NGUYỄN DU ĐI SỨ TRÊN QUÊ HƯƠNG  LƯ BẠCH 

 

TS. Phạm Trọng Chánh

           

 

 

« ĐƯỜNG TRUNG HOA SÂU HIỂM, QUANH CO GIỐNG L̉NG NGƯỜI »

« TRUNG TÍN THẢY KHÔNG NHỜ CẬY ĐƯỢC  »

 

            Nguyễn Du lấy bút hiệu là Thanh Hiên, kết hợp từ chữ Thanh, bút hiệu Thanh Liên của thi hào Lư Bạch (701-762), và chữ Hiên thường dùng của gia đ́nh : Cha cụ Nguyễn Nghiễm bút hiệu Nghị Hiên, anh Nguyễn Nể bút hiệu Quế Hiên, và cháu Nguyễn Thiện bút hiệu Thích Hiên. Bút hiệu Thanh Hiên, Nguyễn Du xưng danh rơ ràng trên Thanh Hiên thi tập, Thanh Hiên tiền hậu tập. Mang bút hiệu Thanh Hiên, Nguyễn Du xác định trong thơ chữ Hán, ḿnh chịu ảnh hưởng thi hào bậc thầy Lư Bạch. Ngày xưa người nho sinh trên bước đường thi cử thường thuộc ḷng văn chương chữ Hán: một ngàn bài thơ Đường,  trăm bài từ, trăm bài phú, 50 bài văn tế, 50 bài văn sách. Do đó ảnh hưởng các thi hào lớn Trung Quốc như Khuất Nguyên, Lư Bạch, Đỗ Phủ, Liễu Tông Nguyên... là điều không tránh khỏi. Ta thử t́m hiểu ảnh hưởng các thi hào Trung Quốc trên thi ca Nguyễn Du trong thơ chữ Hán.

            Nguyễn Du chịu ảnh hưởng Lư Bạch, tuổi trẻ đi giang hồ khắp Trung Quốc. Năm 723, 22 tuổi Lư Bạch mặc áo trắng, đeo bầu rượu, chống kiếm lên đường viễn du. Trong 3 năm tham quan hầu hết cảnh đẹp Trung Quốc : Hồ Động Đ́nh, sông Tương, Kim Lăng, Dương Châu, Ngô Việt, Giang Hạ... Ảnh hưởng đó đă thúc đẩy Nguyễn Du năm 1787, sau cuộc khởi nghĩa ở Tư Nông, Thái Nguyên cùng quyền trấn thủ Nguyễn Đăng Tiến, nơi đó Nguyễn Du thay mặt binh quyền của anh Nguyễn Khản, Thượng Thư Bộ Lại kiêm Trấn Thủ Thái Nguyên Hưng Hóa, Nguyễn Du nắm giữ đội binh hùng hậu nhất : Chánh Thủ Hiệu quân Hùng hậu hiệu Thái Nguyên. Và Nguyễn Đăng Tiến tước Quản vũ hầu (Lê Quư Kỷ sự) tức Cai Già (Lịch triều tạp kỷ) Cai Gia (Hoàng Lê Nhất Thống Chí), tức Nguyễn Đại Lang (Thanh Hiên Thi tập) là anh em kết nghĩa sinh tử và là cũng thầy dạy vơ của Nguyễn Du, gốc người Việt Đông. Cùng tồn vong với nhau khi thất bại  bị chỉ huy Giáo, quân Tây Sơn,  đóng củi giải về cho tướng Vũ Văn Nhậm. Nhậm trọng khí khái tha chết và cho phép muốn đi đâu th́ đi.(Sinh tử giao t́nh tại, tồn vong khổ tiết đồng. Bài Biệt Nguyễn Đại Lang). Nguyễn Du và Nguyễn Đại Lang  đă đi sang Vân Nam rồi từ Liễu Châu, Đại Lang về quê cũ vùng « cao sơn lưu thủy » thăm nhà, Nguyễn Du thành nhà sư  « thoát ṿng trần tục » đi giang hồ Trung Quốc theo gương Lư Bạch, hẹn gặp lại ba năm sau tại Trung Châu.

 Mặc áo vàng nhà sư phái Thiếu Lâm danh hiệu Chí Hiên, lưng mang trường kiếm đi từ Vân Nam sang Liễu Châu, Quế Lâm rồi theo sông Tương dạo chơi Động Đ́nh Hồ: Đi qua các thắng cảnh Giang Bắc, Giang Nam và các hồ lân cận. Sau đó theo sông Hán Thủy lên Trường An thăm kinh đô thăm mộ Dương Quư Phi, thăm An Lăng có Bùi Tấn Công mộ. Và sau đó theo kênh Đại Vận Hà xuống  Tây Hồ ở Hàng Châu. Nguyễn Du đi giang hồ Trung Quốc trong ba năm 1787-1790, lưu lại  dấu tích địa danh Trung Quốc trên trăm bài thơ trong Thanh Hiên thi tập và Bắc Hành Tạp lục..(Liễu Cao Lâm, Giang Hán, Trung Châu, Giang Bắc, Giang Nam, Nam Đài, Long Thủy..) danh hiệu Chí Hiên lưu lại trong Lưu Hương Kư của Hồ Xuân Hương.  Chia tay Nguyễn Đại Lang  tại Liễu Châu và gặp lại ba năm sau tại Trung Châu : miếu Nhạc Phi bên Tây Hồ, Hàng Châu. Nơi đây Nguyễn Du viết 5 bài thơ bên miếu Nhạc Phi (một bài Nhạc Phi, hai bài Tần Cối và hai bài Vương Thị) trong lúc chờ đợi. Nguyễn Du cư ngụ tại chùa Hổ Pháo nơi Từ Hải, tức Minh Sơn Hoà Thượng từng tu hành, chỉ cách Miếu Nhạc Phi một con đê Tư (Su). Quanh Tây Hồ là các thanh lâu các nàng Kiều ẩn hiện sau các khóm liễu. Nguyễn Du đă tiếp xúc với bản Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân đă in và đang nổi tiếng tại Hàng Châu. Nguyễn Du đọc say mê và quyết chí diễn ca thơ Nôm. Nguyễn Du từ đó không c̣n mặc chiếc áo nhà sư, chấm dứt đọc Kinh Kim Cương chú giải của Lê Quư Đôn sau một ngh́n lượt, ngh́n đêm, tức ba năm đọc kinh trên các ngôi chùa trên đường đi (bài Phân Kinh Thạch Đài). Nguyễn Du  bắt đầu say mê sôi nổi với chuyện Hồng nhan đa truân. Gặp lại Nguyễn Đăng Tiến, được chu cấp, hai người du hành bằng xe song mă đi Yên Kinh (Bắc Kinh) gặp vua quan Lê Chiêu Thống đang bị bạc đăi,  trở về đến  Hoàng Châu th́ gặp Đoàn Nguyễn Tuấn trong sứ đoàn Tây Sơn sang nhà Thanh năm 1790, với ông vua giả Nguyễn Huệ (Phạm Công Trị), Phan Huy Ích làm Chánh sứ với 158 người, trong đó có cả một ban hát bội 10 người, và hai con voi đực, đang cư trú trong một lữ quán. Nguyễn Du bàn luận sôi nổi cùng Đoàn Nguyễn Tuấn chuyện văn chương về Hồng nhan đa truân. Đoàn viết hai bài thơ tặng văn nhân họ Nguyễn và hẹn gặp lại mùa Xuân tại Thăng Long (Hải Ông thi tập).

Nguyễn Du chấm dứt ba năm giang hồ Trung Quốc, về Nam  Đài, Long Thủy (Long Châu) chờ đợi và về Thăng Long với anh Nguyễn Nể đang làm quan Tây Sơn, người được vua Quang Trung kính trọng, nể v́ học thức, xem ngang hàng với quân sư  Trần Văn Kỷ, và thường gióng ngựa quư đến thăm. Nguyễn Du về với anh và nhưng thường ở nơi Gác Tía, nơi câu cá anh Nguyễn Khản cạnh đền Khán Xuân, cạnh Cổ Nguyệt Đường,  Hồ Tây, nơi đây Nguyễn Du đi hái sen và bắt đầu cuộc t́nh ba năm vẹn với cô hàng xóm Xuân Hương Hồ Phi Mai. Ba năm đó cũng là ba năm Nguyễn Du diễn ca Đoạn Trường Tân Thanh. Phạm Đ́nh Hổ trong thơ chữ Hán, bài Thiếu nữ tản kiều (Thiếu nữ làm duyên) trêu cô gái mới lớn, yêu hoa mai, tên là Mai, v́ yêu chàng công tử đang diễn nôm truyện Đoạn Trường, nên thường đứng trước gương uốn éo như đứt ruột. (Xem Nguyễn Du, mười năm gió bụi và mối t́nh Hồ Xuân Hương. Khuê Văn Paris 1911)

            Lư Bạch (701-762), đại thi hào đời Đường, thi hào hàng đầu thi ca Trung Quốc, sinh tại làng Thanh Liên nên xưng danh hiệu là Thanh Liên cư sĩ. Quê ở Ba Thục (Tứ Xuyên), bà mẹ khi thụ thai nằm mơ thấy sao Trường Canh sa vào trong ḷng, cho nên mới đặt tên chữ là Thái Bạch. Đường thư chép rằng : Lư Bạch lên bảy tuổi vẫn chưa biết nói, một hôm bà mẹ bồng lên lầu, tự nhiên thấy ngâm bốn câu : Nguy lâu cao bách xích. Thủ khả trích tinh thần, Bất cảm cao thanh ngữ, Khủng kinh thiên thượng nhân. Cả nhà thấy vậy, đều lấy làm lạ. Khi lớn lên, văn chương của Lư, có vẻ khác hẳn người thường. Hạ Tri Chương xem thấy, ngờ Lư là một vị tiên bị đầy xuống trần gian nên kết bạn thân thiết và tiến cử. Năm 742, Lư Bạch đi thi, hai quan chấm thi là Cao Lực Sĩ và Dương Quốc Trung vốn ghét Hạ Tri Chương nên phê bài Lư Bạch :  Dương Quốc Trung phê : « Người này dốt quá chỉ đáng mài mực cho bọn sĩ tử. » Cao Lực Sĩ hùa theo : « Có lẽ chưa đáng mài mực, chỉ đáng cỡi giày cho họ thôi. » Lư Bạch bị đánh hỏng nhưng Hạ Tri Chương che chở bảo hăy náng ở lại. Một hôm sứ Phiên dâng quốc thư cho vua Huyền Tông, cả triều đ́nh không ai đọc được. Hạ Tri Chương nói với Lư Bạch, Lư Bạch thuở nhỏ được mẹ dạy tiếng Phiên thông thạo nên bảo không khó ǵ. Hạ Tri Chương tiến cử Lư Bạch, vua liền phong học vị Tiến sĩ, cầm quốc thư ông đọc vanh vách nên được vua phong Hàn Lâm học sĩ. Đến khi vua sai viết thơ trả lời bằng tiếng Phiên, Lư Bạch mặt đỏ say rượu đến bảo Cao Lực Sĩ tháo giày, và ngoắc tay Dương Quốc Trung bảo mài mực. Hai người đành riu ríu nghe theo.   Lư Bạch được vào ở ṭa Hàn Lâm và rất được vua trọng đăi ; sau v́  Cao Lực Sĩ và Dương Quốc Trung dèm pha bài Thanh B́nh Điệu với Dương Quư Phi, bảo so sánh Quư Phi với Triệu Phi Yến là Hoàng hậu bị thất sủng ; Dương Quư Phi tâu vua xin đuổi về. Vua tiếc tài, cho một ân huệ được uống rượu miễn phí bất cứ nơi nào, triều đ́nh chi trả.

