NHÂN NGHỊ QUYẾT SCR-165

XÉT LẠI HIẾN PHÁP 1956 CỦA ĐỆ NHẤT CỘNG H̉A
 

Nguyễn Kha

 

 

Một sự tập trung quá mức quyền hành cùng sự thủ tiêu đối lập và sự hiện diện của một chính đảng duy nhất đă đưa chế độ Ngô Đ́nh Diệm lần lần đi đến một chế độ quyền hành cá nhân áp dụng những phương tiện chuyên chế mà tiếng súng ngày 1-11-1963 đă đưa vào dĩ văng.

(giáo sư Nguyễn Văn Bông)

 

 

SCR-165 :

SACRAMENTO, California (Người Việt) – Quốc Hội California vừa chọn vinh danh Tháng Mười, 2016 là Tháng Việt Nam Cộng Ḥa, sau khi thông qua Nghị Quyết SCR-165, do Thượng Nghị Sĩ Janet Nguyễn làm tác giả, thông cáo báo chí của văn pḥng vị dân cử gốc Việt này gởi ra cho biết.

“Tháng Mười, 2016 được chọn là Tháng Việt Nam Cộng Ḥa nhân dịp kỷ niệm 60 năm ngày Hiến Pháp Việt Nam Cộng Ḥa ra đời, thiết lập nền dân chủ đầu tiên của miền Nam Việt Nam,” Thượng Nghị Sĩ Janet Nguyễn được trích lời phát biểu. “Tôi rất tự hào là tác giả của nghị quyết này và chọn Tháng Mười để tưởng nhớ những sự hy sinh vĩ đại của nhiều quốc gia, đặc biệt là các lực lượng quân đội miền Nam Việt Nam và Hoa Kỳ.”

Nguồn: http://www.nguoi-viet.com/little-saigon/california-vinh-danh-vnch/

 

Hiến pháp Việt Nam 1956 của đệ nhất Cộng ḥa do Quốc hội biểu quyết ngày 20/10/1956 được Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm ban hành ngày 26/10/1956, thành lập nền Đệ nhất Cộng ḥa.

 

 

Hiến pháp gồm 98 điều, chia làm 8 thiên. Hiến pháp tuy là do sự đóng góp của nhiều người [1] , kể cả đóng góp một cách gián tiếp của các chức sắc trong Giáo hội Công giáo Việt Nam (như linh mục Bữu Dưỡng và nhóm Tinh Thần), nhưng nội dung chính vẫn do ông Ngô Đ́nh Nhu, người được cho là lư thuyết gia của chế độ, duyệt xét chung quyết. Bản Hiến pháp này, ngoài một vài từ ngữ mà trên mặt … tượng thanh có vẻ rút ra từ “chủ nghĩa” gọi là “Nhân Vị” như “giá trị siêu việt”, “nhân vị”, “duy linh”, “Đấng tạo hóa”, ... c̣n nội dung thật sự của nó chỉ là một nỗ lực “đầu Ngô ḿnh Sở” (từ của ông Đoàn Thêm trong Những Ngày Chưa Quên, Đại Nam, 1969) của một ít thần học Thiên Chúa giáo Âu châu, pha trộn vài điều của Tổng thống chế Mỹ và một ít triết lư Đông phương mà thôi.

Tiếc rằng nỗ lực đó hoàn toàn thất bại. Có hai lư do để giải thích sự thất bại này:

● Thứ nhất là v́ lúc bấy giờ (và sau đó tan dần không c̣n dấu vết ǵ đáng kể theo sự sụp đổ của chế độ vào năm 1963) thuyết Nhân Vị của ông Nhu là tổng hợp trụy thai [2] c̣n hỗn tạp và c̣n ở dạng sơ khai nên không có những yếu tính đặc thù để tạo ra nét độc đáo riêng cho Hiến pháp;

● Thứ hai là v́ nhu cầu quyền lực chính trị quá lớn nên ông Nhu đă bất chấp nội dung “Nhân Vị” - dù c̣n mơ hồ chưa thành h́nh - để đưa vào Hiến pháp những nguyên tắc chuyên chính độc tài, chà đạp sinh hoạt dân chủ của quốc gia và quyền tự do của công dân, với mục đích tập trung quyền hành vào một thiểu số thống trị. Nghĩa là áp đặt càng nhiều càng tốt tính độc tài trong bộ luật căn bản và cao cấp nhất của quốc gia.

