NGUYỄN DU QUA QUẢN TRỌNG TAM QUI ĐÀI

 

TS. Phạm Trọng Chánh
 

 

 

Nguyễn Du đi qua Đài Tam Qui của Quản Trọng ở Sơn Đông trên đường đi sứ về trong khoảng thời gian 21 tháng 11 đến 11 tháng 12 năm Quí Dậu (1813). Quản Trọng là một nhân vật chính trị, kinh tế,  giáo dục  kiệt xuất trong thời kỳ Xuân Thu Chiến Quốc ; người đất Dĩnh Thượng nước Tề (vùng Sơn Đông) tên là Di Ngô, tự là Trọng. (Link :  https://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BA%A3n_Tr%E1%BB%8Dng)

 Ông là tác giả sách Quản Tử, quyển sách sớm nhất của Trung Quốc luận bàn về luật pháp và kinh tế Trung Quốc thời Cổ Đại bao gồm cả chính trị, thương mại, triết học. Về mặt kinh tế ông đề cập đến : Tài chính, ngân hàng, thương mại, thuế khóa … tác động mạnh mẽ đến kinh tế Trung Quốc thời cổ đại.

 Ông cho rằng bốn cột trụ trong một nước là : Lễ, Nghĩa, Liêm, Sĩ ( Chữ ngày xưa nghĩa  rất rộng : Lễ : bao gồm lễ nghi, phép tắc, luật pháp, thi cử… ; Nghĩa : bao gồm mối quan hệ mọi người có trước sau, công bằng ; Liêm : bao gồm sự trong sạch, liêm khiết,  chính trực ; Sĩ bao gồm sĩ khí,lương tâm). Là người lănh đạo một nước phải tuân theo nếp sống này, làm tấm gương đạo đức cho nhân dân.)

Sách Quản Tử chép câu nói nổi tiếng  về giáo dục của Quản Trọng, thường được người xưa nhắc đến :

Kế một  năm, chi bằng trồng lúa,

Kế mười năm chi bằng trồng cây,

Kế trọn đời chi bằng trồng người.

Trồng một, gặt một ấy là lúa,

Trồng một gặt mười ấy là cây,

Trồng một gặt trăm ấy là người.

 

Nguyên tác phiên âm Hán Việt :

Nhất niên chi kế, mạc như thụ cốc,

Thập niên chi kế, mạc như thụ mộc,

Chung thân chi kế mạc như thụ nhân.

Nhất thu nhất hoạch giả, cốc dă,

Nhất thu thập hoạch giả, mộc dă,

Nhất thu bách hoạch giả, nhân dă.

 

Quản Trọng nổi tiếng với chiến lược : « Không đánh mà thắng, dùng đạo đức để chiếm ḷng người». Ông pḥ nhà Chu để tạo uy tín, dùng sự trợ giúp nước yếu, cứu nguy nước yếu  khi có nạn Bắc Dịch  ngoại xâm, giúp đỡ xây  thành bảo vệ nước nhỏ, dùng uy tín  để đưa nước Tề lên hàng thống lĩnh các chư hầu. Quản Trọng giúp nước Tề hưng thịnh trong hơn 40 năm, chính trị của ông không bận tâm việc xâm lăng chiếm đất, giữ đất, chiến tranh trừng phạt ; nhưng ảnh hưởng cách tổ chức xă hội c̣n lưu lại trong nước hàng ngh́n năm. Điều này ta thấy rơ trong xă hội Việt Nam ngày xưa. Có thể nói Quản Trọng là một chiến lược gia khôn khéo nhất, uy tín  được mọi người kính trọng nhất Trung Quốc. Sách của Tô Tần dâng lên vua Tần, bị thất lạc,  dùng các chính sách của Tam Hoàng, Ngũ Đế có lẽ không ngoài các chiến lược của Quản Trọng. Chiến lược này rất khó thực hiện, các ông vua tầm thường nghe thường buồn ngủ, rồi bỏ ngoài tai, v́ rất ít vị vua có bản lĩnh đạo đức để thực hiện việc này. Ngày xưa gọi đó là con đường Nhân Đạo hay  VươngĐạo.

Quản Trọng  hiện đại hóa nước Tề bằng cải cách :

- Tập trung  quyền lực, chia nước thành nhiều làng là đơn vị chủ yếu, mỗi làng tập trung vào một lănh vực thương mại riêng thay v́ dựa vào giai cấp quư tộc để thu thuế, ông áp dụng tiền thuế trực tiếp đến từ mỗi đơn vị làng.

- Lựa chọn người tài mới có hiệu quả hơn thay v́ quyền hành cho con cháu quư tộc, công thần. Quản Trọng đă chuyển nước Tề từ chế độ quan liêu quư tộc sang chế độ quan liêu chuyên nghiệp.

Quản Trọng chia dân số ra làm bốn nhóm : Sĩ, Nông, Công, Thương.  Sĩ bao gồm quan chức. Nông bao gồm dân cư sản xuất nông nghiệp, trồng trọt. Công là các thợ tiểu công nghiệp các ngành nghề. Thương người hành nghề mua bán. Trung Quốc thời cổ đại đă xuất hiện những thương hội chuyên nghiệp vận chuyển hàng hóa, với những người giỏi vơ theo bảo vệ, để tránh nạn cướp bóc, người gửi tiền, có thể nhận lănh t́ền bạc tại cùng một thương hiệu, ở các địa phương khác nhau, chỉ cần một tấm giấy chứng nhận, mà không cần mang theo vàng bạc bên ḿnh. Quản Trọng  tập trung mỗi làng hành một nghề khiến cho thợ thủ công thêm tinh xảo, thông qua  đó ông đào tạo  những thế hệ chuyên nghiệp. Bên cạnh chủ trương quản lư, kiểm soát ông t́m hướng về tập trung phát triễn đạo đức, truyền thống tín ngưỡng.

