NGUYỄN DU : NHÀ SƯ CHÍ HIÊN

“GIANG BẮC, GIANG NAM TÚI TIỀN KHÔNG” (1788-1790)

 

TS. Phạm Trọng Chánh

 

 

 

TÓM LƯỢC CÁC BÀI TRƯỚC:  Nguyễn Du gọi cuộc đời từ năm 20 đến 30 tuổi (1786-1796) là  “Mười năm gió bụi “, nhưng gia phả lại chép thời gian đó Nguyễn Du về quê vợ. Nếu Nguyễn Du về Quỳnh Hải có vợ con th́ có ǵ đâu là gió bụi ? Thơ chữ Hán Nguyễn Du là những trang nhật kư chứa đựng nhiều bí ẩn. Có những bài thơ làm ở Trường An, Hàng Châu không nằm trên đường đi sứ năm 1813 . Những nhân vật Nguyễn Đại Lang, Sĩ Hữu là ai ? Những địa danh Trung Châu, Giang Nam, Giang Bắc, Giang Hán, Liễu cao lâm, Nam Đài, Long Thủy, không có ở Việt Nam . Có những  trưởng giả ăn mặc theo nhà Hán, không theo lịch nhà Tần. Và cả khí hậu tả cảnh tuyết, lá vàng, tiếng tù và... đều không có ở Việt Nam. Vậy th́ Nguyễn Du đi đâu, ở đâu trong 10 năm ấy?

 Tác giả sắp xếp lại những trang nhật kư, theo ngày tháng sự kiện lịch sử, và đi du lịch Trung Quốc, tham khảo sách vở các địa danh. Khám phá ra cuộc đời giang hồ Nguyễn Du trong mười năm gió bụi, một cuộc t́nh ba năm với Hồ Xuân Hương, những khám phá bất ngờ làm đảo lộn sách vở giáo khoa Việt Nam trăm năm qua. Tố Như không phải là bút hiệu Nguyễn Du mà chỉ có nghĩa là “người đẹp tài sắc như nàng Tiểu Thanh”.

Khi tướng Tây Sơn, Vũ Văn Nhậm ra Bắc diệt Nguyễn Hữu Chỉnh, Nguyễn Đăng Tiến với tước Quản Vũ Hầu tức Cai Gia, tức Nguyễn Đại Lang, quyền trấn Thủ Thái Nguyên, thay anh Nguyễn Du, Thượng Thư Bộ Lại Nguyễn Khản khởi nghĩa chống Tây Sơn tại Tư Nông, Thái Nguyên, chiến đấu với chỉ huy Giáo bị thua trận, bị bắt giải về cho Vũ Văn Nhậm. Nhậm trọng khí khái, tha chết và cho tùy ư đi đâu th́ đi. Nguyễn Đăng Tiến cùng Nguyễn Quưnh, Nguyễn Du thoát chết lên đường đi Vân Nam. Đến nơi Nguyễn Du bị bệnh ba tháng lúc xuân về, sau khi khỏi bệnh Nguyễn Du muốn thoát ṿng trần tục, thành nhà sư Chí Hiên. Cả ba tiếp tục lên đường và chia tay tại  Liễu Châu. Nguyễn Du hẹn gặp lại Nguyễn Đại Lang tại Trung Châu. Nguyễn Đại Lang về  quê hương cũ  ở Quế Lâm. Nguyễn Sĩ Hữu về « làm chủ » Hồng Lĩnh. Nguyễn Du không về Nam Ninh gặp vua Lê Chiêu Thống  mà lên thuyền theo sông Liễu Giang, Quảng Tây  rồi đi ngược lên Động Đ́nh Hồ đến Hán Khẩu theo thuyền sông  Hán đến Trường An.

 

*  *  *

 

Nguyễn Du, mang danh hiệu Chí Hiên, danh hiệu Nguyễn Du dùng cho đến năm 1796, kư tên hai bài thơ  tặng Hồ Xuân Hương, lưu lại trong Lưu Hương Kư. Nguyễn Du làm thế nào, không tiền dính túi mà đi giang hồ Giang Nam, Giang Bắc, đi Trường An, Hàng Châu? Đội mũ vàng, đi  muôn dậm, lại đọc kinh Kim Cương ngh́n lượt trong ba năm ? Bài  viết này đi vào từng bài thơ, những trang nhật kư của Nguyễn Du, ba năm giang hồ Trung Quốc, thoát ṿng trần tục, theo gương Lư Bạch tuổi trẻ đi chu du khắp Trung Nguyên, và dừng lại ở Hàng Châu, miếu Nhạc Phi nơi ḥ hẹn cùng Nguyễn Đại Lang. Nơi đây Nguyễn Du cư ngụ tại chùa Hổ Pháo cũng bên bờ Tây Hồ, nơi Từ Hải tức Minh Sơn Hoà Thượng từng tu hành. Tại Hàng Châu năm 1790- 24 tuổi, Nguyễn Du có được bản Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân. Nguyễn Du thôi đọc Kinh Kim Cương v́ “Ḷng ta thường định chẳng xa thiền.” Từ đây Kim Vân Kiều  trở thành quyển sách bên ḿnh Nguyễn Du và miệt mài  diễn ca thành thơ nôm để mua vui  cũng được một vài trống canh.

 

Tây Hồ Hàng Châu,
link: http://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%A2y_H%E1%BB%93_(h%E1%BB%93_H%C3%A0ng_Ch%C3%A2u)

 

 Nhà sư Chí Hiên đầu đội mũ vàng nhà sư  (Muôn dậm mũ vàng chiều nắng xế). Các chú thích của cụ Lê Thước trong Thơ Chữ Hán Nguyễn Du, cho rằng mũ hoàng quang là mũ đạo sĩ Lăo giáo, điều này không đúng, v́ đạo sĩ mặc áo trắng, đội nón trắng; Nho sĩ đạo Khổng mặc áo xanh biển, th́ cũng đội mũ xanh; nhà sư đạo Phật mặc áo vàng, đội mũ vàng, hay mũ nâu. Hoàng quan do câu : Hoàng quan qui cố hương của Văn Thiên Trường, khi bị vua Mông Cổ bắt, muốn chiêu dụ ra làm quan, ông  từ chối chỉ muốn thoát ṿng trần tục về quê hương qui ẩn.  Xem phim bộ Hương Cảng, Trung Quốc, Đài Loan ngày nay, họ nghiên cứu kỹ quần áo cách ăn mặc ngày xưa, chẳng thấy có một đạo sĩ nào mặc đồ trắng, đội nón vàng cả. Nguyễn Du đi 10 000 dậm; Một dậm khoảng nửa cây số, Nguyễn Du đi khoảng 5000km, đường từ Vân Nam đến Liễu Châu đi Trường An, xuống Hàng Châu, để đi giang hồ khoảng đường này Nguyễn Du phải mất 3 năm. Đường xá ở Trung Quốc ngày xưa, cứ 10 dặm hoặc 4, 5 dặm đặt một sở, gọi là “đường”, có binh lính canh gác, mỗi đường có ba ṭa báo hiệu lửa, xây bằng gạch trên nhọn dưới vuông, giữa trống, khi có sự cấp báo, th́ đốt lửa để khói bốc lên làm hiệu, tàn trắng như tuyết, tung bay khắp,cả, gọi là hỏa đài- (Theo Ngô Thời Nhậm, Thơ, Văn Học. Hà Nội 1986. tr 149.) Đường thủy có kinh Đại Vận Hà đào thời nhà Tùy- Đường chạy từ Bắc Kinh tới Hàng Châu, nối liền các con sông. Các sứ đoàn nước ta đi Bắc Kinh đi nhiều đoạn bằng đường sông. Trên sông tấp nập ghe thuyền buôn bán. 

Đi nhờ các thuyền buôn, nhà sư đi không ai lấy tiền, lại cúng dường món chay (Hết ở ăn nhờ biển đến sông). Hành trang trong túi vải là quyển Kinh Kim Cương Chú Giải của Lê Quư Đôn. Quyển sách nhà chùa  Thăng Long khắc bản ấn hành được giới sĩ phu Bắc Hà thời bấy giờ yêu chuộng làm kinh gối đầu. Tam Nguyên Bảng Nhản Lê Quư Đôn là một trí thức lớn nước ta, hàng trăm năm mới có một người như thế, chết được chúa Trịnh để tang cho băi chầu ba ngày, trong triều đ́nh có 14 vị quan đại thần là học tṛ Lê Quư Đôn, chuyện hiếm có xưa nay, th́ một thanh niên 18, 20 tuổi, mang bên ḿnh cuốn sách của « thần tượng » ḿnh là chuyện thường t́nh. Nhà sư mang cả thanh trường kiếm trong túi vải trên lưng, như truyền thống các nhà sư Thiếu Lâm xuống núi hành đạo, cứu đời chống bọn cướp bóc, các thương thuyền càng thêm kính nể. Khi thương thuyền có người đau ốm, hay việc trắc trở qua ghềnh thác, chủ thuyền nhờ nhà sư làm lễ tụng cho bài kinh cầu an. Khi mua hàng th́ nhà sư ở Trung Quốc cũng làm lễ rảy nước cành dương cho mua may bán đắt. Đi một đoạn đường gặp một ngôi chùa, nhà sư từ giả thương thuyền đi ngao du thắng cảnh, tối về chùa tụng kinh Kim Cương làm công quả, bữa ăn rau đậu nhà chùa thết đăi không sợ đói (Tôi đọc kinh Kim Cương ngh́n lượt- Bài Phân Kinh Thạch Đài). Mỗi ngày tụng một lần, ngh́n lượt, một năm 365 ngày nhân ba, cộng với thời gian ba tháng bị bệnh. Nguyễn Du đi giang hồ trong áo mũ nhà sư trong ba năm  1788, 1789, 1790. Đến ở một ngôi chùa khi đă chán cảnh rồi th́ lại lên đường đi tiếp, khi đi theo sông, khi đi  nhờ thuyền. Nhắm hướng Trường An thẳng tới.  Trường An là kinh đô các triều đại Hán, Tùy, Đường, đến Trường An là một mơ ước của các sĩ phu khi đọc sách sử Trung Quốc ngày xưa.

