Tài liệu lịch sử : Niên biểu Văn nghị công

 

 

THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP CỦA PHỤ CHÁNH ĐẠI THẦN

TRẦN-TIỄN THÀNH (1813-1883)

 

Minh Nguyện giới thiệu

 

 

“ Vào thời  Pháp can thiệp, trang sử nước ta ghi đậm dấu son của nhiều nhân vật kiệt xuất như Phan Thanh Giản, Phạm Phú Thứ, nổi tiếng v́ tinh thần cởi mở đối với văn minh phương Tây và những khác vọng cải cách của họ; hay như Nguyễn Tri Phương, Ḥang Diệu, v́ cái chết anh hùng và sự phản kháng quyết liệt của họ chống mọi thỏa hiệp với phương Tây. Nhưng cũng có những nhân vật không kém xuất sắc, cũng từng đứng vào hàng đệ nhất công thần, nhưng cho đến nay tên tuổi c̣n chưa được nhiều người biết đến bởi v́, tuy ủng hộ duy tân, song họ không có dịp sang Pháp như Phan Thanh Giản, Phạm Phú Thứ. Là nho sĩ chân chính, họ đă hy sinh bi thảm v́ nghĩa vua tôi nhưng không có vinh dự xả thân giữa chiến trường như Hoàng Diệu, Nguyễn Tri Phương. Trong số những người ấy, có Trần Tiễn Thành”. Đó là những lời mở đầu của nhà học giả Đào Duy Anh trong bài giới thiệu về thân thế và sự nghiệp của Phụ chánh đại thần Trần tiễn Thành, đăng trên tạp chí Huế thành hiếu cổ (BAVH, 4-6/1944, bản dịch Bùi Trần Phượng).

Nay tài liệu Niên biểu Văn nghị công được công bố, nhằm ghi lại những nét chính trong cuộc đời và sự nghiệp của Phụ chánh đại thần Trần Tiễn Thành (1813-1883), do người con trai thứ ba là Cụ Minh Xuyên Trần tiễn Hối biên soạn vào năm 1894; bản dịch tiếng Việt do Vũ Bạch Ngô hoàn tất vào năm 1994 và bản điện tử vào năm 2001.

Ông vốn tên là Trần Thời Mẫn, được vua Tự Đức ban tên Tiễn Thành, đại thần triều Nguyễn, người làng Minh Hương, nay thuộc xă Hương Vinh (huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế), tổ tiên gốc người Phúc Kiến (Trung Quốc) đến lập nghiệp tại Thuận Hoá từ thế kỉ 17.  Đỗ Tiến sĩ năm Minh Mạng 18 (1838), thời vua Thiệu Trị làm án sát sứ Thanh Hoá, thời vua Tự Đức làm thượng thư Bộ Công sung Cơ mật viện đại thần, thượng thư bộ Hộ,  rồi thượng thư bộ Binh (1862), kiêm quản Khâm thiên giám và Tổng tài Quốc sử quán. Ông được thăng Hiệp biện đại học sĩ vào năm 1871, Văn Minh điện Đại học sĩ và Cần chánh điện Đại học sĩ vào năm 1878.

Ông khởi đầu sự nghiệp quân sự khi được phái đi dẹp loạn Đá Vách tại Quảng Ngăi rồi pḥng vệ cửa Thuận an tại Thừa Thiên Huế khi thực dân Pháp bắt đầu xâm chiếm nước ta. Ông là người đă t́m ra đất để xây lăng vua Tự Đức và làm Đổng lư chỉ huy công tŕnh này (1864).

Về hoạt động ngoại giao, năm Tự Đức 17 (1864) sung Khâm sai toàn quyền phó sứ cùng với chánh sứ Phan Thanh Giản hội thương với Pháp để chuộc các tỉnh Nam Kỳ. Năm 1867 ông được cử làm Chánh sứ vào Saigon thương lượng cùng tướng De Lagrandière nhưng thất bại.