Thực vậy, ông Nhu đă muốn cho anh ḿnh trở thành một thứ Đế vương phong kiến với những h́nh thức và ngôn ngữ có vẻ dân chủ tự do... Chính ông Ngô Đ́nh Diệm cũng đă công khai bày tỏ sự tán đồng nội dung của bản Hiến pháp này trong bài phỏng vấn của nhật báo Pháp Le Figaro số ra ngày 23 và 24 tháng 3 năm 1959: “Cần phải nhớ lại quá khứ của chúng tôi. Chế độ chính trị ở Việt Nam thời nào cũng vậy, đă thành lập trên nguyên tắc điều khiển việc nước không phải do những đại biểu của quốc dân mà do những ông vua có những tể tướng sáng suốt phụ tá... Chúng tôi phải lập lại ở Việt Nam hệ thống luân lư như ngày xưa [3] Ông Nhu đúng là vị “tể tướng sáng suốt” đă sơn son thếp vàng cho ông vua Ngô Đ́nh Diệm phong kiến của thời đại quân chủ lên làm nguyên thủ của nước Việt Nam Cộng ḥa theo Tổng thống chế, để xây dựng tự do dân chủ cho miền Nam chống Cộng! Trách ǵ dân miền Nam chẳng rủ nhau theo Việt Cộng.

Nói chung, để kiểm soát và bóp nghẹt quyền của người dân, Hiến pháp 1956 đă tung ra một mớ gươm Damoclès treo trên đầu người dân với những từ ngữ mà chính quyền muốn giải thích như thế nào cũng được như “điều kiện luật định, lư do quốc pḥng, an ninh công cộng, an toàn chung, trật tự chung, lợi ích công cộng, đạo lư công cộng...”. Và để bảo đảm tối đa sự kiểm soát này, Hiến pháp c̣n nâng chủ trương nầy lên thành nguyên tắc tổng quát trong điều 28: “quyền của mỗi người đều được xử dụng theo những thể thức và điều kiện luật định”. Điều 28 quỷ quyệt này đóng kín một cách hoàn toàn và vĩnh viễn tất cả mọi hy vọng của người dân về một sinh hoạt dân chủ và an toàn cá nhân dưới chế độ, đồng thời trao lại một cách hoàn toàn và vĩnh viễn quyền sinh sát vào tay một thiểu số gia đ́nh họ Ngô đang nắm quyền lực trong tay.

Theo Wikipedia th́:

“Về mặt pháp lư, bản Hiến pháp Việt Nam Cộng ḥa 1956 khẳng định việc phân chia quyền lực của chế độ là tam quyền phân lập và có mục tiêu để hai ngành lập pháp hành pháp kiểm soát lẫn nhau. Về ngành tư pháp th́ quyền lực kém hơn và không được độc lập hoàn toàn v́ lệ thuộc vào Bộ Tư pháp và phủ Tổng thống bổ nhiệm và điều hành. So sánh với các quốc gia khác th́ Hiến pháp 1956 dồn nhiều quyền lực vào ngành hành pháp hơn cả tổng thống có những đặc quyền trong những trường hợp nội loạn, chiến tranh hay khủng hoảng tài chánh.

Điều đáng ghi nhận là nền tảng của bản hiến pháp nêu ra ba khía cạnh: "văn minh Việt Nam", "duy linh", và "giá trị con người" như ghi rơ trong lời mở đầu. V́ văn bản ghi là dân tộc có "sứ mệnh" trước "Đấng Tạo hóa" nên có người cho rằng đây chứng minh sự thiên vị của chính quyền với Thiên Chúa giáo trong khi các tôn giáo khác không được đề cập đến.”

(Nguồn Wikipedia:Hiến pháp Việt Nam Cộng ḥa 1956)

Ngoài một số nhà nghiên cứu Mỹ như Joseph Buttinger (trong Vietnam, a Political History, 1968), Stanley Karnow (trong VietnamA History, 1983), Frances Fitzgeral (trong Fire in the Lake, 1972), Robert Shaplen (trong The Cult of Diem, 1972) đă phân tích và chỉ trích nặng nề Hiến pháp 1956 của Đệ nhất Cộng ḥa, nhiều luật gia Việt Nam tên tuổi cũng đă nghiêm khắc lên án Hiến pháp đó là thoái hóa, kỳ thị và độc tài :

 

 

■ Luật gia Nguyễn Hữu Châu, giáo sư đại học Luật khoa Paris, anh rễ bà Nhu (chồng bà Trần thị Lệ Chi) , nguyên Bộ trưởng Bộ Phủ Thủ tướng năm 1957 và 1958, đă có những phán xét không tốt đẹp ǵ cho Hiến pháp Nhân Vị 1956 của Đệ nhất Cộng ḥa. Trong Luận án Cao học Luật khoa (Mémoire DES, 1960) ông Nguyễn Hữu Châu sau khi phân tách từng chương từng mục đă kết luận rằng:

Xét đến lịch sử các cơ chế và tư tưởng chính trị của Việt Nam, thật khó mà không công nhân rằng hệ thống của Hiến pháp ngày 26-10-1956 quả là một sự thoái hóa so với hệ thống chính trị cổ truyền. Tại v́ Hiến pháp 26-10-1956 đă giữ lại những ǵ kém tiến bộ nhất của chế độ xưa cũ, rồi bổ túc bằng những sự kiềm chế tân tiến nhất.

