MỐI T̀NH “ÔNG VUA  THƠ NÔM”   LÊ THÁNH TÔNG
 

VÀ TRƯỜNG-LẠC HOÀNG HẬU

 

TS. Phạm Trọng Chánh

 

 

hạm Đ́nh Hổ trong Tang thương ngẫu lục quyển II,  tr 232 có chép chuyện vua Lê Thánh Tông và Trường Lạc Hoàng Hậu, một chuyện t́nh tuyệt đẹp, giữa vị  vua anh minh tài năng xuất chúng hàng đầu lịch sử Việt Nam,  và cũng là vua thơ Nôm.   Trường Lạc Hoàng Hậu là con gái Nguyễn Trăi. Hai cuộc đời gian nan thời thơ ấu và gặp nhau trong một t́nh huống lạ lùng. Thuở nhỏ mẹ con vua Lê Thánh Tông, bà Ngô Thị Ngọc Dao  bị hoàng phi Nguyễn Ngọc Anh ghen ghét vu hăm buộc tội đ̣i cho voi dày, được Nguyễn Trăi và Nguyễn Thị Lộ bênh vực che chở. Về sau  Nguyễn Trăi và Nguyễn Thị Lộ bị vu cáo là giết vua bị tru di tam tộc, con trai 49 người bị chém, con gái bị sung vào làm nô t́.

Nguyễn Thị Lộ, 52 tuổi, quan Lễ Nghi Học Sĩ thầy dạy của Thái từ Nguyên Long  (vua Lê Thái Tôn) từ năm 7 tuổi, đă dạy dỗ một cậu bé ngỗ nghịch, các quan khác không ai dạy được, thành vị vua anh minh sáng suốt như vua Thuấn (theo sử gia Vũ Quỳnh) thế mà  bị vu cáo nhơ bẩn ngủ với học tṛ ḿnh mới mười tám tuổi, nên vua bị « thượng mă phong », bà  bị trấn nước  d́m cũi xuống sông và «  hóa thành con rắn ». Có người con gái của Nguyễn Trăi, con một thứ thiếp, mới lên ba,  tên Nguyễn thị Hằng, được một vị quan nuôi dưỡng, bị sung vào đội nữ nhạc, tư sắc tuyệt đẹp tuổi 17, 18 mà không biết nói. Khi vua Lê Thánh Tông lên làm vua, nên chỉ ngồi gơ phách. Khi vào tiệc yến hầu, vị tân vương vừa bước lên ngự toạ. Người con gái bỗng cầm phách hát. Vua liền hỏi chuyện, thu nạp vào hậu cung, sắt lập làm Trường Lạc Hoàng Hậu. Một chuyện t́nh tuyệt đẹp, đáng viết thành truyện phim, thành kịch bản sân khấu, thành tiểu thuyết.  Danh dự của Nguyễn thị Lộ, và Nguyễn Trăi đă được vua Lê Thánh Tông thanh minh, rửa sạch từ lâu, thế mà nước ta người đời cứ lăi nhăi những chuyện vu cáo độc ác, những chuyện vô căn cứ ?

 

Nguyễn Trăi, link: http://www.art2all.net/tho/vocongliem/nguyentrai.html

 

Chuyện Vua Lê Thánh Tông, Phạm Đ́nh Hổ trong Tang thương ngẫu lục,  chép như sau :

« Đức Quang Thục Hoàng Thái Hậu Tiền triều (Ngô Thị Ngọc Dao) thuở c̣n hàn vi, ngụ tại phía tây nam nhà Quốc Tử Giám. Nơi đây, nước hồ bao bọc chung quanh nhà, các thầy tướng số đều cho là có vượng khí của Thiên Tử. V́ có họ hàng với các phi tần trong cung, bà thường đi lại chơi trong cung điện. Vua Thái Tông (1434 – 1442) trông thấy yêu thương, khi về có mang. Đến kỳ năm giường cữ, bà sinh được một con trai (Tư Thành), thiên tư tuyệt lạ. Thuở nhỏ, theo mẹ ở lẩn quẩn trong đám thường dân, nhưng được nổi tiếng về văn học. Vua Thái Tông nghe tin liền với đến, phong cho tước vương. Sau nhân khi Lạng Sơn Lệ  Đức Hầu (Nghi Dân) bị phế, các đại thần liền đón rước vị vương này,  lập nên làm vua tức là vua Thánh Tông (1460-1497).  Vua thường đến thăm chỗ ngôi nhà cũ của Thái hậu, rồi cho xây điện Hy Văn, và dựng xây ngôi chùa Dục Khánh ở bên cạnh.