Năm Tự Đức thứ 36 (1883) nhận di chiếu cùng với Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường sung chức Phụ chính đại thần cho tự quân Dục Đức; nhưng hai ông Thuyết và Tường lấy cớ Dục Đức bị tiên đế chê không xứng đáng nên tôn Lăng quốc công Hồng Dật (em út vua Tự Đức) lên ngôi đặt niên hiệu Hiệp Hoà. Trong lúc ấy, thực dân Pháp đưa tàu chiến và binh lính vào cửa Thuận An bắt ép triều đ́nh Huế phải kư Hoà ước chấp nhận sự bảo hộ của Pháp. Vua Hiệp Hoà và Phụ chính đại thần Trần Tiễn Thành không đồng ư vối chủ trương cực đoan, cứng rắn của hai ông Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường đang nắm giữ binh quyền trong tay. Cuối cùng những người cực đoan đă truất và giết vua Hiệp Hoà, đưa Ưng Đăng lên ngôi lấy niên hiệu là Kiến Phước, đồng thời cho người ám sát Trần Tiễn Thành (30.10 Quư Mùi, 1883).

·           Nhận xét về ông, trong Từ điển bách khoa toàn thư viết như sau :

Trần Tiễn Thành học rộng, giỏi thơ, làm quan suốt 45 năm trải qua nhiều lĩnh vực hành chính, văn hoá, ngoại giao, xây dựng, quân sự..., trong lĩnh vực nào ông cũng tỏ ra nghiêm cẩn. Ông cũng có những biểu hiện muốn duy tân đất nước qua việc tiếp đón Nguyễn trường Tộ nhiều lần, gả con gái Trần Thị Nhàn cho Nguyễn lộ Trạch. Cái chết của Trần Tiễn Thành là một bi kịch thời "Tứ nguyệt tam vương" của triều Nguyễn.

·           Trong Đại Nam chính biên liệt truyện viết như sau:

Ông tính vốn trung thực, làm quan thanh cần, được vua Tự Đức rất là quyến luyến...Tới khi tuổi già gặp lúc gian nan, bị chết v́ nạn, người người phần nhiều đều mến tiếc.

 

Kỳ đài kinh thành Huế xưa

 

 

Tóm lược 6 tập Niên biểu :

 

Quyển I :

22.11,  Quư Dậu (Gia Long thứ 12, 1813): Công ra đời tại làng Minh Hương, con trưởng của ông Trần triều Dực và bà Lâm thị Châu; huư Dưỡng Độn, tự Thời Mẫn, hiệu Tốn Trai, ngự tứ danh Tiễn Thành do vua Tự Đức ban cho; bạn của thân sinh là ông Trương đăng Quế đến thăm nghe tiếng khóc thấy kỳ lạ, tiên đoán sẽ có sự nghiệp lớn.

13 tuổi,  Ất Dậu (Minh Mạng thứ 6, 1825):

. Tháng giêng: Cụ thân sinh được bổ nhiệm làm Tri phủ Tân Định (Gia Định-Sàig̣n), công ở lại được bà cô (Trần thị Dũ) nuôi ăn học; sáu tháng sau thân sinh mất ở phủ lỵ.

23 tuổi, Ất Tỵ (MM 16, 1835):

. Cưới bà Lương thị Thoại, con gái thượng thư bộ Lễ Lương tiến Tường, người làng Niêm Pḥ.

25 tuổi,  Đinh Dậu (MM 18, 1837):

. Thi Hương đỗ thứ 14, Hà công Quyền làm chủ khảo, Phan thanh Giản là phó khảo; năm sau (1838) thi Hội đỗ thứ 10, Trương đăng Quế là chủ khảo, Hà duy Phan là phó khảo; vào Điện thí đỗ Tam giáp đồng Tiến sĩ thứ 5, cuối năm được bổ Hàn lâm viện biên tu;

. Sinh trưởng nữ Thị Khương.

27 tuổi, Kỷ Hợi (MM 20, 1839):

. Sung Cơ mật viện (CMV) hành tầu.

28 tuổi, Canh Tư (MM 21, 1840):

. Thăng chủ sự ty bộ Lễ nhưng sung CMV hành tầu.

29 tuổi,  Tân Sửu (Thiệu Trị nguyên niên, 1841):

. Thăng viên ngoại bộ Lại nhưng vẫn sung CMV hành tẩu.

30 tuổi, Nhâm Dần (TT 2, 1842):

. Hộí giá vua ra Bắc, sứ nhà Thanh sang Hà Nội sắc phong;

. Tháng 5 đồng chủ khảo thi Hội.

31 tuổi, Quư Măo (TT 3, 1843):

. Thăng Thự Lang trung bộ Binh;

. Tháng 10, giám khảo thi Hương Hà Nội.

32 tuổi, Giáp Th́n (TT 4, 1844);

. Thực thụ Lang trung bộ Binh;

. Bà cô Trần thị Dũ qua đời, công xin về quê lo tang sự.

