NGUYỄN DU VÀ CÂY LIỄU XƯA

 

ĐỀN MẠNH TỬ

 

 

TS. Phạm Trọng Chánh

 

 

 

Nguyễn Du  là một nho sĩ Khổng Giáo như bao người xưa, nhưng không thấy, thi hào nhắc đến Khổng Tử, nhưng lại nhắc đến Mạnh Tử. Trong bài Trở Binh Hành  có nhắc đến câu « Dân tử tại tuế bất tại ngă »   Dân chết lỗi ở trời nào phải ta. Câu nói nổi tiếng của Mạnh Tử kết án quan lại không lo tṛn trách nhiệm, khi dân chết đói th́ đỗ lỗi tại trời.  Trên đường đi sứ lúc đi về, thi hào có ghé ngang Sơn Đông, có ghé thăm đền Mạnh Tử và viết bài Cây liễu xưa đền Mạnh Tử. Khu di tích đền Khổng Tử chỉ cách đó 30 km, nhưng nhà thơ không ghé qua.

Tại sao Nguyễn Du nói đến cây liễu trước đền, gỗ cây liễu tượng trưng cho bản chất tự nhiên của con người, giáo dục như đẽo gọt gỗ thành vật dụng.. Bài thơ Nguyễn Du viết :  Ta nghe bên bờ ao trời có con rồng uốn khúc. Những bức tranh vẽ ngày nay không giống chút nào. Những đêm mưa gió rồng bay xuống đây. Hoá làm cây liễu trước đền Á Thánh. Cây liễu này toàn vẹn to trăm người ôm. Được nuôi dưỡng để thành cao to như thế không phải một lúc . Trời có ư  yêu riêng đem mưa móc nhuần tưới. Quỉ thần ngấm ngầm giúp đỡ. Cành nhánh sum suê càng già càng khỏe. Tháng năm dằng dặc không biết đă bao năm. Uốn bên tả quanh bên hữu đứng ngay bên đường lớn. Khách qua đường không dám vén cành. Um tùm rậm rạp ôm chứa nguyên khí. Nền tư văn thiên hạ có lẽ ở đây. Người làng xây hai trụ đá chống đỡ. Trụ đá càng sâu, gốc càng bền. Không như cây cỏ tầm thường tuổi thọ ít. Cây choáng nửa mẫu đất trong gió mây từ xưa đến nay . Cái khí hạo nhiên chẳng phải tầm thường, cây lớn sẽ cùng trời ngang tuổi thọ.

CÂY LIỄU XƯA ĐỀN MẠNH TỬ

Ta nghe bên bờ ao trời có con rồng uốn khúc,

Tranh vẽ ngày nay không giống y một chút.

Một đêm mưa gió rồng bay xuống đây,

Đền Á Thánh, hóa thành cây phía trước,

Cây liễu c̣n nguyên trăm người ôm,

Để thành cây lớn không một lúc.

Trời yêu đem mưa tưới sớm hôm.

Quỷ thần phù tŕ ngầm giúp sức,

Cành lá xum xuê càng vững bền,

Tháng ngày dằng dặc biết bao năm,

Bên trái bên phải ngang đường bước.

Khách qua chẳng dám vin cây cành.

Um tùm rậm rạp, nguyên khí tốt,

Nền văn thiên hạ là đây chăng,

Người làng xây hai trụ chống cột.

Trụ đá càng sâu gốc vững bền,

Không như cây thường tuổi thọ ít.

Nửa mẫu cây xanh mây gió cổ kim.

Chẳng phải tầm thường khí hạo nhiên.

Cây lớn cùng trời ngang tuổi thọ.

Nhất Uyên dịch thơ.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt :

MẠNH TỬ TỪ CỖ LIỄU

Ngô văn thiên tŕ chi phân hữu long yêu kiểu,

Kim chi họa đồ vô nhược tiếu.

Phong vũ nhất dạ phi hạ lai,

Hóa vi Á Thánh cung môn liễu.

Thử liễu hồn toàn bách thập vi,

Dưỡng thành đại vật phi nhất th́.

Vũ lộ thiên ư độc tư nhuận,

Quỉ thần ám trung tương phù tŕ.