Khi trước Thái Hậu có mang, chiêm bao đến chỗ Thượng Đế, thấy Thượng Đế sai một vị Tiên Đồng giáng lâm vào làm vua nước Nam, và cho một người Ngọc Nữ theo xuống để sánh đôi. Tiên Đồng do dự, không vâng chỉ ngay. Thượng đế giận, ném viên ngọc khuê làm sây sát ở trán. Tiên Đồng dập đầu lạy tạ, và xin ban cho một người giúp việc. Thượng Đế  trỏ một viên trong các quan, cho đi theo giúp việc. Viên ấy cúi đầu lạy xin cố từ. Ngài đập vai không cho. Lúc tỉnh giấc th́ sinh ra vua Thánh Tông, vết ngọc khuê trên trán hăy c̣n rơ rệt.

Khi đă lên ngôi đại bảo, vua tôn bà mẹ lên làm Hoàng Thái Hậu và thường cho ḍ t́m người trong chiêm bao. Chưa gặp, ḷng vẫn không vui. Khoảng đầu niên hiệu Thái Hoà (1443 -1453) (Triều vua Lê Nhân Tôn).  Tế Văn Hầu Nguyễn Trăi phải tội, có người con gái bị bắt vào quan, sung vào hàng nữ nhạc. Người con gái ấy tư sắc tuyệt đẹp, tuổi đă 17, 18 mà không biết nói. Đến nay theo đồng bạn vào cung hầu yến, v́ câm nên chỉ ngồi gơ phách.  Khi vua bước lên Ngự tọa, Người con gái bỗng cầm phách hát :

« Hẹn nhau từ thuở thiên đ́nh,

Ḷng nào nỡ phụ tâm t́nh thế ru. »

Tiếng hát du dương, dư âm dường quấn quanh trên rường, như khúc hát Quân Thiên, điệu hát trên Đế Đ́nh. Vua lấy làm lạ hỏi, th́ người con gái nói năng giống hệt  người Ngọc Nữ trên chỗ Thượng Đế.  Vua liền thu nạp vào hậu cung, sách lập làm Trường Lạc Hoàng Hậu.

Khoa Quư Mùi niên hiệu Quang Thuận (1463) thứ tư ngày truyền lô thi Đ́nh. Trạng Nguyên Lương Thế Vinh bái yết, hai vai hơi lệch không được ngay ngắn. Vua kinh dị sai vào bái yết Hoàng Thái Hậu. Thái Hậu nh́n ra h́nh mạo Lương đúng người trong mộng trên Đế Đ́nh khi trước. Hai Cung Thái Hậu và Vua đều rất vui vẻ. Vua bèn trao cho Lương chức Hàn Lâm thị Độc, dự vào hàng 28 ngôi sao trên Tao Đàn. Những thơ văn xướng họa có ghi chép trong các Thiên Nam dư hạ và bức đồ B́nh Nam Chỉ Chưởng.

Chùa Dục Khánh sau lầm là chùa Hoa Văn. Điện ở phía tả thờ Thần Khâm đức Quang Thục Hoàng Thái Hậu. Khoảng năm Dương Đức, đời Trung Hưng (1672 -1673). Tây cung Hoàng Thái Hậu chữa lại chùa Khán Sơn, phía hữu chính điện thờ ngự dung đức Thần Tông Uyên Hoàng Đế. Từ hồi thay  đồi triều vua trở về sau, chùa Khán Sơn đổ nát, Ngự dung thiên đến chùa Dục Khánh, nay ở gian hữu tiền đường. »

Theo Tự Điển Danh nhân Việt Nam của Nguyễn Q Thắng :    Vua Lê Thánh Tông (1442-1797), là vị vua thứ tư nhà Hậu Lê, tên Lê Tư Thành, c̣n có tên húy khác là Hạo. Con vua Lê Thái Tông và bà Ngô thị Ngọc Dao. Lúc trước được phong B́nh Nguyên Vương, sau đổi là Gia Vương. Đến khi Lê Nghi Dân bị truất phế (1458) ông được Nguyễn Xí cùng các đại thần đưa lên ngôi năm 1460 lúc 18 tuổi.