 

Thi tiên Lư Bạch

Link: https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%BD_B%E1%BA%A1ch

 

             Trong lúc An Lộc Sơn nổi loạn, Lư đang ở miền Lư Sơn. Bấy giờ tước Vĩnh Vương tên là Lân Dương cầm quân ở vùng Đông Nam, viết thư bắt Lư phải đến giúp ḿnh. Lân tuy không phải là bè đảng của An Lộc Sơn, nhưng cũng không theo vua Đường. V́ thế, khi Lân bị thua, th́ Lư cũng bị bắt giam, rồi bị đầy sang nước Dạ Lang. Được bạn bè minh oan chẳng bao lâu lại được tha về ông tiếp tục ngao du đi Hán Dương và đến Đang Đồ ở nhờ người anh họ Lư Dương Băng. Ngoài sáu chục tuổi ông mất tại sông Thái Trạch, huyện Đang Đồ : Lư bị chết đuối. Lúc ấy, Lư đang say rượu ngồi trên thuyền, trông thấy vầng trăng nằm dưới sông đẹp quá, liền nhảy xuông sông ôm lấy. chẳng may bị sóng cuốn đi,  nơi Lư mất có đền ngày nay có đền Tróc Nguyệt, và tương truyền rằng Lư cưỡi cá ḱnh bay lên trời.

 

NGUYỄN DU QUA DI TÍCH LƯ BẠCH

            Trên đường từ Bắc Kinh về nước từ 2-11 năm Quư Dậu (1813) đến 11-12, Nguyễn Du qua châu thành Cảnh Châu, thuộc tỉnh Trực Lệ, sau đó qua Đức Châu, tỉnh Sơn Đông, rồi qua tỉnh An Huy mà xuống Vơ Xương tỉnh Hồ Bắc . Nguyễn Du có đi ngang đầm Đào Hoa, một di tích trong thơ Lư Bạch. Nơi đây người bạn Uông Luân đă tiễn Lư Bạch. Đầm Đào Hoa ở tỉnh An Huy, phía nam sông Dương Tử (Trường Giang) nơi đây Nguyễn Du đi qua làm ba bài thơ An Huy đạo trung, Đào Hoa đàm Lư Thanh Liên cựu tích và Đào Hoa dịch đạo trung.

            Nước đầm Đào Hoa sâu ngh́n thước ta, trong suốt. Tùng bách mọc hai bên bờ đồng mùa Đông vẫn xanh.  Lư Thái Bạch làm quan Cung  phụng, một chức quan thuộc ṭa Hàn Lâm đời Đường, nên c̣n được gọi là Lư Cung Phụng. Vua Đường Huyền Tông cho Cao Lực Sĩ đến gọi Lư Bạch vào cung làm thơ. Lư Bạch đang say, phải vực lên thuyền. Thơ Đỗ Phủ nói về việc này : « Thiên tử hô lai bất thượng thuyền, tự xưng thần thị tửu trung tiên ».(Nhà vua cho gọi, không lên thuyền, tự xưng làng rượu tớ là tiên). Lư Bạch đến chơi đầm Đào Hoa tặng Uông Luân một bài thơ trong đó có hai câu : « Đào Hoa đầm thủy thâm thiên xích, bất cập Uông Luân tống ngă t́nh » (Đào Hoa đầm nước sâu ngh́n thước, chẳng sánh t́nh Uông lúc tiễn ta). Lư Bạch xem nhẹ vinh hoa như chiếc giày rách. Cảnh đẹp nhờ người mà để danh ngàn năm. Chứ đâu phải v́ nước đầm mênh mông bát ngát. Nước đầm đến nay vẫn trong veo và gợn sóng,. Con chim con cá đều thành tiên. Buồn v́ không được thấy lại người ấy. Khiến ta từ xa đến ḷng thấy bùi ngùi. Đường đời bụi bặm quả thật là nhơ dục và hổn tạp. Chi bằng suốt ngay uống trà mà giữ tṛn lấy thiên tính của ḿnh.

DẤU CŨ LƯ THANH LIÊN Ở ĐẦM ĐÀO HOA

Đào Hoa ngh́n thước nước đầm trong,

Tùng bách bên đầm đông vẫn xanh.

Nghe nói Triều Đường quan họ Lư,

Uống rượu say nên đầm nổi danh.

Người sống mười năm nơi quán rượu,

Nhà vua gọi đến vẫn say mèm,

Tự bảo là Tiên trong làng rượu,

Nhẹ như giày rách bả hư vinh.

Cảnh đẹp nhờ người danh để măi,

Đâu phải v́ đầm nước mông mênh.

Đầm đó đến nay trong gợn sóng,

Con chim con cá đều thành tiên.

Buồn nỗi người xưa không được thấy,

Xót xa ta đến sầu mênh mang,

Đường đời bụi bặm bao nhơ đục,

Thà suốt ngày say giữ tính thiên.

Nhất Uyên dịch thơ; Nguyên tác phiên âm Hán Việt :

ĐÀO HOA ĐÀM LƯ THANH LIÊN CỰU TÍCH

Đào Hoa đàm thủy thiên xích thanh,

Đàm thượng tùng bách đông do thanh,

Đạo thị Đường triều Lư Cung phụng,

Tùng ẩm thử đàm nhân đắc danh.

Thập niên tửu tứ nhân gian thế,

Thiên tử hô lai do lạn túy,

“Tự ngôn thần thị tửu trung tiên.”

Bạc thị vinh danh đồng tệ lư,

Thiên niên thắng tích dĩ nhân truyền.

Bất tại du du nhất đàm thủy.

Đàm thủy chí kim thanh thả liên,

Nhất ngư nhất điểu giai thành tiên.

Trú tướng, tư nhân bất phục kiến,

Viễn lai sử ngă tâm mang nhiên,

Thế lộ trần ai tín hỗn trọc,

Bất như chung nhật thống ẩm toàn ngô thiên.

 

Thơ Lư Bạch,

link: http://www.thivien.net/L%C3%BD-B%E1%BA%A1ch/author-8WYDeeki5xZo8eD-k6Sk5A

 

LƯ BẠCH, NGUYỄN DU VÀ DƯƠNG QUƯ PHI

Nói đến Lư Bạch là nhớ đến Dương Quí Phi, ngày xưa ai ai cũng nhớ đến bài thơ tuyệt tác thi hào Lư Bạch ca tụng giai nhân. Giai nhân không được thi sĩ ngợi ca, như đóa hoa phong lan nở trong hốc đá rừng thẳm. Biết bao giai nhân, như hoa phong lan tàn tạ trong lăng quên. Lời thơ tuyệt tác của thi nhân làm hương sắc giai nhân bay xa  ngàn năm, vượt qua không gian và thời gian. Bài thơ Thanh B́nh Điệu, là một điệu nhạc hát trong cung pḥng đời nhà  Đường, Lư Bạch dùng điệu nhạc này ca tụng vẽ đẹp Dương Quí Phi. Nhạc sử chép rằng. Đời Thiên Bảo, khi Lư Bạch ở toà Hàn Lâm. Vườn thượng uyển trong cung người ta yêu thích hoa mộc thượng dược (ngày nay gọi là hoa thược dược) : hồng, tía, hồng nhạt và trắng trồng trước đ́nh Trầm hương. Mùa hoa nở vua Đường Minh Hoàng đem Dương Quư Phi đến đó thưởng hoa, có nhiều cung nữ theo hầu. Tới nơi ca nữ danh tiếng Lư Qui Niên cầm phách toan hát. Minh Hoàng ngăn lại và nói : Thưởng danh hoa, đối Quư Phi tử, sao lại dùng những những bài hát cũ. Rồi vua sai Lư Qui Niên cầm giấy hoa vàng đ̣i Lư Bạch đến, bắt Lư lập tức dâng ba bài Thanh B́nh điệu. Bấy giờ Lư Bạch c̣n say rượu chưa tỉnh, cầm bút viết luôn ba bài thơ.

Bài thứ nhất  tả vẻ đẹp Dương Quí Phi.  Vẻ đẹp ấy khác hẳn cái đẹp người thường, khiến cho người ta thấy mây, tưởng đến xiêm áo của nàng, thấy hoa tưởng đến nhan sắc của nàng. Dáng điệu nàng nhẹ nhàng như gió xuân thổi qua khung cửa. Dung nhan nàng lộng lẫy như hạt sương đọng trên cành hoa. Một người như thế trần gian khó có. Nếu không phài là tiên ở trên núi Quần Ngọc của bà tiên Vương Mẫu, th́ ắt là người dưới bóng trăng Đài Dao của họ Hữu Nhung.

