NGUYỄN DU QUA Đ̀NH TÔ TẦN

 

TS. Phạm Trọng Chánh

 

 

Nguyễn Du có hai bài thơ viết về   đ́nh Tô Tần  khi đi qua cố kinh  Lạc Dương, nơi quê hương Tô Tần. Lạc Dương là một trong 4 kinh đô lớn trong lịch sử Trung Quốc, phía Tây tỉnh Hà Nam, tỉnh phía Nam sông Hoàng Hà, giáp tỉnh lị Trịnh Châu. Lạc Dương nằm bên bờ sông Hà Lạc c̣n có tên là Đông Kinh, Tây Kinh. Được xây dựng từ thế kỷ 11 trước Công nguyên, đặt tên là Thành Chu, trở thành kinh đô nhà Đông Chu từ năm  770 trước CN. Từ năm 25 đến 190 sau CN thành kinh đô nhà Đông Hán từ Hán Quang Vũ Đế đến Hán Hiến Đế. Nhà Tùy thống nhất Trung Quốc năm 589 định đô ở Trường An. Năm 605 Tùy Dạng Đế cho xây dựng Đông Đô Lạc Dương. Trong thời hạn một năm nhân công dùng mỗi  tháng đến 2 triệu người. Do việc đôn đốc khắc khe, 10 người chết đến 4, 5. Do hao tổn nhân lực tiền bạc, nhà Tùy suy sụp, các cuộc khởi nghĩa bùng nổ , nhà Tùy diệt vong năm  617.  

Nguyễn Du viết các bài Đ́nh Tô Tần, và Phân Kinh Thạch Đài tại cựu kinh đô Lạc Dương năm 1789-1790. Khi đi sứ Nguyễn Du có đi ngang qua tỉnh Hà Nam, qua huyện An Dương, nhưng không  đến Lạc Dương.  Đ́nh Tô Tần lập ở quê hương Tô Tần là Lạc Dương.  Lạc Dương có ngôi chùa Bạch Mă là chùa đầu tiên của Trung Quốc,  lập năm 65 sau công nguyên, có lẽ Phân Kinh Thạch Đài nhà Tùy nằm nơi này. Tôi có đến Trường An năm 2009  t́m Phân Kinh Thạch Đài nơi chùa Đại Hồng Nhạn và Tiểu Hồng Nhạn, nơi Trần Huyền Trang dịch kinh nhưng không  ai biết.

Tô Tần người đất Lạc Dương, đi du thuyết mấy năm không ai nghe theo, trở về nhà bị cả nhà khinh thường rẻ rúng. Tô Tần cố học nghị luận, sang nước Tần, Tần không dùng. Tô Tần bèn sang du thuyết  6 nước  Yên, Triệu, Hàn, Ngụy, Tề, Sở từ Bắc xuống Nam gọi là « hợp tung  » để chống Tần ; Tô Tần được làm Tung Uớc Trưởng, đeo ấn tướng quốc sáu nước. Mười lăm năm sau, Trương Nghi du thuyết sáu nước từ Đông sang Tây thần phục nước Tần, gọi là « Liên hoành »  với nhau, phá thuyết hợp tung của Tô Tần. Về sau Tô Tần làm quan ở Tề, tranh giành địa vị với quan đại phu, bị ám sát chết.

Đối với nhân vật Tô Tần, Nguyễn Du có ác cảm và chê bai không tiếc lời : Kế tung hoành chỉ lừa phỉnh được bọn vua chúa tầm thường, giàu sang Tô Tần chỉ để ngạo nghễ với người đàn bà góa :  chị dâu. Lời Tô Tần nói với chị dâu thật là thô bỉ, khí độ hèn mọn. Ấn phong sáu nước tiêu tan v́ kế hoạch hợp tung thất bại, sáu nước đều bị Tần chiếm đoạt. Ngôi đ́nh Tô Tần trong cỏ thu rậm rạp v́ chẳng c̣n ai thăm viếng. Quyền lợi người đời thật vô vị v́ thành quả của  Tô Tần chỉ là sự mê muội. Link: https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%B4_T%E1%BA%A7n

Lời chê bai của Nguyễn Du đúng với tư cách của Tô Tần, nhưng kế hợp tung các nước yếu hợp lại  là một sáng kiến hay vẫn có thể áp dụng đến ngàn đời. Nước mạnh thích dùng thủ đoạn « hợp tác song phương » giữa một nước mạnh và một nước yếu để chèn ép, lấn lướt, mua chuộc « cây gậy và củ cà rốt » và lư kẻ mạnh bao giờ cũng thắng ; nếu các nước yếu hợp lại thành một khối th́ trở thành một sức mạnh, nước mạnh phải đối xử ngang hàng, b́nh đẳng.

 Rách áo da cừu, không trở lại miền Tây. Sang miếu đường nước Triệu, đập bàn tay thở ra khí cầu ṿng. Kế lớn tung hoành có thể phỉnh lừa được bọn vua chúa tầm thường. Giàu sang c̣n có thể ngạo nghễ với  đàn bà góa. Ấn sáu nước phong tướng tiêu tan, chỉ c̣n băi cát mịt mùng. Một ngôi đ́nh trong cảnh thu muộn, cỏ rậm rạp. Đời người quyền lợi thật vô vị. Xưa nay, ai có thể phá được cái mê muội ấy ! Xem link: http://www.thivien.net/Nguy%E1%BB%85n-Du/T%C3%B4-T%E1%BA%A7n-%C4%91%C3%ACnh-k%E1%BB%B3-1/poem-7M4Fe8cLDWEI5eYDjDjRDw

  Đ̀NH  TÔ  TẦN

Áo rách da cừu bỏ hướng  Tây,

Triệu đường múa lưỡi với khua tay.

Tung hoành lừa phỉnh loè vua dốt.

Phú quư khoe khoang với vợ gầy.

Sáu nước ấn phong, cồn gió cát,

Một đ́nh thu muộn cỏ tung bay.

Kiếp người danh lợi thành vô vị,

Kim cổ ai người tỉnh giấc say.

Nhất Uyên dịch thơ; Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

 

TÔ TẦN Đ̀NH

Tệ tận điêu cừu bất phục tê (tây),

Triệu đài để chưởng thổ hồng nghê.

Tung hoành tự khả ngu dung chúa,

Phú quư hoàn năng cứ quả thê.

Lục quốc ấn tiêu sa mạc mạc,

Nhất đ́nh thu mộ thảo thê thê.

Nhân sinh quyền lợi thành vô vị.

Kim cổ thành năng phá thử mê.

