NGUYỄN DU TRÊN QUÊ HƯƠNG KHUẤT NGUYÊN

 

TS. Phạm Trọng Chánh

 

 

Khi đi qua Trung quốc, Nguyễn Du đă nhiều lần đến nước Sở, quê hương  Khuất Nguyên:  Năm 1788- 1790 trong thời  tuổi trẻ đi giang hồ Trung Quốc  lượt đi và về  và  năm 1813-1814 khi làm Chánh Sứ sang Bắc Kinh lượt đi và về đều đi  theo sông Tương từ Quảng Tây  qua  Động Đ́nh Hồ đến Hán Dương và ngược lại.

Khuất Nguyên sống thời Chiến Quốc (390-278 trước Công nguyên) khi 12 nước lớn thời Xuân Thu đă hợp thành 7 nước lớn, tranh chấp quyền bính nhằm thống nhất Trung Quốc. Nước Sở của Khuất Nguyên, từng là một xứ sở hùng mạnh đang bước vào thời kỳ suy vong. Khuất Nguyên nhà tư tưởng  và chính trị lớn đương thời được Sở Hoài Vương trọng dụng phong làm Tả  Đồ, một chức quan thân cận với nhà vua nắm quyền Thủ Tướng, nhưng các chủ trương cải cách chính trị ông ngày một mâu thuẩn với quyền lợi các quan đại thần trong triều : Thượng quan đại phu Cần Thương, Lệnh doăn Tử Lan, Tư mă Tử Tiêu, Nam Hoàng hậu của Hoài Vương Trịnh Tụ… lập mưu dèm pha Khuất Nguyên hiểm độc.  Vua Sở Hoài Vương ngu muội và bất lực dần dần xa lánh Khuất Nguyên, thậm chí c̣n bắt ông đi đày.

 

Khuất Nguyên

link: https://vi.wikipedia.org/wiki/Khu%E1%BA%A5t_Nguy%C3%AAn

 

Trải qua 20 năm phiêu bạt, Khuất Nguyên vẫn trung thành với lư tưởng của ḿnh, không khoan nhượng, thoả hiệp với  gian thần. Ông cũng không rời xa tổ quốc nước Sở, ngược lại ông ngày càng tha thiết với nguyện vọng, nỗi  khổ nhân dân. Thi ca ông thoát lên tận đáy ḷng, nỗi khổ đau của đất nước và nỗi bất hạnh của ḿnh, nh́n đất nước ngày một suy sụp lụn bại. Từ khi bị triều đ́nh ruồng bỏ ông viết  Ly tao, Cửu chương, Cửu ca, Thiên vấn… Những vần thơ hùng tráng tuyệt tác Ly tao dài 373 câu, 2473 chữ là thiên trường ca đầu tiên lớn nhất trong lịch sử văn học Trung Quốc. Ly Tao là tác phẩm tiêu biểu của Khuất Nguyên. Ban Cố đời Hán giải thích : Ly là gặp phải, Tao là lo âu. Tư Mă Thiên cũng nói Ly Tao là ly ưu. Thơ Ly Tao mở đầu cho loại Sở từ cho các tác giả nối theo Khuất Nguyên như Tống Ngọc, Cảnh Sai, Đường Lặc… Nếu Khuất Nguyên không bị đi đày th́ ông sẽ không viết thơ Ly tao nối theo Kinh Thi, Quốc phong thời Xuân Thu do Khổng Tử san định.  Mă Mậu Nguyên gọi đây là ngọn hải đăng rực rỡ rọi sáng con đường phát triển thi ca Trung Quốc hai ngàn năm nay. Vua Sở Hoài Vương bị nhà  Tần dụ dỗ bắt làm tù binh, chết trong nhà tù nước Tần. Con trai Sở Hoài Vương là Khoảnh Tương Vương kế vị lại c̣n ngu muội hơn cha, năm 278 trước Công nguyên, đại tướng Bạch Khởi nhà Tần chỉ huy  công phá Sính đô, kinh thành nước Sở, thiêu hủy lăng mộ các triều đại nước Sở,  cơ đồ nước Sở hoàn toàn sụp đổ. Lúc này  Khuất Nguyên 62 tuổi, trước quang cảnh đất nước điêu linh, ông trút niềm uất hận vào bài Ai sinh và trước khi chết lại viết Hoài sa.

Ngày mùng năm tháng năm 278 trước Công nguyên nhà thơ Khuất Nguyên tự vẫn, cột  đá  trầm ḿnh trên ḍng sông Mịch La  thuộc tỉnh Hồ Nam vào giữa trưa giờ ngọ. Từ đó nhân dân tết Đoan ngọ mùng 5 tháng 5, dân chúng có phong tục  bơi thuyền rồng trên sông, ném bánh gói lá xuống sông mong giao long ăn bánh mà chớ rỉa xác Khuất Nguyên. Khuất Nguyên được xem là thủy tổ của văn học chữ Hán. Ly Tao trở thành tiếng gọi chung của thi ca. Khuất Nguyên được tôn vinh là nhà văn lớn nhất trong 10 nhà văn lớn Trung Quốc.  Năm 1953 kỷ niệm 2230 ngày mất Khuất Nguyên, Hội Đồng Ḥa B́nh Thế Giới đă thông qua quyết nghị xác định Khuất Nguyên là Nhân Vật Văn Hóa Thế Giới và kỷ niệm ông.

 

Khuất Nguyên

 

Link: http://vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/
nhung-goc-nhin-van-hoa/khuat-nguyen-va-su-tich-tet-doan-ngo

 

* * *

 

Nguyễn Du có nhiều bài thơ nhắc đến Khuất Nguyên. Trong Bắc Hành tạp lục có các bài :

Tương Đàm điếu Tam Lư Đại Phu (2 bài)

Tương Âm dạ

Phản Chiêu Hồn

Bác Giả Nghị

Trường Sa Giả Thái phó

Ngũ nguyệt quan cạnh độ

Thương Ngô crúc chi ca.

 

NGUYỄN DU ĐẾN TƯƠNG ĐÀM VIẾNG TAM LƯ ĐẠI PHU

Nguyễn Du đến huyện Tương Đàm thuộc tỉnh Hồ Nam thời đi giang hồ năm 1789 vào tháng 5, lúc có đua thuyền kỷ niệm tết Đoan Ngọ và lúc đi sứ năm 1813 lại  qua đây vào tháng 7, bài thơ Đến Tương Đàm viếng Tam Lư Đại Phu  có câu: Chỉ thấy gió thu thổi  lá rụng trên sông Nguyên Tương, chứng tỏ bài thơ này làm vào mùa thu lúc đi sứ năm 1813. Nơi đây Nguyễn Du làm thơ điếu Khuất Nguyên. Tam Lư Đại Phu, chức chưởng quản các quan thuộc vương tộc nước Sở (họ Cảnh, họ Chiêu, họ Khuất). Khuất Nguyên cũng là người của vương tộc nưóc Sở:  Khuất Nguyên là bậc hiền lương, hiếu tu nhân, người sửa sang các đức tính tốt. Đă hai ngh́n năm bậc hiền lương đă qua đời. Đất này c̣n thoang thoảng mùi hoa lan, hoa chỉ. Bị đuổi xa tổ quốc ba năm đau buồn. Muôn đời Sở Từ của ông vẫn là áng văn chương tuyệt tác. Trên sông đầy cá rồng, nắm xương tàn không c̣n nữa. Bên băi cỏ sông cḥm đỗ nhược có thêm những giống hoa thơm. Nh́n hết tầm mắt đau ḷng v́ chẳng biết dấu tích cũ nơi nào. Chỉ thấy gió thu thổi lá rụng trên sông Nguyên Tương. Hồn oan người nước Sở chôn vùi tại chốn này đây. Trông vời khói sóng mênh mông, chẳng biết bờ bến. Ví ông được vua Sở Hoài Vương tiếp tục trọng dụng ban hiến lệnh trong thiên hạ. Th́ làm ǵ có tác phẩm Ly Tao của ông nối tiếp Kinh Thi. Ngh́n xưa có ai thương người tỉnh táo. Bốn phương có chốn nào gửi ḷng cô trung. Đời nay trang phục ham điều lạ, có đeo hoa tiêu, hoa lan nhưng chẳng  giống ông chút nào.

ĐẾN TƯƠNG ĐÀM VIẾNG TAM  LƯ ĐẠI PHU

I

Hai ngh́n năm khuất bậc hiền nhân,

Thoang thoảng nơi  này hương chỉ lan.

Tổ quốc  ba năm buồn bị đuổi,

Sở từ vạn thuở tiếng văn chương.

Cá rồng sông đó xương tàn mất

Đỗ nhược bên bờ cỏ vẫn thơm.

Hút mắt ḷng đau nhà chẳng thấy

Gió thu lá rụng vượt Nguyên Tương.

 

I I

Nước Sở hồn oan tán giữa ḍng,

Mắt ṃn trông khói sóng mênh mông.

Ví ban được lệnh trong thiên hạ,

Nào có Ly tao nối Quốc phong ?

Ngh́n  thuở  ai  thương người  một tỉnh.

Bốn phương ai gửi nỗi ḷng trong.

Đời nay trang phục ham điều lạ

Đeo một cành lan chẳng giống cùng.

Nhất Uyên dịch thơ; Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

 

TƯƠNG ĐÀM ĐIẾU TAM LƯ ĐẠI PHU

I

Hiếu tu nhân khứ nhị thiên tải,

Thử địa do văn lan chỉ hương.

