa (qua điền) song trong bài thơ lại là vườn dưa. Có phải chăng tại tác giả lầm ruộng ra vườn hoặc đổi ruộng ra vườn cho cảnh được thơ mộng hóa. Thưa không. Cổ nhân đă nói “ Làm thơ là gởi tấc ḷng vào thiên cổ” th́ có lẽ nào một nhà thơ lăo thành lại sơ xuất đến như thế. Nguyên nhân như thế này. Trước tiên là tác giả dùng từ “ruộng” song khi chép vào một bức thư gởi ra Hà Nội cho hai bạn là Kiến Đạo và Tế Hanh th́ lại chép nhầm là “vườn”. Hai bạn thơ vẫn không lưu ư. Chính v́ vậy mà tác giả phân vân không biết  chọn chữ nào. Nếu chọn chữ vườn th́ không được đúng với ư câu tục ngữ song lại phô diễn được  nghĩa rộng là vườn trồng dưa th́ có rào giậu tử tế để ngăn ngừa kẻ hái trộm. Cho nên nếu có dừng chân nơi vườn dưa trong chốc lát th́ sự nghi ngờ hái trộm dưa ít đáng nghi hơn là trước ruộng dưa. Sự việc nghi ngờ có phần được biện minh hơn.)

 

 

Câu “ao cá xui lây vạ cháy thành” do câu cổ ngữ “thành môn thất hỏa, ương cập tŕ ngư” có nghĩa là cửa thành bị cháy, họa lây đến cả cá trong hồ, để nói lên sự liên quan t́nh cờ khi thành cháy th́ cá trong ao có thể chết v́ nóng mà cũng có thể chết v́ người dùng nước để chữa cháy mà múc nước cạn và do đó cá phải chết khô.

Cảnh lầm này thật là oan uổng khiến cho ḿnh mang vạ vào thân. Nghĩ cho kỹ, cuộc đời này vàng thau lẫn lộn nên khiến người ngay cũng như kẻ gian, hễ không phân biệt được giá trị thật th́ việc nh́n vàng ra thau hoặc nh́n thau thành vàng làm sao mà phân trần đây. Nếu không biện bạch được v́ có sự lẫn lộn th́ tấm ḷng của ta đối với non nước lâu nay, chỉ c̣n có trời xanh cao rộng kia mới thấu hiểu được cảnh tượng này, được  nỗi oan khuất này.

Song ngẫm nghĩ lại th́ cổ nhân đă từng nói “trong sự rủi có cái may” Như vậy th́ ḷng ta được yên tĩnh, Và như con chim én kia  trong mùa thu khi trận băo đă đi qua tuy không c̣n bay lượn nữa song vẫn c̣n có một hiên vắng để đậu tỉa lông trước mành của ta.

Bài thơ trước đây hai câu kết được viết là:

 

Biết đâu chẳng gặp may trong rủi

Cây hết mùa hoa trái nặng cành.

 

Tuy nhiên, tác giả vẫn chưa ưng ư câu kết. Một hôm có một trận băo xảy đến. Và khi trận băo đi qua, tác giả mở cửa ra hè chợt thấy một con chim én đứng rỉa lông cạnh bức mành trúc. Nhân thấy cảnh con én bị băo, vào hiên nhà tránh gió mưa khiến cho nhà thơ có một cảm giác yên tịnh và tự sửa  câu kết:

 

Biết đâu chẳng gặp may trong rủi

Én lạc vào thu đậu trước mành.

 

Én lạc vào mùa thu tưởng đâu là cô quạnh v́ én chỉ thích hợp với mùa xuân. Nhưng én không cô quạnh v́ én đă gặp nơi trú ngụ hữu t́nh. Trong thiên nhiên không có sự lạc loài, không có niềm cô quạnh mà chỉ có tâm hồn chưa ḥa nhập vào cùng thiên nhiên mà thôi. Cảnh vật đă khép lại bài thơ bằng một niềm vui tươi, bằng một h́nh ảnh  yên lành đầy lạc quan.

 

Em nhà thơ (Quách Kién Đạo) đă phát biểu cảm tưởng:

Đọc xong bài thơ, tôi thấy vô cùng xúc động, v́ một sự thực phũ phàng được phân tích một cách nghiêm túc, không cần hương phấn của văn chương mà nó xác thực như một bản khắc họa, nó logich như một luận văn, mà lại đi sâu vào ḷng như một lời tâm sự. Về dụng sự ở đây thật là giản dị mà cũng rất là chính xác.

 

Vườn dưa lỡ vói tay cài dép

Ao cá xui lây vạ cháy thành.