Là vị vua thông minh sáng suốt, thông hiểu nhiều môn học thuật. Triều đại thịnh vượng, hoàn thành những cải cách chính trị, kinh tế, văn hóa. Bộ Luật Hồng Đức, chiến thắng Chiêm Thành là những thành tựu sáng chói và hiển hách trong lịch sử. Về văn học nhà vua lập ra Tao Đàn Nhị Thập Bát Tú, gồm 28 vị Đại Thần đứng đầu, mà ngài là Tao Đàn Nguyên Soái.. Nhà Vua c̣n  kư tên là Thiên Nam Động Chủ hay Đạo Am chủ nhân trong nhiều tác phẩm khắc trên bia đá khắp nước.

Nhà vua làm thơ khá nhiều, cùng bạn tao đàn xướng họa và lưu lại nhiều tác phẩm : Thiên Nam Dư hạ tập –Lê Thánh Tông thi tập - Hồng Đức Quốc Âm thi tập -Xuân Vân thi tập - Cổ tân bách vịnh - Quỳnh Uyển cửu ca – Minh lương cẩm tú – Văn minh cổ súy – Châu cơ thăng thương – Sĩ hoạn châm qui -Hồng Đức thiện chính thư, đều là những tác phẩm sáng giá trong kho tàng văn học dân tộc.

Thời đại Vua Lê Thánh Tông là một thời đại thịnh trị, một vị vua văn vơ song toàn. Vua Lê Thánh Tông, là Vua thơ Nôm, địa vị ấy không ai có thể tranh cải được. Vua trên thực tế, và vua trong thành tựu sáng tác văn học, nhưng từ đầu thế kỷ 20, nhiều tác phẩm của nhà vua được gán cho Hồ Xuân Hương, có tác phẩm bị sửa đổi một vài chữ. Hồ Xuân Hương đă được Lê Tâm, Xuân Diệu gán cho cái tên Bà Chúa thơ Nôm. Ngày nay sách vở bia đá rơ ràng làm bằng cớ, của vua Lê Thánh Tôn phải trả lại cho nhà vua và nhất là phải trả lại cho nhà vua cái danh  «  Ông Vua thơ Nôm ».

 

 

Hồ Xuân Hương không là vua, chúa của ai cả, nếu tác phẩm vua Lê Thánh Tông lẫn lộn trong di cảo do con cháu Tử Minh sưu tập tại làng Nghi Tàm, chỉ v́ đó là những bài thơ Hồ Xuân Hương yêu thích. Hồ Xuân Hương chỉ là học tṛ học làm thơ với thơ vua Lê. Những điều lâu nay ta vinh danh cho Hồ Xuân Hương, nay phải vinh danh vua Lê Thánh Tông, Hồ Xuân Hương không hề đạo văn, và chỉ có đời sau gán ghép sai lầm.

Bài thơ CHỢ TRỜI được khắc vào đá núi Thầy, Sài Sơn dưới có ghi rơ :  « Đề năm Hồng Đức thứ bảy  »(1476) tác giả là Thiên Nam Động Chủ, tức Vua Lê Thánh Tông.

CHỢ TRỜI

Bầu trời thú lạ cũng nhiều nơi,

Chẳng thú đâu hơn thú Chợ Trời.

Sáng sớm mưa tan, trưa nắng đứng,

Chiều hôm mây họp, tối trăng chơi.

Hàng bày hoa quả tư mùa sẳn,

Chợ góp giang sơn một thú vui.

Bán lợi mua danh nào những kẻ,

Lại đây mặc cả một đôi lời.

 

Bài thơ đă tạc vào đá, không thể nhầm lẫn, không thể sửa chữa vài chữ, rồi bảo đó là thơ Hồ Xuân Hương hay hơn thơ vua Lê Thánh Tông, lư luận đó của Xuân Diệu trong bài Bà Chúa Thơ Nôm  trong Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, nxb Văn Học Hà Nội 1982,  không thể chấp nhận được. Việc đạo văn đó không có cơ sở, và chỉ làm rối loạn thêm các tác phẩm văn học.

