NGUYỄN DU QUA SÔNG HOÀI

NHỚ VĂN THIÊN TƯỜNG


TS. Phạm Trọng Chánh

           

 

Đầu thế kỷ 20, những người Việt Nam đi làm cách mạng thuộc ḷng hai câu thơ :  Nhân sinh tự cổ thùy vô tử. Lưu thủ đan tâm chiếu hăn thanh  (Từ cổ người đời ai chẳng chết, lưu lại ḷng son với sử xanh) trong bài Qua biển Lênh Đênh của Văn Thiên Tường. Những bài thơ rực sáng tấm ḷng yêu nước của tác giả bài Chính Khí Ca, được Nguyễn Công Trứ trích dẫn trong bài hát nói Chí anh hùng. Chính Khí Ca c̣n  ca tụng bởi Nguyễn Du, Trịnh Hoài Đức, Nguyễn Đ́nh Chiểu, Phan Bội Châu  ...

Văn Thừa Tướng tức Văn Thiên Tường (1236-1282) anh hùng dân tộc, nhà thơ yêu nước thời Nam Tống. C̣n có tên là Lư Thụy, hiệu Văn Sơn tên ngọn núi trước nhà, người Cát An,  tỉnh Giang Tây. Năm 20 tuổi đỗ Tiến sĩ làm quan đến chức Hữu Thừa tướng (đồng Thủ Tướng) kiêm khu mật sứ. Khi quân Nguyên Mông Cổ tấn công Lâm An (Hàng Châu) ông được phái thương thuyết xin ḥa, bị tướng Nguyên là Bá Nhan giữ lại. Sau trốn về Ôn Châu lập vua Tống Đoan Tông để chống Nguyên. Tháng 10 năm 1278 bị bại trận tại Quảng Đông, bị địch bắt; Tháng ba năm sau bị giải đi Yên Kinh (Bắc Kinh). Suốt ba năm tù Nguyên Thế Tổ Thành Cát Tư Hăn (Hốt Tất Liệt) dụ dỗ đầu hàng; hàng chục người, từ ấu chúa nhà Tống đến quan lại đầu hàng, người thân gia đ́nh thay phiên nhau thuyết hàng, rồi đến cưỡng bức, nhục h́nh, nhưng ông vẫn cự tuyệt, cuối cùng bị giết năm 47 tuổi, để lại ḷng son với sử xanh. Các tác phẩm để lại : Văn Sơn tập, Chỉ Nam lục, Chỉ Nam hậu lục, Ngâm khiếu tập , tập hợp trong Văn Sơn tiên sinh toàn tập 20 cuốn. Người Việt Nam muôn thuở vẫn kính phục Văn Thiên Tường, và phân biệt ḷng yêu nước cao đẹp của danh nhân Trung Quốc ấy với chủ nghĩa bành trướng Đại Hán.

 

Văn Thiên Tường

link: https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_Thi%C3%AAn_T%C6%B0%E1%BB%9Dng

 

Sông Hoài là con sông lớn thứ ba Trung Quốc, sau sông Dương Tử và sông Hoàng Hà, dài 1078 km lưu vực 187 ngàn km2. Sông Hoài và núi Tần Lĩnh là đường phân chia thiên nhiên giữa Hoa Bắc và Hoa Nam, bắt nguồn từ Đồng Bách Sơn, tỉnh Hà Nam chảy qua tỉnh An Huy và Giang Tô đổ vào sông Dương Tử tại Tam Giang Doanh tỉnh Giang Tô.  Nguyễn Du đi qua sông Hoài lại nhớ Văn Thiên Tường với bài  « Qua sông Hoài nhớ Văn Thừa tướng » :  Ṭng kim biệt khứ Giang Nam lộ, Hóa tác đề quyên đai huyết quy. Từ nay vĩnh biệt con đường quê hương Giang Nam, hóa thành con chim đỗ quyên kêu  khàn cổ đến ra máu. Núi non phong cảnh vẫn c̣n y nguyên,  nhưng ḷng trung của Thừa Tướng Văn Thiên Tường vẫn truyền muôn thuở. Vượt khỏi sông Hoài không c̣n là đất cũ nữa v́ nhà Tống đă cắt đất phía bắc chia cho nhà Kim. Bao giờ mới đoàn viên trở lại miền Giang Tả. Bi thương Văn Thiên Tường viết lên Chính Khí ca, lời vàng đá. Hồn nhớ nước cũ có  chết  cũng thành con chim cuốc : nhớ nước đau ḷng con quốc quốc. Phong tục Hoa Bắc Hoa Nam giờ đă khác ngày xưa. Trong ánh chiều tà biết bao nhiêu thuyền qua lại.

QUA SÔNG HOÀI NHỚ VĂN THỪA TƯỚNG

Núi sông phong cảnh vẫn c̣n nguyên,

Ḷng trung Thừa tướng măi lưu truyền.

Vượt khỏi sông Hoài không đất cũ,

Bao giờ Giang Tả lại đoàn viên.

Bi thương ḷng thốt thơ vàng đá,

Hồn oán mai về hóa đỗ quyên.

Phong tục Bắc Nam giờ chẳng khác,

Chiều tà qua lại biết bao thuyền.

Nhất Uyên dịch thơ; Nguyên tác phiên âm Hán Việt :

 

Đ HOÀI HỮU CẢM VĂN THỪA TƯỚNG

Sơn hà phong cảnh thượng y nhiên,

Thừa tướng cô trung vạn cổ truyền.