 

Truyện Kiều

 

Bản Đoạn trường tân thanh in năm 1902 và Kim Vân Kiều tân tập khắc in năm 1906.
(chữ 
quốc ngữ)

Link: http://vi.wikipedia.org/wiki/Truy%E1%BB%87n_Ki%E1%BB%81u

 

Bài mạn hứng I :  - Nguyễn Du viết : Thân thế trăm năm phó mặc gió bụi, hết ăn nhờ miền sông lại đến miền biển. Đă lâu rồi không c̣n hào hứng với giấc mộng gác vàng (ra làm quan), hư danh chưa buông tha cho đến khi bạc đầu. Ba tháng mùa xuân ốm bệnh nghèo không có thuốc ( Nguyễn Du ở ba tháng ở Vân Nam, trong nhà một thầy thuốc (Trúc thưa vườn thuốc lạnh hơi xuân. Sơn Cư mạn hứng). Một kiếp phù sinh có thân nên có mối lo. Ở xa cách quê hương ngàn dậm ḷng nhớ quê nhà. Nếu Nguyễn Du đang ở Quỳnh Hải hay Hà Tĩnh không thể viết ḿnh nhớ quê hương ngàn dậm được. Thẹn cùng anh hàng xóm có ngựa xe rong. Chắc Nguyễn Du đă bán con ngựa cỡi đi từ Thái Nguyên để trả tiền thuốc ba tháng bệnh th́ mới c̣n sống sót mà viết Truyện Kiều, đi chơi bằng thuyền “miễn phí”  mà mang ngựa theo th́ hơi khó, lại phải có tiểu đồng đi theo lo dẫn ngựa ăn cỏ như  Kim Trọng, Theo sau có một vài thằng con con, chăm sóc cho ngựa trong lúc Chàng  Vương quen mặt ra chào, Hai Kiều e lệ nép vào dưới hoa. Lên thuyền mà đem theo ngựa chẳng ai cho đi không ! Tại Trường An trong khu vực chùa Đại Nhạn, tôi thấy  có một khu bảo tàng sưu tập các trụ cột ngựa, rất đẹp,  chạm khắc rất phong phú, chứng tỏ các nhà giàu Trung Quốc ngày xưa ai cũng có ngựa, và trước nhà  trụ cột ngựa  cho khách tới viếng thăm. Sau khi gặp lại Nguyễn Đại Lang tại Trung Châu, có lẽ được ông anh kết nghĩa chu cấp, thơ Đoàn Nguyễn Tuấn tả công tử Nguyễn Du tại Hoàng Châu, Hà Bắc đi xe song mă  “đời mới “ chạy về Nam và ở lữ quán “sang trọng” như phái đoàn đi sứ Tây Sơn. Link: http://www.thivien.net/viewpoemgroup.php?ID=22

 

MẠN HỨNG I

Trăm năm thân thế mặc phong trần,

Hết ở ăn nhờ biển đến sông.

Giấc mộng gác vàng thôi cạn hứng,

Bạc đầu chưa bỏ được hư danh.

Ba xuân ốm bệnh nghèo không thuốc,

Một kiếp phù sinh hoại tấm thân.

Ngàn dậm quê hương vời vợi nhớ,

Thẹn cùng hàng xóm ngựa xe rong.

Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nhất Uyên dịch thơ

 

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

MẠN HỨNG I

Bách niên thân thế ủy phong trần,

Lữ thực giang tân, lại hải tân.

Cao hứng cửu vô hoàng các mộng,

Hư danh vị phóng bạc đầu nhân.

Tam xuân tích bệnh bần vô dược,

Táp tải phù sinh hoạn hữu thân.

Dao ức gia hương thiên lư ngoại,

Trạch xa đoạn mă qui đông lân.

Chú thích:

Hoàng các mộng: mộng gác vàng, mộng làm quan to. Cửa công đường thừa tướng thường sơn màu vàng ,  tích Đỗ Như Hối làm Tể tướng đời nhà Đường ba chục năm, lo cho dân nước. Hoàng các tam thập niên, thanh phong tiên vạn cổ. Gác vàng ba mươi năm mà thơm bia muôn đời.

Hoạn hữu thân: mối lo có thân. Lăo Tử nói : Ta có mối lo lớn v́ ta có thân.

Trạch xa đoạn mă: xe ngắn ngựa đi đủng đỉnh. Ư nói an nhàn ở nơi làng mạc, không cầu  công danh.

                                                                                                                * *

Bài mạn hứng II : - Nguyễn Du viết: Chân không bén rễ mặc gió bay như ngọn cỏ bồng. Một chiếc túi rỗng mà đi hết Giang Nam lại Giang Bắc , Trung Quốc. Cuộc đời trăm năm, không đi đó đây chẳng lẽ nằm nhà chết xác với văn chương trong sách vỡ. Tấm thân sáu thước sống lênh đênh trong ṿng trời đất. Đội mũ vàng nhà sư đi muôn dậm, từ sáng cho đến khi trời xế chiều.  V́ Tây Sơn ra Bắc nên phải lưu lạc, nhiều lo lắng đến bạc tóc. Bao nhiêu chuyện kim cổ các nơi đă đi qua gợi bao chuyện đau ḷng. Nguyễn Du đă đi qua sông Mịch Giang nơi Khuất Nguyên trầm ḿnh c̣n để lại lời thơ Ly Tao bất tử, nơi Văn Thiên Tường  tử tiết chống nhà Nguyên Mông Cổ mà tấm ḷng son c̣n lưu lại với sử xanh, qua Lỗi Dương thăm mộ Đỗ Phủ, qua Thanh Liên quê hương Lư Bạch. Mỗi một nơi đều có vết chân người xưa, dấu tích những danh nhân Trung Quốc mà Nguyễn Du chỉ biết trên sách sử bao nhiêu chuyện vui buồn. Chỉ có dăy núi xanh là  xanh măi trong nắng xế hồng.

MẠN HỨNG II

Không rễ chân như ngọn cỏ bồng,

Giang Nam, Giang Bắc túi tiền không.

Văn chương nát với trăm năm đó,

Trời đất nổi trôi sáu thước thân.

Muôn dặm mũ vàng trời xế bóng,

Một đầu tóc bạc gió Tây tung.

Gợi bao nhiêu chuyện buồn kim cổ,

Non cũ xanh xanh nắng xế hồng.

Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nhất Uyên dịch thơ.

 

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

MẠN HỨNG II

Hành cước vô căn nhiệm chuyển bồng.

Giang Nam, Giang Bắc nhất nang không.

Bách niên cùng tử văn chương lư,

Lục xích phù sinh thiên địa trung.

Vạn lư hoàng quan tương mộ cảnh,

Nhất đầu bạch phát tản tây phong.

Vô cùng kim cổ thương tâm xứ,

Y cựu thanh sơn tịch chiếu hồng.

Chú thích:

Giang Nam: vùng phía Nam sông Trường Giang (Dương Tử) Thượng Hải, Giang Tô, An Huy;  Giang Bắc: vùng phía Bắc sông Dương Tử.

Lục xích: sáu thước, thước ngày xưa ngắn, sáu thước tương đương 1m 65  ngày nay.

Vạn lư: ngàn dậm, Vạn Lư Trường Thành dài khoảng 5000km.

Hoàng quan: Văn Thiên Tường, trạng nguyên, tể tướng nhà Tống, đi sứ sang Nguyên để cầu hoà, bị thừa tướng nhà Nguyên giữ lại, sai Toa Đô dụ dỗ, ông không chịu khuất phục. Thiên Tường đóng quân ở núi Ngũ Pha, Trương Hoàng Phạm đến đánh lén bắt được, đưa về giam ở Yên Kinh. Vua Nguyên giữ Văn Thiên Tường ở Yên Kinh ba năm, sai Vương Tích Ông dụ dỗ. Thiên Tường nói: “Nguyện được nhà vua khoan thải, cho đội mũ vàng trở về cố hương” (hoàng quan qui cố hương).  Đội mũ vàng là dứt bỏ mọi danh vọng. Nguyễn Du “ước ǵ muốn thoát ṿng trần tục”, đội mũ vàng nhà sư đi giang hồ khắp nơi.