Tông quốc tam niên bi phóng trục,

Sở từ vạn cổ thiện văn chương.

Ngư long giang thượng vô tàn cốt,

Đỗ nhược châu biên hữu chúng phương.

Cực mục thương tâm hà xứ thị,

Thu phong lạc mộc quá Nguyên Tương.

I I

Sở quốc oan hồn tán thử trung,

Yên ba nhất vọng diểu hà cùng.

Trực giao hiến lệnh hành thiên hạ,

Hà hữu Ly tao kế Quốc phong ?

Thiên cổ thùy nhân liên độc tỉnh,

Tứ phương hà xứ thác cô trung ?

Cận thời mỗi hiếu vi kỳ phục,

Sở bội tiêu lan cánh bất đồng.

 

Sông Tương, chi nhánh chính của sông Trường Giang (Dương Tử) dài  856 km phát nguồn từ  Lâm Quư huyện Hưng An tỉnh Quảng Tây, chảy về phía bắc đến huyện Linh Lăng, tỉnh Hồ Nam, có sông Tiêu, chảy vào nên gọi là sông Tiêu Tương, chảy về đông bắc hợp với sông Chung ( Liên Thủy), ở huyện Hành Dương thành sông Chung Tương, lại chảy về  bắc, khúc hạ lưu hợp với sông Nguyên mà thành sông Nguyên Tương, chảy ra  Hồ Động Đ́nh cả ba gọi là Tam Tương. Sông Tương là con đường thủy tiện lợi đi từ Quảng Tây đến Hồ Động Đ́nh vào Trường Giang.  Kinh Thi có câu: Quân tại Tương giang đầu,Thiếp tại Tương giang vĩ, Tương giang bất tương kiến, Đồng ẩm Tương giang thủy. Chàng ở đầu sông Tương, Thiếp ở cuối sông Tương, Sông Tương không gặp mặt, Cùng uống nước sông Tương. Sông Tương là nguồn cảm hứng cho nhiều thi ca Trung Quốc và Việt Nam.  Có nhiều thành phố lớn trên con đường này: Toàn Châu, Vĩnh Châu, Lỗi Châu, Hành Dương, Trường Sa, Tương Âm, Nhạc Dương, Vũ Hán… Các sứ đoàn Việt Nam triều cống thường dùng con sông này đi một mạch vào Hồ Động Đ́nh rồi lại theo đường  sông Trường Giang (sông Dương Tử) đến sông Giang Hán, nếu đi Tràng An th́ ngược  sông Hán. Chảy qua Thành phố  Vũ Hán thủ phủ tỉnh Hồ Bắc ( ngày nay hơn 9 triệu dân) Sông Dương Tử và sông Hán, chia thành phố làm 3 khu: Vũ Xương, Hán Khẩu, Hán Dương, nơi đây có Hoàng Hạc Lâu.

Ngày xưa chưa có xây cầu, đi đường thủy tiện lợi, khỏi chuyển vận đồ cống phẩm xuống sông đi thuyền rồi lại lên xe ngựa, mỗi lần qua sông là mất cả ngày. Đi xuôi ḍng sông Tương, chèo  và buồm đi  theo ḍng nước, nhưng đi ngược ḍng th́ chèo vất vả, đó là lư do ngày xưa đi sứ từ Nam Quan, ở lại Bắc Kinh chỉ 20 ngày mà  Nguyễn Du mất  12 tháng rưỡi.  Đi đường  Bắc Kinh từ  Vũ Hán phải đi đường bộ phải qua sông Hoàng Hà, sông Dịch Thủy... Hoặc phải đi xuôi ḍng sông Hán bắt đường Kênh Đại Vận Hà từ Hàng Châu đến  Thiên Tân, Bắc Kinh thủy tŕnh dài 1800 km. Trên sông Tương và kênh Đại Vận Hà từ thế kỷ thứ 5, thuyền buôn tấp nập. Khi đi giang hồ Nguyễn Du đă  thành nhà sư Chí  Hiên, đội mũ vàng đi nhờ các thuyền buôn : Giang Nam, Giang Bắc  nhất nang không Giang Bắc, Giang Nam  một túi không;  Lữ  thực giang tân hựu hải  tân, Hết  ở  ăn nhờ  biển đến sông; Vạn lư hoàng quan tương mộ cảnh, Muôn dậm mũ vàng chiều nắng xế (bài Mạn Hứng). Đến nơi có chùa, thắng cảnh Nguyễn Du xin vào trú tạm và tụng Kinh Kim Cương làm công quả để được bữa ăn rau đậu nhà chùa. Ngă độc Kim Cương thiên biến linh. Tôi tụng Kinh Kim Cương ngh́n lượt.  (bài Phân Kinh thạch đài) Mỗi ngày tụng một lần Nguyễn Du đă tụng kinh Kim Cương trong ba năm.

Bài Tương Âm dạ: Đêm ở Tương Âm, một huyện thuộc tỉnh Hà Nam quảng sông Tương này gần với sông Mịch La nơi Khuất Nguyên trầm ḿnh, Nguyễn Du nhớ đến Khuất Nguyên:  Đầy mắt toàn là sắc thu, khắp sông nơi nào cũng ánh trăng sáng. Đêm nay vời trông khung cảnh hiu quạnh. Chạnh nhớ Khuất Nguyên người xưa bị giáng chức lưu đày. Nước thu từ phía Tây đổ lại. Mênh mang thông với Hồ Động Đ́nh. Đêm yên tỉnh thôi đừng ngâm nga nữa, chớ làm cho loài giao long kiếp sợ nhốn nháo khiến cho hồn Khuất Nguyên không yên được.

ĐÊM Ở TƯƠNG ÂM

Sắc thu đầy đôi mắt,

Khắp sông ánh trăng đầy.

Đêm quạnh hiu cảnh vắng,

Nhớ người xưa lưu đày.

Nước thu hướng Tây đến,

Mênh mang thông Động Đ́nh.

Đêm quạnh đừng ngâm nữa,

Kẻo kinh hồn giao long.

Nhất Uyên dịch thơ; Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

TƯƠNG ÂM DẠ

Măn mục giai thu sắc,

Măn gian giai nguyệt minh.

Tịch liêu kim dạ vọng,

Thiên trích cổ nhân t́nh.

Thu thủy ṭng tây lai,

Mang nhiên thông Động Đ́nh.

Tỉnh dạ túc ngâm khiếu,

Vô sử giao long kinh.

*  *  *

 

NGUYỄN DU  BÁC BÀI CHIÊU HỒN  CỦA TỐNG NGỌC

Tống Ngọc  là  học tṛ Khuất Nguyên người nước  Sở thời  Chiến Quốc,  đẹp trai, lăng mạn và đa t́nh viết: Chiêu hồn, Đại chiêu, Cửu biện, Đang đồ tử hiếu, Sắc phú, Cao đường phú. Trong Kiều có câu Sớm đưa Tống Ngọc sớm t́m Tràng Khanh. Tràng Khanh là Tư Mă Tương Như. Tương truyền một lần vua Sở hỏi Tống Ngọc: “ Tiên sinh hẳn có khuyết điểm trong tính hạnh nên trong nước không mấy người khen, phải thế chăng ?”.  Tống Ngọc đáp: -“ Trong nước không có ai khen, hạ thần  thực lấy làm vẻ vang.  Khi xưa ở kinh đô có một nhà ca nhạc trứ danh (Sư Khoáng). Buổi đầu hát “Hạ lư bá nhân” cả thiên hạ đều nức nở khen hay. Rồi đến khúc “Dương a hệ lộ” th́ người khen chỉ c̣n vài trăm.  Lại hát khúc “Dương xuân bạch tuyết” th́ chỉ c̣n mười người bằng ḷng. V́ khúc hát càng hay, người hiểu càng ít. Chim phụng hoàng giương cánh bay chín tầng mây, dọc ngang trong cơi mênh mông vô tận, chim én đậu ở hàng rào, không cùng đi không biết đất trời rộng thế nào nên chê chim phụng là ăn nói lung tung. Cá côn dậy sớm ở Côn Lôn, trưa nằm vườn non Kiệt Thạch, tối bơi tới biển Mạnh Trư. Cá chép ở chốn ao tù không cùng cá côn biết sông biển rộng lớn thế nào nên chê cá côn là hiếu sự. Người tài, tư tưởng càng cao, tính hạnh càng quư, th́ càng ít người biết đến. Cho nên lời chê trong thiên hạ, hạ thần xin nhận và mong thiên hạ ngày càng chê thêm măi lên.”

Chiêu hồn là một bài từ của Tống Ngọc, làm để viếng Khuất Nguyên. Trong bài tựa có nói Tống Ngọc thương Khuất Nguyên hồn phách sắp tiêu tan, nên làm bài Chiêu Hồn để gọi  hồn về.

            “Hồn hỡi hồn về đây đừng ra bể Đông.

            Ở đó hàng chục mặt trời làm chảy đá, chảy kim loại.

            Hồn sẽ tiêu tan thành nước, đừng tin cậy vùng đó.

            Hồn hỡi hồn về đây, đừng đi về hướng Tây.

            Cát mềm ngàn dậm sa mạc mênh mông.

            Ngũ cốc không mọc, sông hồ cạn queo.

            Hồn sẽ bị đốt chóng khô, nên tránh hướng đó.

