NGUYỄN  DU  QUA  ĐẤT CŨ

 

Triệu Đà
 

 

TS. Phạm Trọng Chánh
 

 

                Năm 1813, Nguyễn Du đi qua cửa Nam Quan  từ ngày 6-4 ( năm Quí Dậu Âm Lịch)  đến vùng đất cũ  của Triệu Vũ Đế tức Triệu Đà. Năm 297tr TL, Triệu Đà đánh  thắng An Dương Vương sát nhập Âu Lạc vào quận Nam Hải, Triệu Đà đă thống nhất các  dân tộc Bách Việt vùng Lĩnh Nam, từ lâu đời có chung  tiếng nói, phong tục : trồng lúa nước, con trâu, cái cày, nón lá, ăn trầu, xâm ḿnh, làng mạc có lũy tre làng, có đ́nh làng, có phong tục riêng phương Nam.. Triệu Đà xưng Đế hiệu, liên minh với các Lạc Hầu, Lạc Tướng xưng Vương tự trị rộng răi, thành lập một nước gọi Nam Việt tồn tại từ năm 207 trTL đến 111 trTL, 96 năm trải qua 5 triều vua. Đất Nam Việt bao gồm vùng Quảng Đông, Quảng Tây, một phần Vân Nam, Quư Châu và miền Bắc nước ta đến Nghệ Tĩnh, đóng đô tại Phiên Ngung nay là Quảng Châu. Triệu Đà là người đầu tiên xưng Đế hiệu độc lập với nhà Hán, quy tụ dân tộc Bách Việt một lănh thổ rộng lớn. Dù ngày nay một phần lớn lănh thổ đó không c̣n nữa, nhưng nền độc lập gần trăm năm,  nó cũng là một mốc lớn lịch sử Nam Việt, nước  Nam độc lập với phương Bắc, c̣n để lại những di chỉ  khảo  cổ phong phú, những ngôi mộ cổ quy mô với hàng ngàn hiện vật vàng, ngọc, đồng đá.


                 Triệu Đà người đời Tần đến đầu thời Hán, thời đại này chưa có khái niệm dân tộc Hán. Triều Hán do Lưu Bang thành lập, phải trải qua bốn trăm năm đồng hóa các dân tộc khác biệt, người Trung Hoa mới  tự nhận ḿnh là người Hán.  Từ triều Hán khởi đầu  việc  thống nhất về chữ viết Hán tự, c̣n gọi là chữ Nho cho các việc quan, ‘ quan thoại ‘ v́ vùng này sang vùng khác, tiếng nói phát âm khác biệt không hiểu nhau. Tiếng Quảng Đông, Hải Nam, Tiều Châu, Phúc Kiến, Bắc Kinh.. thời Triệu Đà, Trung Quốc có hơn hàng trăm  tiếng nói dân tộc khác biệt. Chữ Nho xuất phát có lẽ từ vùng nước Ngô thời Xuân Thu Chiến Quốc, người Nhật Bản gọi chữ Nho là Ngô tự; khi nước Việt bị Sở diệt, một bộ phận dân cư Việt của Câu Tiễn  đă di cư sang Nhật Bản. Cũng như các dân tộc thời chưa có chữ viết, người Việt Nam dùng chữ Nho,  tiếng Hán Việt trong việc quan, đ́nh, chùa, dần dà để phiên âm những tên người, tên đất những phát âm không có trong chữ Hán, mới h́nh thành chữ Nôm.. Nền học vấn nước ta từ thời Sĩ Nhiếp được tôn là ‘Nam Bang học tổ’, cho đến năm 1918, là năm cuối cùng bỏ kỳ thi Hương, suốt hai ngàn năm  đều dùng chữ Hán, cả một kho tàng văn hóa Việt Nam các sáng tác đều dùng chữ Nho, chữ Nôm chỉ là phần phụ thuộc..

 

 

 

Bản đồ nước Nam Việt,

link:  https://vi.wikipedia.org/wiki/Tri%E1%BB%87u_V%C5%A9_V%C6%B0%C6%A1ng

 

 

Giao Châu, Luy Lâu ( Bắc Ninh) thời Tam Quốc loạn lạc  là một nơi thanh b́nh, chùa chiền san sát, giới sĩ phu Trung Quốc sang tị nạn, nhà sư Tây Trúc dừng chân,  nơi đây trở thành  nơi tập trung việc  dịch Kinh Phật và nghề làm giấy và in kinh. Phương  nam biết làm giấy trước, trong khi tại Sơn Tây quê hương đạo Khổng  c̣n chép Tứ Thư, Ngũ Kinh trên thẻ tre, thanh sử.  Các sứ thần nước ta ngày xưa, khi tiếp xúc, hay xướng họa thơ  với các quan Trung Quốc, Triều Tiên, Lưu Cầu Nhật Bản  phải dùng bút đàm, hay qua người thông dịch. Thi hào Nguyễn Du từng có ba năm đi giang hồ Trung Quốc (1787-1790)  nói được thông thạo, đó là nguyên nhân Nguyễn Du, tri huyện Thường Tín,  được đề cử tiếp  sứ nhà Thanh, Tề Bồ Sâm năm 1803 sang phong vương vua Gia Long  và làm Chánh Sứ năm 1813. Cụ Phan Bội Châu đầu thế kỷ 20 khi tiếp xúc với các nhân sĩ Trung Hoa, Nhật Bản thường dùng bút đàm.
 

                 Thời Xuân Thu Chiến Quốc, Thất Hùng, bảy nước lớn vừa được Tần đánh chiếm năm 221 TCN, sự phản kháng chống đối các nước khác tiếng nói,  c̣n dữ dội, những trận chiến đẩm máu : tướng Bạch Khởi giết 400 ngàn hàng binh nước Triệu, hay Hạng Vũ giết 200 ngàn hàng binh nhà Tần trên một địa bàn  lănh thổ dân số khoảng 20 triệu người, th́ thật là kinh hoàng, chưa mờ phai trong kư ức thời ấy. Do đó không thể lấy nguồn gốc dân tộc Hán áp đặt lên một nhân vật có trước đời Hán. Việc Triệu Đà thành lập một quốc gia có chung một dân tộc Bách Việt có nhiều nhóm, chung tiếng nói, phong tục, không có nghĩa là người Hán cai trị Bách Việt.  Triệu Đà, có thuyết dựa trên thần phả  làng Đồng Xâm chép ông có tên Nguyễn Cẩn vốn ḍng dơi vua Hùng,  lấy vợ  Việt  làm hoàng hậu Tŕnh thị Lan Nương, người làng Đồng Xâm, tỉnh  Thái B́nh, ông đồng hóa với phong tục Việt, xưng ḿnh là người  Nam Di ,  sách sử Trung Quốc chép  ông là người  quê quán ở Chân Định, Hà Bắc. Làng Đường Xâm, hay Đồng Xâm tỉnh Thái B́nh hiện có đền thờ Triệu Đà, từng  có tên  Chân Định, là nơi  xuất phát nghề làm vàng bạc nổi tiếng nước ta. Thợ vàng bạc đi khắp nước Nam Bắc xưa và nay, qua cả Lào, Cam Bốt qua cả Pháp, Mỹ.. nhiều người  gốc từ làng này. Có lẽ nó có một mối quan hệ truyền thống từ đời Triệu Đà, qua những hiện vật vàng bạc rất phong phú trong các mộ cổ nhà Triệu ?