Bài thứ hai tả t́nh yêu Minh Hoàng đối với Dương Quí Phi. Nàng đă đẹp, lại được sự ân ái của vua, làm thêm vẻ vang, cũng như cành hoa diễm lệ lại có sương móc thấm vào, để giữ mùi thơm khỏi bị phai lạt. Thần nữ núi Vu Sơn, sớm làm mây, tối làm mưa thấy cuộc ân t́nh nàng với vua cũng phải đứt ruột v́ ghen tuông. Xưa nay, phi tần nhiều người được vua yêu dấu chỉ có nàng Triệu Phi Yến đời Hán. Thử hỏi trong cung Hán ai được may mắn như nàng ? Song Phi Yến được vua Hán Thành Đế yêu dấu, c̣n phải nhờ sự điểm trang. Thế th́ không thể ví được với nàng. Việc so sánh Dương Quư Phi với Triệu Phi Yến, về sau trở thành cái tội, v́ Phi Yến là Hoàng hậu về sau bị thất sủng. Lư Bạch tiên đoán Dương Quư Phi cũng sẽ bị thất sủng như Phi Yến chăng ? Lư Bạch bị  Quư Phi dèm pha đuổi khỏi triều đ́nh. Vua Đường Huyền Tông thương t́nh thưởng cho một đặc ân, được quyền uống rượu bất cứ nơi nào, đều miễn phí được  triều đ́nh chi trả.

Bài thứ ba tả cảnh cuộc thưởng thức mẫu đơn. Lúc ấy, mẫu đơn là thứ danh hoa với nàng là bậc nghiêng nước cùng như trông nhau mà cười, thật là cuộc vui hiếm có, vua Huyền Tông thưởng thức vui vẻ cũng là đáng lắm. Trước sự thưởng thức của vua, trong ḷng nàng,  những sự bùi ngùi man mác v́ gió xuân gây ra đều tan biến đi mất. Nhưng nàng vẫn c̣n tựa bức lan can, đứng phía bắc  đ́nh Trầm Hương, dáng điệu lả lơi của nàng lúc ấy lại càng yểu điệu hơn.

ĐIU THANH B̀NH

Mây tưởng y trang , hoa dung nhan,

Gió xuân xiêm áo, sương nồng nàn.

Ví chăng  Quần Ngọc không nh́n thấy,

Th́ dưới Dao Đài hiện ánh trăng.

Một cành diễm lệ thắm hơi sương,

Thần Nữ Vu Sơn đứt ruột ghen,

Ướm hỏi Hán Cung ai sắc nước,

Có chăng Phi Yến mượn màu son.

Sắc nước hương trời khéo sánh đôi,

Quân vương say đắm nụ cười tươi,

Sầu xuân man mác lên đầu gió,

Cửa Bắc,  Đ́nh Trầm tựa lă lơi.

Nhất Uyên dịch thơ Lư Bạch; Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

THANH B̀NH ĐIU

Vân tưởng y thường, hoa tưởng dung,

Xuân phong phật hạm, lộ hoa nùng,

Nhược phi Quần ngọc sơn đầu kiến,

Hội hướng Dao đài nguyệt hạ phùng.

Nhất chi nùng điếm lộ ngưng hương,

Vân vũ Vu sơn uổng đoạn trường.

Tá vấn Hán cung thùy đắc tự ?

Khả liên Phi Yến ỷ tân trang.

Danh hoa khuynh quốc lưỡng tương hoan.

Dương đắc quân vương đái tiếu khan.

Giải thích xuân phong vô hạn hận,

Trầm hương đ́nh bắc ỷ lan can.

 

Dương QPhi (楊貴妃)

Tranh vẽ Dương quư phi cưỡi ngựa

Link: https://vi.wikipedia.org/wiki/D%C6%B0%C6%A1ng_qu%C3%BD_phi

 

 Nguyễn Du viết bài Dương Phi Cố Lư, năm 1789 khi đi  Trường An. Dương Quư Phi tức Dương Ngọc Hoàn,  người Hoàng Nông, Hoa Âm, tỉnh Thiểm Tây, mồ côi sớm được chú là Dương Huyền Yêu nuôi, mười tám tuổi nàng làm thị nữ cho Thọ Vương Mạo con thứ 18 vua Đường Huyền Tông. Thấy nhan sắc nàng giống quí phi nhà vua mới mất. Thọ Vương tiến nàng vào cung vua. Huyền Tông phong làm Quí Phi. Họ hàng Quí Phi nhờ thế mà lên địa vị cao. An Lộc Sơn nổi loạn, vua Huyền Tông chạy vào đất Thục (Tứ Xuyên). Đến Mă Ngôi quân lính không chịu đi, đ̣i trừng phạt Dương Quốc Trung anh họ nàng và Dương Quí Phi.. Nàng thắt cổ chết. Mă Ngôi  tức Tây Giao ở phía Tây Trường An, trong ba năm giang hồ 1787-1790. Nguyễn Du đă đi Trường An và sau đó Hàng Châu. Trên đường đi sứ năm 1813 Nguyễn Du đi Bắc Kinh,  không đi qua nơi này. Sự kiện Dương Quư Phi, giống như Đặng Thị Huệ của chúa Trịnh Sâm. Em trai cũng lộng quyền, và kiêu binh cũng đ̣i trừng trị. Phải chăng Nguyễn Du mượn chuyện Dương Quí Phi để nói  Đặng Thị Huệ, nàng không tội t́nh ǵ, mà mọi người đều đổ oan cho tội làm 243 năm nhà Trịnh sụp đổ. Có lẽ Nguyễn Du cũng đồng quan điểm với Hoàng Lê Nhất Thống Chí khen phẩm tiết của Đặng Thị Huệ, qua lời khen Nguyễn Hữu Chỉnh, khi nghe người em rể kể về Đặng Thị Huệ. Bao nhiêu tiến sĩ triều đ́nh, bao nhiêu tướng tài ăn bổng lộc vua chúa đều bất tài vô dụng như phổng đá, nên đổ oan việc mất  nước cho một người đàn bà.

Hoàng Lê Nhất Thống Chí. Văn Học, Hà Nội 1970,  tr 88 viết : “Khi chúa nhỏ bị bỏ (Trịnh Cán), Thái phi (mẹ Trịnh Tông, Dương Thái hậu) liền sai người bắt Tuyên phi (Đặng thị Huệ) đến trước mặt ḿnh, kể tội, rồi buộc Tuyên phi phải lạy tạ. Tuyên phi không chịu lạy. Thái phi bèn sai hai thị nữ đứng kèm hai bên, níu tóc Tuyên phi rập đầu xuống đất. Nhưng Tuyên phi nhất định không chịu lạy, mà cũng không nói nửa nhời. Thái phi giận quá, đánh đập một hồi, nhổ nước bọt vào đầu vào mặt, rồi đem giam vào nhà Hộ tăng ở vườn sau. Tại đây Tuyên phi bị làm t́nh làm tội cực kỳ khổ sở. Một bữa Tuyên phi lấy áo che mặt, trốn ra khỏi cửa Tuyên vũ, chạy đến bến đ̣ phố Khách th́ bị quân lính đuổi kịp. Từ đó lại càng bị giam giữ chặt chẽ. Năm sau trong nhà tẩm miếu trên lăng Thịnh phúc, tự dưng bao nhiêu đồ thờ bằng gỗ, bằng vàng hễ động tay vào là nát mủn như bùn. Viên giữ lăng miếu vội vàng gửi thư về kinh tŕnh rơ việc biến. Thái phi cho đ̣i cô đồng vào hỏi. Cô đồng phán rằng: “Chúa Thượng đă làm trái ư tiên vương: tội bất hiếu có hai điều:  Chúa vừa lên ngôi, đă ngờ Đặng thị làm bùa yểm trong tử cung, rồi tự ư cậy mở tử cung, thay đổi quần áo khâm liệm, khiến cho xương ngọc không yên. Đó là một ! Đặng thị là người tiên vương yêu dấu, bây giờ bị chúa làm cho tủi nhục đủ đường, khiến vong linh tiên vương phải áy náy . Đó là hai ! Nếu không mau hối lỗi tạ tội, tai biến sẽ c̣n nhiều nữa.! " Thái phi sợ hải, lập tức vào nói với chúa. Chúa bèn sai quan tế lễ tạ tội, rồi cho Tuyên phi được trở lại làm cung tần nội thị vào thờ phụng tẩm miếu. Tuyên phi được vào hầu hạ lăng tẩm, ngày đêm chỉ gào khóc xin chết theo tiên vương. Đến ngày giỗ “đại tường “ của tiên vương. Tuyên phi bèn uống thuốc độc mà chết. Chúa sai quan trấn thủ Thanh Hoa, theo lễ cung nhân táng Tuyên phi ở cách Vọng lăng của tiên vương một dặm.” Chỉnh nói: - Chết được đấy ! Ta tưởng Tuyên phi chỉ có nhan sắc, không ngờ lại có tiết liệt như vậy… “

Bài thơ Dương Phi cố lư Nguyễn Du viết: Mây núi thưa thớt, hoa bên sông rực rỡ. Nghe nói Dương Quư Phi sinh ở đất này. Chỉ v́ cả triều đ́nh như phổng đứng, mà ngh́n năm cứ đổ oan cho sắc đẹp nghiêng thành. Vụ loạn An Lộc Sơn, tựa như nhà Tây Sơn  đánh sụp đổ nhà Trịnh như một cơn gió thoảng.  Nhà Trịnh sụp đổ v́ tướng Phạm Ngô Cầu trấn thủ Phú Xuân bất tài, tham nhũng, hay nghi kỵ,  mê muội tin lời thầy bói. Quan Tham Tụng Bùi Huy Bích  (Thủ Tướng) trước t́nh thế ngă nghiêng không dâng được một kế sách nào !  Cung Nam nội buồn teo, cỏ dại mọc khắp. Đồng Tây Giao vắng ngắt, g̣ đống san bằng. Hương tàn phấn ră nay biết t́m đâu ? Dưới thành gió Đông thổi, khiến người cảm xúc vô hạn.

QUÊ CŨ DƯƠNG QUÍ PHI

Bên sông hoa nở núi mây thanh,

Nghe nói Dương Phi đất ấy sanh.

V́ cả triều đ́nh như phỗng đứng,

Đổ oan ngh́n thuở sắc nghiêng thành.

