VÀI ĐIỀU MÊ TÍN : KHÔNG THỂ HIỂU NỔI

 

Trần Chung Ngọc

   

 

 

Một Bức H́nh Ô Nhục.

 

 

Đây ! Ngô Đ́nh Diệm

Nhân danh Tổng Thống miền Nam,

đại diện cho toàn dân quân miền Nam,

trong đó chỉ có 5-7% người Công Giáo,

lại phải cúi đầu hôn nhẫn trên bàn tay của Hồng y Grégoire-Pierre Agagianian

 

   Đức tin cần được xây dựng trên sự tín nhiệm và tin tưởng, sự trung thực của những hứa hẹn lương thiện và thẳng thắn, nếu không th́ đức tin đó có ích ǵ.  Nếu đức tin đặt căn bản trên những lời nói láo, dối trá, và những mánh khóe có tính toán, th́ nó trở thành không sao biện minh được và thực ra th́ đó có thể gọi là đức tin hay không?.  Ở b́nh minh của thế kỷ 21, nhiều người trong chúng ta không thể tự cho phép là ngu dốt hay mê tín và đức tin bị che mắt của chúng ta phải mở rộng cho những phê b́nh nghiên cứu đứng đắn.  Điều này đặc biệt đúng khi chúng ta biết rằng có sự tin mù quáng ở trong đó và cái hiểu của chúng ta đă bị kiểm soát bởi những người đă nhân danh tôn giáo, quyết định bảo vệ quyền lợi và vị thế gia trưởng trong xă hội của ḿnh.

   [Faith needs to be built on trust and confidence, the fidelity of promises given honestly and openly, otherwise there is no point in having it.  If faith is founded on lies, deceit and calculated manipulation, then it becomes impossible to justify and there even a question mark against whether it can reasonably be called faith…  At the dawn of the twenty-first century, many of us can no longer claim to be ignorant or superstitious and our blinkered faith becomes open to more serious criticism.  This is particularly true when we know that bigotry is involved and that our understanding has been controlled by men with vested interests, determined to safeguard their own patriarchal social position in the name of religion.]

(Michael Jordan trong cuốn Mary, Weidenfeld and Nicolson, London, 2001, trang 304)

 

    Đă 20 năm nay tôi nghiên cứu về tôn giáo và lịch sử, và có những điều tôi không thể nào hiểu nổi.  Tôi ước ǵ có được đầu óc của một con chiên với một “đức tin” không cần biết, không cần hiểu, chỉ cần tuân theo “đức vâng lời”, để cho những người chăn chiên dắt đi đâu th́ đi đó.  Như vậy đời sống đỡ phải suy nghĩ lo lắng, sống thoải mái hơn là luôn luôn cứ phải thắc mắc về những điều không hiểu nổi.  Nhưng Trời chẳng chiều người, cha mẹ sinh tôi ra làm một con người, không phải để làm súc vật, và lớn lên đầu óc tôi lại ngả về khoa học, và kết quả là tôi được đào tạo trong ngành khoa học Vật Lư, mà trong khoa học, những thắc mắc trí tuệ là điều không thể thiếu. Bởi v́, không thắc mắc th́ không thể khám phá ra được điều ǵ mới lạ.  Những thời đại như “thời đại lư trí” (The age of Reason), “thời đại khai sáng” (The age of Enlightenment), “thời đại phân tích” (The age of Analysis) v..v.. đều phát triển là do những thắc mắc của con người, và đă làm cho Âu Châu thoát ra khỏi thời đại hắc ám (The dark ages), cũng là thời đại của đức tin (The age of faith), kéo dài cả ngàn năm của Ca-Tô Rô-ma Giáo ở Âu Châu, đưa Âu Châu vào thời đại của sự man rợ và đen tối trí thức (The age of barbarous and intellectual darkness).  Những con chiên, con cừu v..v.., có lẽ v́ không có khả năng thắc mắc, nên cứ ngoan ngoăn theo những người chăn cừu, chăn dê đưa vào ḷ sát sinh, làm chúng tê liệt đầu óc và trở thành những món ăn ngon cho giới chăn chiên.  Thật là tội nghiệp, cũng là một kiếp sống.

   Việt Nam có khoảng từ 5-7% theo Ca-tô Rô-ma Giáo, cho nên khi nghiên cứu về Ki Tô Giáo tôi chú trọng nhiều đến tất cả những ǵ liên quan đến tôn giáo này. Nhưng càng đọc nhiều về Ca-tô Rô-ma Giáo, và dù tôi đă cố gắng suy nghĩ với tất cả khả năng suy lư và lô-gíc trong giới hạn hiểu biết của tôi, có một điều tôi vẫn không thể nào hiểu nổi. Đó là: “Người Việt Nam Theo Ca-Tô Rô-ma Giáo Là V́ Cái Ǵ?.

    Tôi đă đặt câu hỏi này nhiều lần cho mọi cấp tín đồ Ca-tô Rô-ma Giáo nhưng cho tới nay tôi thật sự thất vọng, tâm trạng giống như của một con chiên, cũng như nhiều đời cha ông khác, mong chờ Chúa trở lại trần để đưa ḿnh lên một thiên đường (mù) của Ki Tô Giáo nhưng Chúa vẫn biệt tăm.  Không thể nào hiểu nổi v́ đọc Thánh Kinh, tôi có 2 cuốn bằng tiếng Việt, 3 cuốn bằng tiếng Anh, và đọc hàng trăm cuốn sách mà các học giả Tây phương, ở trong cũng như ở ngoài Ki Tô Giáo, nghiên cứu về mọi khía cạnh của Ki Tô Giáo, về lịch sử Ca-tô Rô-ma Giáo, tôi không thấy có một lư do nào để người Việt Nam đi theo đạo Thiên Chúa.  Lẽ dĩ nhiên, ai muốn theo đạo nào th́ theo, ai muốn tin ǵ th́ tin, đây là quyền của con người, với điều kiện, cái ḿnh theo, ḿnh tin không làm phương hại đến ai khác, và nhất là v́ niềm tin đó mà phản bội dân tộc.  Có người lư luận rằng, tin là tin, như một Linh mục giải thích: “Đức tin là về sự huyền nhiệm, không phải về khoa học” [Faith deals with mystery, not science], nhưng nếu tất cả những bằng cớ chứng minh rằng, tin vào những cái không thể tin được th́ đó có thể gọi là “đức tin” không.  Ai cũng có quyền tin vào một chú Cuội ngồi bên tay phải gốc cây đa trên cung Hằng, nhưng trên thực tế làm ǵ có cung Hằng, làm ǵ có cây đa, và làm ǵ có chú Cuội.  Và trên thực tế th́ các tín đổ Ki Tô Giáo Việt Nam đang tin vào một Chú Cuội trên Cung Hằng.

   Bởi v́, người Việt Nam theo Ca-tô Rô-ma Giáo hay Tin Lành, v́ đầu óc yếu kém, bị mê hoặc bởi những lời truyền đạo dối trá, cho nên đều tin vào những thứ không thể tin được, những thứ mà chính Giáo hội đă bác bỏ, không c̣n tin, nhưng vẫn dạy tín đồ phải tin.  Họ đích thực là nạn nhân của sự bất lương trí thức và đạo đức giả của Giáo hội và các bề trên.  Đó là khiếm khuyết nhất trong đời họ: sự kém hiểu biết, v́ họ chẳng bao giờ chịu đọc Thánh Kinh, khoan nói đến chuyện đọc kỹ với một đầu óc không cần phải thông minh cho lắm.  Họ chẳng bao giờ biết đến sự tiến bộ trí thức của nhân loại về vấn đề tôn giáo, và cũng chẳng biết đến những thay đổi và diễn biến tư duy ngay trong chính giáo hội của họ.  Đây là điều không thể nói một cách vô trách nhiệm, v́ phạm tới niềm tin của một số không nhỏ đồng bào. Khi tôi nói như trên là tôi có đủ bằng chứng để nói như vậy, và tôi sẽ chứng minh trong phần sau.  Nhưng điều này không có nghĩa là tôi không tôn trọng niềm tin hay đức tin của bất cứ ai v́ như trên đă nói, ai cũng có quyền tin vào bất cứ cái ǵ mà ḿnh muốn tin, dù bị lừa dối để mà tin.  Nhưng vấn đề nghiên cứu tôn giáo trong lănh vực học thuật là vấn đề không thể thiếu trong thời đại ngày nay, và nhất là trong thế giới của những quốc gia tân tiến, v́ không có cái ǵ c̣n có thể coi là thiêng liêng, bất khả xâm phạm, đến độ có thể được miễn trừ trước những sự nghiên cứu và phê b́nh trí thức.  Và tôi sẵn sàng đón nhận những phê b́nh trí thức trên những chủ đề mà tôi nghiên cứu.

 

Hai Bức H́nh Thể Hiện Ḷng Tự Trọng Quốc Gia.

 

   Trước hết, bức ảnh Ngô Đ́nh Diệm cúi đầu hôn nhẫn Hồng y Grégoire-Pierre Agagianian khi ông ta đến Việt Nam nói rơ hơn ǵ hết tâm cảnh nô lệ, làm nhục quốc thể, bắt nguồn từ một niềm tin phi dân tộc, của Ngô Đ́nh Diệm, hành động của một con chiên mất dấu. Nhân danh là một con chiên của Giáo hội hoàn vũ, ông ta có quyền làm như vậy.  Nhưng nhân danh là một Tổng Thống của miền Nam, trong đó Công giáo chỉ là một thiểu thiểu số, nhiều nhất là 7% dân số, hành động của ông ta như trên không thích hợp trước quốc dân đồng bào, chỉ biểu lộ sự ngu xuẩn và cuồng tín tôn giáo của ông ta mà thôi.  Mặt khác, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng khi đến Vatican đă đứng thẳng người bắt tay Giáo hoàng và rồi đứng thẳng ngang hàng với Giáo hoàng, Giáo hoàng c̣n trên Hồng y một bậc.  Nếu gặp Giáo hoàng, không biết ông Diệm có phải quỳ xuống hôn giầy của Giáo hoàng, theo như truyền thống trước của Ca-tô Giáo.  Đó là sự khác biệt giữa con người Việt Nam và con chiên Việt Nam.  Và đây là một kinh nghiệm quư báu cho người dân Việt Nam, loại bỏ người Công giáo ra khỏi những chức quyền có tính cách đại diện cho dân chúng, khoan nói đến chuyện khi có cơ hội chọn lựa nguyên thủ quốc gia.

 


Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng
 Đứng thẳng người bắt tay Giáo hoàng 

Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng
Đứng ngang hàng với Giáo hoàng

          

   Vậy mà sắp đến ngày mà cách đây 48 năm, Ngô Đ́nh Diệm bị thảm sát giống như Gadhafi mới bị thảm sát gần đây, con chiên hải ngoại vẫn năng nổ tiếp tục tôn vinh, làm lễ tưởng niệm, ghi ơn một tên nô lệ Ṭa Thánh mà lịch sử đă ghi rơ thuộc ḍng họ “Tam Đại Việt Gian”.  Thật là không hiểu nổi.    

                                                       

Về các Niềm Tin Chính Của Người Ca-Tô .

   Vậy th́ người Ca-tô Rô-ma Giáo tin những ǵ và những điều đó có thể tin được không.  Phần phân tích sau đây hi vọng sẽ làm sáng tỏ vấn đề.  Và tôi hi vọng, nếu trong những lập luận của tôi có những điều ǵ sai trái, tôi sẽ được đón nhận những phê b́nh trí thức và tôi thành thực xin cám ơn những phê b́nh đó, nếu đúng.  Những luận điệu chỉ trích ngoài lề không thích hợp trong lănh vực học thuật.

   Trong cấu trúc của Giáo hội Ca-tô Rô-ma th́ v́ “đức vâng lời”, nghĩa là một “đức hạnh” (sic) hoàn toàn tuân phục bề trên bảo sao th́ nghe vậy, không được thắc mắc, do đó người Ca-tô tin nhiều thứ lắm.  Trước hết, Giáo hội bắt tín đồ phải tin tất cả những ǵ viết trong cái gọi là Kinh Tin Kính Của Các Tông Đồ.  Nguyên văn bản kinh như sau (Sách Giáo Lư Công Giáo, nxb Zieleks, Texas, 1991, trg. 14):

Tôi tin kính Đức Chúa Trời là Cha phép tắc vô cùng dựng nên trời đất.

Tôi tin kính Đức Chúa Giêsu KiTô là con một Đức Chúa Cha cũng là Chúa chúng tôi,

bởi phép Đức Chúa Thánh Thần mà Người xuống thai, sinh bởi bà Maria đồng trinh,

chịu nạn đời quan Phongxiô Philatô, chịu đóng đanh trên cây thánh giá, chết và táng xác,

xuống ngục tổ tông, ngày thứ ba bởi trong kẻ chết mà sống lại, lên trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha phép tắc vô cùng; ngày sau bởi trời lại xuống phán xét kẻ sống và kẻ chết.

Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần.

Tôi tin có Hội Thánh hằng có ở khắp thế này,

Các Thánh thông công.

Tôi tin phép tha tội.

Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại.

Tôi tin hằng sống vậy.  Amen.

 

   Từ Kinh Tin Kính trên, chúng ta có thể biết được những niềm tin chính của các tín đồ cộng với một số niềm tin khác mà Giáo hội bắt họ phải tin, không tin th́ bị vạ tuyệt thông và không được lên thiên đường:

-  Tin rằng có một vị thần của dân tộc Do Thái trong thời bán khai mà họ gọi là “Đức Chúa Trời” và vị thần này đă dựng nên trời đất.

-  Tin rằng có một người Do Thái mà họ gọi là Đức Chúa Giê-su Ki Tô, là con một Đức Chúa Trời, sản phẩm của sự xâm phạm tiết hạnh một người đàn bà Do Thái đă có chồng của một vật vô h́nh mà họ gọi là con Ma Thánh (Holy Ghost).

-  Tin rằng ông Chúa con này t́nh nguyện chịu đóng đanh trên cây thập giá để chuộc tội tổ tông cho thiên hạ, chết rồi lại sống lại và bay lên trời.  Ngày sau lại trở lại trần để phán xét kẻ sống người chết, quyết định ai tin ông ta th́ được sống lại và cho lên thiên đường, c̣n ai không tin th́ dù chết rồi cũng phải đầy xuống hỏa ngục để cho ngọn lửa vĩnh hằng của ông ta thiêu đốt.

-  Tin rằng, theo lời dạy của Giáo hội, Giáo hội Ca-tô là do Chúa con thành lập và trao quyền tiếp nối cho thánh Phê-rô và các giáo hoàng kế vị Phê-rô.