 

                Ngày xưa, người Việt Nam gọi tên người Trung Quốc tùy theo triều đại : Người Tống, người Minh Hương.. Người Ngô do nước Ngô thời Xuân Thu Chiến Quốc, nước Ngô của Ngô Phù Sai bị Việt Vương  Câu Tiễn diệt và sát nhập, trái ngô là trái bắp do  sứ thần họ Lương đời Lê mang về từ Trung Quốc. (Chẳng phải Ngô mà chẳng phải  ta . Thơ  truyền khẩu). Người  Trung Quốc tại Việt Nam cũng chỉ xưng ḿnh là người Hẹ (Hắc Ka - Hải Nam), người Tiều (Triều Châu), ngưởi Quảng Đông, người Phúc Kiến.. Người Tàu  chỉ mới xuất hiện đầu thế kỷ 20 do chiến tranh Trung Nhật hàng triệu người đi tàu vượt biển sang các nước Đông Nam Á. Trước đó  có chử giặc Tàu Ô,  cướp biển đi tàu mang cờ đen.

 


 

Bản đồ vùng đất Lĩnh Nam thời Trưng Vương (40-43 sau Công nguyên)

 

                 Nước Nam Việt có nhiều phong tục đẹp, sách Phong Thổ Kư  chép : Trong buổi sơ giao, hai bên làm lễ kết nghĩa thường có lời thề : Anh cỡi xe, tôi đội nón, khi gặp nhau sẽ xuống xe vái chào tôi. Anh cầm ô, tôi cỡi ngựa, khi gặp nhau sẽ xuống ngựa chào anh. Vạn sự biến đổi khôn lường, chớ v́ cỡi xe mà khinh kẻ đội nón. Đó là t́nh xe nón nước Việt. Thơ  Nguyễn Du bài Chí Hiên tặng, chép trong Lưu Hương Kư của Hồ Xuân Hương  có câu : Xe nón t́nh kia măi măi c̣n. Triệu Đà theo phong tục tốt đẹp nước Việt, có lẽ đă coi thường Lưu Bang, anh đ́nh trưởng sáng lập ra nhà Hán có thái độ vũ phu chưa biết lễ phép là ǵ : giật  mũ nón một Nho sĩ và đứng đái tồ tồ  lên trên : Ta cầm gươm, ngồi lưng ngựa mà được cả thiên hạ, ta há cần đến bọn  Nho sĩ. Phải đợi đến mưu sĩ Trần B́nh nhắc nhỡ : Bệ hạ ngồi lưng ngựa mà được cả thiên hạ, nhưng bệ hạ ngồi lưng ngựa mà trị nước được sao ? Lưu Bang mới tỉnh ngộ. Khi  sứ nhà Hán Lục Giả đi ngoại giao mà chỉ dỡ tṛ  hăm dọa : Lưu Bang sẽ nổi giận hủy hoại cả mồ mă, tổ tiên, giết hại hết thân thích Triệu Đà ở Chân Định. Triệu Đà đành tạm khuất phục v́ biết anh chàng Lưu Bang vũ phu này từng  nghi lễ uống huyết ăn thề  trịnh trọng, thề thốt ‘ sông cạn núi ṃn’  với các công thần hứa ban thưởng phong hầu, đất đai  truyền cho con cháu đời đời, thế mà sau đó lại phản bội giết hầu hết các công thần, như trường hợp Hàn Tín, khi lên thành công lên ngôi, tịch thâu hết đất đai phong hầu, tài sản, c̣n giết cả ba họ và xẻ thịt cho chó ăn. Triệu Đà hậm hực nói với Lục Giả : Tiếc thay ta không được khởi nghiệp ở nước Tàu, chứ không ta chẳng kém ǵ Hán Đế.
 

                Triệu Đà là một vị vua sáng suốt, anh minh, được nhân dân kính phục. Vùng Quảng Châu đời Đường, hơn bảy trăm năm sau, c̣n kể chuyện hồn  Triệu Đà nhập vào đồng cốt ban lời phán truyền, xử kiện. Triệu Đà trở thành thần, thành  Thành Hoàng nhiều nơi từ vùng Quảng Tây, Quảng Đông  đến miền Bắc nước ta, một danh sĩ đă làm bài thơ dài ca ngợi Triệu Đà như ca ngợi vua Thuấn. Người Nam Việt gọi chim Mông Đồng và vua loài chim Việt và ví Triệu Đà với loài chim quư đó. Ngày nay đi thăm vùng Quảng Tây ta c̣n thấy khắp nơi  h́nh ảnh các loài chim  vật tổ chim Mông Đồng  từng  được khắc trên trống đồng Ngọc Lũ, nhiều nơi có tượng Triệu Đà.  Sau Lạc Long Quân, Triệu Đà là người thứ hai ‘sống măi trong sự nghiệp  chúng ta ‘. Lạc Long Quân thủ lĩnh lập quốc : có công đánh Mộc tinh, Hồ tinh, Thủy quái, chặt được một cây to, bắt được một con cáo khôn ngoan, giết được một con cá sấu to lớn.. được nhân dân nhớ ơn, khi có việc nguy khốn thường cầu khẩn :  ‘Bố ơi về đây giúp con’. Hiện tượng một thủ lănh bộ tộc trở thành thần thánh phổ biến có mặt trong tất cả các nền văn minh : Từ Ai Cập, thủ lănh lập quốc thành con Thần Mặt Trời , con Thần Ré. Akhénaton  thiết lập tín ngưỡng Độc Thần Giáo đầu tiên của nhân loại chỉ thờ một Thần Mặt Trời.. Yahvé thủ lănh huyền thoại  bộ tộc Do Thái, do ảnh hưởng đồng thời của Độc Thần Giáo Ai Cập,  trở thành Đức Chúa Trời.  Nghiêu Thuấn và Thiên mệnh của Trung Quốc . Thái Dương Thần Nữ của Triều đ́nh Nhật Bản, vua là con  Thần Mặt trời các dân tộc  da đỏ Nam Mỹ.  Hồng Tú Toàn theo Đạo Thiên Chúa  thời Nhà Thanh đánh chiếm nửa nước Tàu, lập Thái B́nh Thiên Quốc xưng ḿnh là em Jésus. Đức Chúa Trời sinh ra hai anh em Jésus và Hồng Tú Toàn.
 

