HOÀNG HẠC LÂU QUA THI CA CÁC SỨ THẦN NƯỚC NAM

 

(NGUYỄN DU, PHẠM SƯ MẠNH, LÊ ANH TUẤN, NGUYỄN TÔNG KHUÊ, LÊ QUƯ ĐÔN,
PHAN HUY ÍCH, ĐOÀN NGUYỄN TUẤN, NGÔ THỜI VỊ, PHAN THANH GIẢN)

 

Phạm Trọng Chánh

 

 

oàng Hạc Lâu  được xây dựng tại Vũ Hán từ năm 223  do Tôn Quyền thời Tam Quốc : khi xây cổ thành Hạ Khẩu, phía Tây giáp Trường Giang, góc Giang Nam có bờ đá lớn, ông cho xây lầu cao làm đài quan sát. Về sau đời Đường có chuyện Phí Vân Vi cỡi hạc về đây nghỉ nên lầu có tên là Hoàng Hạc Lâu và trở thành một thánh tích của Đạo Lăo. Lầu xưa chỉ có 3 tầng cao 20 mét rộng 30 mét. Lầu trải qua 12 lần tu sửa qua các triều đại, năm 1884 đời Quang Tự thứ 10 bị phá hủy. Năm 1957 cầu Trường Giang xây dựng, chân cầu chiếm vị trí này. Năm 1981, lầu Hoàng Hạc được xây dựng lại, nguy nga 5 tầng lầu cao 51, 4 mét dời cách vị trí cũ một cây số. Trước lầu có hai câu  đối : Sảng khí tây lai, vân vụ tảo khai thiên địa hám. Đại ngư đông giang khứ, ba đào tẩy tịnh cổ kim sầu. dịch : Hơi mát từ hướng Tây đến, mây mù quét sạch mở ra lay động đất trời. Sông lớn chảy về đông, sóng gió theo ḍng rửa sạch cả nỗi sầu kim cổ. Hoàng Hạc Lâu nổi tiếng với bài thơ Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu, được xem là một trong những bài thơ hay nhất của thi ca Trung Quốc, lại càng nổi tiếng hơn khi Thi hào Lư Bạch viết : « Trước mắt có cảnh không tả được. V́ thơ Thôi Hiệu ở trong đầu. »

 Hoàng Hạc lâu, link: https://vi.wikipedia.org/wiki/Ho%C3%A0ng_H%E1%BA%A1c_l%C3%A2u

Bài thơ Thôi Hiệu tả cảnh một cuộc chơi Lầu Hoàng Hạc : Ngày xưa Phí Văn Vi sau khi thành tiên thường cưỡi hạc vàng về đây nghỉ, nên ở đây nên mới gọi lầu này là Hoàng Hạc Lâu. Người tiên đi  rồi chỉ c̣n trơ lầu Hoàng Hạc trống không. Hạc vàng từ khi ra đi, không thấy trở lại, ngh́n năm dằng dẳng, trên lầu chỉ có mây trắng lững lơ. Đứng trên lầu nh́n ra đằng trước ánh nắng soi xuống ḷng sông, cây cối trên bến Hán Dương trông rơ sắc màu. Bên cạnh cỏ thơm trên băi Anh Vũ một mầu xanh tươi. Băi cỏ gọi tên là Anh Vũ v́ cuối đời Hán, Hoàng Tổ làm chức Thái Thú ở Giang Hạ, con cả là Hoàng Sạ mời nhiều khách vào trong băi uống rượu, giữa lúc ấy có người dâng con chim anh vũ. Nễ Hành liền làm bài thơ phú Anh Vũ để tả buổi vui chơi đó. Từ đấy người ta mới gọi là băi Anh Vũ. Trời đă chiều rồi, riêng quê quán ḿnh nh́n chẳng thấy ở đâu. Trên mặt sông, sóng bập bềnh, sương khói bốc lên mờ mờ như báo chiều sắp tối, khiến ḷng thêm nhớ quê hương buồn biết bao.

HOÀNG HẠC LÂU

Người xưa cưỡi hạc khuất từ lâu,

Chốn cũ c̣n trơ Hoàng Hạc Lâu.

Một biệt hạc vàng không trở lại,

Ngàn năm mây trắng lững lơ lầu.

Rực soi bến Hán soi cây vàng nắng,

Thơm ngát châu Anh cỏ  biếc mầu.

Chiều xuống quê hương đâu đó nhỉ ?

Đầu sông khói sóng dục khơi sầu.

Thơ Thôi Hiệu, Nhất Uyên dịch thơ; Nguyên tác phiên âm Hán Việt :

HOÀNG HẠC LÂU

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,

Thử địa không dư Hoàng Hạc Lâu

Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,

Bạch vân thiên tải không du du.

T́nh xuyên lịch lịch Hán Dương thụ,

Phương thảo thê thê Anh Vũ châu.

Nhật mộ hương quan hà xứ thị,

Yên ba giang thượng xử nhân sầu.

 

 

Hoàng hạc
 

link: https://vi.wikipedia.org/wiki/Ho%C3%A0ng_H%E1%BA%A1c_
l%C3%A2u#/media/File:Yellowcrane.JPG

 

   Lư Bạch cũng có bài thơ  Từ Lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng :  Bạn cũ từ biệt tại lầu Hoàng Hạc đi về phía Tây. Tháng ba hoa khói xuống Dương Châu. Bóng chiếc buồm đơn màu xanh mất hút. Chỉ thấy Trường Giang vẫn chảy bên trời.