Trong Hồng Đức Quốc Âm thi tập có bài Đánh Đu:

ĐÁNH ĐU

Bốn cột lang nha ngắm để trồng,

Ả th́ đánh cái ả c̣n ngong.

Tế hậu thổ lom khom cật,

Vái hoàng thiên ngửa ngửa ḷng.

 Tám bức quần hồng bay  phấp phới,

Hai hàng chân ngọc đứng song song.

Chơi xuân hết tất xuân dường ấy,

Nhổ cọc đem về, để lỗ không.

 

Bài Thích Câu chép trong Hồng Đức Quốc Âm thi tập. Bài này có 4 câu được lập lại trong bài Đền Khán Xuân gán cho  Hồ Xuân Hương.

THÍCH CÂU

Đến đây mến cảnh mến thầy,

Tuy vui đạo Phật chưa khuây ḷng người.

Ngẫm sự trần duyên khéo nực cười,

Tuy vui đạo Phật chửa khuây người.

Chầy ḱnh mấy khắc tan niềm tục,

Hồn bướm mơ tiên lẫn sự đời.

Bể thảm muôn tầm mong tát cạn,

Sông ân ngh́n trượng dễ khơi vơi.

Nào là cực lạc nào đâu tá.

Cực lạc là đây hẳn tỏ mười.

 

*  *  *

 

Ngoài ra hai bài thơ nổi tiếng của vua Lê Thánh Tông: bài Thằng Bù nh́n, và Vịnh kẻ ăn mày cũng đă được gán cho Hồ Xuân Hương trong các văn bản in năm 1908. Hai bài thơ này có văn bản trong Hồng Đức Quốc Âm thi tập cũng phải trả về cho vua Lê Thánh Tông.

Trên vách đá núi Truyền Đăng c̣n gọi là núi Bài Thơ Vịnh Hạ Long có khắc bài thơ Vua Lê Thánh Tông. Giáo sư Hoàng Xuân Hăn trong bài Hồ Xuân Hương và Vịnh Hạ Long viết Lời dẫn và lời thơ như sau:

“Mùa xuân năm Quang Thuận thứ 9 (1468) tháng 2, ta thân đem đại quân ra duyệt trên sông Bạch Đằng. Ngày ấy gió đều cảnh đẹp; bể không nổi sóng. Ta bèn dong thuyền qua bể Hoàng Hải, đi tuần An Bang. Dừng chân dưới núi Truyền Đăng. Mài đá khắc một thơ Đường luật. Thơ rằng: Trăm sông chầu về đầm lớn và bể rộng; Núi bày ngan ngác như con cờ trên mặt biển biếc liền với chân trời. Ḷng hăng hái mới cảm muốn thân hành tuần du; Sai tay thân tín ban lệnh truyền uy quyền đến phương xa. Nay quân hùng hổ bọc quanh như các sao vầy quanh Bắc cực (sao Bắc Đẩu). Xứ Hải Đông này được lửa binh dừng tắt và khói lang bặt dấu (khói bằng phân chồn  bốc cao thẳng đứng để báo tín hiệu khi chiến tranh). Núi sông trường cửu của trời Nam sờ sờ đó, Nầy là năm nên tu chính việc văn và thu xếp việc vũ.  Thiên Nam Động Chủ  đề (Dịch theo Hán văn trong tập Thiên tải Nhàm đàm của Đàm Nghĩa Am 1810).

Trăm sông chầu xuống bể đầm Đông,

Ngan ngác đảo xanh trời bể lồng.

Hăng hái tuần du ḷng cảm thú,

Để trao biên trấn lệnh quyền công.

Quân hổ, lính chầu quanh Bắc Đẩu,

Binh lửa, khói lang tắt Hải Đông.

C̣n măi  trời Nam sông núi đó,

Năm chỉnh việc văn, duyệt vơ công.

Nhất Uyên dịch thơ.

