NGUYỄN  DU  ĐI QUA THƯƠNG  NGÔ

 

TS. Phạm Trọng Chánh
 

 

 

Theo huyền thoại người xưa : Bồng Lai, Phương Trượng, Doanh Châu, Bích Hải, Thương Ngô là những cảnh thần tiên. Bài  Phụ kê có câu :

 

Bồng Lai, Phương Trượng thôi ngôi,

Triêu du Bich Hải, mộ hồi Thương Ngô.

(Non Bồng, núi Trượng cao cao,

Sớm ra Bích Hải, chiều vào Thương Ngô).

 

Những cảnh Bồng Lai, Phương Trượng, Doanh Châu, Bích Hải ngày nay chúng ta không c̣n t́m thấy dấu vết nơi nào, có lẽ v́ theo huyền thoại cửa vào Đào Nguyên đă khép kín, chỉ c̣n Thương Ngô, nơi  thi hào Nguyễn Du đă đi qua và làm hai bài thơ Đường luật : Thương Ngô tức sự, Thương Ngô mộ vũ và 15 bài thơ  bảy chữ bốn câu :  Thương Ngô trúc chi ca trong Bắc Hành Tạp Lục.  Đoàn Nguyễn Tuấn cũng viết ba bài thơ về Thương Ngô trong Hải Ông thi tập.

Thương Ngô là nơi vua Thuấn du hành, nơi phương Nam và mất ở đó, hai bà phi  Nữ Anh và Nga Hoàng, con gái vua Nghiêu, thương khóc nước mắt rơi trên khóm trúc tạo thành loài trúc có đốm. Nơi đây có núi Cửu Nghi, c̣n gọi là Thương Ngô Sơn có chín ngọn,  núi ở huyện Ninh Viễn tỉnh Hồ Nam, Trung quốc  ngày nay.

Ta  thử t́m về địa danh Thương Ngô và những địa danh : Tầm Giang, Ngô Thành, Tam Sở, Cửu Nghi, Tương Đàm, Quế Lâm, Quảng Đông, các Văn Xương, các Thiên Phi, Hành Dương, núi Kê Lung qua thi ca Nguyễn Du, để xác định con đường Thương Ngô mà nhà thơ đă đi qua trong hai chuyến du hành năm 1788 và năm 1813.

Bài Thương Ngô Mộ Vũ : Vũ trệ Tầm Giang hiểu phát tŕ (Mưa giữ lại ở Tầm Giang sáng lên đường muộn). Tầm Giang là tên gọi đoạn sông dài 170 km thuộc sông Châu Giang là đoạn thượng du của Tây Giang. Nó là hợp lưu của Kiềm Giang và Úc Giang tại Quế B́nh (Quư Cảng, Quảng Tây) chảy tới Ngô Châu. Nơi đây nó hợp lưu với sông Quế Giang thành sông Tây Giang, chi lưu của nó là Đại Hoàng Giang từ hướng nam chảy về hợp lưu gần Ngô Châu. Ngô Thành là thành Ngô Châu, nằm ở bờ sông Châu Giang thuộc tỉnh Quảng Tây . Bài Xuân Dạ của  Nguyễn Du trong Thanh Hiên thi tập  có nhắc đến địa danh Nam Đài, Long Thủy. Long Thủy là một con sông nhỏ nằm ở thị trấn  Long Châu , cũng trên hệ thống sông Tây Giang.

Quế Lâm là thành phố thủ phủ tỉnh Quảng Tây. Quế Lâm nổi danh với câu : Quế Lâm cảnh đẹp nhất trần gian. Cảnh non nước Quế Lâm đứng đầu thiên hạ, nay là một thành phố 5 triệu dân. Tây giáp Liễu Châu, Nam giáp Ngô Châu. Quế Lâm có sông Quế Giang chảy qua, c̣n gọi là sông Lư Giang, hai bên bờ sông là núi đá vôi, cảnh đẹp, các tranh thủy mặc vẽ núi sông xuất phát từ vùng này.

 

Tượng Tị Sơn, biểu tượng của Quế Lâm,

link : https://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BA%BF_L%C3%A2m

 

Năm 218 TCN tướng nhà Tần, Đồ Thư đem quân xuống đánh chiếm miền Nam Trung Quốc bị tử trận thảm bại, nhưng tướng công binh là Sử Lộc đă hoàn thành xây dựng kênh Linh, nối liền sông Lư Giang, Quảng Tây với sông Tương. Do đó có thể dùng đường thủy từ Quảng Đông, Quảng Tây đến sông Trường Giang và đường kênh Đại Vận Hà đào từ đời nhà Đường  nối các con sông lớn Giang Nam.       Năm 214 TCN nhà Tần sai tướng Triệu Đà và Nhâm Ngao trở lại b́nh định Quảng Tây. Sau khi nhà Tần sụp đổ, Triệu Đà (257TCN-137TCN) xưng đế lập nước Nam Việt (207TCN-136TCN)  đóng đô ở Phiên Ngung (Quảng Châu ngày nay). Khi Lưu Bang đánh bại Hạng Vũ lập nên nhà Hán năm 202 TCN, sai  sứ Lục Giả đến Nam Việt thuyết phục. Triệu Đà bỏ đế hiệu và thần phục nhà Hán.        

Sông Tương dài 856 km bắt nguồn từ Lâm Quư, Quảng Tây chảy vào Động Đ́nh Hồ, Hồ Nam. Từ huyện Đông An thành phố Vĩnh Châu chảy ra hướng Bắc, nhận nước từ các sông Tứ Thủy, Thạch Kỳ Hà, Tiêu Thủy, Ứng Thủy Bạch Thủy. Tại Hành Dương nhận thêm nước từ sông Chung Thủy và Lỗi Thủy. Tại Lục Khẩu nhận thêm nước từ sông Lộc Thủy. Tại Tương Đàm nhận thêm nước từ Liên Thủy. Từ Trường Sa nhận thêm nước từ Lưu Dương Hà, Lao Lực Hà. Tại Vọng Thành nhận nước từ Vi Thủy. Đến huyện Tương Âm chia làm hai ḍng chảy vào Hồ Động Đ́nh. Sông Tương là con đường thủy thiên nhiên tiện lợi nối liền từ Quảng Tây đến Vũ Hán.

 

Bản đồ thể hiện hồ Động Đ́nh (lake Dongting) và các con sông chính chảy vào nó

link : https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_%C4%90%E1%BB%99ng_%C4%90%C3%ACnh

 

 

Sông Tương được nhiều người biết đến khi học Kinh Thi :

Quân tại Tương Giang đầu,

Thiếp tại Tương Giang thủy,

Tương Giang bất tương kiến,

Đồng ẩm Tương Giang thủy.