-  Tin rằng, theo lời dạy của Giáo hội, Giáo hoàng là những đại điện của Chúa Ki-tô trên trần (Vicars of Christ).

-  Tin rằng, theo lời dạy của Giáo hội, các linh mục đều là các “Chúa thứ hai” (Alter Christus), có quyền tha hay cầm giữ tội của các con chiên.

     Bây giờ chúng ta hăy xét từng niềm tin trên một để xem với sự hiểu biết của nhân loại ngày nay và của cả Giáo hội, những niềm tin đó c̣n bao nhiêu giá trị và có thể tin nổi không.

 

1. Tin rằng có một vị thần của dân tộc Do Thái trong thời bán khai mà họ gọi là “Đức Chúa Trời” và vị thần này đă dựng nên trời đất.

   Qua nhiều thế kỷ, Giáo hội dạy rằng, theo Cựu Ước, Gót của Ki Tô Giáo đă sáng tạo ra vũ trụ muôn loài trong 6 ngày có buổi sáng buổi tối và cách đây khoảng 6000 năm.  Nhưng khoa học đă có thể chứng minh là vũ trụ và muôn loài sinh ra từ một Big Bang, nghĩa là từ sự nổ lớn của một dị điểm vô cùng đặc và vô cùng nóng, và cách đây khoảng 13.7 tỷ năm. Ngày nay, Giáo hội Ca-tô, trước hàng núi những dữ kiện chứng minh thuyết Big Bang là đúng, nên không thể phủ nhận được nữa, nhưng vớt vát lại bằng những câu vô nghĩa để tiếp tục lừa bịp đám tín đồ ở dưới.  Tin từ Tổng Hành Dinh Ca-tô Rô-ma Giáo, Vatican, Thứ Năm, Jan 6, 2011,  cho biết:

     Giáo hoàng Benedict XVI nói: Gót (God) tạo ra Big Bang, không phải khoa học.

    Giáo hoàng Benedict nói, đầu óc, ư nghĩ  của Gót là ở đàng sau những lư thuyết khoa học phức tạp như là Big Bang, và các con chiên Ki Tô nên bác bỏ ư tưởng là vũ trụ h́nh thành một cách ngẫu nhiên.

    Vô nghĩa v́ Benedict XVI đă nói láo để lừa bịp dân ngu, tự cho là ḿnh biết đầu óc, ư nghĩ của Gót là như thế nào, trong khi theo sách National Catholic Almanac, 1968, trang 360, của Ca-tô Rô-ma Giáo, th́ chúng ta có một ông Gót (God) với 23 thuộc tính (23 attributes), trong đó có ba thuộc tính rất đặc biệt là vô h́nh (invisible), không thể mô tả được (ineffable), và không ai có thể hiểu được (incomprehensible).  Trước những thắc mắc về những vấn nạn của con người như bệnh tật, chết yểu, thiên tai v..v.. Giáo hội thường giải thích là Gót có những kế hoạch mà đầu óc con người không thể hiểu nổi.  Giáo hoàng John Paul II cũng giải thích những vấn nạn đó là do “kế hoạch kỳ diệu của Gót” (Wondrous plan of God). Cho nên, với ba thuộc tính đặc biệt trên th́ tất cả những ǵ Giáo hội nói về Gót chỉ là đoán ṃ, khoan nói đến chuyện hiểu được đầu óc, ư nghĩ của Gót, nếu thực sự có một Gót. Từ xưa tới nay không biết đă có bao nhiêu người tự cho là được Chúa mạc khải nhưng tất cả chỉ là lừa bịp đám dân ngu dốt v́ không ai có thể biết được những lời tự nhận đó có thực hay không.  Nhưng với kiến thức của nhân loại ngày nay th́ những điều lừa bịp về “mạc khải” đó chẳng có chút giá trị nào, chỉ có thể lừa dối được những kẻ ngu đần.  

    Mặt khác, Benedict XVI không hề có một chút kiến thức nào về khoa học nên mới nói bừa như vậy. V́ Big Bang chẳng qua chỉ là sự nổ bùng của một dị điểm (singularity) vô cùng nóng, vô cùng đặc, nguồn gốc của vũ trụ ngày nay, và cách đây đă khoảng 13.7 năm. Nóng bao nhiêu, và đặc như thế nào?  Các khoa học gia đă tính ra được là sau khi nổ khoảng một phần ngàn giây đồng hồ (1/1000 s) th́ nhiệt độ của Big Bang vào khoảng “một ngàn tỷ độ” (1012 độ) và tỉ trọng của khối cầu lửa khi đó vào khoảng 100000 tỷ gram (1014 g) cho 1 phân khối. Với một nhiệt độ như vậy và một sức nổ tạo thành vũ trụ với cả tỷ tỷ thiên hà như vậy th́ Gót nào sáng tạo ra Big Bang cũng phải thiêu hủy thành tro bụi ngay tức khắc, c̣n đâu để mà đi dạo trong vườn địa đàng nói chuyện với Adam, và sau này vật lộn với Jacob v…v… như được viết trong Cựu Ước.     

 

 

 

   Hơn nữa, chúng ta cũng biết rằng, năm 1981, thuyết Big Bang chưa được hoàn chỉnh, mà Giáo hoàng John Paul II cũng đă phải  công nhận thuyết Big Bang là đúng, ông ta chỉ vớt vát một câu là có tính cách mạ lỵ trí tuệ của con người: “Big Bang là thời điểm sáng tạo của Gót” (Big Bang is the moment of creation of God).  Vậy mà ngày nay cũng vẫn c̣n không thiếu ǵ tín đồ tiếp tục tin vào điều không thể tin nổi: Gót sáng tạo ra thế giới muôn loài. Thật là tội nghiệp.

 

2. Tin rằng có một người Do Thái mà họ gọi là Đức Chúa Giê-su Ki Tô, là con một của Đức Chúa Trời, sản phẩm của sự xâm phạm tiết hạnh một người đàn bà Do Thái đă có chồng của một vật vô h́nh có tên chính thức là con Ma Thánh (Holy Ghost).

   Trước hết, ngày nay chẳng c̣n có mấy người tin Giê-su là con “đức Chúa trời”, v́ chính “đức Chúa trời” đă bị loại bỏ qua sự công nhận của Giáo hội về thuyết Big Bang, vậy th́ làm ǵ có con một của “đức Chúa trời”.  Hơn nữa,  Russell Shorto, một học giả Ki Tô Giáo, đă tổng hợp những tác phẩm nghiên cứu về Giê-su, có thể là một con người Do thái lịch sử, trong ṿng 200 năm nay, và kết luận như sau trong cuốn Sự Thật Của Phúc Âm (Gospel Truth):

    Các học giả đă biết rơ sự thật từ nhiều thập niên nay – rằng Giê-su chẳng ǵ khác hơn là một người thường sống với một ảo tưởng  – họ đă dạy điều này cho nhiều thế hệ các linh mục và mục sưNhưng những vị này vẫn giữ kín không cho đám con chiên biết v́ sợ gây ra những phản ứng xúc động dữ dội trong đám tín đồ. Do đó, những người c̣n sống trong bóng tối là những tín đồ Ki Tô b́nh thường.

   [Scholars have known the truth – that Jesus was nothing more than a man with a vision – for decades; they have taught it to generations of priests and ministers, who do not pass it along to their flocks because they fear a backlash of anger.  So the only ones left in the dark are ordinary Christians.]

   Nhưng ảo tưởng của Giê-su là ảo tưởng như thế nào? Ngày nay giới học giả nghiên cứu Thánh Kinh đă biết rơ: Đó chính là Tâm Lư Bệnh Hoạn về Những Ảo Tưởng Hăo Huyền về Quyền Lực hay Toàn Năng [Megalomania =  A psycho-pathological condition in which fantasies of wealth, power or omnipotence predominate] và cái tâm lư bệnh hoạn này đă tạo thành tâm điểm mà mọi hành động của Giê-su đều xoay quanh. Chính cái ảo tưởng này đă khiến cho Giê-su tưởng ḿnh là“con duy nhất của đức Chúa trời”, “có nhiệm vụ cứu người Do Thái ra khỏi tội lỗi để làm ḥa với ông cha tưởng tượng của Giê-su v́ ngày tận thế đă gần kề”.  Đó là những ǵ Tân Ước đă viết rất rơ cho những ai đọc kỹ Tân Ước.  Nhưng về sau, để truyền bá, Ki Tô Giáo đă kéo dăn (stretch) những điều hoang tưởng của Giê-su ra thành “khả năng chuộc tội cho nhân loại”, “đấng cứu thế”, “sẽ trở lại trần phán xét thiên hạ””  v…v…, mà ngày nay đă trở nên những điều hoang đường nhảm nhí mà chính những bậc lănh đạo trong Ki Tô Giáo, Ca-tô cũng như Tin Lành, đều bác bỏ. [Xin đọc Giám mục John Shelby Spong, Linh mục James Kavanaugh, Mục sư Ernie Bringas, Nhà thần học Ca-tô Uta Ranke-Heinemann và nhiều học giả khác].

   Về chuyện con Ma Thánh làm cho cho mẹ Giê-su mang thai th́ chúng ta không biết một vật vô h́nh vô sắc th́ có tinh khí trong đó có những sắc tố (X,Y) hay không, nhưng một người lính La Mă tên là Panthera th́ chắc chắn có.

   Theo Reynolds Price, một học giả chuyên gia về Thánh Kinh (biblical scholar), viết về Giê-su ở Nazareth: Xưa và Nay (Jesus of Nazareth: Then and Now) trên tờ “Time” ngày 6 tháng 12, 1999, th́ thủ phạm làm cho bà Mary mang thai là một người lính La mă tên là Panthera.

Ngoài ra, Giám Mục John Shelby Spong, trong cuốn Sinh Ra Từ Một Người Đàn Bà: Một Giám Mục Nghĩ Lại Chuyện Giê-su Sinh Ra Đời (Born of a Woman: A Bishop Rethinks The Birth of Jesus, 1992) đă đưa ra nhận xét, trang 41:

    Ông ta (Giê-su) không là ai cả, một đứa trẻ ở Nazareth, chẳng có ǵ tốt đẹp có thể rút tỉa ra từ sự sinh ra đời này.  Chẳng có ai biết cha ông ta là aiRất có thể ông ta là một đứa con hoang.  Rải rác trong miền đất truyền thống Ki Tô lúc đầu (4 Phúc Âm), có những chi tiết chứng tỏ như vậy, giống như những trái ḿn chưa kiếm ra và chưa nổ .

   (John Shelby Spong, Born of a Woman: A Bishop Rethinks the Birth of Jesus, p. 41: He was a nobody, a child of Nazareth out of which nothing good was thought to come.  No one seemmed to know his father.  He might well have been illegitimate.  Hints of that are scattered like undetected and unexploded nuggets of dynamite in the landscape of the early Christian tradition.)

    Trước những kết quả nghiên cứu về Giê-su, và v́ Giê-su chỉ là một người Do Thái b́nh thường sống với một ảo tưởng, cho nên ông ta có những cá tính của một người thường, và không lạ ǵ khi chúng ta thấy vài nhận định điển h́nh về Chúa Giê-su của một số trí thức ở trong cũng như ở ngoài các Giáo hội Ki Tô Giáo.  Bertrand Russell, một thiên tài toán học và triết lư, đă được giải thưởng Nobel năm 1950, nói về trí tuệ và đức hạnh của giáo chủ Giê-su như sau:

    "Xét về trí tuệ hay đức hạnh, tôi không thể nào cho rằng Đức Ki-Tô (Giê-su) cũng cao cả như vài người khác được biết trong lịch sử.  Tôi nghĩ rằng, về trí tuệ hay đức hạnh, tôi phải đặt Đức Phật và Socrates lên trên Đức KiTô."

   [I cannot myself feel that either in the matter of wisdom or in the matter of virtue Christ stands as high as some other people known to history - I think I should put Buddha and Socrates above him in those respects.]

   Giám mục John Shelby Spong viết trong cuốn Hăy Cứu Cuốn Thánh Kinh Ra Khỏi Phái Bảo Thủ  (Rescuing The Bible From Fundamentalism), trang 21:

   “Có những đoạn trong 4 Phúc Âm mô tả Giê-su ở Nazareth như là một con người thiển cận, đầy hận thù, và ngay cả đạo đức giả.”

   [There are passages in the Gospels that portray Jesus of Nazareth as narrowed-minded, vindictive, and even hypocritical.]

    Và Jim Walker cũng viết trên Internet trong bài Chúng Ta Có Nên Kính Ngưỡng Giê-su Không? (Should We Admire Jesus?):

    Nhiều tín đồ Ki-Tô-giáo không hề biết đến là nhiều đoạn trong các Phúc Âm trong Tân Ước, Giê-su được mô tả như là một con người đầy hận thù, xấu xa, bất khoan dung, và đạo đức giả.

   [Unbeknownst to many Christians, many times the Gospels of the New Testament portray Jesus as vengeful, demeaning, intolerant, and hypocritical.]

   Lẽ dĩ nhiên, tuyệt đại đa số tín đồ Ki Tô không hề biết đến những kết quả nghiên cứu sâu rộng này và càng biết ít hơn về khoa học.  Theo khoa học th́ cặp sắc tố (Chromosome) quyết định truyền giống của đàn bà là 2 sắc tố X (X,X), và của đàn ông là 1 X và 1 Y (X,Y).  Trong quá tŕnh truyền giống, nếu sắc tố X của đàn ông kết hợp với sắc tố X của người đàn bà th́ đứa trẻ sinh ra sẽ là con gái.  C̣n nếu sắc tố Y của người đàn ông kết hợp với sắc tố X của người đàn bà th́ đứa trẻ sinh ra sẽ là con trai.  Do đó, một ḿnh Mary, nếu thực sự thụ thai mà không do giao hợp với đàn ông và không có tinh khí của đàn ông th́ không thể nào sinh ra con trai được.  Giáo sư Thần Học Ca-Tô Uta Ranke-Heinemann cũng viết như sau:

    Chúng ta phải xét đến điều sau đây: Trong trường hợp một trinh nữ thụ thai th́ tế bào đầu tiên của cơ thể  Giê-su phải là một tế bào của phái nữ.  Và nếu bằng một phép lạ nào đó mà cái tế bào này phân chia ra mà không cần đến sự tham dự của người đàn ông, và tiếp tục phân chia để h́nh thành một con người, th́ cái sự thụ thai đồng trinh này, khi sinh đứa bé ra, bắt buộc phải là một đứa bé gái.