 

*  *  *

 

TRÔNG CHÙA TƯƠNG SƠN - Trong Bắc Hành Tạp Lục Nguyễn Du có bài thơ  Vọng Tương Sơn Tự, có câu Cô Chu giang thượng bằng lan xứ, trên chiếc thuyền cô đơn, đứng dựa mạn thuyền ngắm cảnh. Nguyễn Du đi một ḿnh hay đi với sứ đoàn 27 người, mà đứng ngắm cảnh chùa một ḿnh? Phan Huy Ích trong Tinh Sà Kư Hành tr 33 tả: “ Thuyền sứ qua các phủ thành, quan sở tại dựng thủy đ́nh ở bến sông, bố trí cả nhạc cụ và yến tiệc. Mỗi đêm khi qua các đ́nh bên sông th́ ở đó thắp đèn đuốc sáng rực, ánh sáng rọi lên tận trăng sao.” Nếu bài thơ này làm năm 1813 lúc đi sứ th́ Nguyễn Du không thể ở trên một chiếc thuyền cô đơn ngắm cảnh chùa một ḿnh. Do đó tôi cho rằng bài này Nguyễn Du viết năm 1788 khi đi giang hồ một ḿnh qua chùa Tương Sơn ở Quảng Tây. Chùa Tương Sơn là nơi trụ tŕ cuối cùng và nhập diệt của nhà sư Trần Huyền Trang (Tam Tạng) đời Đường sang Ấn Độ thỉnh kinh. Sinh năm 602 ở Hồ Nam. Huyền Trang rời Trường An năm 25 tuổi (năm 627) với mục đích đến tận nguồn gốc xứ Phật để sưu tập kinh điển, vượt qua bao gian khổ đi theo con đường tơ lụa, qua sa mạc Gobie qua Bactriane (Afghanistan) vượt đèo Hindukush qua thung lũng Indus đến Cachemire rồi từ đó đến đồng bằng sông Hằng (Gange). Rồi trong mười năm đi t́m thầy học đạo, gặp gỡ các nhà sư uyên bác Phật Giáo đương thời. Hai năm học ở Trường Đại Học Phật Giáo Nalanda (Bihar). Đến từng nơi Trần Huyền Trang đă viết kư sự những nơi đă qua. Năm 645, nhà sư Huyền Trang trở về Trường An, và tổ chức dịch thuật Tam Tạng Kinh Điển. Năm 652 Vua Đường Cao Tông cho xây chùa Đại Nhạn để chứa kinh điển và chùa Tiểu Nhạn. Tôi đă đến Trường An thăm ngôi tháp Đại Nhạn cao 64 m nơi chứa kinh điển . Ngày xưa ngài Huyền Trang đă chất trên 20 con ngựa để mang về, chất trong tháp, rồi cả đời bao nhiêu công phu tổ chức dịch thuật, in ấn.

 

Chùa Đại Nhạn - Trường An,
link: http://minhhanhdp.brinkster.net/Chua_Tren_Thegioi/DaiNhanThap.htm

 

Cổ Phật Vô Lượng người đời Đường, chân thân c̣n để trên núi Tương Sơn, chân thân một đêm lửa cháy hết. Ngôi chùa cổ ngàn năm phủ bóng mây chiều. Núi đèo Ngũ Lĩnh có nhiều khí sắc. Toàn Châu thành quách nằm trong gió bụi. Đứng dựa mạn thuyền cô đơn trên sông ngắm cảnh. Một dăy cây tùng, cây sam bóng chiều nhuốm nửa.

 

TRÔNG CHÙA TƯƠNG SƠN

Cổ Phật Vô Lường người  thịnh Đường,

Nơi Tương Sơn Tự thân vô thường.

Châu thân một tối đà thiêu hóa,

Chùa cũ ngàn năm mây vấn vương.

Ngũ Lĩnh núi non nhiều khí sắc,

Toàn Châu thành quách bụi phong sương.

Đầu sông tựa mạn thuyền con ngắm,

Nửa  dăy tùng sam bóng tối buông.

Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nhất Uyên dịch thơ.

 

Nguyên tác phiên âm Hán Việt.

VỌNG TƯƠNG SƠN TỰ

Cổ Phật Vô Lường Đường thế nhân,

Tương Sơn tự lư hữu chân thân.

Chân thân nhất dạ tẫn viêm hỏa,

Cổ tự thiên nhiên không mộ vân.

Ngũ Lĩnh phong loan đa khí sắc ,

Toàn Châu thành quách tại phong trần?

Cô chu giang thượng bằng lan xứ

Nhất đái tùng sam bán tịch huân.

Chú Thích:

Cổ Phật Vô Lường, tôn hiệu  Trần Huyền Trang.

Tương Sơn: núi tỉnh Quảng Tây.

Chân thân: thân thể người tu hành đắc đạo.

Ngũ Lĩnh: Chỉ năm đèo lớn nằm trên ngă đường, vượt qua dăy núi dài phía Nam Trường Giang, xuống miền Nam.

Toàn Châu: là Toàn Huyện, phía Bắc Tỉnh Quảng Tây; Thượng lưu sông Tương.

Tùng Sam: cây sam giống cây Tùng quả nhỏ.

 

 

*  *  *

 

Rời Toàn Châu, Nguyễn Du đi qua Hồ Động Đ́nh, Trường Sa đến Hán Dương. Đoạn đường này trùng hợp với đoạn đường đi sứ.  So với thơ trên đường đi sứ của Phan Huy Ích, Lê Quư Đôn, Đoàn Nguyễn Tuấn, Ngô Thời Nhiệm, số thơ Nguyễn Du làm trên đoạn đường này khá nhiều, gấp bội, có thể có một số bài Nguyễn Du đă làm từ năm 1789, 1790 như những bài Nguyễn Du đi thăm làng Thanh Liên quê hương Lư Bạch, thăm quê Đỗ Phủ. Từ Hán Dương, Nguyễn Du đi theo sông Giang Hán đến Trường An. Các đoàn đi sứ theo hướng khác đến Bắc Kinh.

Đài đá chia kinh nằm nơi đâu ?  Năm 582 nhà Tùy , vua Lương Vơ Đế xây kinh đô Đại Hưng, sau đổi tên Tràng An.  Vua  Lương Vơ Đế được tổ Thiền Tông thứ nhất, cũng là tổ thứ 28 kể từ ngài Ca Diếp,  Bồ Đề Đạt Ma từ Ấn Độ sang truyền bá Đạo Phật. Đạo Phật đă truyền sang Trung Quốc từ thế kỷ thứ hai đời Tôn Quyền, Đông Ngô thời Tam Quốc. V́ kinh điển không đầy đủ nên đời Đường, Trần Huyền Trang mới quyết chí sang Ấn Độ du học và thỉnh kinh. Sau 17 năm du hành. Trần Huyền Trang mang về được 150 xá lợi Phật,  8 tượng Phật, 224 bộ kinh Đại Thừa, 192 bộ luận đại thừa, 15 bản của phái Thượng Tọa, 15 bản của phái Đại chúng, 15 bản của phái Chánh Lượng, 22 bản của phái Di sa tắc, 17 bản của phái Ca Diếp tỉ la, 42 bản của phái Pháp mật, 67 bản của phái Nhất thiết hữu, 36 Bộ Nhân Minh Luậnb, 13 bộ Thanh Minh Luận, tổng cộng 520 ḥm có 675 cuốn. Ngài phải dùng 20 con ngựa để mang tất cả.( Theo HT Thích Minh Châu. Huyền Trang nhà chiêm bái và học giả. Viện Đại Học Vạn Hạnh Sài G̣n. 1966, tr 55).

Năm 652 xây tháp Đại Nhạn cao 45m để chứa kinh Phật; tháp Tiểu Nhạn cao 45 m.

Việc Kết tập Kinh Điển đă được tổ chức tại Ấn Độ. Sau khi Phật qua đời, sau đó 80 năm, 200 năm  và thời A Dục Vương sau thời Phật 300 năm. Không có chuyện kết tập Kinh điển và phân bộ kinh tại Trung Quốc. Do đó thời Lương Vơ Đế nhà Tùy chỉ có việc dịch kinh, in kinh và phân phối cho các chùa các nơi. Nhà Tùy đóng đô tại Trường An, do đó việc phân kinh chắc cũng ở Trường An. Trường An không nằm trên đường đi sứ Nguyễn Du năm 1813, do đó Nguyễn Du có lẽ viết bài Phân Kinh Thạch đài năm 1789. Tôi đến Trường An năm 2009 đến thăm hai chùa Đại Nhạn và Tiểu Nhạn với kiến trúc quy mô, nhưng hỏi đến Phân Kinh Thạch Đài đời nhà Tùy th́ chẳng ai biết. Thời Nguyễn Du đến năm 1789 th́ chỉ c̣n đài đá với hai chữ Phân Kinh.