(Chàng ở đầu sông Tương,

Thiếp ở cuối sông Tương,

Sông Tương không gặp mặt,

Cùng uống nước sông Tương.)

Sông Tương nổi tiếng với Tiêu Tương Bát Cảnh. Tám cảnh đẹp sông Tiêu Tương gồm : Sơn tự văn chung, Giang thiên mộ tuyết, Tiêu Tương dạ vũ, Sơn thị t́nh lam, Viễn phố quy phàm, Ngư thôn tịch chiếu, B́nh sa lạc nhạn, Động Đ́nh thu nguyệt. Các sứ thần Việt Nam  ngang qua sông Tương thường làm thơ tả cảnh mưa trên sông Tương. Sông Tương ảnh hưởng nhiều đến văn học Việt Nam. nhiều nhà thơ như Phạm Đ́nh Hổ chưa bao giờ sang Trung Quốc cũng viết thơ Tiêu Tương Bát Cảnh. Nữ sĩ Tương Phố thời tiền chiến lấy bút hiệu có nghĩa là một bến Phố trên sông Tương. Bản nhạc Ai về sông Tương của Thông Đạt (Văn Giảng) là bài hát được nhiều người hát và yêu thích nhất, nhưng tác giả chưa bao giờ đến sông Tương.

Sông Tương đi qua các thành phố lớn : Toàn Châu, Vĩnh Châu, Lỗi Châu, Hành Dương, Trường Sa, Tương Âm. Các nơi đều có những thắng cảnh, những nhân vật văn hóa lịch sử :  Núi Hồi Nhạn, nơi chim nhạn bay đến đây dừng chân, nằm trên băi cát  rồi bay trở về có cảnh B́nh sa lạc nhạn. Toàn Châu nơi có chùa Tương Sơn ngôi chùa lớn nhất Trung Quốc, Vĩnh Châu có nhà cũ của Liễu Tông Nguyên, nơi ông bị biếm trích trấn nhậm và viết bài :  Lời người bắt rắn, Trường Sa nơi Giả Nghị bị biếm trích. Huyện Tương Âm nơi có sông Mịch La hợp lưu hai sông Mịch, La nơi Khuất Nguyên từ trầm về sau c̣n gọi là Khuất Đàm. Sông Tương đi qua nước Sở thời Chiến Quốc. Tam Sở là Đông, Tây và Nam Sở.

Các sứ thần Việt Nam khi đi cống sứ Bắc Kinh đều dùng con đường thủy này. V́ ngày xưa chưa có cầu, mỗi lần vận chuyển đồ cống phẩm lên thuyền xuống thuyền mất cả ngày. Dùng thuyền tiện lợi, do đó nhiều  trạm tiếp đón sứ thần nghỉ lại đêm  nằm dọc theo bờ sông Tương. Nguyễn Du thời trai trẻ (1787-1790) từng đi con đường này : Giang Bắc, Giang Nam cái túi không. Nguyễn Du mang danh hiệu  nhà sư Chí Hiên đi nhờ các thuyền buôn, vác thanh trường kiếm trên vai như các nhà sư phái Thiếu Lâm, bảo vệ các thuyền buôn và tụng kinh cầu mua may bán đắt. Đến nơi có chùa, hay thắng cảnh nhà sư dừng chân ngắm cảnh, ăn ở, trú tại một ngôi chùa, tụng kinh Kim Cương làm công quả. Hành trang Nguyễn Du mang theo bên ḿnh là quyển Kinh Kim Cương Chú Giải của Lê Quư Đôn. Nhà sư Chí Hiên đă tụng kinh ngh́n lượt tức ba năm, và đi muôn dậm mũ vàng chiều nắng xế, gần 5000km, từ Vân Nam, qua Liễu Châu, đến Quế Lâm theo sông Tương, đi qua, Tương Sơn Tự, Nhạc Dương Lâu, Hoàng Hạc Lâu rồi từ Vũ Hán, theo sông Hán  đi Trường An rồi đi theo sông Trường Giang vào kênh Đại Vận Hà đi Hàng Châu. Sau khi gặp lại Nguyễn Đại Lang tại Miếu Nhạc Phi, nơi đây Nguyễn Du làm 5 bài thơ,  nhà thơ cư ngụ chùa Hổ Pháo, đối diện Tây Hồ nối liền bởi con đê Tô, nơi đây Từ Hải tức Minh Sơn Hoà Thượng từng tu hành. Tại Tây Hồ- Hàng Châu, Nguyễn Du đă say mê Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, truyện  Tiểu Thanh Kư của Từ Sĩ Tuấn và thương cho số phận những cô gái Hồng nhan đa truân. Nguyễn Du và Nguyễn Đại Lang cùng đi  Yên Kinh (Bắc Kinh) rồi trở về Hoàng Châu gặp Đoàn Nguyễn Tuấn trong sứ đoàn Tây Sơn, Đoàn viết hai bài thơ ghi lại cuộc gặp gỡ này trong Hải Ông thi tập. Sau đó Nguyễn Du lại về Long Châu và trở về Thăng Long.

Thương  Ngô  ngày nay thuộc huyện  Ngô Châu tỉnh Quảng Tây, nằm trong khu tự trị dân tộc Tráng (c̣n gọi là Choang, hay Tày, Nông, Nùng). Trong thơ Nguyễn Du, Thương Ngô thuộc vùng Việt Đông. Người  Hán  gọi các dân tộc phía Nam sông Dương Tử là Bách Việt : Đông Việt phía Tây Trung Hoa ; Dương Việt phía Bắc Giang Tô ; Âu Mân ở tỉnh Chiết Giang Phúc Kiến ; Nam Việt tỉnh Quảng Đông, Tây Âu tỉnh Quảng Tây ; Lạc Việt tỉnh Phúc Kiến. Dân tộc Tráng ngày nay khoảng 18 triệu người là dân tộc thiểu số đông dân nhất trong 55 dân tộc Trung Quốc sau người Hán. Đông Việt hay Việt Đông  thời xưa là một vùng rộng lớn ngày nay thuộc  tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây và Hồ Nam.