TỪ LẦU HOÀNG HẠC

TIỄN MẠNH HẠO NHIÊN ĐI QUẢNG LĂNG

Từ tây Hoàng Hạc cố nhân xa,

Dương Châu hoa khói tháng ba nḥa.

Buồm đơn xa khuất, trời xanh thẳm,

Chỉ thấy Trường Giang bát ngát qua.

Nhất Uyên dịch thơ; Nguyên tác phiên âm Hán Việt :

HOÀNG HẠC LÂU  TỐNG MẠNH HẠO NHIÊN

DU QUẢNG LĂNG

Cố nhân tây từ Hoàng Hạc lâu,

Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu.

Cô phàm viễn ảnh bích không tận,

Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu.

Nguyễn Du đến lầu Hoàng Hạc trong lần đi sứ năm 1813, ngày 30-7 năm Quư Sửu. Nguyễn Du cũng từng đến nơi này năm 1790 trong thời thanh niên đi giang hồ nên viết « trước mắt cỏ cây vẫn như ngày xưa. Nguyễn Du viết : Thần tiên ở nơi nao đến dă trải bao thời, c̣n để lại dấu tiên ở bờ sông này ? Nay lại xưa qua chỉ là giấc mộng của chàng họ Lư. Lư sinh đời Đường thi trượt trên đường về nghỉ trọ ở Hàm Đan, gặp một đạo sĩ cho mượn chiếc gối để ngủ. Trên gối ấy, Lư sinh mơ thấy ḿnh thi đỗ, làm quan đến Tể Tướng, hưởng giàu sang trên mười năm. Khi tỉnh dậy nồi kê của chủ quán nấu vẫn chưa chín. Hạc vàng đi, lầu vắng, chỉ c̣n lời thơ Thôi Hiệu. Khói sóng phía ngoài lan can một cơi mênh mang. Cây cỏ trước mặt vẫn y như cũ. Biết cùng ai bày tỏ niềm cảm xúc tự đáy ḷng ? Trăng trong gió mát cũng không biết được nỗi niềm đó.

HOÀNG HẠC LÂU (Nguyễn Du)

Thần tiên đă đến tự bao giờ ?

C̣n lại dấu tiên trên bến mơ.

Giấc mộng Lư Sinh kim cổ vọng,

Vần thơ Thôi Hiệu hạc lầu trơ.

Ngoài hiên khói sóng bay mờ mịt,

Trước mắt cỏ cây vẫn thuở xưa.

Nỗi niềm có biết cùng ai tỏ.

Trăng thanh gió mát cũng thờ ơ !

Thơ Nguyễn Du, Nhất Uyên dịch thơ; Nguyên tác phiên âm Hán Việt :

HOÀNG HẠC LÂU

Hà xứ thần tiên kinh kỷ th́,

Do lưu tiên tích thử giang mi.

Kim lai cổ văng Lư Sinh mộng,

Hạc khứ lâu không Thôi Hiệu thi.

Hạm ngoại yên ba chung diểu diểu,

Nhăn trung thảo thụ thượng y y.

Trung t́nh vô hạn bằng thùy tố,

Minh nguyệt thanh phong dă bất tri.

Phạm Sư Mạnh đi sứ đời Trần năm 1345 đă đề thơ:

ĐĂNG HOÀNG HẠC LÂU (PHẠM SƯ MẠNH)

B́nh Thành xanh núi chập chùng quanh,

Như b́nh phong ngọc lấn mây xanh.

Cuồn cuộn Trường Giang ngấm trục đất,

Đông Nam sủi bọt sóng dồn nhanh.

Hoàng Hạc lầu cao lơ lững trông,

Lên cao nh́n xa ba ngàn dậm,

Trước đài Hạng Vương nắng xế hồng,

Trên mồ Quán Quân nổi gió thảm.

Trời hoang đất cũ chiến trường xưa,

Anh hùng ngh́n xưa nay đâu trận mạc ?

Nhà ta ở tận cơi Nam xa,

Tay cầm tiết ngọc lên lầu Hoàng Hạc.

Mài sườn núi khắc thơ Đông Pha,

B́nh sinh  chẳng phụ chí du lịch.

Thơ Phạm Sư Mạnh, Nhất Uyên dịch theo bản dịch nghĩa của Viện Sử Học Hà Nội.

Nguyễn Tông Khuê (1693-1767) Hội Nguyên Tiến Sĩ  khoa Tân Sửu (1721) Làm phó sứ đi sứ  nhà Thanh năm 1742 trở về  năm 1745. Nguyễn Kiều làm Chánh Sứ. Năm 1748 lại làm Chánh Sứ sang nhà Thanh. Trong Sứ Tŕnh Tân Truyện thơ lục bát chen lẫn với thơ Đường luật chữ Nôm 670 câu lục bát. Đoạn tả cảnh Hoàng Hạc Lâu ông viết như sau :

Vũ Xương có cảnh thờ lơ ,                                                                    Câu 315.

Nước thu Hán Miện thành người Kinh, Tương.

Non từng cuốn rũ Phượng Hoàng,

Một doi Anh Vũ giăng ngang giữa ḍng.

Bến tiên đá gấm trùng trùng,

Ngô Vương trước đă cắm cung chốn này,

Của ngon vật lạ đủ thay,

Bích đào, hồng hạnh chốn này khá ưa.

Ông tiên cỡi hạc bao giờ,

Lầu c̣n chần chẩn đứng chờ bến sông.

Một thơ Thôi Hiệu ngoan nồng,

Làm cho gát bút, mếch ḷng thơ tiên.

Xóm nhà giàu của lớn thuyền,

Thông mười bốn tỉnh hợp miền Hán Dương.

Người người khói khói lạ dường,

Chẳng mưa cũng sấm, chẳng sương cũng mù.