            Hồn hỡi hồn về đây đừng lên miền Bắc,

            Băng giá như núi, tuyết phủ ngàn dậm,

            Hồn hỡi hồn về đây đừng xuống phương Nam,

            Đó là xứ rắn măng xà vương khổng lồ,

            Bọn xâm trán, bọn răng đen sẽ ăn thịt,

            Hồn để cúng tế, nấu xương hồn làm canh.”

 

Nguyễn Du từ xứ ” Nam Di ”,  nơi   “  xâm ḿnh, và  ăn trầu, răng đen, giết người hồn để cúng tế, nấu xương làm canh ?”  đọc bài phú Tống Ngọc hẵn phải bật cười. Nguyễn Du làm bài Phản Chiêu Hồn để bác lại bài của Tống Ngọc, khuyên hồn Khuất Nguyên không nên trở về cơi trần đầy kẻ gian ác. Người đời sau đầy Thượng Quan, đâu cũng là sông Mịch La.  Nguyễn Du viết : Hồn ơi hồn, sao hồn không về.  Đông, Tây, Nam, Bắc không có nơi nào nương tựa. Lên trời xuống đất đều không được. C̣n trở về thành Yên, thành Dĩnh (hay Sính) để làm ǵ !  Thành quách vẫn như cũ nhưng nhân dân đă khác rồi. Bụi cuốn mịt mù bẩn cả quần áo. Khi đi ra đường th́ giong ruổi xe, khi ngồi trong nhà th́ vênh váo. Họ đứng ngồi bàn tán như ông Cao, ông Qú . Cao Dao và Qú hai vị hiền thần đời vua  Ngu Thuấn. Họ che giấu nanh vuốt và nọc độc. Nhưng cắn xé người ngọt xớt như đường. Hồn không thấy mấy trăm châu ở Hồ Nam đó sao ? Chỉ có những người gầy g̣ không ai béo tốt. Hồn ơi hồn ơi nếu cứ theo đường đó. Th́ sau Tam Hoàng (Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế) ba vị vua cổ nhất Trung Quốc không c̣n hợp thời nữa. Hăy sớm thu tinh thần trở lại cơi Thái Cực, cơi cùng cực vũ trụ bao la. Đừng trở về đây nữa mà người ta mai mỉa. Đời sau người  đời đều là Thượng Quan. Quan Ngân Thượng kẻ dèm pha Sở Hoài Vương dèm bỏ Khuất Nguyên. Mặt đất này đâu đâu cũng là sông Mịch La. Cá rồng chẳng nuốt, th́ hùm sói cũng ăn. Hồn ơi, hồn ơi, hồn làm thế nào ?

Bài này Nguyễn Du làm lúc đi giang hồ năm 22 tuổi, nhà thơ mang tâm sự đi xa Thăng Long, không nơi nương tựa,  chưa muốn về chốn cũ, v́ chưa biết tin anh Nguyễn Nể. Cảnh và người  từ sau khi nhà Lê, Trịnh sụp đỗ năm 1786 đă đổi khác. Hai anh Nguyễn Khản, Nguyễn Điều mất. Nguyễn Hữu Chỉnh dẫn quân Tây Sơn về một thời làm mưa làm gió, bị Vũ Văn Nhậm phanh thây. Nguyễn Du sau khởi nghĩa cùng Nguyễn Đăng Tiến tại Tư Nông, Thái Nguyên  thất bại, được tướng Tây Sơn Vũ Văn Nhậm tha  chết,  đi Vân Nam rồi đi giang hồ Trung Quốc.. T́nh h́nh Trung Quốc cũng chẳng yên.  Do cuộc chiến tranh, để cung ứng  gần 300 ngàn quân Tôn Sĩ Nghị, dân chúng Trung Quốc phải đóng góp thóc lúa, nuôi ngựa, nuôi  lính viễn chinh, nên đời sống cơ cực nghèo đói gầy g̣, phả iăn phân nửa cám, không ai béo tốt. Thời thế trong giai đoạn này từ Việt Nam sang đến Trung Quốc, Nguyễn Du thấy đâu đâu cũng là sông Mịch La.  Khi làm quan dưới triều Gia Long thời thế đă ổn định, kỷ cương, Nguyễn Du ra làm quan thăng tiến nhanh chóng, được trọng dụng,  Nguyễn Du  hẳn sẽ không  viết : thấy mặt đất nào đâu đâu cũng là sông Mịch La.

PHẢN CHIÊU HỒN

Sao không về hỡi hồn ! ơi hồn!.

Đông, Tây, Nam, Bắc không nơi  tựa.

Lên trời xuống đất không xong nữa.

Thành Yên, thành Sính về làm chi.

Ḷng dân đă khác thành  nguyên  y,

Bẩn cả áo quần mờ  mịt bụi,

Nhà ngồi  vênh váo, xe rong ruổi.,

Lên mặt Cao, Quỳ, bàn đứng ngồi.

Họ che nanh vuốt nọc độc thôi.

Cắn xé thịt người nhai  ngọt xớt,

Hồ Nam trăm châu thấy có được ?

Người sống gầy g̣ ai  béo ph́ ?

Hồn ơi cứ theo đường ấy đi.

Sau  Tam Hoàng thói  đời chẳng hợp,

Hăy sớm thu hồn  vô thái cực.

Đừng về đây nữa người  mỉa mai.

Thượng Quan một lũ đời tương lai.

Mặt đất, đâu đâu cũng sông Mịch.

Hùm sói chẳng ăn, rồng cá nuốt

Hồn ơi, hồn ơi làm thế nào ?

Nhất Uyên dịch thơ; Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

 

PHẢN CHIÊU HỒN (NGUYỄN DU)

Hồn hề ! hồn hề ! hồ bất qui ?

Đông, Tây, Nam, Bắc vô sở  y.

Thướng thiên há địa giai bất khả,

Yên, Dĩnh thành trung lai hà vi ?

Thành quách do thị, nhân dân phi.

Trần ai cổn cổn ô nhân y.

Xuất giả khu xa, nhập cứ tọa.

Tọa đàm lập nghị  giai Cao, Qú.

Bất lộ trảo nha dữ giác độc,

Giảo tước nhân nhục cam như di !

Quân bất kiến Hồ Nam sổ bách châu.

Chỉ hữu sấu tích, vô sung ph́.

Hồn hề ! hồn hề ! suất thử đạo,

Tam hoàng chi hậu phi kỳ th́.

Tảo liễm tinh thần phản thái cực,

Thận vật tái phản linh nhân xi.

Hậu thế nhân nhân giai Thượng quan,

Địa địa xứ xứ giai Mịch La.

Ngư long bất thực, sài hổ thực,

Hồn hề ! hồn hề  nại hồn hà ?

 

NGUYỄN DU BÁC BỎ LUẬN ĐIỂM GIẢ NGHỊ

Giả Nghị (200-168 trước công nguyên) người Lạc Dương (nay thuộc Hà Nam). Là một nhà từ phú và chính luận nổi tiếng thời Tây Hán. Ngoài hai mươi tuổi làm Bác Sĩ (người thông hiểu sử sự cổ kim, làm quan cố vấn cho nhà vua) không đầy một năm, thăng lên làm Thái Trung Đại Phu (đảm nhiệm chức quan nghị luận, ngự sử). Nhân đó nhiều lần dâng vua nghị luận chính trị đương thời, đề xuất chủ trương cải cách, bị các quư tộc, đại thần bài xích, bị biếm đẩy ra khỏi triều đ́nh làm Thái Phó Trường Sa, sau chuyển làm Thái Phó Lương Hoài. Bất đắc chí chết năm 33 tuổi. Ông giỏi từ phú, sành tản văn, nổi tiếng nhất có bài Quá Tấn luận. Khi qua sông Tương ông có làm bài phú viếng Khuất Nguyên. Trong bài phú có câu: Lịch cửu châu nhi tướng quân hề, hà tất hoài thử đô dă.(Trải chín châu mà t́m vua, hà tất ôm lấy cố đô ấy) . Có ư chê Khuất Nguyên. Nguyễn Du bác ư ấy của Giả Nghị cho rằng:  trung thần không thờ  hai vua, liệt nữ không thờ hai chồng, lẽ đâu đi t́m vua ở chín châu. Nguyễn Du tự cho là ḿnh là người ngh́n năm sau hiểu rơ ḷng Khuất Nguyên hơn Giả Nghị.  Do quan điểm này tôi cho rằng Nguyễn Du viết bài này khi đi giang hồ năm 1789 khi đi qua sông Tương. Lúc đó Nguyễn Du c̣n mơ tưởng đến nhà Lê và không cộng tác với nhà Tây Sơn. Nhưng khi gặp vua Lê Chiêu Thống bị nhà Thanh bạc đăi tại Bắc Kinh và Nguyễn Du hoàn toàn thất vọng. Trở về Thăng Long với anh Nguyễn Nể đang được vua Quang Trung trọng vọng, nhưng lúc đó Nguyễn Du có mối t́nh với Xuân Hương Hồ Phi Mai, nên chỉ đi hái sen và câu cá và chú tâm đến việc diễn ca Đoạn Trường Tân thanh, nên hoàn toàn lơ là với công danh, trong các buổi yến tiệc tại dinh Kim Âu, nơi gặp gỡ các quan tướng nhà Tây Sơn, Nguyễn Du chỉ đứng trong bóng tối nghe  cô Cầm đàn bài nhạc cũ cung vua Lê. Sau khi vua Quang Trung mất năm 1792, Nguyễn Du không thấy chính nghĩa nơi Thái sư Bùi Đắc Tuyên, hay tướng Vũ Văn Dũng trong triều Tây Sơn đang tranh chấp quyền lực, mà chính anh Nguyễn Nể phải hai lần tránh xa: lần thứ nhất xin ra trấn đóng thành B́nh Định và nhận làm Hành Khánh Sứ nhân lễ  nhường ngôi cho con của vua Càn Long năm 1795 và lần thứ hai năm 1797 Nguyễn Nể xin ra xây dựng Phượng Hoàng Trung Đô ở Nghệ An. Nguyễn Du lúc đó đă t́m thấy minh chúa nơi chúa Nguyễn Ánh, nên năm 1796 đă toan trốn vào Nam. Khi vua Gia Long ra Bắc,  Nguyễn Du đă tổ chức thủ hạ binh lương tiếp đón, từ Quỳnh Hải đi đến Sơn Nam Thượng gặp nhà vua tại huyện Phù Dung, nên được phong ngay làm tri huyện Phù Dung. Sự việc giống như Phi Tử đời Chiến Quốc dâng ngựa cho vua Chu Hiếu Vương được phong chức Phụ Dung, nên Nguyễn Du có danh hiệu là Phi Tử.  Cuộc đời làm quan Nguyễn Du được thăng quan tiến chức nhanh chóng, được trọng vọng cùng Ngô Thời Vị. Năm 1813, Nguyễn Du làm Chánh Sứ đi sứ. Từ năm 1796 cho đến cuối đời 1820, Nguyễn Du hoàn toàn theo vua Gia Long, và không có tâm sự hoài Lê ǵ cả.