 

Không ngờ hai câu tục ngữ cổ lại bổ sung cho nhau một cách chặt chẽ để giải thích một t́nh huống vô cùng phức tạp và tế nhị như đă gặp. Rơ ràng không trách ai hiểu lầm mà chỉ trách tại ḿnh gây nên sự hiểu lầm. Cũng không quá khắt khe với ḿnh đă cố ư gây ra, mà chỉ là một chi tiết vụn vặt “cài quai dép” tự nó gây ra, để dẫn đến cá ao mà cũng bị cháy lây, vừa buồn cười vừa đau xót.

Hai câu tục ngữ không liên quan với nhau mấy, nay bỗng nhiên được ghép lại thành nguyên nhân, gây hậu quả để ḿnh gánh chịu, cho nên bản thân hai câu ghép lại ấy đă trở thành một tục ngữ mới.

Trước đây khi đọc bài ca trù của Nguyễn Công Trứ đem hai câu thơ của hai tác giả đời Đường ghép thành một liên, tôi hết sức thán phục và khoái cảm:

Khuyến quân cánh tận nhất bôi tửu

Dữ ngă đồng tiêu vạn cổ sầu.

 Nghĩa là:

Mời chàng uống cạn chung này

Cùng ta xóa sạch sầu vây ngàn đời

 

thấy h́nh như hai cổ nhân đă v́ người nay mà nói hộ. Nay lại thấy ông bà ngày xưa đă nhắc lại, phân tích việc riêng của ḿnh và càng hiểu thêm một nấc tác dụng lớn lao của dụng sự.

Đến câu:

Giá lẫn vàng thau khôn biện bạch

T́nh chung non nước có cao xanh

 

Th́ rơ ràng là nỗi ḷng không nói được, gởi lại cho ngàn sau. Những kẻ vô t́nh hoặc có định kiến thế nào cũng sẽ phải suy nghĩ, phải cảm xúc trước sự gởi gắm tự đáy ḷng ấy mà nhận chân lại t́nh huống, đánh giá lại vàng thau.

Hai câu kết chưa thật tương xứng với sáu câu trên, nhưng lại tỏ ra một sự chính chắn, độ lượng.

Tóm lại bài Khúc Đường Quanh là một bài thơ hoàn chỉnh, kỹ thuật và nghệ thuật cao, mà sự chân thành và nỗi niềm sâu kín, xem qua như b́nh thản mà thấm thía đến tận đáy ḷng, làm cho người đọc dù muốn lướt qua cũng phải suy nghĩ bùi ngùi.

 

Ở Hà Nội, thi sĩ Tế Hanh khi đọc được bài thơ này đă thốt lên:

Lạ quá, chỉ có 56 chữ mà vừa tả sự việc một cách chính xác logich, cảm động vừa nói rơ lập trường, tỏ rơ thái độ, nói lên tấm ḷng của ḿnh và cả một philosophie tích cực (triết lư tích cực)

Ông bà ta xưa cường điệu rất hay. Cá ở ao mà phải chết v́ lửa cháy thành th́ thật là lạ.

 

 Tuy nhiên sau khi được  giải thích cho biết là điển “vườn dưa cài dép” và câu “ao cá lây hoạ cháy thành” nói đến sự oan khuất do kẻ khác gây ra th́ nhà thơ kết luận:

- Không có h́nh thức chặt chẽ, đối ngẫu sít sao, dụng sự thích ứng như thế th́ không tài nào gói ghém bao nhiêu ư tứ, bao nhiêu tâm sự, bao nhiêu sai lạc vô t́nh, ngẫu nhiên vào 56 chữ được. Bài thơ thành một thể đọng“tinh thể”của thơ. (Thư ngày 12/10/83)

Nhận xét bài thơ,  thi sĩ Tế Hanh đă có một cái nh́n tổng thể, cái nh́n nhất quán.

 

B́nh thơ họa của Triều Phương

 

Chẳng phải oan gia chẳng lợi danh

Mà v́ số phận phải đi quanh

Tiền thân trước đă duyên tương ngộ

Hậu nghiệp sau nên phúc tạo thành

Thân áo gió đừa trăng nước biếc

Ḷng thơ sóng vỗ biển trời xanh

Trôi ḍng tâm sự hiên mây vắng

Nắng giọi vào song ấm bức mành.

 

Là một nhà khoa học, xa quê hương, nhà thơ Lê Triều Phương vốn là học tṛ cũ của nhà thơ Quách Tấn nên rất  cảm thông với tâm hồn của thầy. Vừa là một nhà khoa học về môi trường và qui hoạch cảnh quan, Triều Phương vừa là một nhà nghiên cứu Phật học cho nên bài thơ họa mang  ít nhiều tư tưởng Phật giáo.