Thái tử Chiêu Minh, tên là Chiêu Thống (trùng tên hiệu vua cuối cùng nhà Lê nước ta) đời nhà  Tùy c̣n gọi là nhà Lương (502-556) con vua Lương Vũ Đế (Chiêu Diên) (502-539). Một trong bốn triều vua thời Nam triều (Tống, Tề, Lương, Trần). Hai cha con đều sùng đạo Phật. Chiêu Minh là tác giả bộ Văn Tuyển, lập đài kỷ niệm nơi chia kinh :

 

ĐÀI ĐÁ CHIA KINH CỦA THÁI TỬ LƯƠNG CHIÊU MINH - Đây nơi Thái Tử Chiêu Minh đời Lương chia kinh, đài đá c̣n ghi hai chữ Phân Kinh, nền đài hoang vu dưới làn mưa, cây cỏ bị rét đều chết khô, nay không thấy kinh ở đâu hết. Chỉ nghe đồn chuyện thái tử triều Lương ngày xưa. Thái tử tuổi trẻ say đắm văn chương, khéo bày chuyện chia kinh chỉ thêm rắc rối vô ích. Đạo Phật vốn là không, không nhờ vào vật, đâu có ở kinh mà chia ? Văn thiêng không ở ngôn ngữ. Kinh Kim Cương là ǵ ? Kinh Pháp Hoa là ǵ ? Giữa sắc với không mờ mịt không hiểu rơ. U mê theo Phật, th́ Phật trở thành ma. Một nhà cả hai cha con đều mù quáng. Ma sinh ra trong  ư nghĩ, không thấy đài sen mọc ở chốn sơn lăng. Buổi sớm kia (Hầu Cảnh) cưỡi ngựa trắng qua Trường giang (Hầu Cảnh trước là tướng Đông Ngụy, sau hàng Lương, rồi lại phản Lương, cưỡi ngựa trắng qua sông Trường Giang đánh Vũ Đế. Khi Hầu Cảnh hàng Lương, Đông Ngụy đưa tờ hịch cho Lương cảnh báo : Sợ nước Sở mất vượn, họa lây đến cây rừng, cửa thành cháy, vạ lây đến cá dưới ao). Cây rừng Sở bị họa, ca dưới ao bị vạ lây. Kinh bị thiêu ra tro, đài  cũng đổ nát, ngh́n vạn lời lưu lại cũng vô ích, chỉ để bọn ngu tăng đời sau đọc điếc tai người ta. Ta nghe nói Thế tôn ở Linh Sơn, thuyết pháp cứu nhiều người nhiều như cát sông Hằng Hà. Người ta hiểu chữ tâm tức là ngộ rồi. Linh Sơn chỉ ở trong ḷng người. Minh Kính cũng không phải là đài. Lục Tổ Huệ Năng có bài kệ : Bồ đề bản vô thụ, Minh Kính diệc phi đài, Bản Lạ vô nhất vật, Hà xứ nhạ trần ai ?; dịch : Bồ đề không phải cây, Minh Kính không phải đài, Vốn không phải một vật. Bụi bặm vướng vào đâu ? Ta đọc kinh Kim Cương ngh́n lượt. Những ư nghĩa gọi là cao sâu trong đó phần nhiều không rơ ràng. Khi đến dưới đài phân kinh này mới biết kinh không chữ mới là chân kinh.

 

ĐÀI ĐÁ CHIA KINH CỦA THÁI TỬ LƯƠNG CHIÊU MINH

Triều Lương, Chiêu Minh thái tử, chốn phân kinh,

Đài đá c̣n ghi chữ Phân Kinh.

Hoang vu nền cũ trong mưa gió,

Lạnh tàn cây cỏ xác xơ cành

Chốn cũ nơi đây nào thấy kinh,

C̣n nghe lưu truyền Lương thái tử.

Thái tử tuổi trẻ say văn chương,

Bày chuyện chia kinh vô tích sự

Đạo Phật vốn không, không nhờ vật,

Là ǵ Kim Cương và Pháp Hoa ?

Nào có kinh ǵ để phân chia,

Văn thiêng không ở nơi ngôn ngữ,

Sắc không mờ mịt không hiểu rơ,

Tâm mê theo Phật, Phật thành ma,

Một nhà cha con đều mù ḷa

Ma tự sinh ra trong ư nghĩ.

Hoa sen nào thấy chốn sơn lăng.

Ngựa trắng một sớm qua Trường Giang,

Cây Sở cá ao đều bị họa,

Kinh sách ra tro đài tàn hoang,

Ngh́n vạn lời lưu lại ích chắng ?

Điếc tai đời sau bọn ngu tăng.

Ta nghe Thế Tôn núi Linh Thứu,

Thuyết pháo độ nhiều sa số như cát sông Hằng,

Người hiểu được tâm ấy độ rồi,

Linh Sơn chỉ ở trong ḷng người,

Bồ Đề chẳng phải cây,

Minh kính không là đài.

Ta đọc Kim Cương hàng ngh́n lượt,

Lắm điều sâu kín khó hiểu rành.

Phân kinh thạch đài nay đến đó,

Mới hay không chữ là chân kinh.

Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nhất Uyên dịch thơ

 

Nguyên tác phiên âm Hán Việt :

LƯƠNG CHIÊU MINH THÁI TỬ PHÂN KINH THẠCH ĐÀI

Lương Triều Chiêu Minh thái tử phân kinh xứ,

Thạch Đài do kư “ Phân Kinh” tự.

Đài cơ vu một vũ hoa trung,

Bách thảo kinh hàn tận khô tử.

Bất kiến di kinh hà tại sở,

Văng sự không truyền Lương thái tử.

Thái tử niên thiếu nịch ư văn.

Cưỡng tác giải sự đồ phân phân,

Phật bản thị không, bất trước vật,

Hà hữu hổ kinh, an dụng phân ?

Linh vân bất tại ngôn ngữ khoa.

Thục vi Kim Cương, vi Pháp Hoa ?

Sắc không cảnh giới mang bất ngộ,

Si tâm qui Phật, Phật sinh ma,

Nhất môn phụ tử đa giao tế,

Nhất niệm chi trung, ma tự chí,

Sơn lang bất dũng hoa liên đài.

Bạch mă triêu độ Trường giang thủy,

Sở lâm hoa mộc, tŕ ương ngư,

Kinh quyển thiêu hôi, đài diệc dĩ.

Không lưu vô ích vạn thiên ngôn,

Hậu thế ngu tằng đồ quát nhĩ,

Ngô văn Thế Tôn tại Linh Sơn,

Thuyết pháp độ nhân như Hằng hà sa số.

Nhân liễu thử tâm, tâm tự độ,

Linh Sơn chỉ tại nhữ tâm đầu.

Minh kính diệc phi đài,

Bồ Đề bản vơ thụ.

Ngă độc Kim Cương thiên biến linh,

Kỳ trung áo chỉ đa bất minh,

Cập đáo Phân Kinh thạch đài hạ,

Tài tri vô tự thị chân kinh.

Chú thích:

Thế Tôn: Đức Thích Ca Mâu Ni.

Linh Sơn: hay Linh Thứu, nơi Phật  thuyết kinh Pháp Hoa.

Hằng hà: Phật đông như cát sông hồng, ai cũng co thể thành Phật được.

Lương Vơ Đế: theo Pháp Bảo Đàn Kinh : Một hôm Lục Tổ Huệ Năng đăng đàn nói Pháp th́ vị thứ sử hỏi sư rằng: “Đệ tử có nghe khi Đạt ma mới giáo hóa cho Lương Vơ Đế: Đế có hỏi rằng: - Một đời trẩm xây dựng chùa chiền, cúng dường tăng, bố thí thiết trai; Vậy có công đức ǵ không ? Đạt Ma dạy: -Thật chẳng có công đức ǵ cả. Đệ tử chưa rơ được lư này, mong ḥa thượng v́ đệ tử chỉ dạy.” Sư dạy:- Thật chẳng có công đức ǵ cả, chớ nghi ngờ lời nói thánh xưa. V́ Vơ Đế mang tâm tà nên chẳng hiểu chánh pháp. Việc xây dựng chùa chiền, cúng dường tăng chúng, bố thí thiết trai là những việc cầu phước, chẳng thể đem phước đó để cầu công đức được. Công đức th́ ở trong pháp thân th́ chẳng phải ở tu phước.

Kinh Pháp Hoa: bộ kinh Đại Thừa quan trọng nhất lưu hành rộng răi ở Trung Quốc, Nhật Bản, Tây Tạng, Triều Tiên, Việt Nam. Thiên Thai Tông lấy kinh này làm căn bản. Đó là bản kinh ghi lời cuối đời Phật dạy ở núi Linh Thứu. Kết tập 200 năm sau.  Giáo pháp về sự chuyển hóa của Phật Tính và khả năng giải thoát. Có nhiều cách để giác ngộ, nhưng chúng chỉ là phương tiện nhất thời và thực tế chúng chỉ là một.