 

Giả Nghị

link: https://en.wikipedia.org/wiki/Jia_Yi ; http://www.thivien.net/L%C6%B0u-Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-Khanh/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-Sa-qu%C3%A1-Gi%E1%BA%A3-Ngh%E1%BB%8B-tr%E1%BA%A1ch/poem-FHWlpMQQsSSm1ErZ-pRSsA

 

BÁC GIẢ NGHỊ

Không qua đường Hồ Nam,

Sông Tương sâu sao biết ?

Chẳng đọc phú Hoài sa,

Ḷng Khuất Nguyên sao hiểu ?

Ḷng Khuất Nguyên nước sông Tương,

Ngh́n thu vạn thu trông đến đáy.

Kim cổ ai đồng tâm.

Bài thơ Giả sinh vô nghĩa lư.

Liệt nữ  không ai  lấy hai chồng ?

Sao t́m vua khác trong chín cơi.

Chắc ǵ người xưa biết đến ta,

Trước mắt sông Tương trôi măi măi.

Nhất Uyên dịch thơ; Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

BIN GIẢ

Bất thiệp Hồ Nam đạo,

An tri Tương thủy thâm ?

Bất độc Hoài sa phú,

An thức Khuất Nguyên tâm ?

Khuất Nguyên tâm, Tương giang thủy.

Thiên thu vạn thu thanh kiến để.

Cổ kim an đắc đồng tâm nhân,

 Giả sinh nhất phú đỗ vi nhĩ.

Liệt nữ ṭng lai bất nhị phu,

Hà đắc thê thê “tướng cửu châu “.

Vị tất hữu nhân tri hữu ngă,

Nhăn trung Tương Thủy không du du !

 

Nguyễn Du viết nếu không đọc Hoài sa phú (Nhớ Trường Sa) th́ không biết nỗi ḷng Khuất Nguyên. Hoài Sa phú là tên một thiên trong Cửu Chương gồm : Quất tụng, Tích tụng, Trừu tư, Tư mỹ nhân, Bi hồi phong, Thiệp giang, Ai  sinh, Hoài sa, Tích văng nhật. Khuất Nguyên nói lên nỗi ḷng bi phẩn của ḿnh sinh không gặp thời, ví ḿnh như ngọc tốt mà không có kẻ dùng, chỉ có chết mới mong kết thúc được nỗi đau vô hạn. Tư Mă Thiên trong  Sử Kư cho rằng Hoài Sa là tuyệt mệnh từ trước khi gieo ḿnh xuống sông Mịch La. Đời Thanh, Tưởng Kư trong Sơn đái các chú Sở từ cho rằng Hoài Sa là hoài niệm Trường Sa, Trường Sa gọi tắt là Sa. Trường Sa là đất phong đầu tiên của tổ tiên Sở Vương. Bài thơ này làm vào tiết mạnh hạ tháng 4, cách ngày Khuất Nguyên tự tử một tháng, không thể xem là tuyệt bút. Ông này cải bướng, viết di chúc tuyệt mệnh trước một tháng hay một năm là chuyện b́nh thường, điều quan trọng là nội dung  thơ viết, chứ không phải vừa viết xong, nhảy xuống sông mới  là tuyệt bút. Hoài Sa  phú  Khuất Nguyên viết như thế nào, chúng ta thử đọc bài Hoài sa phú để t́m hiểu nỗi ḷng Khuất Nguyên (Khuất Nguyên, Sở Từ. nxb Văn Học Hà Nội 1974. Đào Duy Anh và Nguyễn Sĩ Lâm dịch và chú thích) :

Tiết đầu hè nóng bừng, cây cỏ tươi tốt xanh  mượt. Ḷng cứ tưởng nhớ thương xót măi. Rảo bước nhanh về phương Nam, trông vời mù mịt, bốn bề lặng im phăng phắc. Uất ức rồi đau, chỉ thấy ḷng sầu khổ mà khốn hoài. Suy t́nh xét chí. Oan khuất mà tự dằn ḷng. Chỉ v́ ḿnh ngay thẳng không thể  đẻo vuông  ra tṛn, biết sự phải ḷng không thể thay đổi.  Đổi đầu bỏ gốc, người quân tử lấy làm hổ thẹn. Vạch rơ đúng mực, ư trước sau cũng không đổi. Tính t́nh trong dày thẳng thắng, bậc đại nhân ưa thích. Ḷng như gỗ thẳng, thợ khéo không cần đẽo, ai xét được là thẳng cong. Màu sắc không thể nh́n thấy trong bóng tối. Người mù bảo rằng không đẹp, lim rim đôi mắt. Kẻ loà bảo rằng mắt anh ta không sáng. Không thể lấy trắng làm đen, lấy trên làm dưới. Phượng hoàng bị nhốt trong lồng, để gà vịt múa may. Ngọc lẫn với đá, không thể cùng sánh nhau. Nghĩ người bè đảng, chật hẹp ngoan cố, chẳng biết ḷng ta như thế nào ?. Ḷng như gánh nặng chỡ nhiều nên sa lầy không qua được. Mang ngọc cẩn, cầm ngọc du không biết giơ lên để ra hiệu lệnh cho ai. Chó trong ấp sủa cả bầy, v́ con này sủa con khác cũng sủa.  Sủa v́ thấy quái dị. Chê tuấn ngờ kiệt vốn là thói của kẻ hèn. Văn th́ sơ mà chất th́ chắc, chúng chẳng biết tài vẻ lạ của ta. Tài năng bỏ xó v́ chúng không biết ta có ǵ. Ta trọng nhân theo nghĩa, lấy cẩn thận trọng hậu làm sự giàu có. Ta chẳng gặp được minh quân như vua Thuấn, ai biết được ta ung dung đúng đắn. Thánh hiền xưa nay vốn chẳng sánh cùng nhau. Há biết là v́ cớ ǵ. Vua Thang, vua Vũ đă xa từ lâu. Xa xôi rồi không  ai mến biết tài ta, nên ta nuốt tủi nhịn hờn, tự gắng dằn ḷng. Gặp đau khổ chẳng thay đổi. Nguyện ư chí làm mẫu mực. Đường tiến về Bắc, ngày xâm xẩm tối rồi, khuây buồn thương nguôi. Đời có hạn ở  cái chết. Nh́n mênh mông sông  Nguyên Tương, cuồn cuộn sóng dồi, khúc cuối sông chia hai nhánh chảy vào Động Đ́nh Hồ. Đường dài tối tăm, nẻo xa mù tít mù. Mang tâm sự một ḿnh, cô đơn chẳng thổ lộ cùng ai. Bá Nhạc đă mất, ngựa kư  chạy ngàn dậm ai xem được. Đản sinh đều có mệnh, mỗi người yên một chỗ. Ḷng vững chí rộng ta có sợ hăi ǵ. Sau cứ xót thương nhiều than thở măi.. Đời đục ngầu chẳng ai biết đến ta. Ḷng người không thể phó cho thiên hạ. Biết chết mà không thể tránh được. Nguyện chớ yêu tiếc thân ḿnh. Các bậc quân tử sáng suốt. Ta lấy làm mẫu mực.

HOÀI  SA   (KHUẤT NGUYÊN)

Đầu hạ chừ nóng ran,

Cây cỏ xanh rờn.

Đau thương chừ không ngớt,

Rảo vội bước về Nam.

Trông vời chừ mênh mông,

Bốn bề lặng lẽ,

Uất ức chừ quặn ḷng.

Nỗi sầu bi vướng măi.

Xét chí chừ suy t́nh.

Oan khuất thôi  đành vậy,

Chuốt vuông chừ cho tṛn,

Tính ta chẳng đổi thay.

Theo đời chừ ĺa gốc,

Quân tử tính không thích,

Mực thước chừ thẳng ngay,

Giữ lề dù có rách,

Ḷng trung chừ chính trực,

Thánh nhân mới dùng,

Thợ khéo chừ không đẽo,

Ai biết thẳng cong !