Cỏ cây Nam nội buồn man mác,

G̣ đống Tây Giao giờ vắng tanh.

Hương phấn hoa tàn ai biết nữa,

Gió Đông hiu hắt dưới chân thành.

Nhất Uyên dịch thơ; Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

DƯƠNG PHI CỐ LƯ

Sơn vân tước lược ngạn hoa minh,

Kiến thuyết Dương Phi thử địa sinh.

Tự thị cử triều không lập trượng,

Uổng giao thiên cổ tội khuynh thành.

Tiêu tiêu Nam nội bồng cao biến,

Mịch mịch Tây Giao khâu lũng b́nh,

Lang tạ tàn hồng vô mịch xứ,

Đông phong thành hạ bất thăng t́nh.

Thời đại chúa Trịnh Sâm, chúa là một nhà thơ nôm danh tiếng, triều đ́nh cũng đầy những nhà thơ tài danh: Nguyễn Tông Khuê, Nguyễn Huy Oánh, Hồ Sĩ Đống, Nguyễn Khản, Lê Quư Đôn.. nhưng không thấy một bài thơ  danh tiếng nào ca tụng sắc đẹp Đặng Thị Huệ. Chỉ thấy triều đ́nh chia hai phe bên theo theo pḥ Trịnh Tông, bên theo pḥ Trịnh Cán.

Nguyễn Du không tả chân dung, sắc đẹp của giai nhân đương thời và hùa theo người đời kết án: sắc đẹp là nguyên nhân làm vua chúa đắm say quên mất việc triều chính, gây hổn loạn phế lập con thứ con trưởng, làm nên binh biến, làm mất nước. Nguyễn Du không kết án giai nhân, cũng không kết án vua chúa, mà kết án những ông Hành tụng, Bồi tụng, Ngự Sử, Thượng thư, Thị Lang.. Tiến sĩ làm quan triều đ́nh, những vơ tướng rường cột nước nhà, các ông là phổng đá đứng làm cảnh cả sao, trước mọi t́nh thế, nguy nan không đề ra được một phương án, kế sách giải quyết t́nh h́nh, các ông ăn bổng lộc của triều đ́nh, của dân của nước để làm ǵ ?, khi thất bại lại đổ lỗi cho sắc đẹp của giai nhân làm đổ nước nghiêng thành ?

 

TỪ TRƯƠNG TIẾN TỬU CỦA LƯ BẠCH ĐẾN HÀNH LẠC TỪ CỦA NGUYỄN DU

Nguyễn Du chịu nhiều ảnh hưởng thơ Lư Bạch, trong phong cách uống rượu nh́n đời,  từ những bài thơ Hành lạc từ phản phất thơ Trương Tiến Tửu của Lư Bạch. Chúng ta hăy đọc bài Trương Tiến Tửu của Lư Bạch: Trương Tiến Tửu là một điệu trong Cổ nhạc Phủ, Lư Bạch theo đầu đề ấy mà làm bài này.

Anh không thấy con sông Hoàng Hà phát nguyên ở chỗ cao, thân sông lại dài, đứng ở hạ lưu trông lên, tưởng như nước ở trên trời đổ xuống, nó chảy xuống biển th́ không bao giờ trở lại. Và anh lại không thấy cái gương để trong nhà cao thường khiến cho ta trông thấy mái tóc mà sầu. Buổi sớm c̣n xanh như sợi tơ xanh, buổi tối đă trắng như hoa tuyết !  Ngày tháng của kiếp người cũng thế, như nước sông Hoàng Hà trôi đi không bao giờ trở lại. V́ vậy khi ta đắc ư cứ vui với chén rượu đùng để chén không dưới vầng trăng. Trời đă sanh cho ḿnh có tài tất có chỗ dùng. Dẫu ngh́n vàng tiêu hết, lại kiếm ra được. Cứ hầm dê, giết trâu mà chén rượu. Và uống một lần đủ ba trăm chén. Sầm Phu Tử và Đan Khâu sinh. Rượu đă mời các anh chớ vội dừng thôi. Tôi v́ các anh mà hát một khúc, các anh hăy v́ tôi mà lắng tai nghe. Hát rằng : Chuông, trống, tiền ngọc chẳng quí ǵ. Chúng ta chỉ muốn được say măi, chứ không muốn tỉnh. Tỉnh như bao thánh hiền ngày xưa, bây giờ đều im phăng phắc, chẳng ai biết đến. Chỉ có kẻ say trà rượu, tên họ vẫn c̣n ghi măi. Cái người nổi tiếng nhất là Trần Tư Vương Tào Thục. Khi Tào Thực thết tiệc ở quán B́nh Lạc, khách khứa uống hết mươi ngh́n đấu rượu, tha hồ vui đùa.  Ở đời như thế mới đáng. Vậy th́ chủ nhân đừng kêu ít tiền, phải mua rượu ngon ngay để ta cùng uống. Nếu tiền không sẳn, th́ con ngựa vân năm sắc và tấm áo cừu đáng giá ngh́n vàng để đâu, hăy gọi con đem đổi lấy thứ rượu ngon, để chúng ta uống cho tiêu cái sầu muôn đời.

Bài Trương Tiến Tửu thật là một bài thơ liều mạng, uống rượu như thế này th́ gan ruột cháy nát, sống được bao lâu, người mà suốt ngày không làm lụng chỉ uống rượu vui chơi th́ chỉ là con kư sinh trùng trong xă hội, chẳng có ích lợi ǵ cho ai. Tiền bạc bao nhiêu cứ cho vào rượu, th́ chết chẳng có tiền mua ḥm mà chôn, th́ chết đuối mất xác  trên sông nước cũng phải. Bảo thánh hiền im phăng phắc, chỉ có kẻ say rượu là nổi danh là một lời ngụy biện. Gọi trời sinh ta là có chỗ dùng, th́ chẳng có ai thất nghiệp cả là che dấu một thực tế, chẳng có ai dùng mới sinh ra rượu chè, be bét.  Ngh́n vàng tiêu hết tự nhiên có ngh́n vàng khác trời cho đem lại , quả là mơ mộng ảo huyền,  người đă nghèo rồi th́ khó ngóc đầu lên, người giàu th́ có phương tiện làm giàu, câu thơ này  là  để quảng cáo cho các anh nấu rượu lậu làm giàu.  Một con ḅ hai ba trăm kí lô, ngày xưa giết ḅ trâu là cả làng ăn, ba người ăn được là bao mà giết ḅ và dê để làm đồ nhậu, quả là con mắt to hơn cái bụng. Kẻ viết bài Trương Tiến Tửu nếu sống trong xă hội ngày nay chắc là phải vào nhà thương để trị bệnh nghiện rượu, cả Sầm Phu Tử, Đan Khâu sinh cũng phải giải độc. Xem bài Trương Tiến Tửu là bài thơ hay nhất của Lư Bạch để truyền lại cho đời, thật sự là truyền cái độc hại đến muôn đời.

 

TRƯƠNG TIẾN TỬU

Anh có thấy nước sông Hoàng Hà từ trời cao đổ xuống,

Chảy ra biển rồi chẳng bao giờ trở lại đâu ?.

Anh không thấy gương trong nhà cao soi đầu bạc mà sầu,

Sớm như tơ biếc, tối hầu tuyết pha.

Hăy vui măi khi ta đắc ư,

Chớ chén không, bỏ dưới vầng trăng,

Trời sinh ta có chổ dùng,

Ngh́n vàng tiêu hết, ung dung kiếm về.

Vui đi đă, dê phanh, ḅ mổ,

Ba trăm ly đủ uống một lần ;

Sầm Phu tử, Đan Khâu sinh,

Rượu vui xin chớ ngại ngùng dừng  thôi.

V́ các bác hát chơi một khúc,

Bác v́ tôi một lúc nghiêng tai.

Ngọc tiền chuông trống quư ǵ,

Chúng ta chỉ muốn cuộc say măi hoài.

Bao hiền thánh đến nay im vắng,

Phường rượu ta lưu lại kỳ danh.

Trần Vương tiệc rượu quán B́nh,

Mười ngh́n đấu rượu thoả t́nh tiệc tân.

Chủ nhân chớ ngại ngần tiền ít.

Mua rượu ta say tít cùng nhau.

Ngh́n vàng ngựa quư , áo cừu,

Gọi con đem đổi vài bầu rượu thơm,

Uống cho muôn thuở tan buồn.

Nhất Uyên dịch thơ; Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

 

TRƯƠNG TIẾN TỬU (LƯ BẠCH)

Quân bất kiến Hoàng Hà chi thủy thiên thượng lai,

Bôn đáo hải bất phục hồi.

Hựu bất kiến cao đường minh kính bi bạch phát,

Triêu như thanh ti, mộ như tuyết ?

Nhân sinh đắc ư tu tận hoan,

Mạc xử kim tôn không đối nguyệt !

Thiên sinh ngă tài tất hữu dụng,

Thiên kim tán tận hoàn phục lai.

Phanh dương, tể ngưu, thả vi lạc,

Hội tu nhất ẩm tam bách bôi !

Sầm Phu tử, Đan Khâu sinh !

Tiến tửu quân mạc đ́nh !

Dữ quân ca nhất khúc,

Thỉnh quân vị ngă trắc nhĩ thinh :

Chung cổ soạn ngọc bất túc quí,

Đăn nguyện trường túy, bất nguyện t́nh,

Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch.

Duy hữu ẩm giả lưu kỳ danh,

Trần Vương tích th́ yến B́nh Lạc,

Đẩu tửu thập thiên tứ hoan hước.

Chủ nhân hà sự ngôn thiểu tiền ?

Kính tu cô tửu đối quân chước !

Ngũ hoa mă, thiên kim cừu !

Hộ nhi tương xuất hoán mỹ tửu,

Dữ nhỉ đồng tiêu nan cổ sầu !

Chú thích :

Sầm Phu tử, Đan Khâu sinh : là Sầm Tham và Nguyên Đan Khâu, hai người bạn của Lư Bạch.

Trần Vương : Tức Trần Tư Vương tước vua Ngụy phong cho Tào Thực.

B́nh Lạc : tên một tửu quán đời Ngụy.

Cổ Nhạc Phủ có điệu Trương tiến Tửu. Lư Bạch theo đầu đề mà làm bài này khuyên bạc uống rượu.