Nhất độ Hoài Hà phi cố vũ,

Trùng lai Giang Tả cánh hà niên ?

Ai trung xúc xứ minh kim thạch,

Oán huyết qui thời hóa đỗ quyên.

Nam Bắc chỉ kim vô dị tục,

Tịch dương vô hạn văng lai thuyền.

 

Văn Thiên Tường viết Chính Khí Ca, một áng văn tuyệt tác ngợi ca ḷng yêu nước: Trong trời đất có cái chính khí, tỏa sáng ra cho tất cả mọi loài hữu h́nh. Tràn tuôn mặt đất từ sông đến núi và trên trời sáng chói trăng sao. Là khí hạo nhiên của con người. Gặp khi thời thanh b́nh thịnh trị, từ trong triều đến dân gian đều vang lời vui vẻ, an lạc.  Gặp lúc cùng khốn th́ tiết tháo can trường tỏ ra, được sử xanh lưu truyền muôn đời. Ở nước Tề thời Chiến Quốc, Thôi Tử giết vua quan Thái Sử chép việc mà không sợ uy quyền. Ở Tấn, quan Tể Tướng Triệu Thuẩn bỏ trốn khi vua bị giết, Đổng Hồ chép sự thật kết án Triệu Thuẩn không làm tṛn trách nhiệm là giết vua. Nước Tần, Trương Lương muốn báo thù cho nước Hàn một ḿnh mang chùy đánh vua Tần Thủy Hoàng. Tại nhà Hán, Tô Vũ đi sứ bị Hung Nô bắt giam 18 năm. Trương Phi đánh Ba Thục bắt được tướng Nghiêm Nhan, Nhan không chịu đầu hàng nói: nước Thục chỉ có tướng đứt đầu chứ không có tướng đầu hàng. Vua Tấn Hoài Đế bị giặc đuổi, Kê Thị Trung tức Kê Thiệu lấy thân ḿnh che chỡ vua, bị tên bắn máu tung  đỏ cả áo long bào nhà vua. Đời Đường An Lộc Sơn làm phản, Trương Thư Dương tức  Trương Tuần đánh giặc thua trận bị bắt, mắng giặc luôn miệng bị giặc bẽ găy hai cái răng. Nhan Kiều Khanh tức Nhan Thường Sơn bị giặc bắt mắng chưỡi luôn miệng, giặc cắt lưỡi vẫn tiếp tục chửi măi không thôi. Quảng Minh đời Hán được vua mời ra làm quan, không chịu, cứ ở măi Liêu Đông ba mươi năm đội nón lá mặc áo vải bố. Khổng Minh dâng biểu xin vua xuất quân đánh Ngụy, lời lẫm liệt  oai hùng. Tổ Địch qua sông đánh giặc bẻ gảy mái chèo thề không dẹp giặc xong không qua sông này. Đoàn Tú Thực giận Châu Xế chiếm ngôi vua cầm hốt, vật bằng ngọc các quan cầm cho oai nghi, đánh vào đầu Xế máu ra lai láng. Cái linh khí ấy  tràn ngập muôn thuở, sáng rực cả trần ai, tỏ rơ cả trăng sao. Khí thiên anh hùng, xem nhẹ cái chết tựa lông hồng. nó làm cho khuôn đất nhờ đó mà vững vàng, cột chống trời nhờ đó mà c̣n. Tam cương được ǵn giữ. Đạo nghĩa có được nguồn gốc. Xót v́ ta gặp vận chẳng may, tướng sĩ hèn nhát, cho nên ta bị bắt làm tù nhân. Xe chở lên Bắc Kinh, dù ninh nấu ta trong vạc dầu sôi ta cũng coi như sương. Trong ngục tù không thấy ánh mặt trời, pḥng giam tối đen lập ḷe như lửa ma. (Văn Thiên Tường sống cùng bốn người lính) như ngựa quư sống cùng trâu ḅ. Phượng hoàng ăn  thóc chung cùng đàn gà. Gió lạnh sương mù,  trong không khí ẩm thấp,  ta thường nghĩ sắp chết đến nơi, vậy mà trọn hai năm, bệnh tật hoài công lăng văng chung quanh. Riết rồi ta  cũng thấy cái nền ngục ẩm thấp hôi hám này là cảnh thiên đường lạc quốc.  V́ thế ta vững được ư chí, ngắm mây trắng trôi trên đầu mà ḷng buồn mênh mông như ṿm trời vậy. Thánh hiền nay đă xa, tinh hoa vẫn c̣n đó. Trước hiên gió lộng mở sách đọc. Gương xưa vẫn soi sáng trước mặt.

CHÍNH KHÍ CA  (Văn Thiên Tường)

Trong trời đất  chính khí,

Tỏa sáng  cho muôn loài.

Cho sông núi dưới đất,

Cho trăng sao trên trời.

Bao trùm cả vũ trụ,

Khí hạo nhiên con người.

Gặp lúc thời b́nh trị,

Triều thịnh vang lời vui,

Khi cùng tiết tháo tỏ,

Sử xanh ghi muôn đời.

Ở Tề sách Thái Sử,

Ở Tấn bút Đổng Hồ,

Ở Tần chùy Trương Lương,

Ở Hán  cờ  Tô Vũ .