                Một thủ lănh chính trị cai trị thu phục ḷng dân không do nguồn gốc chủng tộc. Hồ Quư Ly xưng ḿnh là ḍng dơi Ngu Thuấn, đặt tên nước là Đại Ngu  (Nghiêu). Cái  chúa Nguyễn cai trị phương Nam, số người Việt từ Thanh Hóa  đi theo chỉ Nguyễn Hoàng  khoảng 5 000 người, người Việt vùng  Thuận Hóa lúc đó không hơn trăm ngàn người. Gần 250 năm sông Gianh, Lũy Thầy làm biên giới, không  có chuyện người Việt Nam « Nam tiến » hung hăng, tàn ác  diệt chủng 10 triệu người Chiêm rồi tràn qua chiếm nước. Cũng không có chuyện nước Việt bị chia hai  thời Trịnh Nguyễn, với một mănh đất mới nhỏ bé phía Nam Hoành Sơn, phần c̣n lại chưa thuộc về Việt Nam. Ngày nay cũng không t́m thấy tại miền Trung một dấu vết ǵ một cuộc diệt chủng : những hố xương, hay địa danh mang tên những  cuộc tàn sát...  Các  chúa Nguyễn với  đạo đức Phật Giáo đă thu phục ḷng dân theo đạo Phật các dân tộc khác biệt : Việt, Chiêm, Miên  nên được tôn sùng là Săi Vương, Hiền Vương.. Chiêm Thành trước đó là một vương quốc Phật Giáo, vua Lư Thánh Tông từng rước về nhà sư Thảo Đường. B́nh Định , Huế là những trung tâm Phật Giáo lớn từ Đông  Dương, Mỹ Sơn, Thập Tháp.. từ Vương Quốc Chiêm Thành vẫn tiếp tục lan toả, truyền thống  các nhà sư xuất phát từ nơi này vẫn đi khắp nơi truyền đạo,  do đó người theo đạo Phật  gọi người Chiêm  theo đạo Hồi là dân Hời. Đồng Hới là Động Hời nơi tụ tập người Chiêm theo đạo Hồi. Đó là lư do một nước tương đương dân số Đại Việt ngày nay chỉ con 60 ngàn dân Hời. Do đó cần viết lại trang lịch sử ”Nam Tiến” để thế hệ ngày sau nh́n rơ sự thật  tổ tiên người Việt Nam không tàn ác, hiếu chiến diệt chủng một dân tộc, và cần thiết phải vinh danh nền văn hóa Chăm  trong đất nước Việt Nam.
 

                Không nên lấy khái niệm quốc tịch, dân tộc, quốc gia ngày nay áp dụng vào lịch sử ngày xưa. Thời Xuân Thu Chiến Quốc đă có những tay du thuyết đi từ nước này sang nước khác, vị vua nào dùng th́ phong tước, họ phục vụ làm đến Đại Thần,  Tể Tướng không  có chuyện  hỏi quốc tịch. Có những tướng lănh bỏ nước này sang nước khác làm tướng, khi thời cơ đến tay th́ họ phất cờ xưng vương, xưng đế,  thất bại th́ thành giặc. Có những thương nhân đi từ nước này sang nước kia buôn bán, có người buôn ngọc và  buôn cả vua như Lữ Bất Vi, cha huyết thống của Tần Thủy Hoàng.  Có những nhà sư  Tây Trúc từ núi cao, xuống núi đi dọc theo sông Dương Tử, sông Hoàng Hà, sông Hồng, sông Cửu Long truyền đạo. Nước ta có An Tiêm, Yết Kiêu, Dă Tượng, Hà Ô Lâu, nhà sư  Phật Quang, nhà sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Mạc Cửu, Trần Thắng, Dương Ngạn Địch.. chẳng ai thắc mắc hỏi ông đó quốc tịch ǵ ?
 

                 Các sử gia vùng Trung Nguyên Hoa Hạ, gọi dân tộc Bách Việt ‘trăm trứng trăm con’ này là Nam Di, luôn luôn kháng cự, dùng du kích nhiều lần  đánh bại quân, đội nhà Tần, nhà Hán. Cho đến ngày nay vùng tự trị dân tộc Choáng c̣n gọi là Tày, Nông, Nùng là dân tộc thiểu số đông dân nhất Trung Quốc 18 triệu người vẫn giữ bản sắc dân tộc, không chịu đồng hóa, họ có chữ Nôm, nói tiếng Choang, 42 % dân số không biết chữ Hán. Các sử gia Việt Nam từ Lê Văn Hưu  đều công nhận nhà Triệu là một triều đại nước ta trừ Ngô Thời Sĩ và gần đây Đào Duy Anh. Nói đến Triệu Đà chúng ta không quên chuyện Trọng Thủy, Mỵ Châu, chuyện thành Cổ Loa của vua An Dương Vương. Chiếc nỏ thần thời  An Dương Vương, ngày nay t́m thấy có lẽ  là bộ cơ khí đúc bằng đồng hàng loạt, gắn vào nỏ gỗ, cung tên dàn sẵn, chỉ cần bật c̣  là hàng loạt tên tung bay. Những khảo cổ ngày nay t́m được những mộ cổ Triệu Văn Đế, phong phú với  hàng ngàn hiện vật vàng, ngọc, đồng, sắt, đồ gốm, sứ,  ấn vàng xưng đế hiệu, áo  chôn nhà vua bằng  2291 mảnh ngọc kết dính lại bằng  tơ đỏ (ti lũ ngọc y), nhiều sản phẩm đi từ Ba Tư, Iran, Phi Châu đến cả thuốc men, thực phẩm, tơ lụa. Nhà Triệu nước Nam Việt thời đại hưng thịnh có buôn bán với các nước Tây, Á, Phi Châu. Có một nền độc lập với Nhà Hán.  

 

Dân tộc Nam Việt có một nền văn minh, tiếng nói, riêng biệt. Từ nguồn gốc vị vua đến triều đại gây nhiều tranh cải. Nhà Nguyên dân du mục  Mông Cổ đánh nhà Tống cai trị Trung Quốc gần trăm năm, nhà Thanh dân tộc Măn Châu đánh bại nhà Minh cai trị Trung Quốc 268 năm  thế th́ triều Nguyên, Thanh : Trung Quốc là một nước thuộc địa, bị trị hay triều Nguyên, Thanh là những triều đại thuộc lịch sử Trung Quốc ?  Thời Xuân Thu Chiến Quốc : Việt Vương Câu Tiễn, trang sử đó  liên quan đến lịch sử nước ta hay thuộc về ngoại sử. Ông Đào Duy Anh cho rằng khi nước Việt bị Sở diệt một bộ phận người Việt đă chạy  sang Giao Châu. Hai Bà Trưng đánh hạ 65 thành ở Lĩnh Nam, phần lớn các thành đó tŕ vùng Quảng Đông, Quảng Tây, khi tuẩn tiết được lập đền thờ cúng tại Phiên Ngung, Quảng Châu.  
 

                Sử Trung Quốc cũng chỉ công nhận Nam Việt thuộc nhà Hán từ đời Hán Vũ Đế , năm 111 vua Vũ Đế sai Lộ Bác Đức và Dương Bộc đánh nhà Triệu lấy nước Nam Việt rồi cải  là Giao Chỉ Bộ, chia làm 9 quận: Nam Hải, Thương Ngô, Uất Lâm, Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Châu Nhai, Đạm Nhĩ. Năm 1802 vua Gia Long sai Lê Quang Định, Trịnh Hoài Đức đi sứ, xin  công nhận tên nước ta là Nam Việt, nhưng nhà Thanh không chịu, cải tên thành Việt Nam.

                

                Nguyễn Du đă hiểu rơ nỗi ḷng Triệu Đà, một thủ lănh chính trị khôn ngoan,  khi viết : Nước Sở, nước Tần hai nước cường bạo nối nhau diệt vong. Ông cứ ung dung nhún nhuờng ngồi làm bá chủ phương nam. Tùy thích có thể xưng hoàng đế. Vui điều thiện, chịu khuất với anh nhà nho. Nguyễn Du chê cả sứ thần Lục Giả, là anh nhà nho  tầm thường chỉ mở lời hăm doạ. Triệu Đà nhún nhường v́ không muốn người thân thích bị máu đổ xương rơi, nhân dân Nam Việt phải chịu cảnh chiến tranh.   Đài cao trăm thước ngoài Linh Biểu đă đổ. Ngôi mộ cổ ngh́n năm ở Phiên Ngung c̣n một nấm. Khá thương đời nay đời khác thay đổi nhau. Không bằng được một lăo già Man Di.