Chúng ta hăy đọc bài Hành Lạc từ của Nguyễn Du phản phất không gian thơ Lư Bạch mời ruợu, hăy sống vui chơi hôm nay, đừng lo danh tiếng hảo xa vời khi đă chết, công danh, giàu sang trần thế như phù vân, có rồi lại mất, đời người ai sống lâu chỉ tám chục tuổi, tội ǵ ngàn năm lo. Khác thơ Lư Bạch đầy dao to búa lớn, viết những điều phi lư. Nguyễn Du trong bài Hành Lạc từ có lư hơn. Nguyễn Du không đ̣i giết dê, ḅ không biết là của ai để làm thịt nhậu, mà là vui thú sau một cuộc đi săn : Chó tốt lông vàng đốm trắng, cổ đẹp đeo chuông vàng. Chàng trai trẻ mặc áo cộc, dắt chó đi về phía núi Nam Hồng Lĩnh. Núi Nam có nhiều nai hương, huyết ngọt thịt thơm ngon. Dao vàng thái thành món ăn quư, rượu ngon uống trăm chung. Đời người ai sống trăm tuổi, vui chơi cho kịp th́, tội ǵ sống  bần tiện, lo âu suốt một đời người. Bá Di, Thúc Tề, con vua Cô Trúc không thần phục nhà Chu, lên núi Thú Dương ở ẩn, nhịn đói mà chết, chứ không thèm ăn thóc nhà Chu cũng chẳng có danh lớn.  Chích Cược hai tên trộm cướp nổi tiếng thời Xuân Thu, Đạo Chích em Liễu Hạ Huệ có khoảng chín ngh́n lâu la đi cướp của người vợ người. Trang Cược em Sở Trang Vương cũng là tay ăn cướp đại bợm, hai kẻ ấy cũng chẳng giàu to. Có chó cứ làm thịt, có rượu cứ nghiêng bầu. Nguyễn Du không đ̣i giết dê ḅ, bán cả ngựa quư, áo cừu để mua rượu như Lư Bạch. Hay dỡ trên đời không sao biết được. Cần ǵ lo tiếng hảo về sao. Câu thơ này Nguyễn Du phản đối kịch liệt người đời sau cho rằng Nguyễn Du đ̣i ba trăm năm lẻ có kẻ khóc ḿnh trong bài Độc Tiểu Thanh Kư..

Trên núi có hoa đào, tươi đẹp như tấm lụa đỏ, sáng sớm c̣n đùa giỡn với mùa xuân đẹp, chiều đă nằm giữa bùn lầy. Câu thơ này Nguyễn Du  viết hay và có lư hơn câu thơ Lư Bạch : Nhà cao, gương xót mái đầu, Sớm c̣n tơ biếc , tối hầu tuyết pha. Người ta chỉ thấy khi cả nhúm tóc bị bạc, chớ có ai để ư từng sợi tóc, sáng xanh chiều bạc đâu ? Hoa đẹp không được trăm ngày, người sống lâu mấy ai trăm tuổi, chuyện đời lắm đổi thay, sống kiếp phù sinh nên cứ vui chơi. Trên tiệc rượu có gái đẹp như hoa. Trong ṿ có rượu quư nổi sóng vàng, tiếng thúy quản, tiếng ngọc tiêu khi mau khi chậm, được dịp hát to, cứ hát cho nở nang buồng phổi. Người không thấy ông Vương Nhung cầm thẻ ngà, ngày nào cũng tính toán mà trong bụng vẫn chưa thấy đủ. Vương Nhung là một trong Trúc Lâm thất hiền đời Tấn, nhà giàu vườn ruộng ở khắp các châu, nhưng lại là tay biển lậnngày nào cũng cầm bàn toán, thẻ ngà để tính toán. Trong nhà có cây mận rất ngon, bán quả sợ người ta được giống nên dùi nát hộtđi rồi mới bán. Thế mà đài Tam công cũng đổ, cây mận ngon cũng chết, bạc vàng tiêu tan cho người khác hưởng. Lại không thấy ông Phùng Đạo thời Ngũ Đại lúc về già, phú quư xiếc bao, trải mấy triều vua không rời ngôi khanh tướng, thế mà miếng đỉnh chung rốt cục vẫn là không. Ngh́n năm chỉ lưu bài Trường Lạc tự, kể chuyện ḿnh thờ bốn họ : Đường, Tấn, Hán, Chu, sáu ông vua. Phú quư trước mắt không khác ǵ phù vân, người nay chỉ biết cười người xưa, người chết mồ mă đă ngỗn ngang, người nay đời sau vẫn bôn tẩu rộn ràng. Xưa nay kẻ hiền ngu  cũng chỉ trơ lại một nấm đất, không ai vượt qua được cửa ải sống chết, khuyên anh nên uống rượu rồi vui chơi, ḱa nh́n trong cửa sổ phía Tây, bóng mặt trời đă xế. Cùng một tư tưởnbg nhưng thơ Nguyễn Du, không ngoa ngữ, dao to búa lớn, như thơ Lư Bạch, hợp lư và vừa phải.

HÀNH LẠC TỪ

Bài I :

Chó săn vàng đốm trắng,

Cổ đẹp đeo chuông vàng.

Chàng trai mặc áo ngắn,

Dắt về phía núi Nam.

Núi Nam nhiều nai hương,

Huyết ngọt thịt thơm ngon.

Dao vàng thái món quí,

Rượu ngon uống trăm chung.

Đời ai sống trăm tuổi,

Gặp thời cứ vui chơi.

Tội chi sống bần tiện,

Lo âu suốt đời người.

Di Tề chẳng danh lớn,

Chích Cược không giàu to,

Sống lâu chỉ tám chục,

Tội ǵ ngàn năm lo.

Có chó cứ làm thịt,

Có rượu cứ nghiêng bầu.

Hay dỡ trên đời sao biết được,

Cần ǵ lo tiếng hăo về sau.

Bài  II

Núi cao hoa đào nở,

Tươi như màu lụa đỏ,

Sáng mai đùa xuân xanh,

Chiều tối rơi bùn nhọ.

Hoa nào đẹp trăm ngày ?

Người ai sống trăm tuổi ?

Chuyện đời lắm đổi thay,

Kiếp phù sinh chơi măi.

Trong tiệc mỹ nữ đẹp như hoa,

Trong hồ có rượu như vàng pha,

Tiếng kèn tiếng sáo ngân khoan nhặt,

Được dịp hát to cứ hát ca.

Anh có thấy ông Vương Nhung tự tay cầm bàn ngà,

Ngày ngày tính toán ḷng chưa vui sướng.

Đài Tam công đổ , cây mận ngon tàn,

Bạc vàng tiêu tán người khác hưởng.

Lại thấy không, ông Phùng Đạo khi về già c̣n phú quí,

Trải mấy triều vua ngôi cao khanh sĩ,

Chuông minh đỉnh vạc lại hoàn không,

Ngh́n năm lưu bài Trường Lạc tự.

Giàu sang trước mắt như phù vân,

Người nay chỉ biết cười người trước,

Người trước chết chôn đầy tha ma,

Người nay sao vẫn c̣n xuôi ngược.

Hiền ngu xưa nay một nấm mồ,

Nào ai vượt qua được sống chết,

Anh ơi uống rượu rồi vui chơi,

Ḱa trông phía Tây trời đă xế.

Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nhất Uyên dịch thơ; Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

 

HÀNH LẠC TỪ

I

Tuấn khuyển hoàng bạch mao,

Kim linh hệ tú cảnh,

Kim sam thiếu niên lam,

Khiển hướng Nam Sơn lĩnh.

Nam Sơn đa hương mi,

 Huyết nhục cam thả ph́,

Kim đao thiết ngọc soạn,

Mỹ tửu lũy bách chi.

Nhân sinh vô bách tải,

Hành lạc dương cập kỳ.

Vô vi thủ bần tiện,

Cùng niên bất khai mi.

Di Tề vô đại danh,

Chích Cược vô đại lợi.

Trung thọ chỉ bát thập,

Hà sự thiên niên kế.

Hữu khuyển khả tu sát,

Hữu tửu thả tu khuynh.

Nhăn tiền đắc táng dĩ nan nhận,

Hà sự mang mang thân hậu danh.

II

Sơn thượng hữu đào hoa,

Xước ước như hồng ỷ.

Thanh thần lộng xuân nghiên,

Nhật mộ trước nê trỉ.

Hảo hoa vô bách nhật,

Nhân thọ vô bách tuế.

Thế sự đa suy di,

Phù sinh hành lạc sự.

Tịch thượng hữu kỹ kiểu như hoa,

Hổ trung hữu tửu như kim ba.

Thúy quản ngọc tiêu hoăn cánh cấp.

Đắc cao ca xứ thả cao ca.

Quân bất kiến,

Vương Nhung nha trù thủ tự tróc,

Nhật nhật cối kê thường bất túc.

Tam Công đài khuynh hảo lư tử,

Kim tiền tán tác tha nhân phúc,

Hựu bất kiến,

Phùng Đạo văn niên xung cực quí,

Lịch triều bất ly khanh tướng vị,

Chung minh đỉnh thực cánh hoàn không,

Thiên tải đồ lưu Trường Lạc tự.

Nhăn tiền phú quí như phù vân,

Lăng đắc kim nhân tiếu cổ nhân.

Cổ nhân phần doanh dĩ luy luy.

Kim nhân bôn tẩu hà phân phân.

Cổ kim hiền ngu nhất khâu thổ,

Sinh tử quan đầu mạc năng độ.

Khuyển quân ẩm tửu thả vi hoan,

Tây song nhật lạc thiên tương mộ.

Chú thích:

Vương Nhung: Một trong Trúc Lâm thất hiền đời Tấn, nhà giàu ruộng vườn khắp các châu, nhưng lại là tay biển lận, ngày nào cũng cầm thẻ ngà trong tay để tính toán, trong nhà có cây mận rất ngon, bán sợ người ta được giống, nên dùi nát hột đi rồi mới bán.

Phùng Đại: Người đời Ngũ Đại, tính chất phát, văn chương hay, làm khanh tướng dưới bốn triều: Đường, Tấn, Hán, Chu tự đặt hiệu là Trường Lạc lăo có làm bài Trường Lăo lạc tứ tự, kể chuyện ḿnh thơ bốn họ, sáu ông vua.