Đầu Nghiêm tướng  thách  giặc,

Máu Kê Thị đỏ áo vua,

Răng Trương Thư Dương chửi địch,

Lưỡi Nhan Thường Sơn mắng thù,

Hoặc là mũ Liêu Đông,

Trắng phau vẽ băng tuyết,

Hoặc là biểu  Xuất Quân,

Quỷ thần sầu lẫm liệt.

Hoặc qua sông gơ nhịp,

Khẳng khái chí nuốt Hồ.

Hoặc giật hốt đánh tặc,

Phường tiếm nghịch vỡ đầu.

Khí ấy ào ào tới,

Muôn thuở c̣n oai nghiêm,

Khi đă vượt nhật nguyệt,

Sống thác cũng coi thường.

Khuôn đất lại bền vững,

Cột trời măi vẫn c̣n.

Ba mối giềng ǵn giữ,

Đạo nghĩa có cội nguồn.

Xót ta gặp vận mạt,

Tướng sĩ  thật  nhát hèn,

Dăi mũ buộc tù tội .

Xe tù  lên bắc phương,

Ninh nấu đành cam phận,

Ta  c̣n mong được ǵ!

Pḥng tối ma thắp lửa,

Viện xuân ngục âm u,

Ngựa giỏi nhốt cùng trâu,

Chuồng gà phượng mổ thóc.

Thân này khi  gió sương,

Bên rănh mương lăn lóc.

Thế đă hai năm qua,

Tránh ta  khí lạnh độc.

Ta thường nghĩ sắp chết,

Xem tù ngục ẩm thấp,

Là một cơi thiên đường.

Giữ vững được ư chí,

Âm dương không dám phạm.

An nhiên mà tự tại,

Ngắm nh́n  đám mây trắng.

Phiêu du  ta muộn phiền,

Trời xanh cao thăm thẳm.

Đă lâu, khuất thánh hiền,

Khuôn phép vẫn không mất,

Mở sách gió trước hiên,

Soi gương xưa trước mặt.

Nhất Uyên dịch thơ; Nguyên tác phiên âm Hán Việt :

 

CHÍNH KHÍ CA

Thiên địa hữu chính khí,

Tạp nhiên phú lưu h́nh.

Hà tắc vi hà nhạc,

Thượng tắc vi nhật tinh.

Ư nhân viết hạo nhiên,

Bái hồ tắc sương minh.

Hoàng lộ đương thanh di,

Hàm ḥa thổ minh đ́nh.

Thời cùng tiết năi kiến,

Nhất nhất thùy đan thanh,

Tại Tề, Thái Sử giản,

Tại Tấn, Đổng Hồ bút,

Tại Tần , Trương Lương  chùy,

Tại Hán, Tô Vũ tiết.

Vi Nghiêm tướng quân đầu,

Vi Kê Thị trung huyết,

Vi Trương Thư Dương xỉ,

Vi Nhan Thường Sơn thiệt.

Hoặc vi Liêu Đông mạo,

Thanh tháo lệ băng tuyết,

Hoặc vi xuất sư biểu,

Quỷ thần khấp tráng liệt.

Hoặc vi độ giang tiệp,

Khẳng khái thôn Hồ yết.

Hặc vi kích tặc hốt,

Nghịch thụ đầu phá liệt.

Thị khí sở bàng bạc,

Lẫm liệt vạn cổ tồn.

Đương kỳ quán nhật nguyệt,

Sinh tử an túc luân.

Địa duy lại dĩ lập,

Thiên trụ lại dĩ tôn.

Tam cương thực hệ mệnh,

Đạo nghĩa vi chi căn.

Ta dư cấu dương cứu,

Lệ dă thực bất lực,

Sở tù anh kỳ quan,

Truyền xa tống cùng bắc.

Đỉnh hoạch cam như di,

Cầu chi bất khả đắc,

Âm pḥng khích quỷ hỏa,

Xuân viện bí thiên hắc,

Ngưu kư đồng nhất tạo,

Kê thê phượng hoàng thực.

Nhất triêu mông vụ lộ,

Phân tác câu trung tích,

Như thử tái hàn thử,

Bách lệ tự trích dịch.

Ai tai thử như trường,

Vi ngă an lạc quốc.

Khởi hữu tha mậu xảo,

Âm dương bất năng tặc.

Cố thử cảnh cảnh tại,

Ngưỡng thi phù vân bạch,

Du du ngă tâm bi,

Thương thiên hạt hữu cực.

Triết nhân nhật dĩ viễn,

Điển h́nh tại túc tích.

Phong thềm triển thư đọc,

Cổ đạo chiếu nhan sắc.

 

Bài Qua biển Lênh Đênh của Văn Thiên Tường cũng là một bài thơ người xưa nhớ măi. Thôi cũng đành phận cay đắng gian nan. Trải qua bao lưu lạc khốn khó suốt bốn năm. Cuộc đời như cánh bèo trôi dạt trên ḍng nước. Sông núi như lá hoa gió mưa làm rách nát tan tành. Nơi đầu bến người người đều sợ hăi, nghe ḷng sợ hăi. Lênh đênh đến tận cùng biển nước Trung Hoa nghe thân phận lênh đênh. Từ xưa nay ai chẳng phải chết. Nhưng chết mà lưu lại tấm ḷng son với sách sử vẫn là hơn.

QUA BIỂN LÊNH ĐÊNH (Văn Thiên Tường)

Cay đắng gian nan phận đă đành,

Can qua lưu lạc bốn năm quanh.