Chi kha lạc lạc lăo ích tráng,

Tuế nguyệt du du thâm bất tri.

Tả bàn hữu chuyển đương đại đạo,

Quá khách bất cảm phan kỳ chi.

Thông thông uất uất băo nguyên khí,

Thiên hạ tư văn kỳ tại tư.

Hương nhân chi dĩ nhị thạch trụ,

Thạchh trụ kư thâm căn dũ cố.

Bất đồng phàm hũy tiểu xuân thu.

Bán mẫu phong yên tự kim cổ.

Hạo nhiên chí khí phi tầm thường,

Đại tài ung dữ thiên tề thọ.

Mạnh Tử (372 -289 tr CN) tên là Mạnh Kha, tự là Dư. Người đất Châu, nay là huyện Châu, thuộc tỉnh Sơn Đông. Châu xứ Bắc  đọc thành Trâu, Khổng Tử người nước Lỗ,  ngày xưa các cụ ta hay đùa : « Nước Lỗ Trâu chảy ra Khổng Mạnh. »   Sinh ngày 15 tháng 11, năm thứ 26 đời Chu Noăn Vương (189 tr CN). Thuở ông lên 3 tuổi, cha mất nhờ có mẹ hiền dạy dỗ. Tương truyền bà mẹ phải dời nhà ba lần : lần thứ nhất nhà ở gần nghĩa trang, ông suốt ngày chỉ chơi cúng kiến làm tang lễ, bà mẹ thấy không xong dời nhà đến chợ, ông suốt ngày chỉ chơi buôn bán, bà mẹ lại dời nhà đến gần trường học thầy Tử Tư, cháu nội Khổng Tử, ông học hành chăm chỉ, hiểu rơ cái đạo Khổng Tử. Ông lại có tài hùng biện thường đi du lịch nước Tề, nước Lương, nước Tống, nước Đằng muốn đem cái đạo của thánh nhân ra cứu đời, nhưng v́ thuở ấy vua các nước chỉ lo việc chiến tranh, không ai để ư đến nhân nghĩa. Những cuộc chiến tranh dành quyền lực, các chư hầu tranh đất, đánh nhau giết người đầy thành ; Mạnh Tử lên án vua chúa các cuộc chiến tranh phi nghĩa ấy và đề cao nhân dân :  Dân vi quư, xă tắc thứ chi, quân vi khinh. Dân là quư hơn cả, thứ đến đất nước, vua xem thường. Có dân mới có nước, có nước mới có vua. Chức vụ người làm vua phải bảo dân, nghĩa là giữ ǵn hạnh phúc cho dân. Dân như nước, chở thuyền cũng là dân và lật thuyền cũng là dân.  Người làm vua không hiểu rơ chức vụ ấy là làm việc trái ḷng dân, tức trái mệnh trời. Người giữ quyền trị dân mà chỉ dùng mănh lực để áp chế dân, là không nghĩa lư ǵ chính đáng cả. Triết lư chính trị Mạnh Tử cối lơi là tinh thần  duy dân. Phàm cái chính trị đă có tinh thần duy dân, th́ việc trị nước chỉ có phép công là trọng hơn cả, dẫu ai có quyền thế to cũng không ra ngoài phép công được. Phép công đă định, th́ từ vua quan cho đến thường dân không ai có thể vượt qua làm điều trái phép. Đă có phép công th́ vua cũng không thể lấy quyền thế mà bỏ được. Người làm quan cứ theo phép công mà trị tội, dẫu người có tội là ông Thái Thượng Hoàng cũng không tha. Ấy thế mới là công. Theo lư tưởng ấy th́ rơ ràng Mạnh Tử đă phát minh ra chủ nghĩa b́nh đẳng trong luật pháp và cái tinh thần lập hiến trong chính thể quân chủ và  truyền đến Tuân Tử  và mở đường cho phái Pháp Trị của Hàn Phi Tử sau này.