 

TỪ THỤC ĐẠO NAN ĐẾN MINH NINH GIANG CHU HÀNH

Nguyễn Du c̣n mang  ảnh hưởng Lư Bạch trong việc tả sông núi hiểm trở. Nguyễn Du chưa đi qua Ba Thục, nhưng đọc thơ Lư Bạch bài Thục Đạo Nam, lấy ư  tả Minh Ninh Giang lúc đi sứ, để so với đường từ Tần vào Thục. Cảnh Minh Ninh Trung Quốc là đường xứ Việt vào Trung Quốc, chúng ta thử đọc Bài Thục Đạo Nan của Lư Bạch và Minh Ninh Giang chu hành của Nguyễn Du.  Đoạn đường đi Tứ Xuyên ngày nay không c̣n nguy hiểm, nguy hiểm nhất thế giới ngày nay là đoạn đường từ Tứ Xuyên đi Tây Tạng, các đài truyền h́nh các nước có làm nhiều phim về đoạn đường nguy hiểm này.

Trong lúc vua Đường Minh Hoàng phải chạy vào Thục, khi loạn An Lộc Sơn. Lư Bạch cảm xúc làm ra bài này để tả cái cảnh hiểm trở của xứ Thục.  Than ôi ! Đường đi vào Thục khó hơn đường lên trời xanh. Theo như sách sử những đời từ Tam Ṭng, Ngư Phù mở ra xứ Thục kể có 4 vạn 8 ngàn năm . Thế mà chỗ nước Thục với nước Tần chỗ tiếp giáp, vẫn cách biệt nhau đến nỗi, bóng khói hai xứ vẫn chưa thông nhau. Cách đây mười năm tôi có dịp xem một cuộc triễn lăm các khảo cổ vật đào được ở tỉnh Tứ Xuyên tại Paris, cho thấy h́nh dạng các vật dụng, và một nền văn minh hoàn toàn khác với Trung Quốc ngày nay và có ǵ gần gủi với nền văn minh Maya, Inca Châu Mỹ. Đường vào đất Thục hiểm lắm, chỉ ở phía Tây núi Thái Bạch, có một chỗ đá núi đứt quăng, nhưng chỗ đứt quăng ấy cũng cao chót vót, riêng có loài chim mới bay qua đó, mà sang đỉnh núi Nga My, chứ người không thể đi được. Măi đến đời nhà Tần, trời mới sai năm vị lực sĩ, có sức khiêng đồi vác núi, xuống giúp vua Thục. Đến lúc năm vị lực sĩ ấy theo lệnh vua Thục cùng đi dọn đường để đón một người con gái của vua nước Tần xin dâng, chẳng may núi đổ, đá lở, năm vị lực sĩ ấy đều bị chết bẹp, bấy giờ rặng núi chắn ngang hai xứ Tần Thục, mới có chỗ hở. Về sau người ta nhân đó mà dựng thang và bắc cầu đá, để đi từ quả núi nọ sang quả núi kia, th́ đất Thục mới có đường vào. Nhưng con đường ấy có phải dễ đi đâu ! Trên th́ có núi Cao Tiêu h́nh giống như sáu con rồng của Hoàng Bá Đăng đă cưỡi, có thể làm cho mặt trời phải vướng mà quay trở lại, dưới th́ khe suối quanh co, nước chảy lộn ngược coi rất dễ sợ. Cho nên bay cao như con hạc vàng, cũng không thể qua, leo giỏi như loài khỉ vượn, khi muốn vượt qua cũng lo ngại trèo vịn. Hơn nữa giữa đựng đi lại có ngọn đèo Thanh Nê, vừa cao vừa quanh co, có khi đi một trăm bước, phải ngoặt đi ngoặt lại đến chín lần. Những người qua đây thường phải với ḥn đá này, đạp ḥn đá khác, tưởng như với lên sao Sâm, đạp vào sao Tỉnh, là hai sao thuộc về địa phận xứ Thục, rồi th́ mỏi quá, phải ngồi vươn ngực mà thở, vỗ bụng mà than : Không biết ḿnh đi vào xứ Thục th́ bao giờ về ? và lại sợ rằng : đường đi hiểm quá, chưa chắc có trèo được không ?. Bởi vậy đường ấy vắng vẻ, không có ai đi, ban ngày chỉ có quạ kêu trên cây ; v́ nhiều núi loài quạ cũng sợ lạc đường cho nên con trống con mái không dám rời nhau. Ban đêm chỉ có cuốc kêu dưới ánh trăng của đám núi hiu quạnh. Than ôi ! Đường vào Thục khó hơn đường lên trời, nghe câu đó người ta sẽ v́ lo sợ mà già người đi, mặt mũi trăn lại. Nhưng đă hết đâu ! qua núi Thanh Nê, lại có những trái núi khác cao hơn, tưởng như cách trời không đầy một thước. Bởi bọn tiều phu không thể đến đó, cho nên những cây thông khô gẫy xuống, vẫn cứ treo ngược cạnh những tảng đá thẳng như bức tường. Rồi th́ suối ở lưng núi tóe ra, nước trong khe bắn lên, lúc nào cũng nghe ầm ầm. Có khi nước suối dội xuống các khe mạnh quá, đá ṃn rồi lở, trong khe như thể  sấm động. Cái chỗ đă hiểm như thế, những người xa lạ đến đó làm ǵ ! Hay là tham sự hiểm hóc của núi Kiếm Các mà muốn vào đó tranh bá đồ vương ? Cửa Kiếm Các quả có hiểm thật, nó đă cao ṿi vọi, đường đi lại những đá nhọn lởm chởm, hang hốc gập ghềnh, một người đứng ở cửa ấy, muôn người không thể đi qua. Nhưng v́ nó hiểm như thế, cho nên nhiều người muốn chiếm, kể nào chiếm được, cũng phải giao cho người tâm phúc đóng giữ. Nếu kẻ đóng giữ không phải là người tâm phúc, tất nhiên chúng sẽ hóa ra tâm địa sài lang mà phản lại ḿnh.  Thế th́ đất ấy cũng không đáng than. Huống chi, ngoài cái lo về sự pḥng bị loài người, lại cái lo pḥng bị loài vật nữa chứ. Ngày th́ cọp dữ, đêm th́ trắn dài, những con vật ấy vẫn mài nanh liếm máu, giết người như chặt cành gai vậy. Thôi cái xứ Cẩm Thành(Thành Đô) là kinh đô nước Thục kia, tuy có vui thú, cũng không bằng sớm sớm về nhà. Đường vào Thục khó hơn đường lên trời xanh. Đành phải nghiênh ḿnh đứng trông về phía Tây mà thở dài.

 

THỤC ĐẠO NAN (LƯ BẠCH)

Ô ḱa! Thật ! Hiểm mà cao thay!

Đường Thục đi khó, khó hơn đường lên trời xanh !

Tam Ṭng và Ngư Phù,

Mở nước trải bao thu !

Tính năm khi đă bốn vạn tám

Bóng khói ải Tần vẫn chẳng thông.

Phía Tây núi Bạch đường chim qua,

Nơi tuyệt vời cao đỉnh non Nga.

Đất sụp, núi lở,  tráng sĩ chết,

Cầu đá về sau nối thang trời !

Trên là núi Cao Tiêu, như sáu con rồng ngăn bóng ác.

Phía dưới sông quằn quại, thác dội, sóng vỗ, nước chảy ngược.

Cánh chim hạc vàng không thể vượt.

Khỉ vượn muốn qua lo vịn leo !

Rặng núi Thanh Nê càng hiểm nghèo.

Khúc quanh, khúc ngoặt đường cong queo.

Với sao Sâm, đạp Tỉnh, vươn sườn nghỉ.

Vổ bụng ngồi thở dốc, ph́ phèo.

Sang Tây chẳng biết bao giờ về ?

Sợ đường chon von không thể leo .

Ban ngày quạ gào trên cổ thụ,

Quạ mái bay lượn, quạ trống theo.

Cuốc kêu đêm vọng dưới trăng thâu.

Đồi núi quanh đều quạnh hiu !

Đường Thục khó khó hơn đường lên trời xanh !

Nghe nói má hồng  lo nhăn nheo,

Giẫy núi cách trời chẳng đầy thước;

Thông khô vách đá vẫn treo ngược !

Suối tung ầm sóng, nước sáng choang.

Khe ng̣i đá chuyển như sấm vang.

Nó hiểm là như thế !

Hỡi người nơi xứ khác, làm chi mà t́m sang ?

Núi Kiếm Cac cheo leo lại lởm chởm,

Một người canh cửa, muôn người khó vượt !

Kẻ giữ chẳng thân thuộc

Sẽ thành giống sói lang !

Sớm lánh cọp dữ,

Tối lánh trăn dài,

Mài nanh liếm máu,

Giết người như chặt gai !

Cẩm Thành dẫu vui thú,

Chẳng bằng về nhà : thôi.

Đường qua Thục khó khó hơn đường lên trời xanh.

Nghiêng ḿnh về Tây đành ngậm ngùi !

Nhất Uyên dịch thơ; Nguyên tác phiên âm Hán Việt :

 

THỤC ĐẠO NAN (LƯ BẠCH)

Y ! hu !  hi ! nguy hồ cao tai !

Thục đạo chi nan, nan vô thượng thanh thiên !

Tàm Ṭng và Ngư Phù,

Khai  quốc hà mang nhiên !

Nhĩ lai tứ vạn bát thiên tuế,

Bất dữ Tần tái thông nhân yên.

Tây dương Thái Bạch hữu điểu đạo,

Khả dĩ hoành tuyệt Nga My điên,

Địa băng, sơn tồi, tráng sĩ tử,

Nhiên hậu thiên thê, thạch sạn tương câu liên.

Thượng hữu lục long hồi nhật chi Cao Tiêu,

Hạ hữu xung ba, nghịch triết chi hồi xuyên.

Hoàng hạc chi phi thượng bất đắc quá,

Viên nao dục độ, sầu phan viên.

Thanh nê hà bàn bàn !

Bách bộ cửu triết oanh nham loan !

Môn Sâm, lịch Tỉnh, ngưỡng hiếp tức,

Dĩ thủ phủ ưng, toạ trường than,

Vấn quân tây du hà th́ hoàn ?