Cuộc đời bèo bọt mưa trôi dạt,

Sông núi hoa cành gió tướp banh.

Hải sợ bến đầu nghe sợ hăi,

Lênh đênh bể tận thán lênh đênh.

Người đời tự cổ ai không chết,

Lưu giữ ḷng son sáng sử xanh.

Bản dịch Đông A; Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

 

QUÁ LINH ĐINH DƯƠNG

Tân khổ tao phùng khởi nhất kinh,

Can qua liêu lạc tứ châu tinh.

Sơn hà phá toái phong phiêu nhứ,

Thân thế phù trầm vũ đả b́nh.

Hoàng khủng than đầu thuyết hoàng khủng,

Linh đinh dương lư thán linh dinh.

Nhân sinh tự cổ thùy vô tử,

Lưu thủ đan tâm chiếu hăn thanh.

 

Ngô Th́ Nhậm khi đi sứ năm 1793 báo tang vua Quang Trung và cầu phong cho vua Cảnh Thịnh, đi ngang qua Cát Thủy quê hương Văn Thiên Tường có viết bài thơ: Quá Cát Thủy Tân Thứ, vọng Văn Sơn điếu Văn Thừa Tướng. Cát Thủy là một huyện thuộc tỉnh Giang Tây.  Núi Văn Sơn trước mặt nhà ông nên ông lấy bút hiệu là Văn Sơn. 

Trời nghĩ ơn đức nhà Tống, để lại tên tuổi một vị Thừa Tướng (Thủ Tướng). Bài thi đ́nh năm 20 tuổi đă tỏ vẻ sắt đá từ trước. Khi ông thi Đ́nh vua Tống lấy đỗ Trạng Nguyên, chủ khảo là Vương Ứng Lân thán phục quyển văn ông nói:  “Thị quyển trung can như thiết thạch”, quyển văn này có tâm can trung nghĩa như sắt đá. Nửa đời cật lực tranh sức sống cùng tạo hóa. Một cái chết ung dung gánh lấy đạo cương thường. Khi người Nguyên xử tử h́nh ông nói: “Ngô sự tất hỹ “ nghĩa là công việc của ta thế là xong rồi. Chiếc thuyền của vua Tống sau khi thua quân Nguyên phải chạy ra vùng biển Nhai Sơn phía Nam lập đội thuyền lớn chống giữ. Tướng Nguyên là Trương Hoàng Phạm đánh phá, chiến thuyền tan vỡ. Thừa tướng Lục Tô Phu cơng vua Tống gieo ḿnh xuống biển tự tử. Chiếc thuyền xưa đă ch́m, ḷng ông c̣n hướng măi. Sau khi Văn Thiên Tường  tử tiết người Nguyên kính trọng lập bài vị, sai làm lễ tế viết bài vị là “Đại Nguyên Thừa Tướng”, bỗng có trận gió cuồng đến cuốn bài vị bay mất. Người Nguyên thấy sợ đổi lại là “Cố Tống Thừa Tướng “ lễ tế mới thành. Sách Lịch Đại Thông giám tập lăm chép việc này. Bài vị mới bị gió cuốn mối hận không nguôi. Đăm đăm nh́n ngọn núi Văn ḷng càng thêm cảm. Nhác thấy mấy con quạ trời lạnh, liệng xuống trong  buổi chiều tà.

QUA BẾN CÁT THỦY TRÔNG NÚI VĂN SƠN ĐIẾU THỪA TƯỚNG HỌ VĂN

Trời ban Thừa Tướng cho nhà Tống,

Sắt đá can trường bài bảng Đ́nh,

Điên đảo nửa đời  tranh  tạo hóa,

Ung dung  một chết gánh cương thường.

Bóng ch́m thuyền Chúa ḷng c̣n hướng,

Gió cuốn bài linh hận chẳng tan.

Ngóng núi Văn Sơn ḷng cảm khái,

Quạ kêu sương lạnh buổi tà dương.

Nhất Uyên dịch thơ; Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

 

QUÁ CÁT THỦY TÂN THỨ, VỌNG VĂN SƠN ĐIẾU VĂN THỪA TƯỚNG

Thiên liên Tống trạch di Thừa Tướng,

Đ́nh đối tiên tư thiết thạch trường.

Điên bái bán sinh tranh tạo hóa,

Thung dung nhất tử  nhậm cương thường.

Tinh trầm cố hạm tâm trường hướng,

Phong quyển tân bài hận vị thường.

Tối thị Văn Sơn ngưng đế xứ,

Hàn nha sổ điểm điếu tà dương.

( Thơ Ngô Th́ Nhậm, nxb Văn Học Hà Nội 1986 tr 211.)

 

Phan Huy Ích, Chánh sứ năm 1790 thời Tây Sơn, trong Sứ đoàn 158 người có Phạm Công Trị đóng làm vua giả Quang Trung, khi đi ngang qua Cát Thủy có bài thơ: Qua huyện Cát Thủy, viếng Văn Thừa Tướng. Huyện Cát Thủy nổi tiếng nơi sinh bậc hiền tài. Trời đem chính khí hun đúc cho Văn Sơn. Làm Trạng nguyên, tể tướng nặng gánh cương thường. Gặp Hoàng Phạm, Toa Đô  là hai tướng tài nhà Nguyên nên Văn Thiên Tường bị khó khăn, bại trận bị bắt. Trương Hoàng Phạm là người Hán theo Mông Cổ được ban tên là Bạt Đô phong làm nguyên soái. Toa Đô, Thái Tử,  là tướng bị Trần Hưng Đạo bắt sông ở cửa Hàm Tử. Không ngại để gương nghĩa liệt trong sử xanh. Đâu đành an nhàn tạm bợ đội mũ vàng, mũ nhà sư. Ḷng cô trung chiếu sáng măi trong trời đất. Khiến kẻ xu thời theo địch mạnh phải thẹn mặt.