 


Quản Trọng, Tể tướng của Tề Hoàn Công, đă đề xuất nhiều cải cách để củng cố quyền lực
và uy danh của nước Tề. (Zhicheng Chen / The Epoch Times)

Link :  http://tinhhoa.net/quan-trong-vi-triet-gia-va-nha-lap-phap-xuat-sac-thoi-co-dai.html

 

Khác với các nhà tư tưởng khác của Trung Quốc chỉ chú trọng việc đào tạo kẻ sĩ để trị nước. Quản Trọng có một chính sách giáo dục toàn diện « trồng người », đào tạo người cho nhà nông, cho  các nghề thủ công và cho việc buôn bán. Con người trong mọi lănh vực không nhất thiết chỉ đi học thi cử làm quan là được lợi gấp trăm lần, mà trong mọi lănh vực, khi nghề nghiệp được tinh xảo, cũng mang lại lợi nhuận  gấp trăm lần người không học. Quản Trọng không chủ trương chỉ đào tạo người « quân tử »  và bỏ rơi kẻ  « tiểu nhân », người thường dân. Quản Trọng không xem thường cái học thực dụng nghề nghiệp chuyên môn. Đó là lư do tư tưởng Quản Trọng được đề cao và  nhắc đến ngày nay.

Quản Trọng sinh từ một gia đ́nh nghèo khó, cùng Bảo Thúc Nha là bạn thân, hai người cùng đi buôn, Bảo Thúc Nha luôn nhường cho Quản Trọng, v́ gia đ́nh Quản Trọng nghèo hơn. Hai người cùng làm chính trị : Thuở ấy nước Tề loạn lạc, các hoàng tử đều lánh nạn sang các nước lân cận. Quản Trọng  pḥ Công  tử Củ, và  Bảo Thúc Nha pḥ Công tử Tiểu Bạch cùng con vua Tề Tương Vương ḍng thứ, ḍng chính không có con,  họ đính  ước nhau nếu công tử nào lên làm vua th́  người pḥ đó sẽ tiến cử người kia. Công tử Củ lớn hơn được rước về nối ngôi, nhưng chậm chân, Quản Trọng t́m cách bắn Công tử Tiểu Bạch, Tiểu Bạch  bị thương giả chết, Quản Trọng không bắn tiếp. Tiểu Bạch về kinh đô trước lên làm vua lấy hiệu  Tề Hoàn Công, tâu nước Lỗ giết Công tử Củ và giam Quản Trọng. Tề Hoàn Công muốn Bảo Thúc Nha làm Tướng Quốc nhưng  Bảo Thúc Nha tiến cử Quản Trọng. Tề Hoàn Công nói rằng :

- Người này bắn ta một mũi tên, mối thù này chưa quên, mũi tên ta vẫn c̣n căm hận, làm sao có thể dùng hắn được. Đợi hắn vềđây, ta sẽ xé hắn ra trăm ngh́n mănh. Bảo Thúc Nha nói :

- Dĩ nhiên v́ Công tử Củ, ông ta đă bắn bệ hạ, bây giờ nếu bệ hạ trọng dụng ông ta, ông ta sẽ v́ bệ hạ mà đem mũi tên đó bắn cả thiên hạ.

Tề Hoàn Công tha tội và tin dùng Quản Trọng.  Quản Trọng giúp nước Tề hùng mạnh, giàu có, chín lần tập hợp chư hầu, làm bá chủ thiên hạ. Quản Trọng c̣n tiến cử Ninh Thích, kẻ ẩn dật chăn trâu thành quan Đại Phu, giúp nước tạo nên những công trạng hiển hách.  Tề Hoàn Công tôn Quản Di Ngô làm Thượng Phụ, và gọi là Quản Trọng để tránh tên húy, Quản Trọng khi  về già được hưởng đất Tam Qui. Quản Trọng xây đài nơi này. Thành công của  Quản Trọng được xem là mẫu mực, tấm gương sáng việc trị nước thời Xuân Thu Chiến Quốc. Nhưng Khổng Tử và Mạnh Tử đều chê Quản Trọng. Khổng Tử chê : Khí cục nhỏ mọn ! (Quản Trọng  chí khí tiểu tai !). Trong sách Luận Ngữ thiên Hiến Vấn, Khổng Tử nói về Quản Trọng : « Con người này ư ? Vua nước Tề lấy ấp Biền, có 300 nhà của Bá Thị thưởng công cho Quản Trọng, Bá Thị phải ăn uống đạm bạc, suốt đời mà không hề oán giận». C̣n Mạnh Tử lại chê sự nghiệp tầm thường. Các sách vỡ cũng không cắt nghĩa rơ ràng tại sao Khổng Tử, Mạnh Tử lại chê Quản Trọng.  Lạ thay những lời chê bai của Khổng Tử và Mạnh Tử không làm suy yếu ḷng ngưỡng mộ Quản Trọng trong lịch sử. Mọi người vẫn tin Quản Trọng hơn, v́ Quản Trọng từng làm Tướng Quốc (Thủ Tướng), so với Khổng Tử và Mạnh Tử, chỉ giỏi lư thuyết và đều thất bại trong thực tế chính trị. Cùng với Khổng Minh được xem là hai nhà mưu lược, kế hoạch trị nước xuất sắc nhất Trung Quốc.