33 tuổi,  Ất Tỵ (TT 5, 1845):

. Thự Án sát Thanh Hóa.

36 tuổi, Mậu Thân (Tự Đức nguyên niên, 1848):

. Tháng 6, Thự Thái bộc tự khanh, Biện lư bộ Hộ;

. Tháng 10, Khâm sai phó chủ khảo thi Hương Hà Nội.

37 tuổi, Kỷ Dậu (TĐ 2, 1849):

. Tháng 3, tri cống cử thi Hội;

. Tháng 8, Thực thụ Thái bộc tự khanh.

38 tuổi,  Canh Tuất (TĐ 3, 1850):

. Tháng 4, sinh trưởng tử Tiễn Đăn;

. Tháng 7, Biện lư bộ Lại, kiêm quản Đại lư tự;

. Tháng 8, làm đốc biện đóng thuyền Tường nhạn và thuyền vận tải đường biển, được thưởng.

. Tháng 9, thăng Bố chánh  Gia Định.

39 tuổi, Tân Hợi (TĐ 4, 1851):

. Tháng 4, Thị lang bộ Công; sung biện Nội các (NC) sự vụ.

40 tuổi,  Nhâm Tư (TĐ 5, 1852):

. Tháng giêng, Thực thụ thị lang bộ Công;

. Tháng 7, vua ban tên Tiễn Thành, với ư nghĩa hăy noi theo gương Tô hiến Thành đời nhà Lư để pḥ vua, giúp nước.

41 tuổi, Quư Sửu (TĐ 6, 1853):

. Tháng 2, sung chức duyệt quyển thi Điện;

. Tháng 8, là 1 trong 12 được vua khen là “biết cảm kích, hăng hái, siêng năng, cẩn thận, gấp lo việc công”.

43 tuổi, Ất Măo (TĐ 8, 1855):

. Tháng 7, tán tương quân vụ đánh giặc thượng Đá Vách, Quảng Ngăi;

. Cuối năm, sung biện NC sự vụ như cũ.

44 tuổi, Bính Th́n (TĐ 9, 1856):

. Thăng thự Tham tri bộ Binh v́ có công dẹp loạn Đá Vách, Quảng Ngăi.

 

Quyển II :

 

47 tuổi, Kỷ Tỵ (TĐ 12, 1859) :

. Tháng giêng, sung Tham biện CMV; cùng với Nguyễn Như Thăng xây đắp các thành lũy ở cửa Thuận An (sau khi tàu Pháp Le Catinat khiêu chiến tại Đà Nẵng trước đó);

. Ba tháng sau khi quân Pháp chiếm Sài g̣n, Pháp sai Nguyễn trường Tộ theo đoàn ngoại giao ra Huế giao công hàm về việc giảng ḥa, lần đầu tiên công tiếp xúc với Nguyễn trường Tộ.

49 tuổi, Tân Dậu (TĐ 14, 1861):

. Tháng giêng, ra lệnh dùng thuyền dân chở đá và cát, bí mật ngăn cửa biển để chống tàu Pháp;

. Tháng 9, thượng thư bộ Công, chuyên quản đốc việc pḥng thủ Thuận An.

50 tuổi, Nhâm Tuất (TĐ 15, 1862):

. Tháng 5, tuy có nghị ḥa, nhưng vẫn giữ việc pḥng bị cửa Thuận An;

. Tháng 6, thự Thượng thư bộ Hộ, kiêm quản Khâm thiên giám sự vụ, sung CMV đại thần, vẫn giữ việc pḥng thủ Thuận An;

. Tháng 8, triều đ́nh bàn việc nên cử công hay Nguyễn tri Phương ra Bắc tổ chức việc dẹp loạn, rốt cuộc vua chọn Nguyễn tri Phương làm Quân soái Tây Bắc;

. Tháng 9, công lănh chức Thượng thư bộ Binh thay Trương đăng Quế về hưu trí.