                                        

* * *

 

Bài II  Nguyễn Du kể chuyện Tô Tần. Chuyện Tô Tần được chép trong Sử Kư Tư Mă Thiên và Đông Châu Liệt Quốc.  Theo Đông Châu Liệt Quốc, Hồi 90 quyển 3 chép :
Link :
https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%B4ng_Chu_li%E1%BB%87t_qu%E1%BB%91c

  «Tô Tần và Trương Nghi, hai người là bạn đồng môn học tṛ Quỉ Cốc. Sau khi từ giả thầy xuống núi, Trương Nghi th́ về nước Ngụy, c̣n Tô Tần th́ về Lạc Dương, ai cũng tính về quê thăm viếng rồi sẽ lo việc tiến thân. Tô Tần về đến nhà, gia đ́nh c̣n người mẹ già, một bà chị dâu và hai em trai là Tô Đại, Tô Lệ. Lâu ngày xa cách, gia đ́nh sum họp tưởng không ǵ vui bằng. Vài ngày sau, Tô Tần muốn đi chơi các nước, nhưng không có tiền, muốn xin người mẹ bán hết  gia tài để làm lộ phí. Người mẹ nói:

- Con không lo cày cấy làm ăn, chỉ ḥng đem miệng lưỡi cầu sang, bỏ cái nghiệp đă thành, mà ước cái lợi chưa có, sau này bị nghèo túng hối hận không kịp. Tô Đại và Tô Lệ cũng nói :

- Nếu anh có tài du thuyết sau không đến nói với Châu Vương. Ở quê hương mà t́m được vinh hiển chẳng hay hơn nước ngoài sao ?

Tô Tần bị cả nhà cản trở liền xin vào yết kiến Châu Hiền Vương, bày tỏ cái thuật tự cường. Châu Hiền vương mời ra quán trọ. Triều thần đều biết Tô Tần vốn là một gă nông phu trước kia nên có ư khinh bỉ và cho lời nói Tô Tần là viễn vông không dùng được.

Tô Tần lưu nơi quán xá gần một năm trời, vẫn không ai để ư đến, bực tức bỏ về nhà, bán hết gia sản được một trăm lượng vàng, may một cái áo lông cừu đen, sắm sửa xe ngựa và kẻ hầu hạ, c̣n thừa dùng làm lộ phí đi chu du các nước, xem xét địa h́nh, địa vật và phong tục  khắp nơi, rơ hết các điều lợi hại trong thiên hạ.

Độ một năm sau, Tô Tần nghe Vệ Uởng được làm Thượng Quân, vua Tần tin dùng lắm, liền đi sang Hàm Dương. Nhưng khi sang đến nơi Tần Hiếu Công mất, Vệ Ưởng chẳng c̣n, bèn xin vào yết kiến Huệ Văn Vương.

Huệ Văn Vương triệu Tô Tần vào, hỏi :

- Tiên sinh chẳng quản đường xa cực nhọc đến đây, chẳng hay có điều ǵ chỉ giáo chăng ?

Tô Tần nói :

-  Đại Vương ức chế chư hầu, bắt các nơi phải cắt đất tiến dâng, như thế là Đại Vương có ư muốn thôn tính thiên hạ ?

Huệ Văn Vương đáp:- Phải. Tô Tần nói :

- Đại Vương đông có Quan Hà, tây có Hán Trung, nam có Ba Thục, bắc có Hồ Lạc, đó là nơi có thế gây nghiệp đế vương. Tôi xin giúp Đại Vương thôn tính chư hầu, nuốt nhà Châu, thống nhất thiên hạ như trở bàn tay, xin Đại Vương xét lại.

Huệ Văn Vương mới giết Vệ Ưởng, trong ḷng vẫn ghét những kẻ du thuyết bèn từ chối :

- Con chim lông cánh chưa đủ chưa thể bay cao. Tiếc rằng tài tiên sinh rất hay, mà sức ta chưa làm nổi, vậy xin đợi vài năm nữa, binh lực dồi dào ta sẽ bàn đến việc đó.

Tô Tần lui ra, đem thuật của tam vương, ngũ bá dùng công chiến mà được thiên hạ, chép thành quyển sách dày, ước hơn mười vạn chữ, đem dâng cho vua Tần. Vua Tần không có ư dùng Tô Tần nên chỉ xem qua. Tô Tần lại qua yết kiến quan Tướng quốc Công Tôn Diễn. Công Tôn Diễn ganh tài không chịu tiến dẫn. Tô Tần ở đó hơn một năm, áo lông cừu đă bạc màu, tiền lộ phí đă dùng hết, không biết xoay vào đâu, phải bán xe ngựa và đầy tớ để lấy tiền tiêu đỡ, rồi quảy gói trở về nhà.

Mẹ Tô Tần thấy vậy mắng  nhiếc, vợ Tô Tần đang dệt cửi cứ ngồi yên không thèm hỏi han đến, Tô Tần đói quá hỏi người chị dâu xin cơm ăn, th́ chị dâu bảo là hết củi, không nấu cơm được. Tô Tần ứa nước mắt tự nghĩ :

- Ta bán hết tài sản, đem thân lưu lạc mấy năm, chẳng làm được việc ǵ đến nổi vợ không coi là chồng, mẹ không coi là con, chị dâu không nhận là em. Thế th́ lỗi này do ta cả, c̣n trách cứ ai . Tô Tần tḥ vào gói, lục lạo xem c̣n sót đồng tiền nào chăng. Nhưng tiền không có, chỉ có quyển sách Thái công âm phù mà Quỉ Cốc Tiên sinh trao tặng lúc giả biệt. Tô Tần sực nhớ lời Quỉ Cốc nói, nếu du thuyết không  gặp vận chỉ nên đọc kỹ quyển sách này ắt có tiến ích. Bèn đóng cửa đọc sách, đem ngày không nghỉ. Lúc nào buồn ngủ lắm th́ dùng cây nhọn chích vào chân cho chảy máu để đau nhức ngủ không được. Khi đă hiểu hết tinh nghĩa trong sách, Tô Tần lại đem h́nh thế các nước xem xét kỹ càng. Được một năm Tô Tần thấy ḿnh thông hiểu mười phần , nghĩ thầm :

- Sức học  ta như vầy, chẳng lẽ không chiếm được ngôi khanh tướng, làm nên sự nghiệp sao?