Sắc màu không   trong  tối,

Kẻ mù bảo không đẹp.

Ly Lâu chừ lim dim.

Mù bảo mắt không sáng,

Lấy trắng chừ làm đen,

Đảo trên làm dưới.

Phượng hoàng nhốt trong lồng,

Gà  vịt  khoe múa  lông,

Ngọc  chừ lẫn với đá,

So nhau một lứa,

Bè đảng chừ ghét ghen,

Biết ǵ ḷng ta đó.

Ḷng nặng chừ chỡ nhiều,

Sa lầy qua khó.

Mang châu chừ cầm ngọc,

Cùng ai  tỏ ra.

Bầy chó chừ sủa la,

Sủa v́ thấy quái

Chê tuấn chừ ngờ kiệt,

Kẻ hèn  thói  hẹp,

Văn  ta chừ chắc chắn,

Cao  đẹp ta ai tường.

Tài năng chừ bỏ  xó,

Của riêng ta ai màng ?

Đầy nhân chừ nặng nghĩa,

Thận trọng mà giữ đức.

Vua Thuấn chẳng gặp được,

Ai biết ta trung trực ?

Thánh hiền chừ không cùng thời !

Há biết v́ cớ ǵ,

Vũ Thang chừ xa vắng,

Để ḷng ta ước  chi.

Nén tủi chừ nuốt  hờn,

Dằn ḷng mà gắn sức,

Gặp khốn  chừ chẳng buông,

Nguyện chí  làm mẫu mực.

Đường đi chừ về Bắc,

Ngày xâm xẩm tối rồi,

Khuây sầu chừ thương nguôi,

Đời cũng đến chết thôi.

Mênh mông Nguyên Tương,

Cuồn cuộn chừ sóng dồi,

Đường xa man mác,

Ngất tạnh chừ mù khơi.

Ôm t́nh giữ chí,

Đành phải lẻ loi.

Bá Nhạc đă mất,

 Ngựa kư chừ  ai coi ?

Nhân sinh có mệnh,

Đều đă chừ định rồi.

Vững ḷng, rộng chí chừ ta chẳng sợ.

Xót thương chẳng dứt chừ măi than thở.

Đời đục ngầu không biết ta.

Ḷng người chừ khó qua.

Biết chết không tránh được,

Nguyện chừ không tiếc đời,

Thánh hiền minh chính,

Ta mong chừ theo đ̣i.

Nhất Uyên dịch thơ; Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

 

HOÀI SA

Thao thao mạnh hạ hề,

Thảo mộc mụ mụ.

Thương hoài vĩnh ai hề,

Cốt tư Nam thổ,

Thuấn hề diểu diểu,

Khổng tỉnh u mặc.

Uất kết vu chẩn hề,

Ly măn nhi trường cúc.

Phủ t́nh hiệu chí hề,

Oan khuất nhi tự ức,

Ngoan phương dĩ  vi viên hề.

Thường độ vị thế.

Dịch sơ bản dịch hề,

Quân tử sở bỉ.

Chương hoạch chí mặc hề.

Tiền đồ vị cải,

Nỗi hậu chất chính hề.

Đại nhân sở thịnh.

Xảo thùy bất trác hề.

Thục sát kỳ bát chính,

Huyền văn sử u hề,

Mông tẩu chi vi bất chương.

Ly lâu vi đệ hề,

Cổ dĩ vị vô minh,

Biến bạch dĩ vi hắc hề,

Đảo thượng dĩ vi hạ.

Phượng hoàng tại nô hề,

Kê vụ tường vũ.

Đồng nữu ngọc thạch hề,

Nhất khái nhi tương lượng,

Phù duy đảng nhân chi bỉ cố hề.

Khương bất trí dư chi sở tàng.

Nhiệm trọng tái thịnh hề,

Hăm trệ nhi bất tế.

Hoài cẩn ác du hề,

Cùng bất tri sở thị.

Ấp khuyển chi quần phệ hề,

Phệ  sở quái giă.

Phi tuấn nghi kiệt hề,

Cố dung thái giă,

Văn chất sơ nội hề.

Chúng bất tri dư chi dị thái,

Tài phác ủy tích hề,

Mạc tri dư chi sở hữu.

Trọng nhân tập nghĩa hề,

Cẩn hậu dĩ vi phong.

Trùng hoa bất khả ngỗ hề,

Thục tri  dư chi thung dung.

Cổ cố hữu bất thịnh hề.

Khởi tri kỳ hà cố giả.

Thng vũ cửu viễn hề,

Mạc nhi bất khả mộ giă.

Trừng vi cải phấn hề.

Ức tâm nhi tự cường.

Ly măn nhi bất thiên hề,

Nguyện chi chi hữu tượng.

Tiến lộ Bắc thứ hề,

Nhật muội muội kỳ tương mộ.

Thư ưu ngu ai hề,

Hạn chi dĩ đại cố.

(Loạn viết)

Hạo hạo Nguyên Tương,

Phân lưu cốt hề,

Tu lộ u tế,

Đạo viễn cốt hề.

Hoài chất bảo t́nh.

Độc vô thất hề.

Bá Nhạc kư một,

Kư yên tŕnh hề.

Dân sinh bẩm mệnh,

Các hữu sở thố hề.

Định tâm quảng chí, dư hà sở úy cụ hề.

Tăng thương viên ai, vĩnh than khoái  hề.

Thế hỗn trọc mạc ngô tri,

Nhân tâm bất khả vị hề.

Tri tu bất khả nhượng.

Nguyện vật ái hề.

Minh hạo quân tử,

Ngô tương dĩ vi loại hề.

 

Bài Giả Thái Phó ở Trường Sa:  Giả Nghị là bậc hiền tài, muốn cải cách nhưng gặp bọn vơ tướng nắm giữ triều chính chẳng biết ǵ, nhà vua Hiếu Văn, tính cũng ngại mọi sự đổi thay nên Giả Nghị bị đày ra làm Thái Phó Trường Sa . Được ba năm, bất đắc chí v́ tài không chổ dùng ông chết năm 33 tuổi. Nguyễn Du so sánh Giả Nghị với Khuất Nguyên hai người ở cách nhau ngàn năm, nhưng Tương Đàm và Trường Sa cách nhau không xa mấy. Hai người cùng gặp gỡ nhau chổ này.  Nguyễn Du viết Giáng Hầu (tước Chu Bột) và Quán Anh đều là vơ tướng, có công khai quốc nhà Hán được Hán Văn Đế trọng dụng, nhưng là bọn vơ biền chẳng biết ǵ. Vua Hiếu Văn tức Hán Văn Đế Lưu Hằng (179-159 trước CN) tính đạm bạc nên ngại mọi sự thay đổi. Đứng mà luận bàn không thể bày tỏ hết cái học một đời ḿnh. Lo tṛn chức phận có hại ǵ mà đến nỗi phải nhận cái chết đáng thương tâm (Giả Nghị bất đắc chí chết năm 33 tuổi). Do câu thơ khen Giả Nghị : Cố nhân sự nhất chức, khởi cám cấu nhiêu vi nghĩa là người xưa giữ chức vụ ǵ  không dám làm cẩu thả. Trời ban cho tài lạ mà không có chổ dùng. Trong bóng chiều tà có lúc chim lạ đến. Giả Nghị ở Trường Sa ba năm, một hôm có con chim lạ đến đậu chỗ ngồi, ḷng rất lo, cho là điềm gỡ. Tương Đàm với đây gần nhau chỉ trong gang tấc. Sống cách nhau ngh́n năm, gặp nhau hai bên không có ǵ trái nhau. Bài thơ này theo tôi Nguyễn Du làm lúc đi giang hồ năm 22 tuổi lúc đi qua Trường Sa năm 1789: v́ có câu « tài lạ trời ban không có chỗ dùng ». Năm 1813, Nguyễn Du làm Chánh Sứ ngày 18 tháng 7 năm Quư Dậu đi qua Trường Sa, lúc đó  Nguyễn Du được vua Gia Long trọng dụng tất không c̣n mối ưu tư đó.

GIẢ THÁI PHÓ Ở TRƯỜNG SA

Giáng, Quán vơ biền có biết chi,

Hiếu Văn tính chẳng đổi thay ǵ.

Đứng bàn không hết tài văn học,

Chức phận lo tṛn, chết thảm thay.

Tài lạ trời ban không đất dụng.

Chiều hôm cú đến điềm không may.

Tương Đàm gang tấc duyên gần gủi,

Gặp gỡ ngh́n năm một nỗi này.

Nhất Uyên dịch thơ; Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

 

TRƯỜNG SA GIẢ THÁI PHÓ

Giáng, Quán vũ nhân hà sở tri,

Hiếu văn đạm bạc đạn canh vi.

Lập đàm bất triển b́nh sinh học,

Sự chức hà phương chí tử bi.

Thiên giáng kỳ tài vô dụng xứ,

Nhật tà dị vật hữu lai th́.

Tuơng Đàm chỉ xích tương lân cận,

Thiên cổ tương phùng lưỡng bất vi.

 

THÁNG 5 XEM ĐUA THUYỀN

Bài Ngũ  Nguyệt Quan Cạnh Độ: Nguyễn Du viết khi đi giang hồ năm 1789, ngày mùng 5 tháng 5 Ất Dậu. Trên khắp sông Tương ngày này có tổ chức đua thuyền, và ném bánh lá tro xuống sông. Khi đi sứ Nguyễn Du đi qua nước Sở từ 18-7 đến 30 tháng 7 năm  Quí Dậu (1813). Ngày mùng 5 tháng 5, Nguyễn Du c̣n ở thành phủ Ngô Châu. Đợt về th́ Nguyễn Du đến Trấn Nam Quan ngày 29-3 năm Bính Tuất, do đó không thể dự tết Đoan Ngọ tại sông Tương.