Cụ Trần Trọng Kim trong quyển Nho Giáo, nxb Sống Mới, Sàigon 1970, đă tóm lược tư tưởng Mạnh tử :

Mạnh Tử cho rằng : người làm vua lúc nào cũng phải lo đến cái hạnh phúc của dân : cùng dân mà hưởng phú quư, cùng với dân mà chịu sự lo sợ, th́ không bao giờ dân bỏ ḿnh được. Người vui cái vui của dân, th́ dân cũng vui cái vui của ḿnh, người lo cái lo của dân, th́ dân cũng lo cái lo của ḿnh. V́ thiên hạ mà vui, v́ thiên hạ mà lo, thế mà không làm vương, th́ chưa có cái lo đó vậy.( Lạc dân chi lạc giả, dân diệc lạc kỳ lạc, ưu dân chi ưu giả, dân diệc ưu kỳ ưu. Lạc dĩ thiên hạ, ưu dĩ thiên hạ, nhiên nhi bất vương dă, vị chi hữu dă. Mạnh Tử, Lương Huệ Vương, hạ)   Phạm Trọng Yêm đời Tống trong bài Nhạc Dương Lâu kư nói câu nói tương tự : Làm quan (lănh đạo) phải lo trước cái lo của thiên hạ và vui sau cái vui của thiên hạ.

Người trị dân trị nước phải chăm lo việc dân, khiến cho dân được sung túc, rồi phải dạy dỗ dân, để cho dân đừng làm điều bậy. Dân được giàu có sung túc, có sẵn ḷng tốt th́ xă hội an lành. Dân nghèo đói, không được giáo hóa th́ sinh ra, phóng đăng, gian tà, trộm cướp, không điều ǵ không làm. Đến khi phạm tội mới lấy h́nh luật ra trừng trị, thế là giăng lưới để đánh lừa dân (Mạnh Tử, Đằng Văn Công , thượng)

Cho nên làm lănh đạo phải chăm lo dân, lương bổng tài sản trên đủ nuôi cha mẹ già,  dưới đủ nuôi vợ con, năm được mùa th́ no luôn, năm mất mùa phải lo dự pḥng không  đến nỗi chết đói. Được như thế  khuyên dân làm điều lành,  th́ dân theo điều lành dễ lắm (Mạnh Tử Lương Huệ Vương, thượng).

Việc giáo hóa là chức vụ trong yếu trong việc chính trị. An ủi dân, vỗ về dân, sửa ngay chính ḷng tín ngưỡng của dân, nắn cho thẳng đức tính của dân, giúp đỡ dân, che chỡ dân, khiến cho tự ḿnh biết vui về đạo, lại theo mà làm cho phấn khởi cái đức của dân (Đằng Văn công, thượng). Bởi vậy cho nên người lănh đạo đạt ra nhà trường, nhà tự, nhà học, nhà hiệu, để dạy cho dân biết rơ nhân luân, khiến cho người ta biết thân yêu nhau và hiểu rơ hiếu đễ, kẻ đầu bạc hoa râm không phải mang đội nặng nhọc dọ đường, kẻ già cả có áo lụa mặc, có thịt ăn, người dân không đói, không rét (Lương Huệ Vương, thượng).

Chính trị Nho giáo theo Mạnh Tử phải chủ lấy sự bảo dân làm nồng cốt. Lănh đạo nào không theo tông chỉ ấy, mà chỉ lấy sự vui thu riêng của ḿnh, để dân phải chịu những điều cực khổ, là những ông vua bất nhân. Có khi ở trong cung nhà vua nuôi những súc vật cho ăn béo tốt, mà dân ở ngoài th́ đói khổ, không ai thương đến. Chó lợn ăn cái ăn của dân, mà không xét dọc đường có những thây người chết đói mà không phát của kho ra cứu giúp. Có người chết th́ nói rằng : không phải tại ta, tại trời làm năm mất mùa đây. Thế có khác ǵ cầm dao đâm người ta chết rồi, rồi nói : Có phải ta giết đâu,  tại con dao đấy.. Vậy người làm vua mà tàn ngược như vua Kiệt, vua Trụ, th́ người có nhân, có đức như vua Thang vua Vũ được quyền trừ bỏ đi. Người nhân đức trừ được kẻ tàn bạo mà cứu dân không phải là người có tội.