Qua Đài Tam Qui của Quản Trọng, Nguyễn Du viết : Đài cũ ch́m lấp mất, cỏ mọc tua tủa. Đă từng giúp Tề Hoàn Công lập nên nghiệp ba một thời.  Trong thành luống đă chín lần hợp các quận huyện các chư hầu. Trên đá phủ rêu c̣n ghi chữ Tam Qui. Ở triều đ́nh khéo hợp ḷng vua. Chết rồi rốt cục bị chê là Tể tướng tầm thường. Mừng gặp thánh triều chỡ che chung thiên hạ. Nên dưới đài Tam Qui người Hoa, người Di quen nhau qua lại. Quản Trọng từng đánh đuổi các rợ : Nhung, Di, Địch, nên Khổng Tử khen việc này. Nay  người Hoa và người Di cùng chung sống dưới sự che chỡ của thánh triều. Câu thơ này Nguyễn Du cóư mỉa mai chăng ? Thời Nguyễn Du, thánh triều là nhà Thanh gốc người rợ Di Địch, tức Măn Châu  đă từng bị Quản Trọng đánh đuổi, đă chiếm cả Trung Nguyên cai trị Trung Quốc 278 năm. Người Hán thời đầu lệ thuộc Măn Châu đă nhất định giữ ḷng trung quân ái quốc, không chịu đổi y phục, cạo đầu, kẻ th́ chạy sang Việt Nam tị nạn như Trần Thắng, Dương Ngạn Địch, Mạc Cửu, Nguyễn Đăng Tiến...trở thành người Việt Nam, người trong nước Trung Quốc  cuối cùng rồi phải chấp nhận :  phải ăn mặc kiểu Măn  Châu, cạo đầu để một dây tóc bính dài tới chân, gặp người Di, Địch phải cung kính : Măn Đại Nhân.  Người Tây Phương nh́n thấy đă gọi là Mandarin là ông Quan, gốc từ chữ  Măn Đại Nhân.

ĐÀI TAM QUI  QUẢN TRỌNG

Dấu xưa chôn lấp cỏ xanh ŕ,

Từng giúp Hoàn Công nghiệp một th́.

Quận huyện đă từng phen Cửu Hợp,

Đài rêu ghi rơ chữ Tam Qui.

Tại triều khéo hợp ḷng vua đó,

Nghiệp tướng xem thường lúc chết đi.

Mừng được thánh triều chung thiên hạ,

Dưới đài qua lại khách Hoa, Di.

Bản dịch thơ Nhất Uyên ; Nguyên tác phiên âm Hán Việt :

QUẢN  TRỌNG  TAM  QUI  ĐÀI

Cựu đài nhân một thảo ly ly,

Tằng dĩ Hoàn Công bá nhất th́.

Quận huyện thành trung không cửu hợp ,

Môi đài thạch thượng kư Tam Qui.

Tại triều xảo dữ quân tâm hợp,

Một thế chung liên tướng nghiệp ti.

Hỉ trị thánh triều công phú đảo,

Văng lai  đài hạ tạp Hoa, Di.

Quản Trọng là người tài năng như thế nào ? Đông Châu Liệt Quốc . Bản dịch Mộng B́nh Sơn. Hồi thứ 16, tr 154 viết :

Bảo Thúc Nha nói với Tề Hoàn Công  để tiến cử Quản Trọng:

« Chúa công biết tôi là người kính cẩn, có thể giữ đúng bổn phận của ḿnh chứ không phải có tài chính trị. Tài chính trị phải là kẻ nh́n xa thấy rộng, trên hiểu ḷng vua, dưới rơ bụng dân, biết sức ḿnh, lượng sức địch lúc thái b́nh cũng như cơn nguy biến, đủ sức làm chủ được ḿnh mà điều khiển công việc. Những điều đó tôi không thể có được.

Tề Hoàn Công nghe nói mỉm cười, bước đến bên Thúc Nha hỏi nhỏ :

- Người mà khanh vừa nói đến, trong đời này có thể có được chăng ? Bảo Thúc Nha nói :

- Có. Người đó đang ở trong nước chúng ta. Nếu Chúa Công xét thấy cần người như vậy th́ đă sẵn có Quản Di Ngô. Tề Hoàn Công nói :

- Tài Quản Di Ngô lại hơn khanh được sao ? Bảo Thúc Nha nói :

- Có năm điều tôi không bằng được Quản Di Ngô. Thứ nhất : rộng răi mềm mỏng, ra ơn với dân, tôi không bằng được. Thứ hai : lấy trung tín mà mua ḷng bá tánh, tôi không bằng được. Thứ ba : trị nước không sai giềng mối, tôi không bằng được. Thứ tư : chế lễ nghĩa ra khắp bốn phương, tôi không bằng được. Thứ năm : cầm dùi trống giữa ba quân giục ḷng quân sĩ, tôi không bằng được.

Tề Hoàn Công nói :

- Nếu Quản Di Ngô là kẻ có tài th́ khanh đ̣i vào yết kiến, để xem thử tài học vấn Quản Di Ngô đến bực nào ?