 

ĐẤT CŨ TRIỆU ĐÀ

 

Tần Sở bạo cường cũng nát tan,

Ung dung  khiêm tốn  giữ trời Nam.

Ngôi  cao  hoàng đế xưng tùy thích,

Tiếp đăi nhà nho biết nhịn nhường..

Đài cao Lĩnh Biểu ngoài kia đổ,

Mộ cũ Phiên Ngung một nấm c̣n,

Thương biết bao nhiêu triều đại đổ,

Không bằng được cảnh Lăo Già Man

.
Bản dịch Nhất Uyên; Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

 

 TRIỆU VŨ ĐẾ CỐ CANH

Bạo Sở cường Tần tương kế tru,

Ung dung ấp tốn bá nam tu.

Tự ngu tận khả xưng hoàng đế,

Lạc thiện hoàn năng khuất thụ nhu.

Bách xích cao đài khuynh Lĩnh Biểu,

Thiên niên cổ mộ một Phiên Ngu.

Khả liên thể đại tương canh diệt,

Bất cập man di nhất lăo phu.
 

                Trần Trọng Kim trong Việt Nam Sử Lược Nxb  Sống Mới , chương IV. Nhà Triệu  chép : Triệu Vũ Vương (207-137 tr TL) Năm 207 Triệu Đà đánh được An Dương Vương rồi sát nhập nước Âu Lạc váo quận Nam Hải, lập thành một nước gọi là Nam Việt, tự xưng làm vua tức là Vũ Vương, đóng đô ở Phiên Ngung gần thành Quảng Châu ngày nay.

                Trong khi Triệu Vũ Vương gầy dựng cơ nghiệp ở Nam Việt th́  vùng Trung Nguyên.  Lưu Bang trừ được nhà Tần, diệt được Sở Bá Vương Hạng Vơ, thống nhất thiên hạ lên ngôi Hoàng đế tức vua Cao Tổ nhà Hán. Vua Cao Tổ  thấy Triệu Vũ Vương độc lập phương nam, bèn sai Lục Giả sang phong vương cho Vũ Vương năm thứ 12 nhà Triệu và năm thứ 11 nhà Hán.

                “Triệu Đà là người kiêu căng không có ư thần phục nhà Hán. Lục Giả vào đến nơi yết kiến Vũ Vương; Vũ  Vương ngồi xếp bằng tṛn không đứng dậy tiếp. Lục Giả thấy vậy mới nói rằng : Nhà vua người nước Tàu, mồ mă thân thích  ở cả châu Chân Định. Nay Hán Đế đă làm vua thiên hạ, sai sứ sang phong vương cho nhà vua, nếu nhà vua kháng cự sứ thần không làm lễ  thụ phong . Hán Đế tất tức giận phá hũy mồ mă, giết hại thân thích nhà vua, rồi đem quân sang đánh th́ nhà vua làm thế nào ? Vũ Vương nghe lời  ấy vội vàng đứng dậy làm lễ tạ rồi cười mà nói rằng: Tiếc ta không được khởi nghiệp ở nước Tàu, chứ không th́ ta chẳng kém ǵ Hán Đế.”
 

                Triệu Đà sai sứ đi cống vua Hán những sản vật phương Nam: trầm, hương, kỳ nam, tốc hương, ngà voi, sừng tê giác, lụa là, vải bô,  sa nhơn (amomes) đậu khấu (cardamomes), cau khô, hai con công, và  trăm  con cà cuống(bélostoma indica vitalis). Giai thoại kể chuyện về con cà cuống Triệu Đà sai  sứ đi cống nhà Hán.

                Cà cuống là một giống như con  gián nước ở ruộng nước vỏ cứng tiết ra chất cay, phương nam rất quư khi làm bánh thêm vào một giọt cho có hương vị.  V́ chưa có tên nên sứ thần ghi trong sớ là con quế đố, con sâu quế, v́ có chất cay của quế (Nam Việt  Đà nhân xưng quế đố). Nhưng chẳng may trong triều Hán có kẻ biết bảo đây là con sâu nước (thủy đố) sống trong ruộng nước, không phải là con quế đố. Vua Hán mới phê trong tờ sớ: Thử năi Đà chi cuống dă, anh hùng vị tất bất khi nhân. (Như Triệu Đà mà c̣n nói dối th́ dù là anh hùng cũng c̣n dám khinh vua thay) . Hai chữ Đà cuống (Đà nói dối) trở thành cà cuống.
 

                Cống sứ là một thông lệ các triều đại Trung Quốc đặt ra để thoả măn ḷng kiêu căng của nước lớn, chứng tỏ nước nhỏ thần phục ḿnh, tránh vận động chi phí binh đao, có đánh được cũng không chắc giữ vững được lâu dài. Nước nhỏ cũng có lợi nhận phong vương nhưng được yên ổn, không chiến tranh. Khi bị nước khác đánh có thể nhờ nước lớn bảo vệ giúp binh, nhưng có mối nguy là có khi  giúp binh rồi binh đó ở măi không về th́ mất nước. Khi tiếp đón sứ thần, triều đ́nh Trung Quốc  phải cử một vị tướng đứng ra tổ chức việc tiếp sứ, các địa phương hàng trăm lính tráng hộ vệ để tránh cướp bóc qua các nơi có cổng chào bàn hương án.  Nơi hoang vắng phải tổ chức dựng  các trại láng để sứ đoàn dừng chân, nơi có làng mạc th́ cung đ́nh, lữ quán,  cung phụng ăn uống cả năm trời suốt hành tŕnh, lại thêm đàn hát ca múa, ngâm thơ vịnh cảnh, , khi trở về vua Trung Quốc tặng lại quà cho vua , cho các quan. Chi phí các cuộc tiếp rước này có khi lỗ nặng, tặng một chi mười, so với phẩm vật đi cống như trường hợp năm 1790 vua Càn Long tiếp phái đoàn đi sứ 148 người với vua Quang Trung giả.

                “Năm 183 tr TL vua Cao Tổ nhà Hán mất rồi, bà Lữ Hậu lâm triều tranh quyền Huệ Đế, rồi lại nghe lời dèm pha, cấm không cho người Hán buôn bán những đồ vàng bạc, đồ sắt và những đồ điền khí cho người  Nam Việt. Vũ Vương lấy làm tức giận, lại ngờ cho Trường Sa Vương xui Lữ Hậu làm như vậy bèn tự lập làm Nam Việt Hoàng đế, rồi cử binh mă sang đánh quận Trường Sa, tỉnh Hồ Nam.

Năm 181 tr TL, Hán Triều sai tướng đem quân đánh Nam Việt. Quân nhà Hán chịu không được phong thổ phương Nam, nhiều người phải bệnh tật, bởi vậy phải thua chạy về Bắc. Từ đó thanh thế Triệu Vũ Đế lừng lẫy, đi đâu dùng xe ngựa theo nghi vệ Hoàng Đế như vua nhà Hán .”

                Đến khi Lữ Hậu mất, Hán Văn Đế lên ngôi, lại sai Lục Giả đưa thư sang khuyên Vũ Đế về thần phục nhà Hán.  Thư rằng :

                “ Trẫm là con trắc thất vua Cao Đế, phụng mệnh ra trị nước Đại, v́ non sông cách trở, thẹn ḿnh ph&t lậu, cho nên lâu nay chưa từng đưa thư sang hỏi thăm nhà vua.