Kinh Kim Cương: Bộ kinh đàm luận giữa Phật và Tôn giả Tu Đà Đà. Bài  kệ cuối cùng tóm lược: “Tất cả các pháp hữu vi như mộng, như ảo ảnh, như bọt nước, như bóng, như sương mai, như ánh chớp cần phải nh́n nhận chúng như thế.”

 

*  *  *

 

Mộ BÙI TẤN CÔNG - Nguyễn Du đến Chiêu Lăng của Đường Thái Tông, phía Tây Trường An cạnh Vị Thành. Khu mộ an táng các công thần có công giúp nước. Bùi Tấn Công tức Bùi Độ tự Trung Lập, người đời Đường làm quan dưới triều Đường Hiến Tông (806-820) có công dẹp giặc được phong Tấn Quốc Công, làm Tể tướng ba mươi năm, sau v́ bọn hoạn quan lộng quyền, ông cáo quan về nhà ngâm vịnh với các nhà thơ đương thời như Bạch Cư Dị, Lưu Vũ Tích. Thăm mộ Bùi Tấn Công phải chăng Nguyễn Du nhớ đến cha anh, những người văn vơ toàn tài, chỉ v́ bọn kiêu binh lộng quyền mà mất nước. Trên cánh đồng thu rộng mênh mông g̣ đống bằng phẳng, Tấm bia mộ c̣n ghi tên Tấn Công. Một tấm ḷng son lưu tiếng xưa nay. Ngh́n năm xương trắng chia cách kẻ sống người chết. Ông có thừa tài thao lược làm tướng văn tướng vơ. C̣n về h́nh tượng đặt trên Gác Yên Đài ghi tên người có công không cần vẽ tranh xanh đỏ điểm tô làm ǵ. Đau ḷng gần đây thấy cây ở Chiêu Lăng tiếng quyên kêu suốt một dăi Vị Thành.

 

Mộ BÙI TẤN CÔNG

Đồng thu vắng lạnh đống g̣ bằng,

Tấm mộ bia ghi tên Tấn Công,

Một tấm ḷng son kim cổ nhớ,

Ngh́n năm xương trắng tử sinh đành.

Tài cao mưu lược tướng văn vơ,

H́nh dáng cần chi nét đỏ xanh.

Cây cảnh Chiêu Lăng c̣n thổn thức,

Quyên kêu Thành Vị tiếng đau ḷng.

Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nhất Uyên dịch thơ

 

BÙI TẤN CÔNG Mộ

Đăng đăng thu nguyên khâu lũng b́nh,

Mộ bi do chí Tấn Công danh.

Đan tâm nhất điểm lưu kim cổ,

Bạch cốt kim niên cách tử sinh.

Tẩn hữu du vi ưu tướng tướng,

Vô phương h́nh mạo yếm đan thanh

Thương tâm cận nhật Chiêu Lăng thụ,

Nhất đái đề quyên triệt Vị Thành.

Chú Thích:

Câu 5, 6 nguyên câu Bùi Độ đề vào bức vẽ truyền thần của ḿnh: Thân h́nh không cao, diện mạo không đẹp mà sao làm được tướng văn tướng vơ. Chỉ có cái tâm linh thiêng liêng không vẽ được. Bùi Độ tướng mạo tầm thường nhưng văn vơ toàn tài.

                                                                                                                     * *

QUÊ CŨ DƯƠNG QUƯ PHI - Nguyễn Du đến thăm quê cũ Dương Quư Phi tức Dương Ngọc Hoàn, người Hoàng Nông, Hoa Âm tỉnh Thiểm Tây, mồ côi sớm được chú là Dương Huyền Yêu nuôi, mười tám tuổi nàng làm thị nữ cho Thọ Vương Mạo, con thứ 18 vua Đường Huyền Tông. Thấy nàng nhan sắc giống quư phi nhà vua mới mất. Thọ Vương tiến nàng vào cung vua. Huyền Tông yêu phong làm Quư Phi. Họ hàng Quư Phi  nhờ thế mà lên địa vị cao. An Lộc Sơn nổi loạn; Huyền Tông chạy vào đất Thục, đến Mă Ngôi quân lính không chịu đi, đ̣i trừng phạt Dương Quốc Trung anh họ nàng và Dương Quư Phi. Nàng thắt cổ chết. Sự kiện Dương Quư Phi giống như Đặng Thị Huệ, quư Phi của chúa Trịnh Sâm, em trai cũng lộng quyền, kiêu binh cũng đ̣i trừng trị như thế. Phải chăng Nguyễn Du mượn chuyện Dương Quư Phi để nói đến Đặng Thị Huệ, nàng không tội t́nh ǵ, bao nhiêu tiến sĩ triều đ́nh, bao nhiêu vơ tướng đều bất tài vô dụng như phổng đá như con ngựa làm cảnh, nên đỗ oan việc mất nước cho một người đàn bà?

Bài thơ viết: Mây núi thưa thớt, hoa bên sông rực rỡ (Nguyễn Du đến Trường An vào mùa xuân năm 1789). Nghe nói Dương Quư Phi sinh ở đất này. Chỉ v́ cả triều đ́nh đều như phỗng đứng, mà ngh́n năm cứ đổ oan cho sắc đẹp nghiêng thành. Cung Nam Nội buồn teo, cỏ dại mọc khắp. Đồng Tây Giao vắng ngắt, g̣ đống san bằng. Hương tàn phấn ră, nay biết t́m đâu ? Dưới thành gió Đông thổi, khiến người cảm xúc vô hạn.

Tượng Dương Quư Phi trong khu mộ,
link: http://vi.wikipedia.org/wiki/D%C6%B0%C6%A1ng_Qu%C3%BD_Phi

 

QUÊ CŨ DƯƠNG QUƯ PHI

Bên sông hoa nở núi mây thanh,

Nghe nói Dương Phi đất ấy sanh.

V́ cả triều đ́nh như phổng đứng,

Đỗ oan ngh́n thuở sắc nghiêng thành.

Cỏ cây Nam Nội buồn man mác,

G̣ đống Tây Giao giờ vắng tanh.

Hoa phấn hương tàn ai biết nữa,

Gió đông hiu hút dưới chân thành.

Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nhất Uyên dịch thơ.

 

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

DƯƠNG QUƯ PHI CỐ  LƯ

Sơn vân tước lược ngạn hoa minh,

Kiến thuyết Dương Phi thử địa sinh.

Tự thị cử triều không lập trượng,

Uổng giao thiên cổ tội khuynh thành.

Tiêu tiêu Nam Nội bồng cao biến,

Mịch mịch Tây Giao khâu lũng b́nh.

Lang tạ tàn hồng vô mịch xứ,

Uông phong thành hạ bất thăng t́nh.

Chú thích:

Lập trượng : đứng im, lấy tích Lập trượng mă, những con ngựa được luyện tập đứng im, làm nghi vệ cho nhà vua, con nào kêu bị đuổi ra. Ở đây chỉ những ông quan không dám mở miệng can gián vua, để xảy ra cuộc loạn An Lộc Sơn.

Nam Nội tức cung Hưng Khánh, nơi Đường Huyền Tông và Dương Quư Phi ở.

Tây Giao: cánh đồng phía Tây, chỉ Mă Ngôi ở phía Tây Trường An, nơi Dương Quư Phi bị thắt cổ chết.

Trường An thời Nguyễn Du đến cũng chẳng c̣n cung điện, Cung A Pḥng nguy nga nhà Tần đă bị đốt cháy hàng tháng trời, Cung nhà Hán, nhà Tùy, nhà Đường cũng chỉ c̣n nền gạch,  cuối thời nhà Đường kinh đô dời xuống Lạc Dương. Các khám phá mộ của Tần Thủy Hoàng gần đây, thời Nguyễn Du chưa biết.  Trường An chỉ c̣n lại những ngôi chùa, chùa Phật, chùa Tây Tạng, chùa Đạo Hồi của người Huy, hai ngôi chùa Đại Nhạn và Tiểu Nhạn nơi Trần Huyền Trang dịch kinh với quy mô to lớn không thấy Nguyễn Du nói đến. Có thể Phân Kinh Thạch Đài nằm nơi này chăng ? Trường An cũng có nhiều danh nhân, nhưng Nguyễn Du chỉ cảm xúc trước Dương Quư Phi và Bùi Tấn Công.

