QUÁCH TẤN VÀ THƠ MỚI

Quách-Giao

 

 

Thơ cũ, thơ mới…

 

Thời tiền chiến (1930-1945) phong trào thơ mới đă nổi lên một cách rầm rộ. Thơ cũ vẫn có mặt trên thi đàn song có phần kém thế.

Quan niệm về thơ cũ lúc bấy giờ là thơ cũ thiên về lư trí, Một số nhà thơ cũ nặng t́nh đất nước đă dùng văn chương vào việc tuyên truyền đạo đức, giáo dục quần chúng yêu thương ṇi giống. Một số dùng thơ để gởi gắm tâm sự, bày tỏ nổi ḷng với thời cuộc. Số trước tích cực, số sau tiêu cực. Thơ bên kia th́ giọng chát, thơ bên này th́ giọng sầu. Các cụ Phan Bội Châu, Huỳnh thúc Kháng là đại diện cho lớp thi nhân ái quốc có thơ đăng trên các báo Tiếng Dân, Tràng An v.v…

Các nhà thơ như Đông Hồ, Tương Phố th́ sướt mướt với  Giọt Lệ Thu, Linh Phượng. Ngoài ra c̣n rất nhiều thơ phú xướng họa cùng nhau  bằng những vần thơ Đường luật bằng những tiểu xảo học được của cổ nhân trong vấn đề thù tạc.

Trước t́nh trạng bế tắc của t́nh h́nh chính trị trong thời gian ấy tâm hồn của  những người đọc thơ cần đến một bầu trời khoáng đạt của ḷng con người trong khi bên trời Âu đă rộng mở một không khí văn học tục gọi là Lăng Mạn. Tầng lớp thanh niên và người thức thời đă nhận thức được luồng gió mới này nên thơ mới đă bắt đầu lộ diện  Năm 1932 bài thơ T́nh già của cụ Phan Khôi đăng trên báo Phụ Nữ Tân Văn với những bài diễn đàn đả phá thơ cũ coi thơ cũ v́ bị câu thúc bởi niêm luật nên mất  chơn chất và ông đă đề ra một lối thơ “ đem ư thật có trong tâm khảm ḿnh tả ra bằng những câu có vần không theo niêm luật ǵ hết  và ông tạm mệnh danh là thơ Mới”.

Một số đông thanh niên bổng thấy mở ra một  góc trời v́ cái táo bạo dấu diếm của ḿnh đă được một bậc đàn anh trong văn giới cổ xúy. Những bài thơ mới có tên như Trên Đường Đời, Đời Vắng Khách Thơ của hai nhà thơ Lưu Trọng Lư, Thanh Tâm đặc sắc hơn cả. Báo chí lại rầm rộ đăng thơ mới và  tờ báo Phong Hóa bắt đầu từ năm 1932 không đăng thơ cũ lẫn thơ mới tuy lại có bài công kích thơ cũ. Đến năm 1933 tờ Phong Hóa luôn luôn đăng thơ mới của các nhà thơ Thế Lữ, Vũ Đ́nh Liên, Huy Thông, Lưu trọng Lư v.v…

Tháng 7 năm 1933 người đàn bà đầu tiên lên diển đàn hôị Khuyến học ở Sài G̣n hết sức tán dương thơ mới. Đó là nữ sĩ Nguyễn thị Kiêm. Những thi sĩ có tài lần lượt xuất hiện như Thế Lữ, Lưu trọng Lư, Huy Thông, Nguyễn nhược Pháp, Thái Can v.v.. Và thơ cũ đă phản ứng như thế nào ? Liên tiếp từ năm 1933 đến 1941  các ông Tân Việt (bỉnh bút báo Công Luận ), nhà thơ Tản Đà, Nguyễn văn Hạnh, Tường Vân, Phi Vân, Thái Phỉ và Huỳnh thúc Kháng lên diển đàn chỉ trích và mạt sát thơ mới.. Cuộc tranh luận kéo dài trên 10 năm.