Tô Tần nói với hai người em là Tô Đại và Tô Lệ :

- Nay sức học ta đă thành, lấy giàu sang như bỡn, các em nên giúp ta tiền hành lư để đi du thuyết các nước. Ngày thành công ta sẽ d́u dắt các em. Lại đem quyển Âm phù ra giảng giải cho Đại và Lệ hiểu. Đại và Lệ rất hài ḷng, đem tiền giúp cho Tô Tần làm lộ phí. Tô Tần từ biệt gia đ́nh, cất bước phiêu lưu, ư muốn qua nước Tần lần nữa, nhưng lại nghĩ :

- Ngày nay trong bảy nước chỉ có Tần là mạnh hơn cả, có thể giúp nên nghiệp đế được. Tuy nhiên trước kia vua Tần đă không muốn dùng ta, nay lại đến đó e lại về không th́ c̣n mặt mũi nào trông thấy gia đ́nh.

 Liền sanh một kế : Tần mạnh sẽ là kẻ thù của sáu nước yếu, ta làm cho các nước cùng ḷng hợp sức chống Tần, làm cô lập nước Tần th́ mới có thể đứng vững được. Nghĩ vậy liền sang nước Triệu. Bấy giờ Triệu Túc Hầu đang ở ngôi, em trai là công tử Thanh làm Tướng Quốc gọi là Phụng Dương Quân. Tô Tần vào yết kiến Phụng Dương Quân, Phụng Dương Quân không thích nghe, Tô Tần liền bỏ Triệu sang Yên, xin vào yết kiến Yên Văn Công. Tuy nhiên, những người thân cận không ai chịu giúp, nên Tô Tần đợi hơn một năm mà vẫn chưa có dịp vào yết kiến được. Lúc bấy giờ tiền lương đă hết. Tô Tần phải nhịn đói nằm ĺ nơi quán trọ. Người trong quán động ḷng cho vay một trăm đồng tiền. Tô Tần nhờ đó tạm sống qua ngày.  Một hôm, nhân lúc Yên Văn Công đi chơi, Tô Tần liền qú mọp bên đàng nghênh đón. Yên Văn Công thấy thế, cho người đỡ dậy hỏi :

- Nhà ngươi tên họ là chi, có việc ǵ oan ức ? Tô Tần tâu:

- Chẳng có điều ǵ oan ức cả. Tôi tên Tô Tần muốn được yết kiến  Chúa Công song không có người tiến dẫn, nên phải làm liều. Yên Văn Công nghe đến tên Tô Tần, mừng rỡ nói :

- Ta nghe nói tiên sinh năm trước có dâng vua Tần tập thư mười vạn chữ, ta lấy làm hâm mộ, ước sao được tập thư ấy. Nay lại gặp tiên sinh đây, thực là may cho nước Yên lắm. Dứt lời, truyền lệnh hồi loan, và đ̣i Tô Tần vào đàm đạo. Tô Tần nói :

- Đại Vương đặt ḿnh trong chiến quốc, đất chỉ vuông hai ngàn dậm, binh giáp vài mươi vạn, xe sáu trăm cỗ, ngựa sáu ngh́n con so với Trung nguyên chưa bằng phân nửa, thế mà tai không nghe tiếng vó ngựa giao vành, mắt không thấy cái họa đổ xe chém tướng, được sống trong cảnh thanh b́nh an lạc, trong lúc các nước rộn rịp đao binh. Đại Vương có biết tại sao như thế chăng ?

Yên Văn Công nói :- Ta thực không rơ, tiên sinh cứ tường tŕnh cho ta nghe thử. Tô Tần nói :

- Nước Yên sở dĩ không bị binh đao là nhờ có nước Triệu đứng che.  Đại Vương không biết kết giao với Triệu, lại xu nịnh nước Tần, thật cũng thẹn lắm ru ?  Yên Văn Công nói :

- Ư tiên sinh bảo ta làm thế nào trong lúc nước Tần đất rộng binh hùng, có thể thôn tính chư hầu như trở bàn tay. Tô Tần nói :

- Cứ theo ngu ư th́ « mănh hổ nan địch quần hồ». Nước Yên dẫu yếu nhưng nếu liên kết với nhiều nước khác chống lại nước Tần, th́ nước Tần phải sợ. Đó mới là kế làm cho nước được yên ổn lâu dài. Yên Văn Công nói :

- Lời Tiên sinh rất hợp ư ta, song th́ sợ chư hầu không đồng ḷng thôi. Tô Tần nói :

- Tôi dẫu bất tài, xin thay mặt Đại Vương diện kiến chư hầu để bàn việc ấy.

Yên Văn Công mừng rỡ, đem vàng bạc, ngựa xe giao cho Tô Tần, lại sai tráng sĩ  theo hầu, đưa Tô Tần qua nước Triệu. Bấy giờ Phụng Dương Quân Triệu Thành đă mất. Triệu Túc Hầu nghe nước Yên sai du khách đến vội ra tiếp đón nói :- Thượng khách hạ cố đến nước ta chẳng hay có điều ǵ chỉ giáo chăng ? Tô Tần sụp lạy tâu :

- Tôi nghe những người hiền sĩ khắp nơi đều kính mến hiền hầu, muốn tỏ bày nguyện vọng để hợp sức với hiền hầu, chỉ v́ Phụng Dương Quân là kẻ đố kỵ, ghen ghét tài năng, cho nên hiền sĩ bốn phương  đều dừng chân không đến, cuốn lưỡi không nói. Nay Phụng Dương Quân từ trần, nên tôi mới dám đến đây dâng vài lời tâm huyết. Phàm việc trị dân không ǵ  bằng nắm được thế nước, mà thế nước không có cách nào mạnh hơn là đoàn kết.  Nước Triệu so với các nước phương đông th́ đất rộng binh hùng hơn. Tuy nhiên so với nước Tần th́ kém xa. Sở dĩ  Tần chưa xâm chiếm Triệu, là c̣n sợ Hàn, Ngụy thừa cơ đánh úp mặt sau. V́ vậy nước Tần phải lo diệt Hàn , Ngụy trước. Ngày kia Hàn, Ngụy đă đầu Tần rồi, th́ cái họa binh đao sẽ đến với Triệu. Triệu Túc Hầu nói :- Thế th́ phải làm sao để tránh khỏi cái nạn ấy ? Tô Tần nói :

- Phải giữ hai nước Hàn và  Ngụy đừng cho lọt vào tay nước Tần để dùng làm b́nh phong che nước Triệu. Hàn và Ngụy tuy yếu, nhưng nếu liên kết lại th́ sẽ có sức mạnh phi thường,  nước Tần không làm ǵ nổi. Theo ư tôi, các nước yếu nên họp lại ăn thề, kết làm anh em, hễ Tần đánh một nước th́ năm nước cùng cứu, c̣n trong năm nước, nếu có nước nào trái lời thề, th́ các nước cùng đánh. Sức năm nước đă họp lại th́ nước Tần khó địch. Triệu Túc Hầu nói :

- Ta mới lên ngôi, tuổi c̣n trẻ, kinh nghiệm chưa bao nhiêu, và cũng chưa hề nghe nói những lời vàng ngọc như thế. Nay tiên sinh muốn liên hiệp chư hầu để chống lại Tần, ta đồng ư cho đó là thượng sách. Vậy phải nhờ sức tiên sinh mới được. Dứt lời giao ngay ấn tướng cho Tô Tần, cho ở một dinh thự, thưởng năm trăm nén vàng kim, năm đôi thạch bích, ngh́n tấm gấm vóc và cử làm chức Liên hiệp trưởng.