Trong Lịch Triều Hiến chương mục Đư địa chí của Phan Huy Chú có chép bài An Bang phong thổ:

“Đất Yên Quảng th́ bể và núi nhiều, ruộng nương ít.Nghề buôn bán kiếm lời th́ đua nhau, nghề cày cấy nuôi tằm th́ lơ thơ. Thuế má đối với các trấn khác th́ không đồng đều. Vua Lê Thánh Tông c̣ bài thơ Phong Thổ An Bang như sau: Trên bể những núi cao như cây ngọc dựng lên, Bày ngan ngác như sao, như con cờ, những ngọn màu xanh lởm chởm. Cá và muối là vật thường như đất, dân đua làm nghề trục lợi. Về lúa thóc th́ không ruộng, thuế ma thu được ít. Sóng xông vào vách núi bắn tung lên, Thuyền len theo vách đá theo kẽ hở mà đi qua. Dân biên thùy bấy lâu vui hưởng thái b́nh và văn hóa. Hơn bốn mươi năm nay không biết việc binh đao.

PHONG THỔ AN BANG

Trên bể núi non như ngọc xanh,

Như cờ, sao  giữa nước mênh mông.

Vật thường cá muối, dân tranh lợi,

Ít  ruộng ít đồng, thuế thóc không.

Chân núi sóng xô tung bọt trắng.

Thuyền qua vách núi lách xuyên ḍng.

Biên thùy dân hưởng thời b́nh thái.

Hơn bốn mươi năm chẳng việc binh.

Nhất Uyên dịch thơ; Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

PHONG THỔ AN BANG

Hải thượng cao phong quần ngọc lập,

Tinh la kỳ bố thùy tranh vanh.

Ngư diêm như thổ dân xa lợi,

Ḥa đạo vô điền thuế bạc chinh.

Ba hướng sơn b́nh đê xứ dũng,

Chu xuyên thạch bích kích trung hành.

Biên manh cửu lạc thừa b́nh hóa;

Tứ thập dư niên bất thức binh.

 

Hồng Đức Quốc Âm thi tập có chép bài thơ nôm Sông Bạch Đằng của Vua Lê Thánh Tông :

SÔNG BẠCH ĐẰNG

Lẻo đẻo duềnh xanh nước tựa dầu,

Trăm ng̣i ngh́n lạch chảy về chầu.

Rửa không thảy thảy thằng Ngô rái.

Dă mọi lâng lâng khách Việt hầu.

Nọ đỉnh Yên Kỳ dành rạch đó,

Nào hồn Ô Mă lạc loài đâu ?

Bốn phương phẳng lặng ḱnh bằng thốc ;

Thong thả dầu ta bỏ lưới câu.

 Chú thích : Bài thơ có nhiều từ cổ

Duềnh : mặt nước chảy, thường trỏ sông. Không : hết nhẳn.  Rái : là sợ thành ngữ xưa : khôn cho người ta rái. Hầu : ư là phục. Yên kỳ : Núi Yên Tử tục truyền đời Hán có Yên Kỳ Sinh đến đó tu tiên đắc đạo. Ô Mă : Ô Ma Nhi (Omar), danh tướng có đạo Hồi của nhà Nguyên Mông bị quân Trần bắt rồi tha, nhưng khi đưa về đục đắm thuyền ở sông Bạch Đằng.Ḱnh bằng thốc : tăm cá ḱnh im bặt, không giặc giả. Dàu ta : mặc ta, tha hồ ta.

 

Băi cọc trên sông Bạch Đằng,

link: http://soha.vn/quan-su/coc-bach-dang-mot-dinh-cao-nghe-thuat-quan-su-viet-nam-20140214141446665.htm

 

Trong Thiên Tải Nhàm đàm, Vua Lê Thánh Tông có bài: tả cánh núi Vịnh Hạ Long, h́nh như một vị tăng ngồi tham thiền.

VỊNH NÚI THẦY TIÊU

Truyền rằng Cửa Lục có Thầy Tiêu,

Ngồi tựa Câu loan nghe mối kêu.

Chuông kệch phó cho thằng nộm đóng,

Đèn tàn để mặc cái Dơi khêu.

Phẳng da trời sương lạt móc,

Ḍ dốn bể sóng in rêu.

Dù ai mà hỏi bao nhiêu tuổi,

Non nước bao nhiêu tuổi bấy nhiêu.

Chú thích:

Câu loan: lan can.

Mối: rắn mối, thứ tắc kè đây trỏ núi Đầu Mối.