 

*  *  *

 

Sau khi thăm Trường An, Nguyễn Du lại xuống thuyền theo đường sông Hán, theo sông Trường Giang vào kênh Đại Vận Hà đến Hàng Châu. Mộ Nhạc Phi là nơi hẹn gặp lại Nguyễn Đại Lang. Nguyễn Du đẽ làm 5 bài thơ nơi này, chứng tỏ Nguyễn Du chờ đợi khá lâu. Các nơi khác Nguyễn Du đi qua chỉ làm một bài thơ. Mộ Nhạc Phi là nơi danh lam thắng cảnh nổi danh mọi người đều đến thăm viếng, để ngưỡng mộ  tấm ḷng trung nghĩa một anh hùng chết v́ nước hăm hại bởi gian thần. Hàng Châu với Tây Hồ nàng Tiểu Thanh. Tây Hồ là hồ nhỏ nhất nhưng đẹp nhất trong Ngũ Hồ của Trung Quốc: Thái Hồ, Động Đ́nh Hồ, Tây Hồ, Đan Dương Hồ và Nhạc Châu Hồ. Người Trung Quốc có câu nói: Trên trời có thiên đàng, dưới đất có Tô, Hàng (Tô Châu và Hàng Châu). Tô Châu có những ḍng kinh, những cây cầu, có những khu vườn danh tiếng trồng cây hải đường Hải đường lả ngọn đông lân, vườn sen, nhà thủy tạ, vườn non bộ  tùng, thạch, trúc, với chuông chùa Hàn San, có nàng Tây Thi giặt lụa thôn Trữ La... Hàng Châu với Tây Hồ và các ḍng sông, mùa thu sương muối làm cho lá thu rực đỏ: rừng thu phong đă nhuốm màu quan san, có các quán trà Long Tĩnh, thời Nguyễn Du có các thanh lâu ẩn hiện bên các bờ liễu rũ, có tiếng hát các nàng Kiều làm ngây ngất các anh hùng. Theo truyền thuyết vua Đại Vũ lập nơi đây kinh đô nhà Hạ và đắp đê trị thủy sông Dương Tử.  Thế kỷ thứ VIII nhà Tùy, nhà Đường đă cho đào Kinh Đại Vận Hà rộng 40m nối liền Bắc Nam từ Bắc Kinh, nối sông Hoàng Hà, Sông Hoài sông Dương Tử đến Hàng Châu và đến Bắc Quế Lâm. và một đường kinh khác nối Liêu Dương và Trường An dài 400km, một công tŕnh quan trọng không kém ǵ Vạn Lư Trường Thành. Thi hào Bạch Cư Dị (772-846) tác giả bài Tỳ Bà Hành. Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách, làm quan cai trị Hàng Châu năm 824  đă nâng cao bờ đê phía Nam Tây Hồ. Với 360 ngôi chùa Hàng Châu là một trung tâm văn hóa tôn giáo. Thế Kỷ thứ XII đời nhà Tống nhà Kim xâm lăng Trung Quốc. Lâm An tên gọi Hàng Châu thời bấy giờ trở thành kinh đô Nam Tống. Dân chúng tỵ nạn đổ về làm dân số Hàng Châu lên đến 1, 25 triệu người. Hàng Châu phát triển đường thủy trở thành một bến cảng hàng đầu và là đầu mối con đường tơ lụa trên bộ cũng như trên biển. Mông Cổ diệt nhà Tống lập nên nhà Nguyên năm 1279. Hàng Châu vẫn là thủ đô kinh tế văn hóa Trung Quốc.

Nhạc Phi (1103-1141) anh hùng khí khái bậc nhất Trung Quốc. Lăng mộ Nhạc Phi dưới núi Thê Hà bên Tây Hồ là thắng cảnh quan trọng bậc nhất Hàng Châu, nơi ḥ hẹn các anh hùng, tráng sĩ. Nhạc Vũ Mục tức Nhạc Phi người thời Nam Tống. Lúc bấy giờ trong triều đ́nh có hai phe, Phe Tần Cối chủ trương ḥa với Kim, c̣n phe Nhạc Phi chủ trương đánh. Sau mười năm xây dựng lực lượng, Nhạc Phi muốn đem quân tiến đánh quân Kim th́ Tể Tướng Tần Cối mạo lệnh vua gọi về, một ngày hạ 12 đạo kim bài, bắt Nhạc Phi rút quân về. Lần cuối cùng Nhạc Phi phải than một câu rằng: Công lao mười năm bỏ đi một ngày,  rồi mang quân về. Tần Cối giam vào ngục rồi giết chết. Nhạc Phi về sau được truy tặng là Nhạc Vũ Mục. Mộ Nhạc Phi trước có tượng Nhạc Phi ngồi trong nhung phục màu tím tay phải nắm đặt trên đùi, tay trái nắm chuôi kiếm, phía sau có bốn chữ Hoàn Ngă Hà Sơn (Trả lại ta giang sơn đă mất). Tượng bị phá thời Cách Mạng Văn Hóa, đă được làm lại và hoàn thành năm 1979. Nhạc Phi bị xử tử tại Phong Ba Đ́nh, sau vua Tống Hiếu Tông giải oan được cải táng nơi đây. Trước mộ Nhạc Phi có 4 tượng: Tể Tướng Tần Cối, vợ y là Vương Thị, Tướng Mặc Kỳ Tiết và viên cai ngục Trương Tuấn. Người đến thăm mộ thường đánh đập, phỉ nhổ vào các tượng sắt trên. Năm 1813 Nguyễn Du khi đi sứ ngang thành Hà Nam đất Yên nơi Nhạc Phi đóng quân chiêu tập b́nh mă, có làm bài thơ  Yên Thành Nhạc Vũ Mục ban sư xứ.

 

Tượng Nhạc Phi, trong miếu thờ Nhạc Phi ở Hàng Châu.
Bốn chữ trên bảng là "Hoàn ngă hà sơn" - "Hoàn lại núi sông của ta",
link: http://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%E1%BA%A1c_Phi

 

Bài Nhạc Vũ Mục mộ : Ông là vị anh hùng xuất hiện trong trăm trận đánh ở Trung Nguyên, với chiếc thương thần dài trượng tám và chiếc cung nặng sáu thạch. Ở tướng phủ, người ta đă ghép tội ông bằng cái án ba chữ (tam tự ngục). Khi Tần Cối khép Nhạc Phi vào tội tử h́nh, Hàn Thế Trung hỏi: “Có tội ǵ ? “, Cối trả lời “Mạc Tư hữu “ (Chẳng cần có). Về sau người ta gọi đó là tam tự ngục. Trong quân c̣n tiếc công ông mười năm trời. Sông hồ c̣n đó, nhưng anh hùng mất rồi Nam Tống rỗng không. Cây tùng bách vẫn ngạo nghễ trước gió bấc lao xao. Buồn trông về lăng miếu cũ ở Lâm An, thấy núi Thê Hà ch́m trong khói chiều.

 

Mộ NHẠC VŨ MỤC

Trung nguyên trăm trận xuất anh hùng,

Trượng tám thương thần, sáu thạch cung.

Tướng phủ tội h́nh ba chữ án,

Trung quân thương tiếc công mười năm.

Sông hồ đâu kẻ hùng Nam Tống,

Tùng bách kiên cường trước Bắc Phong.

Hoài vọng Lâm An lăng miếu cũ,

Thê Hà ch́m đắm khói sương dâng.

Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nhất Uyên dịch thơ

 

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

NHẠC VŨ MỤC Mộ

Trung nguyên bách chiến xuất anh hùng,

Trượng bát thần thương, lục thạch cung.

Tướng phủ dĩ thành tam tự ngục,

Quân môn do tích lập niên công,

Giang hồ xứ xứ không Nam Tống,

Tùng bách tranh tranh ngạo Bắc Phong,

Trường vọng Lâm An cựu lăng miếu,

Thê Hà sơn tại mộ  yên trung.

Chú thích:

Thạch: 120 cân Trung Quốc.

Lâm An:  tên cũ Hàng Châu tỉnh Triết Giang  thời Nam Tống trên sông Tiền Đường.

Thê Hà tên quả núí  dưới chân có mộ Nhạc Phi.

Nguyễn Du làm hai bài Tần Cối  tượng  và hai bài Vương Thị tượng.

 

Tần Cối Tượng bài I : Cây cối cạnh điện vua năm nào, nay đă bửa làm củi rồi, mà tên Cối lại đến dựa dẫm bên mộ Nhạc Vương; Nguyễn Du chơi chữ Cối trong điện cối, cây cối bên cạnh cung điện với tên Tần Cối. Đúng và sai là chuyện để ngàn năm định luận. Cái tượng Tần Cối, thân giả ấy, dù đánh chửi có biết đau đớn ǵ đâu ? Cứng cát như thế rơ là con người sắt. Cớ sao lại khúm núm thờ quân Kim. Ai bảo kẻ này không có công ǵ ở đời ? Muôn năm sau c̣n có thể làm cho bọn loạn thần phải lo sợ.

 

TƯỢNG TẦN CỐI I

Cây cối điện xưa thành củi rồi,

Nhạc Vương mộ đây Cối nương thời.

Đúng sai chuyện cũ ngh́n năm luận,

Đánh mắng giả thân công mất thôi.

Chơ vơ mặt sắt trơ trơ đó,

Luồn cúi quân Kim chẳng nhục lời.

Chớ bào kẻ này công chẳng có,

Gian thần vạn cổ làm gương soi.

Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nhất Uyên dịch thơ.

 

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

TẦN CỐI TƯỢNG I

Điện cối hà niên chùy tác tân;

Khước lai y bạng Nhạc Vương phần.

Thị phi tẫn thuộc thiên niên sự,

Đả mạ hà thương nhất giả thân.