51 tuổi, Quư Hợi (TĐ 16, 1863):

. Tháng 2, tham gia phái đoàn cùng với các đại thần Đoàn Thọ, Phan Thanh Giản, … đón tiếp Bonard và Palanca đến Huế;

. Tháng 3, thương thuyết với Pháp không có kết quả, bị giáng 4 cấp;

. Tháng 5, thừa lệnh vua đưa tiễn tại cửa Thuận An phái bộ đi Pháp do Phan thanh Giản cầm đầu (xin chuộc lại 3 tỉnh miền Đông, nhưng thất bại);

. Mùa hè, Phạm phú Thứ chuyển hộ đến công 3 văn bản của Nguyễn trường Tộ (NTT): Thiên hạ phân hợp đại thế luận, Tế cấp luận và Giáo môn luận;

. Tháng 11, tâu nói về nguyên nhân quan lại tham nhũng, cần phải chọn người tài giỏi.

52 tuổi, Giáp Tư (TĐ 17, 1864):

. Tháng 2 thay mặt vua tế Nam giao.

. Tháng 5, được cử làm Phó sứ cùng Phan thanh Giản, chánh sứ và Phan huy Vịnh, bồi sứ để thương thuyết với phái bộ Aubaret (Hà bá lư) đến Huế;

.Tháng 9, Thừa lệnh vua, công chọn được vùng đất tốt tại Vạn Niên, xă Dương Xuân để xây Khiêm cung và được giao trọng trách Đổng lư đại thần điều khiển công tŕnh xây cất;

. Tháng 10. Hồng Tập làm phản loạn dự tính giành ngôi vua và giết Phan Thanh Giản và công, nhưng thất bại nên bị tội chết.

53 tuổi, Ất Sửu (TĐ 18, 1865):

. Tháng 2, được Kim Khánh Liêm-B́nh-Cần-Cán hạng nh́;

. Tháng 4, cùng với Phan Thanh Giản, Phạm phú Thứ điều tra Ty cần tín mua hàng ức hiếp dân;

. Tháng 5 nhuận, tấu xin vua cho mở khoa thi Vơ tiến sĩ;

. Tháng 7, phụng mệnh vua ra Hải An khuyến khích tướng soái, tam quân; trích gạo dự trữ nhà nước cứu đói tại Hải dương;

           

Quyển III :

54 tuổi, Bính Dần, (TĐ 19, 1866):

. Tháng 2, thăng Thự Hiệp biện đại học sĩ;

. Tháng 8, cùng Đoàn Thọ, Nguyễn văn Phong truy xét vụ phản loạn Đoàn Trưng (giặc chày vôi); Nguyễn tri Phương được triệu về Huế để giữ chức Thượng thư bộ Binh, kiêm Kinh kỳ hải pḥng sứ để bảo vệ kinh thành Huế, công làm phó sứ và đổi về giữ bộ Công, sung Tổng tài Quốc sử quán;

. Tháng 11, cùng với Nguyễn tri Phương, Vũ trọng B́nh, Phạm phú Thứ dâng sớ tâu vua nên tiết kiệm, bớt đi chơi lăng phí .

55 tuổi, Đinh Măo (TĐ 20, 1867):

. Tháng 2, vâng sung Khâm mạng nhiếp tế Nam giao;

. Tháng 4, được khen thưởng vàng bạc v́ tṛn nhiệm vụ Đổng lư điều khiển việc xây Khiêm lăng gần hoàn tất;

. Tháng 7, để giải quyết công việc ở các nơi xa triều đ́nh được nhanh chóng, công đề nghị đặt chức quan Kinh lược ở Hà Nội và B́nh Định.

. Tháng 8, công cùng Đoàn Thọ, Nguyễn văn Phong dâng biểu xin vua khoan hồng cho Lê văn Sa, Nguyễn văn Chất đă có công lớn trong việc xây Khiêm Lăng nhưng đă bị phạt sau vụ phản loạn Đoàn Trưng.

. Tháng 12, được cử làm Khâm sai đại thần vào Gia Định thương thuyết với tướng De Lagrandière về một hoà ước mới; công dâng phiếu xin cho Nguyễn văn Tường, nguyên bang biện huyện Thành Hóa, Quảng trị, hành tẩu CMV và Nguyễn Khoa Luận đi cùng; cuộc thương thuyết thất bại, công bị giáng chức nhưng vẫn tiếp tục công việc.

56 tuổi,  Mậu Th́n (TĐ 21, 1868);

. Tháng 4, xây thêm 3 vọng lâu làm đồi canh tại cửa Thuận An;

. Tháng 7, được vua ban rượu ở cửa Ngọ Môn cùng các tướng lănh trước khi họ về địa phương chuẩn bị chống giặc;

. Tháng chạp trở lại làm Thượng thư bộ Binh thay Nguyễn tri Phương  v́ tuổi cao chỉ quản lư bộ Công.