   (Uta Ranke-Heinemann, Putting Away Childish Things, p. 43: We have to consider the following: In the case of a virginal conception the first cell in Jesus' organism would have to be a female cell.  And if this female cell miraculously were to begin to divide without the intervention of a man, so that a human being came into existence through furthert cellular division, then such a virginal pregnancy must inevitably issue in the birth of a female person).]GS Uta Ranke-Heineman, trước chân dung của vị thân sinh, nguyên Tổng thống CHLB Đức Gustave Heineman , link:http://en.wikipedia.org/wiki/Uta_Ranke-Heinemann

  

   Nhưng giả thử chúng ta tin vào phép lạ là con Ma Thánh có thể làm cho bà Mary mang thai và đẻ ra Giê-su.  Như vậy th́ con Ma Thánh vừa là cha, vừa là chồng, và vừa là con của Mary.  Đây là điều mà sách “Giáo Lư Công Giáo” của Hoài Chiên và Nguyễn Khắc Xuyên cho là “mầu nhiệm cao cả nhất” của “đức tin Ca-tô giáo”..  Mầu nhiệm cao cả này là chuyện con Ma Thánh làm cho bà Mary mang thai viết trong Tân Ước, phối hợp với thuyết “Ba Ngôi Chỉ Là Một Chúa” trong sách “Giáo Lư Công Giáo”.  Vậy chúng ta có thể tin nổi một chuyện hoang đường quái gở như trên không.  Vậy mà ngày nay vẫn c̣n rất nhiều người tin vào một người Do Thái b́nh thường, sinh ra bởi một người đàn bà mà không ai biết cha là ai, một con người thiển cận, đầy hận thù, xấu xa, bất khoan dung, và đạo đức giả, là Chúa cứu thế của họ, và mẹ của ông ta, sau đó sinh thêm 6 đứa con nữa mà vẫn c̣n đồng trinh.  Thật là tội nghiệp.

 

3.      Tin rằng Chúa Giê-su t́nh nguyện chịu đóng đanh trên cây thập giá để chuộc tội tổ tông cho thiên hạ, chết rồi lại sống lại và bay lên trời.  Ngày sau lại trở lại trần để phán xét kẻ sống người chết, quyết định ai tin ông ta th́ được sống lại, bất kể là đă chết được bao lâu và chết như thế nào, chết trên giường bệnh hay chết tan xác ngoài mặt trận,  và cho lên thiên đường, c̣n ai không tin th́ dù chết rồi cũng phải lôi giậy đầy xuống hỏa ngục để cho ngọn lửa vĩnh hằng của Chúa thiêu đốt. [Kinh Tin Kính: Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại. Tôi tin hằng sống vậy. Amen]

    Đây chính là vai tṛ “Chúa Cứu Thế” kèm theo vai tṛ “cứu rỗi” mà Giáo hội đưa ra để mê hoặc người dân ngu dốt khi xưa, và tiếp tục nuôi dưỡng vai tṛ này cho đến ngày nay trong những đầu óc của những con người đă bị thuần hóa thành con chiên..  Nhưng trong Ki Tô Giáo, không phải tất cả các tín đồ đều cam phận con chiên với đầu óc của con chiên, nên đă có rất nhiều người, cả triệu người, đă lấy lại tư cách của con người.  V́ vậy chúng ta mới có vô số những tác phẩm của các bậc lănh đạo và các học giả trong Ki Tô Giáo, vạch ra cho chúng ta biết trong Ki Tô Giáo có những điều không thể tin nổi, bất kể là Giáo hội đă cố hết sức che dấu, đồng thời đẩy mạnh “đức vâng lời”, đưa ra một cái bánh vẽ trên trời để bắt tín đồ phải tin những điều mà chính Giáo hội đă không c̣n tin.  Tại sao?  Quyền lợi thế tục, ngự trị trên đám người thấp kém là những ǵ Giáo hội đă hưởng gần 2000 năm nay, với tài sản lên đến cả ngàn tỷ đô-la, là những ǵ rất khó dứt bỏ đối với truyền thống của những kẻ buôn thần bán thánh.

   Nhưng thử hỏi, những niềm tin như trên, trước những kết quả nghiên cứu về Giê-su của các học giả và một số bậc lănh đạo trong Ki Tô Giáo như trong phần trên, ngày nay c̣n lại bao nhiêu giá trị, và những người c̣n tiếp tục tin vào những điều này thuộc hạng người nào.  Chẳng cần phải nói chúng ta cũng biết họ thuộc lớp người thấp kém, mê tín, cha truyền con nối trong những ốc đảo ngu dốt (Lm Trần Tam Tĩnh), không hiểu biết, hoặc nhắm mắt trước sự thật v́ không đủ can đảm hoặc lương thiện trí thức để dứt bỏ những điều đă không c̣n giá trị.  Thật vậy:

   Như trên đă nói, Giáo hội đă chính thức công nhận trước thế giới thuyết Big Bang, nguồn gốc của vũ trụ và muôn loài.  Nhưng không phải chỉ có vậy.   Năm 1996, giáo hoàng  John Paul II đă đặt chắc thẩm quyền giáo lư của Ca-Tô giáo sau quan điểm là “thân xác con người có thể không phải là một sự sáng tạo tức thời của Gót, mà là kết quả của một quá tŕnh tiến hóa dần dần”.  Ngài nói: “những kiến thức mới nhất dẫn đến việc phải chấp nhận thuyết tiến hóa hơn là một giả thuyết”. (Pope John Paul II has put the teaching authority of the Roman Catholic Church firmly behind the view that “the human body may not have been the immediate creation of God, but is the product of a gradual process of evolution.. The pope said that “fresh knowledge leads to recognition of the theory of evolution as more than just a hypothesis”).  Rồi tới tháng 7 năm 1999, trước những khám phá xác tín nhất của khoa vũ trụ học, và trước những hiểu biết của con người ngày nay về cấu trúc của trái đất, và sự di chuyển của trái đất trong không gian, Giáo Hoàng đă bắt buộc phải tuyên bố: "thiên đường không phải là một nơi trừu tượng mà cũng chẳng phải là một nơi cụ thể ở trên các tầng mây” (Heaven is neither an abstraction nor a physical place in the clouds), và “Hỏa ngục không phải là sự trừng phạt áp đặt từ bên ngoài bởi Thượng đế, mà là trạng thái hậu quả của những thái độ và hành động mà con người đă làm trong đời này” (Hell is not a punishment imposed externally by God, but the condition resulting from attitudes and actions which people adopt in this life). 

   Như vậy, rơ ràng là khi công nhận thuyết Big Bang th́ Giáo hội cũng đă công nhận là thuyết Sáng Tạo trong Cựu Ước chỉ là một huyền thoại cổ xưa của dân Do Thái, không có một giá trị nào đối với những dân tộc khác, lẽ dĩ nhiên là chẳng có giá trị ǵ đối với dân Việt Nam.  Và chấp nhận thuyết tiến hóa, chấp nhận con người không phải là do Gót tạo ra tức thời mà chính là kết quả của một quá tŕnh tiến hóa dần dần và lâu dài, giáo hoàng đă phá tan huyền thoại về Adam và Eve là tổ tông loài người do Gót của Ki Tô Giáo tạo dựng từ đất sét, và kéo theo không làm ǵ có chuyện Adam và Eve sa ngă tạo thành tội tổ tông.

    Do đó, vai tṛ “chuộc tội” và “cứu rỗi” của Giê-su chỉ là những luận điệu thần học lừa dối của giới giáo sĩ Ki Tô Giáo khi xưa, được tiếp tục đưa ra không ngoài mục đích khai thác ḷng mê tín của một số người đầu óc yếu kém, huyễn hoặc và khuyến dụ họ tin vào những điều không thực.  Và như vậy là Kinh Tin Kính của Ki Tô Giáo Giáo chỉ là một sản phẩm thần học chứa đựng những niềm tin không thể tin nổi mà ngày nay chính Giáo hội đă bác bỏ nhưng vẫn duy tŕ trong đám con chiên ngu dốt. Đó là sự vô đạo đức tôn giáo và bất lương trí thức của Giáo hội Ca-tô. 

    Cũng v́ nhận rơ được tính chất hoang đường và lỗi thời của cái gọi là “tội tổ tông”, của vai tṛ "chuộc tội" và "cứu rỗi" của Giê-su, mà trong cuốn Tại Sao Ki Tô Giáo Phải Thay Đổi Không Th́ Chết, Giám mục John Shelby Spong đă dành riêng chương 6 để viết về đề tài Giê-su Như Là Đấng Cứu Thế: Một H́nh Ảnh Cần Phải Dẹp Bỏ (Jesus as Rescuer: An Image That Has To Go).  Trong chương này, Giám Mục Spong viết như sau: http://sachhiem.net/TCN/TCNtg/TCN37.php

    "Nhân loại chúng ta không sống trong tội lỗi.  Chúng ta không sinh ra trong tội lỗi.  Chúng ta không cần phải rửa sạch cái t́ vết tội tổ tông trong lễ rửa tội.  Chúng ta không phải là những tạo vật sa ngă, mất đi sự cứu rỗi nếu chúng ta không rửa tội.  Do đó, một đấng cứu thế có nhiệm vụ khôi phục t́nh trạng tiền sa ngă của chúng ta chỉ là một sự mê tín trước thời -Darwin và một sự vô nghĩa sau thời -Darwin."

   [John Shelby Spong, Why Christianity Must Change or Die,  pp. 98-99: We human beings do not live in sin.  We are not born in sin.  We do not need to have the stain of our original sin washed away in baptism.  We are not fallen creatures who will lose salvation if we are not baptized... A savior who restores us to our prefallen status is therefore pre-Darwinian superstition and post-Darwinian nonsense.]

   Và nhận định: Không có bất cứ một h́nh ảnh nào dùng để giải thích về nhân vật Giê-su đáng được tồn tại. H́nh ảnh hiển nhiên nhất để loại bỏ trong đầu óc tôi có lẽ cũng là cái h́nh ảnh cổ xưa nhất về mọi diễn giải về Giê-su. Đó là cái h́nh ảnh của Giê-su như là “đấng thần linh cứu thế” (the divine rescuer).”. 

   Và Linh mục James Kavanaugh, trong cuốn Sự Sinh Ra Của Thiên Chúa (The Birth of God) đă viết về “Huyền Thoại Cứu Rỗi”, xin đọc: http://sachhiem.net/TCN/TCNtg/TCN36.php :

   Nhưng đối với con người hiện đại. chuyện hi sinh của Giê-su chẳng có ư nghĩa ǵ mấy, trừ khi hắn đă bị reo rắc sự sợ hăi và bị tẩy năo từ khi mới sinh ra đời  (But to modern man, it makes far less sense unless he has been suitably frightened and brainwashed from birth). Đối với tôi (Linh mục James Kavanaugh), đó là một huyền thoại “cứu rỗi” của thời bán khai, miêu tả một người cha giận dữ [Thiên Chúa], chỉ nguôi được cơn giận bằng cái chết đầy máu me của chính con ḿnh. Đó là một chuyện độc ác không thể tưởng tượng được của thời bán khai  (It is a primitive tale of unbelievable cruelty).

    Nhưng tại sao các tín đồ Ki Tô Giáo vẫn c̣n tin vào những điều không thể tin nổi.  Đó là v́    tuyệt đại đa số tín đồ Ki-Tô không hề biết đến những thú nhận của Giáo hội như trên, không hề biết đến những công cuộc nghiên cứu về Ki Tô Giáo của chính những bậc lănh đạo trong Ki Tô Giáo, và v́ họ vẫn bị giam chặt trong những ốc đảo với sách lược “ngu dân dễ trị” của giáo hội: duy tŕ và khai thác tối đa sự mê tín và giữ cho tín đồ “càng biết ít càng tốt”.  Như vậy có phải họ thật là tội nghiệp và đáng thương không?  Giá trị đạo đức và tâm linh của Ki Tô Giáo đă phá sản (Xin đọc Eliezer Berkovits: The moral and spiritual bankrupcy of Christianity), bởi v́ lịch sử đă chứng tỏ vấn đề đạo đức của Ki Tô Giáo là như vậy, và thời buổi này, giá trị tâm linh đặt vào những điều mê tín hoang đường lừa dối của Ki Tô Giáo không c̣n hấp dẫn, ngay cả đối với những người có tŕnh độ hiểu biết thông thường.  Đă 2000 năm nay, người theo Ki Tô Giáo thật là kiên nhẫn, từ thế hệ này sang thế hệ khác, vẫn kiên nhẫn chờ đợi ngày Giê-su trở lại trần để phán xét người sống và kẻ chết, hiện nay là 7 tỷ người sống, chưa kể là không biết bao nhiêu người đă chết trong mấy trăm ngàn hay cả triệu năm qua, nhưng Giê-su vẫn biệt tăm tông tích, thật là tội nghiệp.

 

4.      Tin rằng, theo lời dạy của Giáo hội, Giáo hội Ca-tô là do Chúa con thành lập và trao quyền tiếp nối cho thánh Phê-rô và các giáo hoàng kế vị Phê-rô.

    Chúng ta đều biết, các tín đồ Ca-tô được dạy kỹ rằng, và phải tin rằng, Giáo hội Ca-Tô Rô-ma là một giáo hội do chính Chúa Giê-su thành lập, do đó có đủ các thuộc tính như “thánh thiện”, “duy nhất”, “tông truyền”,  là “ánh sáng của nhân loại”, quán quân về “công bằng và bác ái”, được “thánh linh hướng dẫn” v…v… Hăy bỏ qua chuyện chẳng có giáo hội nào do Chúa thành lập, như một số nhà thần học nổi tiếng của Ca-Tô Giáo Rô-ma đă khẳng định, dựa trên những đoạn trích dẫn ở trên từ Tân Ước: Giê-su thành lập giáo hội và trao chức vụ giáo hoàng chăn dắt tín đồ cho Phê-rô để làm ǵ khi mà ông ta tin rằng ngày tận thế gần kề, ngay trong thời của ông, khi một số môn đồ của ông c̣n sống? 