QUA  HUYN CÁT THỦY VIẾNG VĂN THỪA TƯỚNG

Đất phát danh hiền đây Cát Thủy,

Trời nung chí khí đúc Văn Sơn.

Trạng Nguyên, Tể Tướng cương thường gánh,

Hoàng Phạm, Toa Đô sự thế cùng.

Nghĩa liệt tấm gương nêu sử sách,

An nhàn đâu dám mặc non sông.

Cô trung sáng măi trong trời đất,

Khiến kẻ xu thời hổ tấm thân.

Nhất Uyên dịch thơ; Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

 

KINH CÁT THỦY VĂN VĂN THỪA TƯỚNG

Địa xuất danh hiền xưng Cát Thủy,

Thiên tương chính khí dục Văn Sơn.

Trạng nguyên, Tể tướng cương thường trọng.

Hoàng Phạm, Toa Đô thế sự nan.

Thanh hăn bất phương lưu nghĩa liệt,

Hoàng quan phi cấu nguyện an nhàn.

Cô trung chiêu yết càn khôn cửu,

Ba lăng trung nhân nhất hăn nhan.

Chú thích:

Hoàng quan: các cụ Đào Duy Anh, Lê Thước đều chú thích mũ  hoàng quan là mũ đạo sĩ. Nhưng đạo sĩ ngày xưa mặc áo trắng, đều đội mũ trắng. Các phim truyện Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan họ nghiên cứu kỹ y phục, không thấy ai mặc đồ trắng đội mũ vàng cả. Trái lại nhà sư mặc áo vàng, đội mũ vàng, nho sinh mặc đồ xanh đội mũ xanh. Phải chăng Văn Thiên Tường muốn đi tu theo Phật, dứt ḷng trần tục mà đội mũ vàng về quê hương ? cũng có thể là hoàn quan, mũ của người từ quan, khi làm quan đội mũ cánh chuồn, khi từ quan đội mũ khác.

(Thơ Văn Phan Huy Ích, Dụ Am Ngâm Lục tập ÌI . nxb KHXH. Hà Nội 1978. Tr 88)

 

Tranh vẽ Phan Huy Ích năm 1790

Link: https://vi.wikipedia.org/wiki/Phan_Huy_%C3%8Dch

 

Văn Thiên Tường được người Việt Nam trân trọng, tấm ḷng khí khái của ông trong những thời kỳ mất nước người Việt không quên. Khi Trung Quốc mất nước,  Việt Nam là đất dung thân tị nạn của người Trung Quốc. Từ thời  nhà Tống bị mất nước  bởi Mông Cổ, nhà Minh bởi Măn Thanh, đến thời cận đại khi Nhật Bản chiếm Trung Quốc, người Việt Nam tiếp đón người Trung Quốc chân thành. Trong quân của Hưng Đạo Vương kháng chiến chống Nguyên Mông có mặt những binh  tướng nhà Tống sang tị nạn. Người Việt Nam đă trả thù cho Văn Thiên Tường bắt sống Thái Tử Toa Đô tại Hàm Tử. Bà Dương Thái Hậu vợ vua Tống Độ Tông cùng hai công chúa lên thuyền chạy sang Việt Nam lánh nạn; thuyền đắm, xác bà trôi dạt vào cửa Cờn, người địa phương lập đền thờ, đến nay vẫn c̣n và ngày ngày vẫn hương khói từ mấy trăm năm qua.

Nguyễn Du có bài Dao vọng Càn Hải từ: Xa trông đền Cờn, Nước biển mênh mông giáp với trục trời, thấp thoáng ngôi đền lẻ loi trên băi cát nhỏ. Cây cổ thụ lạnh lẽo liền với băi chim le trong trời chiều, khói trời lạnh màu xanh bay đến cửa biển đượm màu thu. Kiêu trời tướng văn tướng vơ hết ḷng son Trương Thế Kiệt là tướng vơ, Lục Tú Phu là tướng văn Tể tướng, đều hết ḷng trung. Hai ngượi này đă giúp Dương Thái Hậu và Đế Bính con bà đi trốn, nhưng cả hai đều chết. Vỗ đất ở Quỳnh Nhai, Dương Thái Hậu khóc con ḿnh không c̣n. Dương Thái Hậu khi nghe tin con là Đế Bính chết, đă khóc mà nói rằng: Ta sỡ dĩ chịu gian khổ để sống tới ngày nay là v́ họ Triệu Tống mà giữ ǵn khối thịt ấy, nay đến nỗi này c̣n mong ǵ. Nực cười thay Minh Phi Chiêu Quân ra cửa ải. Gảy đàn tỳ bà chuốc ruợu để mời chúa Thiền Vu. Câu này có ư chê Chiêu Quân chịu lấy vua Hung Nô c̣n đánh đàn mời rượu. Dương Thái Hậu giữ tṛn tiết mà chết.