Qua thơ chữ Hán Nguyễn Du mang nặng nhiều ảnh hưởng Phật Giáo, có nhiều bài thơ viết về chùa chiền  di tích Phật Giáo : Vọng Quan Âm Miếu, Vọng Thiên Thai tự, Vọng Tương Sơn Tự, Đạo ư, Lương Chiêu Minh  Thái tử, Phân kinh thạch đài, Kư Huyền Hư tử, Kư Giang  Bắc Huyền Hư Tử. qua bài Phân Kinh Thạch Đài Nguyễn Du chịu nhiều ảnh hưởng Thiền Tông ngài Huệ Năng và trích dẫn bài thơ Huệ Năng : Bồ đề không phải là cây, Minh kính không phải là gương. Nguyễn Du khẳng định :  Ḷng ta thường định chẳng xa thiền. Nguyễn Du bài bác kinh điển mơ hồ, chữ nghĩa không rơ ràng, chữ nghĩa không rơ ràng, chỉ để bọn ngu tăng đời sau đọc điếc tai người ta .

Nguyễn Du đi thăm Hoàng Hạc lâu, Nhạc Dương lâu nơi có di tích các bậc tiên nhân Đạo Lăo : Phí Vân Vi, Lă Đồng Tân và  bài Hành Lạc từ, người đi săn mang  xem thưởng danh lợi mang màu sắc Lăo Trang.

Về Nho Giáo chỉ có bài Cây liễu đền Mạnh Tử,  bài Trở Binh Hành nhắc đến một câu nói của Mạnh Tử, và tư tưởng Nho Giáo bàng bạc trong các bài thơ ca ngợi  trung quân các bậc anh hùng Trung Quốc.. Đă lâu rồi nước ta không có Vua, vua chúa bị bài bác lâu rồi, nên giới trẻ không c̣n thấy sức nặng của câu nói Mạnh Tử. Đặt vào Việt Nam ngày nay có thể nói thành : Dân là quư, Đất nước là thứ yếu, Tổng Bí Thư Đảng xem thường, th́ quả  là chuyện động trời. Từ hai ngàn năm trăm năm trước Mạnh Tử đă nói câu đó th́ thật là ghê gớm. Nguyễn Du đă kín đáo bày tỏ quan điểm ḿnh trước nền quân chủ như thế đó. Không phải Nguyễn Du thấy cái ǵ của quân chủ cũng hay cũng mẫu mực, vua chúa nào cũng là thần thánh. Trong quân chủ không ai gọi vua Kiệt, vua Trụ, dầu cũng là con cháu ḍng dơi vua mà chỉ gọi là Kiệt, Trụ ngang hàng với Đạo Chích, Lưu Linh du thủ du thực.  Nguyễn Du không tả chân dung h́nh tượng Mạnh Tử, mà tả cây liễu trước đền Mạnh Tử được người đời vun xới, chống đỡ quư mến, nên to lớn, tuổi thọ ngang tuổi thọ của trời. Tư tưởng Mạnh Tử  v́ dân cho nên được dân yêu quư nên bền vững  cùng trời đất.

 

PHẠM TRỌNG CHÁNH

* Tiến sĩ Khoa Học Giáo Dục Viện Đại Học Paris V.

  

Tác giả: Hồ Xuân Hương nàng là ai ? Khuê Văn 2000 ;  Nguyễn Du , Mười năm gió bụi và mối t́nh Hồ Xuân Hương,  Khuê Văn Paris 2010; Truyện Thơ Odyssée qua 12110 câu thơ lục bát, Khuê Văn 2005; Sử Thi Iliade qua 16933 câu thơ lục bát, Khuê Văn 2009; Tự điển t́nh yêu bằng thơ t́nh Xuân Diệu, Khuê Văn 201; Giáo Dục Việt Nam thời Pháp thuộc (1940-1945) Paris 1976; Giáo Dục Miền Nam Việt Nam 1954-1975, Paris 1980; Thơ t́nh Nhất Uyên (Huy Cận, Xuân Diệu đề tựa), Paris, 1996; Công cha như núi Trường Sơn 1975. Cánh chim từ vùng lửa đỏ (thơ nhạc với Tốn Thất Lập) HSVST 1974; Bóng thời gian, Thời gian ta măi măi c̣n xanh (với Nguyễn Đăng Hưng Liège 1972); Chiêm Bao Trắng, Thơ Sàigon 1969

 

 

 


 

 

Mời đọc những bài viết khác của cùng tác giả :

 Tử Xuân Hàm Nghi (1872 -1942), vị vua lưu đày thành nghệ sĩ - TS. Phạm Trọng Chánh

Năm 1926, để kỷ niệm 10 năm thành lập Viện Bảo tàng Auguste Rodin (1840-1917)  Hotel Biron 79 rue de Varenne, Paris 7è, năm 1916, Rodin nhà điêu khắc vĩ ...