             Hoài Vương vua nước Sở không nghe lời can của Khuất Nguyên cứ đi hội với vua Tần, bị Tần bắt giữ lại, sau khi chết mới được đưa về nước Sở chôn. Trương Nghi  là nhân vật thuyết khách chủ trương thuyết  « liên hoành » liên kết sáu nước Tề, Sở, Yên, Triệu, Hàn, Ngụy để pḥ Tần chống thuyết «  hợp tung » sáu nước hợp thành một để đánh Tần của Tô Tần. Trương Nghi từng làm tướng quốc nhiều nước, từng sang Sở mua chuộc các đại thần và Trịnh Tụ, vợ yêu của Sở Hoài Vương, dèm Khuất Nguyên để Khuất Nguyên bị đi đày và hắn ta làm tướng quốc. Sau bị lộ mưu, chạy về Tần rồi sang Ngụy, chết ở Ngụy.  Sau khi vua Sở Hoài Vương được đưa về nước Sở chôn, và Trương Nghi chết. Nước Sở nhớ Khuất Nguyên người cài lan xưa. Ngàn thuở gọi hồn nhưng hồn chẳng bao giờ trở lại. Đầy sông đua tranh thuyền nhưng chẳng có nghĩa lư ǵ. Trong khói sóng mênh mông, ḷng ta luống những đau thương và oán giận. Hàng năm chiêng trống chỉ  để vui chơi, nô đùa. Hồn có về th́ cũng không có nơi chốn để nương tựa. Rắn rồng quỉ quái ở khắp nhân gian.

THÁNG NĂM  XEM ĐUA THUYỀN

Hoài Vương qui  táng, Trương Nghi  chết,

Nước Sở nhớ người cài hoa lan.

Ngàn  thuở chiêu hồn không trở lại,

Đầy sông bơi chải khéo tṛ nhàn.

Mênh mông khói sóng ḷng căm giận,

Chiêng trống hàng năm chỉ giởn càn.

Hồn có trở về không chốn tựa ;

Rắn rồng quỉ quái  khắp nhân gian.

Nhất Uyên dịch thơ; Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

 

NGŨ  NGUYT  QUAN CẠNH  Độ

Hoài Vương qui  táng, Trương Nghi  tử,

Sở quốc  từ  nhân kư bội lan.

Thiên cổ  chiêu hồn không bất phản,

Măn giang tranh cạnh thái  vô đoan.

Yên ba điểu điểu không bi  oán,

La cổ niên niên tự tiếu hoan ;

Hổn nhược qui lai dă vô thác,

Long xà quỉ vực biến nhân gian.

Chú Thích:

Hoài Vương: vua nước  Sở không nghe lời can Khuất Nguyên cứ đi hội với  vua Tần.

 

Bài Thương Ngô Trúc Chi Ca, bài thứ XI. Nguyễn Du viết lúc đi giang hồ 1787-1790 có nói đến đua thuyền nhân ngày tết Đoan Ngọ tại Quế Lâm. Có lẽ lễ hội đua thuyền này được phổ biến rất nhiều vùng kể cả Đông Nam Á,  nơi có người  gốc  Nam Trung Quốc, nước Sở cũ trú ngụ. Mười chiếc thuyền rồng bày hàng chữ nhất. Khua thanh la, đánh trống viếng Linh quân. Cô gái cài hoa cúc măi xem cuộc vui. Nhảy ra đầu thuyền không tránh người lên xuống. Đua thuyền có khắp vùng Nam Trung Quốc và Đông Nam Á. Tại đền Angkor có những bức điêu khắc quân đội Chiêm Thành đi thuyền tấn công  Chân Lạp. Điều thú vị, năm 2012 khi thăm viếng  Angkor, tôi  nhận ra trên các điêu khắc, đồng phục quân lính Chiêm Thành, chính là đồng phục những người đua thuyền, và hát ḥ bá trạo tại các tỉnh miền Trung từ Phan Thiết đến Quảng Nam. Nón vải h́nh lá sen, quần áo  màu xanh lá cây, vàng, đỏ. Một tư liệu quư cần thiết cho điện ảnh khi làm những  bộ phim lịch sử về Đại Việt và Chiêm Thành.

 

Tết Đoan Ngọ với cảnh đua thuyền trên sông Mịch La, nơi Khuất Nguyên trầm ḿnh.

Link: http://vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/
nhung-goc-nhin-van-hoa/khuat-nguyen-va-su-tich-tet-doan-ngo

 

 

CA ĐIệU TRÚC CHI KHI QUA ĐẤT THƯƠNG NGÔ

Mười chiếc thuyền rồng bày chữ nhất,

Khua thanh la trống viếng Linh Quân.

Gái cài hoa cúc xem vui hội,

Nhảy đứng đầu thuyền chắn bước chân.

Nhất Uyên dịch thơ; Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

THƯƠNG NGÔ TRÚC CHI CA

 XI

Thập chích long chu nhất tự trần,

Xao la qua cổ điếu Linh Quân.

Hoàng hoa khuê nữ tham hành lạc,

Khiêu xuất thuyền đầu bất tị nhân.

 

Khuất Nguyên là một nhà thơ yêu  nước  có tư  tưởng  chính trị cao đẹp, quan tâm đến cuộc sống no ấm nhân dân, đến sự  tồn vong của đất nước.  Đất nước Sở của ông đă mất, nhưng tấm ḷng yêu nước trong sáng của ông vẫn truyền tụng từ hai ngàn ba trăm năm nay, vượt tầm vóc một quốc gia, một dân tộc. Thời đại quân chủ, người hiền tài, nếu gặp được  vị vua anh minh biết trọng người hiền, trọng vọng mời gọi  tiến cử người tài giúp nước, nhân dân giàu có, nước nhà phồn thịnh, đất nước hùng mạnh. Quản Trọng giúp Tề  Hoàn Công là một ví dụ kẻ hiền tài gặp minh vương. Nếu vua hung ác, chỉ dùng kẻ nịnh thần, th́ đất nước đi vào suy vong,  nhân dân lầm than khốn khổ,  quyền chính  bị nước  khác chiếm đoạt, mất nước. Hán Cao Tổ Lưu Bang khi lên ngôi, kêu ngạo đái trên mũ kẻ sĩ  và nói rằng : Ta ngồi trên lưng ngựa mà được cả thiên hạ, ta há cần đến bọn sĩ phu.    Trần B́nh tâu vua : Bệ hạ ngồi trên lưng ngựa mà được cả thiên hạ, nhưng bệ hạ ngồi trên lưng ngựa mà trị nước được chăng ? Nhà vua thức tỉnh, từ đó trọng dụng kẻ sĩ, sửa sang việc nước,  tạo dựng nên một triều đại   hùng mạnh.

Trong thời đại Khuất Nguyên, Nhà Tần, Tần Vương Chính nhờ cải cách chính trị của Thừa tướng  Lư Tư (289 TCN-208TCN) gốc người Thượng Sái nước Sở, học  tṛ Tuân Tử dùng thuyết Pháp Trị của bạn học là Hàn Phi Tử, trong 20 năm nước Tần hùng mạnh đă chiếm 6 nước thống nhất Trung Quốc. Để đối phó với nhà Tần, Thái Tử nước Yên dùng Kinh Kha ám sát Tần thủy Hoàng.  Tô Tần( ? – 285 TCN) đề ra giải pháp «  hợp tung » liên kết 6 nước chống Tần; giải pháp Tô Tần giúp cho các nước được yên ổn trong 15 năm, sau đó các nước v́ quyền lợi đánh nhau khiến liên minh suy yếu và bị Tần diệt..  Trương Nghi ( ? -309 TCN) đề ra giải pháp « liên hoành », liên kết sáu nước hợp với nhà Tần. C̣n Khuất Nguyên, không thấy ông đề ra một  chính sách nào để phục hưng nước Sở. Chỉ thấy một lần ông đi sứ Tề về khuyên Sở Hoài Vương giết Trương Nghi trừ hậu họa, vua Sở  không nghe theo, Trương Nghi trốn thoát về Tần. Lần thứ hai khuyên vua Sở không đi phó hội với Vua Tần, vua Sở không nghe theo bị Tần bắt làm tù binh và chết trong tù. Trong thi ca Khuất Nguyên chỉ thấy ông đề cao thời đại Nghiêu Thuấn, Tam Hoàng, giữ ḷng trung chính ngay thẳng, Khuất Nguyên chỉ biết Nhân Trị, và ông hoàn toàn không hay biết ǵ  về chủ trương Pháp Trị, đang làm nước Tần tiến bộ hùng mạnh. Khuất Nguyên  thường cài hoa lan  hoa chỉ tỏ ḿnh thanh cao trong sạch, yêu mỹ nhân tượng trưng cho cái đẹp. Trong Bài Ngư Phủ, Khuất Nguyên nói cùng ông chài : Khắp đời đều đục ḿnh ta trong. Mọi người đều say ḿnh ta tỉnh. V́ thế mà bị đuổi.  Khuất Nguyên  không phải là một  nhà tư tưởng cải cách chính trị, mà chỉ là một sĩ phu nh́n xa trông rộng đoán biết được đại họa và sự suy thịnh của đất nước.