XA TRÔNG ĐỀN CỜN

Mênh mông mặt bể nối chân trời,

Thấp thoáng băi vàng đền lẻ loi.

Chiều lạnh cây cao chim tối đậu,

Mác man cửa biển tỏa sương trôi.

Thét trời khanh tướng ḷng son quyết,

Vỗ đất Quỳnh Nhai vua hết rồi.

Cười ả Minh Phi ra cửa ải,

Tỳ  bà chuốc rượu Thiền Vu vui.

Nhất Uyên dịch thơ; Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

 

DAO VỌNG HẢI CÀN TỪ

Mang mang hải thủy tiếp thiên khu,

Ẩn ước cô từ xuất tiểu chu.

Cổ mộc hàn liên phù chữ mộ,

T́nh yên thanh dẫn hải môn thu.

Hào thiên tướng tướng đan tâm tận.

Phủ địa Quỳnh Nhai khối nhục vô.

Tiểu nhỉ Minh Phi trường xuất tái,

Tỳ bà bôi tửu  khuyến Thiền Vu.

           

  Thi hào Nguyễn Du

link:  http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_Du

 

Người Việt Nam xưa nay vẫn kính phục Văn Thiên Tường. Nhưng Trung Quốc ngày nay th́ ghi công Hốt Tất Liệt, tức vua Nguyên Thế Tổ v́ ông ta chiếm Tây Tạng sáp nhập vào Trung Hoa. Thiếu điều xem con cháu Thành Cát Tư Hăn là anh hùng Trung Quốc chiếm cả thế giới đến Ấn Độ, Nga…  Ngược lại với Văn Thiên Tường  trung kiên tuẩn tiết khi nhà Tống mất nước, không chịu hàng Hốt Tất Liệt, và mắng bọn đầu hàng . Ngược lại với  nhà sư anh hùng  Chu Nguyên Chương khởi nghĩa đuổi giặc ngoại xâm Mông Cổ khôi phục lại giang san, lập nên nhà Minh. Người Trung Quốc  ngày nay xem Hốt Tất Liệt là người Trung Hoa và hận Liên Xô – Nga lập ra nước Mông Cổ cản mũi kỳ đà, chận đường bành trướng Trung Quốc ra phía Bắc, nếu không th́ cả Sibérie đến Bắc Cực đều thuộc về Trung Quốc. Người Mông Cổ ngày nay chỉ là dân tộc thiểu số Trung Quốc. Bề ngoài xem Mông Cổ, Măn Thanh là người Trung Hoa, nhưng thực tế th́ trả thù. Không đầu tư vào vùng Măn Châu, Nội Mông, để cho dân vùng này đói khổ thê thảm. Có đi đến Vạn Lư Trường Thành là thấy ngay, mỗi du khách sẽ được một người dân “hung nô “ nghèo khó , chạy theo hầu hạ hằng 2,3 giờ suốt hành tŕnh thăm Vạn Lư Trường Thành để xin được vài đồng.  Các cô gái bị đem bán qua Tây Phương làm gái điếm với giá rẻ mạt, phần lớn là gốc Măn Châu.

Paris  12-12-2015

PHẠM TRỌNG CHÁNH

 

Tác giả: Hồ Xuân Hương nàng là ai ? Khuê Văn 2000 ;  Nguyễn Du , Mười năm gió bụi và mối t́nh Hồ Xuân Hương,  Khuê Văn Paris 2010; Truyện Thơ Odyssée qua 12110 câu thơ lục bát, Khuê Văn 2005; Sử Thi Iliade qua 16933 câu thơ lục bát, Khuê Văn 2009; Tự điển t́nh yêu bằng thơ t́nh Xuân Diệu, Khuê Văn 201; Giáo Dục Việt Nam thời Pháp thuộc (1940-1945) Paris 1976; Giáo Dục Miền Nam Việt Nam 1954-1975, Paris 1980; Thơ t́nh Nhất Uyên (Huy Cận, Xuân Diệu đề tựa), Paris, 1996; Công cha như núi Trường Sơn 1975. Cánh chim từ vùng lửa đỏ (thơ nhạc với Tốn Thất Lập) HSVST 1974; Bóng thời gian, Thời gian ta măi măi c̣n xanh (với Nguyễn Đăng Hưng Liège 1972); Chiêm Bao Trắng, Thơ Sàigon 1969

 

 

 


 

 

Mời đọc những bài viết khác của cùng tác giả :

 

Tiểu sử Nguyễn Du qua những phát hiện mới - TS. Phạm Trọng Chánh

Nguyễn Du có quyển Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Nhân không phải lúc đi sứ năm 1813 mà có từ năm 1790 tại Hàng Châu. Giáo Sư ...

 

 

Đi t́m Cổ Nguyệt Đường và mối t́nh Hồ Xuân Hương và Nguyễn Du - TS.Phạm Trọng Chánh

Mùa hè 2011, sau một chuyến du hành khắp nước, tôi dành 5 ngày về ở tại Làng Nghi Tàm trên đường Xuân Diệu. Suốt năm ngày dù trời mưa ...

 

Tiếc thương Nhạc sĩ thiên tài Nguyễn Thiên Đạo (1940-2015) - TS.Phạm Trọng Chánh

Sáng ngày 27-11-2015 tôi  đến nghĩa trang Père Lachaise để tiễn nhạc sĩ Nguyễn Thiên Đạo đến nơi yên nghỉ cuối cùng; sau khi hỏa táng, anh sẽ nằm trong ...