 

Thơ mới với Hàn Mặc Tử và Bich Khê

 

Trong gịng thi ca thời ấy đă có nhiều thi sĩ ban đầu đều là nhà thơ cũ và trước phong trào thơ mới dâng cao đă rời quê hương cũ của  ḿnh đi về phương trời thơ mới. Như thi sĩ Hàn Mặc Tử là một. Từ năm 1930 với biệt hiệu là Minh Duệ Thi, Lệ Thanh, Phong Trần, thi nhân đă được nổi danh với các bài thơ Đường như Thức Khuya, Chùa Hoang, Gái ở Chùa đă từng được cụ Phan Bội Châu ngợi khen trên báo. Hàn Mặc Tử bước vào làng thơ cũ năm 1930 và đến năm 1936 lại nổi danh  trong địa hạt thơ mới với tập thơ Gái Quê.

Nhà  thơ thứ hai đă bỏ cũ theo mới là nhà thơ Bích Khê. Bích Khê đă nổi danh trong làng thơ cũ từ thủa thiếu thời trên báo Tiếng Dân, Phụ Nữ Tân Văn. Đến năm 1937, khi làm quen với Hàn Mặc Tử nhà thơ mới chuyển hướng theo gịng thơ mới. Năm 1939 tập thơ Tinh Huyết ra đời được Hàn Mặc Tử viết tựa. Cả hai nhà thơ Hàn Mặc Tử và Bích Khê đều là bạn thân với thi sĩ Quách Tấn. Cả ba đều nổi danh trong lănh vực thơ Đường. Nhưng cả hai bạn đă từ giả làng thơ Đường ra đi và chỉ c̣n lại một ḿnh nhà thơ Quách Tấn …

Sự thân t́nh trong bè bạn, trong văn học đă làm cho chúng ta  có một vài thắc mắc là họ có chịu ảnh hưởng với nhau trong văn thơ hay không ? Giữa Hàn Mặc Tử và Bích Khê chúng ta đă thấy rơ. C̣n Quách Tấn th́ như thế nào ? Quách Tấn có chịu ảnh hưởng về thơ mới như các bạn thân của ḿnh không? Lẽ tất nhiên là có.

 

Quách Tấn và Hàn Mặc Tử

 

Trước tiên là với Hàn Mặc Tử :

Hàn Mặc Tử và Quách Tấn quen nhau tử năm 1931 và gặp nhau tại Đà Lạt năm 1933. Trong dịp gặp nhau này Quách Tấn đă ghi vào hồi kư Bóng Ngày Qua :

Tối đến tôi đưa Tử đi dạo. Dạo cảnh ĐaLạt lúc ban đêm cũng là một kỳ thú. Những con đường quanh co, khi lên cao, khi xuống thấp, nhiều khi đường chồng lên nhau. Lắm nơi đứng xa mà trông thấy như những cuộn vải đen giăng lơ lửng trên đọt cây. Đèn điện lẫn lộn cùng sao, trên cao có, dưới thấp có,, chổ th́ chói lọi giữa không, chổ th́ khép nép trong cành lá. Mùi nhựa thông ban đêm bay ngát cả không khí. Thỉnh thoảng mùi hoa Mimôsa, mùi hoa Viôlét trộn lẫn vào nhau tạo thành một hương vị đặc biệt, hít vào thấy nhẹ cả toàn thân.

Tử nắm tay tôi đi từng bước một, không nói không rằng.

Đến bờ hồ nh́n xuống mặt nước, chúng tôi mới nhớ là đêm trăng! Mặt hồ lóng lánh. Và vầng trăng dưới nước trông sáng gấp mấy lần vầng trăng ở trên mây. Tử nói :

- Cứ xem bóng trăng cũng biết hồ Đa Lạt trong đến ngần nào.

Tôi tiếp :

- Theo tôi chỉ có nước hồ Đa Lạt và nước sông Hương mới đáng gọi là nước. Nước ở các sông các hồ, dù trong đến đâu, dù sâu đến đâu, sắc xanh cũng có phần lợt lạt. Duy chỉ có nước hồ Đa Lạt và nước sông Hương là đượm đà màu nước biển. Ai đă từng nh́n đôi mắt của người đẹp Ấn Độ- đôi mắt xanh như ngọc và xa thăm thẳm như ṿm trời ngày thu- th́ mới tin lời nói của tôi không huyển hoặc. Và muốn thấy  rơ cái đẹp của nước hồ Đa Lạt th́ phải đến ngắm lúc ban trưa khi tạnh trời.