Xưa nay chưa có thời đại nào, không đào tạo nhân tài, không dùng nhân tài mà thành công. Nhân tài là nguyên khí của quốc gia Văn bia Văn Miếu Quốc Tử Giám nước ta hàng trăm năm xưa  đă viết. Một nhà lănh đạo thành công, không phải là người làm hết mọi việc và  chia chác quyền lợi cho bè đảng, con em  ḿnh. Muốn thành công phải biết dùng người và thành công trong việc quy tụ người tài về với ḿnh. Dùng người đúng chổ, đúng nơi, ân thưởng xứng đáng. Nước càng giàu có th́ nhân dân, mọi người đều có đời sống ấm no sung túc. Con người không phải dành giật nhau từng miếng ăn để kiếm sống, lừa gạt lẫn nhau, dành nhà , chiếm đất, tham nhũng, hối lộ để được sinh tồn.  Nước giàu có th́ không c̣n cái cảnh, vào nhà thương phải nộp hối lộ từ người gác cổng,  y tá đến bác sĩ. Đi ra đường phải nộp hối lộ cho anh công an chận đường phạt xe vô cớ. Muốn có chức vụ ǵ cũng phải lo lót…  Việc lănh đạo và tổ chức ngày nay đă trở nên một khoa học, một nghệ thuật. Các nhà lănh đạo trong các nước tiên tiến được đào tạo có bài bản, trường lớp. Trong các  xă hội Tây Phương  c̣n có những  văn pḥng chuyên môn các nhà tâm lư gia, kinh tế gia… làm  công việc t́m thủ lănh tài giỏi cho các công ty .

Trong đời đại ngày nay sự hưng thịnh các nước nằm trong sự vận hành cơ cấu tổ chức giáo dục, chính trị, văn hóa, xă hội. Nhân tài không phải đi t́m minh chúa. Nhân tài không chỉ dùng trong chính trị, mà trong guồng máy kinh tế, giáo dục, văn hóa…  Cơ cấu chế độ tư do tận dụng tối đa tài năng và trí tuệ mọi công dân.  Các cường quốc như Anh, Nhật… vẫn c̣n có vua nhưng vua chỉ c̣n vai tṛ tương trưng cho sự thống nhất quốc gia. Cùng thời với nước ta  vua Tự Đức chỉ biết sai người đi mua đồ sứ Giang Tây về đập bể cẩn trên lăng mộ ḿnh.  Vua Minh Trị Thiên Hoàng, trong thế kỷ 19, đă sáng suốt dám hy sinh 80% gia tài Hoàng Gia để gửi 2003 sinh viên du học và mướn 142 Kỹ sư Tây Phương về dạy kỹ thuật. Sự hy sinh đó đă mở đầu sự thay đổi Nhật Bản, đưa Nhật bắt kịp Tây Phương, trong khi các nước Đông Á đồng thời bị rơi vào ṿng đô hộ, bị các cường quốc xâu xé. Việc đào tạo nhân tài, một hệ thống giáo dục từ  Tiểu học, Trung học, Đại Học, các trường chuyên môn, mọi công dân tùy theo khả năng ḿnh đều có phương tiện thăng tiến để giữ một trọng trách xă hội tương lai. Một hệ thống chính trị phân quyền tam lập:  Hành Pháp, Lập pháp, Tư Pháp.  Một bộ máy hành chính từ trung ương đến địa phương độc lập, một quân đội độc lập,  không  lệ thuộc một cá nhân một đảng phái, như một  chiếc xe, người  nào đắc cử Tổng Thống hay đảng nào lên, như người  có bằng lái xe  cũng đều  lái được. Một hệ thống chính trị lưỡng đảng, hay liên kết các đảng thành lưỡng cực tả hữu v́ sự cần thiết phải có đa số 50%  cộng 1.  Một nền kinh tế thị trường, tự do tư hữu. Dân có giàu, đóng thuế đầy đủ, th́  nước mới mạnh. Nước giàu dễ dàng có quân đội nhiều phương tiện vũ khí hùng mạnh.  Một hệ thống thuế khóa công bằng, lấy thuế các xí nghiệp, công ty  lợi nhuận cao, miễn thuế cho người nghèo.  Xă hội hiện đại ngày nay không c̣n cái cảnh  trương tuần, lư trưởng rượt theo các anh khố rách áo ôm, bắt đi làm sưu , đóng thuế, bắt đi lính,  tiếng than văn cao ngút trời xanh như thời Đỗ Phủ.

Hệ thống tổ chức xă hội các nước  tiền tiến ngày nay đă trải qua hai trăm năm kinh nghiệm. Sự sụp đổ cả một hệ thống chính trị  tại Đông Âu, đă chứng tỏ sự bất lực của hệ thống độc đảng. Người hiền tài hoặc ở lại trong cơ cấu phải chịu mọi sự phục ṭng.  Hoặc phải lưu vong ra nước ngoài.  Điều đó tạo nên sự chảy máu chất xám. Nước độc đảng ngày một nghèo, nhân tài bỏ đi và nước dân chủ ngày một giàu mạnh, v́ có thêm người tài về phục vụ trong guồng máy:  chính trị, xă hội, kinh tế, văn hóa của ḿnh. Các nước tiên tiến lấy sự khác biệt của tư tưởng làm nền tảng của giàu có và tiến bộ. Họ không xem sự khác biệt tư tưởng là sự chia rẽ, phân hóa. Thế kỷ 19, Tây Phương đă trải qua những kinh  nghiệm đau thương, các đại biểu nhân dân khi khác biệt tư tưởng thách nhau ra rừng đấu kiếm, đấu súng, một c̣n, một mất. Phe này thắng đưa phe khác lên máy chém, có lúc điểm danh chỉ c̣n phân nửa Quốc Hội mà ư kiến vẫn khác biệt nhau.  Thời Trung Cổ họ quan niệm đất h́nh vuông, ai nói trái đất tṛn là bị bắt uống thuốc độc, bị đốt. Họ c̣n khốc hại hơn cả thời đại Khuất Nguyên, Giả Nghị, đi đày hay cách chức người khác biệt tư tưởng. Ngày nay  Tây Phương đă t́m được con đường có thể dùng hết được mọi tài năng, dung hợp  mọi  ư kiến khác biệt đó là con đường dân chủ.

 

  Link: http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_Du

 

Ngày nay không có chuyện Khuất Nguyên, tài năng không ai dùng, bị ruồng bỏ cột đá ḿnh xuống sông. Khuất Nguyên ngày nay đi chổ khác lănh lương cao hơn, đời sống sung túc hơn.  Ngày nay kẻ sĩ không bị ràng buộc bởi câu:  trung thần không thờ hai chúa như thời Nguyễn Du. Các nước tiên tiến ngày nay dùng người cũng không câu nệ màu da, chủng tộc, có tài năng là được dùng theo đúng sở nguyện ḿnh. Tại Việt Nam khó ai tưởng tượng có một người da trắng, hay da màu làm Bộ Trưởng. Tại Đức, có một người gốc trẻ mồ côi  Việt Nam làm Phó Thủ Tướng, tại Pháp  có Bộ Trưởng gốc  Đại Hàn, Ma Rốc… Nước Mỹ, Tổng Thống là một người da màu.  Các nhà lănh đạo các nước độc đảng hiếm hoi ngày nay  đứng trước một lựa chọn, là nhanh chóng cải cách chính trị, để dùng được tất cả mọi nhân tài, chậm cải cách ngày nào th́ c̣n ́  ạch ngày nấy, người tài bỏ đi  và xă hội dậm chân một chỗ.  Vấn đề  ngày nay của các quốc gia mới vươn lên hội nhập vào thế giới, không c̣n chuyện ai thắng ai (?) hay đi theo đường một lănh tụ nào trong  quá khứ, mà là xây dựng một guồng máy chính trị, kinh tế hiện đại  theo khuôn mẫu mà nhân loại đă h́nh thành sau hàng trăm năm phát triễn.

 

Paris 12-9-2005

PHẠM TRỌNG CHÁNH

Tiến sĩ Khoa Học Giáo Dục Viện Đại Học Paris V. René Descartes

             

Tác giả: Hồ Xuân Hương nàng là ai ? Khuê Văn 2000 ;  Nguyễn Du , Mười năm gió bụi và mối t́nh Hồ Xuân Hương,  Khuê Văn Paris 2010; Truyện Thơ Odyssée qua 12110 câu thơ lục bát, Khuê Văn 2005; Sử Thi Iliade qua 16933 câu thơ lục bát, Khuê Văn 2009; Tự điển t́nh yêu bằng thơ t́nh Xuân Diệu, Khuê Văn 201; Giáo Dục Việt Nam thời Pháp thuộc (1940-1945) Paris 1976; Giáo Dục Miền Nam Việt Nam 1954-1975, Paris 1980; Thơ t́nh Nhất Uyên (Huy Cận, Xuân Diệu đề tựa), Paris, 1996; Công cha như núi Trường Sơn 1975. Cánh chim từ vùng lửa đỏ (thơ nhạc với Tốn Thất Lập) HSVST 1974; Bóng thời gian, Thời gian ta măi măi c̣n xanh (với Nguyễn Đăng Hưng Liège 1972); Chiêm Bao Trắng, Thơ Sàigon 1969.