   Sự thật là, ngày nay các học giả nghiên cứu Thánh Kinh đều cho rằng giáo điều Chúa Giê-su thành lập giáo hội, Phê-rô làm giáo hoàng đầu tiên, và các giáo hoàng tiếp theo đều là kế vị của Phê-rô  v..v.. như trên chỉ là những luận điệu thần học ngụy tạo của Giáo hội, và Giáo Hoàng cũng như các “bề trên” trong Giáo hội đă dùng nó để nhốt các tín đồ, vốn không bao giờ đọc Thánh Kinh, vào một ngục tù tâm linh, v́ cái bánh vẽ trên nước trời nên các tín đồ phải tin tất cả những ǵ giáo hội nói và được dạy phải tuyệt đối tuân phục các “bề trên” của họ theo cái mà Giáo hội đề cao là “đức vâng lời”,  nghĩa là nhắm mắt mà tin và làm theo tất cả những ǵ các “bề trên” dạy hay bảo.  Hăy “quên ḿnh trong vâng phục”, đó là lời dạy căn bản trong Ca-Tô Rô-ma Giáo, và điều ngụy tạo trên đă tạo thành cấu trúc quyền lực của giáo hội.   Gần đây, trong bức thư gửi các tín đồ Ca-Tô ở Trung Quốc, Giáo Hoàng Benedict XVI cũng khẳng định vai tṛ này như một cách bất lương trí thức như sau: Tôi, trong tư cách Người Kế Vị Thánh Phêrô và là Mục Tử toàn thể Hội Thánh”.  Nhưng sự thật có phải như vậy không?  Và thế nào là một “Hội Thánh”?

   Chúng ta hăy đọc đoạn sau đây của Tiến sĩ Loraine Boettner trong cuốn “Roman Catholicism”, trang 27:

  Giáo hội Ca-Tô Rô-ma tự khoác lên ḿnh từ “thánh”, nhưng thật ra qua các thời đại và trong quyền lực của giáo hội Rô-ma, sự kiện là giáo hội đă phạm phải những tội ác khủng khiếp nhất, thực hành nhân danh tôn giáo, gồm có giết người, cướp bóc, bạo hành đủ mọi h́nh thức, hối lộ, gian xảo, lừa dối, và hầu hết mọi tội ác mà con người biết đến.  Những tội ác như vậy không phải là chỉ do những giáo dân của giáo hội gây ra, mà là do các giáo hoàng, hồng y, giám mục, và linh mục, mà như sự nghiên cứu về lịch sử của giáo hội sẽ chứng tỏ, không c̣n chối căi ǵ được nữa, họ đều là những kẻ ác.

  John Calvin đă từng gọi giáo hội Rô-ma là con điếm điên dại thay v́ là hiền thê của Chúa, v́ mức tiêu chuẩn đạo đức quá thấp mà các linh mục của giáo hội hành xử và dung dưỡng. 

   [Loraine Boettner, Roman Catholicism, p. 27:  The Roman Catholic Church applies to herself the term “holy”, but the fact is that through the ages and in he official capacity the Roman Church has been guilty of the most atrocious crimes, practiced in the name of religion, including murder, robbery, persecution of all kinds, bribery, fraud, deception, and practically every other crime known to man.  Such crimes have been practiced not merely by church members, but by popes, cardinals, bishops, and priests who, as a study of church history will show, undeniably were evil men…

  John Calvin called the church of Rome in his day a foul harlot rather than the spouse of Christ, because of the low moral standard practiced and tolerated by her priests.]

     Chúa nào thành lập một “hội thánh” như vậy?  Đối với các học giả nghiên cứu Thánh Kinh và đối với giới trí thức ở trong cũng như ở ngoài giáo hội th́ Giáo hội bịa đặt ra điều Chúa thành lập Giáo hội với mục đích  thiết lập quyền lực tinh thần cũng như quyền lợi vật chất của giới lănh đạo Ca-Tô trước đám đông tín đồ thấp kém ở dưới.  Nghiên cứu kỹ Thánh Kinh, các chuyên gia đă vạch ra rằng sự thành lập này hoàn toàn mâu thuẫn với nhiều đoạn trong Thánh Kinh, với tư tưởng của Giê-su, và nhất là không thích hợp với tư cách của tên đánh cá ngu dốt Phê-rô, người mà Chúa đă có lần gọi là Satan.  Chứng minh?

Đọc Tân Ước chúng ta thấy rơ Giê-su khẳng định là ông ta sẽ trở lại trần gian trong một tương lai rất gần, ngay trong thời điểm của Giê-su.  Thí dụ những đoạn sau đây đều được trích từ cuốn Thánh Kinh: Cựu Ước Và Tân Ước, Hội Quốc Tế xuất bản, 1994; và Holy Bible: The New King James Version, American Bible Society, New York, 1982:

 Matthew 16: 27-28:  “Ta (Con của Người: Giê-su) sẽ trở lại với các thiên sứ trong vinh quang của Cha ta để thưởng phạt mỗi người tùy theo việc họ làm.  Ta cho các con biết: một vài người đang đứng đây sẽ c̣n sống cho đến khi nh́n thấy ta vào trong Nước ta”. (For the Son of Man will come in the glory of His Father with His angels, and then He will reward each according to his works. Assuredly, I say to you, there are some standing here who shall not taste death till they see the Son of Man coming in his kingdom.)

Matthew 24:34: “Ta quả quyết, thời đại này chưa chấm dứt, các biến cố ấy đă xảy ra rồi” (Assuredly, I say to you, this generation will by no means pass away till all these things are fulfilled)

Mark 9: 1: Chúa bảo các môn đệ: “Ta cho các con biết, một vài người đang đứng đây sẽ c̣n sống cho đến khi nh́n thấy nước trời thiết lập với uy quyền vĩ đại”  (And He said to them, “Assuredly, I say to you that there are some standing here who will not taste death till they see the kingdom of God present with power.”)

 Mark 13:30:  “Ta quả quyết, thế hệ này chưa qua đi th́ các biến cố đó (các biến cố xung quanh ngày tận thế và trở lại của Giê-su. TCN) đă xảy ra rồi”. (Assuredly, I say to you, this generation will by no means pass away till all these things take place.)

Luke 21: 27, 32: “Bấy giờ nhân loại sẽ thấy ta giáng xuống trong mây trời với vinh quang và uy quyền tuyệt đối.. Ta quả quyết: thế hệ này chưa qua, các biến cố ấy đă xảy ra rồi”. (Then they will see  the Son of Man coming in a cloud with power and great glory.. Assuredly, I say to you, this generation will by no means pass away till all these things are fulfilled.)

John 14: 3: “Ta đi chuẩn bị chỗ ở cho các con.  Khi chuẩn bị xong, ta sẽ trở lại đón các con về với ta để các con ở cùng ta măi măi.” (And if I go and prepare a place for you, I will come again and receive you to myself; that where I am, there you may be also).

 

     Vậy, Giê-su thành lập Giáo hội để làm ǵ nhất là chúng ta biết Ca-tô Rô-ma Giáo mới thực sự  thành h́nh dưới thời Constantine trong thế kỷ 4.  Trước đó th́ Ki Tô Giáo chỉ là một số hệ phái nhỏ.  Và sự kiện mà không ai có thể chối căi là Giê-su đă chết cả 2000 năm nay rồi và từ đó đến nay vẫn biệt tích biệt tăm, không hề trở lại trần một lần nào, dù chỉ trong giây phút để cho bàn dân thiên hạ thấy rơ là ông ta đă sống lại, như lời Giáo hội đă dạy các tín đồ.  Vậy thắc mắc của tôi là: Bây giờ ông ấy ở đâu?  Câu trả lời là, không biết ở đâu nhưng chắc chắn chỉ c̣n là một xác chết ở trong ḷng đất đâu đó chứ không thể ở trên trời. Nhưng vấn đề chính là ông ta đă nói láo, lừa bịp những người Do Thái tin ông ấy, hứa hẹn láo là sẽ trở lại trần. Tại sao ông ấy không thực hiện bất cứ một lời nào mà ông ấy đă khẳng định và hứa hẹn như được viết rơ ở trên trong Tân Ước.  Vậy chúng ta có thể tin nổi những ǵ Giáo hội dạy không. 

   Giả sử chúng ta cứ theo “đức vâng lời” của Ca-tô Rô-ma Giáo, nhắm mắt tin bừa điều giáo hội dạy Giáo hội do Chúa thành lập, nhưng ai là người có thể trả lời cho thắc mắc như sau:

     Tại sao một giáo hội mà Ca-tô Rô-ma Giáo tự nhận là do chính Chúa thành lập, thường tự xưng là "thánh thiện", là "ánh sáng của nhân loại", là quán quân về "công bằng và bác ái", luôn luôn được "thánh linh hướng dẫn" v...v... lại có thể có một lịch sử tàn bạo đẫm máu và vô đạo đức như lịch sử đă viết rơ về những cuộc thập tự chinh gọi là “thánh chiến”, những ṭa h́nh án xử dị giáo, những cuộc săn lùng phù thủy, mang về tra tấn với những h́nh cụ khủng khiếp nhất rồi mang đi thiêu sống, làm cho cả trăm triệu người gồm già, trẻ lớn bé các phái nam nữ vô tội chết v́ sự cuồng tín của Ca-tô Rô-ma Giáo? Tại sao trong giáo hội Ca-tô lại có những triều đại dâm loạn loạn luân, giết người của một số không ít Giáo hoàng, tự nhận là đại diện của Chúa trên trần? Tại sao Giáo hội do Chúa thành lập lại biến thành một  định chế độc tài buôn thần bán thánh?  Tại sao Vatican lại dính líu đến những vụ rửa tiền, buôn bán ma túy, vũ khí và liên hệ với tổ chức Mafia?

   Tại sao  Giáo hội lại liên kết của với các chế độ thực dân để đi truyền đạo ở các nước nghèo yếu? Tại sao đạo đức của giới chăn chiên lại suy sụp, điển h́nh là các vụ đồi bại như Linh mục alias “Chúa thứ hai” cưỡng bức t́nh dục một số nữ tu trong 27 quốc gia trên thế giới, rồi cưỡng bức một số đi phá thai? Tại sao một số không nhỏ Linh mục trên thế giới mà nguyên trong nước Mỹ, đă có hơn 5000 “Chúa thứ hai” cưỡng bức t́nh dục trẻ em và nữ tín đồ, đến độ Giáo hội phải bỏ ra trên 2 tỷ đô-la để bồi thường cho các nạn nhân t́nh dục của các Linh mục loạn dâm và ấu dâm? Tại sao cho tới ngày nay mà những người Ca-tô Việt Nam ngu ngơ vẫn luôn luôn mở miệng ra là ca tụng Ca-tô Rô-ma Giáo là một “hội thánh” và lên án vô thần, làm như vô thần đồng nghĩa với vô đạo đức, vô tôn giáo, trong khi, xét theo lịch sử,  chính cái tôn giáo của họ, Ca-tô Rô-ma Giáo,  là vô đạo đức và vô tôn giáo vào bậc nhất thiên hạ,  trong khi các đạo khác, thí dụ như đạo Phật, thường bị khoác lên ḿnh cái nhăn hiệu vô thần, lại không hề làm đổ một giọt máu hoặc gây nên bất cứ một phương hại nào cho con người trong quá tŕnh truyền bá trải dài hơn 2500 năm, từ trước Ki Tô Giáo hơn 500 năm

   Tôi cũng đă đặt câu hỏi này nhiều lần cho tín đồ các cấp của Ca-tô Rô-ma Giáo nhưng vẫn chỉ nhận được sự yên lặng là vàng.  Vậy làm sao mà tin nổi Giáo hội là do chính Chúa thành lập và các giáo hoàng đều là người kế vị Phê-rô, là “đại diện của Chúa” (Vicars of Christ), như Giáo hội dạy tín đồ.  Vậy thế nào là “đại diện của Chúa trên trần”, thế nào là “Chúa thứ hai” và các đại diện đó, Chúa thứ hai đó đă thay Chúa làm những việc ǵ.  Phần sau đây sẽ làm sáng tỏ vấn đề.  Nhưng tại sao các con chiên vẫn c̣n tin là Giáo hội Ca-tô là do Chúa thành lập?  Thật là tội nghiệp.

 

5.      Tin rằng, theo lời dạy của Giáo hội, Giáo hoàng là những đại điện của Chúa Ki-tô trên trần (Vicars of Christ).

Trên diễn đàn tiengnoigiaodan.net, trong bài Cơ chế tổ chức, quyền bính và trách nhiệm của hàng giáo phẩm (Hierachy) trong Giáo Hội Công Giáo, Linh mục Ngô Tôn Huấn viết như sau:

Theo giáo luật, th́ hệ thống cai trị, quyền bính và trách nhiệm trong Giáo hội được tổ chức và phân chia như sau:

Ở thượng từng cơ chế này th́ Đức Giáo Hoàng là thủ lănh với quyền bính và trách nhiệm mà Chúa Ki Tô đă trao trước hết cho Thánh Phê-rô, Tông Đồ Trưởng, và các vị nối ngôi kế tục (x. Mi 16:19; Ga 20: 15-16).  Giáo hội Công giáo nh́n nhận và tuân phục Đức Giáo Hoàng La Mă là vị đại diện (Vicar) duy nhất của Chúa Ki Tô trên trần thế và là người kế vị Thánh Phê-rô trong nhiệm vụ chăn dắt toàn thể Giáo hội.

Chúng ta thấy rơ, Ca-tô Rô-ma Giáo được xây dựng trên giáo luật,  trên quyền bính của Giáo hoàng, và là một hệ thống cai trị, giống như cấu trúc của một thể chế vua chúa phong kiến chứ không phải là một tôn giáo mà mục đích chính là mở mang trí tuệ, sự hiểu biết và thăng tiến tâm linh của tín đồ.  Giáo luật của hệ thống cai trị này là kẻ nào không theo lời dạy của Giáo hội, bất kể là lời dạy đó vô lư và có tính cách lừa bịp đến đâu, cũng đều bị loại bỏ qua cái gọi là vạ tuyệt thông, một biện pháp duy tŕ quyền lực của giới chăn chiên.  Điều lạ là thời buổi này mà một Linh mục Việt Nam như Ngô Tôn Huấn vẫn c̣n lừa dối giáo dân bằng những lời rao giảng vô nghĩa về vai tṛ bịp bợm của “đại diện duy nhất của Chúa trên trần” của Giáo hoàng và muốn ṭn thể con chiên phải nh́n nhận và tuân phục Giáo hoàng.  Thật là không hiểu nổi.

   Thật vậy, trong cuốn Thượng đế Chưa Chết: Từ Sự Sợ Hăi Tôn Giáo Đến Sự Tự Do Tâm Linh (God Lives: From Religious Fear To Spiritual Freedom), Linh Mục James Kavanaugh đă vạch rơ cho chúng ta thấy bản chất và ư nghĩa của H́nh Phạt Hù Dọa Tuyệt Thông Của Ṭa Thánh, trang 39: 

   Tôi thấy khó mà có thể tin được là trong thời đại kỹ thuật không gian này mà một đoàn thể tôn giáo (Ca-tô Rô-ma giáo. TCN) lại có thể quá lỗi thời để tin rằng một h́nh phạt thuộc loại huyền thoại như vậy vẫn c̣n có ư nghĩa ǵ đối với con người.