Tử trầm ngâm hố lâu rố nói :

- Không có cảnh th́ khó có thơ, mà đứng trước cảnh đẹp quá, thơ nghĩ cũng không ra được.

   -Theo tôi không phải cảnh quá đẹp mà thơ không dám ra. Đó là v́ đứng trước cảnh đẹp cũng như đứng trước t́nh đẹp, người thơ mắc lo tận hưởng cái đẹp của t́nh của cảnh, tâm trí đâu mà nghĩ đến thơ. Hơn nữa người thơ chỉ làm thơ trong khi thiếu thốn. Mà t́nh kia cảnh kia đă quá đủ cho tâm hồn ôm ấp, th́ người thơ c̣n thiếu thốn ǵ nữa mà làm thơ ?

Tử vổ tay tán thưởng.

Chúng tôi đang nói chuyện th́ dường như có một luồng sáng từ trong hồ bay ra  và thoáng nhẹ ở trước mắt. Chúng tôi chú mục:  một đám sương lớn bằng một chiếc chiếu chơng, nổi lềnh bềnh  trên mặt hồ. Sương môĩ lúc một vương cao và lan rộng, phản chiếu ánh trăng sáng rực cả bốn bên. Trong phút chốc, mặt hồ bị khuất hẳn và trước mặt chúng tôi, nổi lên một ngọn “núi bông g̣n” trắng phau và sáng ánh. Rố một ngọn gió thổi nhẹ, sương ùn ùn tỏa ra khắp nơi…cuốn cả trời đất muôn vật. Chúng tôi không c̣n thấy ǵ, ngoài ánh sáng. Đến nổi chúng tôi đứng sát bên nhau mà chúng tôi cũng không thấy rơ được nhau.

Chúng tôi có cảm giác trời đất đă tan thành thủy tinh và chúng tôi đang đứng giữa hư vô…Sương bay thắm má và một luồng hơi ấm tỏa khắp châu thân, gây một cảm khoái d́u dịu. Tôi nói khẽ cùng Tử :

- Ḿnh đương ch́m vào mộng hay mộng đang lắng vào ḿnh?

- Hư thực phân biệt làm sao được ! Nhưng chớ nói nhiều.. Hăy lắng nghe…Dường như có tiếng th́ thầm từ đáy hồ vọng đến, Tôi không mơ đâu nhé ! Hăy lắng nghe…

Đứng tựa lan can cầu trước dinh Quản Đạo, chúng tôi nắm chặc tay nhau. Rố sương tan dần và mặt trăng sáng trở lại. Tử nói :

- Cảnh thật huyền mơ! Tiếng ḷng lẫn cùng tiếng tạo vật! Con người ḥa hẳn vào thiên nhiên!

Trời đă khuya, nhưng  c̣n tiếc cảnh chúng tôi đứng tựa vào lan can cầu. Sương thấm ướt cả áo, nhưng chúng tôi không thấy lạnh. Bổng một ngọn gió thổi, chúng tôi rùng ḿnh ớn lạnh. Chúng tôi bèn dắt nhau đi nhanh về nhà …

 

Trăng trên Hồ xuân hương Đà lạt,

link:  http://dulich-dalat.com/ho-xuan-huong-trai-tim-cua-xu-so-suong-mu-1499.html

 

 

Kỷ niệm đêm trăng này Hàn Mặc Tử đă sáng tác bài

 

 ĐÀ LẠT TRĂNG MỜ

 

Đây phút thiêng liêng đă khởi đầu

Trời mơ trong cảnh thật huyền mơ

Trăng sao đắm đuối trong sương nhạt

Như đón từ xa một ư thơ.

 

Ai hăy làm thinh chớ nói nhiều

Để nghe dưới đáy nước hồ reo

Để nghe tơ liễu run trong gió

Và để xem trời giải nghĩa yêu.

 

Hàng thông lấp loáng đứng trong im

Cành lá in như đă lặng ch́m

Hư thực làm sao phân biệt được

Sông Ngân Hà nổi giữa màn đêm

 

Cả trời say nhuộm một màu trăng

Và cả ḷng tôi chẳng nói rằng

Không một tiếng ǵ nghe động chạm

Dẫu là tiếng vở của sao băng.