Tô Tần sang nước Hàn, vào yết kiến Tuyên Huệ Công, nói :

- Nước Hàn tuy sông núi  ít hiểm trở mà đất rộng hơn chín trăm dậm, quân vài mươi vạn, vũ khí không phải ít, thế mà cứ thỉnh thoảng lại phải cắt đất sang triều phục nước Tần.  Tôi  e đất nước Hàn có hạn, mà ḷng tham nước Tần vô biên. Nước có rộng đến đâu mà cứ cắt lần hồi th́ cũng phải hết. Đại vương có đức hiền, lại có quân mạnh, mà lại cứ măi thần phục măi nước người thật là xấu hổ. Tuyên Huệ Công nói :

- Ta nghe tướng quân đề xướng ra thuyết liên hiệp chư hầu, lấy làm thích. Nay ta nguyện đem cả nước thực hiện theo lời tướng quân, phục tùng theo các điều ước mà nước Triệu đă định. Nói xong, đem tặng Tô Tần năm trăm lượng vàng kim. Tô Tần lại lần lượt đi đến các nước  Ngụy, Sở, Tề, vua nước nào cũng cho chánh sách liên hiệp là phải, phong cho Tô Tần làm Liên Hiệp Trưởng, hẹn nhau hội nghị nơi Hằng Thủy. Tô Tần trở về báo với Triệu Túc Hầu. Khi Tô Tần qua Lạc Dương (quê hương Tô Tần) các nước đều sai sứ đi tiễn, nghi trướng, cờ quạt, tiền hô hậu ủng hơn hai mươi dậm chưa hết, uy nghi, chẳng khác nào một đấng vương giả.

Châu Hiền Vương nghe Tô Tần sắp đến, sai người quét dọn đường xá sạch sẽ, và bày cung tướng ngoài châu thành để đón. Các quan đều đến đấy chúc mừng.

Lúc đó, bà mẹ Tô Tần cũng chống gậy ra xem. Hai người em trai, chị dâu và vợ của Tô Tần đều che mặt không dám nh́n. Tô Tần ngồi trên xe, trông thấy gọi người chị dâu đến hỏi :- Chị trước kia không nấu cơm cho tôi ăn, tại sao ngày nay lại tỏ ra cung kính quá như thế ? Người chị dâu nói :

- Tô thấy hôm nay ngài ngồi đưọc ngôi cao và tiền nhiều, nên tôi phải kính sợ. Tô Tần ngậm ngùi than :

- T́nh đời ấm lạnh, giá người thấp cao chỉ v́ tiền bạc và địa vị.  Nói xong, sai lấy xe chở tất cả thân quyến ḿnh cùng về làng cũ, xây một ngôi nhà rất lớn, họp cả họ hàng cùng ở, cấp tiền  nong, vàng bạc cho từng người để sống một đời sung túc.

Hai người em của Tô Tần là Tô Đại và Tô Lệ hâm mộ sự giàu sang của anh,  cùng nhau cố sức học tập về du thuyết. Tô Tần ở nhà mấy hôm rồi lại lên xe sang Triệu. Vua Triệu phong làm Vơ An Quân, sai đi ước với năm nước Tề, Sở, Ngụy, Hàn Yên đúng ngày họp nhau ở Hằng Thủy.

Tô Tần cùng với vua Triệu đến Hằng Thủy trước, đắp một cái đài cao, để làm nơi hội trường. Đến kỳ, vua các nước đều lần lượt đến, chiếu vị thứ, đứng xếp hàng trên đài. Tô Tần từ dưới bước lên tâu với sáu vua :

- Nay nước Tần ỷ mạnh, áp bức các nước nhược tiểu, lần hồi thôn tính đất đai.  Nếu không có một sức mạnh kháng cự tất kẻ yếu phải bị kẻ mạnh vật chết. Tôi thiết tưởng, sức mạnh ấy là sức mạnh đoàn kết của sáu nước vậy.  Lời xưa có nói : « Mănh hổ nan địch quần hồ ». Kẻ yếu biết đoàn kết bảo vệ lấy nhau nhất định trừ được bạo lực. Thế th́ trong sáu nước có đồng ư liên hiệp chống Tần chăng ? Chư hầu đều nói :

- Xin theo chánh sách của Tiên sinh, quyết ḷng đoàn kết tự vệ. Tô Tần nói :

- Các điều ước về liên hiệp quốc trước đây tôi đă tỏ bày với các vua rồi. Ngày nay chỉ c̣n việc uống máu ăn thề để kết t́nh tương hữu, trong mục đích bảo vệ lấy nhau, tiêu trừ bạo lực.  Sáu vua đồng thanh đáp : - Xin  vâng theo lời dạy. Tô Tần liền bưng cái khay lần lượt mời sáu vị vua làm lễ huyết thệ, rồi thảo ra sáu bản điều ước giao cho mỗi nước một bản. Đoạn cùng nhau dự yến. Vua Triệu nói là Tô Tần sáng lập ra hội liên hiệp quốc giữ an được sáu nước nên phong tước cao, để có đủ  quyền thay mặt nước Triệu, đi lại sáu nước giao hảo.