57 tuổi, Kỷ Tỵ (TĐ 22, 1869);

.  Tháng giêng, sinh con trai thứ ba là Tiễn Hối;

. Tháng hai, dâng biểu xin cho Phan Đ́nh B́nh vể giúp việc tại bộ Binh của công;

. Tháng 4, Đ́nh thần đề nghị công đi Bắc Ninh giúp việc trị yên, vua không đồng ư, cử người khác; Công được thưởng một đồng kim tiền có chữ “Viết Trung” v́ bộ Binh làm việc tường, nhanh chóng;

.  Tháng 7, công và thân mẫu trên 80 tuổi được vua ban thuốc men, lộc nhung, sâm.

. Tháng 11, cùng Nguyễn tri Phương, Phan huy Vịnh, Phạm phú Thứ dâng biểu xin vua bớt đi săn bắn, làm nhọc binh sĩ.

58 tuổi, Canh Ngọ (TĐ 23, 1870):

. Tháng 3, cùng Nguyễn tri Phương, Phạm phú Thứ đề nghị vua nên linh động trong nghi lễ cho sứ thần Y pha nho đến Huế;

59 tuổi, Tân Mùi (TĐ 24, 1871):

. Thăng Thự Hiệp biện đại học sĩ;

. Tháng 7, cùng Nguyễn tri Phương, Phạm phú Thứ, Lê bá Thận dâng phiến xin tha tội cho Hoàng kế Viêm đă tâu dối;

. Tháng 8, đi cùng vua lên Khiêm cung, được ban bát quái cùng 4 kim tiền tía Nhật, Nguyệt, Tinh, Vân;

. Tháng 10, NTT mất ở quê nhà nghệ An, được tin công vô cùng thương tiếc.

60 tuổi, Nhâm Thân (TĐ 25, 1872):

. Đầu năm gả con gái Trần thị Nhàn cho ấm sinh Nguyễn lộ Trạch;

. Tháng 4, bà thân mẫu họ Lâm thọ bệnh, công dâng sớ xin về thị dưỡng, vua cho phép được về nhà ban đêm, cử Thái y về chữa bệnh;

. Tháng 8, thân mẫu mất, công xin nghỉ việc thọ tang 3 năm, chỉ được 3 tháng;

. Tháng 11, sung lại các chức như cũ.

 

Quyển IV :

61 tuổi, Quư Dậu (TĐ 26, 1873):

. Thực thụ Hiệp biện đại học sĩ, công dâng sớ xin từ, được chuẩn y;

. Tháng 8, Pháp đưa 5 tàu đến Đồ sơn, công tâu cách thức đối phó;

. Tháng 11, sung Kinh kỳ hải pḥng sứ để bảo vệ kinh thành Huế.

62 tuổi, Giáp Tuất (TĐ 27, 1874):

. Tháng 3, thực thụ Hiệp biện đại học sĩ, thăng Thự Văn minh điện đại học sĩ, thượng thư bộ Binh.

 

Quyển V :

63 tuổi, Ất Hợi (TĐ 28, 1875):

. Tết, đọc thơ vua ở điện Văn Minh;

. Tháng giêng, được vua miễn lạy tạ v́ già yếu; duyệt binh lớn công được sung làm “Xuất lệnh đại thần”;

. Tháng 5, vua và Thái hậu xem các trận thao diễn thuỷ lục ở Thuận An, công được thưởng.

64 tuổi, Bính Tư (TĐ 29, 1876):

. Nguyễn lộ Trạch và Thị Nhàn có ba người con đều mất sớm nên bất ḥa, xa nhau; Công vẫn yêu mến NLT nồng hậu.

65 tuổi, Đinh Sửu (TĐ 30, 1877):

. NLT 25 tuổi, nhờ công dâng lên vua Thời vụ sách (thượng) tŕnh bày chính sách cải cách và đề nghị thành lập tân quân hạm, tạo thế đứng bàn việc ḥa giải với Pháp.

66 tuổi, Mậu Dần (TĐ 31, 1878):

. Tháng giêng, thực thụ Văn minh điện đại học sĩ; kính cáo nhà vua 50 tuổi tại đàn Nam giao.