Dân tộc Tráng (hay Choang, Tày, Nùng, Nông) ngày nay c̣n giữ tiếng nói, phong tục viết chữ Nôm, 42% dân chúng chỉ nói tiếng Tráng, phần c̣n lại nói được hai thứ tiếng Tráng và Trung.  Tôi đă lần theo bước chân Nguyễn Du trong Bắc Hành Tạp Lục đi thăm vùng này. Đi thuyền theo ḍng sông Lư Giang, hai bên bờ là núi đá vôi, núi đá vôi từ vùng này chạy thẳng xuống Vịnh Hạ Long nước ta. Cảnh trí tương tự cảnh tại Ninh B́nh, Hoa Lư, đường  suối Yến vào  như Chùa Hương. Hàng trăm ngọn núi h́nh thù quái dị, người Trung Quốc cũng đặt những tên tựa như tên các ḥn núi Vịnh Hạ Long… Khác hẵn với các vùng khác của Trung Quốc, đến đây tôi thấy gần gủi, một quê hương Việt Nam : cũng lũy tre làng, người cày ruộng lúa nước với con trâu cái cày, chuồng lợn,  nhà dán hai câu đối đỏ phía trước, phụ nữ ăn trầu, cảnh trí giống như các làng quê miền Bắc Việt Nam. Đến đây  t́m lại không gian  nước Việt thời Việt Vương, Câu Tiễn, về Phạm Lăi, Tây Thi  thời Xuân Thu Chiến Quốc, về nước Nam Việt của Triệu Đà thời Tần, về Nùng Trí Cao thời Lư. Lư Thường Kiệt từng đánh sang vùng này, châu Ung, châu Khâm.  Vua Quang Trung từng có ư cầu hôn công chúa con Vua  Càn Long và xin hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây. Sử liệu nước ta về vùng này thật hiếm hoi.

Nguyễn Du đă thay đổi nơi sinh của Từ Hải, quê Hấp Huyện tỉnh An Huy trở thành Họ Từ tên Hải vốn người Việt Đông. Việt Đông là quê hương Nguyễn Đăng Tiến tước  Quản Vũ Hầu, quyền trấn thủ Thái Nguyên thay Thượng Thư Bộ Lại Nguyễn Khản  trong Lê Quư Kỷ Sự của Nguyễn Thu, tức Nguyễn Đại Lang trong Thanh Hiên Thi Tập của Nguyễn Du, Cai Gia trong Hoàng Lê Nhất Thống chí của Ngô Văn Gia phái, Cai Già trong Lịch Triều Tạp Kỷ của Ngô Cao Lăng.

Các bài thơ Thương Ngô mộ vũ và Thương Ngô trúc chi ca, Nguyễn Du làm khoảng năm 1788 trong thời gian ba năm đi giang hồ Trung Quốc (1787-1790) v́ có những chi tiết : Thuyền con khó vượt miền Hoa Hạ. Khi đi sứ Nguyễn Du, sứ đoàn gồm 27 người, hàng trăm rương ḥm đồ cống phẩm, các địa phương tổ chức tiếp đón, vận chuyển, bảo vệ quân lính hàng trăm người ;  có một vị tướng Trung Quốc chỉ huy từ Mạc Phủ Ải Nam Quan đến Bắc Kinh và trở về, quan Chánh Sứ không thể đi chiếc thuyền con. Bài 6 Thương Ngô Trúc Chi ca : Không trăng không đuốc nh́n đâu thấy. Khi đi sứ qua các nơi các trạm dừng chân, đèn đuốc thắp sáng rực cả trăng sao. Bài 8 Thương Ngô Trúc Chi Ca có câu : Hẹn bác xóm Đông thuyền để sẵn. Các Thiên Phi đến cúng thắp nhang. Nếu Nguyễn Du đi sứ th́ quan Chánh Sứ không thể hẹn bác hàng xóm phía Đông đi thắp nhang các Thiên Phi được. Bài 12 Nhất đời áo vải khách chơi xuân, Khi đi sứ quan Chánh Sứ không mặc áo vải mà mặc áo bào gấm thêu trang trọng.

Bài Thương Ngô tức sự, Nguyễn Du viết  năm 1813 khi đi sứ: Vua Nghiêu Thuấn đi tuần ở phương Nam không trở về nữa. Vua  chết ở núi  Thương Ngô, Hồ Nam. Hai bà phi khóc, nước mắt rưới vào khóm trúc thành loại trúc vết lóm đóm. Hai bà vợ của vua Thuấn, con gái vua Nghiêu là Nga Hoàng và Nữ Anh nghe tin chồng chết, đi t́m, khóc nước mắt rỏ vào những cây trúc bên ḍng sông Tương nơi hai bà nhảy xuống từ trầm. Vỏ trúc rây nước mắt trở thành loại trúc đốm (ban trúc). Dấu cũ từ ngh́n năm trước xa xôi. Điều sách chép rành rành nay hiện rơ trước mắt. Lụt mới đổ về nước cao thêm ba thước. Mây nổi che không c̣n trông rơ núi Cửu Nghi. Núi ở huyện Ninh Viễn tỉnh Hồ Nam, có chín ngọn cao vút, mây phủ dầy đặc, khó nh́n rơ. Xa xa nghe tiếng đàn tỳ bà nhưng đành phải từ tạ.. V́ khách áo xanh đang trên đường ngh́n dậm, không thể quay lại. Nguyễn Du ngồi trên thuyền đi qua Thương Ngô nghe vẳng trên sông tiếng đàn tỳ bàđưa lại, tiếng đàn hai bà phi ,ông liên tưởng đến tiếng đàn tỳ bà trên bến Tầm Dương trong bài Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị (772-846) đời Đường, nhưng chàng Tư Mă Giang Châu đang trên đường ngàn dậm không thể quay lại làm bài ca cho người gảy khúc đàn đó nên đành chia tay.