Chuông Kệch: chuông rất lớn chỉ Đảo Chuông. Thằng Nộm h́nh nhân giả người tên đảo Đóng.

Đèn: trỏ núi Truyền Đăng.

Khêu: đầy bấc lên cho ngọn đèn tỏ trở lại.

* * *

 

Hồng Đức Quốc Âm thi tập có chép bài

NÚI CHIẾC ĐŨA

Cắm chặt Nam minh nẻo thủa xưa,

Đời Nghiêu nước cả ngập hay chưa.

Triều lên rửa sạch tanh tao hết,

Nguồn xuống điều ḥa mặn ngọt ưa.

Xóc xương ḱnh  tăm chẳng động,

Ḍ ḷng bể sóng khôn lừa.

Trời c̣n dành để An Nam mượn,

Vạch chước B́nh Ngô măi mới vừa.

Chú thích: Bài thơ có những từ liên quan đến chiếc đũa, đến sự ăn: cắm, tanh tao, mặn ngọt, xóc xương, ḍ ḷng, vạch.

Vua Lê Thánh Tông qua động Hồ Công ở núi Xuân Đài, xă Thọ Vực, huyện Vĩnh Lộc tỉnh Thanh Hóa. Động phía trước  hướng về sông Mă, trong động có hai tượng đá, tục truyền xưa kia có một ông già và một tiểu đồng đi hái thuốc ngồi nghỉ ở đó rồi tự nhiên biến mất. Người ta cho là hậu thân Hồ Công và Phí Tràng Pḥng người đời Tây Hán, nên tạc tượng thờ. Vua Lê Thánh Tông cho động ấy là động thứ nhất trong 36 động nước Nam.

ĐỀ ĐỘNG HỒ CÔNG

Thần bào quỷ tạc núi muôn trùng;

Cửa động thênh thang vũ trụ thông.

Cuộc thế công danh như ảo mộng;

Bầu tiên nhật nguyệt thú vui cùng.

Hạt châu rơi hóa rồng đen lượn;

Giọt ngọc tuôn trời suối nước trong.

Muốn cỡi gió lồng lên đỉnh núi;

Trông vời mây nước vút tầng không.

Nhất Uyên dịch; Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

HỒ CÔNG ĐỘNG CẢM ĐỀ

Thần chùy quỷ tạc vạn trùng san,

Hư thất cao song vũ trụ khoan.

Thế thượng công danh đô thị mộng,

Hồ trung nhật nguyệt bất thăng nhàn.

Hoa dương long hóa huyền châu trụy,

Bích lạc tuyền lưu bạch ngọc hàn.

Ngă dục thặng phong lăng tuyệt lĩnh,

Vọng cùng vân hải hữu vô gian./

 

Tài Liệu Tham khào:

Dương Quảng Hàm Việt Nam văn học sử yếu.  Sống Mới . HK 1979.

Phạm Đ́nh Hổ, Nguyễn Kính. Tang Thương Ngẫu lục.  BQGGD. Sài Gon 1970.

Hoàng Xuân Hăn. Hồ Xuân Hương và Vịnh Hạ Long. Tạp chí Khoa Học Xă Hội số 2-1983.             Paris.

Nguyễn Q Thắng Tự Điển Nhân Vật Lịch Sử Việt Nam.

 Lă Nhâm Th́n. Thơ Nôm Đường luật nxb Giáo Dục. Hànội 1998.

 

Phạm Trọng Chánh

Tiến sĩ Khoa Học Giáo Dục Viện Đại Học Paris V

 

Tác giả: Hồ Xuân Hương nàng là ai ? Khuê Văn 2000 ;  Nguyễn Du , Mười năm gió bụi và mối t́nh Hồ Xuân Hương,  Khuê Văn Paris 2010; Truyện Thơ Odyssée qua 12110 câu thơ lục bát, Khuê Văn 2005; Sử Thi Iliade qua 16933 câu thơ lục bát, Khuê Văn 2009; Tự điển t́nh yêu bằng thơ t́nh Xuân Diệu, Khuê Văn 201; Giáo Dục Việt Nam thời Pháp thuộc (1940-1945) Paris 1976; Giáo Dục Miền Nam Việt Nam 1954-1975, Paris 1980; Thơ t́nh Nhất Uyên (Huy Cận, Xuân Diệu đề tựa), Paris, 1996; Công cha như núi Trường Sơn 1975. Cánh chim từ vùng lửa đỏ (thơ nhạc với Tốn Thất Lập) HSVST 1974; Bóng thời gian, Thời gian ta măi măi c̣n xanh (với Nguyễn Đăng Hưng Liège 1972); Chiêm Bao Trắng, Thơ Sàigon 1969.