Hoàng Hạc Lâu qua thi ca các sứ thần nước Nam - Phạm Trọng Chánh

Hoàng Hạc Lâu  được xây dựng tại Vũ Hán từ năm 223  do Tôn Quyền thời Tam Quốc : khi xây cổ thành Hạ Khẩu, phía Tây giáp Trường Giang, góc ...

 

Nguyễn Du qua đ́nh Tô Tần - TS. Phạm Trọng Chánh

Nguyễn Du có hai bài thơ viết về   đ́nh Tô Tần  khi đi qua cố kinh  Lạc Dương, nơi quê hương Tô Tần. Lạc Dương là một trong 4 kinh ...

 

 

Nguyễn Du trên quê hương Khuất Nguyên - TS.Phạm Trọng Chánh

Khi đi qua Trung quốc, Nguyễn Du đă nhiều lần đến nước Sở, quê hương  Khuất Nguyên:  Năm 1788- 1790 trong thời  tuổi trẻ đi giang hồ Trung Quốc  lượt ...

 

Nguyễn Du trên quê hương Đỗ Phủ - TS.Phạm Trọng Chánh

Đỗ Phủ (712-770)  thời nhà Đường, sống trong thời đại loạn An Lộc Sơn  trong 8 năm, làm tiêu hao 2/3 dân số Trung Quốc. Năm 755 nước này có ...

 

Nguyễn Du đi sứ trên quê hương Lư Bạch - TS.Phạm Trọng Chánh

Nguyễn Du lấy bút hiệu là Thanh Hiên, kết hợp từ chữ Thanh, bút hiệu Thanh Liên của thi hào Lư Bạch (701-762), và chữ Hiên thường dùng của gia ...

 

Đi theo hành tŕnh “Bắc hành tạp lục” của Nguyễn Du - TS.Phạm Trọng Chánh

Đọc “Bắc Hành Tạp Lục” nhiều nhà nghiên cứu có cảm giác Nguyễn Du rất cô đơn trước cảnh sắc và  con người tại Trung Quốc. TS Nguyễn Thị Nương ...

Tưởng nhớ Giáo sư Trần Văn Khê - TS.Phạm Trọng Chánh

Thuở thư sinh lên đường du học Âu Châu  năm 1970, túi đàn cặp sách, tuổi hai mươi : «  cầm kỳ thi họa đủ mùi ca ngâm », hành trang tôi ...

Mối t́nh “ông vua thơ Nôm” Lê Thánh Tông và Trường-Lạc hoàng hậu - TS.Phạm Trọng Chánh

Phạm Đ́nh Hổ trong Tang thương ngẫu lục quyển II,  tr 232 có chép chuyện vua Lê Thánh Tông và Trường Lạc Hoàng Hậu, một chuyện t́nh tuyệt đẹp, giữa ...

Kỷ niệm với Họa Sư LÊ BÁ ĐẢNG (1921-2015) - Ts Phạm Trọng Chánh

Những năm 1973-1976, đến Paris  tôi bắt đầu công việc sinh viên, vừa làm vừa học, là kư tên và đánh số giùm tranh litho cho  Họa sĩ Lê Bá ...

Hồ Sĩ Đống (1739-1785) - bậc thầy thi ca thời Lê trung hưng - TS. Phạm Trọng Chánh

Hồ Sĩ Đống được Phạm Đ́nh Hổ trong Vũ Trung tùy bút, bài Thi ca kể tên cùng Nguyễn Tông Khuê, Nguyễn Huy Oánh là ba bậc thầy phục hưng ...

 Đọc bài “Về cuốn sách Lịch Sử Việt Nam được cho là kiệt tác sử học” - TS Phạm Trọng Chánh.

Nhân đọc bài : Về cuốn sách được cho là kiệt tác sử học của ông Tiến Anh Hồng Quang đăng trên Nhân Dân Điện tử thứ năm 27-1-2014. Bài viết có nhiều hiểu lầm; Giáo sư Lê Thành Khôi nay đă lớn tuổi 93 tuổi, chẳng phải bận rộn với bài viết nhỏ mọn này, là môn sinh Giáo sư Lê Thành Khôi tôi xin thay mặt Giáo sư trả lời các điểm thắc mắc của ông Tiến Anh Hồng Quang.

Nguyễn Tông Khuê - bậc thầy thi ca đời Lê Trung Hưng - TS. Phạm Trọng Chánh

Phạm Đ́nh Hổ trong Vũ Trung Tùy Bút có nói đến ba nhà thơ lớn, ba bậc thầy thi ca thời Lê Trung Hưng : Nguyễn Tông Khuê (1693-1767), Nguyễn Huy ...

GS.Lê Thành Khôi & lịch sử Việt Nam - TS.Phạm Trọng Chánh

Cuối tháng 8-2014  Nhà Xuất bản Thế Giới Hà Nội cho ra mắt quyển  « Lịch Sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XX » của Giáo Sư Lê Thành ...

Đọc sách : "Đạo Cao Đài và Victor Hugo" của TS.Trần Thu Dung - TS.Phạm Trọng Chánh

Victor Hugo là một nhà văn lớn, nhà chính trị Cộng ḥa  Pháp, chống lại Đế Chế Napoléon III, từng phải lưu vong xa nước 17 năm. Ông qua đời ...