Đế Nghiêu, Đế Thuấn, Đại Vũ là những vị vua huyền thoại buổi ban đầu lịch sử Trung Quốc thời cổđại. Họ được thần thánh hóa thành những vị vua đạo đức, kiểu mẫu muôn đời. Thực tế chỉ là những tù trưởng liên minh các bộ lạc vài chục ngàn dân. Thời đại ban đầu h́nh thành cơ cấu tổ chức cai trị sơ khaiấy quyền lănh đạo các bộ lạc không lưu truyền cho con cháu mà lưu truyền cho người hùng mạnh nhất kế vị.         Vua Thuấn tên là Trọng Hoa, thuộc bộ lạc Hữu Ngu, sinh ra ở Diêu Khư, về sau lấy  chữ Diêu làm họ. Mẹ làỐc Đăng, cha là Cổ Tẩu lấy vợ khác sinh ra Tượng. Dù bị mẹ con Tượng và Cổ Tẩu đối xử không tốt. Thuấn vẫn một mực hiếu thuận giữđúng đạo làm con. (Chuyện Nhị Thập Tứ Hiếu). Danh tiếng Trọng Hoa được bộ lạc nể phục nên khi trưởng thành, ông được bầu làm thủ lĩnh bộ lạc. Ông đem bộ lạc quy thuận Đế Nghiêu (2337-2258TCN) và được Nghiêu gă cho hai người con gái, được tặng cho nhiều lương thực và gia súc. Bộ lạc Hữu Ngu dưới sự lănh đạo của ông ngày càng hùng mạnh, trở thành liên minh cột trụ dưới quyền Đế Nghiêu. Khi Nghiêu già yếu. Thuấn được nhường ngôi, được gọi là Đế Thuấn hay Nghiêu Thuấn, ông đặt thủđô tại Bồ Phần, hay Bồ Bản (Sơn Tây).

Theo Trúc Thư niên kỷ, cuốn sử biên niên đời Ngụy thời Chiến Quốc, lại viết khác. Thuấn giam  vua Nghiêu ở B́nh Dương rồi cướp lấy ngôi vua. Thuấn giam Nghiêu không cho Đan Chu là con trưởng gặp cha. Vua Thuấn sai Cổn trị thủy, Cổn không thành công bị hành h́nh. Thuấn dùng con Cổn là Vũ trị thủy. Vũ thành công. Thuấn nhường ngôi cho Vũ thành vua Đại Vũ lập nên nhà Hạ. Thuấn mất năm 2184 TCN.

 

TỨC CẢNH THƯƠNG NGÔ

Nghiêu Thuấn chơi Nam chẳng trở về,

Hai bà phi khóc trúc xanh nḥa.

Dấu xưa ngh́n thuở c̣n đâu đó,

Trang sử một thu trước mắt ta.

Lụt mới đổ về ba thước nước,

Mây giăng mù mịt Cửu Nghi mờ.

Tiếng  tỳ văng vẳng xin từ tạ,

Ngh́n dậm áo xanh khách khó qua.

 Nguyên tác  phiên âm Hán Việt :

 

THƯƠNG NGÔ TỨC SỰ

Ngu Đế nam tuần cánh bất hoàn,

Nhị phi sái lệ trúc thành ban.

Du du trầm tích thiên niên thượng,

Lịch lịch quần thư nhất vọng gian.

Tần lạo sơ thiêm tam xích thủy,

Phù vân bất biện Cửu Nghi san.

Tầm thanh dao tạ t́ bà ngữ,

Thiên lư thanh sam bất nại toàn.

Bài Mưa chiều Thương Ngô, Nguyễn Du viết : Mưa giữ lại ở Tầm Giang sớm mai lên đường muộn. Xế chiều thành Ngô Châu vẫn c̣n mưa lâm dâm. Đầy sông nước lụt tràn cả ra đất Tam Sở. Mây nổi từng mảng lớn ở núi Cửu Nghi . Chiếc thuyền nhỏ hẹp khó qua được miền đất Hoa Hạ. Vùng Trung Châu các cựu kinh đô Trung Quốc. Tóc dài đuôi sam, biết rơ dáng người Di, Măn Châu. Nhà Thanh người Di cai trị Trung Quốc, các quan lại phần lớn đều là người Di Măn Châu. Trời chiều sóng yên, Tương Đàm c̣n xa, Chén rượu đầu thuyền viếng hai bà Phi Nga Hoàng, Nữ Anh vợ vua Thuấn.

 

MƯA CHIỀU THƯƠNG NGÔ

Mưa giữ Tầm Giang,  sáng muộn đường,

Thành Ngô chiều xuống, phất mưa tuôn.

Nước tràn Tam Sở đầy sông nước,

Mây kín Cửu Nghi mờ mịt buông.

Thuyền con khó vượt miền Hoa Hạ,

Tóc sam dài tết bính  Di  nhân.

Trời xuống Tương Đàm xa gợn sóng,

Đầu thuyền chén rượu viếng hai nàng.

Nhất Uyên dịch thơ ; Nguyên tác phiên âm Hán Việt :

THƯƠNG NGÔ MỘ VŨ

Vũ trệ Tầm Giang hiểu phát tŕ,

Ngô thành bạc mộ thượng phi phi.

Nhất giang tân lạo b́nh Tam Sở.

Đại bản phù vân trú Cửu Nghi.

Trách trách tiểu chu nan quá Hạ,

Sam sam trường phát tự tri Di.

B́nh ba nhật mộ Tương Đàm viễn,

Bôi tửu bằng lan điếu nhị phi.

Mười lăm bài thơ Thương Ngô Trúc Chi Ca, là một tuyệt tác, như mười lăm bài thơ trên nét vễ chấm phá bức tranh sơn thủy, tả cảnh vùng  Thương Ngô qua các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Hồ Nam. Nguyễn Du đi thuyền từ Tầm Giang đến thành Ngô Châu,  vào Quế Lâm, trên sông đầy thuyền Quảng Đông, nhà thơ theo sông Lư Giang vào kênh Linh nối liền sông Tương và đi từ đầu sông Tương đi Vĩnh Châu, qua núi Cửu Nghi tỉnh Hồ Nam, qua Hành Dương, Trường Sa  đến cuối sông Tương, Động Đ́nh Hồ.

 

Sông Ly giang ( Li river)

 link : https://en.wikipedia.org/wiki/Li_River_(Guangxi)

 

Bài thơ cho thấy Nguyễn Du tham dự Tết Đoan Ngọ mùng 5 tháng 5 Âm Lịch, có hội đua thuyền  tưởng niệm Linh Quân  tức  Khuất Nguyên ở cuối sông Tương. Nguyễn Du viết:

Vừa mới  lụt ở Quế Lâm, thị trấn trên sông Quế Giang thủ phủ tỉnh Quảng Tây. Nhà bè nổi cao  như muốn lên tận trời.  Sau trưa gió đông càng thổi gấp. Thuyền Quảng Đông qua lại nhiều không đếm được. Ban đêm đèn sáng choang trên gác Văn Xương. Gác thờ Văn Xương Đế quân coi việc học và Văn học. Một ánh sáng lạnh lẽo buổi chiều hắt lên từ mặt nước  bóng như gương. Thuyền chơi qua lại không biêt bao nhiêu chiếc. Đầy sông vang lên tiếng hát chèo thuyền.