...Tuyệt thông,  trong nhiều thế kỷ, đă là vai tṛ của giới quyền lực đóng vai Gót.  Đó là sự chối bỏ sự tự do suy tư của con người một cách vô nhân đạo và phi-Ki-tô.  Nhưng nhất là, nó đă là nỗ lực điên cuồng của một quyền lực, v́ quá lo sợ mất đi quyền lực của ḿnh, nên phải kiểm soát tín đồ thay v́ hướng dẫn họ đi tới một t́nh yêu thương tự do và trưởng thành.

   [I found it hard to believe that in the age of space technology a religious body could be so out of touch as to believe such a mythological penalty could have any meaning left for man.

    ...Excommunication had for centuries been authority's way of playing God.  It was the inhuman and unchristian denial of man's freedom of conscience.  But most of all it had been a deeply frigtened authority's frantic effort to dominate and control men and woman rather than to direct them toward freedom and maturity.]

   Giáo luật của Giáo hội đặt nặng trên truyền thống của Giáo hội, nghĩa là đặt nặng trên những điều “Giáo hội dạy rằng..” dù rằng những điều này không hề có trong Thánh Kinh, và với “đức vâng lời”, con đường duy nhất để tín đồ sau khi chết sẽ được lên thiên đường, một cái bánh vẽ trên trời theo Mục sư Ernie Bringas,  cho nên Giáo hội dạy sao th́ tín đồ cứ tin vậy..

   Thật vậy, chúng ta có thể đọc câu sau đây trong cuốn Giáo Lư Của Giáo Hoàng (The Pope's Catechism) của J. Sheatsley, trang 80:

   Tín đồ Ca-tô phải tin tất cả những ǵ Gót đă mạc khải và tất cả những ǵ Giáo hội Ca-tô dạy, bất kể là những điều đó có hay không có trong Thánh Kinh.  V́ Truyền Thống Ca-tô (nghĩa là những ǵ giáo hội dạy) và Thánh Kinh đều do Gót mạc khải.

   (A Catholic must believe all that God has revealed and the Catholic Church teaches, whether it is contained in Holy Scripture or not.  Because Catholic Tradition and Holy Scripture were alike revealed by God)

   Và chúng ta không thể không nhắc lại câu nói thời danh của Thánh Ignatius of Loyola (1491-1536), người sáng lập ḍng Tên:  Chúng ta phải luôn luôn sẵn sàng tin rằng cái mà chúng ta thấy là trắng thực sự là đen, nếu hàng giáo phẩm trong Giáo hội Ca-tô quyết định như vậy.    (We should always be disposed to believe that which appears white is really black, if the hierarchy of the Church so decides).

   Do đó, chỉ những con người tự bỏ thân phận làm người của ḿnh để mang xác con chiên mới có thể tuân theo “đức vâng lời” của Giáo hội để cho trắng thành đen, hay ca tụng một “Giáo hội ác ôn” như lịch sử đă ghi rơ, là “hội thánh”.

    Theo Linh mục Ngô Tôn Huấn giảng cho tín đồ th́ “Đức Giáo Hoàng La Mă là vị đại diện duy nhất của Chúa Ki Tô” cho nên chúng ta thường thấy các tín đồ Ca-Tô xưng tụng giáo hoàng là “Đức Thánh Cha”, và giáo hội Ca-Tô Rô-ma tại Việt Nam hoàn toàn vâng phục quyền bính và trách nhiệm mà Chúa Ki Tô đă trao cho các đại diện của Ngài trên trần thế. 

   Nhưng đọc lịch sử các Giáo hoàng, chúng ta lại thấy nhiều chuyện lạ về các đại diện duy nhất của Chúa Ki Tô.  Thí dụ như, tôi xin trích dẫn một đoạn trong cuốn Những Dối Trá và Huyền Thoại Của Thánh Kinh của Lloyd M. Graham.  Đây chỉ là một đoạn tóm tắt một số sự kiện liên quan đến thực chất đạo đức của một số không nhỏ giáo hoàng.  Muốn biết nhiều chi tiết hơn về vấn đề này, xin đọc http://giaodiemonline.com/2007/06/duccha.htm, bài “Đây ! Những Đức Thánh Cha”, hoặc trên: http://sachhiem.net/TCN/TCNtg/TCN20.php

Chúng tôi thừa nhận rằng điều mà chúng tôi tŕnh bày ở đây là chủ ư đưa ra h́nh ảnh một mặt, mặt đen tối và ô nhục.  Lư do để đưa ra mặt này là v́ hàng triệu linh hồn bị lạc dẫn đang sơn phết mặt kia và đưa cao nó lên như là mặt duy nhất cho thế giới những kẻ nhẹ dạ, cả tin.  Chúng tôi nghĩ rằng chúng ta cần phải biết cả hai mặt, không chỉ v́ lợi ích của sự thật mà c̣n là cho những người đang sống trong sự nô lệ tâm linh cho một quyền lực lừa đảo.  Đối với những người này, một ngàn năm tội ác và đồi bại được làm nhẹ đi qua lời giải thích hời hợt là “chỉ có vài giáo hoàng xấu”.  Nếu những người giải thích như vậy mà lương thiện, họ phải thừa nhận rằng thật ra chỉ có vài giáo hoàng tốt.

Chúng tôi đă nói về sự bất lương của học thuật Công giáo.  Không ở đâu rơ ràng bằng luận điệu bào chữa, che đậy cho các giáo hoàng đồi bại. 

Những tội ác của các giáo hoàng là do những người khác làm và “không thể tránh được”, sự thiêu sống những kẻ dị giáo là một “điều cần thiết của thời đại”,  những sự trụy lạc của giáo hoàng chỉ là “yêu thích sự vui vẻ lành mạnh”.  Những hồ sơ ghi chép sự việc đương thời đă hoàn toàn phủ bác những luận điệu trên, và những điều ghi chép này không phải là do những kẻ thù của giáo hội viết, mà phần lớn là do những sử gia của chính giáo hội gồm có những giáo hoàng và hồng y: giáo hoàng Victor II, Pius II, hồng y Baronius, giám mục Liutprand, linh mục Salvianus, và các sử gia như Milman, Gerbert, Burchard, Guicciardini, Vacandard, Draper, và nhiều người khác.  Đây chính là những người có đầy đủ thẩm quyền đưa ra cái mặt đen tối và ô nhục của giáo hội.  Những ǵ mà chúng tôi tŕnh bày ở đây chỉ là lượm lặt trong thời gian 1500 năm, nhưng chúng tôi nghĩ rằng cũng đủ để bác bỏ mọi điều tự nhận của giáo hội, cho rằng giáo hoàng đă được thánh linh tuyển chọn và hướng dẫn.

Trong “thời đại tăm tối” (the dark ages) những giáo hoàng được thánh linh hướng dẫn này đă giết nhau với nhịp độ 10 giáo hoàng bị giết trong ṿng 12 năm (891-903) và 40 trong ṿng hơn 100 năm.  Giáo hoàng Sergius III là một kẻ giết nhiều người; theo hồng y Baronius và Vulgarius, ông ta đă giết hai vị giáo hoàng tiền nhiệm.  Năm 708, Toto, một nhà quư tộc đứng đầu một đám thuộc hạ ô hợp, đă vận động để cho anh hắn được bầu làm giáo hoàng.  Đó là giáo hoàng Constantine II, người sau đó bị Christopher, thủ tướng của ông ta, móc mắt ra.  Rồi Christopher cùng con của hắn âm mưu chống giáo hoàng Gregory và cũng cho người móc mắt Gregory.  Hai đứa cháu của giáo hoàng Leo III là Pascal và Campulus đều là linh mục.  Chúng toa rập với nhau mưu đồ thay thế Leo III, thuê một đám giết mướn để giết Leo III khi ông ta đi dạo phố.  Việc không thành, chúng đích thân ra tay, kéo Leo III vào một tu viện và giết ông ta tại đó.  Chắc độc giả cho rằng đó là chuyện thuần túy giả tưởng, chỉ để phỉ báng.  Nhưng không phải vậy, đó là dựa theo những hồ sơ ghi lại sự việc của nhà viết tiểu sử các giáo hoàng.

Đó chỉ là chuyện thường t́nh của thời đại.  Giáo hoàng Leo V bị một người cũng tên là Christopher hạ bệ, rồi đến lượt tên này cũng bị hạ bệ và cái tên sát nhân giết mấy giáo hoàng tiền nhiệm đă nói ở trên, Sergius III, lên thay. Trong thời đại này, không phải là Thánh Linh tuyển chọn giáo hoàng mà là, theo Hồng y Baronius, những cô gái điếm (scortas).  Đó là “luật lệ của những cô gái điếm hạng sang” (rule of the courtesans), đôi khi c̣n được gọi là “chế độ điếm trị” (Pornocracy), hay là triều đại của các cô gái điếm (reign of the whores).  Trong số điếm này có một người mà Baronius gọi là “con điếm vô liêm sỉ”, Theodora, và đứa con gái vô liêm sỉ không kém là Marozia.  Cả hai mẹ con đều có con với giáo hoàng Sergius III, và cả hai đều đưa những đứa con hoang của ḿnh lên ngai giáo hoàng - John XI và John XII.  John XI bị cầm tù và John XII đă “biến dinh Lateran (nơi giáo hoàng ở, trong Vatican. TCN) thành một ổ điếm”.  Không có một tội ác nào mà John XII không làm - giết người, khai gian, thông dâm, loạn luân với hai em, đâm chém và thiến kẻ thù v..v.. Hắn ta chết trong tay của một người chồng bị xúc phạm (v́ bị bắt quả tang đang thông dâm với vợ người này.)

   Theo sử liệu, hồng y Francone cho người thắt cổ giáo hoàng Benedict VI, sau đó lên làm giáo hoàng Boniface VII, “một con quỷ khủng khiếp vượt mọi con người về tội ác”, theo sử gia Gerbert.  Hắn ta cũng chẳng tệ hơn ǵ giáo hoàng Boniface VIII.

Link: http://en.wikipedia.org/wiki/Antipope_Boniface_VII

 

Benedict VI, link: http://en.wikipedia.org/wiki/Pope_Benedict_VI

 

 Thật vậy!  Để chiếm được cái mũ tiara (mũ ba tầng của giáo hoàng. TCN) hắn đă thủ tiêu giáo hoàng dở hơi Celestine V.  Nhưng hắn cũng chẳng hưởng được sự chiến thắng lâu dài v́ ngay sau đó hắn bị những người La Mă truất phế.  Trong triều đại của một giáo hoàng kế vị, Clement V, sau khi chết hắn c̣n bị mang ra xét xử  và được xem là phạm mọi tội ác, kể cả tội hành dâm với đồng nam (pederasty) và giết người.  Và khi Clement chết th́ người kế vị hắn, John XXII, phanh phui ra rằng Clement đă quá nhân từ (Tác giả chơi chữ: “Clement had been so very clement” v́ clement có nghĩa là nhân từ) nên đă cho người cháu một số tiền tương đương với 5 triệu đô-la, tiền của giáo hoàng.  Vào thời gian này, triều đ́nh của giáo hoàng được chuyển đến Avignon, và thánh Phê-rô nay cùng lúc có hai người kế thừa, một người ở Avignon và một người ở Rô-Ma.  Nhưng vậy mà cũng chưa đủ v́ có khi có tới ba giáo hoàng cùng một lúc - Gregory XII, Alexander V, và John XXIII.  Về sau John XXIII bị từ khước, tên thánh bị hủy bỏ, và gần đây tên này (John XXIII) được giáo hoàng kế vị Pius XII lấy lại.

Sự đồi bại của John XXIII lên đến độ mà Sigmund ở Hung Gia Lợi phải triệu tập một hội đồng điều tra hắn ta.  Kết quả của cuộc điều ta là đưa ra năm mươi bốn (54) khoản mô tả John XXIII là “độc ác, không tôn trọng những điều thiêng liêng, không trong trắng, nói láo, không tuân theo luật lệ và đầy những thói xấu.”  Khi c̣n là hồng y, John XXIII đă là người “vô nhân đạo, bất công và tàn bạo.”  Khi lên làm giáo hoàng, ông ta là “kẻ đàn áp người nghèo, khủng bố công lư; là cột trụ của tội ác, h́nh tượng của những kẻ buôn bán chức tước và thánh tích; ham mê tṛ quỷ thuật, cặn bă của thói xấu, đắm ḿnh trong nhục dục; là tấm gương của sự ô nhục, một kẻ phát minh ra những tội ác.”  Hắn giữ chắc ngôi vị giáo hoàng bằng “bạo lực và gian lận và bán chứng thư xá tội, chức vụ, bí tích và những đồ ăn cướp được.”  Hắn “xúc phạm thánh thần, thông dâm, giết ngựi, hiếp dâm và ăn cắp.”..  Một vài những giáo hoàng như vậy vô đạo đức, tục tĩu đến độ phải đi đày.  Ít nhất là có hai giáo hoàng bị móc mắt và cắt lưỡi, rồi buộc vào đuôi lừa kéo lê ngoài đường phố.  Một số khác bị khinh ghét đến độ người ta quật xác chúng lên và ném xuống sông Tiber.  Sau một ngàn bốn trăm năm dưới quyền lực của Ki Tô Giáo, đạo đức xuống thấp đến độ giáo hoàng Pius II than rằng “hiếm mà có một ông hoàng ở Ư không phải là đứa con hoang.”  Lời tuyên bố này cũng áp dụng cho những ông hoàng của giáo hội (the princes of the church: nghĩa là những giáo hoàng, hồng y, giám mục v..v..) như là của chính quyền dân sự.

Tệ hại như vậy nhưng sự tệ hại hơn c̣n chưa tới - với gịng họ Borgias, đặc biệt là Rodrigo.  Trong những giáo hoàng xấu xa độc ác th́ hắn xứng đáng đứng đầu.  Bằng cách hối lộ 15 hồng y với số tiền tương đương với 3 triệu đô-la, hắn chiếm được sự tuyển lựa một con người tệ hại nhất trong lịch sử - chính hắn, lên làm giáo hoàng với tên Alexander VI.  Sử gia Guicciardini mô tả hắn như sau: “..có những thói quen cực kỳ tục tĩu, vô liêm sỉ và không có một ư thức nào về sự thật, nuốt lời, không có t́nh cảm tôn giáo, tham lam vô độ, nhiệt t́nh tham vọng, độc ác quá sự độc ác của những giống người man rợ, tham muốn đưa con lên địa vị cao bằng mọi thủ đoạn: hắn có nhiều con, và một trong những đứa này - cũng đáng ghê tởm như  cha của nó.”  Đó là con người nổi tiếng, Cesare Borgia, người đă giết người anh rể là John, và hai hồng y khác để chiếm được cái áo hồng y.