Bảo Thúc Nha nói :

- Người hèn không dám gần gủi với kẻ sang, kẻ sơ không dám sánh với người thân. Nếu Chúa Công muốn dùng Quản Di Ngô th́ phải cho làm đến chức Tướng Quốc, đối đăi như sư phụ, th́ con người tài ấy mới đem hết sở năng của ḿnh mà hiến cho Chúa Công được. Tề Hoàn Công nói :

- Theo ư khanh th́ ta phải làm cách nào để triệu Quản Di Ngô ? Bảo Thúc Nha nói :

- Quản Di Ngô là bậc phi thường trong thiên hạ. Các bậc Tiên Vương thuở xưa muốn được người hiền phải thân hành đem lễ vật đến cầu. Lúc  người hiền đă về triều th́ phải để ăn chung một bàn, ngồi chung một chiếu. Xin Chúa Công hăy noi gương ấy để thiên hạ thấy Chúa Công là người biết quí kẻ hiền sĩ.

Tề Hoàn Công nghe lời, đ̣i quan Thái Bốc đến hỏi ngày lành, rồi thân hành đi đón Quản Di Ngô. Bảo Thúc Nha tin cho Quản Di Ngô biết trước để nghinh đón.

Tề Hoàn Công và Quản Di Ngô ngồi chung một xe mà về triều. Mọi người đón xem đông đặc, ai nấy đều lấy làm lạ lùng. Quản Di Ngô về đến Kim Loan điện phục lạy Tề Hoàn Công, và tâu :

- Tâu Chúa Công, tôi là kẻ trọng tội, đáng chết, được chúa công dung thứ đă là may mắn lắm. Nay Chúa Công lại nhọc ḷng ban ơn nữa. Thật là tôi không biết phải lấy ǵ đền đáp cho xứng đáng. Tề Hoàn Công nói :

-  Tiên quân ta có âm đức rất lớn, mới khiến ta gặp được khanh. Vậy khanh hăy v́ ta mà có đôi lời chỉ giáo, chẳng những ta mang ơn, mà cả dân chúng nước Tề cũng lấy làm vinh hạnh. Nói xong, đỡ Quản Di Ngô dậy, mời ngồi nơi chiếc cẩm đôn bên cạnh. Quản Di Ngô sụp lạy rồi mới lên ghế ngồi.

Tề Hoàn Công hỏi :

- Nước Tề ta vốn là một nước lớn. Tiên quân ta là Hi Công đă làm cho các chư hầu kính nể. Đến đời Tương Công chính lệnh bất thường, đến nỗi xăy ra tai biến. Nay ta mới lên ngôi, ḷng dân chưa định, thế nước chưa yên, nay ta muốn nước mạnh dân an phải làm điều ǵ trước ? Quản Di Ngô nói :

- Lễ, Nghĩa, Liêm, Sĩ   là bốn điều cốt yếu để trị nước. Nếu thiếu một trong bốn điều đó, tai biến sẽ xăy ra. Nếu cả bốn điều đó không có th́ nước sẽ mất. Tề Hoàn Công hỏi :

-  Nếu đă có bốn điều đó, th́ dùng cách nào mà trị dân ? Quản Di Ngô nói :

-  Muốn trị dân trước hết phải yêu dân. Tề Hoàn Công hỏi :

-  Muốn yêu dân phải làm cách nào ?  Quản Di Ngô nói :

-  Yêu dân phải dạy dân lấy đạo thân ái, chăm sóc đời sống hằng ngày cho dân, bớt giảm xâu thuế, làm cho dân giàu. Hễ dân giàu tức là nước mạnh. Tề Hoàn Công hỏi :

-  Dân giàu, nhưng binh khí, quân cụ trong nước thiếu thốn th́ phải làm  sao ? Quản Di Ngô đáp :

-  Muốn đủ binh khí, quân cụ th́ h́nh pháp trong nước nên đặt lệ chuộc tội : tội nặng chuộc một cái tê giáp, tôi nhẹ chuộc một cái quy thuẫn, tội nhỏ phải nạp kim khí, tội nghi tha hẳn. Kẻ nào tụng lư tương đối th́ bắt nộp một  bó tên rồi giải ḥa. Làm như thế ắt quân dụng không thiếu. Tề Hoàn Công hỏi :

-  Đă làm như thế nhưng không đủ dùng th́ phải làm sao ? Quản Di Ngô nói :

- Khai mỏ, đúc tiền, nấu nước bể làm muối, trữ hàng hóa lấy lăi, cất ba trăm nhà nữ lưu (thanh lâu) cho khách buôn bán đi lại tụ họp ởđó mà đánh thuế. Như vậy, công quỹ phải đủ dùng. Tề Hoàn Công hỏi :

-   Của dùng đă đủ, nhưng quân lính c̣n ít, không đủ sức mạnh th́ làm sao ? Quản Di Ngô nói :

-  Quân không cần nhiều, chỉ cần tinh nhuệ. Mạnh không v́ sức, mà cốt ở tinh thần. Do đó Chúa Công muốn có binh mạnh chỉ cần giữ vững ḷng quân, rèn luyện kỹ thuật chiến đấu là đủ. Tề Hoàn Công hỏi :

-  Binh thế đă mạnh, có nên đi đánh các nước chư hầu chăng ? Quản Di Ngô đáp :

-  Chưa nên đánh vội. Làm chủ các chư hầu không phải đem sức mạnh hăm dọa, mà phải đem đạo đức ra chinh phục. Trước hết phải đặt ḿnh lên địa vị chính đáng đă, sau sẽ dùng cái địa vị đó mà trấn an  các chư hầu. Tề Hoàn Công hỏi :