Mưa cứ rơi tầm tả, mây vơ vẫn. Sắc núi Cửu Nghi (Hồ Nam) không trông được rơ. Nơi chôn vua Thuấn không có g̣ mộ. Tiếng đàn trên mặt nước nghe như tiếng đàn của hai bà phi.

Lầu gác trên núi xanh tầng này nối tầng khác. Ban ngày nh́n thấy khói ráng hồng buổi chiều, ban đêm trông thấy đèn. Chùa cổ không có tên, khó hỏi thăm. Trong tầng núi cao đầy mây trắng che dày, có nhà sư nằm ngủ.

Đôi chèo tung sóng hoa, thuyền lướt nhanh như bay. Xem đua thuyền rồng xong măi tối mới về. Mặt lạ gặp nhau không tránh né. Hàm răng hạt bầu hé cười, v́ thấy ta là người Nam Di.

Một tiếng pháo trúc nổ tỏa khói lưu hoàng, Kinh động đàn chim nhạn bay vút lên từ băi cát.(Cảnh B́nh sa lạc nhạn gần núi Hồi Nhạn). Vời trông chốn đi vềở phía ven trời, từ Thương Ngôđi lên phía Bắc hẳn là đến Hành Dương. Hành Dương thuộc tỉnh Hồ Nam nằm hai bên bờ sông Tương Giang, cách Trường Sa 160 km về phía Nam ngày nay dân số hơn 7 triệu ngưởi.

Sông lớn sóng nổi mênh mông mịt mờ không bờ bến. Dăm ba thuyền khách chơi lướt nhanh giữa màn đêm. Không có trăng, không cóđèn, nh́n chẳng thấy ǵ. Chỉ nghe tiếng đàn tỳ bà từ trên nước vọng đến. (Tiếng đàn hai bà phi Nga Hoàng, Nữ Anh).

Núi Kê Lung (Lồng Gà) ở ngay giữa ḷng nước. Muôn khoảng khói sóng đều mênh mang mờ mịt. Hẹn với bác hàng xóm phía đông đem đầy đủ thuyền và mái chèo. Cùng nhau lên thắp hươngtrên Các Thiên Phi. Thiên Phi Các là nơi thờ hai bà phi Nga Hoàng và Nữ Anh. (Các là nơi thờ phượng, nhỏ, nhà Hoạn Thư –Thúc Sinh có Quan Âm Các trong vườn)

 Phía Bắc thành, hoa lựu núi đă đỏ càng đỏ thêm. Phía nam thành, liễu rủ không chế ngự được gió. Tơ bay, hoa rụng không ai đểư. Một đêm theo ḍng nước trôi đến Quảng Đông.

 Ống điếu bằng loại trúc đốm dài thước hai. B́nh trà bốc lên mùi hương Vũ Tiền; loại trà ngon hái trườc tháng cốc vũ tức tháng ba. Thuyền qua lại không hỏi han ǵ nhau. Một ḿnh ngồi dựa bên cửa sổ thuyền, đúng là cô gái đang giận chồng.

 Mười chiếc thuyền rồng bày hàng chữ nhất. Khua thanh la, đánh trống viếng Linh Quân (Khuất Nguyên 352-281 TCN). Cô gái cài hoa măi xem cuộc vui. Nhảy ra đầu thuyền không tránh người (lên xuống). Khuất Nguyên trầm ḿnh sông Mịch La là một con sông nhỏ chảy vào sông Tương.

 Thuyền bằng gỗ đường, chèo bằng gỗ lan suốt ngày rộn rịp.Qua qua lại lại không biết bao nhiêu lần. Nhớ lấy dăm ba chiếc thuyền có kết hoa trang trí. Khách chơi phong lưu bậc nhất ấy là bọn áo vải.

 Những cây dương liễu ở dọc thành mềm mại vô cùng. Lá lá, tơ tơ chưa vào thu. Ta thích nh́n thấy chúng lay động trước gió. Lúc chúng điên cuồng nhất chính là lúctinh thần cốt cách của chúng cao đẹp nhất.

Quần là dài lướt thướt, áo lụa chẻn mỏng. Búi tóc cao cao cài trâm chim thúy vũ. Được bạc nhét đầy túi tiền. Th́ dù anh biết ḿnh vô phúc, cũng cứ tiêu tiền để đến với cô gái ấy.Đoạn thơ này nói về các cô gái thanh lâu.

Đuôi thuyền treo đèn lồng dài bốn thước. Đầu thuyền, vẽ h́nh con cọp đen ś. Trên lá cờ vải viết hai chữ  Tuần Sông. Chỉ cật vấn thuyền chơi thôi, không bắt kẻ gian.

 

CA ĐIỆU TRÚC CHI

KHI QUA ĐẤT THƯƠNG NGÔ

1

Quế Lâm lụt mới nước sông trôi,

Dâng măi  nhà bè muốn  tận trời.

Trưa xế gió Đông  càng thổi gấp,

Quảng Đông  xuôi ngược rộn thuyền trôi.

2.

Ban đêm đèn sáng gác Văn Xương,

Trăng lạnh ngời lên bóng tựa gương.

Qua lại thuyền chơi bao chiếc  đến,

Đầy sông vang vọng tiếng ca thuyền.

3.

Mưa rơi tầm tả mây giăng mờ,

Sông núi Cửu Nghi xa bóng mơ.

Vua Thuấn nơi chôn không mộ đất,

Hai Phi nước vọng tiếng đàn tơ.

4.

Núi xanh lầu gác vút  tầng không.

Sương khói ban ngày, đèn tối chong.

Chùa cổ không tên nào biết hỏi,

Núi cao,  sư ngủ trắng mây giăng.

5

Tung sóng đôi chèo thuyền đẩy nhanh,

Thuyền rồng xem đấu tối  chiều xong,

Gặp nhau mặt lạ không cần tránh,

Thấy khách Nam Di cười hở răng.

6.

Nổ vang pháo trúc khói lưu hoàng,

Băi cát tung bay, nhạn mấy hàng.

Nh́n phía chân mây chừng nẻo đó,

Thương Ngô lên bắc ấy Hành Dương.

7.

Sóng lớn sông dài chẳng bến bờ,

Thuyền chơi dăm chiếc chong đèn khuya.

Không trăng không đuốc nh́n đâu thấy,

Văng  vẳng tỳ bà bến nước mơ.

8.

Kê Lung núi mọc trong ḍng nước,

Muôn khói sóng bay mờ mác  mang.

