Đi t́m Cổ Nguyệt Đường

và mối t́nh Hồ Xuân Hương và Nguyễn Du


TS. Phạm Trọng Chánh
 

 

 

I . Ba năm vẹn mối t́nh Nguyễn Du & Hồ Xuân Hương

I . 1.  

Mùa hè 2011, sau một chuyến du hành khắp nước, tôi dành 5 ngày về ở tại Làng Nghi Tàm trên đường Xuân Diệu. Suốt năm ngày dù trời mưa gió, hay nắng tốt tôi cũng đi khắp làng Nghi Tàm, khắp các đ́nh, chùa, vườn hoa kiểng quanh Hồ Tây, tôi hỏi thăm, tṛ chuyện cùng các cụ già, thăm dấu vết từng di tích ghi dấu trong thơ Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Phạm Đ́nh Hổ và nhất là 31 bài thơ của Tốn Phong Nham Giác Phu, viết ca tụng nữ thi sĩ: Tao đàn xuất hiện vị thơ thần và cũng là người đẹp Phi Mai xuân sắc nhất kinh thành, mà hai trăm năm qua cả nước tốn không biết bao nhiêu là bút mực t́m kiếm về nàng.

Hồ Xuân Hương, tên thật là Hồ Phi Mai, con cụ Hồ Phi Diễn, chánh quán tại Quỳnh Lưu, Hà Tỉnh,và bà mẹ họ Hà quê Hải Dương, nhưng sinh ra và lớn lên tại làng Nghi Tàm, nơi nổi tiếng nghề dệt lụa, làm giấy, dệt lĩnh đen. Tây Hồ có cảnh đẹp " Tây Hồ Bát Cảnh ". Một thi xă đời Vĩnh Hựu (1735-1739) nhà Lê đă ca tụng tám cảnh đẹp quanh Tây Hồ:

- Bến trúc Nghi Tàm: bến tắm chúa Trịnh Giang dưới dăy trúc ngà làng Nghi Tàm.

- Rừng bàng Yên Thái: khu rừng bàng trên núi đất làng Bưởi do chúa Trịnh Giang bắt trồng.

- Đàn thề Đồng Cổ: Đàn do vua Lư Thái Tông (1028-1054) xây để hàng năm quần thần đến đây, để hàng năm quần thần đến thề để tỏ ḷng trung hiếu.

- Phật say làng Thụy. Chùa làng Thụy Chương có pho tượng Phật chống gậy, người thợ điêu khắc sai trông giống như dáng người say rượu, lại hóa ra một kiệt tác, ai xem cũng thích thú.

- Sâm cầm rợp bóng: Nghề săn chim sâm cầm ở các làng quanh Hồ Tây.

- Đồng hoa Nghi Tàm: Làng Nghi Tàm làm nghề trồng hoa có những vườn hoa rất đẹp.

- Chợ đêm Khán Xuân: Chúa Trịnh thường họp hội chợ đêm cùng các cung nữ, thái giám tại đền Khán Xuân để mua vui. Phạm Đ́nh Hổ trong Tang Thương ngẫu lục bài chuyện cũ trong vương phủ có tả cảnh hội chợ: nội thị, cung nữ bắt chước việc mua bán ngoài đời làm tṛ vui. Chợ đêm vào dịp Trung Thu, hàng ngàn chiếc đèn lồng do các cung nữ chế tạo bằng gấm trong cung, treo khắp nơi. Các quan nội thị chít khăn như đàn bà ngồi bán đủ các thứ hàng, các cung nữ đi lại vừa mua vừa tranh cướp, bắt chước những tiếng thường dùng nơi chợ búa. Nửa đêm Chúa Trịnh ngự xuống thuyển rồng, thuyền bơi qua bơi lại đàn sáo, người hát xướng hoà ca cho đến khi gà gáy.

- Tiếng đàn hành cung: Tiếng đàn các cung nữ nơi hành cung chúa Trịnh nay là chùa Trấn Quốc.

I . 2.  

Cổ Nguyệt Đường nơi đâu ? Tôi đi nhiều lần trên con đường nhỏ không tên từ chùa Kim Liên đến đ́nh Nghi Tàm và đọc lại thơ các danh sĩ, Nhà nàng là một khu đất rộng trên đường này, nằm bên Bến trúc Nghi Tàm. Tốn Phong gọi nhà nàng là đ́nh, hay viện Thơ Tốn Phong : Ai đến đ́nh mai hỏi chủ nhân Bài 3) Chủ nhân trước viện trắng mai hoa, Bài 5, Riêng tựa đ́nh mai một ánh trăng Bài 7 Đ́nh nguyệt tṛn xoe sáng ánh rằm ,Bài23..

Cổ Nguyệt Đường là một ngôi nhà lớn, năm cụ Hồ Phi Diễn thọ 80 tuổị, năm 1783, học tṛ cụ lớn, bé, kẻ làm quan đỗ đạt đă chung góp tiền lại xây nhà cho thầy, năm ấy v́ bận rộn xây cất, Xuân Hương Hồ Phi Mai được gửi về Quỳnh Lưu quê cha một thời gian. Đó là tục lệ mừng thượng thọ 80 cho thầy ngày xưa, cụ sống đến 83 tuổi, và bà mẹ Xuân Hương họ Hà sống đến năm 1814. Năm 1813 Tốn Phong c̣n gặp. Năm 1814 Trần Phúc Hiển cưới Xuân Hương, nhưng v́ cư tang mẹ một năm, nên năm sau mới về Vịnh Hạ Long. Đ́nh làng Nghi Tàm xưa là một khu đất rất rộng, xưa có Đài Khán Xuân của Chúa Trịnh, nay chỉ c̣n một cái đ́nh nhỏ khu đất hẹp lại. Cạnh đài Khán Xuân c̣n có ngôi gác tía của Nguyễn Khản, anh Nguyễn Du, ông thường ra đây đi câu cùng Chúa Trịnh. Từ năm 1790 đến 1793, Nguyễn Du về với anh Nguyễn Nể ở Bích Câu, dinh thự cha anh ở Bích Câu bị kiêu binh phá hủy, Nguyễn Nể khi ra làm quan Tây Sơn có lẽ đă cho xây dựng lại một ngôi nhà trên đất này, nhưng Nguyễn Du th́ thường ở nơi ngôi gác tía cạnh đền Khán Xuân.

Cổ Nguyệt Đường cạnh chùa Kim Liên, cho nên Phạm Đ́nh Hổ đă viết: Từ thuở làm thân khách Cố kinh. Kim Liên qua lại đă bao lần, anh chàng này từng là học tṛ cụ Đồ Diễn, nên biết Xuân Hương từ thuở c̣n thiếu nữ. Trong Vũ Trung tùy bút tr 42, cho biết năm 1798-1799 có dạy học tại thôn Khánh Văn, hạ lưu sông Tô Lịch không xa nhà Xuân Hương.. Trong Tang Thương Ngẫu lục,q 2 tr 231 có bài kư tả cảnh chùa Kim Liên. " Mùa thu năm Đinh Tỵ (1797) tôi cùng các ông Nguyễn Thạch Hiên, Nguyễn Kính Phủ, Hoàng Hy Đỗ đến văn cảnh chùa Kim Liên ở làng Nghi Tàm, nơi trụ tŕ của Hoà Thượng Huệ (nội thị của chúa Uy Vương) " Phạm Đ́nh Hổ đến thăm Xuân Hương cùng các bạn nhân đó ra về thăm chùa Kim Liên. Qua Vũ Trung Tùy bút ta biết Phạm Đ́nh Hổ nhà ở phố Hàng Buồm và Nguyễn Kính Phủ (Nguyễn Án) ở cạnh đền Lư Quốc Sư bên Hồ Gươm, (nay là phố Nhà Thờ).

 

 Bản gốc "Lưu Hương Kư" tại thư viện của Viện Văn học, 

link: 
http://vietbao.vn/Van-hoa/Bau-vat-ve-Ho-Xuan-Huong-tai-xuat-sau-gan-40-nam-mat-tich/75197839/181/ ;http://www.thivien.net/viewpoemgroup.php?ID=76

 

Quang cảnh chung quanh Cổ Nguyệt Đường thế nào?  Theo thơ Tốn Phong, người viết tựa cho Lưu Hương Kư.:

Phía trước nhà có trồng một cây bàng lớn: Cội bàng trăng khuất chiếu mai đ́nh bài 6.

Chung quanh nhà có trồng nhiều cây mai (mơ) Chủ nhân trước viện trắng mai hoa Bài 5, Bên quán người hoa chỉ thích mai.Bài 9 Tiết hàn mai tự nở ngàn hoa bài 26.

Nhà nàng cạnh bến trúc làng Nghi Tàm: Vàng bay lá trúc ngơ chuyền oanh. Bài 6, Phượng cầm tự khóm trúc vang thanh, bài 14, Khóm trúc đ́nh mai ta với ta, bài 21,Bến trúc mừng vui gặp mỹ nhân bài 25

Trên bến có trồng vài cây liễu: Bến nước đ́u hiu liễu rủ cành, bài 6

Trong vườn có trồng cây vông và cây mận: Ngô đồng lá cũ mơ hồn phượng, ngơ hạnh lạnh tàn chuyển bóng oanh ,bài 17.

Nhà Xuân Hương có trồng nhiều hoa, hoa đào, để bán như các nhà khác trong làng Nghi Tàm: Nàng đây đối mặt giữa hoa ngàn, bài 7. Gió mát từng cơn quét ngấn hồng (hoa đào) bài 8. Muôn tía ngàn hồng xuân sắc tới, bài 9 . Hoa trời khai nở rộ đ́nh xuân, bài 25.

Hồ Xuân Hương có nuôi một con chim phượng hoàng đất do người bà con từ Quỳnh Lưu gửi cho: Biếc rụng cành ngô sân phượng múa bài 6. Thơ thời niên thiếu Hồ Xuân Hương có bài Vịnh ông cắn đánh nhau, tả hai con chim phượng hoàng đất bài 35 phần C văn bản Landes.

Nhà nàng quay mặt về hướng Đông nh́n ra Hồ Tây:: Đối mặt trời xanh, mưa móc thuận Bài I.

Nhà được xây cất theo h́nh chữ khẩu: Có tả viện làm nơi tiếp khách, bán giấy,mực, sách. Hoa đơm tả viện hương c̣n ẩm, bài 22. Hữu viện là nơi dạy học, tiền viện là nhà thờ, hậu viện là khuê pḥng Hồ Xuân Hương.Chính giữa, sân trống có ḥn non bộ và chậu kiểng: Chim hót non hàn khói biếc dâng, bài 22

I . 3. 

Cổ Nguyệt Đường cũng không xa Đền Khán Xuân, nay là khu đ́nh làng Nghi Tàm, nơi đó cha, anh Nguyễn Du có ngôi nhà mát để câu cá. Nguyễn Du sau ba năm(1787-1790) chu du Vân Nam, Trường An, Hàng Châu gặp anh Nguyễn Nể và Đoàn Nguyễn Tuấn tại Hoàng Châu, trở về ở Thăng Long ở với anh Nguyễn Nể. Trong bài Mộng đắc thái liên, Nguyễn Du gọi Xuân Hương là lân nữ, cô hàng xóm, và hẹn ḥ cùng nàng hái sen. Mối t́nh ba năm (1790-1793) Chữ t́nh chốc đă ba năm vẹn .Thơ Hồ Xuân Hương bài Cảm Cựu. Kiêm Tŕnh Cần Chánh học sĩ Nguyễn Hầu, hầu Nghi Xuân, Tiên Điền nhân.. 
 

Mơ thấy hái sen

Mộng đắc thái liên

 

I .  
Xắn gọn quần cánh bướm,
 
Chèo thuyền nan hái sen. 
 
Nước hồ dâng lai láng, 
 
Bóng người soi nước trong. 

I .  
Khẩn thúc giáp điệp quần
 
Thái liên trạo tiểu dĩnh. 
 
Hồ thủy hà xung dung,
 
Thủy trung hữu nhân ảnh.

 

II .  
Tây Hồ, hái, hái sen, 
 
Hoa, gương chất mạn thuyền,
 
Hoa tặng người ḿnh kính, 
 
Gương tặng người ḿnh thương. 

II .  
Thái, thái Tây Hồ liên,
 
Hoa thực câu thướng thuyền.
 
Hoa dĩ tặng sở úy,
 
Thực dĩ tặng sở liên.

 

III .  
Sáng nay đi hái sen.
 
Hẹn láng giềng đi với.
 
Nàng đến tự bao giờ ?
 
Cách hoa nghe cười nói .

III .  
Kim thần khứ thái liên,
 
Năi ước đông lân nữ,
 
Bất tri lai bất tri,
 
Cách hoa văn tiếu ngữ.

 

IV.  
Hoa sen ai cũng yêu, 
 
Cọng sen nào ai thích, 
 
Trong cuống có tơ bền. 
 
Vấn vương hoài không dứt. 

IV .  
Cộng tri liên liên hoa,
 
Thùy giả liên liên cán.
 
Kỳ trung hữu chân ty,
 
Khiên liên bất khả đoạn.

 

V.  
Lá sen màu xanh xanh, 
 
Hoa sen đẹp xinh xinh, 
 
Hái chớ làm ĺa ngó, 
 
Năm sau sen chẳng sinh. 

V.  
Liên diệp hà thanh thanh,
 
Liên hoa kiều doanh doanh.
 
Thái chi vật thương ngẫu,
 
Minh niên bất phục sinh.

 

Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nhất Uyên dịch thơ

 

Bài Mộng đắc thái liên, Nguyễn Du làm khoảng năm 1804-1805, sau khi được triệu vào kinh đô Huế thăng chức Đông Các Học Sĩ, chức vụ thân cận vua Gia Long, hàng ngày dâng sách cho vua đọc, bàn luận cùng vua về trị nước, thảo các chiếu biểu cho vua. Nh́n hồ sen hồ Tịnh Tâm, Nguyễn Du không khỏi nhớ đến những ngày mơ mộng hơn mười năm xưa đă cùng nàng cô hàng xóm, hẹn nàng đi hái sen, nàng đă đến trong ḷng chàng từ lúc nào, tiếng nàng vọng từ sau khóm hoa. Nguyễn Du kín đáo ví von t́nh ḿnh như sợi tơ bền vấn vương hoài không dứt. Xắn gọn chiếc quần ống rộng có dây thun phiá dưới, phùng ra như cánh bướm, chèo thuyền đi hái sen, nước hồ lai láng, dưới nước in bóng hai người. Hái sen Hồ Tây, hái hoa và hái gương, hoa tặng người ḿnh kính, gương tặng người ḿnh thương. Hôm ấy đi hái sen, hoa Nguyễn Du tặng cho bà Hà, mẹ của Xuân Hương và anh Nguyễn Nể, và gương sen có lẽ tặng hết cho Phi Mai để nấu chè hột sen ! Sáng sớm đi hái sen, hẹn với nàng láng giềng, nàng đến không biết tự lúc nào, sau khóm hoa đă nghe nàng cười nói ṛn ră… Ai cũng thích hoa sen, nhưng mấy ai thích thân hoa sen, có những sợi tơ bền, vấn vương không bao giờ dứt. Nguyễn Du đă kín đáo ví ḷng ḿnh, mối t́nh với nàng không bao giờ dứt… Lá sen màu xanh xanh, hoa sen đẹp xinh xinh, v́ đâu ai hái đă làm ĺa ngó, mà năm sau chẳng có hoa sen?