Quy Sơn trên núi có chùa,

T́nh Xuyên có gác bốn mùa phong quang.

Mới hay sông Hán, sông Giang,

Đă dài muôn dậm lại ngang muôn tầm,

Hạ thiên nước lũ ầm ầm,

Bốn bề lai láng đă kham ḷng người,

Chu nhân ấy cũng nực cười,

Thờ ơ rước trúc đón mai lần lần.

Non Kinh nguyệt đă kề gần,

Chào ai cầm gảy Nam Huân đ̣i ngày .                      Câu 340

Tinh Tuyển Văn Học Việt Nam tập 5. Văn học thế kỷ XV̀ I. nxb KHXH. Hà Nội. 2004      

 

Lê Quư Đôn (1726-1784), môn sinh Nguyễn Tông Khuê; Đi sứ năm 1761 Cảnh Hưng thứ 21 đời Lê làm Phó sứ. Chánh sứ là Trần Huy Bật có viết bài thơ Hoàng Hạc Lâu  trên đường về, nhân ở thành Vũ Xương tặng quan Khâm Sai nhà Thanh và quan Chánh Sứ Trần Huy Bật. Bên ngoài gác T́nh Xuyên lại xuống thuyền,

HOÀNG HẠC LÂU (Lê Quư Đôn)

Ngoài gác T́nh Xuyên thuyền lại đưa,

Trước lầu Hoàng Hạc nhớ chơi xưa.

Cỏ thơm hệ lụy niềm thương hận,

Mây trắng c̣n nguyên thu năm qua.

Núi xanh mồn một dường quen biết,

Sáo ngọc miên mang chẳng thiết tha,

Vời ngóng quê Nam gần chút nữa,

Nh́n khói trên sông bớt nhớ nhà.

Thơ Lê Quư Đôn,  Nhất Uyên dịch thơ; Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

HOÀNG HẠC LÂU

Trú Vũ Xương thành giản Khâm Sai Quan khiêm tŕnh Bản Bộ Thái Sứ Công.

T́nh Xuyên gác ngoại hựu phương chu,

Hoàng Hạc lâu đầu ức cựu du.

Phương thảo phi quan tiền cổ hận,

Bạch vân hồn tự khứ niên thu.

Thanh sơn lịch lịch như tương thức,

Ngọc địch mangmang bất khả cầu.

Nam vọng gia hương kim giáo cận,

Yên ba giảm khước nhất phân sầu.

 

Phan Huy Ích, Chánh sứ năm 1790 thời Tây Sơn, đoàn đi sứ đông nhất trong lịch sử với 158 người, có ông vua giả Nguyễn Huệ (do người cháu vua là Phạm Công Trị giả dạng) , có hoàng tử Nguyễn Quang Thùy, có cả một ban hát bội 10 người, trong sứ đoàn c̣n có Vũ Huy Tấn, Đoàn Nguyễn Tuấn.. đồ cống phẩm có hai con voi đực. Khi đi đến Hoàng Hạc Lâu, Phan Huy Ích viết bài thơ gửi về  Binh Bộ Thượng Thư Ngô Thời Nhậm. Ngô Thời Nhậm là anh rễ Phan Huy Ích, theo sự phân chia công việc trong lúc sứ đoàn sang Trung Quốc, Ngô Thời Nhậm túc trực ở thành Lạng Sơn, nhận tin tức thường xuyên sứ đoàn. Vua Quang Trung thật ẩn danh tại Thăng Long bàn bạc theo dơi t́nh h́nh cùng Nguyễn Nể tại dinh Kim Âu (Bích Câu).

Bài thơ Hoàng Hạc Lâu, ở nhà trạm Vơ Xương kèm Quốc thư gửi quan Binh Bộ Ngô (Th́ Nhậm): Muôn dậm rong ruổi mới được nửa đường. Tóc nhuốm sầu mà sinh bạc phơ. Bóng buốm côi ngoài gác T́nh Xuyên. Tiếng đoăn địch trước lầu Hoàng Hạc. Nhớ lại hương thơm hoa chi, chung niềm chí khí. Chi lan là t́nh bạn anh em thân thiết (anh em bạn rễ); Sách Gia Ngữ: Đức Khổng Tử chép: Ở với người thiện như vào nhà có cỏ chi cỏ lan. Khiến ng̣i bút thay nhau vịnh việc ở đi. Một vầng trăng tṛn trên thành bên sông. Tưởng cũng sáng thâu đêm ở Cầu Đông. Cầu Đông là cầu bắt ngang sông Tô Lịch ở phía Đông thành Thăng Long, thường gọi Cầu Đông  bến Đá. Thăng Long Tam Thập Vinh có cảnh Đông kiều lộng địch là cầu này.

HOÀNG HẠC LÂU (Phan Huy Ích)

Ở nhà trạm Vơ Xương gửi quan Binh Bộ Ngô

Muôn dậm ruổi rong được nửa đường,

Bạc phơ mái tóc nhuốm sầu sinh.

T́nh Xuyên ngoài gác buồm đơn lướt,

Hoàng Hạc lầu bên tiếng sáo vang.

Hồi tưởng hoa thơm cùng chí khí,

Phân chia ng̣i bút việc cư hành.

Một vầng trăng tỏ thành sông sáng,

Tưởng sáng thâu đêm cầu bến Đông.

Thơ Phan Huy Ích, Nhất Uyên dịch thơ; Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

HOÀNG HẠC LÂU

Vơ Xương dịch thứ phụ Quốc thư kư Ngô Binh Bộ

Vạn lư tŕ khu thủy bán tŕnh,

Phân phân hoa phát đới sầu sinh.