Úy đồ sàm nham bất khả phan !

Đăn kiến bi đô hào cổ mộc,

Hùng phi ṭng thư nhiễu lâm gian;

Hựu văn tử qui đề

Dạ nguyệt sầu không sơn.

Thục đạo nan, nan vu thượng thanh thiên.

Xử nhân thinh thử điêu chu nhan !

Liên phong khứ thiên bất doanh xích.

Khô ṭng đảo quải ỷ tuyệt bích.

Phi thoan, bộc lưu tranh huyên hôi.

Băng nhai, chuyển thạch, vạn tác lôi,

Kỳ hiểm giả như thử !

Ta nhĩ viễn đạo chi nhân hà vi hồ lai tai ?

Kiếm các tranh vanh nhi đôi ngôi,

Nhất phu đương quan, vạn phu mạc khai.

Sở thủ hoặc phỉ thân,

Hóa vi lang dữ sài.

Triêu ty mạnh hổ,

Tịch tỵ trường sà,

Ma nha noăn huyết,

Sát nhân như ma !

Cầm thành tuy vân lạc,

Bất như tảo hoàn gia !

Thục đạo nan, nan vu thượng thanh thiên,

Trắc thân tây vọng trường tư ta !

Chú thích:

Thục: Tên cũ tỉnh Tứ Xuyên, thủ phủ Thành Đô (Chengdu).

Tam Ṭng, Ngư Phù. Tên hai ông tổ huyền thoại vua nước Thục xưa. Sách Thục Vương bản kỷ của Dương Hùng: Tiên tổ vua Thục là Tam Ṭng, Bách Quân, Như Phù, Bồ Trạch, Khai Minh. Từ Khai Minh tính ngược lên đến Tam Ṭng là 34000 năm.

Tần: xứ giáp giới nước ThụcThái Bạch: dăy núi rất cao chỗ nước Thục, nước Tần giáp nhau.

Nga My: dăy núi biên giới Thục và Tần.

Lục long hồi nhật: Sáu con rồng kéo mặt trời lại. Sách Xuân Thu mệnh lịch viết: Khi Hoàng Bá Đăng ra xứ Phù Tang là chỗ phía Nam mặt trời, cưỡi sáu con rồng bay lên bay xuống, mặt trời bị vướng không đi được, phải quay trở lại.

Cao Tiêu. Núi cao như cây nêu ở phủ Gia Định, c̣n gọi là núi Cao Vọng, núi chủ sơn vùng đó.

Thanh Nê: Tên ngọn núi ở Miện Châu từ Tần vào Thục.

Sâm Tỉnh: tên hai ngôi sao thuộc phận giới nước Thục.

Kiếm các: Tên núi rất hiểm trở huyện Kiếm Các tỉnh Tứ Xuyên.

 

Nguyễn Du viết bài Minh Ninh Giang Chu Hành tả cảnh hiểm trở của sông nước từ Việt vào Trung. Bài thơ này  hùng tráng có thể sánh với bài Thục Đạo Nan của Lư Bạch. Vùng núi Việt Tây có nhiều khe suối. Qua ngh́n năm chảy họp thành một ḍng sông. Nước như đổ xuống tự trên trời cao. Trên thác nghe thấy ǵ ? Nghe như tiếng con rồng có cánh nổi giận, sấm động ầm ầm.  Dưới thác thấy những ǵ ? Thấy  như máy nỏ bật mạnh tên ĺa khỏi dây. Một ḍng tuôn vạn dậm không ngừng. Núi cao giáp bờ như bức tường. Giữa có những ḥn đá kỳ lạ chen chúc nhau. Có những h́nh ḥn rồng, rắn, cọp, beo,trâu, ngựa bày la liệt trước mặt. Lớn như cái nhà, nhỏ như nắm tay. Ḥn cao như đứng, ḥn thấp như nằm ngủ. Ḥn thẳng như chạy, ḥn cong như xoay ṿng. Ngh́n h́nh, vạn vẻ không nói hết. Thuồng luồng,  ly long ra vào thành vực sâu. Sóng vỗ bọt phun ngày đêm ầm ầm. Nước lụt mùa hè vừa dâng, nước sôi sục. Một mạch ba ngày đi, ḷng chơi vơi. Ḷng chơi vơi v́ sợ nhiều. Nguy hiểm thay ch́m sâu không đáy. Mọi người đều nói đường trên đất Trung Hoa bằng phẳng. Hóa ra đường Trung Hoa lại thế này! Sâu hiểm quanh co giống ḷng người. Nguy vong ngiêng đổ đều là do ư trời. Tài cao văn chương thường bị ghen ghét.( Ư nói chuyện Lư Bạch bị Cao Lực Sĩ và Dương Quốc Trung ghen ghét). Thịt người là thứ ma quỷ thích nhất. Sóng gió làm sao yên hết được. Giữ trung tín nhưng rốt cuộc không đủ cậy nhờ. Nếu không tin câu “ra khỏi cửa đều là con đường nguy hiểm “. Th́ hăy thử nh́n ḍng sông cuồn cuộn này.

 

ĐI THUYỀN TRÊN SÔNG MINH GIANG

Vùng núi Việt Tây nhiều khe núi,

Qua ngh́n năm chảy hợp thành sông.

Nước như đổ tự trời cao xuống,

Trên thác nghe ǵ chăng ?

Rồng thiêng nổi giận sấm đùng đùng.

Dưới thác nghe thấy ǵ ?

Máy nỏ bật nhanh tên ĺa dây,

Một ḍng vạn dậm không ngừng chảy.

Núi cao giáp bờ như tường thành,

Ở giữa đá lạ chen chúc nổi.

Như rồng, rắn, cọp, beo, ngựa, trâu la liệt trước mặt bày.

Lớn như cái nhà, nhỏ như nắm tay,

Ḥn cao như đứng, thấp ngủ say.

Ḥn thẳng như chạy, cong ṿng xoay,

Ngh́n h́nh vạn vẽ không nói hết,

Giao long ra vào thành vực sâu.

Sóng vỗ phun bọt ngày đêm ầm ầm tiếng,

Nước lụt hạ dâng tuôn trào sôi.

Một ngày ba ngày ḷng bồi hồi.

Bồi hồi lo sợ điều trông thấy,

Nguy thay hiểm thay ch́m sâu không đáy.

Ai cũng nói đất Trung Hoa bằng phẳng,

Hóa ra đường Trung Hoa lại thế này.

Sâu hiểm quanh co giống ḷng người,

Nguy vong, nghiêng đổ đều ư trời.

Tài cao văn chương thường bị ghét,

Thịt người là thứ ma quỷ thích,

Làm sao dẹp yên hết phong ba ?

Trung tín thảy không nhờ cậy được.

Không tin: “Ra cửa đường hiểm nguy“

Hăy  ngắm ḍng sông cuồn cuộn chảy.

Nhất Uyên dịch thơ; Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

 

MINH NINH GIANG CHU HÀNH

Việt Tây sơn trung đa giản tuyền,

Thiên niên hợp chú thành nhất xuyên.

Tự cao nhi hạ như bát thiên,

Than thượng hà sở văn ?

Ứng long kích nộ lôi điển điển,

Than hạ hà sở kiến ?

Nổ cơ kịch phát thỉ ly huyền,

Nhất tả vạn lư vô đ́nh yên.

Cao sơn giáp ngan như tường viên,

Trung hữu quái thạch sâm sâm nhiên.

Hữu như long, xà, hổ, báo, ngưu, mă la kỳ tiền.

Đại giả như ốc, tiểu như quyền.

Cao giả như lập, đê như miên,

Trực giả như tẩu,khúc như tuyền.

Thiên h́nh vạn trạng nan tận ngôn.

Giao ly xuất một thành trùng uyên,

Dũng đào phún mạt đạ tranh hôi huyên.

Hạ lao sơ trướng phí như tiên.

Nhất hành tam nhật tâm huyền huyền.

Tâm huyền huyền đa sở úy.

Nguy hồ đăi tai cốt một vô để.

Cộng đạo Trung Hoa lột thản b́nh,

Trung Hoa đạo Trung phù như thị !

Oa bàn khuất khúc tự nhân tâm,

Nguy vong khuynh phúc giai thiên ư.

Cao tài mỗi bị văn chương đố.

Nhân nhục tối vi ly mị hỷ,

Phong ba na đắc tận năng b́nh.

Trung tín đáo đầu vô túc thị.

Bất tín “xuất môn giai úy đồ “

Thị vọng thao thao thử giang thủy.

Chú Thích:

Minh Ninh giang:  sông Minh Giang chảy qua Minh Ninh.

Ứng long: Rồng hiện.

Trung tín: Đường Giới đời  Tống: B́nh sinh thượng trung tín, Kim nhật nhiệm phong ba: Ngày thường giữ trung tín, Hôm nay mặc kệ phong ba.

 

Trong thơ gửi Ngô Tứ Nguyên tức Ngô Thời  Vị khi Thời Vị viết bài họa thơ Thôi Hiệu  Hoàng Hạc Lâu: Lư Bạch viết: Trước mắt có cảnh không tả được, V́ thơ Thôi Hiệu ở trên đầu. Ngô Thời Vị xưng danh và làm thơ :.

Sứ thần nước Việt Ngô Thời Vị,

Chẳng sợ làm thơ trước cảnh này.

Nguyễn Du đáp lới Ngô Thời Vị: 

“Bên sông ngại viết thơ Anh Vũ ,

 C̣n nhớ Trung nguyên có bậc thầy".

 

 

   Link: http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_Du

 

 Nguyễn Du chịu nhiều ảnh hưởng thơ Lư Bạch, nhưng Nguyễn Du không sao chép, mà đào sâu, khai phá thi ca bậc thầy. Đọc những ḍng thơ  Nguyễn Du : Đường Trung Hoa không bằng phẳng mà quanh co, sâu hiểm như ḷng người. Trung tín thảy không nhờ cậy được. Cụ Nguyễn Du nhắn nhủ ǵ đây:   đó là di chúc ngoại giao đối với Triều đ́nh Trung Quốc của cụ. 250 qua, thời thế chế độ chính trị đổi khác, nhưng lời cụ Nguyễn Du vẫn sâu sắc như nói với người đời nay.