 

I . 4. 

Trong bài Chơi Tây Hồ nhớ bạn, Hồ Xuân Hương trả lời bài Độc Tiểu Thanh Kư có câu: Trấn Quốc rêu phong vẫn ngấn thơ. Lời thơ đề chùa Trấn Quốc rêu phong cổ kính c̣n vang vọng. Bài Đề Trấn Quốc Tự Hồ Xuân Hương chép trong Hương Đ́nh Cổ Nguyệt thi tập, tập thơ này gồm những bài ngâm vịnh rất đứng đắng, có lẽ Đại Thần Trương Đăng Quế, Tùng Thiện Vương đă đọc tập này nên sánh với Mai Am Công Chúa với Hồ Xuân Hương và Phạm Lam Anh (Thế kỷ 19, các nhà thơ đương thời nh́n Hồ Xuân Hương là một nhà thơ đứng đắn, lăng mạn, không có chuyện là một nhà thơ dâm tục)

Ai là người đến đó khách đài trang, ḍng dơi quyền quí, cơn gió nam nhẹ lướt êm êm, trăng nước sóng lồng cánh sen vừa mới nở, non nơn tinh khiết. Khói hương chùa như chiếc tàng lộng quư báu, lại bay lên, như cánh c̣ cánh hạc nối mây. Đóa hoa sen mới nở như nụ cười hàm tiếu nhẹ nhàng rửa tan niềm tục, cỏ xanh mùa xuân như gợi tỉnh niềm mơ. Đến cảnh muốn nh́n lại hỏi chàng. Nguyễn Du ḷng đang muốn về quê Hồng Lĩnh, tung tay áo vẫy gọi đàn hồng nhạn bay về phía Đông Nam. 
 

Đề chùa Trấn Quốc

Đề Trấn Quốc tự

Ai người đến đó, khách đài trang, 
Nhẹ lướt êm êm cơn gió Nam.
 
Trăng nước sóng lồng sen nơn cánh,
 
Khói hương tàn báu hạc bay ngàn.
 
Rửa niềm trần tục hoa hàm tiếu,
 
Gợi tỉnh niềm mơ cỏ thấm xuân.
 
Đến cảnh quay đầu người muốn hỏi,
 
Đông Nam tay vẫy nhạn tung đàn.

Trang lâm thùy thị cảnh trung nhân, 
Tế tế thanh phong phiến phiến huân.
 
Thủy nguyệt ba lung liên quải choát,
 
Hương yên bảo thoại lộ liên vân.
 
Tẩy không trần lự hoa hàm thoại,
 
Hoán tỉnh mê đồ thảo diệc xuân.
 
Đáo cảnh linh nhân hồi thủ vấn,
 
Đông Nam phất tụ nhạn thành quần.

 

Thơ chữ Hán Hồ Xuân Hương,  Nhất Uyên dịch thơ


 

I . 5. 

Bài Hỏi Trăng trong thơ truyền khẩu Hồ Xuân Hương, văn bản Landes do Lê Quư chép năm 1882 từ một bản của con cháu Tử Minh, học tṛ Xuân Hương.ghi lại tâm sự một người con gái mới biết yêu. Yêu Nguyễn Du rồi Xuân Hương tự hỏi với ḷng ḿnh. Hỏi vầng trăng muôn thuở, mấy thu qua vẫn tṛn, câu hỏi vu vơ cớ sao trăng tṛn lại khuyết, hỏi thỏ trên cung trăng bao nhiêu tuổi. Hỏi chị Hằng Nga vợ Hậu Nghệ đă mấy con rồi. Đêm tối cớ chi soi duyên nàng đến với Nguyễn Du con nhà quyền quí ở gác tía lầu son. Khiến cho ngày xanh gặp nhau thẹn với mặt trời đang lên. Năm canh lơ lửng trằn trọc nhớ ai, hay đă có t́nh riêng với nước non, với chàng.

Hỏi trăng

Trải mấy thu nay vẫn hăy c̣n, 
Cớ sao khi khuyết lại khi tṛn ?
 
Hỏi con Bạch Thố đà bao tuổi ?
 
Hỏi chị Hằng Nga đă mấy con ?
 
Đêm tối cớ chi soi gác tía ?
 
Ngày xanh c̣n thẹn với vừng son.
 
Năm canh lơ lửng chờ ai đó,
 
Hay có t́nh riêng với nước non.

 

I . 6.  

Bài Duyên kỳ ngộ trong văn bản Landes. Xuân Hương tin rằng gặp Nguyễn Du là duyên kỳ ngộ. V́ dinh thự cha anh ở Bích Câu bị kiêu binh đốt phá, nên mới ra ở nơi gác tía câu cá của ông anh Nguyễn Khản nên có dịp gần gủi với Xuân Hương. Hồ Phi Mai tin ở duyên số, dù có xa nhau ngàn dậm, có duyên th́ sự cũng thành, sẽ cưới nhau. Xin đừng lo lắng mà phí cả tuổi xuân xanh. Gặp nhau nói chuyện thơ văn, thơ họa nhau không dứt; t́nh trong sáng nguyên vẹn, dù có ai dương cung đe doạ hay nói xấu việc ǵ, ḿnh cũng như lá lành, cung tên bắn gần lá trợt lớt, chẳng sao. Sẳn bút đề thơ, chúng ta cứ đàng hoàng, chỉnh tề cư xử chẳng sợ ai. Không cần thả lá đề thơ như cung nữ Hàn Thúy Tần với chàng Vu Hựu. Ḷng ta như chim tới vườn đào, t́nh sẽ đẹp tươi.

Duyên kỳ ngộ

Ngh́n dậm có duyên sự cũng thành, 
Xin đừng lo lắng hết xuân xanh,
 
Tấc gang tay họa thơ không dứt,
 
Gần gụi cung dương lá vẫn lành.
 
Tên sẳn bút đề đường chỉnh chiện,
 
Trống mang dùi cắp đă phanh phanh,
 
Tuy không thả lá trôi ḍng ngự.
 
Chim tới vườn đào thế mới xinh.

 

I .7.  

Rồi một ngày cuối mùa hạ năm Quư Sửu 1793, mối t́nh đúng ba năm vẹn. Mùa Xuân 1790 hẹn gặp Đoàn Nguyễn Tuấn ở Thăng Long, Nước nhà hẹn gặp lại xuân sang Thơ Đoàn Nguyễn Tuấn tặng bạn văn chương họ Nguyễn tại Hoàng Châu,Trung Quốc, mùa hạ sen nở, gần đến cuối hạ mới đi hái sen hái gương quen Hồ Phi Mai. Nguyễn Du báo tin cho Hồ Phi Mai biết chàng trở về Hồng Lĩnh cùng em Nguyễn Ức, xây dựng lại từ đường, đ́nh chùa, cầu Tiên cùng làng Tiên Điền đă bị tướng Tây Sơn Lê Văn Dụ làm cỏ, đốt phá năm 1790 do cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quưnh.

Anh Nguyễn Nể sau khi đi sứ về, làm quan ba năm tại Bắc Hà, Vua Quang Trung mất năm 1792, nay được Vua Cảnh Thịnh thăng Đông Các Đại học sĩ, gia thăng Thái Sử, Thự tả Nghị lang, được lệnh về Phú Xuân trông coi văn thư Cơ Mật Viện. Chức vụ gần như thường trực, thầy dạy bên cạnh vị vua trẻ mới lên mười. Nguyễn Nể không thể trông coi việc xây cất nên giao việc này cho hai em là Nguyễn Du và Nguyễn Ức, nhất là Nguyễn Ức có tài kiến trúc, vẽ kiểu ,tính toán, chỉ huy thợ về sau cung điện Phú Xuân thời Gia Long Minh Mạng đều do ông chỉ huy xây cất.

 

 

Thơ Hồ xuân Hương, 

Link : http://www.thivien.net/viewauthor.php?ID=313

 

Biết tin này Hồ Xuân Hương đau đớn viết bài Tưởng đáo nhân t́nh minh nhiên hạ lệ tẩu bút phụng tŕnh. Nghĩ đến t́nh đời sụt sùi rơi lệ, nhân đó cầm bút viết nhanh thơ đưa Nguyễn Du để gửi tŕnh bày tỏ nỗi ḷng ḿnh. Mối t́nh đầu thắm thiết Xuân Hương thệ nguyện ba kiếp hẹn nghĩa non vàng với Nguyễn Du, buồn man mác ḷng ḿnh nên thổ lộ cùng chàng.Em chẳng vượt đèo mây Tam Điệp cùng chàng về Hồng Lĩnh, nhưng lời thề nguyền hương lửa ngỡ cũng lên đường theo chàng. Lời nào ḿnh thề hẹn với nhau cùng nước non, chàng có v́ trăng gió mà chán chường ḷng em chăng ? Dù em có đầy đọa tấm thân em chẳng tiếc. Ḿnh thương nhau làm sao cho trọn tấm ḷng. Bài thơ chữ nôm, tựa chữ Hán, chép trong Lưu Hương kư.

Tưởng đáo nhân t́nh minh 
nhiên hạ lệ tẩu bút phụng tŕnh

Ba sinh tự hẹn nghĩa non vàng 
Man mác ḷng riêng lại ngỡ càng.
 
Lối bước đèo mây đành chẳng đă,
 
Mảnh nguyền hương lửa ngỡ lên đường.
 
Nước non lời nọ nào chuông chắn,
 
Trăng gió ḷng kia măi chán chường.
 
Đày đoạ thân này thôi chẳng tiếc.
 
Thương sao cho trọn tấm ḷng thương.

Chú thích: 

Ba sinh : ba kiếp sống tích ba sinh hương hỏa, Sách Quần Ngọc chú chép: Tỉnh Lang tới chơi, chùa Nam Huệ tự nằm chơi ngủ quên thấy ḿnh đi chơi non Bồng, gặp một ông thầy ngồi niệm kinh trước mặt có cây hương đang cháy. Tỉnh Lang hỏi, ông thầy đáp: khi trước có một người đi chùa thắp cây nhang này, khấn nguyện, nhang hăy c̣n cháy, mà người ấy đả trải qua ba kiếp rồi.: Kiếp đầu làm quan Phủ Sứ đất Kiến Nam,thời Đường Huyền Tôn, kiếp sau làm quan, Tây Thục đời Đường Hiến Tôn. Và kiếp thứ ba tên Tĩnh Lang. Tĩnh lang nghe tên giật ḿnh tỉnh dậy, nửa tin nửa ngờ.

 

I .8. 

Bài Giang nam phụ níp kiêm lưu biệt hữu nhân, Lưu biệt bạn khăn gói sang sông Nam, Hồ Xuân Hương viết năm 1793 để tiễn Nguyễn Du về Hồng Lĩnh. Cuộc tiễn đưa nơi trường đ́nh phía Nam sông Hồng, tên gọi là sông Vị Hoàng, Nam Định ngày nay. Nguyễn Du, Nguyễn Ức mang một số tiền khá lớn, có lẽ là tiền thưởng Nguyễn Nể sau khi đi sứ về, đi thuyền kín đáo, an toàn hơn đi đường bộ. Ngày xưa chưa có va-li, người Việt xưa dùng một tấm khăn vải lớn, bọc hết đồ đạc, hai đầu cột chặt để giữ hành lư, hai đầu kia thắt dây dài mang trên vai. Khăn gói bây giờ chia tay nhau vạn dậm, vạn dậm đây chỉ là một cách nói đi xa xăm, v́ từ Vị Hoàng về đến Hồng Lĩnh chỉ vài trăm dậm. Nơi trường đ́nh rót chén rượu đặt trên khay mời trao nhau.Cánh buồm sẽ căng lên đôi cánh v́ sầu làm thuyền nghiêng nặng. Chàng đi v́ nặng việc gia đ́nh, Em cố nén ḷng như nước sông sâu để nước mắt chẳng trào. Nh́n lại cây cỏ cũ mùi hương chửa mất. Xa quê bóng lại núi non Hồng Lĩnh cao ngất. Xa nhau rồi c̣n sẽ có ngày chúng ta gặp lại nhau. Nếu lỗi lời thề non hẹn biển th́ thà chết đi trên ngọn sóng đào. 
 

Lưu biệt bạn 
khăn gói sang sông Nam

Giang Nam phụ níp 
khiêm lưu biệt hữu nhân

Khăn gói bây giờ vạn dặm nao, 
Trường đ́nh rượu tiễn chén mời trao.
 
Buồm căng đôi cánh sầu nghiêng nặng.
 
Sầu nén sông sâu nước chẳng trào.
 
Cỏ cũ lặng nh́n hương chửa mất.
 
Xa quê quay ngóng núi quê cao.
 
Xa nhau c̣n có ngay gặp lại,
 
Thề biển tha cho ngọn sóng đào.

Phụ níp kim ṭng vạn lư dao, 
Trường đ́nh tửu tiễn thượng thù giao.
 
Muộn đôi phàm tịch thuyền thiên trọng,
 
Sầu áp giang tâm thủy bất trào.
 
Cựu thảo ngưng mâu hương vị tán.
 
Tha hương hồi thủ vọng cô cao
 
Tuy nhiên thượng hữu tương phùng nhật,
 
Thệ hải minh sơn nhất lăng đào.

 

Thơ chữ Hán Hồ Xuân Hương,  Nhất Uyên dịch thơ

Chú thích: 

Giang Nam: Dữu Tín người đời Nam Bắc Triều, làm quan xa nhà lâu ngày không về, có làm bài Ai Giang Nam phú tỏ ḷng nhớ thương quê hương, từ đó chữ Giang Nam c̣n có nghĩa là ḷng nhớ thương quê hương..

 

I .9.  

Thạch đ́nh tặng biệt. Trường đ́nh nơi sông Vị Hoàng là một cái đ́nh bằng đá, xây chắc chắn v́ ven biển nhiều gió băo lớn., nên c̣n gọi là thạch đ́nh. Đ́nh đá Vị Hoàng là một bến cảng lớn trên đường đi thuyền vào Phú Xuân, các cuộc đi sứ đi thuyền đến đây, có lẽ sợ đường bộ có truông nhà Hồ và phá Tam giang nguy hiểm. Bản Lưu Hương kư thiếu chữ biệt nên các ông Trần Thanh Mại, Đào Thái Tôn lầm tưởng là một người tên Thạch Đ́nh làm thơ tặng Hồ Xuân Hương.. Nguyễn Du đă ứng khẩu bài thơ tặng Hồ Xuân Hương. Bài thơ chữ Nôm của Nguyễn Du.

Bấy lâu nay ta đă quen biết nhau, có t́nh có nghĩa với nhau nhiều kỷ niệm, nay nặng ḷng với việc nhà, việc nước anh phải về quê hương. Khúc phượng cầu kỳ hoàng, lời tỏ t́nh anh chưa nói cùng em, ḷng em đă mơ màng giấc chiêm bao. Có chắc ta yêu nhau chưa cho lửa t́nh bén cháy, những giọt lệ t́nh tiếc mùa xuân đi qua. T́nh như lá xanh hoa vàng nếu chẳng phụ ḷng nhau, th́ rồi đây chúng ta sẽ có ngày sum họp. Bài thơ khá chua chát hay Nguyễn Du muốn thử ḷng nàng có thật yêu ḿnh không ? hay Xuân Hương yêu tha thiết Nguyễn Du, nhưng chàng có lẽ v́ bận hoài bảo công danh, muốn đi vào Nam theo chúa Nguyễn Ánh, nên ḷng c̣n hờ hững. Tṛn trặn gương t́nh cũng có khi.