Vua năm nước : Tề, Sở, Ngụy, Hàn, Yên cũng đồng thanh phong cho Tô Tần giữ chức Liên Hiệp Trưởng, kiếm đeo ấn tướng sáu nước, bài vàng, gươm báu, thống hạt thần dân cả sáu nước. Mỗi vua lại ban cho Tô Tần trăm lượng hoàng kim, mười cỗ xe ngựa tốt. Tô Tần tạ ơn. Măn tiệc, các vua đều trở về, Tô Tần theo Triệu Túc Hầu trở về nước Triệu. »

 

 Bản đồ thời chiến quốc năm 260 TCN.
Link: https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_Qu%E1%BB%91c

 

Trong thơ Nguyễn Du : Quư Tử Tô Tần mặc áo cừu đă rách, đi bộ quảy gói về quê. Người vợ vẫn ngồi dệt không buồn chạy ra đón. Chị dâu cũng chẳng nấu cơm cho ăn. Cha mẹ chẳng nh́n đến (trong chuyện Tô Tần chỉ c̣n bà mẹ) nh́n như người qua đường (v́ không nghe lời mẹ ở nhà cày ruộng). Đấng trượng phu khi thất chí, t́nh nghĩa gia đ́nh cũng xem thường. Một hôm vận đến, gặp thời.  Sáu nước dùng làm Tướng Quốc, vàng ṛng trăm nén, ngọc trăm đôi. Ngh́n cổ xe sáu nước tiễn về quê hương. Cha mẹ đón từ xa, c̣n vợ lết quỳ nh́n lắm lét.  B́nh sinh chí nguyện là lúc này. Tô Tần hỏi chị dâu  lời thật là thô bỉ : « Tại sao trước khinh nay lại trọng ». Hợp tung không phải để chống nhà Tần mà chỉ để khoe người thân lúc phú quư. Tô Tần dùng đùi đâm vào vế là để mưu quyền lợi. Khí độ thật hèn mọn. Trong sách danh tiếng Tô Tần đầy. Hôm nay đi qua đ́nh Tô Tần, chẳng thấy xe ngựa vàng ṛng, chỉ thấy đám cỏ hoang mọc xanh dầy. Người đời đọc sách chuyện Tô Tần, sao vẫn để danh lợi, quyền lực làm hại thân.

 

Đ̀NH  TÔ  TẦN  II

Quư Tử áo cừu rách,

Đi về quảy gói không,

Vợ không dừng dệt đón,

Chị dâu chẳng nấu ăn.

Cha mẹ chẳng nh́n đến,

Như gặp người qua đường.

Trượng phu khi thất chí,

Cốt nhục cũng ĺa tan.

Một hôm vận đến theo thời chí,

Sáu ấn bên ḿnh reo đắc chí.

Vàng ṛng trăm nén ngọc trăm đôi,

Ngh́n cổ xe theo về cố lư.

Cha mẹ đón từ xa, vợ lết quỳ.

Vợ thấy mặt chồng nh́n lấm lét,

B́nh sinh chí nguyện lúc này thôi:

“Trước khinh sau kính“ lời thô bỉ.

Hợp tung đâu để chống cường Tần,

Mà khoe người thân lúc phú quư.

Dùi đâm vào vế mưu quyền lợi.

Than ôi ! khí độ hèn mọn thay.

Trong sách danh tiếng Tô Tần đầy,

Đ́nh Tô Tần đó qua hôm nay,

Ngựa xe vàng ṛng không c̣n thấy,

Trước đ́nh chỉ thấy cỏ xanh dày.

Thế nhân đọc nhiều Tô Tần truyện,

Vẫn để giàu sang, quyền lực hại thân thay !

Nhất Uyên dịch thơ; Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

 

TÔ TẦN Đ̀NH  II

Quư Tử hắc cừu tệ.

Đồ bộ đảm nang qui.

Kỳ thê bất há ky,

Kỳ tẩu bất vị  xuy ?

Phụ mẫu bất phục cố,

Tương khan như lộ kỳ,

Trượng phu nhất thất chí,

Cốt nhục giai tương ly.

Nhất triêu đại vận hữu thời chí,

Lục ấn triền yêu minh đắc ư.

Hoàng kim bách dật, bích bách song,

Tụng xa thiên thặng lai hương lư.

Phụ mẫu giao nghênh, tẩu tất hành,

Thê kiến kỳ phu trắc mục thị.

B́nh sinh chí nguyện tất ư tư,

« Tiền cứ hậu cung »   ngôn chính bỉ.

Hợp tung bất tại khước cường Tần,

Đăn hướng sở thân kiêu phú quư.

Thích cổ nguyên vị quyền lợi mưu,

Ta hồ, thử nhân tiểu tai khí !

Trung thư băo văn Tô Tần danh,

Đạo trung khước quá Tô Tần đ́nh.

Xa mă kim ngọc dĩ vô tích.

Đ́nh tiền chi thảo không thanh thanh.

Thế nhân đa độc Tô Tần truyện,

Do  vi vị  thế phú quư thương kỳ sinh.

 

Nguyễn Du chê bai Tô Tần thật quá lời, lời chê bai đối với nhân cách, nhưng tư tưởng Tô Tần thật đáng nể: Trước hết ông điều trần cái thuật Tự cường cho Châu Hiền Vương. Nhưng thất bại v́ Châu Hiền Vương là một ông vua nhút nhát thủ cựu, không dám quyết đoán và áp dụng những điều hay của thuật Tự  cường. Lẽ ra Nguyễn Du phải chê những vua chúa tầm thường, luôn luôn thủ cựu, cái ǵ của cha ông làm cũng đều hay đẹp, đời trước luôn luôn hay hơn đời sau đi đến cái hay cuối cùng là đời Nghiêu Thuấn, Tam Hoàng, những sự kiện  được tưởng tượng thêu dệt  toàn vẹn, hoàn hảo. Đi ngược lại sự tiến bộ của nhân loại, đời sau tiến bộ hơn đời trước. Thời thượng cổ nhân loại sống tuổi thọ chỉ 30 tuổi, đến đời Nguyễn Du tuổi thọ trung b́nh cũng chỉ trên dưới 50 tuổi, ngày nay 75, 80 tuổi. Ngày trước nhân loại đi từ nơi này sang nơi khác, muốn có mặt khắp địa cầu phải mất hàng chục ngàn năm, đời Nguyễn Du đi sứ từ Phú Xuân sang Bắc Kinh mất 6 tháng, ngày nay đi máy bay chỉ mất vài giờ. Con người văn minh tiến bộ từng ngày từng giờ, nhưng lại thích huyền thoại hóa quá khứ, biến những nhân vật lịch sử quá khứ thành thần tượng tôn thờ, biến thời đại xa xưa thành thời hoàng kim để bắt chước.