 


 

 

Mời đọc những bài viết khác của cùng tác giả :

 

Nguyễn Du trên quê hương Đỗ Phủ - TS.Phạm Trọng Chánh

Đỗ Phủ (712-770)  thời nhà Đường, sống trong thời đại loạn An Lộc Sơn  trong 8 năm, làm tiêu hao 2/3 dân số Trung Quốc. Năm 755 nước này có ...

 

Nguyễn Du đi sứ trên quê hương Lư Bạch - TS.Phạm Trọng Chánh

Nguyễn Du lấy bút hiệu là Thanh Hiên, kết hợp từ chữ Thanh, bút hiệu Thanh Liên của thi hào Lư Bạch (701-762), và chữ Hiên thường dùng của gia ...

 

Đi theo hành tŕnh “Bắc hành tạp lục” của Nguyễn Du - TS.Phạm Trọng Chánh

Đọc “Bắc Hành Tạp Lục” nhiều nhà nghiên cứu có cảm giác Nguyễn Du rất cô đơn trước cảnh sắc và  con người tại Trung Quốc. TS Nguyễn Thị Nương ...

Tưởng nhớ Giáo sư Trần Văn Khê - TS.Phạm Trọng Chánh

Thuở thư sinh lên đường du học Âu Châu  năm 1970, túi đàn cặp sách, tuổi hai mươi : «  cầm kỳ thi họa đủ mùi ca ngâm », hành trang tôi ...

Mối t́nh “ông vua thơ Nôm” Lê Thánh Tông và Trường-Lạc hoàng hậu - TS.Phạm Trọng Chánh

Phạm Đ́nh Hổ trong Tang thương ngẫu lục quyển II,  tr 232 có chép chuyện vua Lê Thánh Tông và Trường Lạc Hoàng Hậu, một chuyện t́nh tuyệt đẹp, giữa ...

Kỷ niệm với Họa Sư LÊ BÁ ĐẢNG (1921-2015) - Ts Phạm Trọng Chánh

Những năm 1973-1976, đến Paris  tôi bắt đầu công việc sinh viên, vừa làm vừa học, là kư tên và đánh số giùm tranh litho cho  Họa sĩ Lê Bá ...

Hồ Sĩ Đống (1739-1785) - bậc thầy thi ca thời Lê trung hưng - TS. Phạm Trọng Chánh

Hồ Sĩ Đống được Phạm Đ́nh Hổ trong Vũ Trung tùy bút, bài Thi ca kể tên cùng Nguyễn Tông Khuê, Nguyễn Huy Oánh là ba bậc thầy phục hưng ...

 Đọc bài “Về cuốn sách Lịch Sử Việt Nam được cho là kiệt tác sử học” - TS Phạm Trọng Chánh.

Nhân đọc bài : Về cuốn sách được cho là kiệt tác sử học của ông Tiến Anh Hồng Quang đăng trên Nhân Dân Điện tử thứ năm 27-1-2014. Bài viết có nhiều hiểu lầm; Giáo sư Lê Thành Khôi nay đă lớn tuổi 93 tuổi, chẳng phải bận rộn với bài viết nhỏ mọn này, là môn sinh Giáo sư Lê Thành Khôi tôi xin thay mặt Giáo sư trả lời các điểm thắc mắc của ông Tiến Anh Hồng Quang.

Nguyễn Tông Khuê - bậc thầy thi ca đời Lê Trung Hưng - TS. Phạm Trọng Chánh

Phạm Đ́nh Hổ trong Vũ Trung Tùy Bút có nói đến ba nhà thơ lớn, ba bậc thầy thi ca thời Lê Trung Hưng : Nguyễn Tông Khuê (1693-1767), Nguyễn Huy ...

GS.Lê Thành Khôi & lịch sử Việt Nam - TS.Phạm Trọng Chánh

Cuối tháng 8-2014  Nhà Xuất bản Thế Giới Hà Nội cho ra mắt quyển  « Lịch Sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XX » của Giáo Sư Lê Thành ...

Đọc sách : "Đạo Cao Đài và Victor Hugo" của TS.Trần Thu Dung - TS.Phạm Trọng Chánh

Victor Hugo là một nhà văn lớn, nhà chính trị Cộng ḥa  Pháp, chống lại Đế Chế Napoléon III, từng phải lưu vong xa nước 17 năm. Ông qua đời ...

Patrick Modiano giải Nobel văn chương 2014 - TS.Phạm Trọng Chánh

Sinh ngày 30-7-1945 tại Boulogne Billancourt, ngoại ô Paris, tác giả hơn 30 quyển tiểu thuyết, truyện phim, giải thưởng Văn Chương Hàn Lâm Viện Pháp, giải thưởng Goncourt, tác ...

Hồ Xuân Hương đi buôn (1807-1811) : “mẹ già nhà túng, ăn ở không yên ổn” - TS. Phạm Trọng Chánh

Trong bài tựa Lưu Hương Kư, Tốn Phong viết:  “ Từ đó  (sau lần đến thăm xuân 1807) có những lúc tôi phải vào Nam, ra Bắc, không thể cùng ...

Nguyễn Du : Ra Bắc 1796, t́nh duyên tan vỡ - Ts.Phạm Ttrọng Chánh

Nguyễn Du cho rằng việc vào Nam từ năm 1794 đến 1796 là hoài công, vô ích. Và mong rằng việc ra Bắc năm 1796 sẽ làm nên việc.  Sau ...

Đọc sách : Nguyễn Du trên đường gió bụi của Hoàng Khôi - Nhà Xuất bản Văn Học. Hà Nội- 2013 - Ts.Phạm Trọng Chánh

Có ǵ vui hơn, khi những thành quả nghiên cứu văn học của ḿnh được bè bạn Hội Kiều Học trong nước hưởng ứng viết thành tiểu thuyết.  Nhận được ...

 Hồ Xuân Hương cô hàng bán sách phố Nam thành Thăng Long (1804-1807) - TS. Phạm Trọng Chánh

Khoảng 10 năm trước năm 1813 Tốn Phong đă đến thăm  Xuân Hương Hồ Phi Mai tại hiệu sách Xuân Hương, Phố Nam thành Thăng Long, thuở ấy nàng ở ...

Nguyễn Du : những mỹ nhân trên đường mười năm gió bụi (1786-1796) - TS. Phạm Trọng Chánh

Sau ba năm đi giang hồ Trung Quốc, Nguyễn Du trở về ở tại Thăng Long từ cuối năm 1790 cho đến năm 1794. Đó là ba năm « Chữ t́nh ... 

Nguyễn Du gặp Đoàn Nguyễn Tuấn, sứ đoàn Tây Sơn tại Hoàng Châu 1790 - TS. Phạm Trọng Chánh

Nguyễn Du sau khi đậu Tam Trường (1783) ở Trường thi Sơn Nam lúc 17 tuổi, được anh là Nguyễn Khản, Thượng Thư Bộ Lại kiêm Trấn thủ Hưng Hóa, ...

Nguyễn Du : nhà sư Chí Hiên “Giang Bắc, Giang Nam túi tiền không” (1788-1790) 
TS. Phạm Trọng Chánh

Nguyễn Du, mang danh hiệu Chí Hiên, danh hiệu Nguyễn Du dùng cho đến năm 1796, kư tên hai bài thơ  tặng Hồ Xuân Hương, lưu lại trong Lưu Hương ...

Nguyễn Du chia tay Nguyễn Đại Lang, Nguyễn Sĩ Hữu tại Liễu Châu 1788 - TS. Phạm Trọng Chánh

Nguyễn Du gọi cuộc đời từ 20 đến 30 tuổi của ḿnh là « 10 năm gió bụi » (1786-1796), gia phả và sách vở giáo khoa trăm năm qua  lại viết ...

Nguyễn Du từ Thái Nguyên sang Vân Nam cuối năm 1787 - TS. Phạm Trọng Chánh

Bao nhiêu năm nghiên cứu về Nguyễn Du, chúng ta đă biết hết cuộc đời Nguyễn Du chưa ?  Nguyễn Du có quyển Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm .

Dịch chương “Nhă Ca”, một dâm thơ trong Cựu ước - TS. Phạm Trọng Chánh

“Nhă Ca”  (CANTIQUES) là một tác phẩm văn chương cổ đại của dân tộc Do Thái, cách chúng ta khoảng 630 năm trước Tây lịch. Một áng văn chương trữ ...

Đọc Lưu Hương Kư của Hồ Xuân Hương - TS. Phạm Trọng Chánh

Giữa thời điểm các nhà sách hải ngoại thi nhau đóng cửa, người đọc tiếng Việt ngày càng thưa thớt, tác giả gửi sách đi cho các nhà sách, không

Hồ Xuân Hương và quan Hiệp Trấn Sơn Nam Thượng Trần Ngọc Quán - Phạm Trọng Chánh

Trần Ngọc Quán quê Nghệ An, trước làm quan Cai Bạ doanh Quảng Đức (Chức vụ đứng đầu một doanh, tỉnh Thừa Thiên ngày sau). Tháng 2 năm Ất ..

Hồ Xuân Hương và Phật giáo - TS. Phạm Trọng Chánh

Điều nghịch lư trong thơ truyền khẩu gán cho Hồ Xuân Hương là Xuân Hương thường đi chùa, cuối đời có đi tu một thời gian, nhưng trong thơ lại ...

* Đối thoại: Sở tri chướng và kinh tế thị trường – Phạm Trọng Chánh, Ph.D., Paris, Pháp,  
              Link :
http://giaodiemonline.com/baiup/DTGH(3).htm