                Từ khi đức Cao Đế xa bỏ quần thần, đức Huệ Đế qua đời, bà Cao Hậu lâm triều, không may bị bệnh, để cho họ Lữ chuyên quyền, toan đem con họ khác để nối v́ đức Huệ Đế. May nhờ tông miếu linh thiêng, các công thần ra sức dẹp kẻ tiếm nghịch.

                Trẫm v́ các vương hầu cùng bách quan cố ép, cho nên phải lên ngôi Hoàng Đế. Mới rối trẫm nghe nhà vua có đưa thư cho Long Lư Hầu, nhắn tin và xin anh em họ hàng ở quận Chân Định và xin băi binh ở quận Trường Sa.

                Trẫm cũng nghe lời thư của nhà vua, th́ đă bảo tướng quân Bác Dương Hầu băi binh về, c̣n anh em họ hàng nhà vua ở Chân Định th́trẫm đă cho người thăm nom, lại sửa sang phần mộ nhà vua, thật là tử tế.

                Thế mà vừa rồi trẫm nghe nhà vua c̣n đem quân quấy nhiễu ngoài biên, quân Trường Sa thật khổ, mà Nam Quận lại c̣n khổ hơn. Làm như thêế, nước nhà vua có chắc lợi được một  ḿnh không ? Tất là tướng tá quân sĩ chết nhiều, làm cho người vợ góa chồng, người con mồ côi bố, cha mẹ mất con, được một mất mười, trẫm không ḷng nào nỡ làm như vậy.

                Vả lại đất nhà vua không lấy làm to, được của nhà vua không đủ làm giàu. Vậy từ phía nam núi Lĩnh th́ mặc ư nhà vua tự trị lmấy. Nhưng nhà vua cứ xưng đế hiệu, hai bên cùng là đế quốc mà không sai sứ giao thông, thế chẳng hóa ra ganh nhau ư ? Ganh nhau mà không nhường, th́ người nhân không thèm làm.

                Trẫm nay xin nhà vua gác bỏ điều cũ, từ rày trở đi, thông sứ như xưa. Vậy trẫm sai Lục Giả sang đem ư trẫm khuyên nhà vua nên nghe, chứ làm chi nhiều sự cướp bóc tai hại.”
 

                Triệu Vũ Vương xem thư lời lẽ tử tế, thật là có nhân từ, v́ thế nên Triệu Vũ phải chịu phục và đáp thư lại rằng :

                “Nam Di Đại Trưởng Lăo Phu Thần, Đà muội tử bái bái, dâng thgư lên Hoàng Đế bệ hạ.  Lăo phu là kẻ cố lại nước Việt, Khi Hiếu Huệ Hoàng Đế lên ngôi, t́nh nghĩa không dứt, vẫn hậu đăi lăo phu. Đến khi Cao Hậu lâm triều, lại phân biệt ra Trung Hoa, ngoại di, hạ lệnh cấm không được bán cho Nam Việt những đồ vàng sắt và điền khí. C̣n ngựa trâu, dê th́ chỉ bán  cho giống đực chứ không bán cho  giống cái.

                Lăo phu ở phương xa mà không có vật cúng tế th́ phải tội, v́ thế có sai Nội Sử Phan, Trung Úy Cao, và Ngự Sử B́nh ba lượt dâng thư sang thượng quốc tạ quá đều không trở về cả.

                Lăo phu lại phong văn rằng : nhà Hán đem hủy hoại cả phần mộ lăo phu cùng giết cả anh em tông tộc lăo phu, cho nên có bàn riêng với chúng rằng : nay trong đă không vẻ vang với nhà Hán, ngoài lại không có ǵ hơn được nước Ngô, vậy có xưng Đế hiệu: mà chẳng qua tự đế nước ḿnh, không dám hại ǵ đến thiên hạ.

                Cao Hậu nghe  thấy thế, lấy làm tức giận, đem tước bỏ sổ Nam Việt đi, không cho thông sứ, lăo phu trộm nghĩ rằng : hẵn v́ Trường Sa Vương gièm pha, cho nên lăo phu có đem binh đánh.

                Lăo phu ở đất Việt đă 49 năm nay, bây giờ đă có cháu rồi, nhưng mà sớm khuya trằn trọc, ăn không ngon, ngủ không yên, mắt không dám trông sắc đẹp, tai không dám nghe đàn vui, là chỉ v́ cớ không được phụng thờ nhà Hán. Nay nhờ bệ hạ đoái thương, cho phục lại hiệu cũ, thông sứ như xưa, lăo phu nhớ ơn, dẫu chết xương cũng không nát.

                Vậy xin cải hiệu từ đây, và xin có cống phẩm phụng hiến Hoàng Đế bệ hạ. “

 

                Từ khi Triệu Vũ Vương chịu bỏ Đế hiệu, Nam Bắc lại giao thông ḥa hiếu.  Bề ngoài nước Nam Việt nhận phong vương nhà Hán, nhưng trong nước vẫn giữ đế hiệu, để giữ  ngôi cao hơn các  bộ tộc Việt, các tù trưởng  xưng vương. Năm 137 tr TL Triệu Vũ Vương mất  thọ 121 tuổi làm vua được  hơn 70 năm.( Có sách chép ông thọ chỉ 91 tuổi.)

                Triệu Vũ Vương truyền ngôi lại cho cháu đích tôn tên là Hồ tức Triệu Văn Vương (137-125 trTL) trị v́ được 12 năm. Triệu Văn Vương vốn là người tầm thường, tính khí nhu  nhược không được như Triệu Vũ Vương, khi mới lên làm vua được hai năm, vua Mân Việt (tỉnh Phúc Kiến) đem quân sang đánh phá chổ biên thùy nước Nam Việt. Triệu Văn Vương không dám đem binh mă chống cự mà sai sứ sang cầu cứu triều Hán. Vua Hán sai Vương Khôi và Hàn An Quốc đi đánh Mân Việt. Quân Mân Việt thấy quân Hán đến nơi, nên bắt Quốc vương giết đi đem đầu nộp nhà Hán. Mân Việt đă b́nh rồi. vua Hán sai Trang Trợ sang chiêu dụ Triệu Văn Vương sang chầu, nhưng đ́nh thần xin đừng đi bèn sai Thái Tử Anh Tề đi thay. Anh Tề ở bên triều Hán mười năm, đến khi Triệu Văn Vương mất mới về nối ngôi. Thái Tử Anh Tề làm vua tức Triệu Minh Vương (125-113 tTL), trị v́ 12 năm.  Anh Tề  khi làm con tin ở Hán có lấy vợ là Cù Thị, khi lên làm vua lập Cù Thị làm Hoàng Hậu và con làm Thái Tử. Triệu Minh Vương mất, Thái Tử Hưng lên làm vua tức Triệu Ai Vương trị v́ được một năm. Nhà Hán sai An Quốc Thiếu Quí sang dụ Nam Việt về chầu. Nguyên Thiếu Quí trước là t́nh nhân Cù Thị, đến khi sang Nam Việt gặp nhau tư thông với nhau và dỗ dành Ai Vương đem nước Nam Việt dâng nhà Hán.

 

                Tể Tướng Lữ Gia  biết rơ t́nh ư khuyên ngăn không được, truyền hịch và đem quân giết sứ nhà Hán, Cù Thị và Ai Vương. Tôn Kiến Đức con trưởng mẹ người Nam Việt lên làm vua tức Triệu Dương Vương, được  một năm, vua Vũ Đế nhà Hán sai Phục Ba tướng Quân, Lộ Bác Đức Mă Viện đem năm đạo quân sang đánh Nam Việt. Lữ Gia chống cự không lại đem vua bỏ chạy, đều bị bắt giết. Năm 111 tr TL nước Nam bị người Tàu chiếm lấy cải là Giao Chỉ bộ chia làm chín quận đặt quan cai trị.
 