Khi c̣n là hồng y, cái kẻ chơi bời phóng đăng và sát nhân này đă biến chỗ ở của ḿnh trong Vatican thành một ổ điếm.  Theo sử gia đương thời là Burchard, hắn đắm ḿnh trong những cuộc hoan lạc trong những pḥng của hắn, ngay trên pḥng của giáo hoàng, và những cô gái điếm hạng sang “nhảy múa trần truồng trước những tôi tớ của Chúa [các hồng y, giám mục, linh mục] và vị đại diện của Chúa (giáo hoàng. TCN).”.  Đó là sự hoan lạc được giải thích như là “ḷng yêu thích sự vui vẻ lành mạnh.”

Đó là những ông hoàng của giáo hội trong những ngày đó.  Trong thời Trung Cổ, tập thể các hồng y cũng đồi bại như là một tập thể mà người ta có thể kiếm được trong suốt gịng lịch sử.  Chiếm được một ngôi vị hồng y chỉ là vấn đề có tiền và ảnh hưởng quen thuộc.  Đức tính, sự hiểu biết, và khả năng không dự phần nào trong đó.  Thật vậy, những đứa trẻ mười bốn mười lăm tuổi đôi khi cũng được đưa lên ngôi vị hồng y.  Giáo hoàng Paul III cho hai đứa cháu (gọi Paul III bằng ông) làm hồng y. Paul IV cũng cho một đứa cháu gọi Paul IV bằng bác lên làm hồng y tuy chính ông ta nói “cánh tay của nó ngập máu đến tận khuỷu tay.”

Paul IV, link: http://en.wikipedia.org/wiki/Paul_IV

 

  Vậy mà đó là những người, với sự trợ giúp của Thánh Linh, tuyển chọn giáo hoàng.

  Tại sao cái lịch sử ô nhục này không được tín đồ biết đến như là lịch sử các giáo hoàng mà họ cho là tốt?  Tại sao các tín đồ Công giáo  không được dạy rằng chính những con người như trên đă đưa đến sự cải cách chứ không phải là do “con quỷ Luther đó.”?  Giáo phái Tin Lành nổi giậy không chỉ v́ Luther mà v́ sự phản đối tội ác và sự đồi bại của giáo hội Công giáo trong nhiều thế kỷ.  Tên Sa-Tăng Phê-rô đă xúc phạm đến toàn thể Âu Châu.

[Lloyd M. Graham, Deceptions and Myths of the Bible, pp. 463-468:  What we offer here is admittedly and intentionally a one-sided picture, the dark and shameful side.  Our reason for so presenting it is that millions of misguided souls are painting the other side and holding it up to a credulous world as the only side.  We think both sides should be known, not only in the interest of truth but also for those who are living in spiritual bondage to a fraudulent authority.  For these, a thousand years of crime and corruption are glossed over with the statement, “There were a few bad popes.”  Were their informers honest they would admit there were a few good.

We have spoken of the dishonesty of Catholic scholarship.  Nowhere it is more evident than in its whitewash of wicked popes.  Their crimes were all done by others and “unavoidable,” their burning of heretics, a “necessity of the times,” their debaucheries, but “love of godd cheer.”. Contemporary records completely refute these claims, and the records were not written by the Church’s enemies, but mainly by its own historians, popes and cardinals: Victor II, Pius II, Cardinal Baronius, Bishop Liutprand, Father Salvianus, and historians, Milman, Gerbert, Burchard, Guicciardini, Vacandard, Draper, and others.  These are the authority for the dark and shameful side.  What we offer here is but a hop, skip and jump over some 1500 years, but sufficient, we think, to disprove any claim to divine selection and guidance.

During the Dark Ages these divinely guided popes murdered one another at such a rate there were ten in twelve years (891-903) and forty in little more than one hundred.  Sergius III was a wholesaler; according to Cardinal Baronius and also Vulgarius, he murdered his two predecessors.  In 708 Toto, a noble at the head of a rabble following, had his brother apointed pope.  This was Constantine II whose eyes were put out by Christopher, his chief official.  Then Christopher and his son plotted against Pope Gregory for they too had their eyes put out.  The two nephews of Leo III, Pascal and Campulus, themselves clerics, conspired to replace Leo and set a band of paid assassins upon him as he rode through the streets.  When the hirelings failed, the two nephews dragged the pope into a monastery and complete the work.  Pure fiction, downright slander, you say.  But no, it is from the record of the papal biographer.

This was the order of the day.  Pope Leo the V was deposed by another Christopher, who was in turn deposed and succeeded by the aforesaid criminal Sergius III, who murdered his predecessors.  At this time it was not the Holy Ghost that selected the popes but what cardinal Baronius called scortas, whores.  This was the “rule of the courtesans,” sometimes called Pornocracy, or reign of the whores.  Among them was one Baronius called the “shameless whore,” Theodora, and her equally shameless daughter Marozia.  Both had sons by Sergius III, and both put their illegitimates on the papal throne - John XI and John XII.  The first was imprisoned, the second “turned the Lateran Palace into a brothel.”  There was no crime he didn’t commit - murder, perjury, adultery, incest with his two sisters, bleeding and castrating his enemies, etc.  He died, we are told, at the hand of an outraged husband.

According to the record, Cardinal Francone had Benedict VI strangled, after which he became Boniface VII, “a horrid monster surpassing all other mortals in wickedness,” according to Gerbert.  He was no worse however than Boniface VIII..  Yes indeed!  To gain his tiara he had the halfwit Celestine V disposed of.  He did not long enjoy his victory for soon he was driven out by the Romans.  Under a successor, Clement V, he was tried posthumously and found guilty of every crime including pederasty and murder.  And when Clement died, his successor, John XXII, revealed that Clement had been so very clement he had given his nephew the equivalent of five million dollars of papal money.  It was at this time the papal court was moved to Avignon, and now St. Peter had two successors, one at Avignon and one at Rome.  But even this was not enough; there were at one time three - Grogory XII, Alexander V, and John XXIII.  Later, John XXIII was repudiated, the title was annulled and recently assumed by the successor of Pius XII.

So corrupt was the latter, Sigmund of Hungary called a council to investigate him.  The result was fifty-four articles described him as “wicked, irreverend, unchaste, a liar, disobedient and infected with many vices.”  As a cardinal he had been “inhuman, unjust and cruel.”  As pope he was “an oppressor of the poor, persecutor of justice, pillar of the wicked, statue of the simoniacs, addicted to magic, the dregs of vice..wholly given to sleep and carnal desires, a mirror of infamy, a profound inventor of wickedness.”  He secured the Papacy by “violence and fraud and sold indulgences, benefices, sacraments and bulls.”  He practiced “sacrilege, adultery, murder, rape and theft.”.. Some of these popes so outraged decency they were exiled.  At least two of them had their eyes and tongue cut out, then were dragged through the streets tied to the tail of an ass.  Still others were so despised their corpses were exhumed and thrown into the Tiber.  After fourteen hundred years of Christianity morals had sunk so low that Pius II tells us: “scarcely a prince in Italy had been born in wedlock.”  A statement as applicable to the princes of the church as of the states.

Bad as all this was, the worst was yet to come - the Borgias, particularly Rodrigo.  Of all the wicked popes he deserves the crown.  By bribing fifteen cardinals with the equivalent of three million dollars he secured the election of one of the worst men in history - himself, Alexander VI.  Guicciardini, the historian, describes him thus: “..private habits of the utmost obscenity, no shame or sense of truth, no fidelity to his engagements, no religious sentiments, insatiable avarice, unbridled ambition, cruelty beyond the cruelty of barbarous races, burning desire to elevate his sons by any means: of whom there were many, and among them one - not any less detestable than his father.”  This was the notorious Cesare Borgia who to gain a cardinalate murdered his brother John, his sister’s husband, and two cardinals..

While still a cardinal this rake and murderer turned his quarters in the Vatican into a brothel.  According to Burchard, the papal historian at the time, he indulged in nightly revels in his rooms above the pope’s, and courtesans “danced naked before the servants of the Lord and the Vicar of Christ.”  And his sister, Lucrezia, distributed prized to those who “had a carnal intercourse with courtesans the largest number of times.”  This is the gaiety explained as “love of dood cheer.”

Such were the Princes of the Church in those days.  During the Middle Ages the College of cardinals was as corrupt a body as could be found in all history.  Securing a cardinalate was but a matter of money and influence.  Neither character, learning nor aptitude played any part in it.  Indeed boys of fouteen and fifteen were sometimes invested with the office.  Paul III appointed two of his teen-age grand children to this high office.. Paul IV made his nephew a cardinal, though, as he said, “his arm is dyed in blood to the elbow.”

Yet these were the men who, with the help of the Holy Ghost, selected the popes..

Now why isn’t this disgraceful record known as well as that of the the good popes?  Why aren’t Catholics told it was such men as these that caused the Reformation and not “that devil Luther?”  Protestantism sprang not from Luther exclusively but from centuries of protestation against the crime and corruption of the Catholic Church.  Satan Peter had outraged all Europe..]

    Với lịch sử một số Giáo hoàng vô đạo đức, tệ hại như vậy, chúng ta làm sao có thể tin nổi luận điệu bịp bợm của Giáo hội đưa ra để tạo quyền bính cho những kẻ vô đạo đức với chức vị Giáo hoàng và trơ trẽn tự nhận là đại điện của Chúa Ki-tô trên trần, ngự trị trên đám tín đồ đáng thương, v́ mê tín, ngu đần, không biết rơ sự thật, nên tự giam ḿnh trong ngục tù tâm linh của Giáo hội dựng lên. Có người chống đối bằng luận điệu ngụy biện: đó là những chuyện cũ, không dính dáng ǵ đến Giáo hoàng và Giáo hội ngày nay, và các Giáo hoàng và Linh mục phạm tội chẳng qua cũng chỉ là người thường.  Họ quên rằng Giáo hoàng và Linh mục không phải là người thường như mọi người, có thể phạm tội, mà là những “đại diện của Chúa Ki Tô” (Vicars of Christ) và các “Chúa Ki Tô thứ hai” (Alter Christus), mà lại c̣n phạm nhiều tội ác hơn người thường nữa.  Phải chăng những tội ác của Giáo hội Ca-tô chỉ có trong quá khứ.  Không hẳn vậy, đạo đức của Giáo hoàng tiền nhiệm John Paul II và Giáo hoàng đương nhiệm Benedict XVI trong vụ việc bao che các linh mục loạn dâm và ấu dâm đă cho nhân loại thấy những bộ mặt đen tối của những vị chủ chăn Ca-tô.  Thật vậy, chúng ta hăy đọc:

http://www.irishtimes.com/newspaper/world/2011/0223/1224290630240.html

The Irish Times - Wednesday, February 23, 2011

Charges initiated against Pope for crimes against humanity

PATSY McGARRY, Religious Affairs Correspondent

 

   Hai luật sư người Đức đă đưa đơn lên Ṭa Án Tội Phạm Quốc Tế, lên án Giáo hoàng Benedict XVI về những tội ác chống nhân loại.

   Christian Sailer và Gert-Joachim Hetzel, có căn cứ địa ở Marktheidenfeld trong tiểu bang Bavaria, nơi sinh của Giáo hoàng, đă đệ tŕnh một hồ sơ dài 16,500 chữ cho Dr. Luis Moreno Ocampo, Công Tố Viên của Ṭa Án Tội Phạm Quốc Tế ở Le Havre.

   Hai luật sư lên án “ba tội ác trên khắp thế giới mà cho tới nay chưa từng bị tố cáo, sự tôn kính “quyền lực của giới chăn chiên” đă che mờ ư niệm về thiện, ác.

   Họ cho rằng Giáo hoàng “phải chịu trách nhiệm v́ đă duy tŕ sự chỉ đạo của một chế độ toàn trị có tính cách ép buộc nô dịch hóa  những con chiên trên khắp thế giới với những sự đe dọa về những biện pháp nguy hại đến sức khỏe rất đáng sợ.

   Hai luật sư cũng lên án là Giáo hoàng phải chịu trách nhiệm về việc tín đồ tuân theo lệnh cấm không được dùng bao cao su ngay cả khi mà sự nguy hiểm của bệnh AIDS-HIV đang hiện hữu, và sự thiết lập và duy tŕ trên khắp thế giới một hệ thống bao che và dành quyền xử lư nội bộ những tội ác t́nh dục của các linh mục Ca-tô, điều này giúp cho các linh mục phạm thêm tội ác.

 

  Hai luật sư lên án Giáo hội Ca-tô “thu nhặt tín đồ qua một hành động bắt buộc, nghĩa là,  qua bí tích rửa tội các trẻ nít chưa có đủ ư chí đề quyết định cho chính ḿnh.”  Bí tích rửa tội này không thể bị hủy bỏ và được củng cố bằng những đe dọa về vạ tuyệt thông và ngọn lửa dưới hỏa ngục.

   Đó là sự phá hại nghiêm trọng quyền tự do và phát triển của cá nhân và đến t́nh cảm và ư thức tâm linh chính trực của con người.  Giáo hoàng phải chịu trách nhiệm là đă duy tŕ và cưỡng bách hành động vi phạm nhân quyền này, và nhân danh là người đứng đầu Thánh Bộ Truyền Giáo, ông ta phải chịu trách nhiệm cùng với Giáo hoàng John Paul II.

 

   [TWO GERMAN lawyers have initiated charges against Pope Benedict XVI at the International Criminal Court, alleging crimes against humanity.

Christian Sailer and Gert-Joachim Hetzel, based at Marktheidenfeld in the Pope’s home state of Bavaria, last week submitted a 16,500-word document to the prosecutor of the International Criminal Court at the Hague, Dr Luis Moreno Ocampo.

Their charges concern “three worldwide crimes which until now have not been denounced . . . (as) the traditional reverence toward ‘ecclesiastical authority’ has clouded the sense of right and wrong”.

They claim the Pope “is responsible for the preservation and leadership of a worldwide totalitarian regime of coercion which subjugates its members with terrifying and health-endangering threats”.

They allege he is also responsible for “the adherence to a fatal forbiddance of the use of condoms, even when the danger of HIV-Aids infection exists” and for “the establishment and maintenance of a worldwide system of cover-up of the sexual crimes committed by Catholic priests and their preferential treatment, which aids and abets ever new crimes”.