Do đó mà cái ư niệm về lănh đạo (leadership) được tŕnh bày trong bản dịch chính thức của Hiến pháp Việt Nam Cộng ḥa không có cái ư nghĩa mà các nhà Xă hội học Mỹ trao gửi lúc đầu [4] .

 

Vũ  Văn Mẫu

 

■ Giáo sư Thạc sĩ Luật Vũ Văn Mẫu (1914-1998), nguyên Bộ trưởng Ngoại giao của chính phủ Ngô Đ́nh Diệm, sau nầy, cũng đă tố cáo ư đồ thiên vị Thiên Chúa giáo của bản Hiến pháp 1956 như sau:

Điều 17 của Hiến pháp Việt Nam 1956 đă được giáo sư Bửu Hội chiếu dẫn trước tổ chức Liên Hiệp Quốc để chứng minh rằng tại Việt Nam không có sự kỳ thi tôn giáo. Điều 17 này qui định như sau: “Mọi người dân đều có tự do tín ngưỡng, tự do hành giáo và tự do truyền giáo, miễn là xử dụng quyền ấy không trái với luân lư và thuần phong mỹ tục.” Hiến pháp 26/10/1956 như vậy đă minh thị công nhận nguyên tắc tự do tín ngưỡng và b́nh đẵng giữa các tôn giáo. Tuy nhiên trong phần “Mở đầu” của Hiến pháp, đă có một đoạn phản chiếu của một sự thiên vị Thiên Chúa giáo khá rơ rệt như sau:

“Ư thức rằng nước ta ở trên con đường giao thông và di dân quốc tế, dân tộc ta sẵn sàng tiếp nhận các trào lưu tư tưỡng tiến bộ để hoàn thành sứ mệnh trước Đấng Tạo Hóa và trước nhân loại là xây dựng một nền văn minh nhân bản và phát triễn con người toàn diện....

Trong đoạn văn trích dẫn này, phần mở đầu của Hiến pháp 1956 đă đề cập đến sứ mạng trước Đấng Tạo Hóa, tức là trước Đức Chúa trời trong Thiên Chúa giáo, mà không đề cập tới các tôn giáo khác.

Đoạn văn này đă đượm sắc thái thiên vị Thiên Chúa giáo. Vô t́nh hay cố ư, đoạn văn này đă tạo cho Thiên Chúa giáo một địa vị ưu đăi đặc biệt tại Việt Nam v́ Hiến pháp 1956 nói rơ là nhằm mục đích hoàn thành sứ mạng trước Chúa tức là Đấng Tạo hóa đă tạo dựng ra trời đất và vạn vật theo như Thánh kinh của Thiên Chúa giáo đă chép. [5]

■ C̣n giáo sư Nguyễn Văn Bông (1929-1971), Thạc sĩ Công Pháp Đại học Sorbonne (Paris), Viện trưởng Viện Quốc gia Hành chánh (Sài G̣n) th́ trong đoạn kết của giáo tŕnh năm thứ nhất Cử nhân Luật về môn “Luật Hiến pháp và Chính trị học” của Đại học Luật khoa Sài G̣n, 1966, đă viết rằng:

 

GS Nguyễn  Văn Bông

 

Thật vậy, ngay ở điều khoản thứ ba, chúng ta nhận thấy “Tổng thống Lănh đạo Quốc gia”. Tổng thống bổ nhiệm và cách chức các sứ thần cùng công chức cao cấp không cần ư kiến của Quốc hội. Trái với nguyên tắc phân nhiệm mà điều 3 ghi rơ là “nguyên tắc phân nhiệm giữa hành pháp và lập pháp phải rơ rệt”. Hiến pháp 1956 dành cho Tổng thống quyền kư sắc luật giữa hai khóa họp Quốc hội, quyền kư sắc lệnh tuyên bố t́nh trạng khẩn cấp, báo động hoặc giới nghiêm.

Một sự tập trung quá mức quyền hành cùng sự thủ tiêu đối lập và sự hiện diện của một chính đảng duy nhất đă đưa chế độ Ngô Đ́nh Diệm lần lần đi đến một chế độ quyền hành cá nhân áp dụng những phương tiện chuyên chế mà tiếng súng ngày 1-11-1963 đă đưa vào dĩ văng.