 

Và Quách Tấn cũng có bài thơ :

 

ĐÀ LẠT ĐÊM TRĂNG

 

Bóng trăng lóng lánh mặt hồ im

Thời khắc theo nhau lăi răi ch́m

Đứng tựa non cao bờ suối ngọc

Hồn say nhè nhẹ mộng êm êm

 

Một làn sương bạc bổng từ mô

Lẻn cuốn vừng trăng cuốn mặt hồ

Cuốn cả non sao bờ suối ngọc

Người lơ lửng đứng giữa hư vô

 

Trời đất tan ra thành thuỷ tinh

Một bàn tay ngọc đẩm hương trinh

Âm thầm mơn trớn bên đôi má

Hơi mát đê mê chạy khắp ḿnh.

 

Đọc được bài thơ của Quách Tấn, Hàn Mặc Tử đă viết thư khuyến khích Quách Tấn nên đi theo con đường thơ mới như hai bạn. Nhưng Quách Tấn đă khước từ.

Năm 1939 Quách Tấn gặp một bạn gái là LiênTâm và dấu không cho Hàn Mặc Tử biết. Và sau khi biết được nhà thơ họ Hàn đă gởi cho nhà thơ họ Quách một bài Đường luật :

 

Trường Xuyên ơi ! Trường Xuyên ơi !

Viết chẳng nên câu nói nghẹn lời

Mây nước bao la t́nh vắng lặng

Khói mây mờ mịt  nhớ chơi vơi

Tương tư mộng thấy năm canh mộng

Luyến ái trời vương bốn phía trời

Ta nhớ ta thương ḿnh tệ quá

Có ai khăng khít lại quên ai !                           

 

Bài thơ có hai câu khởi và hai câu kết  ư rất mới cùng với cách dùng từ thoát ra ngoài khuông khổ của một bài thơ Đường luật. T́nh của tác giả ở đây đă bộc lộ “cái tôi” riêng tư mà  các nhà thơ mới đương thời thường hay sử dụng.  Chính  thi nhân  Hàn Mặc Tử đă viết trong bài thơ nhan đề  Một Nửa Trăng :

 

Hôm nay có một nửa trăng thôi

Một nửa trăng ai cắn vở rố

Ta nhớ ḿnh xa thương đứt ruột

Gió làm nên tội buổi chia phôi.

 

Bài thơ Đường Gởi Trường Xuyên tứ mới t́nh đậm đà nên đă gợi hứng cho nhà thơ Quách Tấn nhân một buổi trưa nằm mộng thấy Hàn Mặc Tử lúc ấy đang lâm trọng bệnh ở Qui Nhơn. Thấy bạn đă phục hồ́ sức khỏe nên vội gởi  thơ mừng. Bài thơ này đă từng có nhiều nhà phê b́nh thơ nhầm lẫn là thơ làm sau khi Hàn Mặc Tử mất  cho nên phê b́nh là  không phải là bài thơ khóc bạn mà là một bài thơ mừng bạn. Đó là bài thơ Mộng Thấy Hàn Mặc Tử:

 

Ơi Lệ Thanh ! Ơi Lệ Thanh

Một giấc trưa nay lại gặp ḿnh

Nhan sắc châu pha màu phú quí

Tài ba bút trổ nét tinh anh

Rượu tràn thu cũ say sưa chuyện

Hương tạ trời cao bát ngát t́nh

Tôi khóc tôi cười vang cả mộng

Nhớ thương đưa lạc gió qua mành.

 

Bài thơ cũng có  hai câu kết mang đầy thi vị và sắc thái của một bài thơ mới:

 

Tôi khóc tôi cười vang cả mộng

Nhớ thương đưa lạc gió qua mành

 

Hai câu thơ nằm trong khuông khổ của một bài thơ Đường  đă làm cho nhà phê b́nh văn học Hoài Thanh nêu lên một thắc mắc: “Quách Tấn có thực  không bao giờ mơ tưởng bạn phương xa ( ư nói đến  thơ mới )”.

 

Nhà thơ Đường cuối cùng  của Việt Nam.