Tô Tần là một người tài  đă đề ra nhiều giải pháp chính trị : Thuật Tự cường, tiếc rằng Châu Hiền Vương không áp dụng. Có ǵ hơn cái thuật Tự cường.  Muốn tự cường phải xóa bỏ cái dốt nát, hủ lậu của nhân dân, nâng cao dân trí, nhân dân có giáo dục, dân trí nâng cao th́ mới sáng suốt, phát huy những sáng kiến làm cho nước giàu dân mạnh. Muốn tự cường phải cải cách cơ chế chính trị, thời đại Tô Tần các lư thuyết Pháp Trị của Thương Ưởng, Hàn Phi Tử, Lư Tư ... đă làm cho nước Tần cường thịnh. Nước Tần từ một xứ hoang dă đă trở nên một cường quốc. Pháp Trị đă chứng tỏ sức mạnh ưu việt hơn hẵn Nhân Trị các đời trước. Nhân Trị dùng cho một xă hội nông nghiệp, người dân chỉ cày cáy trên mănh đất ḿnh, đạo lư Khổng Mạnh, Tam cương, Ngũ thường ràng buộc con người trong trật tự trên nói, dưới nghe. Đến khi xă hội  bắt đầu có những thương gia trở nên giàu có, đi từ nơi này sang nơi khác mua bán làm ăn. Sự mua bán gây lợi nhuận hơn hẵn xă hội nông nghiệp, Sự xuất hiện của đồng tiền, của tư bản tài chính. Người thương nhân không thể đem vàng bạc từ nơi này sang nơi khác v́ nạn cướp bóc, thảo khấu, do đó xuất hiện những trung gian giàu có, chỉ cần một mănh giấy tín nhiệm đi đến nơi khác  cùng thương hiệu sẽ lănh được số vàng bạc tiền như mong muốn. Nhân trị không thể áp dụng cho giai cấp mới thành h́nh này, sức mạnh của giai cấp thương nhân, tài chính đă làm xuất hiện các thành thị lớn, việc thu thuế ở  nước Pháp trị trở nên dồi dào, do đó có thể xây dựng những đội quân hùng mạnh. Nước Tần nhờ cải cách Pháp trị đă trở nên một cường quốc. Nếu các nước khác hiểu biết điều đó cũng theo cái thuật tự cường cũng cải cách chính trị, th́ cũng sẽ hùng mạnh như nước Tần, th́ không bị Tần chiếm đoạt.

Tô Tần đă đem cái thuật của Tam Vương, Ngũ Bá viết thành sách mươi vạn chữ để giúp nhà Tần thống nhất thiên hạ, nhưng tiếc thay vua Tần không nghe. Ngày nay chúng ta không c̣n sách của Tô Tần. Tam Vương, Ngũ Bá đă thống nhất thiên hạ thế nào mà không gây nên tiếng xấu :  tàn ác, độc đoán, tàn bạo  như Tần Thủy Hoàng. Có lẽ đó là cái thuật của Tô Tần, thống nhất thiên hạ mà nhân dân muôn đời nhớ ơn, nếu nhà Tần áp dụng chính sách đó th́ có lẽ triều đại nhà Tần không ngắn ngủi chỉ có Tần Thủy Hoàng và Tần Nhị Đế rồi sụp đổ. Nếu nhà Tần thống nhất thiên hạ theo đường lối Tô Tần có thể chủ nghĩa tư bản Pháp trị sẽ xuất hiện sớm hơn ở Đông Phương.

Chính sách Hợp tung của Tô Tần vẫn là một chính sách tài t́nh. Liên hợp các nước để chế ngự một cường quốc là một sáng kiến độc đáo. Tô Tần là sách lược  dùng lâu dài,  Khổng Minh là mưu lược dùng nhất thời trong một t́nh thế chiến tranh. Các cường quốc thường chỉ thích Hiệp ước song phương giữa một nước mạnh và một nước yếu đễ dễ bề thao túng : lư kẻ mạnh bao giờ cũng thắng, dùng cây gậy củ cà rốt, vừa đàm phán vừa hù dọa mua chuộc, để nước yếu vào tṛng của ḿnh, sự lệ thuộc này kéo theo sự lệ thuộc khác cuối cùng đi theo chủ đích nước mạnh. Nếu hợp các nước yếu lại th́ trở thành ngang hàng với nước mạnh, mọi việc thương thuyết trở nên b́nh đẳng. Thế giới này nay đang đi theo chiều hướng  các nước yếu hợp lại. Từ Liên Âu 28 nước, đến Liên Đông Nam Á  10 nước, đến Liên Phi, Liên Á Rập.. và một Tổ chức Liên Hiệp Quốc với những cơ chế luật lệ Quốc Tế. Một Luật Biến Quốc Tế đă thành h́nh, không thể có một nước nào tự sáng lập ra luật riêng của ḿnh, chiếm cứ các rạng san hô, bồi đắp thành đảo, xưng là lănh thổ của ḿnh, rồi chận đường thương thuyền, đường hàng không các nước khác, muốn qua lại phải xin phép.

 

   Link: http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_Du

 

Nguyễn Du chê bai Tô Tần lời nói đối với bà chị dâu thật bất công; Nguyễn Du không nh́n thấy Tô Tần là người có chí, thất bại bao nhiêu lần đến đói khát bị chính gia đ́nh khinh rẽ, vẫn bền tâm vững chí, học thuyết này không thành công, bày ra học thuyết khác. Học chưa thành th́ học thêm quên cả ngày đêm, dùng đùi đâm cho đau để khỏi ngủ gục. Vua chúa này không dùng, th́ đi đến nước khác, không nản ḷng. Không ai tiến cử th́ quỳ nọp chận đường vua  giữa đường, không sợ chết. Tô Tần là người có chí đáng kính phục. Nếu chỉ  v́ thất bại mà bỏ về cày ruộng, th́ sẽ không để lại danh muôn đời : « miệng lưỡi Tô Tần ». Đành rằng sách lược Hợp tung  Tô Tần chỉ thành công trong 15 năm. Nhưng thất bại không do Tô Tần mà do các nước v́ quyền lợi riêng tư đánh nhau phá bỏ cái thế hợp tung khiến cho nhà Tần có thể đem quân thành toán từng nước.  Hợp lại như bó đũa không ai bẻ được, nhà Tần đă rút ra từng chiếc và bẻ gảy.