Patrick Modiano giải Nobel văn chương 2014 - TS.Phạm Trọng Chánh

Sinh ngày 30-7-1945 tại Boulogne Billancourt, ngoại ô Paris, tác giả hơn 30 quyển tiểu thuyết, truyện phim, giải thưởng Văn Chương Hàn Lâm Viện Pháp, giải thưởng Goncourt, tác ...

Hồ Xuân Hương đi buôn (1807-1811) : “mẹ già nhà túng, ăn ở không yên ổn” - TS. Phạm Trọng Chánh

Trong bài tựa Lưu Hương Kư, Tốn Phong viết:  “ Từ đó  (sau lần đến thăm xuân 1807) có những lúc tôi phải vào Nam, ra Bắc, không thể cùng ...

Nguyễn Du : Ra Bắc 1796, t́nh duyên tan vỡ - Ts.Phạm Ttrọng Chánh

Nguyễn Du cho rằng việc vào Nam từ năm 1794 đến 1796 là hoài công, vô ích. Và mong rằng việc ra Bắc năm 1796 sẽ làm nên việc.  Sau ...

Đọc sách : Nguyễn Du trên đường gió bụi của Hoàng Khôi - Nhà Xuất bản Văn Học. Hà Nội- 2013 - Ts.Phạm Trọng Chánh

Có ǵ vui hơn, khi những thành quả nghiên cứu văn học của ḿnh được bè bạn Hội Kiều Học trong nước hưởng ứng viết thành tiểu thuyết.  Nhận được ...

 Hồ Xuân Hương cô hàng bán sách phố Nam thành Thăng Long (1804-1807) - TS. Phạm Trọng Chánh

Khoảng 10 năm trước năm 1813 Tốn Phong đă đến thăm  Xuân Hương Hồ Phi Mai tại hiệu sách Xuân Hương, Phố Nam thành Thăng Long, thuở ấy nàng ở ...

Nguyễn Du : những mỹ nhân trên đường mười năm gió bụi (1786-1796) - TS. Phạm Trọng Chánh

Sau ba năm đi giang hồ Trung Quốc, Nguyễn Du trở về ở tại Thăng Long từ cuối năm 1790 cho đến năm 1794. Đó là ba năm « Chữ t́nh ... 

Nguyễn Du gặp Đoàn Nguyễn Tuấn, sứ đoàn Tây Sơn tại Hoàng Châu 1790 - TS. Phạm Trọng Chánh

Nguyễn Du sau khi đậu Tam Trường (1783) ở Trường thi Sơn Nam lúc 17 tuổi, được anh là Nguyễn Khản, Thượng Thư Bộ Lại kiêm Trấn thủ Hưng Hóa, ...

Nguyễn Du : nhà sư Chí Hiên “Giang Bắc, Giang Nam túi tiền không” (1788-1790) 
TS. Phạm Trọng Chánh

Nguyễn Du, mang danh hiệu Chí Hiên, danh hiệu Nguyễn Du dùng cho đến năm 1796, kư tên hai bài thơ  tặng Hồ Xuân Hương, lưu lại trong Lưu Hương ...

Nguyễn Du chia tay Nguyễn Đại Lang, Nguyễn Sĩ Hữu tại Liễu Châu 1788 - TS. Phạm Trọng Chánh

Nguyễn Du gọi cuộc đời từ 20 đến 30 tuổi của ḿnh là « 10 năm gió bụi » (1786-1796), gia phả và sách vở giáo khoa trăm năm qua  lại viết ...

Nguyễn Du từ Thái Nguyên sang Vân Nam cuối năm 1787 - TS. Phạm Trọng Chánh

Bao nhiêu năm nghiên cứu về Nguyễn Du, chúng ta đă biết hết cuộc đời Nguyễn Du chưa ?  Nguyễn Du có quyển Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm .

Dịch chương “Nhă Ca”, một dâm thơ trong Cựu ước - TS. Phạm Trọng Chánh

“Nhă Ca”  (CANTIQUES) là một tác phẩm văn chương cổ đại của dân tộc Do Thái, cách chúng ta khoảng 630 năm trước Tây lịch. Một áng văn chương trữ ...

Đọc Lưu Hương Kư của Hồ Xuân Hương - TS. Phạm Trọng Chánh

Giữa thời điểm các nhà sách hải ngoại thi nhau đóng cửa, người đọc tiếng Việt ngày càng thưa thớt, tác giả gửi sách đi cho các nhà sách, không

Hồ Xuân Hương và quan Hiệp Trấn Sơn Nam Thượng Trần Ngọc Quán - Phạm Trọng Chánh

Trần Ngọc Quán quê Nghệ An, trước làm quan Cai Bạ doanh Quảng Đức (Chức vụ đứng đầu một doanh, tỉnh Thừa Thiên ngày sau). Tháng 2 năm Ất ..

Hồ Xuân Hương và Phật giáo - TS. Phạm Trọng Chánh

Điều nghịch lư trong thơ truyền khẩu gán cho Hồ Xuân Hương là Xuân Hương thường đi chùa, cuối đời có đi tu một thời gian, nhưng trong thơ lại ...

* Đối thoại: Sở tri chướng và kinh tế thị trường – Phạm Trọng Chánh, Ph.D., Paris, Pháp,  
              Link :
http://giaodiemonline.com/baiup/DTGH(3).htm