67 tuổi, Kỷ Măo (TĐ 32, 1879):

. Tháng 7, 3 đời trước của gia đ́nh công được vua phong tặng chức tước;

. Can việc đứng chung danh sách các người không nêu vụ án Bùi Viện, nên bị phạt; dâng sớ tâu xin giảm tội cho Thống chế Đinh Hội 72 tuổi can tội bất kính khi cho thuyền đến gần thuyền của vua.

68 tuổi, Canh Th́n (TĐ 33, 1880):

. Tháng 11, đưa ư kiến cho Hoàng kế Viêm thu phục Lưu vĩnh Phúc để giúp việc đánh giặc;

.  Tháng 12, xin nghỉ Tết 21 tháng chạp đến mồng 8 để cho binh lính nghỉ.

69 tuổi, Tân Tỵ (TĐ 34, 1881):

. Tháng giêng, con cả là Tuệ Giản mất; vâng dụ của vua đổi công làm Quản lư Binh bộ sự vụ,  Lê hữu Tá được cử làm Thự Binh bộ thượng thư.

 

Quyển VI :

70 tuổi, Nhâm Ngọ (TĐ 35, 1882):

. Tháng 3, vua trách công sao không tiến cử những người giỏi khác nữa, như đă tiến cử Nguyễn văn Tường, Tôn thất Thuyết trước đây;

. Tháng 11, nhân ngày công thọ 70 tuổi, vua sai đem một bức trướng tơ vàng có bài thơ do vua viết, 1 bộ nhất phẩm đại triều, 1 cây gậy linh thọ, các tặng phẩm quư khác đến nhà tuyên Dụ, kèm theo bài Mừng thọ 70 tuổi;

. Nguyễn Lộ Trạch lại dâng vua Thời vụ sách (hạ) gồm 5 khoản.

 

 71 tuổi, Quư Tỵ (TĐ 36, 1883):

. Công tuổi cao, lại bị chứng hay đau bụng, được vua đặc ân cho đi xe vào tận cửa sân chầu;

.16.6, vua Tự Đức  băng hà, phụng di chiếu đưa Dục Đức lên ngôi, sung Phụ chính đại thần, hai ông nguyễn văn Tường và Tôn thất Thuyết đồng phụ chính; Ba ngày sau, hai ông phế Dục Đức, giam trong ngục và đưa Hiệp Ḥa lên ngôi;

. Vua mới chuẩn thực thụ Thái bảo Cần chánh điện đại học sĩ, công dâng sớ xin từ nhưng không được;

. Khoa đạo Huỳnh Côn và Đặng trần Hanh dâng sớ đàn hạch công “đọc Di chiếu bỏ sót”, vua tha lỗi, tạm giáng 2 cấp lưu, được 1 tuần công dâng sớ cáo lăo nhưng không được;

.18/7, thất thủ Thuận An, công được gọi vào triều bàn việc giảng ḥa;

. Tháng 8, phụng nghinh linh cửu vua TĐ lên điện Ḥa Khiêm, xong công việc công dâng sớ cáo bệnh, vua cho thôi việc ở bộ Binh và CMV, nhưng vẫn quản Khâm thiên giám, Quốc sứ quán, cho ở lại Sử quán để dễ điều trị;

. Tháng 9, xin về trú tại chợ Dinh với vợ thứ Lê thị Như, cháu đích tôn Tiễn Mưu;

. 30.10, hai ông Tường và Thuyết lại có âm mưu phế lập vua, sai người đệ bản thảo để công cùng kư, công khước từ; trưa vua Hiệp Ḥa bị đổ thuốc độc chết; đêm đó công bị ám sát tại nhà.

 

Kiến phước nguyên niên (1884): triều đ́nh phái 300 lính 2 viên quản vệ, 3 viên suất đội, 1 chiếc thuyền lớn, 3 chiếc thuyển nhỏ hơn về làng Minh Hương hộ tống linh cửu đến phần mộ tại làng Nguyệt Biều. Việc thảm sát công được Thượng thư bộ h́nh Phạm thận Duật vừa đi sứ Trung hoa về đầu năm 1884 đưa ra truy cứu và kết án Hồng Chuyên (DNTL, tập 9, tr. 66).

 

Hàm Nghi nguyên niên (1885), tháng 9, vua Đồng Khánh lên ngôi khai phục hàm Văn minh điện đại học sĩ.