T́nh Xuyên các ngoại cô phàm ảnh,

Hoàng Hạc lầu tiền đoản địch thanh.

Hồi ức chi hương đồng chí khí,

Phân giao tảo bút diệc cư hành.

Giang thành nhất phiến đoàn viên nguyệt,

Tưởng diệc Đông kiều nguyệt dạ minh.

(Dụ Am ngâm lục tập II. Nxb KHXH. TP HCM 1978 tr 20 , tr 28 )

Phan Huy Ích chú thích  về Hoàng Hạc Lâu như sau:

“Lầu ở thành Vũ Xương, nh́n xuống ḍng sông Hán. Truyền thuyết Phí Văn Phi đắc đạo thành tiên, thường cưỡi hạc vàng chơi ở đó. Nay tầng thứ nhất có tương thờ Phí, tầng thứ hai có tượng thờ Lă Tiên (tức Lă Đồng Tân hiệu là Thuần Dương người đời Đường gặp loạn Hoàng Sào, đem gia quyến đến núi Chung Nam ở và tu tiên đắc đạo ở đó) bên cạnh đó có tương thờ Lư Sinh, phía sau có đ́nh Táo Tiên, rễ táo vẫn giống như rễ trầm hương. Cách bờ là bến lớn sông Hán, người tụ tập đông đúc, hàng hóa chất đầy.. Núi Qui, gác T́nh Xuyên, băi Anh Vũ thật là những cảnh đẹp trong trời đất. Người ta vẽ nhiều cuốn tranh lầu Hoàng Hạc để bán cho khách. Sứ bộ ta từ nhà công quán ở Hán Dương, bơi ngang thuyền đến. Buổi chiều lên gác cao, bồi hồi nh́n bốn phía, lúc đó quan Hàn Lâm họ Đoàn (Đoàn Nguyễn Tuấn), đă làm ba bài thơ trước, tôi mượn một bài, có nhuận sắc thêm, dựa vào bài bút đề trên vách lầu của ông Đoàn, tôi cũng ghi lại bài thơ.”

Phan Huy Ích viết bài thơ nghĩa như sau: Buộc neo vào mỏm đá dưới khe, lên thăm cảnh tiên. Mái lầu cao trăm thước đứng trên đầu. Hạc vàng mây trắng, lời thơ tuyệt trần. Sóng biếc cây hồng cảnh thu trong trẻo. Thị thành hoa lệ vẻ tranh chẳng giống. Khói nước mênh mông ḷng khách thêm sầu. Cảnh thật đầy trước mặt, ngâm vẫn chưa xong. Mượn đề tài tạm ghi lại chuyện chơi lầu.

 ĐI CHƠI  HOÀNG HẠC LÂU (Phan huy Ích)

Ghềnh đá buộc neo thăm cảnh tiên,

Mái cao trăm thước đỉnh lầu trên.

Hạc vàng, mây trắng, lời ngâm tuyệt,

Sóng biếc cây hồng thu gió lên.

Thành thị vẽ tranh lầu chẳng giống,

Khói sông man mác khách sầu thêm.

Cảnh đầy trước mặt ngâm chưa đă,

Mượn thơ ghi lại thú lầu tiên.

Thơ Phan Huy Ích, Nhất Uyên dịch thơ; Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

DU HOÀNG HẠC LÂU

Khê ki duy lăm phỏng tiên du,

Bách xích phi manh nhiếp thượng đầu.

Hoàng Hạc bạch vân nga tuyệt diệu,

Bích ba hồng thụ điếu thanh thu.

Thị thành hoa lệ đồ phi tiếu,

Yên thủy thương man khách diệc sầu.

Chân cảnh măn tiền ngâm vị cánh,

Tá đề liêu kí thử đăng lâu.

Thơ Phan Huy Ích

Phan Huy Ích c̣n có bài thơ khác làm lúc đi về lại lên thăm Hoàng Hạc Lâu: Trước kia đến Lầu Hoàng Hạc có làm thơ gửi cho quan Binh Bộ Ngô (Th́ Nhậm), nay trở về lại lên chơi lầu, bèn họa bài thơ trước gửi tặng : Cỏ thơm, sông tạnh vẫn con đường ngày trước, nay trở về ḷng mừng tưởng như mọc cánh. Ánh sáng mùa thu lặng lẽ chiếu vào ba tầng lầu, ḷng nhớ quê hương vội vă bay theo một tiếng nhạn. Xong việc báo tin về, ngựa trạm chạy nhanh, đường sứ xa xôi thuyền khách đang đi. Nhớ khi ở Ải Nam Quan, cầm tay hẹn ḥ nhau, Thỉnh thoảng lại nh́n bóng trăng sáng ngời ở ngôi đài trên núi (đài Chiêu Đức, nơi sứ thần bày đồ cống phẩm cho quan nhà Thanh xem xét).

LẠI  LÊN CHƠI HOÀNG HẠC LÂU

Sóng tạnh, cỏ thơm vẫn lối xưa,

Tưởng như mọc cánh lúc xe về.

Ánh thu lặng chiếu ba tầng gác,

Tiếng nhạn bay theo một nỗi quê.

Xong việc tin về ngựa trạm lướt,

Xa xôi đường sứ khách thuyền về.

Nam Quan ải nhớ cầm tay hẹn,

Trăng soi trên núi bóng đài xưa.

Thơ Phan Huy Ích, Nhất Uyên dịch thơ; Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

TẠC LAI HOÀNG HẠC LÂU

Hữu thi thiếp kư Ngô Binh Bộ kim hồi du tư lâu tái y tiên vận phi kư.