Từ năm 111 tr TL đến 932 sau TL, nước ta  bị Bắc Thuộc 1050 năm,  trải qua nhiều thời đại : Hán(Tây Hán(202TCN -8 SCN) Đông Hán (25-220), Tam Quốc (220-265), Tấn(265-420), Nam Bắc Triều (420-588), nhà Tùy(589-617), nhà Đường(618-907), thời Ngũ Quư (907-959), nước ta qua các cuộc  cuộc khởi nghĩa dành được độc lập một thời gian ngắn: Trưng Vương(40-43),  Bà Triệu (248). Lư Nam Đế, Lư Phật Tử lập nên nhà Tiền Lư (544-602) đặt tên nước Vạn Xuân, Mai Hắc Đế (722), Phùng Hưng(791), Khúc Thừa Dụ, Khúc Hạo, Khúc Thừa Mỹ (906-923), Dương Diên Nghệ và Kiều Công Tiển (931-938)  cho đến năm 938 Ngô Quyền  phá quân Nam Hán, giết thái tử Hoằng Thao nước ta mới dành được độc lập hoàn toàn.

 

                Thời Tam Quốc, Tôn Quyền cho cho người t́m mộ nhà Triệu, và đă t́m  ra được mộ Anh Tề và lấy được nhiều vật quư. Mộ Triệu Đà cho đến nay vẫn chưa t́m được.          Tháng 8 năm 1980, tại g̣ Tượng Cương ở Quảng Châu, nhân việc đào đất xây chung cư đă t́m ra được mộ Triệu Văn Đế, cháu nội  kế vị Triệu Đà với chiếc ấn vàng ‘Văn Đế Hành Tỉ’ và hàng ngàn hiện vật quư trong mộ táng, xác ướp được mặc chiếc áo bằng ngọc từng miếng vuông kết dây vàng. Các di vật triều đại nhà Triệu  Nam Việt có mang sang triễn lăm tại Paris.
 

                Nhà Triệu là triều đại  tập họp các dân tộc Bách Việt đầu tiên việc kế thừa truyền cho con cháu. Trước đó nước ta các  vua Hùng kế thừa bằng các cuộc thi : thi nấu ăn như sự tích bánh dày bánh chưng, thi dâng lễ vật như chuyện Sơn Tinh Thủy Tinh, thi đấu vật.. hai chữ Hùng Vương chứng tỏ là người  hùng mạnh đời này truyền cho người hùng mạnh khác, quư tộc nước Sở cũng mang họ Hùng, hùng là con gấu, các tù trưởng các bộ lạc da đỏ Châu Mỹ thường xưng ḿnh là Gấu Đen, Gấu Đỏ, Gấu Vằn.... di chỉ khảo cổ thời Hùng Vương t́m được các đồ gốm, đất nung, trống đồng.. tổ chức xă hội chỉ dừng lại như các thôn bản Mường, thời Hùng Vương chỉ là một liên minh vài chục bản Mường,  vài chục ngàn dân, không t́m thấy một ngôi mộ cổ nào có hiện vật quan trọng và phong phú do nền văn minh chỉ sản xuất ra những dụng cụ bằng tre nứa . Cây đàn Thạch Cầm bằng đá là  vật hiếm hoi t́m thấy. Các h́nh ảnh trên trống đồng Ngọc Lũ cho thấy những ngồi nhà rông,  du khách ngày nay có thể c̣n thấy tại Indonésia, có cả bộ tộc xưng ḿnh là con cháu Hai Bà Trưng đến từ Lạc Việt. Những người mặc áo lông chim, giả gạo, thuyền độc mộc  có thể t́m thấy ngàynay  tại Mă Lai.

 

Tượng thờ Triệu Vũ Đế (tức Triệu Đà) đặt tại đền Đồng Xâm, xă Hồng Thái,
huyện 
Kiến Xương, tỉnh Thái B́nh.

Link:https://vi.wikipedia.org/wiki/Tri%E1%BB%87u_V%C5%A9_V%C6%B0%C6%A1ng

 

Nghiên cứu về khảo cổ, ngôn ngữ, lịch sử  Đông Nam Á c̣n sẽ mở cho ta những cánh cửa quan trọng về một vùng rộng lớn có chung nghề trồng lúa nước, từ  Indonésia, Miến Điện, Cam Bốt lên đến Quảng Đông, Quảng Tây. Các dân tộc gần gủi với nhau một ḍng sông Cửu Long, có cùng phong tục ăn trầu, xâm ḿnh, thờ cá ông. . Có lẽ phải t́m đến Angkor tiếp nối vương quốc Phù Nam, để t́m thấy đây là một Hy Lạp của vùng Đông Nam Á .Từ thế kỷ thứ 9 đến thế kỷ 15 kinh đô Angkor với những công tŕnh xây dựng nguy nga thếp vàng bạc đá quư trên các đền tháp to lớn, thành phố  có dân số khoảng một triệu dân, một New York đương thời. Ngôn ngữ Việt Nam được xếp vào ngữ hệ Môn- Khmer. Môn là một dân tộc  có nền văn minh sáng chói từ thế kỷ thứ nhất đến thế kỷ thứ 10 tại Miến Điện. Gia phả các vua Hùng viết đời Lê Thánh Tôn có lẽ chỉ là một tưởng tượng cao hứng của một nho sĩ, mười tám đời vua không thể trị v́  trên hai ngàn năm. Không thấy Việt Nam  t́m thấy ǵ   những di chỉ khảo cổ Phố Hiến, thành phố đầu tiên do Chử Đồng Tử và Tiên Dung Công Chúa thành lập và là người đầu tiên du nhập Phật Giáo vào Việt Nam.
 

                Trước đời Lư các vua  Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn đều truyền cho người hùng mạnh. Phải đến  Lư Công Uẩn nước ta mới lại  truyền  ngôi vua  cho con cháu. Di chỉ khảo cổ Hoàng thành Thăng Long xác định một một nhà nước tổ chức quy cũ, một thời kỳ mới.  Các di chỉ khảo cổ cho thấy nhà Triệu tại Quảng Châu  ngàn năm trước đó đă có một tổ chức xă hội khá cao vá quy cũ. Có giao thương buôn bán với các nước Ba Tư (Iran), Ấn Độ, Phi Châu. Nghề vàng bạc, đá quư tơ lụa điêu khắc tinh xảo.. Trước sự bành trướng của nhà Hán, vùng Quảng Đông, Quảng Tây là những lănh thổ dân tộc Bách Việt bị  đồng hóa. Nước ta không có sách sử ghi chép nhiều những sự kiện trước thời nhà Lư. Việc t́m kiếm những tư liệu về các dân tộc vùng Bách Việt, về nước ta thời Bắc Thuộc:  Tam Quốc Tôn Quyền cai trị, thời nhà Đường, nhà Tùy cai trị trong sách sử Trung Quốc Đông Nam Á  là những việc cần thiết để hiểu hơn một giai đoạn trong lịch sử Việt Nam.
 

Tài liêu tham khảo:

 

Trần Trọng Kim; Việt Nam Sử Lược quyển I. Sống mới tái bản 1978 tại California.