 

Trong những bài thơ Đường của Trung Quốc, của Việt Nam chưa hề có một bài thơ nào, một câu thơ nào đưa ra trên bài thơ cái tôi, cá nhân cùng với sự thổ lộ t́nh cảm nồng thắm tự nhiên như thế ngoại trừ các nhà thơ mới. V́ vậy nên trong cuốn Thi Nhân Việt Nam của Hoài Thanh khi b́nh luận “Một thời đại trong thi ca Việt Nam” tác giả đă viết về Quách Tấn :

Cảm được ḷng người đàn bà khó ch́u kia (thơ Đường ) họa chỉ có Quách Tấn. Mối lương duyên gây  nên  từ Một Tấm Ḷng đến Mùa Cổ Điển th́ thực đằm thắm. Mùa Cổ Điển gồm cả cái giàu sang của Thái Can, Leiba, súc tích lại trong một khuông khổ rắn chắc. Nhưng Quách Tấn có thực là một nhà thơ cũ hoàn toàn ? Có thực Quách Tấn không bao giờ mơ tưởng bạn phương xa.

Ngay từ năm 1941 nhà phê b́nh văn học nổi tiếng Hoài Thanh đă nh́n thấy cái mới trong nhà thơ Đường cuối cùng  của Việt Nam này.

Tuy nhiên sau này trong thơ Quách  Tấn  tràn đầy những bài thơ, t́nh mới, ư mới và thể thơ cũng mới nữa. Đó là các bài thơ trong các tập Mộng Ngân Sơn, Giọt Trăng và nhất là trong các tâp thơ lục bát Trăng Hoàng Hôn, Nhánh Lục, Dàn Hoa Lư, Nửa Rừng Trăng Lạnh v.v…

 

Như trong Mộng Ngân Sơn :

Chiều đọng nhánh mồ côi

Nh́n chim sâu đút mồi

Nhớ thương tràn gió lạnh

Làng cũ bóng mây trôi.

(Nhánh Chiều )

 

Và :

Bên ḍng khe nước trong

Cây măng ṿi cong cong

Lắc lư chim chèo bẻo

Trên nền trời rạng đông.

(Rạng Đông )

 

Như trong Giọt Trăng

 Chim chiều kêu trước dậu

Gối sách nh́n hư không

Phơi phới làn mây trắng

Bay qua ngọn ráng hồng.

 (Hư Tâm )

 

Và:

Cành sương thơm sắc lá

Nắng đọng ḷng chim ca

Ngh́n trước thu đang trái

Ngh́n sau xuân đă qua.

( Cành thơm )

 

Như trong Trăng Hoàng Hôn :

Xa nhau ḷng chẳng hẹn ḥ

Nhớ nhau trở lại bến đ̣ năm xưa

Chuồn chuồn mặt nước điểm sưa

Hoa lau nở trắng đôi bờ tịch liêu.

( Bến đ̣ năm xưa)

 

Và :

 

Hừng đông nối bóng trăng tà

Tiếng chim mát mẽ màu hoa ngọt ngào

Duyên trần đă tỉnh chiêm bao

C̣n nghe bước sóng ra vào bến xưa

(C̣n Nghe )

 

Và trong Nhánh Lục :

 

Tuổi già ngủ ít nghĩ nhiều

Nôĩ nhà nôĩ nước lắm điều thương tâm

Thâu đêm sùi sụt mưa dầm

Đầy chăn nước mắt cố cầm vẫn tuôn.

( Đêm Đông )

 

 

Một ḿnh gác trọ chon von

Đêm nằm thương nhớ vợ con năo nùng

Chập chờn theo ngọn đèn chong

Canh gà dục sáng tiếng trùng ngâm thu

Quê nhà xa cách bấy lâu

Ḷng thơ úa mộng trái sầu trổ hoa

Thẹn thùng mang tiếng tài ba

Trăm năm sự nghiệp nghĩ mà ích chi.

( Một Ḿnh Gác Trọ )

 

Và trong Giàn Hoa Lư :

 

Qua canh mưa gió sụt sùi

Trở nghiên gối mộng ḿnh vui với ḿnh

Chung trà hớp vị b́nh minh

Giàn hoa lư nở ngọt t́nh cố viên.

(Giàn Hoa Lư)

 

Lo buồn nghỉ chẳng ích chi

Đời c̣n vui được ta th́ cứ vui

Một mai ba tấc đất vùi

Trần gian để lại nụ cười cho hoa.