Nguyễn Du qua sông hoài nhớ Văn Thiên Tường - TS. Phạm Trọng Chánh

Đầu thế kỷ 20, những người Việt Nam đi làm cách mạng thuộc ḷng hai câu thơ :  Nhân sinh tự cổ thùy vô tử. Lưu thủ đan tâm chiếu hăn ...

 

Tiểu sử Nguyễn Du qua những phát hiện mới - TS. Phạm Trọng Chánh

Nguyễn Du có quyển Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Nhân không phải lúc đi sứ năm 1813 mà có từ năm 1790 tại Hàng Châu. Giáo Sư ...

 

 

Đi t́m Cổ Nguyệt Đường và mối t́nh Hồ Xuân Hương và Nguyễn Du - TS.Phạm Trọng Chánh

Mùa hè 2011, sau một chuyến du hành khắp nước, tôi dành 5 ngày về ở tại Làng Nghi Tàm trên đường Xuân Diệu. Suốt năm ngày dù trời mưa ...

 

Tiếc thương Nhạc sĩ thiên tài Nguyễn Thiên Đạo (1940-2015) - TS.Phạm Trọng Chánh

Sáng ngày 27-11-2015 tôi  đến nghĩa trang Père Lachaise để tiễn nhạc sĩ Nguyễn Thiên Đạo đến nơi yên nghỉ cuối cùng; sau khi hỏa táng, anh sẽ nằm trong ...

Hoàng Hạc Lâu qua thi ca các sứ thần nước Nam - Phạm Trọng Chánh

Hoàng Hạc Lâu  được xây dựng tại Vũ Hán từ năm 223  do Tôn Quyền thời Tam Quốc : khi xây cổ thành Hạ Khẩu, phía Tây giáp Trường Giang, góc ...

 

Nguyễn Du qua đ́nh Tô Tần - TS. Phạm Trọng Chánh

Nguyễn Du có hai bài thơ viết về   đ́nh Tô Tần  khi đi qua cố kinh  Lạc Dương, nơi quê hương Tô Tần. Lạc Dương là một trong 4 kinh ...

 

 

Nguyễn Du trên quê hương Khuất Nguyên - TS.Phạm Trọng Chánh

Khi đi qua Trung quốc, Nguyễn Du đă nhiều lần đến nước Sở, quê hương  Khuất Nguyên:  Năm 1788- 1790 trong thời  tuổi trẻ đi giang hồ Trung Quốc  lượt ...

 

Nguyễn Du trên quê hương Đỗ Phủ - TS.Phạm Trọng Chánh

Đỗ Phủ (712-770)  thời nhà Đường, sống trong thời đại loạn An Lộc Sơn  trong 8 năm, làm tiêu hao 2/3 dân số Trung Quốc. Năm 755 nước này có ...

 

Nguyễn Du đi sứ trên quê hương Lư Bạch - TS.Phạm Trọng Chánh

Nguyễn Du lấy bút hiệu là Thanh Hiên, kết hợp từ chữ Thanh, bút hiệu Thanh Liên của thi hào Lư Bạch (701-762), và chữ Hiên thường dùng của gia ...

 

Đi theo hành tŕnh “Bắc hành tạp lục” của Nguyễn Du - TS.Phạm Trọng Chánh

Đọc “Bắc Hành Tạp Lục” nhiều nhà nghiên cứu có cảm giác Nguyễn Du rất cô đơn trước cảnh sắc và  con người tại Trung Quốc. TS Nguyễn Thị Nương ...

Tưởng nhớ Giáo sư Trần Văn Khê - TS.Phạm Trọng Chánh

Thuở thư sinh lên đường du học Âu Châu  năm 1970, túi đàn cặp sách, tuổi hai mươi : «  cầm kỳ thi họa đủ mùi ca ngâm », hành trang tôi ...