They claim the Catholic Church “acquires its members through a compulsory act, namely, through the baptism of infants that do not yet have a will of their own”. This act was “irrevocable” and is buttressed by threats of excommunication and the fires of hell.

It was “a grave impairment of the personal freedom of development and of a person’s emotional and mental integrity”. The Pope was “responsible for its preservation and enforcement and, as Prefect of the Congregation for the Doctrine of the Faith of his Church, he was jointly responsible” with Pope John Paul II…]

   Vậy mà không thiếu người vẫn tin Giáo hoàng là “đức thánh cha” của họ.  Thật là tội nghiệp.

 

6.      Tin rằng, theo lời dạy của Giáo hội, các linh mục đều là các “Chúa Ki-tô thứ hai” (Alter Christus), có quyền tha hay cầm giữ tội của các con chiên.

    Trên tiengnoigiaodan.net,  Linh mục Vũ Đức ở Detroit có giảng cho tín đồ:

   “Linh mục là ai?  Trả lời một cách ngắn gọn và đầy đủ Ngài là CHÚA KI-TÔ THỨ HAI (Alter Christus) như thế thưa cha mới [vừa mới được phong chức chức linh mục]: từ nay Cha là Chúa Ki-tô”

    Chúng ta hăy đọc vài nhận định sau đây về Linh Mục của một số nhân vật danh tiếng ở Âu Mỹ:

Hugo Grotius (1583-1645), Học giả Ḥa Lan:  Người nào đọc lịch sử giới Linh mục không đọc ǵ khác ngoài sự gian giảo và điên rồ của các giám mục và linh mục. (He who reads eccleciastical history reads nothing but the roguery and folly of bishops and churhmen.)

John Milton (1608-1674), Thi sĩ Anh:  Ca Tô  Giáo La Mă  là một tôn giáo không ǵ hơn là  sự chuyên chế của giới linh mục, những người trang bị với những bổng lộc của quyền lực dân sự, với chiêu bài tôn giáo, đă chiếm lấy quyền của Chúa (Romanism is less a religion than a priestly tyranny armed with the spoils of civil power which, on the pretext of religion, it hath seized against the command of Christ himself.)

Daniel Defoe (1660-1731), Tiểu thuyết gia AnhTrong tất cả những tai họa mà nhân loại phải chịu đựng, sự độc đoán của giới Linh mục là tệ hại nhất (Of all the plagues with which mankind are cursed, Ecclesiastic tyranny’s the worst.)

Lady Mary Wortley Montagu (1689-1762), Văn sĩ Anh:  Trên khắp thế giới, các linh mục có thể nói láo, và các tín đồ tin, (Priests can lie, and the mob believe, all over the world).

Đại Văn Hào Voltaire (1694-1778):  Lời của Chúa là lời của các linh mục; sự vinh quang của Chúa là sự hănh diện của các linh mục; ư của Chúa là ư của các linh mục; xúc phạm Chúa là xúc phạm các linh mục; tin vào Chúa là tin vào mọi điều linh mục nói (The word of God is the word of the priests; the glory of god is the pride of the priests; the will of god is the will of the priests; to offend god is to offend the priests; to believe in god is to believe in all that the priests tell us.)

Edward Gibbon (1737-1794), Sử gia Anh: Đối với cái nh́n triết lư, những thói xấu của các Linh Mục th́ ít nguy hại hơn những đức tính của họ rất nhiều (To a philosophic eye, the vices of the clergy are far less dangerous than their virtues.)

Thomas Jefferson (1743-1826), Tổng Thống Mỹ:  Trong mọi quốc gia và trong mọi thời đại, linh mục đều đă thù nghịch đối với tự do.(In every country and in every age, the priest has been hostile to liberty).

James Madison (1751-1836), Tổng Thống Mỹ:  Trong gần 15 thế kỷ, cơ sở hợp pháp của Ki Tô giáo đă được phán xét.  Hoa trái của Ki Tô giáo là ǵ?  Ở khắp nơi, không nhiều th́ ít, sự lười biếng và hănh diện của giới giáo sĩ Ca-tô, sự ngu tối và quỵ lụy của giới tín đồ; sự mê tín, cố chấp và bạo hành trong cả hai giới (During almost 15 centuries has the legal establishment of Christianity been on trial.  What has been its fruits?  More or less in all places, pride and indolence in the clergy; ignorance and servility in the laity; in both, superstition, bigotry, and persecution.)

Napoleon Bonaparte (1769-1821), Hoàng đế Pháp:  Ở mọi nơi và mọi thời, linh mục đă đưa vào sự gian dối và sai lầm (Priests have everywhen and everywhere introduced fraud and falsehood)

Arthur Schopenhauer (1788-1860), Triết gia Đức:  Ca Tô giáo là tôn giáo lên thiên đường bằng cách cầu xin, v́ nó quá phiền toái để tự ḿnh đạt được.  Linh mục là những kẻ buôn bán thiên đường (The Catholic religion is an order to obtain heaven by begging, because it would be too troublesome to earn it.  The priest are the brokers for it)

Victor Hugo (1802-1885), Văn hào Pháp: Trong mỗi làng đều có một ngọn đuốc soi sáng: người thầy giáo - và một kẻ làm tắt bó đuốc đó: ông linh mục xứ (There is in every village a torch: the schoolmaster - and an extinguisher: the parson.) 

Giuseppe Garibaldi (1807-1882),  Nhà lănh đạo Ư (Người đă tiến quân và thu hẹp lănh thổ của Công Giáo, chỉ c̣n lại Vatican ngày nay):  Linh mục là hiện thân của sự sai lầm (The priest is the personification of falsehood.) 

Robert G. Ingersoll (1833-1899), Học giả Mỹ:  Một thầy giáo giỏi có giá trị bằng1000 linh mục (One good schoolmaster is worth a thousand priests.)

William E. H. Lecky (1838-1903), Sử gia Ai Nhĩ Lan:   Bất cứ khi nào mà giới giáo sĩ, Linh mục Ca Tô hay Mục sư Tin Lành,  đứng cạnh thế quyền dân sự, th́ kết quả là sự bạo hành (Whenever the clergy were at the elbow of the civil arm, no matter whether they were Catholic or Protestant, persecution is the result.)

Émile Zola (1840-1902), Văn hào Pháp: Nền văn minh sẽ không đi đến tột đỉnh cho đến khi phiến đá cuối cùng từ cái nhà thờ cuối cùng rơi đè lên tên linh mục cuối cùng (Civilization will not attain to its perfection until the last stone from the last church falls on the last priest.)

    Đó là thực chất giới Linh mục trong Ca-tô Rô-ma Giáo.  Về các “Chúa Ki Tô thứ hai” của LM Vũ Đức th́ chúng ta chắc ai cũng đă biết nạn loạn dâm và ấu dâm tràn ngập trong giới “Chúa thứ hai” này, trừ LM Vũ Đức:

   Chuyện các Linh Mục cưỡng hiếp nữ tu Ca-Tô trong 27 quốc gia trên thế giới, c̣n bắt họ đi phá thai, đă được phổ biến rộng răi trên các diễn đàn truyền thông.  Và ngày nay, chúng ta đă biết nguyên trên nước Mỹ đă có tới trên 5000 Linh mục bị truy tố ra ṭa về tội loạn dâm và ấu dâm: cưỡng hiếp nữ tu, và cưỡng bách t́nh dục hàng ngàn trẻ em phụ tế, Giáo hội đă phải bỏ ra hơn 2 tỷ đô-la để bồi thường cho những nạn dân t́nh dục của Giáo hội, nạn nhân của những người mang chức “thánh” trong giáo hội.  Tài liệu trên Internet cho biết: t́nh trạng linh mục loạn dâm đă xẩy ra trên 17 quốc gia, và t́nh trạng này ở Úc cũng nghiêm trọng không kém ǵ ở Mỹ.  Xin đọc: http://en.wikipedia.org/wiki/Roman_Catholic_sex_abuse_cases_by_country,    Vậy mà cho tới giờ này, các Linh mục Mít nhà ta, thí dụ như LM Vũ Đức ở Detroit, vẫn dạy tín đồ Linh Mục là Chúa Ki Tô thứ hai. Thật là vô cùng nhảm nhí mà không biết ngượng, chức Linh mục là chức mà Ṭa Thánh chứng nhận là trong đầu óc các linh mục không c̣n giây thần kinh “biết liêm sỉ và biết ngượng” nữa. Và lạ lùng là vẫn c̣n nhiều con chiên tin như vậy và vẫn khúm núm qụy lụy trước các “bề trên”.  Thật là tội nghiệp.

     Sự kiện là, CHÚA THỨ NHẤT đă chết cách đây gần 2000 năm rồi VÀ CHƯA BAO GIỜ TRỞ LẠI DÙ ÔNG TA HỨA HẸN VỚI MỘT SỐ TÍN ĐỒ LÀ SẼ TRỞ LẠI NGAY KHI HỌ C̉N SỐNG [Chắc Linh Mục Vũ Đức cũng đă đọc những đoạn này trong Tân Ước mà tôi trích dẫn trong một đoạn trên], vậy ngày nay giáo hội Ca-tô Rô-ma chỉ c̣n những CHÚA KITÔ THỨ HAI, rất nhiều CHÚA KITÔ THỨ HAI trên thế giới. 

    Nhiệm vụ của Chúa là “cứu chuộc” hay “cứu rỗi” ǵ ǵ đó, nhưng tại sao lại có các CHÚA KITÔ THỨ HAI đi hiếp dâm các “sơ (nữ tỳ) của Chúa” trong 27 quốc gia trên thế giới, có nơi c̣n bắt họ đi phá thai, và nguyên trên nước Mỹ đă có tới hơn 5000 CHÚA KITÔ THỨ HAI bị truy tố về tội cưỡng bức t́nh dục trẻ em và nữ tín đồ.  Có nhiều CHÚA KITÔ THỨ HAI đang ngồi tù, và tất cả vẫn c̣n mang chức linh mục trên người, và các giáo hội địa phương đă phải bỏ ra từ 2 đến 3 tỷ Mỹ kim để bồi thường cho những nạn nhân t́nh dục của các CHÚA KITÔ THỨ HAI hay chính là CHÚA KI TÔ.

   Xin đọc: http://sachhiem.net/TCN/TCNtg/TCN97.php để biết chi tiết về vấn nạn các Linh mục loạn dâm và ấu dâm.

Vậy không biết Tam Đoạn Luận sau đây có đúng hay không?

Người hiếp dâm các sơ và trẻ con là Linh Mục.

Mà Linh Mục là Chúa Ki Tô. [Theo LM Vũ Đức: từ nay Cha là Chúa Ki-Tô]  

Vậy th́ chính Chúa Ki Tô đă hiếp dâm.

Vậy Chúa nào đi hiếp dâm?  Chúa thứ nhất hay Chúa thứ hai hay cùng là một Chúa?  

 

   Tôi chờ câu trả lời từ linh mục Vũ Đức hay từ bất cứ tín đồ Ca-Tô nào trên thế giới.  Tôi lại xin nhắc để quư vị nhớ rằng, linh mục không phải là người thường như mọi người chúng ta, mà là “Chúa Ki Tô thứ hai” hay chính là “Chúa Ki Tô”, nên các Ngài cũng như Chúa, không thể phạm những tội c̣n hơn là người thường nữa.  Thật tội nghiệp cho những ai vẫn c̣n tin linh mục là “Chúa thứ hai” có quyền tha tội và hành tội các con chiên.

 

Vài Lời Kết.

    Trên đây tôi chỉ kể những niềm tin chính không thể tin nổi của các tín đồ Ca-tô Rô-ma Giáo.  Không thể tin nổi v́ tôi đă phân tích các vấn đề dựa trên các tài liệu nghiên cứu của giới học giả trong Ki Tô Giáo và dựa trên những ǵ viết trong cuốn Thánh Kinh.  Đối với những người tiếp tục tin vào những điều không thể tin nổi, tôi không có ư kiến và tuyệt đối tôn trọng quyền tin của họ.  Tin vào những điều không thể tin nổi, rất có thể đó là khả năng trí thức mà một Gót toàn năng toàn trí của họ đă ban cho họ, vậy th́ chúng ta chỉ có thể luận về các chủ đề trong lănh vực học thuật chứ không thể nói ǵ về nềm tin của các tín đồ trong đầu óc của họ.

 

   Người Ki Tô Giáo nói chung c̣n tin vào nhiều điều khác nữa.  Để kết luận sau đây là những kết quả nghiên cứu về những niềm tin đó của các học giả và bậc lănh đạo trong Ki Tô Giáo.

 

1.Thực chất của Ki Tô Giáo đă được các học giả nghiên cứu kỹ trong ṿng 200 năm gần đây, bác bỏ mọi huyền thoại mà Ki Tô Giáo dựng lên, những chuyện thuộc loại hoang đường, mê tín cổ xưa đó bắt buộc phải ra khỏi đầu óc của con người, nhường chỗ cho những sự kiện khoa học và những thực tế xă hội..  Một cuốn sách điển h́nh về hiện tượng giải hoặc Ki Tô Giáo này là của Uta Ranke-Heinemann, người phụ nữ duy nhất trên thế giới chiếm được ngôi vị giáo sư thần học Công giáo của giáo hội Công giáo [the first woman in the world to hold a chair of Catholic theology], cuốn “Hăy Dẹp Đi Những Chuyện Trẻ Con” (Putting Away Childish

Things, HarperCollins, 1995).  Những chuyện trẻ con nào? Đó là những tín lư căn bản của Ca-Tô Giáo:

 

- “Tư cách thần thánh của Chúa Ki Tô” [The divinity of Christ];

- “Sinh ra từ một nữ trinh” [The Virgin mother];

- “Ngôi mộ trống”[Empty Tomb];

- “Ngày Thứ Sáu tốt đẹp” [Good Friday, Easter];

- “Phục sinh”[ Resurrection];

- “Thăng Thiên” [Ascension];

- “Bị hành quyết để chuộc tội” [Redemption by execution];

- “Hỏa ngục” [ Hell]. 

     Tác giả trích dẫn câu 1 Corinthians 13:11 ở ngay đầu cuốn sách:  “Khi tôi c̣n là một đứa trẻ, Tôi nói như một đứa trẻ, tôi hiểu như một đứa trẻ, tôi nghĩ như một đứa trẻ; Nhưng khi tôi trở thành một người trưởng thành, tôi dẹp bỏ những chuyện của trẻ con”  [When I was a child, I spoke as a child, I understood as a child, I thought as a child; But when I became an adult, I put away childish things.] 