(Một Mai )

 

Và trong Nửa Rừng Trăng Lạnh :

 

Nhớ em !

Mười sáu tháng năm

Mười sáu tháng bảy

Anh tầm thăm em

Trăng khuya lờ rạng bóng thềm

Xa xa mấy tiếng chim đêm ngập ngừng

Gặp nhau nửa tủi nửa mừng

Nửa e tai vách mạch rừng khổ nhau

Thà đừng nghĩa trước t́nh sau

Yêu nhau chi tội ḷng nhau hỡi ḷng

Miệng đời rằng đục rằng trong

Đục trong ḷng biết cho ḷng thời thôi

Yêu nhau trót đă lỡ rố

Đành cam cay đắng với đời biết sao

Đắng cay đổi chút ngọt ngào

Lạnh lùng hứng giọt nắng đào chiều thu

Ḷng nhau ấp ủ lấy nhau

Lời nguyền sau trước trước sau một lời

Hai đêm mười sáu em ơi

Hai đêm mười sáu suốt đời không quên

V́ t́nh mà xuống mà lên

Đường đi cách suối ngăn ghềnh quản bao.

(Hai đêm mười sáu)

 

Riêng trong 2 tập thơ xuất bản vào  thời gian thơ mới thịnh hành là Một Tấm Ḷng và Mùa Cổ Điển cũng đă chứa đựng nhiều t́nh thơ ư thơ đầy chất thơ mới.   Trong bài thơ Đây Thôn Vỹ Dạ  Hàn Mặc Tử có câu :

 

Gió theo lối gió mây đường mây

Gịng nước buồn thiu hoa bắp lay

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay.

Link:  http://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/gioi-sao/trong-nuoc/kieu-nu-trong-bai-tho-day-thon-vi-da-1882413.html

 

Th́ Quách Tấn lại để t́nh ḿnh vào  trong bài Bên Sông :

 

Gió rủ canh đi ngàn liễu khóc

Sông đừa lạnh đến bóng trăng run

Thuyền ai tiếng hát bên sông vắng

Ghé lại cho nhau gởi chút buồn.

 

Một bên mong cho “thuyền  ai đậu bến  sông trăng  đó có chở trăng về cho kịp tối nay”. Một bên th́ đă có sẳn trăng rồi song vẫn c̣n buồn và mong cho thuyền bên kia sông đang vang vọng tiếng hát “ghé lại cho nhau gởi chút buồn”.

Sở dĩ thơ Đường của Quách Tấn chống chỏi được với thơ mới  và bền vững với thời gian là v́ Quách Tấn đă kết hợp được cái vi tế của thơ Đường với cách dùng chữ dùng ư và nhất là cái chất thơ của ḷng thi nhân ḥa hợp với sự thay đổi của thời đại. Thi nhân đă nói lên được  tấm ḷng của người  không cha mẹ :

Cảnh có núi sông nhiều thú lạ

Đời không cha mẹ ít khi vui.

 

Th́ dù là thơ mới hay thơ cũ lời thơ cũng quyến được ḷng người.

Quách Tấn đă thành công trong việc đưa thiên nhiên vào trong thơ một cách tự nhiên ḥa lẫn cùng với tâm hồn và t́nh cảm của con người. Như trong bài Về Thăm Quê :

 

Côị tùng bóng ngă sương rơi lệ

Ngơ trúc mây che cuốc dục sầu

 

Cũng như trong bài Trơ Trọi :

             Sầu mong theo lệ khôn rơi lệ

Nhớ gởi vào thơ nghĩ tội thơ

 Mưa gió canh dài ngăn lối mộng

Bèo mây bến cũ  quyện ḷng tơ.

 

 khép lại sự tranh chấp mới cũ của một thời đại trong thi ca Việt Nam”.