Phương thảo t́nh xuyên cựu khứ tŕnh,

Qui biền hỉ tự vũ hàn sinh.

Thu quang tỉnh chiếu lâu tam điệp,

Hương tứ mang tùy nhạn nhất thanh.

Thoan sự thư hồi bưu kỵ mẫn,

Chu tư lộ viễn khách chu hành.

Nam quan bả ác tưong kỳ cứu,

Thời phán sơn đài nguyệt sắc minh.

Đoàn Nguyễn Tuấn, cùng đi sứ trong sứ đoàn năm 1790, trong Hải Ông thi tập. nxb KHXH. Hà Nội 1982 có viết 4 bài thơ về Hoàng Hạc Lâu, rất tiếc tập thơ Viện Nghiên Cứu Hán Nôm lược bỏ 3 bài chỉ c̣n bài thứ nhất:

Trăm thước lầu cao dựa ṿm trời biếc, một dăi lụa trắng chia cơi tây đông. Lay đọng trước sông, thảm cỏ rậm rạp trên băi thơm phô màu xanh biếc. Trên bờ bên kia, rặng phong thưa nơi gác nắng rực rỡ sắc hồng (gác T́nh Xuyên). Nơi đây xưa thuộc nước Sở của Hạng Vũ từng tranh giành cuộc cờ với Lưu Bang, thời Tam Quốc thuộc nước Ngô của Tôn Quyền. nơi xảy ra cuộc chiến đấu tranh hùng tranh bá, giành nhau hơn thua như đánh cờ.. Thần tiên ngâm vịnh trong tiếng sáo, nhiều nhà thơ vịnh phong cảnh Hoàng Hạc Lâu, tiếng ngâm vịnh của họ vẫn c̣n văng vẳng đâu đây. Có khách cưỡi bè lên cao ngắm cảnh, sông dài man mác vang lên tiếng cối chiều hôm.

LÊN LẦU HOÀNG HẠC (Đoàn Nguyễn Tuấn)

Trăm thước lầu cao dựa biếc xanh,

Một làn lụa trắng cách tây đông.

Băi thơm cỏ mượt xanh khung cửa,

Gác nắng rừng phong đỏ cách sông.

Hùng bá cuộc cờ tranh cuộc chiến,

Thần tiên ngâm vịnh sáo đàn vang.

Cưỡi bè có khách lên cao ngắm,

Tiếng cối chiều hôm nổi giữa ḍng.

Thơ Đoàn Nguyễn Tuấn, Nhất Uyên dịch thơ; Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

ĐĂNG HOÀNG HẠC LÂU

Bách xích phi lâu ỷ bích không,

Nhất điều tịnh luyện giới tây đông.

Phương châu thảo mật dao song thúy,

T́nh các phong sơ cách ngạn hồng.

Hùng bá tranh hành kỳ cục lư,

Thần tiên khiếu vịnh địch thanh trung.

Thừa xà hữu khách đăng cao vọng,

Thanh điếu trường giang khởi mộ trung.

Lê Anh Tuấn (1671-1731) hiệu Địch Hiên, người làng Thanh Mai, huyện Tiên Phong (nay thuộc huyện Ba V́, Hà Tây); Đỗ Tiến sĩ năm 1694 từng làm Chánh Sứ sang nhà Thanh năm 1715, cha nuôi của Đoàn Thị Điểm, có bài thơ viết về Hoàng Hạc Lâu:

Danh tiếng vùng sao Dực, sao Chẩn ghi nhớ đó là đất Hán Dương, cảnh sắc bốn bề ở đây đă đi vào thi ca và ngâm vịnh. Khói sóng mênh mang khiến tâm tư thêm buồn, gió trăng mời gọi làm chén khách phải say. Cây cổ thụ giăng ngang như tấm mành che trên bờ sông. Cột buồm dựng thẳng tựa cây rừng giữa bến mê. Ở bên vùng bến nước ai là bậc trượng phu ? Thẹn v́ cơ tâm lâu nay vẫn c̣n vương vất. Vùng sao Dực, sao Chấn chỉ miền Nam Trung Quốc theo địa lư xưa. Cơ tâm: sách Liệt Tử ghi: Có người hàng ngày ra bể chơi đùa với chim âu. Chim âu cũng vui nhờn với anh ta. Sau đó anh ta nảy sinh ư định bắt chim âu làm thịt nên chim âu thấy anh ta là xa lánh v́ anh ta nảy sinh cơ tâm, ḷng không tốt.

LÊN LẦU HOÀNG HẠC NGẮM CÂY Ở HÁN DƯƠNG (Lê Anh Tuấn)

Dực, Chẩn danh lam đất Hán Dương,

Bốn bề cảnh sắc vào văn chương.

Mênh mang khói sóng buồn ḷng khách,

Trăng gió gọi mời say chén suông.

Cổ thụ giăng màn che bến nước,

Cột buồm dựng thẳng tựa rừng sương.

Trượng phu trên bến là ai đó ?

Có thẹn ḷng bao nỗi vấn vương.

Thơ Lê Anh Tuấn, Nhất Uyên dịch thơ; Nguyên tác phiên âm Hán Việt

ĐĂNG HOÀNG HẠC LÂU VỌNG HÁN DƯƠNG THỤ

Dực Chẩn danh phong chí Hán Dương,

Tứ hoàn cảnh sắc nhập b́nh chương.

Yên ba hạo diểu sầu nhân tứ,

Phong nguyệt chiêu yêu túy khách thương.

Già ngạn mạc liêm hoành cổ thụ,

Mê tân lâm mộc thụ phong tường.