Áo da cừu ngày nay cũng vẫn đắt tiền, dù kỹ nghệ chăn nuôi cừu và thuộc da phát triển, ngày xưa Tô Tần phải bán cả gia tài cha mẹ để mua áo da cừu, mua vài đầy tớ để đi du thuyết. Lư Bạch nói ngông đ̣i bán cả áo da cừu và con ngựa quí để mua rượu. Tại sao lại phải áo da cừu sang trọng ? đi du thuyết mà ăn mặc tầm thường như Trương Nghi, th́ bị nghi là ăn cắp ngọc, bị đánh suưt chết, mặc rách rưới  xưng là vô sản th́ người ta cho vài đồng bạc và đuổi đi. Thời nào cũng thế, phải tỏ ra ḿnh sang trọng  như  tư  bản thứ  dữ « tay mang túi bạc kè kè, nói quấy nói quá chúng nghe rầm rầm ». Trên diễn đàn quốc tế, các nước nghèo dù đọc bài diễn văn hay cách mấy cũng chẳng ai nghe. Nước giàu cất tiếng nói thính giả  ngồi nghe như uống từng lời  nói, chờ nghe nói đến tiền viện trợ. Việt Kiều cũng thế muốn du thuyết th́ phải là Giám Đốc Công Ty,  tiền bạc rổn rảng, đầu tư tiền triệu đô la,  th́ có hy vọng được lănh đạo kén làm rể.

Quí  tử ngày xưa chỉ học  Quỉ Cốc Tiên sinh, đọc sách Thái công âm phù  nằm vạ giữa đường th́ lănh đạo hỏi có điều chi oan ức, chỉ nói vài câu là lănh đạo rước về đàm đạo.  Ngày nay, quí  tử  dù có bằng Tiến sĩ  Luật  Sorbonne về, đánh trống, khua chuông ầm ỉ,  th́  lănh đạo  nổi  khùng,  chẳng thèm tiếp mà c̣n tặng cho hai cái bao cao su th́  vợ phải chạy vô tù ra khám nuôi cơm vất vả.  Người đời nay mơ ước cái thời lănh đạo  trân trọng nhân tài của thời Tô Tần  ngày xưa.

 

PHẠM TRỌNG CHÁNH

* Tiến sĩ Khoa Học Giáo Dục. Viện Đại Học Paris V

             

Tác giả: Hồ Xuân Hương nàng là ai ? Khuê Văn 2000 ;  Nguyễn Du , Mười năm gió bụi và mối t́nh Hồ Xuân Hương,  Khuê Văn Paris 2010; Truyện Thơ Odyssée qua 12110 câu thơ lục bát, Khuê Văn 2005; Sử Thi Iliade qua 16933 câu thơ lục bát, Khuê Văn 2009; Tự điển t́nh yêu bằng thơ t́nh Xuân Diệu, Khuê Văn 201; Giáo Dục Việt Nam thời Pháp thuộc (1940-1945) Paris 1976; Giáo Dục Miền Nam Việt Nam 1954-1975, Paris 1980; Thơ t́nh Nhất Uyên (Huy Cận, Xuân Diệu đề tựa), Paris, 1996; Công cha như núi Trường Sơn 1975. Cánh chim từ vùng lửa đỏ (thơ nhạc với Tốn Thất Lập) HSVST 1974; Bóng thời gian, Thời gian ta măi măi c̣n xanh (với Nguyễn Đăng Hưng Liège 1972); Chiêm Bao Trắng, Thơ Sàigon 1969.

 


 

 

Mời đọc những bài viết khác của cùng tác giả :

 

  Nguyễn Du trên quê hương Khuất Nguyên - TS.Phạm Trọng Chánh

Khi đi qua Trung quốc, Nguyễn Du đă nhiều lần đến nước Sở, quê hương  Khuất Nguyên:  Năm 1788- 1790 trong thời  tuổi trẻ đi giang hồ Trung Quốc  lượt ...

 

Nguyễn Du trên quê hương Đỗ Phủ - TS.Phạm Trọng Chánh

Đỗ Phủ (712-770)  thời nhà Đường, sống trong thời đại loạn An Lộc Sơn  trong 8 năm, làm tiêu hao 2/3 dân số Trung Quốc. Năm 755 nước này có ...

 

Nguyễn Du đi sứ trên quê hương Lư Bạch - TS.Phạm Trọng Chánh

Nguyễn Du lấy bút hiệu là Thanh Hiên, kết hợp từ chữ Thanh, bút hiệu Thanh Liên của thi hào Lư Bạch (701-762), và chữ Hiên thường dùng của gia ...

 

Đi theo hành tŕnh “Bắc hành tạp lục” của Nguyễn Du - TS.Phạm Trọng Chánh

Đọc “Bắc Hành Tạp Lục” nhiều nhà nghiên cứu có cảm giác Nguyễn Du rất cô đơn trước cảnh sắc và  con người tại Trung Quốc. TS Nguyễn Thị Nương ...

Tưởng nhớ Giáo sư Trần Văn Khê - TS.Phạm Trọng Chánh

Thuở thư sinh lên đường du học Âu Châu  năm 1970, túi đàn cặp sách, tuổi hai mươi : «  cầm kỳ thi họa đủ mùi ca ngâm », hành trang tôi ...

Mối t́nh “ông vua thơ Nôm” Lê Thánh Tông và Trường-Lạc hoàng hậu - TS.Phạm Trọng Chánh

Phạm Đ́nh Hổ trong Tang thương ngẫu lục quyển II,  tr 232 có chép chuyện vua Lê Thánh Tông và Trường Lạc Hoàng Hậu, một chuyện t́nh tuyệt đẹp, giữa ...

Kỷ niệm với Họa Sư LÊ BÁ ĐẢNG (1921-2015) - Ts Phạm Trọng Chánh

Những năm 1973-1976, đến Paris  tôi bắt đầu công việc sinh viên, vừa làm vừa học, là kư tên và đánh số giùm tranh litho cho  Họa sĩ Lê Bá ...

Hồ Sĩ Đống (1739-1785) - bậc thầy thi ca thời Lê trung hưng - TS. Phạm Trọng Chánh

Hồ Sĩ Đống được Phạm Đ́nh Hổ trong Vũ Trung tùy bút, bài Thi ca kể tên cùng Nguyễn Tông Khuê, Nguyễn Huy Oánh là ba bậc thầy phục hưng ...

 Đọc bài “Về cuốn sách Lịch Sử Việt Nam được cho là kiệt tác sử học” - TS Phạm Trọng Chánh.

Nhân đọc bài : Về cuốn sách được cho là kiệt tác sử học của ông Tiến Anh Hồng Quang đăng trên Nhân Dân Điện tử thứ năm 27-1-2014. Bài viết có nhiều hiểu lầm; Giáo sư Lê Thành Khôi nay đă lớn tuổi 93 tuổi, chẳng phải bận rộn với bài viết nhỏ mọn này, là môn sinh Giáo sư Lê Thành Khôi tôi xin thay mặt Giáo sư trả lời các điểm thắc mắc của ông Tiến Anh Hồng Quang.