Thạch đ́nh tặng biệt

Đường nghĩa bấy lâu trót vẽ vời, 
Nước non sầu nặng muốn đi về.
 
Cung hoàng dịu vợi đường khôn lọt,
 
Đường nguyệt mơ màng giấc hăy mê.
 
Đă chắc hương đâu cho lửa bén,
 
Lệ mà hoa lại quyến xuân đi.
 
Xanh vàng chẳng phụ ḷng ân ái,
 
Tṛn trặn gương t́nh cũng có khi..

Thơ chữ Nôm Thanh Hiên Nguyễn Du,  
Hồ Xuân Hương chép trong Lưu Hương kư.

 

I . 10

Bài thơ này Nguyễn Du xứng đáng bị một tát tai, nếu gặp phải người yêu ngày nay, nhưng Hồ Xuân Hương đă chua xót họa lại bằng bài Họa Thanh Hiên nguyên vận. Văn bản chép là họa Thanh Liên nguyên vận, nhưng Thanh Liên là bút hiệu thi hào Lư Bạch. Bút hiệu Thanh Hiên từ khi về Quỳnh Hải cưới vợ năm 1797 mới dùng, năm 1796 Nguyễn Du c̣n dùng bút hiệu Chí Hiên. Có lẽ lúc này Nguyễn Du dùng bút hiệu Thanh Liên Chí Hiên chăng ?

Bài thơ Hồ Xuân Hương viết: Tay em c̣n chờ chàng dạy khúc Phượng cầu kỳ hoàng, chờ chàng ngỏ lời cưới em, chàng như cánh phượng đường mây, chàng có tài cao, đường công danh thênh thang đă vội chi. Chua xót đọc bài thơ chàng viết để lại cho em, sao chàng hững hờ duyên em bấy lâu nay mà nở bỏ đi. Thử vàng đá, em treo giá ngọc mà đợi chàng, dù hoa có quư báu như phong gấm, hoa nở cũng có thời gian, em là gái chưa chồng, tuổi xuân nở cũng có lúc, ḷng như đào thắm mận xanh c̣n nhiều niềm vui, chàng ơi, sao đành nở dứt ra đi.

Họa Thanh Liên Chí Hiên nguyên vận

Khúc hoàng tay nguyệt c̣n chờ dạy, 
Cánh phượng đường mây đă vội chi.
 
Chua xót ḷng xem lời để lại,
 
Hững hờ duyên bấy bước ra đi.
 
Thử vàng đá nọ treo từng giá,
 
Phong gấm hoa kia nở có th́,
 
Đào thắm mận xanh c̣n thú lắm,
 
Xuân ơi đành nở đứt ra về.

Thơ Hồ Xuân Hương chép trong Lưu Hương kư.

Nguyễn Du có dạy đàn cho Hồ Xuân Hương. Trong thơ Phạm Đ́nh Hổ bài Sở hữu cảm có câu: Buông đàn cười chẳng gảy. Ngại làm ai chạnh ḷng.

Tốn Phong từ xa đi ngựa đến, đă nghe tiếng nàng đàn: Phượng cầm tự khóm trúc vang thanh, bài 14. Tốn Phong đă từng thổi sáo và Hồ Xuân Hương đánh đàn: Thần vào sáo ngọc tung sao đẩu, Hứng nhập ly quỳnh chén cổ kim. Đàn chuyển tiếng thu vang tỉnh viện, Mộng chuyền xuân bướm ngát thơm chăn, bài 7.

Thuyền Nguyễn Du ra khơi, để lại một ḿnh Xuân Hương Hồ Phi Mai trên thạch đ́nh khóc nức nở

 

 

II. Những bài thơ t́nh gửi đáp Hồ Xuân Hương & Nguyễn Du từ Tiên Điền
            đến Nghi Tàm (1794-1796)

 

II .1  

Nguyễn Du về đến Tiên Điền, Hồng Lĩnh không nhà, anh em lưu lạc. Thật sự th́ anh em Nguyễn Du chẳng bao giờ ở tại Tiên Điền cả. Những năm cuối cùng nhà Lê -Trịnh , Nguyễn Khản làm Thượng Thư Bộ Lại, chức vụ ngang với Thủ Tướng ngày nay, lại kiêm trấn thủ Hưng Yên, Thái Nguyên và Sơn Tây.  Tại Sơn Tây Nguyễn Khản giao quyền cho Nguyễn Điều làm Đốc Trấn, có Nguyễn Nể phụ tá. Nguyễn Nghi, Nguyễn Trứ nắm giữ binh quyền tại Hưng Yên. Và tại Thái Nguyên, Nguyễn Quưnh giữ chức Trấn Tả Đội, Nguyễn Du làm Chánh thủ Hiệu, quân Hùng hậu hiệu, đội quân mạnh nhất Thái Nguyên, Cai Gia tức Nguyễn Đại Lang làm Quân Sư. Cai Gia nhân vật này có tên trong Hoàng Lê Nhất Thống Chí, vốn là người Phản Thanh Phục Minh Trung Quốc, là tay 'giặc già' , được Nguyễn Khản thu nạp làm môn hạ, để dạy vơ cho các em . Thái Nguyên là nơi nhiều dân Trung Quốc sang khai mỏ, trộm cướp, trốn thuế. Cai Gia là người trị nổi đám người này; Nguyễn Du kết nghĩa sống chết với Cai Gia (Sinh Tử giao t́nh tại. Bài Tiễn biệt Nguyễn Đại Lang) nên gọi là anh Cả. Khi nhà Trịnh sụp đổ, Nguyễn Du, Nguyễn Đại Lang và Nguyễn Sĩ Hữu (tức Nguyễn Quưnh) chạy sang Vân Nam. (Tôi bác bỏ việc Nguyễn Du nhận tập ấm cha nuôi họ Hà, giữ một chức quan vơ nhỏ như gia phả ghi. Thật sự Nguyễn Du là đại diện binh quyền cho anh Nguyễn Khản tại Thái Nguyên).

Hai anh lớn Nguyễn Khản, Nguyễn Điều đă mất năm 1786, Nguyễn Nể làm quan ở Phú Xuân, Nguyễn Quưnh bị Tây Sơn giết năm 1790 tại Hà Tỉnh, Nguyễn Nghi, Nguyễn Trứ đại diện binh quyền cho Nguyễn Khản từ Hưng Yên về ở Chu Kiều, Bắc Ninh làm nghề thuốc. Nguyễn Nghi viết truyện thơ Quân Trung Đối dài 1116 câu, và có con là Nguyễn Toản đỗ Tiến Sĩ đời Minh Mạng làm quan đến chức Viên Ngoại Lang. Nguyễn Trứ làm nghề thuốc, đậu Tam Trường năm 1779 đời Gia Long có ra làm quan Tri phủ Nam Sách, có con là Nguyễn Thích tri phủ Nghĩa Hưng, Nam Định, Nguyễn Trù tri phủ Vĩnh Tường, và Nguyễn Thị Uyên làm thuốc giỏi được mời vào cung chữa bệnh cho các cung nữ đời Gia Long .Trong anh em Nguyễn Du có lẽ chỉ có Nguyễn Nhưng là ở Hà Tỉnh.

Theo Gs Hoàng Xuân Hăn, trong danh sách những người ra cộng tác với La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp ở Sùng Chính Viện đời Tây Sơn, có Nguyễn Công con Nguyễn Khản, và Nguyễn Thiện con Nguyễn Điều.

Nguyễn Hành con thứ hai Nguyễn Điều, nhà thơ tài hoa trong năm nhà thơ nhất nước đương thời, lúc này cũng đang ở Hồng Lĩnh, nên có nhiều kỷ niệm về các cuộc đi săn của Hồng Sơn Liệp Hộ Nguyễn Du.

Về Tiên Điền, hai anh em Nguyễn Du, ở trong một căn nhà nhỏ trên bến Quế Giang, đầu sông Long Vĩ, cạnh Giang Đ́nh, để tiện việc chở gạch, ngói, gỗ, đá về xây cất bằng thuyền. Nguyễn Du có lẽ nằm nhà trông coi việc trả lương thợ và tiếp nhận vật liệu. Công việc xây dựng lại làng Tiên Điền khá quy mô. Có đến bốn đền thờ họ Nguyễn Tiên Điền: Đền thờ ông Nguyễn Lĩnh Nam tức cụ Nguyễn Quỳnh, ông nội Nguyễn Du, đề thờ ông Nguyễn Tiên Lĩnh Hầu tức Nguyễn Huệ (1705-1733) chú Nguyễn Du, đền thờ Xuân Quận Công tức Nguyễn Nghiễm(1708-1776) cha Nguyễn Du, đền thờ Nguyễn Lam Khê tức Nguyễn Khản (1734-1786). Đền thờ Điền Nhạc Hầu tức Nguyễn Điều (1745-1786).ngoài ra c̣n có chùa Trường Ninh và Cầu Tiên.

Mọi chi phí đều do Nguyễn Nể cung ứng, cuối năm 1794, Nguyễn Du có vào Phú Xuân nhận món tiền thứ hai.

Về Tiên Điền, Nguyễn Du chỉ c̣n người bạn hiệu là Thực Đ́nh (ăn ở đ́nh làng) tặng cho chiếc áo vải, người bạn dạy học lây lất không đủ sống. Sách vở họ Nguyễn Tiên Điền, không kém ǵ Phúc Giang thư viện họ Nguyễn Trường Lưu hàng vạn quyển sách, được triều đ́nh sắc phong, bị cháy mười phần c̣n một hai, chất quanh vách nhà, ngoài cửa một khóm cúc vàng, bếp vắng lặng v́ thiếu người đàn bà bếp núc. Nguyễn Du hớp rượu cho hồng sắc diện. Về đây sau cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quưnh, Nguyễn Du phải Khóc cười thời loạn theo trần thế, bệnh yếu lặng câm mà giữ thân.

Về Tiên Điền bệnh cũ mười năm trước ở Vân Nam tái phát, Nguyễn Du: Nằm bệnh mười tuần bến Quế Giang.Ngày xưa tuần là tuần trăng, nửa tháng, từ trăng tṛn đến trăng khuyết. và từ không trăng đến tṛn trăng.

 

II .2  

Nhân có một người quen về Hồng Lĩnh, Hồ Xuân Hương gửi Nguyễn Du bài Nhân tặng, bài này chép trong Lưu Hương kư.: Chàng đă về quê quán, nơi từ đường của danh gia vọng tộc, cách xa bao non núi. Xuân Hương chẳng có dịp may nào để xông pha về thăm chàng. Mấy hàng chữ viết thăm chàng, nước mắt rơi lai láng, một bài thơ, một mảnh giấy ḷng em đợi tin chàng. Muốn thả lá đề thơ nhưng e ngại ngọn nước triều không đưa đến, muốn gửi quà nhièu hơn nhưng e ngại mỏi cánh chim hồng. Ước ǵ có người tiên hiện xuống nơi trần thế giúp t́nh ta, có vầng trăng soi tỏ tấm ḷng.

Nhân tặng

Nghiêm thẳm hầu môn biết mấy trùng, 
May chăng khôn lẽ dám pha xông.
 
Mấy hàng chữ mực châu lai láng,
 
Một mảnh tờ mây ư mộng mong.
 
Buông thả luống e khơi ngọn nước.
 
Gửi trao c̣n ngại mỏi vai hồng.
 
Người tiên ví chẳng soi trần thế,
 
Cậy có vầng xanh tỏ tấm ḷng.

 

II .3  

Nguyễn Du đă trả lời bài Nhân tặng của Xuân Hương bằng bài Kư hữu, Gửi bạn bài số 33 trong Thanh Hiên thi tập. Xuân Hương viết: Cậy có vầng xanh tỏ tấm ḷng, Nguyễn Du đáp lại: Một vầng trăng sáng t́nh ta đó.

Mờ mịt không trung cát bụi đầy trời, t́nh h́nh chính trị mờ mịt, nay Quang Trung mất, triều đ́nh rối loạn các đại tướng đem quân đánh nhau. Nguyễn Ánh đang nổi lên ở phương Nam ngày một mạnh, đă chiếm Gia Định, chưa biết t́nh h́nh ra sao. Từ ngày về Tiên Điền, đóng cửa nằm khàn trong nhà, một vầng trăng sáng t́nh ta đó, non Hồng dài trăm dậm, đôi ta chung chính khí tổ tiên hun đúc. Việc đời trước mắt như đám mây nổi, sớm hiện rồi tan, thanh trường kiếm dắt ngang lưng chưa dùng vào việc ǵ phất phơ trong gió thu. Một ḿnh không nói nh́n khóm trúc trước sân.Sương tuyết tan đi trúc sẽ hóa rồng, tài năng kẻ sĩ sẽ được trọng dụng. 
 

Gửi bạn

Kư hữu

Mờ mịt không trung gió bụi trần, 
Cửa gài, kê gối măi nằm không.
 
Một vầng trăng sáng t́nh ta đó,
 
Trăm dậm Hồng sơn chính khí cùng.
 
Trước mắt phù vân, ôi thế sự,
 
Bên lưng trường kiếm nổi thu phong.
 
Đầu sân ngóng trúc ḷng không nói,
 
Sương tuyết tiêu tan sẽ hóa rồng.

Mạc mạc trần ai măn thái không., 
Bế môn cao chẩm ngọa kỳ trung.
 
Nhất thiên minh nguyệt giao t́nh tại,
 
Bách lư Hồng Sơn chính khí cùng.
 
Nhăn để phù vân khan thế sự,
 
Yêu gian trường kiếm quải thu phong.
 
Vô ngôn độc đối đ́nh tiền trúc.
 
Sương tuyết tiêu thời hợp hoá long.

 

Thơ chữ Hán Nguyễn Du. Thanh Hiên thi tập. Nhất Uyên dịch

 

II .4  

Bài Thu dạ hữu hoài trong Hương Đ́nh Cổ Nguyệt thi tập, Xuân Hương gửi Nguyễn Du: Câu Bóng nhạn về đâu, mây ở lại, Nhạn là Nguyễn Du đă bay xa, mây là Xuân Hương c̣n ở lại. Bài thơ viết khoảng năm 1794. Đêm tàn, Xuân Hương c̣n thức, ngơ ngẩn thương nhớ chàng đi xa, nơi lầu mây, rượu rót nhưng không tri âm, không uống để lạnh, nửa vầng trăng tà chiếu lóng lánh bạc. Nước chảy, gió thổi măi, giọt nước trong hồ đồng rơi đều. Hoa hay trăng tự ḷng Xuân Hương, ḷng Xuân vắng vẻ, Xuân hứng không nhiều ư ? Bóng chàng như bóng chim nhạn bay về đâu ? Chỉ c̣n nghe tiếng dế trùng than khóc, ḍng nước trôi măi, đêm tàn thêm lo. 
 

Đêm thu cảm hoài

Thu dạ hữu hoài.

Đêm tàn người thức ḷng ngơ ngẩn, 
Rượu lạnh lầu mây bạc ánh tà.
 
Nước chảy gió đùa trơ mặt ngọc,
 
Hoa hoa, nguyệt nguyệt nỗi ḷng ta.
 
Xuân vắng vẻ,
 
Xuân hứng chẳng nhiều ư ?
 
Bóng nhạn về đâu mây ở lại,
 
Dế trùng than khóc nước trôi hờ,
 
Đêm tàn nên lo.