Hiến pháp là văn bản công khai và là nền tảng quy chiếu luật pháp của quốc gia mà ngay từ những ngày đầu của chế độ Ngô Đ́nh Diệm, những người đẻ ra nó c̣n đưa vào đó một nội dung phi dân chủ phản dân quyền độc tài trắng trợn như thế th́ trên thực tế, một thực tế đă được bưng bít và che đậy bằng màng lưới công an mật vụ dày đặc, người dân c̣n chịu thống khổ ngần nào, giá trị và vị thế con người c̣n có nghĩa ǵ trước mặt kẻ cầm quyền!

Thật vậy, trừ vài năm đầu, lúc mà bộ máy của chế độ đang trong giai đoạn cũng cố và người dân c̣n Cộng tác để cùng ông Diệm xây dựng miền Nam, c̣n kể từ năm 1959, khi những công cụ đàn áp khủng khiếp như Đảng Cần Lao, Lực lượng Đặc biệt (của ông Ngô Đ́nh Nhu do Lê Quang Tung chỉ huy), Đoàn Công tác Đặc biệt miền Trung (của ông Ngô Đ́nh Cẩn), Sở Nghiện cứu Chính trị Xă hội (của bác sĩ Trần Kim Tuyến), và 5 cơ quan an ninh, công an, mật vụ … đă được cũng cố như thiên la địa vơng chụp xuống miền Nam, th́ Hiến pháp 1956 trở thành tờ giấy lộnQuốc hội Lập pháp trở thành một bầy gia nô để “hợp pháp” hóa lệnh của phủ Tổng thống mà thôi.

Từ đó, theo đánh giá của ông Trần Văn Chương, thân phụ của Bà Trần Lệ Xuân (Bà Nhu), Đại sứ Việt Nam Cộng ḥa tại Mỹ (1955-1963), th́  chế độ Diệm đă hiện h́nh trọn vẹn là “một chế độ độc tài toàn trị [6] .

Nguyễn Kha

(Cập nhật 10-2016)

 


 

CƯỚC CHÚ :

 

[1] Sau cuộc Trưng cầu Dân ư ở phía Nam vĩ tuyến 17 vào tháng 10 năm 1955 với kết quả là Quốc trưởng Bảo Đại bị truất phế th́ tân tổng thống Ngô Đ́nh Diệm cho nhóm họp Ủy ban Thảo hiến vào cuối năm 1955 gồm 11 thành viên để soạn Hiến pháp cho quốc gia cộng ḥa mới. Sang tháng 3 năm 1956 th́ mở cuộc bầu cử Quốc hội Lập hiến với 123 đại biểu để hoàn tất công việc soạn thảo và thông qua bản hiến pháp. Chính Quốc hội cũng đề cử 15 người lập ra Ủy ban hiến pháp riêng, chủ tịch là Trần Chánh Thành [Bộ trưởng bộ Thông Tin] để cùng hiệp soạn. Tháng 7 năm 1956 th́ Quốc hội bỏ phiếu thuận và đến 26 tháng 10, sau khi một vài điểm dị biệt giữa hai ngành lập pháp và hành pháp được giải quyết, th́ tổng thống kư văn bản ban hành. (Theo Wikipedia)

[2] Trụy thai” là nhóm chữ của Linh mục Kim Định dùng để đánh giá một cách diễu cợt hệ tư tưởng Duy Dân của ông Lư Đông A. Thật ra th́ Linh mục viết … nặng hơn nhiều, ngài dùng nhóm chữ “thiên tài trụy thai” để phê phán toàn bộ tư tưởng và hành động của cá nhân vị Thư kư trưởng đảng Duy Dân nầy. Người viết dùng lại nhóm chữ nầy để “trả lại cho César những ǵ của César”.

[3] Bản dịch của nhật báo Tự Do ngày 4-4-1959.

[4] Dans l’histoire des institutions et des idées politiques du Vietnam, il sera difficile de ne pas reconnaitre que le système de la constitution du 26 Octobre 1956 constitua une regression par rapport au système politique traditionnel. Car il a repris de l’ancien système ce qu’il a le moins progressiste pour le completer par lesmoyens de contrainte les plus modernes. Ainsi cette notion de Leadership qui figure dans la traduction officielle de la Constitution de la République du Vietnam n’a pas le sens que les sociologues Américains lui donnent originalement.

[5] Vũ Văn Mẫu, Sáu tháng Pháp nạn, in Ronéo trong nước năm 1984. Giao Điểm in lại, 2003, California.

[6] Foreign Relations of the United States FRUS 1961-1963, Tập III, Memo của Forrestal gửi Harriman ngày 8-3-1963.

 

Nguyễn Kha

Nguồn: Tuyển tập “1963-2013 Năm Mươi Năm Nh́n Lại” Thiện Tri Thức, California, 2013

 

http://thuvienhoasen.org/a16580/33-che-do-ngo-dinh-diem-che-do-nguoc-long-dan-va-phan-thoi-dai-nguyen-kha