Nguyễn Tông Khuê - bậc thầy thi ca đời Lê Trung Hưng - TS. Phạm Trọng Chánh

Phạm Đ́nh Hổ trong Vũ Trung Tùy Bút có nói đến ba nhà thơ lớn, ba bậc thầy thi ca thời Lê Trung Hưng : Nguyễn Tông Khuê (1693-1767), Nguyễn Huy ...

GS.Lê Thành Khôi & lịch sử Việt Nam - TS.Phạm Trọng Chánh

Cuối tháng 8-2014  Nhà Xuất bản Thế Giới Hà Nội cho ra mắt quyển  « Lịch Sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XX » của Giáo Sư Lê Thành ...

Đọc sách : "Đạo Cao Đài và Victor Hugo" của TS.Trần Thu Dung - TS.Phạm Trọng Chánh

Victor Hugo là một nhà văn lớn, nhà chính trị Cộng ḥa  Pháp, chống lại Đế Chế Napoléon III, từng phải lưu vong xa nước 17 năm. Ông qua đời ...

Patrick Modiano giải Nobel văn chương 2014 - TS.Phạm Trọng Chánh

Sinh ngày 30-7-1945 tại Boulogne Billancourt, ngoại ô Paris, tác giả hơn 30 quyển tiểu thuyết, truyện phim, giải thưởng Văn Chương Hàn Lâm Viện Pháp, giải thưởng Goncourt, tác ...

Hồ Xuân Hương đi buôn (1807-1811) : “mẹ già nhà túng, ăn ở không yên ổn” - TS. Phạm Trọng Chánh

Trong bài tựa Lưu Hương Kư, Tốn Phong viết:  “ Từ đó  (sau lần đến thăm xuân 1807) có những lúc tôi phải vào Nam, ra Bắc, không thể cùng ...

Nguyễn Du : Ra Bắc 1796, t́nh duyên tan vỡ - Ts.Phạm Ttrọng Chánh

Nguyễn Du cho rằng việc vào Nam từ năm 1794 đến 1796 là hoài công, vô ích. Và mong rằng việc ra Bắc năm 1796 sẽ làm nên việc.  Sau ...

Đọc sách : Nguyễn Du trên đường gió bụi của Hoàng Khôi - Nhà Xuất bản Văn Học. Hà Nội- 2013 - Ts.Phạm Trọng Chánh

Có ǵ vui hơn, khi những thành quả nghiên cứu văn học của ḿnh được bè bạn Hội Kiều Học trong nước hưởng ứng viết thành tiểu thuyết.  Nhận được ...

 Hồ Xuân Hương cô hàng bán sách phố Nam thành Thăng Long (1804-1807) - TS. Phạm Trọng Chánh

Khoảng 10 năm trước năm 1813 Tốn Phong đă đến thăm  Xuân Hương Hồ Phi Mai tại hiệu sách Xuân Hương, Phố Nam thành Thăng Long, thuở ấy nàng ở ...

Nguyễn Du : những mỹ nhân trên đường mười năm gió bụi (1786-1796) - TS. Phạm Trọng Chánh

Sau ba năm đi giang hồ Trung Quốc, Nguyễn Du trở về ở tại Thăng Long từ cuối năm 1790 cho đến năm 1794. Đó là ba năm « Chữ t́nh ... 

Nguyễn Du gặp Đoàn Nguyễn Tuấn, sứ đoàn Tây Sơn tại Hoàng Châu 1790 - TS. Phạm Trọng Chánh

Nguyễn Du sau khi đậu Tam Trường (1783) ở Trường thi Sơn Nam lúc 17 tuổi, được anh là Nguyễn Khản, Thượng Thư Bộ Lại kiêm Trấn thủ Hưng Hóa, ...

Nguyễn Du : nhà sư Chí Hiên “Giang Bắc, Giang Nam túi tiền không” (1788-1790) 
TS. Phạm Trọng Chánh

Nguyễn Du, mang danh hiệu Chí Hiên, danh hiệu Nguyễn Du dùng cho đến năm 1796, kư tên hai bài thơ  tặng Hồ Xuân Hương, lưu lại trong Lưu Hương ...

Nguyễn Du chia tay Nguyễn Đại Lang, Nguyễn Sĩ Hữu tại Liễu Châu 1788 - TS. Phạm Trọng Chánh

Nguyễn Du gọi cuộc đời từ 20 đến 30 tuổi của ḿnh là « 10 năm gió bụi » (1786-1796), gia phả và sách vở giáo khoa trăm năm qua  lại viết ...

Nguyễn Du từ Thái Nguyên sang Vân Nam cuối năm 1787 - TS. Phạm Trọng Chánh

Bao nhiêu năm nghiên cứu về Nguyễn Du, chúng ta đă biết hết cuộc đời Nguyễn Du chưa ?  Nguyễn Du có quyển Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm .

Dịch chương “Nhă Ca”, một dâm thơ trong Cựu ước - TS. Phạm Trọng Chánh

“Nhă Ca”  (CANTIQUES) là một tác phẩm văn chương cổ đại của dân tộc Do Thái, cách chúng ta khoảng 630 năm trước Tây lịch. Một áng văn chương trữ ...

Đọc Lưu Hương Kư của Hồ Xuân Hương - TS. Phạm Trọng Chánh

Giữa thời điểm các nhà sách hải ngoại thi nhau đóng cửa, người đọc tiếng Việt ngày càng thưa thớt, tác giả gửi sách đi cho các nhà sách, không

Hồ Xuân Hương và quan Hiệp Trấn Sơn Nam Thượng Trần Ngọc Quán - Phạm Trọng Chánh

Trần Ngọc Quán quê Nghệ An, trước làm quan Cai Bạ doanh Quảng Đức (Chức vụ đứng đầu một doanh, tỉnh Thừa Thiên ngày sau). Tháng 2 năm Ất ..

Hồ Xuân Hương và Phật giáo - TS. Phạm Trọng Chánh

Điều nghịch lư trong thơ truyền khẩu gán cho Hồ Xuân Hương là Xuân Hương thường đi chùa, cuối đời có đi tu một thời gian, nhưng trong thơ lại ...

* Đối thoại: Sở tri chướng và kinh tế thị trường – Phạm Trọng Chánh, Ph.D., Paris, Pháp,  
              Link :
http://giaodiemonline.com/baiup/DTGH(3).htm