Hẹn bác Xóm Đông thuyền để sẳn.

Các Thiên Phi đến thắp hương nhang.

9.

Bắc thành lựu núi đỏ thêm đỏ,

Liễu rủ nam thành không ngăn gió.

Tơ rụng hoa bay ai biết hay.

Trôi đến Quảng Đông một đêm đó.

10

Điếu trúc thước hai bằng trúc đốm,

Vũ Tiên trà quư ngát b́nh hương.

Thuyền đi qua lại không ai hỏi,

Bên cửa thuyền ai gái giận chồng.

11.

Mười chiếc thuyền rồng bày chữ nhất,

Khua thanh la, trống viếng Linh Quân.

Gái cài hoa cúc xem vui hội,

Nhảy xuống đầu thuyền chắn bước chân.

12.

Nhộn nhịp chèo lan, thuyền gỗ đường,

Qua qua lại lại biết bao lần.

Thuyền hoa dăm chiếc không quên được,

Áo vải nhất đời vui khách xuân.

13

Ven thành dương liễu rủ xanh mơ,

Thu chửa sang, xanh rờn lá tơ.

Ta thích lá bay vờn trước gió,

Bay cuồng cốt cách thật nên thơ.

14

Quần áo lụa là trông thướt tha,

Tóc cài trâm thúy, búi cài hoa.

Có tiền, có bạc là mong tới,

Vô phúc nữa chăng cũng đắm sa.

15

Bốn thước đèn lồng treo cuối thuyền,

H́nh vẽ đầu thuyền con cọp đen,

‘Tuần Sông ‘ hai chữ trên cờ vải.

Cật vấn thuyền chơi, chẳng hỏi gian.

bản dịch  thơ Nhất Uyên ; Nguyên tác phiên âm Hán Việt :

 

THƯƠNG NGÔ TRÚC CHI CA

(Thập ngũ chương)

1

Quế Lâm tân lạo dũng trường xuyên,

Thủy ốc bằng cao dục hướng thiên.

Ngọ hậu đông phong xuy cánh cấp,

Văng lai vô số Quảng Đông thuyền.

2

Văn Xương các thượng dạđăng minh,

Nhất phiến hàn quang xạ thủy tinh.

Lai văng du thuyền bất tri  số,

Măn giang tế phát trạo ca thanh.

3.

Vũ tự bàng đà vân tự si.

Cửu Nghi sơn sắc vọng trung nghi.

Ngu Vương táng xứ vô khâu mộ,

Thủy diện duyền thanh tự nhị phi.

4.

Thanh sơn lâu các nhất tằng tằng,

Trú kiến yên hà dạ kiến đăng.

Cổ tự vô danh nan vấn tấn,

Bạch vân thâm xứ ngọa sơn tăng.

5.

Lăng hoa song trạo tật như phi,

Khán băi long chu để mộ qui.

Sinh diện tương phùng vôúy tị,

Hồ tê vi lộ tiếu Nam Di.

6.

Nhất thanh liệt trúc tán lư hoàng,

Kinh khởi sa đinh nhạn sổ hàng.

Thiên tế dao chiêm qui khứ xứ,

Thương Ngô bắc thướng định Hành Dương.

7.

Trường giang phá lăng diểu vô nhai,

Tam ngũ du thuyền sấn dạ khai.

Vô nguyệt vô đăng khán bất kiến,

Tỳ bà thanh tự thủy trung lai.

8.

Kê Lung sơn tại thủy trung ương,

Vạn khoảnh yên ba cộng diểu mang.

Tương ước đông gia cụ chu tiếp,

Thiên Phi các thượng cộng phần hương.

9.

Thành bắc sơn lựu hồng cánh hồng,

Thành nam thùy liễu bất câm phong.

Nhứ phi hoa lạc vô nhân quản,

Nhất dạ thùy lưu đáo Quảng Đông.

10.

Ban trúc yên đồng xích nhị trường.

Tràâu phù động Vũ Tiền hương.

Nhất lai nhất văng nhân vô vấn,

Độc ỷ thuyền song chính hận lang.

11.

Thập chích long chu nhất tự trần,

Xao la qua cổ điếu Linh Quân.

Hoàng hoa khuê nữ tham hành lạc,

Khiêu xuất thuyền đầu bất tị nhân.

12.

Đường chu lan tiếp nhật tân phân,

Văng văng lai lai bất yếm tần.

Kư thủ họa thuyền tam ngũ chích,

Tối phong lưu thị bố y nhân.

13.

Duyên thành dương liễu bất thăng nhu,

Diệp diệp ti ti vị cập thu.

Hảo hướng phong tiền khán dao duệ,

Tối điên cuồng xứ tối phong lưu.

14.

Trường quần tập tập duệ khinh tiêu,

Vân kế nga nga ủng thúy kiều.

Doanh đắc quỉ đầu măn nang khẩu,

Bằng quân vô phúc dă năng tiêu.

15.

Thuyền vĩ đăng lung tứ xích can,

Thuyền đầu họa hổ hắc ban ban.

Bố kỳ thượng tả ‘Tuần Hà ‘ tự,

Chỉ cật hoa thuyền, bất cật gian.

 

Paris 5-11-2016

PHẠM TRỌNG CHÁNH

 

Tác giả: Hồ Xuân Hương nàng là ai ? Khuê Văn 2000 ;  Nguyễn Du , Mười năm gió bụi và mối t́nh Hồ Xuân Hương,  Khuê Văn Paris 2010; Truyện Thơ Odyssée qua 12110 câu thơ lục bát, Khuê Văn 2005; Sử Thi Iliade qua 16933 câu thơ lục bát, Khuê Văn 2009; Tự điển t́nh yêu bằng thơ t́nh Xuân Diệu, Khuê Văn 201; Giáo Dục Việt Nam thời Pháp thuộc (1940-1945) Paris 1976; Giáo Dục Miền Nam Việt Nam 1954-1975, Paris 1980; Thơ t́nh Nhất Uyên (Huy Cận, Xuân Diệu đề tựa), Paris, 1996; Công cha như núi Trường Sơn 1975. Cánh chim từ vùng lửa đỏ (thơ nhạc với Tốn Thất Lập) HSVST 1974; Bóng thời gian, Thời gian ta măi măi c̣n xanh (với Nguyễn Đăng Hưng Liège 1972); Chiêm Bao Trắng, Thơ Sàigon 1969.