Mối t́nh “ông vua thơ Nôm” Lê Thánh Tông và Trường-Lạc hoàng hậu - TS.Phạm Trọng Chánh

Phạm Đ́nh Hổ trong Tang thương ngẫu lục quyển II,  tr 232 có chép chuyện vua Lê Thánh Tông và Trường Lạc Hoàng Hậu, một chuyện t́nh tuyệt đẹp, giữa ...

Kỷ niệm với Họa Sư LÊ BÁ ĐẢNG (1921-2015) - Ts Phạm Trọng Chánh

Những năm 1973-1976, đến Paris  tôi bắt đầu công việc sinh viên, vừa làm vừa học, là kư tên và đánh số giùm tranh litho cho  Họa sĩ Lê Bá ...

Hồ Sĩ Đống (1739-1785) - bậc thầy thi ca thời Lê trung hưng - TS. Phạm Trọng Chánh

Hồ Sĩ Đống được Phạm Đ́nh Hổ trong Vũ Trung tùy bút, bài Thi ca kể tên cùng Nguyễn Tông Khuê, Nguyễn Huy Oánh là ba bậc thầy phục hưng ...

 Đọc bài “Về cuốn sách Lịch Sử Việt Nam được cho là kiệt tác sử học” - TS Phạm Trọng Chánh.

Nhân đọc bài : Về cuốn sách được cho là kiệt tác sử học của ông Tiến Anh Hồng Quang đăng trên Nhân Dân Điện tử thứ năm 27-1-2014. Bài viết có nhiều hiểu lầm; Giáo sư Lê Thành Khôi nay đă lớn tuổi 93 tuổi, chẳng phải bận rộn với bài viết nhỏ mọn này, là môn sinh Giáo sư Lê Thành Khôi tôi xin thay mặt Giáo sư trả lời các điểm thắc mắc của ông Tiến Anh Hồng Quang.

Nguyễn Tông Khuê - bậc thầy thi ca đời Lê Trung Hưng - TS. Phạm Trọng Chánh

Phạm Đ́nh Hổ trong Vũ Trung Tùy Bút có nói đến ba nhà thơ lớn, ba bậc thầy thi ca thời Lê Trung Hưng : Nguyễn Tông Khuê (1693-1767), Nguyễn Huy ...

GS.Lê Thành Khôi & lịch sử Việt Nam - TS.Phạm Trọng Chánh

Cuối tháng 8-2014  Nhà Xuất bản Thế Giới Hà Nội cho ra mắt quyển  « Lịch Sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XX » của Giáo Sư Lê Thành ...

Đọc sách : "Đạo Cao Đài và Victor Hugo" của TS.Trần Thu Dung - TS.Phạm Trọng Chánh

Victor Hugo là một nhà văn lớn, nhà chính trị Cộng ḥa  Pháp, chống lại Đế Chế Napoléon III, từng phải lưu vong xa nước 17 năm. Ông qua đời ...

Patrick Modiano giải Nobel văn chương 2014 - TS.Phạm Trọng Chánh

Sinh ngày 30-7-1945 tại Boulogne Billancourt, ngoại ô Paris, tác giả hơn 30 quyển tiểu thuyết, truyện phim, giải thưởng Văn Chương Hàn Lâm Viện Pháp, giải thưởng Goncourt, tác ...

Hồ Xuân Hương đi buôn (1807-1811) : “mẹ già nhà túng, ăn ở không yên ổn” - TS. Phạm Trọng Chánh

Trong bài tựa Lưu Hương Kư, Tốn Phong viết:  “ Từ đó  (sau lần đến thăm xuân 1807) có những lúc tôi phải vào Nam, ra Bắc, không thể cùng ...

Nguyễn Du : Ra Bắc 1796, t́nh duyên tan vỡ - Ts.Phạm Ttrọng Chánh

Nguyễn Du cho rằng việc vào Nam từ năm 1794 đến 1796 là hoài công, vô ích. Và mong rằng việc ra Bắc năm 1796 sẽ làm nên việc.  Sau ...