 

Paris ngày  25-7-2015

Phạm Trọng Chánh

Tiến sĩ Khoa Học Giáo Dục Viện Đại Học Paris V

 

Tác giả: Hồ Xuân Hương nàng là ai ? Khuê Văn 2000 ;  Nguyễn Du , Mười năm gió bụi và mối t́nh Hồ Xuân Hương,  Khuê Văn Paris 2010; Truyện Thơ Odyssée qua 12110 câu thơ lục bát, Khuê Văn 2005; Sử Thi Iliade qua 16933 câu thơ lục bát, Khuê Văn 2009; Tự điển t́nh yêu bằng thơ t́nh Xuân Diệu, Khuê Văn 201; Giáo Dục Việt Nam thời Pháp thuộc (1940-1945) Paris 1976; Giáo Dục Miền Nam Việt Nam 1954-1975, Paris 1980; Thơ t́nh Nhất Uyên (Huy Cận, Xuân Diệu đề tựa), Paris, 1996; Công cha như núi Trường Sơn 1975. Cánh chim từ vùng lửa đỏ (thơ nhạc với Tốn Thất Lập) HSVST 1974; Bóng thời gian, Thời gian ta măi măi c̣n xanh (với Nguyễn Đăng Hưng Liège 1972); Chiêm Bao Trắng, Thơ Sàigon 1969.

 

 


 

 

Mời đọc những bài viết khác của cùng tác giả :

 

Đi theo hành tŕnh “Bắc hành tạp lục” của Nguyễn Du - TS.Phạm Trọng Chánh

Đọc “Bắc Hành Tạp Lục” nhiều nhà nghiên cứu có cảm giác Nguyễn Du rất cô đơn trước cảnh sắc và  con người tại Trung Quốc. TS Nguyễn Thị Nương ...

Tưởng nhớ Giáo sư Trần Văn Khê - TS.Phạm Trọng Chánh

Thuở thư sinh lên đường du học Âu Châu  năm 1970, túi đàn cặp sách, tuổi hai mươi : «  cầm kỳ thi họa đủ mùi ca ngâm », hành trang tôi ...

 Mối t́nh “ông vua thơ Nôm” Lê Thánh Tông và Trường-Lạc hoàng hậu - TS.Phạm Trọng Chánh

Phạm Đ́nh Hổ trong Tang thương ngẫu lục quyển II,  tr 232 có chép chuyện vua Lê Thánh Tông và Trường Lạc Hoàng Hậu, một chuyện t́nh tuyệt đẹp, giữa ...

 

Kỷ niệm với Họa Sư LÊ BÁ ĐẢNG (1921-2015) - Ts Phạm Trọng Chánh

Những năm 1973-1976, đến Paris  tôi bắt đầu công việc sinh viên, vừa làm vừa học, là kư tên và đánh số giùm tranh litho cho  Họa sĩ Lê Bá ...

 

Hồ Sĩ Đống (1739-1785) - bậc thầy thi ca thời Lê trung hưng - TS. Phạm Trọng Chánh

Hồ Sĩ Đống được Phạm Đ́nh Hổ trong Vũ Trung tùy bút, bài Thi ca kể tên cùng Nguyễn Tông Khuê, Nguyễn Huy Oánh là ba bậc thầy phục hưng ...

 

 Đọc bài “Về cuốn sách Lịch Sử Việt Nam được cho là kiệt tác sử học” - TS Phạm Trọng Chánh.

Nhân đọc bài : Về cuốn sách được cho là kiệt tác sử học của ông Tiến Anh Hồng Quang đăng trên Nhân Dân Điện tử thứ năm 27-1-2014. Bài viết có nhiều hiểu lầm; Giáo sư Lê Thành Khôi nay đă lớn tuổi 93 tuổi, chẳng phải bận rộn với bài viết nhỏ mọn này, là môn sinh Giáo sư Lê Thành Khôi tôi xin thay mặt Giáo sư trả lời các điểm thắc mắc của ông Tiến Anh Hồng Quang.

 Nguyễn Tông Khuê - bậc thầy thi ca đời Lê Trung Hưng - TS. Phạm Trọng Chánh

Phạm Đ́nh Hổ trong Vũ Trung Tùy Bút có nói đến ba nhà thơ lớn, ba bậc thầy thi ca thời Lê Trung Hưng : Nguyễn Tông Khuê (1693-1767), Nguyễn Huy ...

GS.Lê Thành Khôi & lịch sử Việt Nam - TS.Phạm Trọng Chánh

Cuối tháng 8-2014  Nhà Xuất bản Thế Giới Hà Nội cho ra mắt quyển  « Lịch Sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XX » của Giáo Sư Lê Thành ...

Đọc sách : "Đạo Cao Đài và Victor Hugo" của TS.Trần Thu Dung - TS.Phạm Trọng Chánh

Victor Hugo là một nhà văn lớn, nhà chính trị Cộng ḥa  Pháp, chống lại Đế Chế Napoléon III, từng phải lưu vong xa nước 17 năm. Ông qua đời ...

Patrick Modiano giải Nobel văn chương 2014 - TS.Phạm Trọng Chánh

Sinh ngày 30-7-1945 tại Boulogne Billancourt, ngoại ô Paris, tác giả hơn 30 quyển tiểu thuyết, truyện phim, giải thưởng Văn Chương Hàn Lâm Viện Pháp, giải thưởng Goncourt, tác ...

Hồ Xuân Hương đi buôn (1807-1811) : “mẹ già nhà túng, ăn ở không yên ổn” - TS. Phạm Trọng Chánh

Trong bài tựa Lưu Hương Kư, Tốn Phong viết:  “ Từ đó  (sau lần đến thăm xuân 1807) có những lúc tôi phải vào Nam, ra Bắc, không thể cùng ...

Nguyễn Du : Ra Bắc 1796, t́nh duyên tan vỡ - Ts.Phạm Ttrọng Chánh

Nguyễn Du cho rằng việc vào Nam từ năm 1794 đến 1796 là hoài công, vô ích. Và mong rằng việc ra Bắc năm 1796 sẽ làm nên việc.  Sau ...

Đọc sách : Nguyễn Du trên đường gió bụi của Hoàng Khôi - Nhà Xuất bản Văn Học. Hà Nội- 2013 - Ts.Phạm Trọng Chánh

Có ǵ vui hơn, khi những thành quả nghiên cứu văn học của ḿnh được bè bạn Hội Kiều Học trong nước hưởng ứng viết thành tiểu thuyết.  Nhận được ...

 Hồ Xuân Hương cô hàng bán sách phố Nam thành Thăng Long (1804-1807) - TS. Phạm Trọng Chánh

Khoảng 10 năm trước năm 1813 Tốn Phong đă đến thăm  Xuân Hương Hồ Phi Mai tại hiệu sách Xuân Hương, Phố Nam thành Thăng Long, thuở ấy nàng ở ...

Nguyễn Du : những mỹ nhân trên đường mười năm gió bụi (1786-1796) - TS. Phạm Trọng Chánh

Sau ba năm đi giang hồ Trung Quốc, Nguyễn Du trở về ở tại Thăng Long từ cuối năm 1790 cho đến năm 1794. Đó là ba năm « Chữ t́nh ... 

Nguyễn Du gặp Đoàn Nguyễn Tuấn, sứ đoàn Tây Sơn tại Hoàng Châu 1790 - TS. Phạm Trọng Chánh

Nguyễn Du sau khi đậu Tam Trường (1783) ở Trường thi Sơn Nam lúc 17 tuổi, được anh là Nguyễn Khản, Thượng Thư Bộ Lại kiêm Trấn thủ Hưng Hóa, ...

Nguyễn Du : nhà sư Chí Hiên “Giang Bắc, Giang Nam túi tiền không” (1788-1790) 
TS. Phạm Trọng Chánh

Nguyễn Du, mang danh hiệu Chí Hiên, danh hiệu Nguyễn Du dùng cho đến năm 1796, kư tên hai bài thơ  tặng Hồ Xuân Hương, lưu lại trong Lưu Hương ...

Nguyễn Du chia tay Nguyễn Đại Lang, Nguyễn Sĩ Hữu tại Liễu Châu 1788 - TS. Phạm Trọng Chánh

Nguyễn Du gọi cuộc đời từ 20 đến 30 tuổi của ḿnh là « 10 năm gió bụi » (1786-1796), gia phả và sách vở giáo khoa trăm năm qua  lại viết ...

Nguyễn Du từ Thái Nguyên sang Vân Nam cuối năm 1787 - TS. Phạm Trọng Chánh

Bao nhiêu năm nghiên cứu về Nguyễn Du, chúng ta đă biết hết cuộc đời Nguyễn Du chưa ?  Nguyễn Du có quyển Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm .

Dịch chương “Nhă Ca”, một dâm thơ trong Cựu ước - TS. Phạm Trọng Chánh

“Nhă Ca”  (CANTIQUES) là một tác phẩm văn chương cổ đại của dân tộc Do Thái, cách chúng ta khoảng 630 năm trước Tây lịch. Một áng văn chương trữ ...

Đọc Lưu Hương Kư của Hồ Xuân Hương - TS. Phạm Trọng Chánh

Giữa thời điểm các nhà sách hải ngoại thi nhau đóng cửa, người đọc tiếng Việt ngày càng thưa thớt, tác giả gửi sách đi cho các nhà sách, không

Hồ Xuân Hương và quan Hiệp Trấn Sơn Nam Thượng Trần Ngọc Quán - Phạm Trọng Chánh

Trần Ngọc Quán quê Nghệ An, trước làm quan Cai Bạ doanh Quảng Đức (Chức vụ đứng đầu một doanh, tỉnh Thừa Thiên ngày sau). Tháng 2 năm Ất ..

Hồ Xuân Hương và Phật giáo - TS. Phạm Trọng Chánh

Điều nghịch lư trong thơ truyền khẩu gán cho Hồ Xuân Hương là Xuân Hương thường đi chùa, cuối đời có đi tu một thời gian, nhưng trong thơ lại ...

* Đối thoại: Sở tri chướng và kinh tế thị trường – Phạm Trọng Chánh, Ph.D., Paris, Pháp,  
              Link :
http://giaodiemonline.com/baiup/DTGH(3).htm