 

 


 

 

Mời đọc những bài viết khác của cùng tác giả :

 

Nguyễn Du qua Quản Trọng Tam Qui Đài - TS. Phạm Trọng Chánh

Nguyễn Du đi qua Đài Tam Qui của Quản Trọng ở Sơn Đông trên đường đi sứ về trong khoảng thời gian 21 tháng 11 đến 11 tháng 12 năm ...

Nguyễn Du và cây liễu xưa đền Mạnh Tử - TS.Phạm Trọng Chánh

Tại sao Nguyễn Du nói đến cây liễu trước đền, gỗ cây liễu tượng trưng cho bản chất tự nhiên của con người, giáo dục như đẽo gọt gỗ thành ...

 

Tử Xuân Hàm Nghi (1872 -1942), vị vua lưu đày thành nghệ sĩ - TS. Phạm Trọng Chánh

Năm 1926, để kỷ niệm 10 năm thành lập Viện Bảo tàng Auguste Rodin (1840-1917)  Hotel Biron 79 rue de Varenne, Paris 7è, năm 1916, Rodin nhà điêu khắc vĩ ...

 

Nguyễn Du qua sông hoài nhớ Văn Thiên Tường - TS. Phạm Trọng Chánh

Đầu thế kỷ 20, những người Việt Nam đi làm cách mạng thuộc ḷng hai câu thơ :  Nhân sinh tự cổ thùy vô tử. Lưu thủ đan tâm chiếu hăn ...

 

Tiểu sử Nguyễn Du qua những phát hiện mới - TS. Phạm Trọng Chánh

Nguyễn Du có quyển Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Nhân không phải lúc đi sứ năm 1813 mà có từ năm 1790 tại Hàng Châu. Giáo Sư ...

 

 

Đi t́m Cổ Nguyệt Đường và mối t́nh Hồ Xuân Hương và Nguyễn Du - TS.Phạm Trọng Chánh

Mùa hè 2011, sau một chuyến du hành khắp nước, tôi dành 5 ngày về ở tại Làng Nghi Tàm trên đường Xuân Diệu. Suốt năm ngày dù trời mưa ...

 

Tiếc thương Nhạc sĩ thiên tài Nguyễn Thiên Đạo (1940-2015) - TS.Phạm Trọng Chánh

Sáng ngày 27-11-2015 tôi  đến nghĩa trang Père Lachaise để tiễn nhạc sĩ Nguyễn Thiên Đạo đến nơi yên nghỉ cuối cùng; sau khi hỏa táng, anh sẽ nằm trong ...

Hoàng Hạc Lâu qua thi ca các sứ thần nước Nam - Phạm Trọng Chánh

Hoàng Hạc Lâu  được xây dựng tại Vũ Hán từ năm 223  do Tôn Quyền thời Tam Quốc : khi xây cổ thành Hạ Khẩu, phía Tây giáp Trường Giang, góc ...

 

Nguyễn Du qua đ́nh Tô Tần - TS. Phạm Trọng Chánh

Nguyễn Du có hai bài thơ viết về   đ́nh Tô Tần  khi đi qua cố kinh  Lạc Dương, nơi quê hương Tô Tần. Lạc Dương là một trong 4 kinh ...

 

 

Nguyễn Du trên quê hương Khuất Nguyên - TS.Phạm Trọng Chánh

Khi đi qua Trung quốc, Nguyễn Du đă nhiều lần đến nước Sở, quê hương  Khuất Nguyên:  Năm 1788- 1790 trong thời  tuổi trẻ đi giang hồ Trung Quốc  lượt ...

 

Nguyễn Du trên quê hương Đỗ Phủ - TS.Phạm Trọng Chánh

Đỗ Phủ (712-770)  thời nhà Đường, sống trong thời đại loạn An Lộc Sơn  trong 8 năm, làm tiêu hao 2/3 dân số Trung Quốc. Năm 755 nước này có ...

 

Nguyễn Du đi sứ trên quê hương Lư Bạch - TS.Phạm Trọng Chánh

Nguyễn Du lấy bút hiệu là Thanh Hiên, kết hợp từ chữ Thanh, bút hiệu Thanh Liên của thi hào Lư Bạch (701-762), và chữ Hiên thường dùng của gia ...

 

Đi theo hành tŕnh “Bắc hành tạp lục” của Nguyễn Du - TS.Phạm Trọng Chánh

Đọc “Bắc Hành Tạp Lục” nhiều nhà nghiên cứu có cảm giác Nguyễn Du rất cô đơn trước cảnh sắc và  con người tại Trung Quốc. TS Nguyễn Thị Nương ...

Tưởng nhớ Giáo sư Trần Văn Khê - TS.Phạm Trọng Chánh

Thuở thư sinh lên đường du học Âu Châu  năm 1970, túi đàn cặp sách, tuổi hai mươi : «  cầm kỳ thi họa đủ mùi ca ngâm », hành trang tôi ...

Mối t́nh “ông vua thơ Nôm” Lê Thánh Tông và Trường-Lạc hoàng hậu - TS.Phạm Trọng Chánh

Phạm Đ́nh Hổ trong Tang thương ngẫu lục quyển II,  tr 232 có chép chuyện vua Lê Thánh Tông và Trường Lạc Hoàng Hậu, một chuyện t́nh tuyệt đẹp, giữa ...

Kỷ niệm với Họa Sư LÊ BÁ ĐẢNG (1921-2015) - Ts Phạm Trọng Chánh

Những năm 1973-1976, đến Paris  tôi bắt đầu công việc sinh viên, vừa làm vừa học, là kư tên và đánh số giùm tranh litho cho  Họa sĩ Lê Bá ...

Hồ Sĩ Đống (1739-1785) - bậc thầy thi ca thời Lê trung hưng - TS. Phạm Trọng Chánh

Hồ Sĩ Đống được Phạm Đ́nh Hổ trong Vũ Trung tùy bút, bài Thi ca kể tên cùng Nguyễn Tông Khuê, Nguyễn Huy Oánh là ba bậc thầy phục hưng ...

 Đọc bài “Về cuốn sách Lịch Sử Việt Nam được cho là kiệt tác sử học” - TS Phạm Trọng Chánh.

Nhân đọc bài : Về cuốn sách được cho là kiệt tác sử học của ông Tiến Anh Hồng Quang đăng trên Nhân Dân Điện tử thứ năm 27-1-2014. Bài viết có nhiều hiểu lầm; Giáo sư Lê Thành Khôi nay đă lớn tuổi 93 tuổi, chẳng phải bận rộn với bài viết nhỏ mọn này, là môn sinh Giáo sư Lê Thành Khôi tôi xin thay mặt Giáo sư trả lời các điểm thắc mắc của ông Tiến Anh Hồng Quang.