-  Làm thế nào để đặt ḿnh vào địa vị chính đáng ? Quản Di Ngô đáp :

- Danh chánh ngôn thuận, là ư muốn của mọi người. Các chư hầu đều có bổn phận phải tuân vương mệnh. Vậy trước tiên Chúa Công phải kính trọng nhà Châu và bắt các chư hầu cũng phải kính trọng như ḿnh. Tề Hoàn Công hỏi :

-   Rồi làm thế nào để trấn an các chư hầu ? Quản Di Ngô đáp :

-  Phải đem đạo đức mà giao hữu với họ. Đem tất cả đất đai đă chiếm được trả cho họ để tỏ ra ḿnh không tham lam, lại đem lễ vật đến khắp nơi cầu người hiền đem về nước mà dùng. Nước chư hầu nào bị loạn tắc, đem quân đến cứu. Làm như vậy nước nào không mến phục. Tề Hoàn Công hỏi :

- Xưa nay đất rộng, dân đông là biểu hiện cho nước giàu mạnh mà khanh lại bảo không nên đem quân lấn đất giành dân th́ làm sao cho nước hùng ? Quản Di Ngô nói :

-  Đem sức mạnh chiếm đất, cũng chỉ chiếm một phần nhỏ nào thôi, v́ chiếm rồi c̣n phải giữ, nếu không đủ sức giữ sẽ bị mất. C̣n đem đạo đức mà chiếm đất th́ đất không cần phải giữ, do đó có thể chiếm bao nhiêu cũng được.

            Tề Hoàn Công cùng Quản Di Ngô nói chuyện trong ba ngày đêm mà không biết chán. Tề Hoàn Công đắc ư, phong cho Quản Di Ngô làm Tể Tướng. Quản Di Ngô từ chối không nhận. Tề Hoàn Công nói :

-  Bởi ta muốn theo sách lược của khanh nên phải dùng khanh bỉnh chánh cớ ǵ khanh lại từ chối . Quản Di Ngô nói :

-Không phải sức một cây gỗ có thể làm nên một nhà lớn, không phải một gịng nước tạo nổi một biển cả. Nếu Chúa Công đă có chí lớn th́ nên dùng đến năm kiệt sĩ. Tề Hoàn Công hỏi :

-  Nam kiệt sĩ ấy là ai ? tài năng như thế nào ? Quản Di Ngô nói :

- Có tài giao thiệp, biết giữ lễ phép th́ tôi không bằng Thấp Bằng. Xin cho Thấp Bằng làm Đại Tư Hanh. Có tài khai khẩn biết cách trồng trọt, th́ tôi không bằng Ninh Việt, xin cho Ninh Việt làm Đại Tư Điền. Có tài luyện tập binh sĩ, khiến cho người ta quên chết th́ tôi không bằng Thành Phủ. Xin cho Thành Phủ làm Đại Tư Mă. Có tài xử đoán khiến cho người ta khỏi bị hàm oan th́ tôi không bằng Tân Tu Vô, xin cho Tân Tư Vô làm Đại Tư Lư. Có tính cương trực, thấy điều trái tất phải nói ngay, th́ tôi không bằng Đông Quách Nha, xin cho Đông Quách Nha làm Đại Giám Quan. Chúa Công trọng dụng năm người ấy, ắt trong nước được cường thịnh.

Tề Hoàn Công nghe lời Quản Di Ngô phong chức cho năm người ấy. Và quyết định phong cho Quản Di Ngô làm Tể Tướng. »

Quản Di Ngô nói :

- Chúa Công đă có chí lớn, dẫu tài tôi hèn mọn cũng xin cố sức mà vâng lệnh Chúa Công.

Tề Hoàn Công lại hỏi :

-   Ta b́nh sanh có tánh ưa săn bắn, lại thích nữ sắc, chẳng hay hai điều ấy có hại đến nghiệp bá chăng ? Quản Di Ngôđáp :

-  Đă rơ được nhược điểm của ḿnh tất không hại. Tề Hoàn Công hỏi :

-  Thế th́ điều ǵ mới hại cho nghiệp bá ?

-  Không biết người Hiền là hại. Biết người hiền mà không dùng là hại. Dùng người hiền mà không dám phú thác việc lớn là hại. Phú thác việc lớn mà để kẻ tiểu nhân xen vào là hại.

Tề Hoàn Công khen phải. Từ đó công việc triều chính đều phó thác cho Quản Di Ngô, lại gọi Quản Di Ngô bằng Trọng Phụ (tôn kính như cha). Hễ có việc ǵ lớn, đều hỏi ư kiến Quản Di Ngô trước.

Đọc lại chuyện Quản Trọng, ta thấy Quản Trọng không là một Tể tướng tầm thường, mà là một Tể tướng khôn khéo  biết chinh phục thiên hạ bằng hoà b́nh, bằng đạo đức. Quản Trọng không dành hết quyền tước, chia chác địa vị quyền lợi cho người nhà, cho con cháu, cho phe đảng ḿnh mà tiến cử những người có tài năng cùng trị nước. Quản Trọng không chỉ ảnh hưởng đến Việt Nam ngày xưa, mà trong thời cận đại, cụ Hồ không nhắc đến tư tưởng Mao, không nhắc tới lời Khổng Tử mà chỉ nhắc đến lời Quản Trọng.