Dạ thâm nhân tỉnh độc trù trù 
Vân lâu tửu lănh ngân hoàn bán.
 
Thủy khoát phong trường ngọc lậu cơ.
 
Hoa hoa, nguyệt nguyệt chủ nhân cô.
 
Xuân tịch tịch,
 
Xuân hứng bất đa hồ ?
 
Nhạn ảnh hà qui vân tự trụ.
 
Trùng thanh như khốc thủy không lưu;
 
Tuế án tu liên.

Nhất Uyên dịch thơ

Thơ chữ Hán Hồ Xuân Hương.

 

II . 5  

Nguyễn Du phúc đáp bài Thu da hữu hoài của Hồ Xuân Hương bằng bài Thu dạ I. trong Thanh Hiên thi tập: Anh đă nghe tiếng dế trùng than khóc nơi tường đông, v́ mây ở lại Thăng Long với em nên Hồng Lĩnh trời lạnh ngắt không một vầng mây.

Trời đầy sao sáng, sương móc trắng như bạc, tường đông dế gặp lạnh kêu buồn thảm, chua xót (tiếp ư dế khóc bài Thu dạ hữu hoài). Bầu trời một màu lạnh ngắt không một làn mây. Mây ở hết bên em rồi, anh chỉ là cánh chim đơn côi trong trời lạnh giá. Thấm thoát thời gian qua nhanh, tuổi càng cao, tóc bạc v́ nhiều suy nghĩ trông rất thảm thương. Ở măi nơi đây, núi xanh chưa chán người, người đi chơi xa bên trời ḷng mỏi mệt, Suốt năm nằm bệnh bến Quế Giang. Sông Quế là một tên khác của sông Lam, dưới chân núi Hồng Lĩnh. 
 

Đêm thu I

Thu Dạ I

Đầy trời sao sáng bạc sương dâng, 
Dế lạnh tường đông thảm thiết buồn.
 
Vạn dậm tiếng thu rung lá rụng,
 
Một trời khí lạnh vắng mây vương.
 
Già rồi tóc bạc ḷng thêm xót,
 
Ở măi non xanh chẳng chán chường.
 
Ngán nỗi bên trời ḷng khách mệt,
 
Suốt năm nằm bệnh Quế giang tân.

Phồn tinh lịch lịch lộ như ngân, 
Đông bích hàn trùng bi cánh tân.
 
Vạn lư thu thanh thôi lạc diệp,
 
Nhất thiên hàn sắc tảo phù vân.
 
Lăo lai bạch phát khả liên nhữ,
 
Trú cửu thanh sơn vị yếm nhân.
 
Tối thị thiên nhai quyện du khách,
 
Cùng niên ngọa bệnh Quế giang tân.

 

Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Thanh Hiên thi tập, Nhất Uyên dịch thơ

 

II .6 

Xuân Hương đă phúc đáp bài Thu Dạ I của Nguyễn Du bằng bài Thu Vũ. Mưa Thu. Nàng đă khóc khi nghe Nguyễn Du bệnh gần cả năm, tóc đă nhuốm bạc. Trời ảm đạm mây mù dăng mờ mịt, ḷng em như mây (tiếp ư mây bài Thu dạ hữu hoài và Thu Dạ I), nhưng mây đầy trời ảm đạm và mù mịt, tí tách mưa thu rơi trên sân vắng. Đầu cành cây khô giọt lệ dài ngắn, trên lá chuối vàng, tiếng thưa mau. Ngâm đọc xong bài Thu Dạ (I) , đê mê như mơ thương nhớ chàng cách xa ngàn dậm, sầu vấn vương dăng mắc mối t́nh năm canh. Nơi khuê pḥng, người nhan sắc, mặt hoa đau khổ vô cùng, một mảnh ḷng sầu vẽ măi không thành. 
 

Mưa thu

Thu vũ

Trời thảm mây dăng tối mịt mùng, 
Mưa thu tí tách nhỏ ngoài sân.
 
Cây khô dài ngắn rơi hàng lệ.
 
Tàu chuối vàng tơi tiếng chậm nhanh.
 
Ngâm dứt đê mê sầu vạn dặm,
 
Buồn dâng quạnh quẽ nỗi năm canh.
 
Khuê pḥng riêng khổ người nhan sắc,
 
Một phiến sầu vương vẽ chẳng thành.

Thiên cách vân âl thảm bất minh, 
Tiêu tiêu thu vũ lạc nhàn đ́nh.
 
Doản trường khô thụ chi đầu lệ,
 
Thư cấp hoàng tiêu diệp thượng thanh.
 
Ngâm đoạn đê mê thiên lư mộng,
 
Sầu khiên liêu tịch ngũ canh t́nh.
 
Thâm khuê tối khổ như hoa diện
 
Nhất phiến sầu dung họa bất thành.

 

Thơ chữ Hán Hồ Xuân Hương, Nhất Uyên dịch thơ.

II . 7  

Nguyễn Du trả lời bài Thu Vũ của Hồ Xuân Hương bằng bài Thu Dạ II.. 
Tiết bạch lộ tháng tám âm lịch, hơi thu đă già, qua tháng chín tà tiết sương dâng, không phải chỉ ḷng em đầy mây mù đâu, ḷng anh cũng lạnh lẽo sương dâng mờ mịt cây cỏ quanh bến giang thành đ́u hiu. Bên đèn khuya quạnh quẽ ngóng đợi. Vắt tóc như Chu Công bận lo việc nước, vừa gội đầu vừa tiếp sĩ phu, phải vắt ba lần mới gội đầu xong.Lo cái chí nguyện tàn phai theo ngày tháng, non sông ngh́n dậm càng nghĩ càng nhớ càng lo lắng trong ngày dài. Phong cảnh bốn mùa thay đổi riêng ḿnh ngậm ngùi buồn, trời chớm lạnh, mới hay không áo là khổ, nghe tiếng chày người khuê phụ đập vải trong chiều, ḷng nhớ đến em nơi khuê pḥng trông ngóng.
 
 

Đêm thu II. 

Thu Dạ II.

Móc trắng sương thu dăng mịt mùng,  
D́u hiu cây cỏ bến giang thành. 
 
Đèn khuya quạnh quẽ đêm dài ngóng, 
 
Vắt tóc lo hoài chí nhạt tan. 
 
Vạn dặm giang sơn dài nỗi nhớ, 
 
Bốn mùa mây nước ngậm ngùi trông. 
 
Chớm lạnh mới hay không áo khổ, 
 
Tiếng chày khuê phụ, bóng chiều phong. 

Bạch lộ sương vi thu khí thâm, 
Giang thành thảo mộc cộng tiêu sâm.
 
Tiễn đăng độc chiếu sơ trường dạ,
 
Ác phát kinh hoài mạt nhật tâm.
 
Thiên lư giang san tần trường vọng,
 
Tứ thời yên cảnh độc trầm ngâm.
 
Tảo hàn dĩ giác vô y khổ,
 
Hà xứ không khuê thôi mộ châm..

 

Thơ chữ Hán Nguyễn Du Thanh Hiên Thi tập. Nhất Uyên dịch thơ.

Chú Thích: 

Bạch lộ: sươn,g móc trắng, tiết bạch lộ là tháng 8 âm lịch. 

Ác phát: Chu Công bận lo việc nước có khách lại, ông vắt tóc lên ra tiếp, phải vắt ba lần mới gội đầu xong.

 

II .8  

Rồi mùa thu sau. Xuân Hương lại gửi đến Nguyễn Du bài thơ chữ Hán. Cố kinh thu nhật, trong Hương Đ́nh Cổ nguyệt thi tập.: Thấm thoát đă bao mùa thu qua, bóng trăng xế bóng, tuổi càng cao ngày một quá th́, nơi chốn cũ phồn hoa nhớ xưa cùng mời rượu chàng. Ḍng sông Tô nước chảy về hướng Tây không ngừng nghỉ, trời quang đảng trông rơ bóng núi Tam Đảo phía Bắc xa xa… Dưới đèn nơi Cổ Nguyệt Đường thương chăn xanh, vật cũ di sản nho học ḍng dơi cha ông. Sương móc xuống rơi đọng quanh nhà., sương móc trắng không chỉ rơi nơi anh (bài Thu Dạ II), mà nơi em cũng rơi đọng quanh nhà. Ước ǵ đôi ta thử gặp lại nhau cho đỡ mong nhớ? Năm hết, tết sắp đến, anh măi xa thế măi a ? 
 

Ngày thu kinh đô cũ 

Cố kinh thu nhật

Thấm thoát đường thu ánh nguyệt tà  
Chốn xưa rượu chuốc chén phồn hoa. 
 
Ḍng Tô nước cuốn về Tây măi, 
 
Tam Đảo trời quang vọng Bắc xa. 
 
Đèn nguyệt chăn xanh thương vật cũ, 
 
Sương buông móc trắng đọng bên nhà. 
 
Ước ǵ gặp lại vơi mong nhớ 
 
Khách cũ, năm tàn măi thế ai ? 

Nhiễm nhiễm chinh đồ thu nguyệt tà. 
Nhất bôi hoàn đối cựu phồn hoa.
 
Nhất Tô thủy lạo Tây vô tận,
 
Tam Đảo t́nh quang Bắc vọng xa.
 
Đăng nguyệt thanh chiên bi cố vật,
 
Sương tiền bạch lộ lạc thùy gia.
 
Thử lai tương đối trùng tương đắc
 
Khách cũ niên thâm nhược nại hà ?

 

Thơ chữ Hán Hồ Xuân Hương, Hương Đ́nh Cổ Nguyệt thi tập. Nhất Uyên dịch thơ.

Chú thích:

Thanh Chiên: chăn xanh lót bằng tơ tằm thô, hay bông vải, làm mền đắp cho khỏi lạnh. Vương Hiến Chi đời Tấn, đêm thấy kẻ trôm vào nhà lấy nhiều đồ vật. Ông ung dung bảo với tên trộm rằng: Lấy ǵ th́ lấy nhưng cái chăn xanh là vật cũ của nhà ta, nên bỏ trả lại ta. Về sau người ta dùng chữ thanh chiên để chỉ những nhà ḍng dơi nho học.

 

II .9  

Nguyễn Du phúc đáp bài Cố kinh thu nhật của Hồ Xuân Hương bằng bài Khai song, dùng lại điển tích thanh chiên và cũng ư mùa thu. Nguyễn Du vẫn giữ măi cái chăn xanh, như tấm ḷng yêu thương nàng, và cho biết đang chữa bệnh nên chậm thư phúc đáp.

Cảnh vật trước nhà nay ra sao, thong thả mở cửa sổ, thấy cảnh vật tươi vui, anh nằm đóng cửa, bệnh chẳng biết trời trăng ǵ. Sáu tháng qua có gió lớn đưa cánh chim Bằng bay măi không nghỉ. Phải chăng chim Bằng là Bằng quận công, gặp thời nhứ gió bay cao. Nguyễn Hữu Chỉnh thuộc hạ Hoàng Đ́nh Bảo, khi Bảo bị kiêu binh giết, trốn vào Nam pḥ Tây Sơn, đem quân ra Bắc diệt Trịnh thao túng quyền hành Bắc Hà rồi bị tướng Tây Sơn là Vũ Văn Nhậm giết. Tuy nhiên t́nh h́nh lúc Nguyễn Du làm bài này là lúc Gia Long liên tiếp thắng nhiều trận lớn từ Gia Định đang đánh tới, B́nh Thuận, Diên Khánh Nha Trang. Một sân mưa đọng kiến ḅ cao, xă hội đầy những kẻ thấp kém bất tài thừa cơ nước lụt ḅ lên cao. Nguyễn Du ám chỉ quân Tây Sơn thời mạt vận chăng ? Khác với anh Nguyễn Nể pḥ nhà Tây Sơn, được vua Quang Trung trọng dụng, ưu đăi, hai lần được đi sứ, được giao cho trấn đóng thành B́nh Định, quê hương nhà vua, được dâng sách, dạy vua đọc hàng ngày và thảo chiếu biểu cho Vua Cảnh Thịnh. Nguyễn Du theo Gia Long và khinh miệt Tây Sơn, khi cho Tây Sơn là kiến, khi là sâu trùng (Cóc nhái quần bếp vắng, Sâu trùng ḅ mé ngoài, bài Bất Mị). Ḍng dơi nho gia, chiếc chăn xanh vật cũ, anh vẫn giữ măi, giấy rách giữ lấy lề, giữ thanh danh ông cha ḿnh. Tóc bạc rồi, tài năng chí khí ḿnh như thế mà chưa làm nên được việc ǵ thật quái lạ. Bệnh tái phái, anh đang lo chạy chữa nên chậm thơ phúc đáp thơ em. 
 

Mở cửa sổ 

Khai song

Trước nhà cảnh vật đă ra sao,  
Mở cửa ngày nhàn sinh ư nhiều. 
 
Sáu tháng gió tung bằng lượn măi; 
 
Một sân mưa đọng kiến ḅ cao. 
 
Chăn xanh vật cũ khư khư giữ. 
Tóc bạc hùng tâm luống nghẹn ngào. 
 
Trở bệnh hăy c̣n lo chạy chữa, 
 
Biết chi thu đă đến nhà nao ? 

Môn tiền yên cảnh cận như hà ? 
Nhàn nhật khai song sinh ư đa.
 
Lục nguyệt bồi phong bằng tỉ địa.
 
Nhất đ́nh tích vũ nghĩ di oa.
 
Thanh chiên cựu vật khổ trân tích, 
Bạch phát hùng tâm không đốt ta.
 
Tái bệnh thương tu điều nhiếp lực,
 
Bất tri thu tứ đáo thùy gia.

 

Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Thanh Hiên thi tập, Nhất Uyên dịch thơ.

Chú thích:

Lục nguyệt bồi phong bằng tỉ địa: Sách Trang Tử, thiên Tiêu dao du: Loài chim ấy thấy biển động bèn bay sang biển Nam. Chim Bằng bay qua biển Nam, làm sóng nước nổi lên ba ngàn dậm, nương gió bay lên chín vạn dậm, bay sáu tháng mới nghỉ. Bởi vậy khi chim bằng bay lên cao, cưỡi lên lớp gió dưới nó.

 

II .10 

Xuân Hương lại gửi cho Nguyễn Du một bài thơ khác, bài Thu nhật tức sự: Ngọn gió Tây đêm qua mang lạnh về, dậu cúc d́u hiu dù không có tuyết. Mưa rơi nặng mặt nước sông mờ mịt, mưa dứt, trơ trọi một đám mây núi như có ai vẽ đường nét mi. Sen tàn cuối hạ c̣n lưu lại một chút hương mùa xuân cũ. Chim hót có thấu chăng cơi ḷng ḿnh,mỗi lời c̣n đọng mối t́nh thương nhớ quê. Trong thơ Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương, gió Tây không chỉ là gió Lào từ hướng Tây, mà là quân Tây Sơn ra Bắc, do đó ta có thể đọc một cách khác những ẩn ư trong bài thơ tả cảnh để nói lên t́nh h́nh chính trị đương thời. Quân Tây Sơn ra Bắc làm cho t́nh h́nh đ́u hiu. Cuộc chiến đang diễn ra trong Nam với quân Chúa Nguyễn, t́nh h́nh vẫn c̣n mờ mịt. Nay chỉ c̣n một ḿnh Vua Tây Sơn nơi đất Bắc, triều đại nhà Lê suy tàn nhưng ḷng người cũng c̣n nhớ đến. Có ai thấu chăng ḷng ḿnh c̣n nhớ đến quê hương. 
 