 

Trong vấn đề tư tưởng, khi nhận thức được lẽ tuần hoàn của vũ trụ, Quách Tấn đă chấp nhận  sự biến chuyển của thi ca theo gịng trào lưu tiến hóa nên nhà thơ không phản ứng cũng như không theo ḍng mà lại ḥa đồng cùng với sự phát triển tích cực ấy. Các nhà thơ như Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Đông Hồ v.v.. đă tuân theo luật tiến triển của thơ ca  từ bỏ thơ cũ theo thơ mới và đă có một địa vị trong thơ ca Việt Nam. Riêng  nhà thơ Quách Tấn vẫn giử cho ḿnh thể thơ Đường luật song đă làm phong phú thêm về h́nh thức lẫn nôị dung với lời thơ trau chuốt, ư thơ giàu sang và đă được Văn học sử Việt Nam dành cho một chổ ngồi trên Tao Đàn . Nhà thơ  không lên tiếng trên thi đàn để bên vực cho thơ cũ cũng như không bài xích thơ mới mà chỉ lặng lẽ phát huy cái cao đẹp của thơ Đường và ḥa hợp những cái  mới có ích cho thơ Đường của những  ḍng thơ mới. Bằng hai tác phẩm Một Tấm ḶngMùa Cổ Điển nhà thơ Quách Tấn đă “khép lại sự tranh chấp mới cũ của một thời đại trong thi ca Việt Nam”. Những ngừời yêu mến thơ Đường vẫn t́m được hứng thú trong thơ Quách Tấn. Những người thích cái mới trong thơ mới vẫn t́m được hương vị nồng thắm  mới mẻ trong thơ Quách Tấn. Trong bài tựa của tập thơ Một Tấm Ḷng  thi sĩ Tản Đà đă đặt  thơ Quách Tấn ngang với thơ của  Yên Đổ , Hồ Xuân Hương , Bà Huyện Thanh Quan. Nhà thơ mới Chế Lan Viên đă  viết báo thừa nhận thơ của Quách Tấn có những câu thơ đẹp nhất trong những câu thơ đẹp  nhất Việt Nam. Hoài Thanh cũng đă viết: “Quách Tấn đă t́m được những lời thơ rung cảm chúng ta một cách thấm thía. Người đă thoát hẳn cái lối chơi chữ nó vẫn là môn sở trường của nhiều người trong làng thơ cũ.(Một thời đại trong thi ca Việt Nam)

Thơ của Quách Tấn gồm được cái uyên thâm, trong sáng của thơ  Đường, cái giản dị hồn nhiên của ca dao Việt Nam và những rung cảm thiết tha của thơ mới. Thi nhân là sự ḥa hợp trọn vẹn giữa  thơ cũ và thơ mới.

 Và để kết lại bài nói chuyện này tôi xin được đọc một bài thơ giản dị song cũng đầy hương vị thơ đọng trong t́nh cảm ḥa sống với thiên nhiên của nhà thơ :

 

Sân mận chiều nay hoa rụng đầy

Hương sầu theo gió chập chờn bay

Em ơi đừng quét em đừng quét

Anh chỉ yêu hoa những phút này.

           (Sân Mận)

Bài thơ đă nói lên tấm ḷng ḥa hợp giữa ngườI và thiên nhiên ( cảnh vật ), một t́nh yêu thiên nhiên không phân biệt giữa lúc hoa đang nở trên cành và lúc hoa đă héo tàn và rơi rụng..Đây là một t́nh yêu thiên nhiên rộng mở nơi mag tấm ḷng thi nhân đă xem thiên nhiên như một đốI tác thân thương, hoa và người là một.

 Nhà thơ Quách Tấn  và thơ mới cũng như QuáchTấn với thiên nhiên v́ Quách Tân là một nhà thơ có phong vị của một nhà thơ Đường có kỷ thuật tinh vi của một  nhà thơ Đường đă ḥa hợp được cái cũ và cái mới cũng như đă ḥa lẫn thiên nhiên với con người.

 

Quách-Giao

 

*  *  *

 

 

Theo Wikipedia, những tác phầm của tác giả Quách Tấn gồm:

Thơ

· Một tấm ḷng: tập thơ, 1939, gồm hai phần chính và một phần phụ lục, có lời "Tựa" của Tản Đà, lời "Bạt" của Hàn Mặc Tử.

· Mùa cổ điển: tập thơ, 1941.

· Đọng bóng chiều: tập thơ, gồm 108 bài thất ngôn tứ tuyệt, Kim Lai ấn quán in năm 1965.