Trần Gia Ninh. Nh́n lại lịch sử Bách Việt và quá tŕnh Hán Hóa Bách Việt. site Nghiên cứu lịch sử.

Mạch Anh Hào Trường tŕnh Hội Nghị Khảo Cổ Đông Nam Á từ 9 -đến 13-2-1995 tại Hương Cảng.

Thơ chữ Hán Nguyễn Du. Văn Học 1995.

Hương Giang Thái Văn Kiểm. Việt Nam gấm hoa; Làng Văn Canada 1997. Bài Nguyễn Du đi sứ Trung Quốc.

 

PHẠM TRỌNG CHÁNH

Paris, 19-12-2016

  

Tác giả: Hồ Xuân Hương nàng là ai ? Khuê Văn 2000 ;  Nguyễn Du , Mười năm gió bụi và mối t́nh Hồ Xuân Hương,  Khuê Văn Paris 2010; Truyện Thơ Odyssée qua 12110 câu thơ lục bát, Khuê Văn 2005; Sử Thi Iliade qua 16933 câu thơ lục bát, Khuê Văn 2009; Tự điển t́nh yêu bằng thơ t́nh Xuân Diệu, Khuê Văn 201; Giáo Dục Việt Nam thời Pháp thuộc (1940-1945) Paris 1976; Giáo Dục Miền Nam Việt Nam 1954-1975, Paris 1980; Thơ t́nh Nhất Uyên (Huy Cận, Xuân Diệu đề tựa), Paris, 1996; Công cha như núi Trường Sơn 1975. Cánh chim từ vùng lửa đỏ (thơ nhạc với Tốn Thất Lập) HSVST 1974; Bóng thời gian, Thời gian ta măi măi c̣n xanh (với Nguyễn Đăng Hưng Liège 1972); Chiêm Bao Trắng, Thơ Sàigon 1969.

 

 


 

 

Mời đọc những bài viết khác của cùng tác giả :

 

Nguyễn Du qua Quản Trọng Tam Qui Đài - TS. Phạm Trọng Chánh

Nguyễn Du đi qua Đài Tam Qui của Quản Trọng ở Sơn Đông trên đường đi sứ về trong khoảng thời gian 21 tháng 11 đến 11 tháng 12 năm ...

Nguyễn Du và cây liễu xưa đền Mạnh Tử - TS.Phạm Trọng Chánh

Tại sao Nguyễn Du nói đến cây liễu trước đền, gỗ cây liễu tượng trưng cho bản chất tự nhiên của con người, giáo dục như đẽo gọt gỗ thành ...

 

Tử Xuân Hàm Nghi (1872 -1942), vị vua lưu đày thành nghệ sĩ - TS. Phạm Trọng Chánh

Năm 1926, để kỷ niệm 10 năm thành lập Viện Bảo tàng Auguste Rodin (1840-1917)  Hotel Biron 79 rue de Varenne, Paris 7è, năm 1916, Rodin nhà điêu khắc vĩ ...

 

Nguyễn Du qua sông hoài nhớ Văn Thiên Tường - TS. Phạm Trọng Chánh

Đầu thế kỷ 20, những người Việt Nam đi làm cách mạng thuộc ḷng hai câu thơ :  Nhân sinh tự cổ thùy vô tử. Lưu thủ đan tâm chiếu hăn ...

 

Tiểu sử Nguyễn Du qua những phát hiện mới - TS. Phạm Trọng Chánh

Nguyễn Du có quyển Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Nhân không phải lúc đi sứ năm 1813 mà có từ năm 1790 tại Hàng Châu. Giáo Sư ...

 

 

Đi t́m Cổ Nguyệt Đường và mối t́nh Hồ Xuân Hương và Nguyễn Du - TS.Phạm Trọng Chánh

Mùa hè 2011, sau một chuyến du hành khắp nước, tôi dành 5 ngày về ở tại Làng Nghi Tàm trên đường Xuân Diệu. Suốt năm ngày dù trời mưa ...

 

Tiếc thương Nhạc sĩ thiên tài Nguyễn Thiên Đạo (1940-2015) - TS.Phạm Trọng Chánh

Sáng ngày 27-11-2015 tôi  đến nghĩa trang Père Lachaise để tiễn nhạc sĩ Nguyễn Thiên Đạo đến nơi yên nghỉ cuối cùng; sau khi hỏa táng, anh sẽ nằm trong ...

Hoàng Hạc Lâu qua thi ca các sứ thần nước Nam - Phạm Trọng Chánh

Hoàng Hạc Lâu  được xây dựng tại Vũ Hán từ năm 223  do Tôn Quyền thời Tam Quốc : khi xây cổ thành Hạ Khẩu, phía Tây giáp Trường Giang, góc ...

 

Nguyễn Du qua đ́nh Tô Tần - TS. Phạm Trọng Chánh

Nguyễn Du có hai bài thơ viết về   đ́nh Tô Tần  khi đi qua cố kinh  Lạc Dương, nơi quê hương Tô Tần. Lạc Dương là một trong 4 kinh ...

 

 

Nguyễn Du trên quê hương Khuất Nguyên - TS.Phạm Trọng Chánh

Khi đi qua Trung quốc, Nguyễn Du đă nhiều lần đến nước Sở, quê hương  Khuất Nguyên:  Năm 1788- 1790 trong thời  tuổi trẻ đi giang hồ Trung Quốc  lượt ...

 

Nguyễn Du trên quê hương Đỗ Phủ - TS.Phạm Trọng Chánh

Đỗ Phủ (712-770)  thời nhà Đường, sống trong thời đại loạn An Lộc Sơn  trong 8 năm, làm tiêu hao 2/3 dân số Trung Quốc. Năm 755 nước này có ...

 

Nguyễn Du đi sứ trên quê hương Lư Bạch - TS.Phạm Trọng Chánh

Nguyễn Du lấy bút hiệu là Thanh Hiên, kết hợp từ chữ Thanh, bút hiệu Thanh Liên của thi hào Lư Bạch (701-762), và chữ Hiên thường dùng của gia ...

 

Đi theo hành tŕnh “Bắc hành tạp lục” của Nguyễn Du - TS.Phạm Trọng Chánh

Đọc “Bắc Hành Tạp Lục” nhiều nhà nghiên cứu có cảm giác Nguyễn Du rất cô đơn trước cảnh sắc và  con người tại Trung Quốc. TS Nguyễn Thị Nương ...

Tưởng nhớ Giáo sư Trần Văn Khê - TS.Phạm Trọng Chánh

Thuở thư sinh lên đường du học Âu Châu  năm 1970, túi đàn cặp sách, tuổi hai mươi : «  cầm kỳ thi họa đủ mùi ca ngâm », hành trang tôi ...

Mối t́nh “ông vua thơ Nôm” Lê Thánh Tông và Trường-Lạc hoàng hậu - TS.Phạm Trọng Chánh

Phạm Đ́nh Hổ trong Tang thương ngẫu lục quyển II,  tr 232 có chép chuyện vua Lê Thánh Tông và Trường Lạc Hoàng Hậu, một chuyện t́nh tuyệt đẹp, giữa ...

Kỷ niệm với Họa Sư LÊ BÁ ĐẢNG (1921-2015) - Ts Phạm Trọng Chánh

Những năm 1973-1976, đến Paris  tôi bắt đầu công việc sinh viên, vừa làm vừa học, là kư tên và đánh số giùm tranh litho cho  Họa sĩ Lê Bá ...