Ngày thu tức sự 

Thu nhật tức sự

Đêm qua lành lạnh gió Tây về,  
Dậu cúc đ́u hiu tuyết chửa đi. 
 
Mưa nặng sông chia mờ mặt nước, 
 
Mây trơ núi biếc vẽ đường mi 
 
Sen tàn cuối hạ làn xuân rớt, 
 
Liễu rũ hương thừa áo biếc che. 
 
Chim hót nỗi ḿnh ai có thấu, 
 
Lời lời c̣n đọng mối t́nh quê. 

Tây phong tạc dạ áp hàn chi, 
Ly cúc tiêu sơ tuyết vị chi.
 
Mật vũ tà phi phân thủy diện,
 
Cô vân miêu chức viễn sơn mi.
 
Liên dư tàn hạ lưu xuân đới,
 
Liễu bạng hương du lăo thúy y,
 
Đề điểu mạc phi tri ngă huống.
 
Thanh thanh trường động cố hương tri.

 

Thơ chữ Hán Hồ Xuân Hương. Hương Đ́nh Cổ Nguyệt Thi tập. Nhất Uyên dịch thơ.

II .11  

Nguyễn Du lại viết một bài thơ Thu nhật kư hứng, mở đầu bằng chữ Tây Phong đáp lại bài thơ Thu nhật tức sự của Hồ Xuân Hương. Gió Tây mới đến, anh vẫn chưa về mà đă thấy khí trời lạnh lắm. Non sông nước cũ ngắm trông buổi chiều tà. Dù có xa em thân thế mặc như đám mây trôi nổi. Giật ḿnh sợ cái cảnh già đến, đêm qua tiếng gió thu ở đâu nổi lên. Cười ḿnh đầu bạc mà c̣n vụng thu xếp, đầy sân. Ta đọc lại bài thơ bằng hậu ư, Nguyễn Du tâm sự: V́ Tây Sơn ra Bắc nên chàng chưa về Thăng Long, không khí chính trị làm cho ḷng dạ tái tê. Nh́n non nước cũ nhà Lê thời vận đă tàn, ở quê ḿnh mà cũng như quê người, thân phận tha hương vẫn như đám mây trôi nỗi (khóc cười theo thời thế, im lặng giữ thân). Sợ rằng tuổi ngày một cao mà chưa làm nên việc ǵ, Đêm trước có nghe gió thu, từ phương Nam (Lạy trời cho có gió Nồm, để thuyền chúa Nguyễn dong buồm thẳng ra) mọi người đều hay biết. Tự trách ḿnh bạc đầu c̣n vụng tính, nh́n lá vàng rơi rụng đầu hè. 
 

Ngày thu cảm hứng 

Thu nhật kư hứng

Gió Tây mới đến khách chưa về,  
Khí lạnh mười phần dạ tái tê. 
 
Nước cũ non sông trời lặng ngắm, 
 
Quê người thân thế gửi mây che. 
 
Cái già chợt sợ nay đà đến, 
 
Thu đến nơi nơi đêm trước nghe. 
 
Tự trách bạc đầu ta vụng tính, 
 
Lá vàng rơi rụng, rụng đầu hè. 

Tây phong tái đáo bất qui nhân, 
Đốc giác hàn uy dĩ thập phần.
 
Cố quốc hà sơn khan lạc nhật,
 
Tha hương thân thế thác phù vân.
 
Hốt kinh lăo cảnh kim triêu thị,
 
Hà xứ thu thanh tạc dạ vân,
 
Tự thẩn bạch đầu khiếm thu thập
 
Măn đ́nh hoàng lạc diệp phân phân.

 

Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Thanh Hiên thi tập. Nhất Uyên dịch thơ.

Chú thích: 

Bạch đầu. Nguyễn Du thường tả ḿnh dầu bạc, có lẽ ông bị bệnh bạc tóc sớm. Thế kỷ 18,19 tuổi thọ trung b́nh người Việt Nam chỉ trên năm mươi.Đặc biệt làng Tiên Điền có tục ăn lăo năm 53 tuổi, trên tuổi này được xếp vào hạng trưởng lăo, ăn trên ngồi trước trong làng.. Anh em Nguyễn Du chỉ sống trên dưới 55 tuổi. 

Tha hương :Nguyễn Du c̣n ở Hà Tỉnh, đang nghĩ chuyện tha hương, vào Nam theo chúa Nguyễn Ánh

II. 12  

Thời gian xa cách thấm thoát đă hai năm. Nguyễn Du vẫn biền biệt nơi Hồng Lĩnh. Mẹ Xuân Hương thúc ép nàng lấy chồng, Có anh thầy Lang xóm Tây làng Nghi Tàm, con cụ Lang, cậy người mai mối. Nhân có người về Hà Tỉnh. Hồ Xuân Hương gửi thơ cấp báo:

Vài hàng viết thư gửi chàng mà chạnh ḷng nước mắt rơi, tưởng rằng thức suốt năm canh ánh trăng vẫn c̣n đó, tưởng rằng em (nguyệt) có thể chờ đợi anh lâu hơn, nh́n lá nhuộm sương mai buổi sớm mà ḷng thẹn (v́ đă hẹn với chàng), màu sương khói chỉ làm rộn ràng nỗi buồn, bước ra ngoài nhà thẩn thơ trước gió, xa xa tiếng địch ai thổi chói tai (lời anh Lang xóm Tây theo ve vản nàng), muốn hỏi trăng già sao khe khắc với t́nh duyên đôi ta, trêu nhau làm chi mà xe mối tơ không trọn vẹn để đôi ta xa nhau. Phạm Đ́nh Hổ đă chứng kiến, việc mẹ gă Xuân Hương cho anh thầy Lang, có lẽ cũng là học tṛ cụ Đồ Diễn, thư sinh ngày xưa không thi cử làm quan th́ cũng hành nghề: Y, Lư, Bốc, Số, anh Lang không thi cử, trở về tiếp tục nghề nghiệp của cha. Bài Hoài Cổ. (Nhớ xưa) Phạm Đ́nh Hổ viết về Xuân Hương, tôi dịch như sau: Năm xưa hoa đào nở, Em tôi học cài trâm. Năm nay hoa đào nở. Mẹ gả xóm Tây gần. Năm nay hoa đào nở, Gió xuân sao lạnh lùng. Em nh́n hoa mà khóc. Sầu vương nét mi cong. Năm nay hoa đào nở, Cỏ xuân mượt trời mơ. Bên hoa em cười nụ, Ngâm thành tự đề thơ.Phạm Đ́nh Hổ là người ham học hỏi, thấy người tài là đến chơi, thấy nhà ai có nhiều sách hay th́ đến đọc, thấy việc ǵ cũng ghi chép. Trong thơ văn ông, tôi khám phá, ông chứng kiến mối t́nh Xuân Hương với Nguyễn Du, với anh Thầy Lang, với Mai Sơn Phủ, và cho Xuân Hương mượn tiền để mở quán sách Phố Nam thành Thăng Long, cạnh đền Lư Quốc Sư và trường ông Nghè Phạm Quư Thích, sau khi Xuân Hương dứt t́nh với Tổng Cóc Nguyễn Công Hoà. Xuân Hương không tự đề thơ, mà viết bài thơ cuối cùng cho Nguyễn Du.

Họa nhân

Vài hàng chữ gấm chạnh niềm châu; 
Nghĩ tưởng năm canh nguyệt hé lâu.
 
Lá nhuộm thức lam thêm vẻ thẹn,
 
Sương pha khói biếc rộn thêm sầu.
 
Thẩn thơ trước viện, nhà khoe gió,
 
Đồng vọng bên tai, địch thét đâu,
 
Ướm hỏi trăng già khe khắc bấy,
 
Trêu nhau chi những sợi cơ cầu.

Thơ chữ Nôm Hồ Xuân Hương. Lưu Hương kư

 

II. 13

Nguyễn Du phúc đáp bằng bài thơ Kư Mộng, mơ Xuân Hương, bỏ mẹ, bỏ lớp dạy trẻ , vượt đèo Tam Điệp đầy hổ báo, vượt Sông Lam lắm cá sấu, đường đi thật hiểm trở, vào Hồng Lĩnh thăm ḿnh. Tỉnh dậy viết bài Kư mộng gửi Xuân Hương, nên năm 1813 khi t́nh duyên tan vỡ, đ̣ đă qua mấy chuyến, trong bài Cảm Cựu Khiêm Tŕnh Cần Chánh Học sĩ Nguyễn Hầu, mừng chàng làm Chánh Sứ: Xuân Hương nhắc lại: Giấc mộng rồi ra nửa khắc không . Đáp lại các câu thơ: Mộng đến ngọn đèn sáng, mộng đi gió lạnh lùng, giai nhân nào thấy nữa, ḷng ta rối tơ vương.

Bài Kư mộng Nguyễn Du viết: Thời gian như nước chảy suốt ngày đêm, người đi xa măi chưa về, bao năm rồi không gặp mặt nhau,biết làm sao vơi hết nỗi nhớ thương. Nay trong mộng thấy rơ ràng, nàng đến t́m ta nơi bến sông (Giang Đ́nh). Vẻ mặt vẫn như xưa, nhưng áo quần nàng không buồn chăm sóc. Thoạt tiên nàng kể nỗi đau ốm, rồi than thở nỗi chờ mong những ngày xa cách. Sụt sùi không nói hết lời, phản phất như cách nhau một bức màn sa. B́nh sinh vốn không biết đường. Mộng hồn chẳng rơ thực hay hư. Núi Tam Điệp (Ba Dội) nhiều hổ báo, sông Lam có lắm cá sấu. Đường đi hiểm trở khó khăn, thân gái biết nhờ cậy ai ? Mộng đến ngọn đèn cô đơn giọi sáng, Mộng tàn gió thổi lạnh lùng, Mỹ nhân không thấy nữa, Ḷng ta rối như tơ vương, Nhà trống ánh trăng nghiêng soi vào, chiếu xuống tấm áo cô đơn của ta.. Ngày trước ông Đào Duy Anh, trong cuốn Khào luận Truyện Kiều căn cứ vào câu Du tử hành vị quy, cho rằng Nguyễn Du nhớ vua Lê Chiêu Thống. Các ông Lê Thước, Trương Chính trong thơ Chữ Hán Nguyễn Du cho rằng nhớ một người bạn cũ, sau đó lại cho rằng nhớ người vợ trước em Đoàn Nguyễn Tuấn. Riêng tôi, Nguyễn Du không gọi là hiền thê, vợ hay bạn hay vua mà gọi là mỹ nhân, Mỹ nhân đó chính là Xuân Hương Hồ Phi Mai., lúc đó Nguyễn Du c̣n cô đơn chưa vợ. Ba mươi tuổi Nguyễn Du mới về Quỳnh Hài cưới vợ, lúc ở Hồng Lĩnh chỉ ở một ḿnh bếp lạnh hoang vắng. 
 

Ghi lại giấc mộng 

Kư mộng

Ḍng nước ngày đêm chảy,  
Người biệt chốn cố hương. 
 
Bao năm không gặp mặt, 
 
Làm sao hết nhớ thương. 
 
Trong mộng rành rành thấy, 
 
T́m ta nơi bến sông, 
 
Dung nhan vẫn như trước, 
 
Y trang buồn biếng chăm.
 
Trước kể nỗi đau ốm, 
 
Rồi than những ngày xa. 
 
Nghẹn ngào không nói hết, 
 
Dường cách bức màn sa. 
 
B́nh sinh không thuộc lối, 
 
Mộng hồn biết thật chăng ? 
 
Núi Điệp đầy hổ báo, 
 
Sông Lam lắm thuồng luồng, 
 
Đường đi thật hiểm trở, 
 
Phận gái nhờ ai không ? 
 
Mộng đến đèn côi sáng, 
 
Mộng tan gió lạnh lùng, 
 
Người đẹp nào thấy nữa, 
 
Ḷng ta rối tơ vương. 
 
Nhà trống vầng trăng xế, 
 
Soi manh áo cô đơn, 

Thệ thủy nhật dạ lưu, 
Du tử hành vị qui.
 
Kinh niên bất tương kiến,
 
Hà dĩ úy tương ti (tư).
 
Mộng trung phân minh kiến,
 
Tầm ngă giang chi mi.
 
Nhan sắc thị trù tích,
 
Y sức đa sâm si.
 
Thỉ ngôn khổ bệnh hoạn,
 
Kế ngôn cửu biệt ly.
 
Đái khấp bất chung ngữ,
 
Phảng phất như cách duy.
 
B́nh sinh bất thức lộ,
 
Mộng hồn hoàn thị phi ?
 
Điệp sơn đa hổ trĩ,
 
Lam thủy đa giao ly,
 
Đạo lộ hiểm thả ác,
 
Nhược chất tương hà y ?
 
Mộng lai cô đăng thanh
 
Mộng khứ hàn phong xuy,
 
Mỹ nhân bất tương kiến,
 
Nhu t́nh loạn như ti.
 
Không lâu ốc tà nguyệt,
 
Chiếu ngă đan thường y.

 

Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nhất Uyên dịch.

Chú thích:

Cách duy: cách bức màn. Hoàng hậu vua Hán Vũ Đế là Lư phu nhân, sắc đẹp, múa giỏi, chết sớm. Vũ Đế rất thương tiếc. Có người phương sĩ nói có thể chiêu hồn Lư phu nhân về, vua bằng ḷng. Ban đêm, người ấy bèn giương màn, đốt nến, để vua ngồi tron màn, nh́n sang một bức màn khác, thấy bóng một người giống Lư phu nhân. 

Nhược chất: tư chất phụ nữ yếu đuối. 

Nhu t́nh: mối t́nh vương vấn thắm thiết

 

II .14  

Sau khi gửi bài thơ này cho Hồ Xuân Hương năm 1795. Hồ Xuân Hương hiểu mối t́nh ḿnh chỉ là giấc mộng. Nguyễn Du thôi làm Hồng Sơn Liệp Hộ mà làm Nam Hải Điếu Đồ, đi câu cá biển Nam Hải. Tâm sự Nguyễn Du lúc này trong bài Tạp thi I viết: Bạc đầu tráng sĩ ngửng trời than, Dựng nghiệp mưu sinh thảy lỡ làng, Thu Cúc, Xuân Lan thành mộng ảo. Hạ nồng, đông lạnh cướp ngày xanh. Nguyễn Du cho rằng chuyện t́nh của ḿnh với cô Cúc làng Trường Lưu hay với Xuân Hương làng Nghi Tàm đều đă thành mộng ảo. Về Hồng Lĩnh, Nguyễn Du tâm sự với người bạn cũ Thực Đ́nh (bút hiệu có nghĩa là người ăn ở đ́nh làng) Họp bạn khó t́m người mắt biếc. Sau vụ khởi nghĩa Nguyễn Quưnh, làng Tiên Điền bị làm cỏ, người sống sót chẳng ai dám tỏ một thái độ ǵ. Do đó Nguyễn Du không thể ở lại, dạy học, cũng không thể t́m ra thủ hạ, do đó, tôi bác bỏ đoạn gia phả Nguyễn Tiên Điền chép: Nguyễn Du từ Hà Tỉnh dẫn thủ hạ mang quân lương ra tiếp rước Vua Gia Long. Và được đưa ra Bắc phong tri huyện Phù Dung trấn Sơn Nam. Trên bước đường t́m mánh mung vượt biên vào Nam theo chúa Nguyễn Ánh, có lẽ Nguyễn Du đă rơi vào bẫy của công an biên pḥng của Hiệp Trấn Hà Tĩnh Nguyễn Văn Thận, nên thay v́ vào Khánh Hoà, Nguyễn Du bị chở thẳng vào tù. Nguyễn Văn Thận nể t́nh bạn thân với Nguyễn Nể, và tài thơ văn Nguyễn Du nên chỉ cho học tập cải tạo sơ sơ mười tuần (ba tháng) trong  Bài Cảm Hứng trong tù Nguyễn Du cho rằng nổi ḷng ḿnh không ai biết: Tâm sự chút ḷng, ai biết tỏ, Như sông Quế sâu dưới non Hồng. Nguyễn Văn Thận giữ vững Hà Tĩnh cho đến năm 1802, vua Gia Long tiến đánh, Thận thua trận chạy ra Thanh Hóa và bị giết ở đó.