 

Minh Nguyện ghi chép (tháng 7/2010)

 

 


 

 

 Vài hàng về tác giả :

 

Tiểu sử Cụ Minh Xuyên Trần Tiễn Hối

 

 

 

Cụ  Minh Xuyên (1869-1919) thi đổ đầu Cử nhân (Giải nguyên) vào năm Thành Thái thứ 3 (1893), được bổ làm thư kư (hành tầu) cho phủ Phụ chánh; 6 tập Niên biểu Văn nghị công đă được viết trong thời gian này (1894). Đến năm Thành Thái thứ 7 (1897) được chuyển vào làm thư kư Cơ mật viện; Năm Thành Thái thứ 13, bổ làm Án sát tỉnh B́nh Định, đến năm thứ 16 trở lại Huế làm Tham biện Nội các (Văn pḥng Vua).

Duy Tân năm thứ 2, tháng 7 lănh chức Án sát tỉnh Thanh Hóa; Năm thứ 4, cải bổ Bố chánh tỉnh Quảng B́nh; Tháng 9 năm thứ 9 lănh chức Tuần phủ tỉnh Quảng Ngăi. Năm Khải Định thứ 2, thăng làm Tổng đốc tỉnh Nghệ An; Tháng 6 năm thứ 3 mông thăng thọ Hiệp tá Đại học sĩ.

Năm Khải Định thứ 4 (1919) tháng 6, Cụ qua đời bất ngờ tại Nghệ An. Bà Trần thị Như Mân, vợ của học giả Đào Duy Anh cho biết như sau: “Cha tôi bị mất đột ngột tại Vinh. Hồi đó tôi c̣n nhỏ nên không biết cha bị bệnh chi. Chỉ thấy chuyển bệnh từ đầu hôm, các thầy thuốc ta đều chịu, phải mời bác sĩ người Pháp nhưng đến nơi th́ không kịp nữa. Đến sáng th́ cha tắt thở. Mạ tôi cho người đánh điện ngay cho cậu Tôn thất Trạm ở Thanh Hóa, tiếp đó người đến sớm nhất là cụ Thân trọng Huề. Lễ tang cử hành ở Vinh, sau đó rước linh cửu vô Huế. Cả nhà chúng tôi theo linh cửu về quê” (Trích Sống với t́nh thương, Hồi kư Trần thị Như Mân (bà Đào duy Anh), nhà xuất bản Thanh Niên 2007, tr. 11-12).

Trong gia phả, Cụ được đánh giá: “thông minh, hoạt bát, kiến thức rộng, tánh giản dị, cần kiệm, không ưa văn sức. Ra hành chánh, thận trọng, có thể thống, lâm sự đối phó quả cảm và thích đáng. Người ta thường khen rằng: công có phong thể một bậc đại thần”. Về mặt văn hóa, bà Trần thị Như Mân c̣n cho biết (sđd, tr. 10): “Trong những lần xướng họa với các bạn văn xứ Nghệ, cha tôi thường được họ nể v́. Với tài học như rứa nên trong thời gian này cha tôi được triệu về kinh một lần làm chánh chủ khảo kỳ thi đ́nh”.

Tiếc thay một vị nhân tài như thế lại mất sớm, lúc mới 50 tuổi.

Cụ có hai người vợ là bà Tôn nữ Xán, con quan H́nh bộ Thượng thư Tôn thất Phan, hệ 7, sinh được ba trai, sáu gái; và bà Tôn nữ Thuyên, con quan thị lang Tôn thất Linh, hệ 7, sinh được hai con trai là ông Trần tiễn Hy, một danh y miền Trung và ông Trần tiễn Dương, một kỹ sư Hóa học nổi tiếng, tốt nghiệp tại Pháp.

Trong số những người con gái, ngoài bà Trân thị Như Mân là một trong những bậc nữ lưu tham gia phong trào phụ nữ từ những năm 1930, c̣n có bà Trần thị Như Thiều là người đă phụ trách hướng dẫn bà Từ Cung: “Khi vua Bảo Đại lên ngôi, bà Từ Cung trở thành Hoàng thái hậu, nhưng v́ xuất thân từ con nhà b́nh dân, nên bà không rành cách ăn ở trong nội phủ và ít được học hành. V́ rứa bà cho người đến gọi chị tôi vô trong nội dạy cho bà học. Chị tôi vô nội, không những phải dạy cho bà Từ Cung học chữ Hán, học làm thơ, mà c̣n bày vẽ cho cả cách cư xử, ăn nói cho hợp với cung cách của một bà hoàng trong nội phủ” (sđd, tr. 12).

 

Minh Nguyện (tháng 2/2009).