Cư tân thùy thị trượng nhân giả,

Tu thuyết cơ tâm cứu thượng hương.

Ngô Thời Vị (1774-1821): Đi sứ đời vua Gia Long  làm Phó sứ năm 1807, và Chánh sứ năm 1821, thay thế Nguyễn Du mới mất. Năm 1807 ông viết: Bức thành bên sông Hán Thủy, dưới bóng cây và bóng mây mùa thu lờ mờ. Người tiên không thấy đâu, chỉ thấy mái lầu trơ trọi. C̣n hạc vàng ở bên trời bao giờ trở lại ? H́nh như ḍng sông phó mặc cho đàn âu trắng bơi lội. Nhà thơ Lư Bạch chưa chịu thua ai vè bút lực bao giờ sao lại chùn bút. Nhà thơ Thôi Hiệu sao lạ cảnh, chạnh ḷng nhớ quê buồn rầu thế ? Sứ thần nước Việt Nam là Ngô Thời Vị, chẳng sợ đề thơ kỷ niệm cuộc chơi hôm nay.

ĐỀ LẦU HOÀNG HẠC (Ngô Thời Vị)

Sông Hán bên thành rợp lá mây,

Người tiên không thấy, thấy lầu đây.

Hạc vàng đi măi bao giờ lại ?

Âu trắng dành riêng dăi nước đầy.

Lư bá cớ chi chùn bút vội ?

Thôi  quân sao lại nhớ quê ngay ?

Sứ thần nước Việt: Ngô Thời Vị,

Chẳng sợ làm thơ viếng cảnh này.

Thơ Ngô Thời Vị, Nhất Uyên dịch thơ; Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

ĐỀ HOÀNG HẠC LÂU

Hán thủy thành biên vân thụ thụ,

Tiên nhân bất kiến, chỉ không lâu.

Hà thời tiên tế lai hoàng hạc,

Đề ư giang trung phó bạch âu.

Lư bá vị ưng thâu bút lực,

Thôi quân bất hợp tác tương sầu.

Việt Nam sứ giả Ngô Thời Vị,

Đấu đảm đề thi kư thử du.

Phan Thanh Giản, Chánh sứ năm 1834, năm Minh Mệnh thứ 14 viết: Hạc vàng đă khuất đến nay bao nhiêu năm. Nay có người vùng cực Nam đến thăm. Phan Thanh Giản xác định ḿnh là người đất Nam Kỳ, vùng cực Nam xa xôi nhất đến thăm  Hoàng Hạc Lâu. Băi  Anh Vũ trước mặt vẫn xanh cỏ thơm.  Trên gác T́nh Xuyên đám mây trắng lững lơ che bóng mát. Vén nửa bức rèm thấy mặt trời lặn như trôi trên sông Hán. Câu thơ tuyệt đẹp. Đầy mắt khói sóng mênh mông làm cho ḷng cảm xúc. Câu kết: Du du trần mộng thập thu tâm. Nhặt chút ḷng thu giấc mộng trần. Phan Thanh Giản chơi chữ thật thú vị : dùng chữ thu tâm  chữ Hán hai chữ viết chung lại  thành chữ sầu để nhắc đến chữ sầu trong thơ Thôi Hiệu.

 

Danh sĩ Phan Thanh Giản là người đậu Tiến sĩ khai khoa ở Nam bộ,
sứ Trung quốc năm 1834, cầm đầu phái bộ đi Pháp năm 1863,

link: https://vi.wikipedia.org/wiki/Phan_Thanh_Gi%E1%BA%A3n

 

LÊN LẦU HOÀNG HẠC (Phan Thanh Giản)

Hạc vàng xưa khuất đă bao năm,

Từ góc trời Nam người đến thăm.

Anh Vũ trước bờ xanh cỏ mượt,

T́nh Xuyên gác lững trắng mây râm,

Nửa mành trời lặn trôi  Giang Hán,

Một dăi sông dài xuyên cổ kim.

Khói sóng mênh mông ḷng cảm xúc

Nhặt chút ḷng thu giấc mộng trần.

Thơ Phan Thanh Giản. Nhất Uyên dịch thơ; Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

HOÀNG HẠC LÂU

Tích thời hạc dĩ hà niên khứ,

Thiên tải nhân ṭng nam cực lân.

Anh Vũ châu tiền phong thảo lục,

T́nh Xuyên gác thượng bạch vân thâm.

Bán liêm lạc nhật phù Giang Hán,

Nhất phiến hàn lưu tống cổ câm (kim)

Măn mục yên ba chuyễn trù trướng,

Du du trần mộng thập thu tâm.

Thơ ngâm vịnh Hoàng Hạc Lâu tạm dừng nơi đây, c̣n rất nhiều bài thơ Hoàng Hạc Lâu  của các sứ thần khác, như Hồ Sĩ Đống tôi chưa đọc được. Điều này chứng tỏ các sứ thần Việt Nam không hề sợ thơ Thôi Hiệu, mỗi người  một vẽ, hăng hái làm thơ vịnh lầu Hoàng Hạc, xin nhường lại cho bạn đọc thưởng thức và b́nh luận những bài thơ hay nhất về Hoàng Hạc Lâu của các bậc thi hào, khoa bảng Việt Nam.