Tin tức Nguyễn Du bị tù đă ra tới Thăng Long. Hồ Phi Mai lên đường về nhà chồng anh thầy Lang xóm Tây làng Nghi Tàm.

Nguyễn Du sau khi ra tù , ban đêm Nguyễn Du đă đi bộ trốn ra Thăng Long bài Dạ hành: Trăng xế biển Nam ngàn dậm chiếu, Đường xa gió lộng một người trông. Đêm đen mờ mịt bao giờ sáng, Đầu bạc mà c̣n vụng dấu thân. Trên đường đi Nguyễn Du phải đi ăn xin: Bài Khuất Thực, Nguyễn Du viết: Chống gươm ngạo nghễ thét trời xanh, Ba chục năm trong bùn hôi tanh, Chữ nghĩa ích ǵ cho cuộc sống, nào ngờ đói rách người thương tâm.

Đến Thăng Long Nguyễn Du đến một quán khách quen biết bên bờ Hồ Tây, chủ quán cho hay Xuân Hương Hồ Phi Mai đă đi lấy chồng, anh thầy Lang xóm Tây làng Nghi Tàm. Chủ quán mời một b́nh trà, Nguyễn Du uống bao nhiêu lần, không tiền nên chỉ xin nước sôi uống trà lạt, ngồi viết hai bài thơ kư tên Chí Hiên. Bài thơ oán trách Hồ Xuân Hương thậm tệ, nhưng nàng vẫn trân trọng lưu trong tập thơ Lưu Hương kư. Đă giao du với nhau mấy năm tṛn, thề thốt t́nh thâm giao xe, nón măi măi c̣n.. Xe nón do chữ Xạ lạp theo sách Phong thổ kư, phong tục nước Việt thuần phác. Trong buổi sơ giao, hai bên làm lễ kết nghĩa thường có lời thề: Anh cỡi xe, tôi đội nón, khi gặp nhau sẽ xuống xe vái chào tôi., anh cầm ô tôi cỡi ngựa, khi gặp nhau tôi sẽ xuống ngựa chào anh.. Thơ Khổng B́nh Trọng: Việc đời biến đổi khôn lường, chớ v́ cởi xe mà khinh kẻ đội nón. V́ thế t́nh thân là xạ lạp chi giao, mối giao t́nh xe nón.. Không biết tại ḷng nàng tham giàu sang mà thay dạ đổi ḷng, ḷng đen tựa mực đi lấy chồng thầy thuốc, c̣n tôi học tập cải tạo mới ra, t́nh tôi vẫn thắm như son, một ḷng yêu nàng. Tai tôi chưa quên lời vàng ngọc của nàng, nàng có mắt hăy xem tôi làm nên sự nghiệp với nước non. Chớ trách chúa xuân, v́ sợ chờ đợi tôi mà mỏi mệt sợ lỡ th́. T́nh nàng sớm mận tối đào như thế có xứng đáng ḍng dơi con nhà quyền quí chăng. ? C̣n có bài thơ trách móc nào đau đớn hơn.

Chí Hiên tặng I

Chữ giao nguyền với mấy năm tṛn, 
Xe nón t́nh kia măi măi c̣n.
 
Chẳng biết dạ người đen tựa mực,
 
Sao hay ḷng khách thắm như son.
 
C̣n tai chữa lăng lời vàng ngọc,
 
Có mắt mà xem mặt nước non.
 
Chớ trách chúa Xuân ḷng mỏi mệt;
 
Mận đào được thế tiếng công môn.

Thơ chữ Nôm Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương lưu trong Lưu Hương kư.

II .15  

Bài Chí Hiên tặng II. Nguyễn Du không trách móc nữa mà bày tỏ ḷng ḿnh. Rủi may nào xá ǵ, nghĩ rằng cùng tắc thông, thông tắc biến, biến tắc hóa theo Kinh Dịch.. Ra Bắc phen này (1796) mong làm nổi việc, Nghĩ lại việc vào Nam (1794) cũng hoài công, Hà Tỉnh chẳng ai theo, chẳng thể lập cứ địa chống Tây Sơn, cũng chẳng thể vượt biển vào Nam theo chúa Nguyễn Ánh.. Bạn thơ cũ nay đâu, ngồi uống trà một ḿnh, uống bao nhiêu b́nh nước rồi ấm trà đă nhạt. Quán trọ đêm qua năm canh không ngủ được v́ manh áo quá mong manh, trời đă vào lập đông.. Trông ra sông hồ mù mịt sương khói từ biển thổi vào.Người xưa Cổ Nguyệt đường ḷng như tấm gương trong nào thấy đâu?

Chí Hiên tặng II.

Rủi may nào sá nghĩ cùng thông, 
Chưa dễ tri âm tỏ nỗi ḷng.
 
Ra Bắc phen này mong nổi việc.
 
Vào Nam ngẩm trước cũng hoài công.
 
Bạn tao năm hết mâm trà lạt.
 
Quán khách canh chảy mảnh áo mong.
 
Gớm nhẽ trông ra mù khói bể
 
Nguyệt đường bao nă thấy gương trong

Nguyễn Du t́m đến nhà Đoàn Nguyễn Tuấn, bên bờ sông Nhị, Đoàn đang làm quan Tây Sơn, nhà cao cửa rộng: Trên bờ sông Nhị nhà chen gần, Đă chiếm cả thành hết cảnh xuân, Cầu gác Đông Tây cao ngất dựng. Chẳng kém ǵ các biệt thự các vị quan ngày nay. Nguyễn Du được Đoàn Nguyễn Tuấn gả em gái út, và giao cho gia trang tại Quỳnh Hải năm 1797. Từ đây Mùa Xuân Quỳnh Hải, sau khi góc biển chân trời ba chục tuổi, Nguyễn Du mới biết đến hạnh phúc:Trăng sáng đầu xuân tỏa ngập tràn, Bao giờ trăng chẳng nhạt thuyền quyên, Một trời xuân hứng nhà ai lạc. Muôn dậm Quỳnh Châu nguyệt sáng ngần. Ở đây Nguyễn Du chấm dứt cuộc đời Mười năm gió bụi có vợ con, dạy học, dạy văn và vơ, hoàn tất Truyện Kiều. Năm năm Quỳnh Hải (1797-1802) Nguyễn Du đă giàu có, nên khi Vua Gia Long kéo quân ra đất Bắc đánh bắt vua Tây Sơn, Cảnh Thịnh. Nguyễn Du từ Quỳnh Hải dẫn thủ hạ, học tṛ và tráng đinh Quỳnh Hải, đem theo lương thực, ngựa ,ḅ, heo dâng sớ đón rước nhà vua. Đến Phù Dung trấn Sơn Nam th́ gặp Vua Gia Long, vua phong ngay cho làm tri huyện Phù Dung. Sự kiện này tương tự như Phi Tử thời Chiến Quốc, người đất Phù Ngưu dâng ngựa lên Vua Chu Hiếu Vương được phong chức Phụ Dung nước phụ chư hầu. Từ đó Nguyễn Du có tên Phi Tử, Nguyễn Hành trong Minh Quyên thi tập bài Đi săn có nhắc đến bút hiệu này.

 

III Độc Tiểu Thanh kư bài thơ Nguyễn Du gửi Hồ Xuân Hương.

 

III .1  

Nhờ ba năm lưu lạc (1786-1799) thành nhà sư Chí Hiên đi muôn dậm chu du Trung Quốc, Nguyễn Du nói thạo tiếng Trung Quốc, nên khi ra làm quan được mấy tháng từ Tri huyện Phù Dung, Nguyễn Du được thăng lên Tri phủ Trường Tín đặc trách tiếp sứ Thanh sang phong vương vua Gia Long. (Nguyễn Án được bổ làm tri huyện thay Nguyễn Du ở Phù Dung).. Đường công danh thăng tiến, nhưng người vợ họ Đoàn qua bốn lần sanh, chỉ để lại một con Nguyễn Tứ và qua đời.Mùa thu năm 1804, Nguyễn Du xin nghĩ bệnh một tháng. Từ Thường Tín, Nguyễn Du về thăm lại Cổ Nguyệt đường bên Hồ Tây, đến nơi th́ vườn cảnh đă hoang vu thiếu bàn tay chăm sóc của Hồ Phi Mai.

Từ khi lấy anh thầy Lang xóm Tây làng Nghi Tàm, chẳng bao lâu anh thầy Lang mất, nàng lại trở về với mẹ, Cổ Nguyệt đường dạy học, rồi yêu Mai Sơn Phủ, mối t́nh để lại những bài thơ nồng nàn thắm thiết, thề thốt.. trong Lưu Hương kư. Mai Sơn Phủ cũng người ở Vinh (Vịnh Phố) trở về quê để cậy cha mẹ cưới hỏi, chàng về quê th́ biệt tăm trong chiến tranh, trong trận đánh cuối cùng vua Gia Long và Tây Sơn. Hồ Xuân Hương lánh nạn lên Vĩnh Phú th́ gặp một học tṛ cũ của cha, là Tổng Cóc Nguyễn Công Hoà., Xuân Hương nhận làm lẽ, nhưng vợ cả ghen tuông, nàng đang đau ốm, có thai 6 tháng, thân phận như nàng Tiểu Thanh.

Bên song cửa Cổ Nguyệt đường, Nguyễn Du viết bài Độc Tiểu Thanh kư gửi Xuân Hương Hồ Phi Mai.. Vườn cảnh Cổ Nguyệt đường nơi Tây Hồ đă hoang vu v́ thiếu bàn tay chăm sóc của nàng, Son phấn có thần dù chôn vẫn c̣n hận. Văn chương vô mệnh dù đốt cháy vẫn c̣n dư âm. Mối hờn xưa nay chỉ có biết hỏi trời, v́ đâu những người phong lưu tài sắc lại có cái án oan nghiệt như thế. Ba trăm năm lẽ nữa, kể từ nàng Tiểu Thanh đến nay, ba trăm năm lẽ sao ai sẽ khóc nàng Xuân Hương Hồ Phi Mai. Hai chữ tố như trong bài này tra tự điển Thiều Chửu: Tố là tơ trắng, nghĩa bóng là người có phẩm hạnh cao khiết, như là như cũ, như vậy, giống như. Nghĩa hai câu cuối là: không biết rồi đây ba trăm năm lẽ nữa, ai khóc người phẩm hạnh cao quư như nàng Tiểu Thanh. 
 

Đọc Tiểu Thanh kư 

Độc Tiểu Thanh kư

Tây Hồ vườn cảnh đă hoang vu,  
Bên cửa viếng nàng một áng thư. 
 
Son phấn có thần chôn vẫn hận, 
 
Văn chương vô mệnh cháy c̣n dư. 
 
Mối hờn kim cổ trời khôn hỏi, 
 
Cái án phong lưu khách lụy sầu. 
 
Ba trăm năm nữa trong thiên hạ, 
 
C̣n Nàng ai khóc một niềm đau. 

Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư, 
Độc điếu song tiền nhất chỉ thư.
 
Chi phấn hữu thần liên tử hậu.
 
Văn chương vô mệnh lụy phần dư.
 
Cổ kim hận sự thiên nan vấn,
 
Phong vận kỳ oan ngă tự cư.
 
Bách tri tam bách dư niên hậu,
 
Thiên hạ hà nhân khấp tố như ?

 

Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Thanh Hiên thi tập, Nhất Uyên dịch thơ

Chú thích: 

Hoa uyển, có bản chép mai uyển theo thơ Tốn Phong trước nhà Xuân Hương có trồng nhiều mai trắng. Tốn Phong c̣n gọi nhà nàng là Mai đ́nh. Tại Tây Hồ Hàng Châu trước nhà Tiểu Thanh cũng có rừng mai rộng bát ngát, thi sĩ Lâm Bô đời Tống vào rừng mai thưởng hoa đi lạc không biết đường về. 

Bài Độc Tiểu Thanh Kư trong các văn bản đều đặt cuối Thanh Hiên Thi tập thời điểm sáng tác năm 1804., không ai hiểu làm sao, cụ Đào Duy Anh có đem qua Bắc Hành Tạp lục, nhưng Nguyễn Du khi đi sứ không ghé đến Hàng Châu. Nếu Nguyễn Du viết năm 1799 trong thời gian lưu lạc Trung Quốc th́ bài này phải nằm kế 5 bài thơ Vịnh Miếu Nhạc Phi, Tần Cối, Vương Thị. Cách cắt nghĩa của tôi duy nhất đáp ứng được thời điểm sáng tác. Ư nghĩa hai chữ tố như, tên tự hay bút hiệu thường lấy từ một điển tích, hay có ư nghĩa, tố như không có nghĩa nào khác và cũng không điển tích. Tôi cắt nghĩa và t́m ra mối liên hệ bài này với bài Giả từ Tổng Cóc (khóc Tổng Cóc) và bài Chơi Tây Hồ nhớ bạn của Hồ Xuân Hương viết năm 1805.

 

III .2 

Sau khi nhận được bài thơ Độc Tiểu Thanh Kư của Nguyễn Du. Hồ Xuân Hương dứt khoát dứt t́nh với Tổng Cóc. Bài thơ làm nàng thức tỉnh, nàng không thể nào tủi buồn, uất hận v́ phận làm lẽ mà chết như nàng Tiểu Thanh. Không thể kéo dài cuộc sống: Cầm bằng làm mướn, mướn không công. Chịu đấm ăn xôi, xôi lại hẩm v́ Tổng Cóc làm t́nh như chuộc vọc: Tiếc dĩa hồng ngâm cho chuộc vọc, Một tháng đôi lần có cũng không. Chàng Cóc ơi, Chàng Cóc ơi, thiếp bén duyên với chàng thế là đủ rồi. Thiếp xin dứt t́nh với chàng từ đây như ṇng nọc đứt đuôi. Dù chàng có cho thiếp ngh́n vàng, thiếp cũng như con cóc bị bôi vôi không bao giờ trở lại với chàng. . Cóc hay vào nhà trốn vào xó bếp hay gầm giường, đuổi đi, hay bắt bỏ ra xa cũng quay đầu trở lại, chỉ có bôi vôi vào đầu là đi biệt luôn không dám trở lại nữa.

Giă từ Tổng Cóc

Chàng Cóc ơi ! Chàng cóc ơi ! 
Thiếp bén duyên chàng chỉ thế thôi,
 
Ṇng nọc đứt đuôi từ đấy nhé !
 
Ngh́n vàng khôn chuộc dấu bôi vôi.