Ngay cặp khai đề, người họa đă đưa ra lời giải thích t́nh huống của nghịch cảnh: không phải là oan gia cũng không phải là v́ danh lợi mà tại v́ số phận của giai đoạn kiếp người lúc về chiều. Hai câu khai đề là lời thông cảm đầu tiên của học tṛ với thi nhân sư phụ. Không tại người cũng không phải tại ta mà chỉ v́ tại số phận phải mang. Cho nên:

 

Tiền thân trước đă duyên tương ngộ

Hậu nghiệp sau nên phúc tạo thành

 

Trước và sau đều do duyên nghiệp cho nên cái thân lúc này để mặc cho sự đời, c̣n thi nhân th́:

 

Thân áo gió đừa trăng nước biếc

Ḷng thơ sóng vỗ biển trời xanh

 

Trong bài thơ, cặp luận này gây đắc ư cho người đọc nhờ ở lời thơ tài ba, ư thơ thông thoáng. Câu thứ nhất nói đến ngoại thân ḥa chung cùng thiên nhiên. Từ “đừa” đă gợi lại câu thơ diễm tuyệt của Quách thi nhân:

Sông đừa lạnh đến bóng trăng run

 trong bài Bên Sông  trong tập thơ Mùa Cổ Điển.

 Câu thứ hai diễn tả tấm ḷng ḥa nhịp cùng với tạo vật. Câu thơ đă phảng phất t́nh thơ trong bài Ngậm Ngùi trong tập thơ Nửa Rừng Trăng Lạnh:

 

Xanh kia là biển là dâu

Gió khơi sóng dậy ra màu dở dang

 

 Chính câu này làm chúng ta nhớ lại câu thơ của bài xướng:

 

Giá lẫn vàng thau khôn biện bạch

T́nh chung non nước có cao xanh

 

Một nỗi niềm tâm sự trong cơi đời gió bụi lại được ḥa cùng với hai câu thơ thoát ra ngoài thế sự:

Thân áo gió đừaḶng thơ sóng vỗ đă ḥa cùng với biển trời xanh trăng nước biếc. Thật là  thanh thoát, thật là tri âm vậy. Đây là cảnh đời của thi nhân sống cùng với thiên nhiên vũ trụ.

Thoát ra ngoài thế sự, v́ thế sự là trăm năm c̣n tâm sự lại là ngh́n thu. Tuy nhiên cảnh của thế giới chung quanh vẫn c̣n nồng đượm với thi nhân:

Nắng giọi vào song ấm bức mành.

 

Thiên nhiên vẫn diễm t́nh, vẫn luôn luôn ở bên ta để sưởi ấm ḷng ta lúc hiu quạnh. Cánh én một đi không trở lại, nhưng nắng vẫn hằng ngày sưởi ấm bức mành treo nơi hiên vắng.

Bài thơ họa đă đạt. T́nh người họa đă nói trọn với người thơ.

  

 Quách Giao

 

 


 

Xin mời đọc những bài viết liên quan:

 

Thơ Lê Triều Phương - Quách Giao

Lê Triều Phương  (1938- 2008) bước vào vườn thơ văn rất sớm. Nhà thơ đă sống trong môi trường văn học, được gần các bậc thầy như thi sĩ Quách ...

Thi sỹ Quách Tấn và thiên nhiên - Lê Triều Phương

Khoảng giữa thập niên 1980 chúng tôi được hầu chuyện cùng thi sỹ Quách Tấn. Câu chuyện xoay quanh lănh vực làm việc của tôi tạm gọi là “Bảo vệ ...

Quách Tấn và thơ mới - Quách Giao

Thời tiền chiến (1930-1945) phong trào thơ mới đă nổi lên một cách rầm rộ. Thơ cũ vẫn có mặt trên thi đàn song có phần kém thế. Quan niệm ...

Quách Tấn và chùa Ông Núi : Đi t́m lại đám mây trắng trên mái chùa xưa - Thích Phước An

 Cách làng quê tôi chừng năm cây số có một ngôi chùa dù có tên chính thức là chùa Linh Phong, nhưng người dân sống quanh vùng núi này từ ...

Quách Tấn và chùa chiền - Trần Thị Phong Hương

Quách Tấn không những làm thơ mà c̣n viết văn nữa. Những tác phẩm văn xuôi của ông phần lớn đều có một phong thái đặc biệt. Viết về lịch ...

Đạo Phật đối với vấn đề phát triển lâu bền và bảo vệ môi trường - TS.Lê Văn Tâm

Hiện nay thế giới đang đứng trước nhiều sự việc và hiện tượng có tác động toàn cầu. Chúng cũng là những thách thức lớn đối với Đạo Phật và ...