 

Paris 6-11-2015

Nhất Uyên Phạm Trọng Chánh

             

Tác giả: Hồ Xuân Hương nàng là ai ? Khuê Văn 2000 ;  Nguyễn Du , Mười năm gió bụi và mối t́nh Hồ Xuân Hương,  Khuê Văn Paris 2010; Truyện Thơ Odyssée qua 12110 câu thơ lục bát, Khuê Văn 2005; Sử Thi Iliade qua 16933 câu thơ lục bát, Khuê Văn 2009; Tự điển t́nh yêu bằng thơ t́nh Xuân Diệu, Khuê Văn 201; Giáo Dục Việt Nam thời Pháp thuộc (1940-1945) Paris 1976; Giáo Dục Miền Nam Việt Nam 1954-1975, Paris 1980; Thơ t́nh Nhất Uyên (Huy Cận, Xuân Diệu đề tựa), Paris, 1996; Công cha như núi Trường Sơn 1975. Cánh chim từ vùng lửa đỏ (thơ nhạc với Tốn Thất Lập) HSVST 1974; Bóng thời gian, Thời gian ta măi măi c̣n xanh (với Nguyễn Đăng Hưng Liège 1972); Chiêm Bao Trắng, Thơ Sàigon 1969.

 


 

 


 

 

Mời đọc những bài viết khác của cùng tác giả :

 

Nguyễn Du qua đ́nh Tô Tần - TS. Phạm Trọng Chánh

Nguyễn Du có hai bài thơ viết về   đ́nh Tô Tần  khi đi qua cố kinh  Lạc Dương, nơi quê hương Tô Tần. Lạc Dương là một trong 4 kinh ...

 

 

Nguyễn Du trên quê hương Khuất Nguyên - TS.Phạm Trọng Chánh

Khi đi qua Trung quốc, Nguyễn Du đă nhiều lần đến nước Sở, quê hương  Khuất Nguyên:  Năm 1788- 1790 trong thời  tuổi trẻ đi giang hồ Trung Quốc  lượt ...

 

Nguyễn Du trên quê hương Đỗ Phủ - TS.Phạm Trọng Chánh

Đỗ Phủ (712-770)  thời nhà Đường, sống trong thời đại loạn An Lộc Sơn  trong 8 năm, làm tiêu hao 2/3 dân số Trung Quốc. Năm 755 nước này có ...

 

Nguyễn Du đi sứ trên quê hương Lư Bạch - TS.Phạm Trọng Chánh

Nguyễn Du lấy bút hiệu là Thanh Hiên, kết hợp từ chữ Thanh, bút hiệu Thanh Liên của thi hào Lư Bạch (701-762), và chữ Hiên thường dùng của gia ...

 

Đi theo hành tŕnh “Bắc hành tạp lục” của Nguyễn Du - TS.Phạm Trọng Chánh

Đọc “Bắc Hành Tạp Lục” nhiều nhà nghiên cứu có cảm giác Nguyễn Du rất cô đơn trước cảnh sắc và  con người tại Trung Quốc. TS Nguyễn Thị Nương ...

Tưởng nhớ Giáo sư Trần Văn Khê - TS.Phạm Trọng Chánh

Thuở thư sinh lên đường du học Âu Châu  năm 1970, túi đàn cặp sách, tuổi hai mươi : «  cầm kỳ thi họa đủ mùi ca ngâm », hành trang tôi ...

Mối t́nh “ông vua thơ Nôm” Lê Thánh Tông và Trường-Lạc hoàng hậu - TS.Phạm Trọng Chánh

Phạm Đ́nh Hổ trong Tang thương ngẫu lục quyển II,  tr 232 có chép chuyện vua Lê Thánh Tông và Trường Lạc Hoàng Hậu, một chuyện t́nh tuyệt đẹp, giữa ...

Kỷ niệm với Họa Sư LÊ BÁ ĐẢNG (1921-2015) - Ts Phạm Trọng Chánh

Những năm 1973-1976, đến Paris  tôi bắt đầu công việc sinh viên, vừa làm vừa học, là kư tên và đánh số giùm tranh litho cho  Họa sĩ Lê Bá ...

Hồ Sĩ Đống (1739-1785) - bậc thầy thi ca thời Lê trung hưng - TS. Phạm Trọng Chánh

Hồ Sĩ Đống được Phạm Đ́nh Hổ trong Vũ Trung tùy bút, bài Thi ca kể tên cùng Nguyễn Tông Khuê, Nguyễn Huy Oánh là ba bậc thầy phục hưng ...

 Đọc bài “Về cuốn sách Lịch Sử Việt Nam được cho là kiệt tác sử học” - TS Phạm Trọng Chánh.

Nhân đọc bài : Về cuốn sách được cho là kiệt tác sử học của ông Tiến Anh Hồng Quang đăng trên Nhân Dân Điện tử thứ năm 27-1-2014. Bài viết có nhiều hiểu lầm; Giáo sư Lê Thành Khôi nay đă lớn tuổi 93 tuổi, chẳng phải bận rộn với bài viết nhỏ mọn này, là môn sinh Giáo sư Lê Thành Khôi tôi xin thay mặt Giáo sư trả lời các điểm thắc mắc của ông Tiến Anh Hồng Quang.

Nguyễn Tông Khuê - bậc thầy thi ca đời Lê Trung Hưng - TS. Phạm Trọng Chánh

Phạm Đ́nh Hổ trong Vũ Trung Tùy Bút có nói đến ba nhà thơ lớn, ba bậc thầy thi ca thời Lê Trung Hưng : Nguyễn Tông Khuê (1693-1767), Nguyễn Huy ...

GS.Lê Thành Khôi & lịch sử Việt Nam - TS.Phạm Trọng Chánh

Cuối tháng 8-2014  Nhà Xuất bản Thế Giới Hà Nội cho ra mắt quyển  « Lịch Sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XX » của Giáo Sư Lê Thành ...