Hồ Sĩ Đống (1739-1785) - bậc thầy thi ca thời Lê trung hưng - TS. Phạm Trọng Chánh

Hồ Sĩ Đống được Phạm Đ́nh Hổ trong Vũ Trung tùy bút, bài Thi ca kể tên cùng Nguyễn Tông Khuê, Nguyễn Huy Oánh là ba bậc thầy phục hưng ...

 Đọc bài “Về cuốn sách Lịch Sử Việt Nam được cho là kiệt tác sử học” - TS Phạm Trọng Chánh.

Nhân đọc bài : Về cuốn sách được cho là kiệt tác sử học của ông Tiến Anh Hồng Quang đăng trên Nhân Dân Điện tử thứ năm 27-1-2014. Bài viết có nhiều hiểu lầm; Giáo sư Lê Thành Khôi nay đă lớn tuổi 93 tuổi, chẳng phải bận rộn với bài viết nhỏ mọn này, là môn sinh Giáo sư Lê Thành Khôi tôi xin thay mặt Giáo sư trả lời các điểm thắc mắc của ông Tiến Anh Hồng Quang.

Nguyễn Tông Khuê - bậc thầy thi ca đời Lê Trung Hưng - TS. Phạm Trọng Chánh

Phạm Đ́nh Hổ trong Vũ Trung Tùy Bút có nói đến ba nhà thơ lớn, ba bậc thầy thi ca thời Lê Trung Hưng : Nguyễn Tông Khuê (1693-1767), Nguyễn Huy ...

GS.Lê Thành Khôi & lịch sử Việt Nam - TS.Phạm Trọng Chánh

Cuối tháng 8-2014  Nhà Xuất bản Thế Giới Hà Nội cho ra mắt quyển  « Lịch Sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XX » của Giáo Sư Lê Thành ...

Đọc sách : "Đạo Cao Đài và Victor Hugo" của TS.Trần Thu Dung - TS.Phạm Trọng Chánh

Victor Hugo là một nhà văn lớn, nhà chính trị Cộng ḥa  Pháp, chống lại Đế Chế Napoléon III, từng phải lưu vong xa nước 17 năm. Ông qua đời ...

Patrick Modiano giải Nobel văn chương 2014 - TS.Phạm Trọng Chánh

Sinh ngày 30-7-1945 tại Boulogne Billancourt, ngoại ô Paris, tác giả hơn 30 quyển tiểu thuyết, truyện phim, giải thưởng Văn Chương Hàn Lâm Viện Pháp, giải thưởng Goncourt, tác ...

Hồ Xuân Hương đi buôn (1807-1811) : “mẹ già nhà túng, ăn ở không yên ổn” - TS. Phạm Trọng Chánh

Trong bài tựa Lưu Hương Kư, Tốn Phong viết:  “ Từ đó  (sau lần đến thăm xuân 1807) có những lúc tôi phải vào Nam, ra Bắc, không thể cùng ...

Nguyễn Du : Ra Bắc 1796, t́nh duyên tan vỡ - Ts.Phạm Ttrọng Chánh

Nguyễn Du cho rằng việc vào Nam từ năm 1794 đến 1796 là hoài công, vô ích. Và mong rằng việc ra Bắc năm 1796 sẽ làm nên việc.  Sau ...

Đọc sách : Nguyễn Du trên đường gió bụi của Hoàng Khôi - Nhà Xuất bản Văn Học. Hà Nội- 2013 - Ts.Phạm Trọng Chánh

Có ǵ vui hơn, khi những thành quả nghiên cứu văn học của ḿnh được bè bạn Hội Kiều Học trong nước hưởng ứng viết thành tiểu thuyết.  Nhận được ...

 Hồ Xuân Hương cô hàng bán sách phố Nam thành Thăng Long (1804-1807) - TS. Phạm Trọng Chánh

Khoảng 10 năm trước năm 1813 Tốn Phong đă đến thăm  Xuân Hương Hồ Phi Mai tại hiệu sách Xuân Hương, Phố Nam thành Thăng Long, thuở ấy nàng ở ...

Nguyễn Du : những mỹ nhân trên đường mười năm gió bụi (1786-1796) - TS. Phạm Trọng Chánh

Sau ba năm đi giang hồ Trung Quốc, Nguyễn Du trở về ở tại Thăng Long từ cuối năm 1790 cho đến năm 1794. Đó là ba năm « Chữ t́nh ... 

Nguyễn Du gặp Đoàn Nguyễn Tuấn, sứ đoàn Tây Sơn tại Hoàng Châu 1790 - TS. Phạm Trọng Chánh

Nguyễn Du sau khi đậu Tam Trường (1783) ở Trường thi Sơn Nam lúc 17 tuổi, được anh là Nguyễn Khản, Thượng Thư Bộ Lại kiêm Trấn thủ Hưng Hóa, ...

Nguyễn Du : nhà sư Chí Hiên “Giang Bắc, Giang Nam túi tiền không” (1788-1790) 
TS. Phạm Trọng Chánh

Nguyễn Du, mang danh hiệu Chí Hiên, danh hiệu Nguyễn Du dùng cho đến năm 1796, kư tên hai bài thơ  tặng Hồ Xuân Hương, lưu lại trong Lưu Hương ...

Nguyễn Du chia tay Nguyễn Đại Lang, Nguyễn Sĩ Hữu tại Liễu Châu 1788 - TS. Phạm Trọng Chánh

Nguyễn Du gọi cuộc đời từ 20 đến 30 tuổi của ḿnh là « 10 năm gió bụi » (1786-1796), gia phả và sách vở giáo khoa trăm năm qua  lại viết ...

Nguyễn Du từ Thái Nguyên sang Vân Nam cuối năm 1787 - TS. Phạm Trọng Chánh

Bao nhiêu năm nghiên cứu về Nguyễn Du, chúng ta đă biết hết cuộc đời Nguyễn Du chưa ?  Nguyễn Du có quyển Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm .

Dịch chương “Nhă Ca”, một dâm thơ trong Cựu ước - TS. Phạm Trọng Chánh

“Nhă Ca”  (CANTIQUES) là một tác phẩm văn chương cổ đại của dân tộc Do Thái, cách chúng ta khoảng 630 năm trước Tây lịch. Một áng văn chương trữ ...

Đọc Lưu Hương Kư của Hồ Xuân Hương - TS. Phạm Trọng Chánh

Giữa thời điểm các nhà sách hải ngoại thi nhau đóng cửa, người đọc tiếng Việt ngày càng thưa thớt, tác giả gửi sách đi cho các nhà sách, không

Hồ Xuân Hương và quan Hiệp Trấn Sơn Nam Thượng Trần Ngọc Quán - Phạm Trọng Chánh

Trần Ngọc Quán quê Nghệ An, trước làm quan Cai Bạ doanh Quảng Đức (Chức vụ đứng đầu một doanh, tỉnh Thừa Thiên ngày sau). Tháng 2 năm Ất ..

Hồ Xuân Hương và Phật giáo - TS. Phạm Trọng Chánh

Điều nghịch lư trong thơ truyền khẩu gán cho Hồ Xuân Hương là Xuân Hương thường đi chùa, cuối đời có đi tu một thời gian, nhưng trong thơ lại ...

* Đối thoại: Sở tri chướng và kinh tế thị trường – Phạm Trọng Chánh, Ph.D., Paris, Pháp,  
              Link :
http://giaodiemonline.com/baiup/DTGH(3).htm