 

   Thi hào Nguyễn Du,

link:  http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_Du

 

So với Quản Trọng , Tập Cận B́nh ngày nay hành động với chủ trương tranh chấp với tất cả các nước lân bang, đóng tàu sân bay, tăng cường quân sự,  bồi đắp các đảo san hô thành phi trường  căn cứ quân sự,  vẽ « đường lưỡi ḅ chín đoạn » bao gồm khắp Biển Đông, tham lam muốn chiếm cả Biển Đông, có ư đồ chiếm phân nửa Thái B́nh Dương, và  tái lập lại con đường tơ lụa, đi theo con đường bành trướng của Minh Thành Tổ, « Vĩnh Lạc Đại Đế ».     Tập Cận B́nh muốn đặt ra luật lệ quốc tế riêng của ḿnh : Tự ư lập vùng không phận, bắt các nước máy bay, tàu bè qua lại phải xin phép.  Không tuân phục luật lệ Quốc Tế ḿnh đă long trọng kư kết, cải cối cải chày bác bỏ quyền phán quyết của toà án quốc tế trọng tài về luật biển. Hăm dọa cho Việt Nam  một bài học, đ̣i  đánh chiếm Việt Nam chỉ cần ba ngày. Trung Quốc với những lănh tụ ngày nay đi ngược lại đường lối chính trị của Quản Trọng.

Đường lối của Tập Cận B́nh ngày nay là đường lối Bá Đạo của kẻ muốn dùng bạo lực ngang ngược.  Các nước nhỏ, nước lớn đều khinh dễ, Tập Cận B́nh đang tự xây Vạn Lư Trường Thành cô lập ḿnh,  th́ khó có thể đóng vai tṛ một cường quốc đàn anh được. Theo Quản Trọng một nước phải giữ Lễ, Nghĩa, Liêm, Sĩ, không có bốn điều đó nước sẽ mất sẽ loạn. Trung Quốc ngày nay chỉ c̣n là luật rừng không c̣n biết Lễ Nghĩa Liêm Sĩ, Trung Quốc tất sẽ loạn và ngày tan vỡ ra từng mănh sẽ không xa. Nước ta, người lănh đạo, bốn điều đó c̣n giữ được mấy điều. Biết người biết ta, cần thiết phải chấn hưng đất nước, không đi theo vết xe sẽ đổ.

 

Paris 25-8-2016

PHẠM TRỌNG CHÁNH

*Tiến sĩ Khoa Học Giáo Dục Viện Đại Học Paris V Sorbonne

 

- Tác giả: Hồ Xuân Hương nàng là ai ? Khuê Văn 2000 ;  Nguyễn Du , Mười năm gió bụi và mối t́nh Hồ Xuân Hương,  Khuê Văn Paris 2010; Truyện Thơ Odyssée qua 12110 câu thơ lục bát, Khuê Văn 2005; Sử Thi Iliade qua 16933 câu thơ lục bát, Khuê Văn 2009; Tự điển t́nh yêu bằng thơ t́nh Xuân Diệu, Khuê Văn 201; Giáo Dục Việt Nam thời Pháp thuộc (1940-1945) Paris 1976; Giáo Dục Miền Nam Việt Nam 1954-1975, Paris 1980; Thơ t́nh Nhất Uyên (Huy Cận, Xuân Diệu đề tựa), Paris, 1996; Công cha như núi Trường Sơn 1975. Cánh chim từ vùng lửa đỏ (thơ nhạc với Tốn Thất Lập) HSVST 1974; Bóng thời gian, Thời gian ta măi măi c̣n xanh (với Nguyễn Đăng Hưng Liège 1972); Chiêm Bao Trắng, Thơ Sàigon 1969.


 

 


 

 

Mời đọc những bài viết khác của cùng tác giả :

 

Nguyễn Du và cây liễu xưa đền Mạnh Tử - TS.Phạm Trọng Chánh

Tại sao Nguyễn Du nói đến cây liễu trước đền, gỗ cây liễu tượng trưng cho bản chất tự nhiên của con người, giáo dục như đẽo gọt gỗ thành ...

 

Tử Xuân Hàm Nghi (1872 -1942), vị vua lưu đày thành nghệ sĩ - TS. Phạm Trọng Chánh

Năm 1926, để kỷ niệm 10 năm thành lập Viện Bảo tàng Auguste Rodin (1840-1917)  Hotel Biron 79 rue de Varenne, Paris 7è, năm 1916, Rodin nhà điêu khắc vĩ ...

 

Nguyễn Du qua sông hoài nhớ Văn Thiên Tường - TS. Phạm Trọng Chánh

Đầu thế kỷ 20, những người Việt Nam đi làm cách mạng thuộc ḷng hai câu thơ :  Nhân sinh tự cổ thùy vô tử. Lưu thủ đan tâm chiếu hăn ...

 

Tiểu sử Nguyễn Du qua những phát hiện mới - TS. Phạm Trọng Chánh

Nguyễn Du có quyển Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Nhân không phải lúc đi sứ năm 1813 mà có từ năm 1790 tại Hàng Châu. Giáo Sư ...

 

 

Đi t́m Cổ Nguyệt Đường và mối t́nh Hồ Xuân Hương và Nguyễn Du - TS.Phạm Trọng Chánh

Mùa hè 2011, sau một chuyến du hành khắp nước, tôi dành 5 ngày về ở tại Làng Nghi Tàm trên đường Xuân Diệu. Suốt năm ngày dù trời mưa ...