Nguyễn Tông Khuê - bậc thầy thi ca đời Lê Trung Hưng - TS. Phạm Trọng Chánh

Phạm Đ́nh Hổ trong Vũ Trung Tùy Bút có nói đến ba nhà thơ lớn, ba bậc thầy thi ca thời Lê Trung Hưng : Nguyễn Tông Khuê (1693-1767), Nguyễn Huy ...

GS.Lê Thành Khôi & lịch sử Việt Nam - TS.Phạm Trọng Chánh

Cuối tháng 8-2014  Nhà Xuất bản Thế Giới Hà Nội cho ra mắt quyển  « Lịch Sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XX » của Giáo Sư Lê Thành ...

Đọc sách : "Đạo Cao Đài và Victor Hugo" của TS.Trần Thu Dung - TS.Phạm Trọng Chánh

Victor Hugo là một nhà văn lớn, nhà chính trị Cộng ḥa  Pháp, chống lại Đế Chế Napoléon III, từng phải lưu vong xa nước 17 năm. Ông qua đời ...

Patrick Modiano giải Nobel văn chương 2014 - TS.Phạm Trọng Chánh

Sinh ngày 30-7-1945 tại Boulogne Billancourt, ngoại ô Paris, tác giả hơn 30 quyển tiểu thuyết, truyện phim, giải thưởng Văn Chương Hàn Lâm Viện Pháp, giải thưởng Goncourt, tác ...

Hồ Xuân Hương đi buôn (1807-1811) : “mẹ già nhà túng, ăn ở không yên ổn” - TS. Phạm Trọng Chánh

Trong bài tựa Lưu Hương Kư, Tốn Phong viết:  “ Từ đó  (sau lần đến thăm xuân 1807) có những lúc tôi phải vào Nam, ra Bắc, không thể cùng ...

Nguyễn Du : Ra Bắc 1796, t́nh duyên tan vỡ - Ts.Phạm Ttrọng Chánh

Nguyễn Du cho rằng việc vào Nam từ năm 1794 đến 1796 là hoài công, vô ích. Và mong rằng việc ra Bắc năm 1796 sẽ làm nên việc.  Sau ...

Đọc sách : Nguyễn Du trên đường gió bụi của Hoàng Khôi - Nhà Xuất bản Văn Học. Hà Nội- 2013 - Ts.Phạm Trọng Chánh

Có ǵ vui hơn, khi những thành quả nghiên cứu văn học của ḿnh được bè bạn Hội Kiều Học trong nước hưởng ứng viết thành tiểu thuyết.  Nhận được ...

 Hồ Xuân Hương cô hàng bán sách phố Nam thành Thăng Long (1804-1807) - TS. Phạm Trọng Chánh

Khoảng 10 năm trước năm 1813 Tốn Phong đă đến thăm  Xuân Hương Hồ Phi Mai tại hiệu sách Xuân Hương, Phố Nam thành Thăng Long, thuở ấy nàng ở ...

Nguyễn Du : những mỹ nhân trên đường mười năm gió bụi (1786-1796) - TS. Phạm Trọng Chánh

Sau ba năm đi giang hồ Trung Quốc, Nguyễn Du trở về ở tại Thăng Long từ cuối năm 1790 cho đến năm 1794. Đó là ba năm « Chữ t́nh ... 

Nguyễn Du gặp Đoàn Nguyễn Tuấn, sứ đoàn Tây Sơn tại Hoàng Châu 1790 - TS. Phạm Trọng Chánh

Nguyễn Du sau khi đậu Tam Trường (1783) ở Trường thi Sơn Nam lúc 17 tuổi, được anh là Nguyễn Khản, Thượng Thư Bộ Lại kiêm Trấn thủ Hưng Hóa, ...

Nguyễn Du : nhà sư Chí Hiên “Giang Bắc, Giang Nam túi tiền không” (1788-1790) 
TS. Phạm Trọng Chánh

Nguyễn Du, mang danh hiệu Chí Hiên, danh hiệu Nguyễn Du dùng cho đến năm 1796, kư tên hai bài thơ  tặng Hồ Xuân Hương, lưu lại trong Lưu Hương ...

Nguyễn Du chia tay Nguyễn Đại Lang, Nguyễn Sĩ Hữu tại Liễu Châu 1788 - TS. Phạm Trọng Chánh

Nguyễn Du gọi cuộc đời từ 20 đến 30 tuổi của ḿnh là « 10 năm gió bụi » (1786-1796), gia phả và sách vở giáo khoa trăm năm qua  lại viết ...

Nguyễn Du từ Thái Nguyên sang Vân Nam cuối năm 1787 - TS. Phạm Trọng Chánh

Bao nhiêu năm nghiên cứu về Nguyễn Du, chúng ta đă biết hết cuộc đời Nguyễn Du chưa ?  Nguyễn Du có quyển Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm .

Dịch chương “Nhă Ca”, một dâm thơ trong Cựu ước - TS. Phạm Trọng Chánh

“Nhă Ca”  (CANTIQUES) là một tác phẩm văn chương cổ đại của dân tộc Do Thái, cách chúng ta khoảng 630 năm trước Tây lịch. Một áng văn chương trữ ...

Đọc Lưu Hương Kư của Hồ Xuân Hương - TS. Phạm Trọng Chánh

Giữa thời điểm các nhà sách hải ngoại thi nhau đóng cửa, người đọc tiếng Việt ngày càng thưa thớt, tác giả gửi sách đi cho các nhà sách, không

Hồ Xuân Hương và quan Hiệp Trấn Sơn Nam Thượng Trần Ngọc Quán - Phạm Trọng Chánh

Trần Ngọc Quán quê Nghệ An, trước làm quan Cai Bạ doanh Quảng Đức (Chức vụ đứng đầu một doanh, tỉnh Thừa Thiên ngày sau). Tháng 2 năm Ất ..

Hồ Xuân Hương và Phật giáo - TS. Phạm Trọng Chánh

Điều nghịch lư trong thơ truyền khẩu gán cho Hồ Xuân Hương là Xuân Hương thường đi chùa, cuối đời có đi tu một thời gian, nhưng trong thơ lại ...

* Đối thoại: Sở tri chướng và kinh tế thị trường – Phạm Trọng Chánh, Ph.D., Paris, Pháp,  
              Link :
http://giaodiemonline.com/baiup/DTGH(3).htm