 


 

 

Mời đọc những bài viết khác của cùng tác giả :

 

Kỷ niệm với Họa Sư LÊ BÁ ĐẢNG (1921-2015) - Ts Phạm Trọng Chánh

Những năm 1973-1976, đến Paris  tôi bắt đầu công việc sinh viên, vừa làm vừa học, là kư tên và đánh số giùm tranh litho cho  Họa sĩ Lê Bá ...

 

Hồ Sĩ Đống (1739-1785) - bậc thầy thi ca thời Lê trung hưng - TS. Phạm Trọng Chánh

Hồ Sĩ Đống được Phạm Đ́nh Hổ trong Vũ Trung tùy bút, bài Thi ca kể tên cùng Nguyễn Tông Khuê, Nguyễn Huy Oánh là ba bậc thầy phục hưng ...

 

 Đọc bài “Về cuốn sách Lịch Sử Việt Nam được cho là kiệt tác sử học” - TS Phạm Trọng Chánh.

Nhân đọc bài : Về cuốn sách được cho là kiệt tác sử học của ông Tiến Anh Hồng Quang đăng trên Nhân Dân Điện tử thứ năm 27-1-2014. Bài viết có nhiều hiểu lầm; Giáo sư Lê Thành Khôi nay đă lớn tuổi 93 tuổi, chẳng phải bận rộn với bài viết nhỏ mọn này, là môn sinh Giáo sư Lê Thành Khôi tôi xin thay mặt Giáo sư trả lời các điểm thắc mắc của ông Tiến Anh Hồng Quang.

 

Nguyễn Tông Khuê - bậc thầy thi ca đời Lê Trung Hưng - TS. Phạm Trọng Chánh

Phạm Đ́nh Hổ trong Vũ Trung Tùy Bút có nói đến ba nhà thơ lớn, ba bậc thầy thi ca thời Lê Trung Hưng : Nguyễn Tông Khuê (1693-1767), Nguyễn Huy ...

GS.Lê Thành Khôi & lịch sử Việt Nam - TS.Phạm Trọng Chánh

Cuối tháng 8-2014  Nhà Xuất bản Thế Giới Hà Nội cho ra mắt quyển  « Lịch Sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XX » của Giáo Sư Lê Thành ...

Đọc sách : "Đạo Cao Đài và Victor Hugo" của TS.Trần Thu Dung - TS.Phạm Trọng Chánh

Victor Hugo là một nhà văn lớn, nhà chính trị Cộng ḥa  Pháp, chống lại Đế Chế Napoléon III, từng phải lưu vong xa nước 17 năm. Ông qua đời ...

Patrick Modiano giải Nobel văn chương 2014 - TS.Phạm Trọng Chánh

Sinh ngày 30-7-1945 tại Boulogne Billancourt, ngoại ô Paris, tác giả hơn 30 quyển tiểu thuyết, truyện phim, giải thưởng Văn Chương Hàn Lâm Viện Pháp, giải thưởng Goncourt, tác ...

Hồ Xuân Hương đi buôn (1807-1811) : “mẹ già nhà túng, ăn ở không yên ổn” - TS. Phạm Trọng Chánh

Trong bài tựa Lưu Hương Kư, Tốn Phong viết:  “ Từ đó  (sau lần đến thăm xuân 1807) có những lúc tôi phải vào Nam, ra Bắc, không thể cùng ...

Nguyễn Du : Ra Bắc 1796, t́nh duyên tan vỡ - Ts.Phạm Ttrọng Chánh

Nguyễn Du cho rằng việc vào Nam từ năm 1794 đến 1796 là hoài công, vô ích. Và mong rằng việc ra Bắc năm 1796 sẽ làm nên việc.  Sau ...