· Mộng Ngân sơn: tập thơ, gồm 135 bài ngũ ngôn tứ tuyệt, Nhà xuất bản Hoa Nắng (Paris) ấn hành năm 1966.

· Giọt trăng: tập thơ, gồm 60 bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt, Nhà xuất bản Rừng Trúc (Paris) ấn hành năm 1973.

· Trăng hoàng hôn: tập thơ, gồm 60 bài thơ lục bát tứ tuyệt, Nhà xuất bản Trẻ ấn hành năm 1999.

· Tuyển tập thơ Quách Tấn: do Quách Giao (con trai ông) tuyển chọn, Nhà xuất bản Hội Nhà Văn ấn hành năm 2006.

Ngoài ra ông c̣n 13 tập thơ chưa xuất bản.

 

Văn

· Trăng ma lầu Việt: gồm 2 tập, viết phỏng theo Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ đời Hậu Lê. Tập 1 xuất bản năm 1943. Năm 1947, viết thêm tập 2. Năm 2003, Nhà xuất bản Thanh Niên in chung thành một quyển.

· Nước non B́nh Định: tập địa phương chí B́nh Định, Nam Cường xuất bản năm 1968. Nhà xuất bản Thanh Niên tái bản năm 1999.

· Xứ Trầm hương: tập địa phương chí Khánh Ḥa, Nhà xuất bản Lá Bối ấn hành năm 1970.

· Đời Bích Khê: tập hồi kư của Quách Tấn viết về cuộc đời và thơ của thi sĩ Bích Khê. Nhà xuất bản Lửa Thiêng ấn hành năm 1971.

· Đôi nét về Hàn Mặc Tử: in trong Bán nguyệt san Văn số 7, Sài G̣n, 1967; in lại trong Hàn Mặc Tử - hôm qua & hôm nay, Nhà xuất bản Hội Nhà Văn, 1996.

· Họ Nguyễn thôn Vân Sơn (1988)

· Nét bút giai nhân (1988)

· Bước lăng du: giới thiệu danh lam, thắng tích từ Huế đến Ninh Thuận, Nhà xuất bản Trẻ ấn hành năm 1996.

· Thi pháp thơ Đường: gồm 26 bức thư và một bài tựa "Chút ḷng" gởi cho các bạn trẻ yêu thích thơ Đường, Nhà xuất bản Trẻ ấn hành năm 1998.

· Bóng ngày qua: hồi kư của Quách Tấn dày trên 2.000 trang đánh máy, xếp thành 10 tập. Đă xuất bản được các tập: Đời văn chương (1998), Bàn thành tứ hữu (2001), T́nh thầy bạn (2003), Trường Xuyên thi thoại (2000), Những mảnh gương xưa (2001), Hương vườn cũ (2007), Nguồn đạo trong thơ văn (2007),...

Ngoài ra ông c̣n 20 tập văn chưa xuất bản.

 

Thơ văn dịch

·  Lữ Đường Thi tuyển dịch: tuyển dịch 56 bài thơ chữ Hán của Thái Thuận, một danh sĩ triều Hậu Lê. Trong tập c̣n có bài tổng luận về cuộc đời và sự nghiệp văn chương của vị thi sĩ này. Nhà xuất bản Văn Học ấn hành năm 2002.

·  Tố Như thi: tuyển dịch 72 bài thơ chữ Hán của thi hào Nguyễn Du. Nhà xuất bản An Tiêm ấn hành năm 1973. Năm 1995, Nhà xuất bản này tái bản tại Paris.

·  Ngục trung thư : dịch tập thơ chữ Hán Nhật kư trong tù của Nguyễn Ái Quốc (?). Mặc dù chưa in, song một phần lớn thơ dịch đă được đưa vào Hồ Chí Minh toàn tập xuất bản năm 2000.

·  Ngh́n lẻ một đêm (4 tập, 1958)

 

Viết chung

Ông viết chung với con trai là Quách Giao các tập:

· Nhà Tây Sơn (xb năm 1988, được tái bản nhiều lần)

· Vơ nhân B́nh Định (Nhà xuất bản Trẻ ấn hành năm 2001)

· Đào Tấn  Hát bội B́nh Định (xb năm 2007)...[3].

 Link:  https://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%C3%A1ch_T%E1%BA%A5n