 

Tiếc thương Nhạc sĩ thiên tài Nguyễn Thiên Đạo (1940-2015) - TS.Phạm Trọng Chánh

Sáng ngày 27-11-2015 tôi  đến nghĩa trang Père Lachaise để tiễn nhạc sĩ Nguyễn Thiên Đạo đến nơi yên nghỉ cuối cùng; sau khi hỏa táng, anh sẽ nằm trong ...

Hoàng Hạc Lâu qua thi ca các sứ thần nước Nam - Phạm Trọng Chánh

Hoàng Hạc Lâu  được xây dựng tại Vũ Hán từ năm 223  do Tôn Quyền thời Tam Quốc : khi xây cổ thành Hạ Khẩu, phía Tây giáp Trường Giang, góc ...

 

Nguyễn Du qua đ́nh Tô Tần - TS. Phạm Trọng Chánh

Nguyễn Du có hai bài thơ viết về   đ́nh Tô Tần  khi đi qua cố kinh  Lạc Dương, nơi quê hương Tô Tần. Lạc Dương là một trong 4 kinh ...

 

 

Nguyễn Du trên quê hương Khuất Nguyên - TS.Phạm Trọng Chánh

Khi đi qua Trung quốc, Nguyễn Du đă nhiều lần đến nước Sở, quê hương  Khuất Nguyên:  Năm 1788- 1790 trong thời  tuổi trẻ đi giang hồ Trung Quốc  lượt ...

 

Nguyễn Du trên quê hương Đỗ Phủ - TS.Phạm Trọng Chánh

Đỗ Phủ (712-770)  thời nhà Đường, sống trong thời đại loạn An Lộc Sơn  trong 8 năm, làm tiêu hao 2/3 dân số Trung Quốc. Năm 755 nước này có ...

 

Nguyễn Du đi sứ trên quê hương Lư Bạch - TS.Phạm Trọng Chánh

Nguyễn Du lấy bút hiệu là Thanh Hiên, kết hợp từ chữ Thanh, bút hiệu Thanh Liên của thi hào Lư Bạch (701-762), và chữ Hiên thường dùng của gia ...

 

Đi theo hành tŕnh “Bắc hành tạp lục” của Nguyễn Du - TS.Phạm Trọng Chánh

Đọc “Bắc Hành Tạp Lục” nhiều nhà nghiên cứu có cảm giác Nguyễn Du rất cô đơn trước cảnh sắc và  con người tại Trung Quốc. TS Nguyễn Thị Nương ...

Tưởng nhớ Giáo sư Trần Văn Khê - TS.Phạm Trọng Chánh

Thuở thư sinh lên đường du học Âu Châu  năm 1970, túi đàn cặp sách, tuổi hai mươi : «  cầm kỳ thi họa đủ mùi ca ngâm », hành trang tôi ...

Mối t́nh “ông vua thơ Nôm” Lê Thánh Tông và Trường-Lạc hoàng hậu - TS.Phạm Trọng Chánh

Phạm Đ́nh Hổ trong Tang thương ngẫu lục quyển II,  tr 232 có chép chuyện vua Lê Thánh Tông và Trường Lạc Hoàng Hậu, một chuyện t́nh tuyệt đẹp, giữa ...

Kỷ niệm với Họa Sư LÊ BÁ ĐẢNG (1921-2015) - Ts Phạm Trọng Chánh

Những năm 1973-1976, đến Paris  tôi bắt đầu công việc sinh viên, vừa làm vừa học, là kư tên và đánh số giùm tranh litho cho  Họa sĩ Lê Bá ...

Hồ Sĩ Đống (1739-1785) - bậc thầy thi ca thời Lê trung hưng - TS. Phạm Trọng Chánh

Hồ Sĩ Đống được Phạm Đ́nh Hổ trong Vũ Trung tùy bút, bài Thi ca kể tên cùng Nguyễn Tông Khuê, Nguyễn Huy Oánh là ba bậc thầy phục hưng ...

 Đọc bài “Về cuốn sách Lịch Sử Việt Nam được cho là kiệt tác sử học” - TS Phạm Trọng Chánh.

Nhân đọc bài : Về cuốn sách được cho là kiệt tác sử học của ông Tiến Anh Hồng Quang đăng trên Nhân Dân Điện tử thứ năm 27-1-2014. Bài viết có nhiều hiểu lầm; Giáo sư Lê Thành Khôi nay đă lớn tuổi 93 tuổi, chẳng phải bận rộn với bài viết nhỏ mọn này, là môn sinh Giáo sư Lê Thành Khôi tôi xin thay mặt Giáo sư trả lời các điểm thắc mắc của ông Tiến Anh Hồng Quang.

Nguyễn Tông Khuê - bậc thầy thi ca đời Lê Trung Hưng - TS. Phạm Trọng Chánh

Phạm Đ́nh Hổ trong Vũ Trung Tùy Bút có nói đến ba nhà thơ lớn, ba bậc thầy thi ca thời Lê Trung Hưng : Nguyễn Tông Khuê (1693-1767), Nguyễn Huy ...

GS.Lê Thành Khôi & lịch sử Việt Nam - TS.Phạm Trọng Chánh

Cuối tháng 8-2014  Nhà Xuất bản Thế Giới Hà Nội cho ra mắt quyển  « Lịch Sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XX » của Giáo Sư Lê Thành ...

Đọc sách : "Đạo Cao Đài và Victor Hugo" của TS.Trần Thu Dung - TS.Phạm Trọng Chánh

Victor Hugo là một nhà văn lớn, nhà chính trị Cộng ḥa  Pháp, chống lại Đế Chế Napoléon III, từng phải lưu vong xa nước 17 năm. Ông qua đời ...