Như thử tranh tranh chân thiết hán,

Nại hà mĩ mĩ sự Kim nhân ?

Thùy vân ư thế vô công liệt ?

Vạn cổ do năng cụ lạn thần.

Chú thích:

Tương truyền cuối Bắc Tống, bên điện Vua Huy Tông có cây cối sinh nấm ngọc, người ta cho đó là điền Tần Cối, được trọng dụng để làm mất nhà Tống . Tần Cối trước làm quan Bắc Tống được quân Kim bắt được rồi tha về Nam làm Tể Tướng Nam Tống.

 

Bài tượng Tần Cối II.  Gác Cách Thiên lầu ngọc đều đổ nát, nhưng tên gian phi vẫn c̣n đây. Suốt đời trái tim đen tối của nó vẫn chứa đầy nọc độc. Ngh́n năm cục sắt sống kia phải chịu nỗi oan lạ lùng. Trong ngục người trung thần khi sống phải đổ máu. Dưới thềm kẻ gian chết rồi mà vẫn hành tội. Nó cũng bất tử như bậc trung thần. Cái phúc lạ lùng tày trời của nó thật là vô lư quá.

 

TƯỢNG TẦN CỐI  II

Cách Thiên gác đổ ngọc lầu tàn,

Nhưng vẫn c̣n đây một kẻ gian.

Một kiếp tim đen đầy nọc độc,

Ngh́n năm thỏi sắt chịu hàm oan.

Trung thần trong ngục sống tuôn máu,

Gian tặc dưới thềm chết vẫn hành.

Gian xảo trung thần cùng bất tử,

Lạ lùng cái phúc thật vô công.

Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nhất Uyên dịch thơ.

 

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

TẦN CỐI TƯỢNG II

Cách thiên các hủy ngọc lâu tàn,

Do hữu ngoan b́ tại thử gian.

Nhất thể tử tâm hoài đại độc,

Thiên niên sinh thiết phụ kỳ oan.

Ngục trung dĩ tiễn sinh tiền huyết,

Giai hạ đồ tru tử hậu gian.

Đắc dữ trung thần đồng bất hủ,

Tề thiên kỳ phúc thái vô đoan.

Chú thích:

Cách Thiên các: Nhà gác của Tần Cối ở, có treo tấm biển đề bốn chữ Nhất đức cách thiên nên gọi là Cách Thiên các. Bốn chữ ấy tự tay vua Huy Tông nhà Tống viết tặng Tần Cối, nghĩa là vua tôi cùng có đức thuần nhất có thể cảm thông được trời.

 

Tượng vợ chồng Trần Cối

 

Bài Tượng Vương Thị I : Vương Thị là vợ tên gian thần Tần Cối đời Tống (960-1279). Lưỡi dài ba tấc của thị để làm ǵ ? Khéo cùng kẻ quyền gian kết làm vợ chồng. Ngày bắt được hổ là trừ được mối lo về sau. Th́ c̣n ai hỏi đến cái công sau này uống rượu mừng ở Hoàng Long. Tống bị Kim xâm lăng, Tần Cối chủ hoà, Nhạc Phi chủ chiến. Tần Cối giả lệnh vua bắt Nhạc Phi bỏ ngục, coi như bắt được hổ, nếu để sổng ra th́ có mối lo về sau, nên giết đi. Nhạc Phi cầm quân đánh Kim, có hẹn với tướng sĩ rằng: Thẳng đến Hoàng Long cùng các người uống rượu mừng. (Hoàng Long là kinh đô nước Kim phía Bắc Trung Quốc, nay ở tỉnh Liêu Đông). Một đời bụng dạ Vương Thị giống hệt như chồng, ngh́n năm h́nh hài thị làm nhục nữ giới. Việc đó nghĩ đến ba chữ: Mạc tư hữu (chẳng cần có) biết đâu là lời nói riêng của thị chốn khuê pḥng, chẳng ai biết được.

 

TƯỢNG VƯƠNG THỊ  I

Lưỡi dài ba tấc làm chi chăng ?

Cùng kẻ quyền gian kết vợ chồng.

Định chuyện lo sau giam Hổ lại,

C̣n chi công trước rượu Long mừng.

Một đời bụng dạ như chồng hệt.

Ngh́n thuở dung nhan nhục má hồng.

Nghĩ đến một câu: chả cần có,

 Biết đâu lời thị chốn khuê pḥng.

Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nhất Uyên dịch thơ

 

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

VƯƠNG THỊ TƯỢNG I

Thiệt trường ba xích cánh hà vi ?

Hảo dữ quyền gian bị xướng tùy.

Hậu hoạn chính ân cầm hổ nhật,

Tiền công an vấn ẩm long kỳ.

Nhất sinh tâm tícjh đồng phu tế.

Thiên cổ h́nh hài nhục nữ nhi.

Để sự tưởng lai “mạc tư hữu “

Khuê trung tư ngữ cách thùy tri.

 

Tượng Vương Thị bài II. Mưu mô sâu sắc hơn cả chồng, thị là hạng gà mái gáy sớm bậc nhất. Thị có cái lười dài ba tấc bất hủ, thân h́nh lại được đúc  bằng gan thép lưu truyền lại muôn đời. Trọn đạo xướng tùy chắc không có ǵ hối hận ? Thủ đoạn bằng nhau nên càng ăn ư với nhau. Chớ bảo đàn bà không có sức mạnh. Chính thị đă phá vỡ quân đội của Nhạc Phi.

 

 TƯỢNG VƯƠNG THỊ  II

Mưu mô sâu sắc cả hơn chồng,

“ Gà mái gáy sớm “ nhất tiếng danh,

Ba tấc lưỡi mềm trời phú thế,

Ngh́n năm thân rắn thép gan thành.

Xướng tùy trọn đạo ḷng cùng sướng,

Xảo quyệt tương thân dạ kết đồng.

Chớ bảo nữ nhi không sức mạnh

Phá quân Nhạc Vũ đến tan tành.

Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nhất Uyên dịch thơ

 

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

VƯƠNG THỊ TƯỢNG II

Thâm đồ mật toán thắng phu quân,

Ưng thị “thần kể đệ nhất nhân.

Bất lạn dĩ sinh tam thốn thiệt,

Thuần cương hoàn đắc vạn niên thân.

Xướng tùy tận đạo ưng vô hối.

Kỹ lưỡng đồng niên cánh khả thân.

Mạc đạo nữ nhi vô lực lượng,

Dă tằng hám phá Nhạc gia quân.

Chú thích:

Thần kê: do câu Tẫn kê tư thần: gà mái gáy sớm, chỉ người đàn bà lộng quyền.

Nhạc gia quân: quân họ Nhạc. Quân Kim rất sợ Nhạc Phi, thường bảo nhau: Chuyển núi th́ dễ, phá quân đội của Nhạc Phi th́ khó.

Nguyễn Du chờ đợi gặp lại Nguyễn Đại Lang tại Miếu Nhạc Phi, là nơi duy nhất Nguyễn Du làm 5 bài thơ, chứng tỏ thời gian chờ đợi khá lâu. Đối diện với Miếu Nhạc Phi phía nam Tây Hồ là chùa Hổ Pháo, nơi đây Từ Hải tức Minh Sơn Hoà Thượng từng tu hành. Từ miếu Nhạc Phi sang chùa Hổ Pháo có con đê Tư (Su) chạy thẳng, không phải đi ṿng quanh hồ, tương tự như vị thế Đền Trấn Vơ với chùa Trấn Quốc có con đê đường Cổ Ngư, Hồ Tây, Hà Nội.  Có lẽ duyên tiền định Nguyễn Du đă đến trú, tụng kinh Kim Cương  nơi này chăng ?  Từ Hải người Huy Châu (Hấp Huyện, An Huy ngày nay) Nguyễn Du đă lấy quê Việt Đông của Nguyễn Đại Lang để gán cho Từ Hải. Họ Từ trước tu, học tập vơ nghệ ở đây, rồi xuống núi trở thành một thủ lĩnh cướp biển triều nhà Minh, sau cấu kết với cướp biển Vương Trực thường dẫn “nụy khấu “ (cướp biển) đốt cướp các đất  duyên hải Giang, Triết. Năm Gia Tĩnh 35 (1556) v́ nghe lời dụ khéo của Tổng Đốc Hồ Tôn Hiến qua trung gian người vợ là nàng Kiều. Từ Hải bị  vây bắt nên nhảy xuống sông tự tử.