Đọc sách : "Đạo Cao Đài và Victor Hugo" của TS.Trần Thu Dung - TS.Phạm Trọng Chánh

Victor Hugo là một nhà văn lớn, nhà chính trị Cộng ḥa  Pháp, chống lại Đế Chế Napoléon III, từng phải lưu vong xa nước 17 năm. Ông qua đời ...

Patrick Modiano giải Nobel văn chương 2014 - TS.Phạm Trọng Chánh

Sinh ngày 30-7-1945 tại Boulogne Billancourt, ngoại ô Paris, tác giả hơn 30 quyển tiểu thuyết, truyện phim, giải thưởng Văn Chương Hàn Lâm Viện Pháp, giải thưởng Goncourt, tác ...

Hồ Xuân Hương đi buôn (1807-1811) : “mẹ già nhà túng, ăn ở không yên ổn” - TS. Phạm Trọng Chánh

Trong bài tựa Lưu Hương Kư, Tốn Phong viết:  “ Từ đó  (sau lần đến thăm xuân 1807) có những lúc tôi phải vào Nam, ra Bắc, không thể cùng ...

Nguyễn Du : Ra Bắc 1796, t́nh duyên tan vỡ - Ts.Phạm Ttrọng Chánh

Nguyễn Du cho rằng việc vào Nam từ năm 1794 đến 1796 là hoài công, vô ích. Và mong rằng việc ra Bắc năm 1796 sẽ làm nên việc.  Sau ...

Đọc sách : Nguyễn Du trên đường gió bụi của Hoàng Khôi - Nhà Xuất bản Văn Học. Hà Nội- 2013 - Ts.Phạm Trọng Chánh

Có ǵ vui hơn, khi những thành quả nghiên cứu văn học của ḿnh được bè bạn Hội Kiều Học trong nước hưởng ứng viết thành tiểu thuyết.  Nhận được ...

 Hồ Xuân Hương cô hàng bán sách phố Nam thành Thăng Long (1804-1807) - TS. Phạm Trọng Chánh

Khoảng 10 năm trước năm 1813 Tốn Phong đă đến thăm  Xuân Hương Hồ Phi Mai tại hiệu sách Xuân Hương, Phố Nam thành Thăng Long, thuở ấy nàng ở ...

Nguyễn Du : những mỹ nhân trên đường mười năm gió bụi (1786-1796) - TS. Phạm Trọng Chánh

Sau ba năm đi giang hồ Trung Quốc, Nguyễn Du trở về ở tại Thăng Long từ cuối năm 1790 cho đến năm 1794. Đó là ba năm « Chữ t́nh ... 

Nguyễn Du gặp Đoàn Nguyễn Tuấn, sứ đoàn Tây Sơn tại Hoàng Châu 1790 - TS. Phạm Trọng Chánh

Nguyễn Du sau khi đậu Tam Trường (1783) ở Trường thi Sơn Nam lúc 17 tuổi, được anh là Nguyễn Khản, Thượng Thư Bộ Lại kiêm Trấn thủ Hưng Hóa, ...

Nguyễn Du : nhà sư Chí Hiên “Giang Bắc, Giang Nam túi tiền không” (1788-1790) 
TS. Phạm Trọng Chánh

Nguyễn Du, mang danh hiệu Chí Hiên, danh hiệu Nguyễn Du dùng cho đến năm 1796, kư tên hai bài thơ  tặng Hồ Xuân Hương, lưu lại trong Lưu Hương ...

Nguyễn Du chia tay Nguyễn Đại Lang, Nguyễn Sĩ Hữu tại Liễu Châu 1788 - TS. Phạm Trọng Chánh

Nguyễn Du gọi cuộc đời từ 20 đến 30 tuổi của ḿnh là « 10 năm gió bụi » (1786-1796), gia phả và sách vở giáo khoa trăm năm qua  lại viết ...

Nguyễn Du từ Thái Nguyên sang Vân Nam cuối năm 1787 - TS. Phạm Trọng Chánh

Bao nhiêu năm nghiên cứu về Nguyễn Du, chúng ta đă biết hết cuộc đời Nguyễn Du chưa ?  Nguyễn Du có quyển Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm .

Dịch chương “Nhă Ca”, một dâm thơ trong Cựu ước - TS. Phạm Trọng Chánh

“Nhă Ca”  (CANTIQUES) là một tác phẩm văn chương cổ đại của dân tộc Do Thái, cách chúng ta khoảng 630 năm trước Tây lịch. Một áng văn chương trữ ...

Đọc Lưu Hương Kư của Hồ Xuân Hương - TS. Phạm Trọng Chánh

Giữa thời điểm các nhà sách hải ngoại thi nhau đóng cửa, người đọc tiếng Việt ngày càng thưa thớt, tác giả gửi sách đi cho các nhà sách, không

Hồ Xuân Hương và quan Hiệp Trấn Sơn Nam Thượng Trần Ngọc Quán - Phạm Trọng Chánh

Trần Ngọc Quán quê Nghệ An, trước làm quan Cai Bạ doanh Quảng Đức (Chức vụ đứng đầu một doanh, tỉnh Thừa Thiên ngày sau). Tháng 2 năm Ất ..

Hồ Xuân Hương và Phật giáo - TS. Phạm Trọng Chánh

Điều nghịch lư trong thơ truyền khẩu gán cho Hồ Xuân Hương là Xuân Hương thường đi chùa, cuối đời có đi tu một thời gian, nhưng trong thơ lại ...

* Đối thoại: Sở tri chướng và kinh tế thị trường – Phạm Trọng Chánh, Ph.D., Paris, Pháp,  
              Link :
http://giaodiemonline.com/baiup/DTGH(3).htm