Patrick Modiano giải Nobel văn chương 2014 - TS.Phạm Trọng Chánh

Sinh ngày 30-7-1945 tại Boulogne Billancourt, ngoại ô Paris, tác giả hơn 30 quyển tiểu thuyết, truyện phim, giải thưởng Văn Chương Hàn Lâm Viện Pháp, giải thưởng Goncourt, tác ...

Hồ Xuân Hương đi buôn (1807-1811) : “mẹ già nhà túng, ăn ở không yên ổn” - TS. Phạm Trọng Chánh

Trong bài tựa Lưu Hương Kư, Tốn Phong viết:  “ Từ đó  (sau lần đến thăm xuân 1807) có những lúc tôi phải vào Nam, ra Bắc, không thể cùng ...

Nguyễn Du : Ra Bắc 1796, t́nh duyên tan vỡ - Ts.Phạm Ttrọng Chánh

Nguyễn Du cho rằng việc vào Nam từ năm 1794 đến 1796 là hoài công, vô ích. Và mong rằng việc ra Bắc năm 1796 sẽ làm nên việc.  Sau ...

Đọc sách : Nguyễn Du trên đường gió bụi của Hoàng Khôi - Nhà Xuất bản Văn Học. Hà Nội- 2013 - Ts.Phạm Trọng Chánh

Có ǵ vui hơn, khi những thành quả nghiên cứu văn học của ḿnh được bè bạn Hội Kiều Học trong nước hưởng ứng viết thành tiểu thuyết.  Nhận được ...

 Hồ Xuân Hương cô hàng bán sách phố Nam thành Thăng Long (1804-1807) - TS. Phạm Trọng Chánh

Khoảng 10 năm trước năm 1813 Tốn Phong đă đến thăm  Xuân Hương Hồ Phi Mai tại hiệu sách Xuân Hương, Phố Nam thành Thăng Long, thuở ấy nàng ở ...

Nguyễn Du : những mỹ nhân trên đường mười năm gió bụi (1786-1796) - TS. Phạm Trọng Chánh

Sau ba năm đi giang hồ Trung Quốc, Nguyễn Du trở về ở tại Thăng Long từ cuối năm 1790 cho đến năm 1794. Đó là ba năm « Chữ t́nh ... 

Nguyễn Du gặp Đoàn Nguyễn Tuấn, sứ đoàn Tây Sơn tại Hoàng Châu 1790 - TS. Phạm Trọng Chánh

Nguyễn Du sau khi đậu Tam Trường (1783) ở Trường thi Sơn Nam lúc 17 tuổi, được anh là Nguyễn Khản, Thượng Thư Bộ Lại kiêm Trấn thủ Hưng Hóa, ...

Nguyễn Du : nhà sư Chí Hiên “Giang Bắc, Giang Nam túi tiền không” (1788-1790) 
TS. Phạm Trọng Chánh

Nguyễn Du, mang danh hiệu Chí Hiên, danh hiệu Nguyễn Du dùng cho đến năm 1796, kư tên hai bài thơ  tặng Hồ Xuân Hương, lưu lại trong Lưu Hương ...

Nguyễn Du chia tay Nguyễn Đại Lang, Nguyễn Sĩ Hữu tại Liễu Châu 1788 - TS. Phạm Trọng Chánh

Nguyễn Du gọi cuộc đời từ 20 đến 30 tuổi của ḿnh là « 10 năm gió bụi » (1786-1796), gia phả và sách vở giáo khoa trăm năm qua  lại viết ...

Nguyễn Du từ Thái Nguyên sang Vân Nam cuối năm 1787 - TS. Phạm Trọng Chánh

Bao nhiêu năm nghiên cứu về Nguyễn Du, chúng ta đă biết hết cuộc đời Nguyễn Du chưa ?  Nguyễn Du có quyển Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm .

Dịch chương “Nhă Ca”, một dâm thơ trong Cựu ước - TS. Phạm Trọng Chánh

“Nhă Ca”  (CANTIQUES) là một tác phẩm văn chương cổ đại của dân tộc Do Thái, cách chúng ta khoảng 630 năm trước Tây lịch. Một áng văn chương trữ ...

Đọc Lưu Hương Kư của Hồ Xuân Hương - TS. Phạm Trọng Chánh

Giữa thời điểm các nhà sách hải ngoại thi nhau đóng cửa, người đọc tiếng Việt ngày càng thưa thớt, tác giả gửi sách đi cho các nhà sách, không

Hồ Xuân Hương và quan Hiệp Trấn Sơn Nam Thượng Trần Ngọc Quán - Phạm Trọng Chánh

Trần Ngọc Quán quê Nghệ An, trước làm quan Cai Bạ doanh Quảng Đức (Chức vụ đứng đầu một doanh, tỉnh Thừa Thiên ngày sau). Tháng 2 năm Ất ..

Hồ Xuân Hương và Phật giáo - TS. Phạm Trọng Chánh

Điều nghịch lư trong thơ truyền khẩu gán cho Hồ Xuân Hương là Xuân Hương thường đi chùa, cuối đời có đi tu một thời gian, nhưng trong thơ lại ...

* Đối thoại: Sở tri chướng và kinh tế thị trường – Phạm Trọng Chánh, Ph.D., Paris, Pháp,  
              Link :
http://giaodiemonline.com/baiup/DTGH(3).htm