Đọc sách : Nguyễn Du trên đường gió bụi của Hoàng Khôi - Nhà Xuất bản Văn Học. Hà Nội- 2013 - Ts.Phạm Trọng Chánh

Có ǵ vui hơn, khi những thành quả nghiên cứu văn học của ḿnh được bè bạn Hội Kiều Học trong nước hưởng ứng viết thành tiểu thuyết.  Nhận được ...

 Hồ Xuân Hương cô hàng bán sách phố Nam thành Thăng Long (1804-1807) - TS. Phạm Trọng Chánh

Khoảng 10 năm trước năm 1813 Tốn Phong đă đến thăm  Xuân Hương Hồ Phi Mai tại hiệu sách Xuân Hương, Phố Nam thành Thăng Long, thuở ấy nàng ở ...

Nguyễn Du : những mỹ nhân trên đường mười năm gió bụi (1786-1796) - TS. Phạm Trọng Chánh

Sau ba năm đi giang hồ Trung Quốc, Nguyễn Du trở về ở tại Thăng Long từ cuối năm 1790 cho đến năm 1794. Đó là ba năm « Chữ t́nh ... 

Nguyễn Du gặp Đoàn Nguyễn Tuấn, sứ đoàn Tây Sơn tại Hoàng Châu 1790 - TS. Phạm Trọng Chánh

Nguyễn Du sau khi đậu Tam Trường (1783) ở Trường thi Sơn Nam lúc 17 tuổi, được anh là Nguyễn Khản, Thượng Thư Bộ Lại kiêm Trấn thủ Hưng Hóa, ...

Nguyễn Du : nhà sư Chí Hiên “Giang Bắc, Giang Nam túi tiền không” (1788-1790) 
TS. Phạm Trọng Chánh

Nguyễn Du, mang danh hiệu Chí Hiên, danh hiệu Nguyễn Du dùng cho đến năm 1796, kư tên hai bài thơ  tặng Hồ Xuân Hương, lưu lại trong Lưu Hương ...

Nguyễn Du chia tay Nguyễn Đại Lang, Nguyễn Sĩ Hữu tại Liễu Châu 1788 - TS. Phạm Trọng Chánh

Nguyễn Du gọi cuộc đời từ 20 đến 30 tuổi của ḿnh là « 10 năm gió bụi » (1786-1796), gia phả và sách vở giáo khoa trăm năm qua  lại viết ...

Nguyễn Du từ Thái Nguyên sang Vân Nam cuối năm 1787 - TS. Phạm Trọng Chánh

Bao nhiêu năm nghiên cứu về Nguyễn Du, chúng ta đă biết hết cuộc đời Nguyễn Du chưa ?  Nguyễn Du có quyển Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm .

Dịch chương “Nhă Ca”, một dâm thơ trong Cựu ước - TS. Phạm Trọng Chánh

“Nhă Ca”  (CANTIQUES) là một tác phẩm văn chương cổ đại của dân tộc Do Thái, cách chúng ta khoảng 630 năm trước Tây lịch. Một áng văn chương trữ ...

Đọc Lưu Hương Kư của Hồ Xuân Hương - TS. Phạm Trọng Chánh

Giữa thời điểm các nhà sách hải ngoại thi nhau đóng cửa, người đọc tiếng Việt ngày càng thưa thớt, tác giả gửi sách đi cho các nhà sách, không

Hồ Xuân Hương và quan Hiệp Trấn Sơn Nam Thượng Trần Ngọc Quán - Phạm Trọng Chánh

Trần Ngọc Quán quê Nghệ An, trước làm quan Cai Bạ doanh Quảng Đức (Chức vụ đứng đầu một doanh, tỉnh Thừa Thiên ngày sau). Tháng 2 năm Ất ..

Hồ Xuân Hương và Phật giáo - TS. Phạm Trọng Chánh

Điều nghịch lư trong thơ truyền khẩu gán cho Hồ Xuân Hương là Xuân Hương thường đi chùa, cuối đời có đi tu một thời gian, nhưng trong thơ lại ...

* Đối thoại: Sở tri chướng và kinh tế thị trường – Phạm Trọng Chánh, Ph.D., Paris, Pháp,  
              Link :
http://giaodiemonline.com/baiup/DTGH(3).htm