Hồ Tôn Hiến (? – 1556). Tổ tiên của Hồ Cẩm Đào. Là đại thần triều Minh (1368-1644). Tự là Nhữ Trinh, hiệu là Mai Lâm, người Tích Khê tỉnh An Huy. Đậu tiến sĩ thời Gia Tĩnh (Minh Thế Tông 1522-1566) được bổ làm tri huyện Ích Đô, tỉnh  Sơn Đông, sau đó Dư Diêu tỉnh Triết Giang. Rồi lên chức Ngự Sử, làm tuần án Tuyên Phủ tỉnh Hà Bắc, Đại Đồng tỉnh Sơn Tây. Năm Gia Tĩnh 33 (1554) ra án giữ Triết Giang. Thời hải tặc Vương Trực làm giặc, ông bày kế độc giết đến trăm người, rồi lại phối hợp với Trương Kinh phá cướp biển ở Vương Giang Kinh (Gia Hưng, Bắc Triết Giang) ông được thăng Hữu Thiêm Đô Ngự Sử. Có công dụ khéo giết được Vương Trực, Từ Hải, Trần Đông, Ma Diếp nên được thăng chức Binh Bộ Thượng Thư, sau bị phe Nghiêm Tung hạ ngục rồi giết chết. (Theo Trung Quốc Lịch Đại Danh Nhân Từ Điển. Đại Học Nam Kinh. Giang Tây 1982 tr 397-398)

 

 

Theo ông Nguyễn Văn Hoàn. Để có một bản Kiều tương đối đúng  với nguyên tác. Tập San Nghiên Cứu Văn Học số 2 năm 1961 , số 4 năm 1964 tr 47-57 và số 9 năm 1964 tr 104. Vương Thúy Kiều là một nhân vật có thật và được 18 tác phẩm viết đến gồm lịch sử, kim nhạc phủ, tiểu thuyết và hư kịch : Minh Sử : Liệt truyện Hồ Tôn Hiến. Minh sử kư sự bản mạt của Cốc Ứng Thái ; Minh đại đạt văn của Lâm Tuệ Như.  Lưỡng Hương Hoàn. Lưỡng Ca Kỹ. 3 bài Kim nhạc phủ. Trù Hải Đồ Biên do Mao Khôn xuất bản. Kiến chỉ Biên của Diêu Sĩ Lâm quyển hạ. Kỷ tiểu Từ Hải Bàn Mạt, trong Bạch Hoa Lâu Tàng Cảo của Mao Khôn. Lư Thúy Kiều Truyện của Đái Sĩ Lâm. Ảo ảnh hồi 7. Tuyết Nguyệt Mai hồi 47 của Trần Lăng. Vương Thúy Kiều Truyện của Dư Hoài. Hồ Thiếu Bảo b́nh nụy chiến công của Chu Tiếp. Thu Hổ Khưu của Vương Lung, Hổ Phách Thi của Diệp Trĩ Phỉ, Phù Nô Truyện, Song Thúy Viên của Hạ Bỉnh Hành  và Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Nhân.

Thanh Tâm Tài Nhân xuất hiện thời Khang Hy nhà Thanh (1662-1729); Tác giả này dựa vào chuyện Vương Thúy Kiều của người đi trước phát triển thành một pho tiểu thuyết gồm 20 hồi, viết văn bạch thoại, vận dụng hư cấu tự do thêm vào các nhân vật mới như Kim Trọng, Thúy Vân, Hoạn Thư, Thúc Sinh, Tú Bà, Mă Giám Sinh, Sở Khanh, Giác Duyên, Tam Hợp Đạo Cô, viết lại gia cảnh họ Vương Thúy Kiều, loại bỏ nhiều nhân vật lịch sử như Vương Trực. Tác phẩm không c̣n chuyện ghi công  kỳ nữ có công với triều đ́nh mà chuyển thành hồng nhan bạc mệnh muôn thuở. Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Nhân thuộc loại tiểu thuyết tài tử- giai nhân, thư sinh-kỹ nữ, vốn đă thành truyền thống từ thời Đường và đang phát triển mạnh thời Minh Thanh ; tác phẩm cũng mang nhiều nét khuôn sáo của thể loại này đương thời - một thể loại đang ở cao trào phát triển, do nó kết hợp nhu cầu buông thả t́nh cảm kiểu thị dân với việc ngợi ca, khẳng định lễ giáo phong kiến (Theo Lại Nguyên Ân –Bùi Trọng Cường. Tự Điển Văn Học Việt Nam quyển I ; nxb Giáo Dục Hà Nội, tr 475 ,477.)

Nguyễn Du đến Hàng Châu năm 1790 trong thời điểm Kim Vân Kiều truyện được khắc bản và in bán nơi đây. Tại Hàng Châu, Nguyễn Du đă tiếp xúc với nơi Từ Hải từng đi tu, biết được cuộc sống những nàng ca kỹ hồng nhan bạc mệnh trong các thanh lâu Hàng Châu và say sưa đọc Kim Vân Kiều Truyện, Nguyễn Du quyết chí diễn ca thành thơ Nôm, năm đó ông 24 tuổi.

Diễn Ca Kim Vân Kiều, Nguyễn Du không dịch từng câu văn xuôi thành thơ, mà nắm lấy ư chính, tùy hứng, tái sáng tạo thành một truyện thơ. Nhiều đoạn Nguyễn Du lượt bỏ như đoạn Kiều trả ân oán trừng phạt Tú Bà, Mă Giám Sinh, Hoạn Thư..., và thêm vào thay v́ chấm dứt nơi Kiều tự tử nơi sông Tiền Đường, Nguyễn Du, cho Kiều tái ngộ cùng gia đ́nh. Những đoạn văn xuôi nặng nề, thô thiển, Nguyễn Du đă tái sáng tạo thành một trường thiên âm điệu lục bát tài t́nh. Truyện Kiều không phải là một tác phẩm dịch. Từ một tác phẩm thường thường bậc trung, Nguyễn Du đă tái tạo thành một tuyệt phẩm trong kho tàng văn chương nhân loại và đặt một tên mới Đoạn Trường Tân Thanh. Không phải là cốt truyện Kim Vân Kiều, mà tài nghệ văn chương Nguyễn Du đă biến Truyện Kiều thành một tuyệt tác.


Bảo tàng Nguyễn Du ở Hà Tĩnh,

link : http://www.cuocsongviet.com.vn/index.asp?act=detail&mabv=606

 

PTC . Paris 2-2-2013

· Tiến sĩ Khoa Học Giáo Dục Viện Đại Học Paris V Sorbonne.

· Tác giả : Hồ Xuân Hương, nàng là ai ? Khuê Văn xb  Paris 2000. Nguyễn Du mười năm gió bụi . Khuê Văn Paris 2011. Truyện Thơ Odyssée qua 12110 câu thơ lục bát. Sử Thi Iliade qua 16933 câu thơ lục bát. Khuê Văn Paris 2009. Thơ T́nh Nhất Uyên (Huy Cận Xuân Diệu đề tựa) Khuê Văn. Paris 2006. Tự Điển T́nh yêu bằng thơ t́nh Xuân Diệu. Khuê Văn Paris 2011.

 


 

Kỳ tới : NGUYỄN DU GẶP ĐOÀN NGUYỄN TUẤN SỨ ĐOÀN TÂY SƠN 1790 TẠI HOÀNG CHÂU.

 


 

 

Mời đọc những bài viết khác của cùng tác giả :

 

 Nguyễn Du chia tay Nguyễn Đại Lang, Nguyễn Sĩ Hữu tại Liễu Châu 1788 - TS. Phạm Trọng Chánh

Nguyễn Du gọi cuộc đời từ 20 đến 30 tuổi của ḿnh là « 10 năm gió bụi » (1786-1796), gia phả và sách vở giáo khoa trăm năm qua  lại viết ...

 Nguyễn Du từ Thái Nguyên sang Vân Nam cuối năm 1787 - TS. Phạm Trọng Chánh

Bao nhiêu năm nghiên cứu về Nguyễn Du, chúng ta đă biết hết cuộc đời Nguyễn Du chưa ?  Nguyễn Du có quyển Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm .

 Dịch chương “Nhă Ca”, một dâm thơ trong Cựu ước - TS. Phạm Trọng Chánh

“Nhă Ca”  (CANTIQUES) là một tác phẩm văn chương cổ đại của dân tộc Do Thái, cách chúng ta khoảng 630 năm trước Tây lịch. Một áng văn chương trữ ...

Đọc Lưu Hương Kư của Hồ Xuân Hương - TS. Phạm Trọng Chánh

Giữa thời điểm các nhà sách hải ngoại thi nhau đóng cửa, người đọc tiếng Việt ngày càng thưa thớt, tác giả gửi sách đi cho các nhà sách, không

 Hồ Xuân Hương và quan Hiệp Trấn Sơn Nam Thượng Trần Ngọc Quán - Phạm Trọng Chánh

Trần Ngọc Quán quê Nghệ An, trước làm quan Cai Bạ doanh Quảng Đức (Chức vụ đứng đầu một doanh, tỉnh Thừa Thiên ngày sau). Tháng 2 năm Ất ..

Hồ Xuân Hương và Phật giáo - TS. Phạm Trọng Chánh

Điều nghịch lư trong thơ truyền khẩu gán cho Hồ Xuân Hương là Xuân Hương thường đi chùa, cuối đời có đi tu một thời gian, nhưng trong thơ lại ...

 

* Đối thoại: Sở tri chướng và kinh tế thị trường – Phạm Trọng Chánh, Ph.D., Paris, Pháp,  
                Link :
http://giaodiemonline.com/baiup/DTGH(3).htm