Hồ Xuân Hương, trở về Cổ Nguyệt đường, dù mang thai 6 tháng, sợ dư luận dị nghị, nàng ra phố Nam, mở tiệm bán sách, bút giấy mực, cạnh trường ông nghè Phạm Quư Thích gần đền Lư Quốc Sư. Mượn tiền Phạm Đ́nh Hổ và bè bạn, Xuân Hương đă mở quán sách này. Tốn Phong đến thăm Xuân Hương sau hai lần hỏng thi khoa 1806 và 1813. Tốn Phong đến gặp Xuân Hương tại hiệu sách, sau khi nàng đă sinh con: Mai lạnh vẫn thường than nỗi khổ, Chốn dời Mai mới nở thêm cành.(bài 15) Tiếc thay đứa con gái mất sớm, nàng không nuôi được. Năm ấy nàng 35 tuổi, sắc đẹp mặn mà làm tốn phong ca tụng tít trời xanh. Quán sách nàng là nơi các học tṛ ông nghè Phạm Quư Thích lui tới, để ngắm bà chị.

Trong đám học tṛ thường đến hiệu sách của nàng có cậu bé lên tám bị mắng là: Dê cỏn buồn sừng húc dậu thưa, có lẽ là Phương Đ́nh Nguyễn Văn Siêu về sau sẽ cùng Cao Bá Quát nổi tiếng: Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán.

 

III .3  

Xuân Hương trở lại Cổ Nguyệt đường bên Hồ Tây, Nguyễn Du về quê một tháng, sau đó được lệnh vào Phú Xuân thăng Đông Các học sĩ hàm ngũ phẩm, tước Du Đức Hầu, chức vụ dâng sách cho vua đọc mỗi ngày, và soạn thảo chiếu biểu cho vua. Gia Long

Hồ Xuân Hương viết bài Chơi Tây Hồ nhớ bạn trả lời bài Độc Tiểu Thanh kư của Nguyễn Du. Nguyễn Du viết: Tây Hồ vườn cảnh đă hoang vu. (Tây Hồ hoa uyển tẩn thành khư). Xuân Hương trả lời: Phong cảnh Tây Hồ chẳng khác xưa. Em đă trở về, em không chết như nàng Tiểu Thanh đâu ? Vườn cảnh có tay em chăm sóc đă trở lại như xưa. Người đồng châu, cùng quê Nghệ Tĩnh với em biết bao giờ trở lại. Nhật Tân đê lở, như duyên em dù lỡ làng cũng c̣n lối vào. Chùa Trấn Quốc rêu phong vẫn c̣n lưu lại bài thơ em viết ngày nào đề thơ cùng chàng. Nơi vực Trâu vàng trăng lặng bóng. Ḱa non Phượng đất khói tuôn mờ những kỷ niệm đôi ta; Hồ kia thăm thẳm sâu bao nhiêu cũng không bằng ḷng em nhớ chàng. 
 

Chơi Tây Hồ nhớ bạn

Phong cảnh Tây Hồ chẳng khác xưa, 
Người đồng châu trước biết bao giờ.
 
Nhật Tân đê lỡ nhưng c̣n lối,
 
Trấn Quốc rêu phong vẫn ngấn thơ,
 
Nọ vực Trâu vàng trăng lặng bóng,
 
Ḱa non Phương đất khói tuôn mờ.
 
Hồ kia thăm thẳm sâu dường mấy,
 
So dạ hoài nhân dễ chưa vừa.

Chú thích: 

Vực Trâu vàng: tích Sư Minh Không quốc sư Triều Lư xin đồng nhà Tống về đúc chuông, tiếng chuông ngân xa, con trâu vàng trong cung nhà Tống ngỡ tiếng mẹ kêu, chạy sang Hồ Tây và biến mất trong khu vực này. Phủ Tây Hồ có đền thờ Trâu Vàng và đền bà Chúa Liễu Hạnh. 

Non Phượng đất: hay mơ phượng, g̣ đất nhô ra ở Hồ Tây, nay thuộc khu vực Trường Bưởi, Chu Văn An. 

Nguyễn Du cưới và vợ họ Vơ sanh một con, để cai quản gia trang Tiên Điền, và có ba vợ thứ ba theo hầu bên cạnh nên sanh luôn một chục đứa con., nuôi mệt nhỉ.

 

IV . Hồ Xuân Hương gặp Nguyễn Du trên đường đi sứ năm 1813

IV.1  

Tháng 2 năm Quí Dậu 1813 Nguyễn Du được thăng Cần Chánh Học Sĩ tước Du Đức Hầu, được chọn làm Chánh Sứ đi tuế cống triều nhà Thanh,Thiêm sự Bộ Lại Trần Văn Đại, Thiêm sự Bộ Lễ Nguyễn Văn Phong làm Phó Sứ. Cống phẩm gồm: 200 lạng vàng, 1000 lạng bạc, lụa và cấp mỗi thứ 100 cây, hai bộ sừng tê giác, 100 cân ngà voi, 100 cân quế; Sứ đoàn gồm 27 người, đi đến mỗi địa phương đều có bàn hương án và quan quân hộ tống. Đoàn đi từ Phú Xuân đến Vị Hoàng bằng thuyền và từ đó đi đường bộ. Theo gia phả con đầu là Nguyễn Tứ, 12 tuổi, có theo cha đi sứ.

Tin này ra đến Thăng Long, Hồ Xuân Hương đă gửi đến Nguyễn Du bài thơ: Cảm cưụ kiêm tŕnh Cần Chánh Học sĩ Nguyễn Hầu (Hầu Nghi Xuân Tiên Điền nhân). Bài thơ này là một chứng cớ rơ ràng, không thể chối cải, nhưng thoạt đầu chẳng mấy ai tin. Ngay cả Xuân Diệu đọc bao nhiêu lần cứ viết: Xuân Hương phục người có tài hơn ḿnh. Chẳng ai tin việc này, v́ là thật nó kéo theo sự sụp đổ của một Hồ Xuân Hương dâm tục cả thế kỷ đă bàn tán và viết về nàng. Toàn bộ sách giáo khoa viết về Hồ Xuân Hương và Nguyễn Du phải viết lại.

Chàng đi sứ hoàng hoa, xa quê hương, nơi đất khách ngàn dậm ḷng em muôn ngh́n nỗi nhớ nhung. Mượn ai tới đó để gửi thơ cho chàng, nói rơ tấm ḷng em. Chữ t́nh đôi ta ba năm trọn vẹn (1790-1793), nhưng rồi t́nh như mộng như bài thơ Kư Mộng chàng đă gửi cho em, tan mộng rồi chẳng c̣n thấy nhau. Em trộm mừng cho chàng từ ngày ra làm quan, xe ngựa đưa đón, có nhiều thê thiếp, nhiều mối duyên t́nh. Riêng phận em làm gái, phấn son càng tủi cho ḿnh phận long đong. Biết chàng có bịn rịn vấn vương đến mối t́nh em, nơi Cổ Nguyệt đường năm canh em vẫn một ḿnh pḥng không thao thức.

Cảm cựu kiêm tŕnh 
Cần Chánh Học Sĩ Nguyễn Hầu 
(Hầu Nghi Xuân, Tiên Điền nhân)

Dặm khách muôn ngh́n nỗi nhớ nhung, 
Mượn ai tới đấy gửi cho cùng.
 
Chữ t́nh chốc đă ba năm vẹn,
 
Giấc mộng rồi ra nửa khắc không.
 
Xe ngựa trộm mừng duyên tấp nập,
 
Phấn son càng tủi phận long đong.
 
Biết c̣n mảy chút sương siu mấy,
 
Lầu nguyệt năm canh chiếc bóng chong.
 
Thơ chữ Nôm Hồ Xuân Hương trong Lưu Hương kư.
 

Chú thích: 

Sương siu theo GS Hoàng Xuân Hăn có nghĩa là bịn rịn. Sách Thiên Nam ngữ lục: Quốc Tuấn nhớ lời cha truyền, gặp cơn khổng tổng ḷng bèn sương siu. Tuồng Thù Thế Tân Thanh: Sương siu v́ một chữ t́nh.. Ông Trần Thanh Mại âm là : Sương đeo mái, Hồ Tuấn Niêm chữa đeo ra treo hai cách đều vô nghĩa.

 

IV.2  

Sứ đoàn từ Phú Xuân đến Thạch Đ́nh sông Hoàng Giang, một cuộc tiếp rước long trọng của quan Tổng Trấn Bắc Thành bấy giờ là Nguyễn Huỳnh Đức và quan Tổng Hiệp Trấn (Phó) Lê Chất. Xe ngựa, lính hầu đi chật đường đưa từ Thạch Đ́nh về dinh Tuyên Vũ. Qua mỗi địa phương đều có bàn hương án quan huyện, trấn tiếp rước. Thời gian Nguyễn Du đi sứ là 12 tháng rưỡi. Từ Lạng Sơn đến Bắc Kinh, các quan địa phương Trung Quốc chu cấp nơi ăn ở, tiếp rước. Qua cửa Nam Quang đi Quế Lâm đến Vơ Xương rồi đến Bắc Kinh. Tôi đă đi lại cuộc hành tŕnh này năm 2009 để dịch toàn bộ các thơ Nguyễn Du trên đường đi sứ, so sánh thời nay và những điều Nguyễn Du mô tả.

Hồ Xuân Hương đă đến sông Hoàng Giang chờ đợi từ nhiều ngày đầu tháng 4 năm Quư Dậu, gặp lại Nguyễn Du sau hai mươi năm từ biệt cũng bến sông này, nơi Thạch Đ́nh từ biệt năm xưa. Nhưng than ôi, Hồ Xuân Hương chỉ trông thấy Nguyễn Du từ xa, nào dám lại cầm tay tâm t́nh, v́ chàng đường đường là một vị Chánh Sứ, quan trên trông xuống, người ta ḍm vào, muôn cặp mắt phủ, huyện, lính lệ. Hồ Xuân Hương về nhà viết bài Hoàng giang ngộ hữu hỉ phú; Mừng gặp bạn trên sông Hoàng Giang: Từ độ em biết yêu lần đầu, như người con gái tuổi xuân vừa biết mùa xuân đầu tiên, mỗi khắc thời gian như vàng em lấy làm quí trọng. Đă ḥ hẹn nhau, ḷng em nhớ cả kiếp sống ḿnh. T́nh đôi ta rất nặng em không quên dù hóa kiếp cả trăm thân. Ḍng Tô Lịch chưa cạn, đôi ta vẫn c̣n duyên nợ. Sông Vị Hoàng c̣n đầy những giọt nước mắt ái ân em tiễn đưa chàng ngày nào, nhưng hôm nay chàng là quan Chánh Sứ, bao cặp mắt từ quan đến dân trông vào, em dù nồng ấm hay phai nhạt nào có dám thổ lộ. Nhưng ḷng son em vẫn thương chàng, mười phân vẹn mười.

Mừng gặp bạn ở sông Hoàng.

Nhà xuân từ được bén hơi xuân, 
Nửa khắc vàng xem trọng mấy cân.
 
Trót hẹn nhớ cho đành một kiếp,
 
Nặng nề quên cả đến trăm thân.
 
Cạn ḍng Tô Thủy c̣n duyên nợ,
 
Đầy giọt Hoàng giang những ái ân.
 
Nồng nhạt mặc dù đâu nhẽ dám,
 
Tất son này vẫn thắm mười phân.

Thơ chữ Nôm Hồ Xuân Hương trong Lưu Hương Kư.

 

IV.3  

Các bài thơ này cất kỷ trong Lưu Hương Kư, Nguyễn Du nào đọc được. Năm đó nàng 41 tuổi, đă trải qua những mối t́nh:sau mối t́nh với Nguyễn Du, Thầy Lang xóm Tây làng Nghi Tàm, Mai Sơn Phủ rồi Tổng Cóc Nguyễn Công Hoà, Quan Hiệp Trấn Sơn Nam Hạ Trần Quang Tĩnh, quan Hiệp Trấn Sơn Nam Thượng Trần Ngọc Quán, và giờ đây người cuối cùng Tri phủ Tam Đái Vĩnh Tường Trần Phúc Hiển sẽ được thăng lên chức Tham Hiệp Trấn Yên Quảng. Các mối t́nh này được người bạn Phạm Đ́nh Hổ chứng kiến, và Tốn Phong Nham Giác Phu họ Phan Huy. viết tựa cho Lưu Hưong kư. Bài Hoài cựu là bài thơ tự than trách phận ḿnh: Chữ t́nh ngang ngữa biết bao nhiêu, t́nh em đă trái ngang cùng chàng.Một chút duyên xưa lắm điều dang dỡ. Phận ḿnh như bèo lạc hoa trôi, không trẻ lại như ngày xưa. Mối t́nh trăng hoa thêm tủi cái già đă đến. V́ ta tài t́nh mà mang nợ nên phải trả. Nh́n phong cảnh nào vui đâu ḷng đă gửi nhiều thơ vịnh Đưa đón gặp nhau mới biết tỏ tường bàn tay đấng tạo hóa. Đời ḿnh như cánh hoa trôi trên ḍng, mới thắm thía khi tin nước thủy triều đưa đẩy ngược ḍng.

Hoài cựu 
Nhớ bạn cũ

Chữ t́nh ngang ngửa biết bao nhiêu, 
Một chút duyên xưa dỡ lắm điều.
 
Bèo lạc không kinh c̣n trẻ lại.
 
Trăm hoa thêm tủi cái ǵ theo.
 
Tài t́nh nợ ấy vay nên trả,
 
Phong cảnh vui đâu đă gửi nhiều.
 
Đưa đón biết tường tay đại tạo,
 
Cánh hoa trên nước thắm tin triều.

Thơ chữ Nôm Hồ Xuân Hương, Lưu Hương kư.

Biết rằng mối t́nh ngang trái, không c̣n ǵ nữa. Hồ Xuân Hương dứt khoát để yêu Tri phủ Tam Đái Vĩnh Tường Trần Phúc Hiển sau được thăng làm Tham Hiệp Trấn Yên Quảng. Cuộc đời hạnh phúc ngắn ngủi; Xuân Hương góp thơ thành tập cuối cùng Hương Đ́nh Cổ Nguyệt thi tập. Tập này bị phân tán thành nhiều mănh. Tôi sẽ sắp xếp lại toàn bộ tập thơ vịnh cảnh này.

 

 

Thi hào Nguyễn Du,

link:  http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_Du

 

Một biến cố làm chấn động Tao đàn thời bấy giờ. V́ một bài thơ Nguyễn Văn Thuyên bị khép tội mưu phản, án chém. Cha nguyên Tổng Trấn Bắc Thành Nguyễn Văn Thành, người nổi tiếng với bài Văn Tế Trận Vong Chiến Sĩ, phải tự tử năm 1816. Binh bộ Thượng Thư Đặng Trần Thường, một tay cự phách trong làng văn thơ, người từng đánh chết Ngô Thời Nhiệm, đánh Phan Huy Ích trước Văn Miếu, bị bắt tội ẩn lậu ao đầm tội phải thắt cổ. Tiến Sĩ Vũ Trinh, anh rễ Nguyễn Du thầy dạy Nguyễn Văn Thuyên bị đày vào Quảng Nam 12 năm. Hiệp Trấn Sơn Nam Thượng Trần Ngọc Quán, bạn thi ca của Hồ Xuân Hương, thi tướng tao đàn Cổ Nguyễ đường và cũng là bạn của Thuyên chết bất ngờ năm 1818, có lẽ tự tử.Tham Hiệp Yên Quảng Trần Phúc Hiển, chồng Hồ Xuân Hương, con người bạn Nguyễn Văn Thành đă chết trận, được ông xem như con nuôi che chỡ, bị bắt tội tham nhũng 700 quan tiền hối lộ, v́ bắt buộc dân không được bỏ nghề đồng ruộng. Các vụ án xảy ra trên cùng một địa bàn cùng thời điểm có quan hệ chồng chéo với nhau, khiến cho mọi người sợ hải, cất dấu thơ văn. Đó là lư do thơ Hồ Xuân Hương bị cất dấu, gần như biến mất, nhưng danh tiếng nàng, một nhà thơ trữ t́nh, lăng mạn đă làm các bậc mày râu làm thơ gán ghép để thỏa ḷng dâm dục.