Đọc sách : Nguyễn Du trên đường gió bụi của Hoàng Khôi - Nhà Xuất bản Văn Học. Hà Nội- 2013 - Ts.Phạm Trọng Chánh

Có ǵ vui hơn, khi những thành quả nghiên cứu văn học của ḿnh được bè bạn Hội Kiều Học trong nước hưởng ứng viết thành tiểu thuyết.  Nhận được ...

 Hồ Xuân Hương cô hàng bán sách phố Nam thành Thăng Long (1804-1807) - TS. Phạm Trọng Chánh

Khoảng 10 năm trước năm 1813 Tốn Phong đă đến thăm  Xuân Hương Hồ Phi Mai tại hiệu sách Xuân Hương, Phố Nam thành Thăng Long, thuở ấy nàng ở ...

Nguyễn Du : những mỹ nhân trên đường mười năm gió bụi (1786-1796) - TS. Phạm Trọng Chánh

Sau ba năm đi giang hồ Trung Quốc, Nguyễn Du trở về ở tại Thăng Long từ cuối năm 1790 cho đến năm 1794. Đó là ba năm « Chữ t́nh ... 

Nguyễn Du gặp Đoàn Nguyễn Tuấn, sứ đoàn Tây Sơn tại Hoàng Châu 1790 - TS. Phạm Trọng Chánh

Nguyễn Du sau khi đậu Tam Trường (1783) ở Trường thi Sơn Nam lúc 17 tuổi, được anh là Nguyễn Khản, Thượng Thư Bộ Lại kiêm Trấn thủ Hưng Hóa, ...

Nguyễn Du : nhà sư Chí Hiên “Giang Bắc, Giang Nam túi tiền không” (1788-1790) 
TS. Phạm Trọng Chánh

Nguyễn Du, mang danh hiệu Chí Hiên, danh hiệu Nguyễn Du dùng cho đến năm 1796, kư tên hai bài thơ  tặng Hồ Xuân Hương, lưu lại trong Lưu Hương ...

Nguyễn Du chia tay Nguyễn Đại Lang, Nguyễn Sĩ Hữu tại Liễu Châu 1788 - TS. Phạm Trọng Chánh

Nguyễn Du gọi cuộc đời từ 20 đến 30 tuổi của ḿnh là « 10 năm gió bụi » (1786-1796), gia phả và sách vở giáo khoa trăm năm qua  lại viết ...

Nguyễn Du từ Thái Nguyên sang Vân Nam cuối năm 1787 - TS. Phạm Trọng Chánh

Bao nhiêu năm nghiên cứu về Nguyễn Du, chúng ta đă biết hết cuộc đời Nguyễn Du chưa ?  Nguyễn Du có quyển Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm .

Dịch chương “Nhă Ca”, một dâm thơ trong Cựu ước - TS. Phạm Trọng Chánh

“Nhă Ca”  (CANTIQUES) là một tác phẩm văn chương cổ đại của dân tộc Do Thái, cách chúng ta khoảng 630 năm trước Tây lịch. Một áng văn chương trữ ...

Đọc Lưu Hương Kư của Hồ Xuân Hương - TS. Phạm Trọng Chánh

Giữa thời điểm các nhà sách hải ngoại thi nhau đóng cửa, người đọc tiếng Việt ngày càng thưa thớt, tác giả gửi sách đi cho các nhà sách, không

Hồ Xuân Hương và quan Hiệp Trấn Sơn Nam Thượng Trần Ngọc Quán - Phạm Trọng Chánh

Trần Ngọc Quán quê Nghệ An, trước làm quan Cai Bạ doanh Quảng Đức (Chức vụ đứng đầu một doanh, tỉnh Thừa Thiên ngày sau). Tháng 2 năm Ất ..

Hồ Xuân Hương và Phật giáo - TS. Phạm Trọng Chánh

Điều nghịch lư trong thơ truyền khẩu gán cho Hồ Xuân Hương là Xuân Hương thường đi chùa, cuối đời có đi tu một thời gian, nhưng trong thơ lại ...

* Đối thoại: Sở tri chướng và kinh tế thị trường – Phạm Trọng Chánh, Ph.D., Paris, Pháp,  
              Link :
http://giaodiemonline.com/baiup/DTGH(3).htm