Tam Nguyên Vị Xuyên, Trần Bích San bốn mươi hai năm sau, trong Xuân Đường đàm thoại, làm hai bài phú viếng Hồ Xuân Hương thay cho Nguyễn Du và Phạm Quư Thích, đă tiết lộ t́nh Hồ Xuân Hương và Nguyễn Du có thể viết nên thiên t́nh sử.

Sau khi chồng bị tử h́nh, nàng có mặt trong buổi hành h́nh khóc cười điên dại.: Giọt sương dưới chiếu chau mày khóc, Giọt máu trên tay mỉm miệng cười. Hồ Xuân Hương đi tu núi Yên Tử, rồi trở về Cổ Nguyệt đường vài năm sau cũng mất, bên cạnh nàng có gia đ́nh Tử Minh: không ruột nhưng mà thương quá ruột, có hai người con trai, và học tṛ nàng có cô Nguyễn Thị Hinh sau trở thành Bà huyện Thanh Quan. Mộ Hồ Xuân Hương nằm bên hồ sen trước chùa Kim Liên, Năm 1842 Tùng Thiện Vương theo anh là Vua Thiệu Trị ra Bắc, đến cúng dường chùa Kim Liên, dặn cô hầu gái đi hái sen Chớ trèo qua mộ Xuân Hương, Suối vàng c̣n hận tơ duyên lỡ làng. Mực nước Hồ Tây đầu thế kỷ 20 v́ đắp đê nên đă dâng cao một thước, ngôi mộ nàng nằm trong ḷng nước.

Tôi đến đến đây, trước chùa Kim Liên, ngồi trong mưa, nghe tiếng sóng Hồ Tây thét gọi: những người yêu văn chương Việt nam ở đâu, mà để nàng c̣n nằm trong ḷng nước lạnh. Tôi mơ ước một ngày nào đó ngôi Cổ Nguyệt đường sẽ được dựng lại bên cạnh chùa Kim Liên, cho khách du lịch văn hóa đến thăm.

Chùa Kim Liên (Kim Liên tự)

 

Link: https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%B9a_Kim_Li%C3%AAn

 

C̣n Nguyễn Du, t́nh yêu với nàng như tơ trong cuống sen vấn vương hoài không đứt. Trước khi nhắm mắt năm 1820 v́ trận dịch (cả nước hàng trăm ngàn người chết) nếu Nguyễn Du có ngâm câu: Bách tri tam bách dư niên hậu, Thiên hạ hà nhân khấp tố như. Không phải Nguyễn Du muốn ai khóc ḿnh đâu, mà Nguyễn Du tiếc thương người con gái tên Hồ Phi Mai, hồng nhan như bạc mệnh, mong manh như một cành mai trước gió xuân. 

 

TS Phạm Trọng Chánh 

Tiến Sĩ Khoa Học Giáo Dục. Viện Đại Học Paris V; Sorbonne.

 

Tác giả: Hồ Xuân Hương nàng là ai ? Khuê Văn 2000 ;  Nguyễn Du , Mười năm gió bụi và mối t́nh Hồ Xuân Hương,  Khuê Văn Paris 2010; Truyện Thơ Odyssée qua 12110 câu thơ lục bát, Khuê Văn 2005; Sử Thi Iliade qua 16933 câu thơ lục bát, Khuê Văn 2009; Tự điển t́nh yêu bằng thơ t́nh Xuân Diệu, Khuê Văn 201; Giáo Dục Việt Nam thời Pháp thuộc (1940-1945) Paris 1976; Giáo Dục Miền Nam Việt Nam 1954-1975, Paris 1980; Thơ t́nh Nhất Uyên (Huy Cận, Xuân Diệu đề tựa), Paris, 1996; Công cha như núi Trường Sơn 1975. Cánh chim từ vùng lửa đỏ (thơ nhạc với Tốn Thất Lập) HSVST 1974; Bóng thời gian, Thời gian ta măi măi c̣n xanh (với Nguyễn Đăng Hưng Liège 1972); Chiêm Bao Trắng, Thơ Sàigon 1969

 

 


 

 

Mời đọc những bài viết khác của cùng tác giả :

 

Tiếc thương Nhạc sĩ thiên tài Nguyễn Thiên Đạo (1940-2015) - TS.Phạm Trọng Chánh

Sáng ngày 27-11-2015 tôi  đến nghĩa trang Père Lachaise để tiễn nhạc sĩ Nguyễn Thiên Đạo đến nơi yên nghỉ cuối cùng; sau khi hỏa táng, anh sẽ nằm trong ...

Hoàng Hạc Lâu qua thi ca các sứ thần nước Nam - Phạm Trọng Chánh

Hoàng Hạc Lâu  được xây dựng tại Vũ Hán từ năm 223  do Tôn Quyền thời Tam Quốc : khi xây cổ thành Hạ Khẩu, phía Tây giáp Trường Giang, góc ...

 

Nguyễn Du qua đ́nh Tô Tần - TS. Phạm Trọng Chánh

Nguyễn Du có hai bài thơ viết về   đ́nh Tô Tần  khi đi qua cố kinh  Lạc Dương, nơi quê hương Tô Tần. Lạc Dương là một trong 4 kinh ...

 

 

Nguyễn Du trên quê hương Khuất Nguyên - TS.Phạm Trọng Chánh

Khi đi qua Trung quốc, Nguyễn Du đă nhiều lần đến nước Sở, quê hương  Khuất Nguyên:  Năm 1788- 1790 trong thời  tuổi trẻ đi giang hồ Trung Quốc  lượt ...

 

Nguyễn Du trên quê hương Đỗ Phủ - TS.Phạm Trọng Chánh

Đỗ Phủ (712-770)  thời nhà Đường, sống trong thời đại loạn An Lộc Sơn  trong 8 năm, làm tiêu hao 2/3 dân số Trung Quốc. Năm 755 nước này có ...

 

Nguyễn Du đi sứ trên quê hương Lư Bạch - TS.Phạm Trọng Chánh

Nguyễn Du lấy bút hiệu là Thanh Hiên, kết hợp từ chữ Thanh, bút hiệu Thanh Liên của thi hào Lư Bạch (701-762), và chữ Hiên thường dùng của gia ...

 

Đi theo hành tŕnh “Bắc hành tạp lục” của Nguyễn Du - TS.Phạm Trọng Chánh

Đọc “Bắc Hành Tạp Lục” nhiều nhà nghiên cứu có cảm giác Nguyễn Du rất cô đơn trước cảnh sắc và  con người tại Trung Quốc. TS Nguyễn Thị Nương ...

Tưởng nhớ Giáo sư Trần Văn Khê - TS.Phạm Trọng Chánh

Thuở thư sinh lên đường du học Âu Châu  năm 1970, túi đàn cặp sách, tuổi hai mươi : «  cầm kỳ thi họa đủ mùi ca ngâm », hành trang tôi ...

Mối t́nh “ông vua thơ Nôm” Lê Thánh Tông và Trường-Lạc hoàng hậu - TS.Phạm Trọng Chánh

Phạm Đ́nh Hổ trong Tang thương ngẫu lục quyển II,  tr 232 có chép chuyện vua Lê Thánh Tông và Trường Lạc Hoàng Hậu, một chuyện t́nh tuyệt đẹp, giữa ...

Kỷ niệm với Họa Sư LÊ BÁ ĐẢNG (1921-2015) - Ts Phạm Trọng Chánh

Những năm 1973-1976, đến Paris  tôi bắt đầu công việc sinh viên, vừa làm vừa học, là kư tên và đánh số giùm tranh litho cho  Họa sĩ Lê Bá ...

Hồ Sĩ Đống (1739-1785) - bậc thầy thi ca thời Lê trung hưng - TS. Phạm Trọng Chánh

Hồ Sĩ Đống được Phạm Đ́nh Hổ trong Vũ Trung tùy bút, bài Thi ca kể tên cùng Nguyễn Tông Khuê, Nguyễn Huy Oánh là ba bậc thầy phục hưng ...

 Đọc bài “Về cuốn sách Lịch Sử Việt Nam được cho là kiệt tác sử học” - TS Phạm Trọng Chánh.

Nhân đọc bài : Về cuốn sách được cho là kiệt tác sử học của ông Tiến Anh Hồng Quang đăng trên Nhân Dân Điện tử thứ năm 27-1-2014. Bài viết có nhiều hiểu lầm; Giáo sư Lê Thành Khôi nay đă lớn tuổi 93 tuổi, chẳng phải bận rộn với bài viết nhỏ mọn này, là môn sinh Giáo sư Lê Thành Khôi tôi xin thay mặt Giáo sư trả lời các điểm thắc mắc của ông Tiến Anh Hồng Quang.

Nguyễn Tông Khuê - bậc thầy thi ca đời Lê Trung Hưng - TS. Phạm Trọng Chánh

Phạm Đ́nh Hổ trong Vũ Trung Tùy Bút có nói đến ba nhà thơ lớn, ba bậc thầy thi ca thời Lê Trung Hưng : Nguyễn Tông Khuê (1693-1767), Nguyễn Huy ...

GS.Lê Thành Khôi & lịch sử Việt Nam - TS.Phạm Trọng Chánh

Cuối tháng 8-2014  Nhà Xuất bản Thế Giới Hà Nội cho ra mắt quyển  « Lịch Sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XX » của Giáo Sư Lê Thành ...

Đọc sách : "Đạo Cao Đài và Victor Hugo" của TS.Trần Thu Dung - TS.Phạm Trọng Chánh

Victor Hugo là một nhà văn lớn, nhà chính trị Cộng ḥa  Pháp, chống lại Đế Chế Napoléon III, từng phải lưu vong xa nước 17 năm. Ông qua đời ...

Patrick Modiano giải Nobel văn chương 2014 - TS.Phạm Trọng Chánh

Sinh ngày 30-7-1945 tại Boulogne Billancourt, ngoại ô Paris, tác giả hơn 30 quyển tiểu thuyết, truyện phim, giải thưởng Văn Chương Hàn Lâm Viện Pháp, giải thưởng Goncourt, tác ...

Hồ Xuân Hương đi buôn (1807-1811) : “mẹ già nhà túng, ăn ở không yên ổn” - TS. Phạm Trọng Chánh

Trong bài tựa Lưu Hương Kư, Tốn Phong viết:  “ Từ đó  (sau lần đến thăm xuân 1807) có những lúc tôi phải vào Nam, ra Bắc, không thể cùng ...

Nguyễn Du : Ra Bắc 1796, t́nh duyên tan vỡ - Ts.Phạm Ttrọng Chánh

Nguyễn Du cho rằng việc vào Nam từ năm 1794 đến 1796 là hoài công, vô ích. Và mong rằng việc ra Bắc năm 1796 sẽ làm nên việc.  Sau ...

Đọc sách : Nguyễn Du trên đường gió bụi của Hoàng Khôi - Nhà Xuất bản Văn Học. Hà Nội- 2013 - Ts.Phạm Trọng Chánh

Có ǵ vui hơn, khi những thành quả nghiên cứu văn học của ḿnh được bè bạn Hội Kiều Học trong nước hưởng ứng viết thành tiểu thuyết.  Nhận được ...

 Hồ Xuân Hương cô hàng bán sách phố Nam thành Thăng Long (1804-1807) - TS. Phạm Trọng Chánh

Khoảng 10 năm trước năm 1813 Tốn Phong đă đến thăm  Xuân Hương Hồ Phi Mai tại hiệu sách Xuân Hương, Phố Nam thành Thăng Long, thuở ấy nàng ở ...

Nguyễn Du : những mỹ nhân trên đường mười năm gió bụi (1786-1796) - TS. Phạm Trọng Chánh

Sau ba năm đi giang hồ Trung Quốc, Nguyễn Du trở về ở tại Thăng Long từ cuối năm 1790 cho đến năm 1794. Đó là ba năm « Chữ t́nh ... 

Nguyễn Du gặp Đoàn Nguyễn Tuấn, sứ đoàn Tây Sơn tại Hoàng Châu 1790 - TS. Phạm Trọng Chánh

Nguyễn Du sau khi đậu Tam Trường (1783) ở Trường thi Sơn Nam lúc 17 tuổi, được anh là Nguyễn Khản, Thượng Thư Bộ Lại kiêm Trấn thủ Hưng Hóa, ...

Nguyễn Du : nhà sư Chí Hiên “Giang Bắc, Giang Nam túi tiền không” (1788-1790) 
TS. Phạm Trọng Chánh

Nguyễn Du, mang danh hiệu Chí Hiên, danh hiệu Nguyễn Du dùng cho đến năm 1796, kư tên hai bài thơ  tặng Hồ Xuân Hương, lưu lại trong Lưu Hương ...

Nguyễn Du chia tay Nguyễn Đại Lang, Nguyễn Sĩ Hữu tại Liễu Châu 1788 - TS. Phạm Trọng Chánh

Nguyễn Du gọi cuộc đời từ 20 đến 30 tuổi của ḿnh là « 10 năm gió bụi » (1786-1796), gia phả và sách vở giáo khoa trăm năm qua  lại viết ...

Nguyễn Du từ Thái Nguyên sang Vân Nam cuối năm 1787 - TS. Phạm Trọng Chánh

Bao nhiêu năm nghiên cứu về Nguyễn Du, chúng ta đă biết hết cuộc đời Nguyễn Du chưa ?  Nguyễn Du có quyển Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm .

Dịch chương “Nhă Ca”, một dâm thơ trong Cựu ước - TS. Phạm Trọng Chánh

“Nhă Ca”  (CANTIQUES) là một tác phẩm văn chương cổ đại của dân tộc Do Thái, cách chúng ta khoảng 630 năm trước Tây lịch. Một áng văn chương trữ ...

Đọc Lưu Hương Kư của Hồ Xuân Hương - TS. Phạm Trọng Chánh

Giữa thời điểm các nhà sách hải ngoại thi nhau đóng cửa, người đọc tiếng Việt ngày càng thưa thớt, tác giả gửi sách đi cho các nhà sách, không

Hồ Xuân Hương và quan Hiệp Trấn Sơn Nam Thượng Trần Ngọc Quán - Phạm Trọng Chánh

Trần Ngọc Quán quê Nghệ An, trước làm quan Cai Bạ doanh Quảng Đức (Chức vụ đứng đầu một doanh, tỉnh Thừa Thiên ngày sau). Tháng 2 năm Ất ..

Hồ Xuân Hương và Phật giáo - TS. Phạm Trọng Chánh

Điều nghịch lư trong thơ truyền khẩu gán cho Hồ Xuân Hương là Xuân Hương thường đi chùa, cuối đời có đi tu một thời gian, nhưng trong thơ lại ...

* Đối thoại: Sở tri chướng và kinh tế thị trường – Phạm Trọng Chánh, Ph.D., Paris, Pháp,  
              Link :
http://giaodiemonline.com/baiup/DTGH(3).htm