 

2. Trong cuốn "Theo Đúng Như Trong Sách: Những Thảm Họa Trong Quá Khứ Và Hiện Tại Của Quyền Lực Thánh Kinh" (Going By the Book: Past and Present Tragedies of Biblical Authority), Mục sư Ernie Bringas, tốt nghiệp môn thần học tại đại học United Theological Seminary ở Dayton, Ohio, cũng đưa ra một nhận định tương tự::

 

Với sự tái khám phá phương pháp khoa học trong thế kỷ 16 ở Âu Châu và sự tiến triển tiếp theo của thời đại Khai sáng trong thế kỷ 18, một sự phân tích Thánh Kinh một cách thuần lư hơn là điều không thể tránh được. Trong một thế giới đang trở thành hướng theo tinh thần khoa học, những mô tả về Chúa đi trên sóng, về ma quỷ, thiên thần, những câu chuyện về sự sống lại của Chúa, và nhiều hiện tượng khác, càng ngày càng khó có thể chấp nhận như là những sự thực lịch sử.

 

Trong những năm 1835-1836, cuốn "Khảo Sát Cặn Kẽ Về Đời Sống của Giê-su" (The Life of Jesus Critically Examined) của D. F. Strauss đă quy một số chuyện trong Tân Ước là "huyền thoại" và định nghĩa những câu chuyện phi lịch sử như trên là sự biểu thị của một chuỗi những ư tưởng tôn giáo. Ngày nay, kết quả những cuộc nghiên cứu phân tích tiếp tục hỗ trợ và xác nhận sự khẳng định này. Đa số các học giả coi những chuyện trong Tân Ước và bảy giáo lư giáo hội đưa ra sau đây đều là huyền thoại:

 

1. Đức Mẹ đồng trinh

2. Hiện thân của Chúa (Thượng đế hiện thân thành người, nghĩa là, Thượng đế là Giê- su.)

3. Nhiệm vụ chuộc tội của Chúa [kế hoạch cứu rỗi]

4. Sự sống lại của Chúa.

5. Sự thăng thiên của Chúa (Thân xác Chúa bay lên trời 40 ngày sau khi sống lại)

6. Chúa trở lại trần (để làm sống lại những người chết cho ngày phán xét cuối cùng)

7. Ngày phán xét cuối cùng (Thiên Chúa phán xét mọi người khi Giê su trở lại trần thế)

 

    (With the rediscovery of the scientific method in 16th-century Europe and the subsequent evolvement of the Enlightenment during the 18th-century, it was inevitable that a more rational analysis of Scripture would occur. In a world becoming scientifically oriented, descriptions of walking on water, of demons, angels, resurrection stories, and other phenomena grew increasingly unacceptable as historical realities.

   In 1835-1836, The Life of Jesus Critically Examined, by D. F. Strauss, referred to some NT narratives as "myth" and defined those unhistorical elements as expressing a series of religious ideas. Today, analytical studies continue to support and confirm this assertion. The majority of scholars regard the following NT accounts and Church-developed doctrines as myth:

1. The virgin birth

2. The Incarnation (God in human form; that is, God as Jesus)

3. The work of Atonement (plan for salvation)

4. The resurrection

5. The ascension (Jesus' bodily ascent into heaven 40 days after the resurrection)

6. The Second Coming (the return of Jesus to raise the dead and to summon all to the Last Judgment)

7. The Last Judgment (the judgment of all by God at Christ's Second Coming)

 

3.     Trong cuốn Một Ki Tô Giáo Mới Cho Một Thế Giới Mới (A New Christianity For A new World), xuất bản năm 2001. Giám Mục John Shelby Spong liệt kê ra 5 tín điều căn bản của Ki Tô Giáo như sau:

- Thánh Kinh là những lời mạc khải của Thiên Chúa.

- Tư cách thần linh của Giê-su v́ sinh ra từ một Nữ Trinh.

- Cái chết của Giê-su là để chuộc tội cho nhân loại, và máu của Giê-su là năng lực cứu rỗi (saving power of his blood).

- Thân xác Giê-su sống lại. Ngôi mộ trống là một sự thật cũng như chuyện Giê-su hiện ra sau khi chết.

- Giê-su sẽ trở lại để phán xét nhân loại.

Và Giám mục Spong đưa ra nhận định như sau:

    Ngày nay, tôi thấy những tín lư căn bản này mà chúng ta thường hiểu theo truyền thống, không những chỉ là ngây ngô mà c̣n có thể phải dứt khoát loại bỏ. Trong thế hệ của chúng ta, không một tín điều nào ở trên được các học giả Ki Tô danh tiếng xác nhận.

[Today I find each of these fundamentals, as traditionally understood, to be not only naïve, but eminently rejectable. Nor would any of them be supported in our generation by reputable Christian scholars.]

 

    Khi mà những nhà thần học Công giáo như Uta Ranke-Heinemann, Tin Lành như Mục sư Ernie Bringas, Giám Mục John Shelby Spong và nhiều bậc lănh đạo khác trong Ki Tô Giáo đă nhận thức được rằng, những tín lư mà nền thần học Ki Tô Giáo tạo ra về Giê-su chỉ là những huyền thoại để cho trẻ con tin, hoặc cho những người lớn có đầu óc ở tŕnh độ của trẻ con, th́ tất nhiên Ki Tô Giáo phải suy thoái như chúng ta đă thấy t́nh tạng suy thoái của Ki Tô Giáo trong thế giới tân tiến Âu Mỹ.  Theo dơi tin tức thời cuộc, chúng ta thấy chính Giáo hoàng và hàng giáo phẩm Ca-tô giáo cũng không c̣n tin vào những huyền thoại như trên nữa.  Tuy nhiên  chúng ta không hi vọng là Ki Tô Giáo sẽ biến mất trên thế gian.  Tại sao?

   Cách đây trên một thế kỷ,   Robert G. Ingersoll đă nhận định về sự tồn tại lâu dài của Tin Lành và Ca-tô Rô-MaGiáo như sau (Joseph Lewis, Ingersoll: The Magnificient, p. 140):

     Ca-Tô Rô-MaGiáo c̣n tồn tại lâu dài.  Điều này chứng tỏ cái ǵ?  Nó chứng tỏ rằng quần chúng th́ ngu muội (ignorant) và các linh mục th́ xảo quyệt [cunning]. [Roman Catholicism dies hard.  What does that prove?  It proves that the people are ignorant and that the priests are cunning]; Đạo Tin Lành c̣n tồn tại lâu dài.  Điều này chứng tỏ cái ǵ?  Nó chứng tỏ là quần chúng th́ mê tín và các mục sư th́ đần độn (stupid) [ Protestantism dies hard.  What does that prove?  It proves that the people are superstitious and the preachers stupid.]

   Robert G. Ingersoll được coi như là một nhà tư tưởng tự do và nhà hùng biện nổi danh của Mỹ vào cuối thế kỷ 19 (A celebrated orator of 19th century America).  Ông ta là bạn của 3 Tổng Thống Hoa Kỳ, là người đă có công nhất trong việc làm nở rộ quyền tự do tư tưởng ở Hoa Kỳ. (A personal friend of three U.S. presidents, the individual most responsible for the flowering freethought in the United States.). Bức tượng của ông, ghi công ông, nay được đặt ở Periora, Illinois.

   Nhận định của Robert G. Ingersoll có đúng hay không?  Chúng ta hăy đọc thêm vài nhận định khác của giới thức giả Tây phương.

 

1.     Malachi Martin, một nhà thần học nổi tiếng, đă từng là giáo sư của Viện Nghiên Cứu Thánh Kinh ngay tại Vatican, đă viết như sau trong cuốn The Keys Of This Blood:

    “Trong hầu hết các nước ở Âu Châu, chủ thuyết thế tục hầu như đă toàn thắng.  Trong vùng này, các tôn giáo có tổ chức -Ca Tô, Tin Lành và Do Thái - được coi như là giống nhau ở điểm cùng nhấn mạnh trên sự trông cậy vào những quyền lực tuyệt đối.  Do đó, những tôn giáo này được coi như là đóng góp rất ít hoặc không đóng góp ǵ cho đời sống chính trị, kinh tế và văn hóa  hiện thời của các nước Tây Âu…Giáo hoàng (JPII. TCN) biết rất rơ rằng, trong thế kỷ tới, Ca Tô Giáo sẽ chỉ c̣n tồn tại ở các nước trong thế giới thứ ba.  Từ bao giờ, Ca Tô Giáo chỉ nẩy nở trong đám dân chúng nghèo khổ và ít học.  Tây phương phức tạp không c̣n tiếp nhận sự hẹp ḥi của Ca Tô giáo nữa.  Giáo hoàng biết rơ như vậy.”

   (In most European countries, secularism has already triumphed completely.  In that region, organized religions - Catholic, Protestant and Jewish - are regarded as alike in their insistence to absolutes.  They are considered to have little or nothing to contribute, therefore, to the current political, economic and cultural life of Western European countries… The pope is well aware that, in the next century, Catholicism will survive only in Third World countries.  Catholicism has always flourished only in poor population of low educational quality.  The sophisticated West can take Catholicism’s narrowness no longer.  The pope realizes that.)

 

2.   Adrian Pigott, một học giả Ca-Tô, đă viết như sau trong cuốn Freedom’s Foe - The Vatican (Vatican - Kẻ Thù Của Tự Do):

   “Những tín đồ Ca Tô…được nuôi nấng trong cái mà Tiến Sĩ Barnado gọi là “Bóng tối dày đặc của ư thức hệ La Mă”.. Thất học luôn luôn thịnh hành trong các nước theo Ca-Tô Rô-ma Giáo - nhờ đó mà tập đoàn linh mục có thể phồn thịnh.”

   (Roman Catholics..have been brought up in what Dr Barnado called “The thick darkness of Romanism”..Illiteracy is always prevalent in Romanist countries - to enable Priestcraft to flourish.)

 

3. Linh mục Joseph McCabe, trong cuốn Rome Puts A Blight on Culture (La Mă Đặt Sự Hủy Hoại Trên Văn Hóa), đă để ra nguyên một chương phân tích ảnh hưởng của Ca-tô Rô-ma Giáo trên các nền văn hóa với kết luận:

   La Mă chỉ khoái những kẻ thất học.  Họ bị thuyết phục quá dễ dàng để đi thiêu sống những kẻ “lạc đạo” và hôn hít những thánh tích giả mạo”.

   (Rome loves the illiterate.  They are so easily persuaded to burn “heretics” and kiss bogus relics.)

 

4.   Cách đây hơn 100 năm, Toàn Quyền Đông Dương J. L. de Lanessan, trong cuốn Les Missions et leur Protectorat, trích dẫn bởi, Patrick  J. N. Tuck, đă nhận xét  về thực trạng truyền giáo ở Á Đông như sau:

 “Thật ra, trong hơn 2 thế kỷ mà các hội truyền giáo Ca Tô hoạt động ở Trung Hoa và bán đảo Đông Dương có lẽ họ không cải đạo được quá 10 học giả.  Toàn thể giới trí thức cầm quyền của dân chúng đă tránh né sự truyền đạo của họ.  Đại cương th́ các nhà truyền giáo chỉ tuyển mộ được tín đồ trong những giai cấp thấp nhất, và phần lớn là những kẻ, v́ những lư do này nọ, đă bị xă hội An-Nam ruồng bỏ.

   (In fact, during the two centuries and more that the Catholic Missions have been operating in China and the Indochinese peninsula, they have probably not converted mre than ten scholars in all.  The entire educated and governing class of the population has evaded their proselytism.  In general Catholic missionaries only recruit from among the lowest classes, and mainly among those who, for various reasons have been rejected by Annamese society.)

 

5.    Trong bài “Phật Giáo và Người Việt Nam Hiện Đại”, Như Hạnh chuyển ngữ, Tiến sĩ J. C. Cleary, tốt nghiệp đại học Harvard về Ngôn Ngữ và Văn Minh Đông Phương, đă nhận xét như sau:

   “Người Việt Nam hẳn sẽ ngạc nhiên khi khám phá ra rằng đối với những người Tây phương có đầu óc tiến bộ, chính Thiên Chúa Giáo mới là một mớ huyền thoại lỗi thời, mê tín dị đoan, và những nghi lễ vô nghĩa lư…Ở Tây phương, phần đông các tín đồ Thiên Chúa Giáo sùng tín thường là những kẻ ít học nhất, những thành phần thấp, kém kinh tế trong quần chúng, những kẻ chẳng c̣n có ǵ để mà trông ngóng nữa cả.”

 

6.   Và nữ học giả Ca Tô Joane H. Meehl, sau khi đă nh́n thấy rơ chủ đích và những việc làm của giáo hội Ca Tô từ thế kỷ 4 cho tới ngày nay, đă viết trong cuốn Người Tín Đồ Ca Tô Tỉnh Ngộ (The Recovering Catholic, Prometheus Book, 1995), trang 288:

    Đạo Ca Tô chỉ thịnh hành và phát triển trong đám người nghèo và ngu dốt.  Nó chỉ bị khắc phục bởi giáo dục (mở mang dân trí. TCN) và đời sống kinh tế thoải mái.”

   (Catholicism thrives and grows among the poor and ignorant.  It is overcome by education and economic well-being.)

    Từ những tài liệu trên, chúng ta đă có thể nhận định đúng vấn đề. Ki tô giáo c̣n tồn tại là v́ trên thế giới số người ngu muội và mê tín c̣n nhiều, và số người có đầu óc xảo quyệt cũng như những kẻ ở lớp trên nhưng đần độn cũng vẫn c̣n nhiều.  Tuy nhiên thế giới sẽ biết nhiều hơn về thực chất Ki Tô Giáo.  Việt Nam cũng không ra ngoại lệ v́ không ai có thể che dấu được sự thật măi măi và những người Việt Nam yêu nước yêu dân tộc sẽ không để cho Giáo hội Ca-tô che dấu những sự thật về Giáo hội măi măi.  Hơn nữa, thành tích phi dân tộc của Ca-Tô Rô-ma Giáo ở Việt Nam đă rơ ràng.  Bất cứ dùng phương cách nào, Ca-tô Rô-ma Giáo ở Việt Nam cũng không thể che dấu được những sự thật của một tổ chức đă nổi tiếng là: “hễ phi dân tộc th́ thể nào cũng phản bội dân tộc”.  Đây là nói về Ca-tô Rô-ma Giáo ở Việt Nam như là một tổ chức tôn giáo lệ thuộc Vatican chứ không nói về những cá nhân tín đồ, trong đó chắc chắn có không thiếu ǵ những người yêu dân tộc và trung thành với quốc gia.

 Giáo hoàng John Paul II đă công nhận thuyết Tiến Hóa,
và trên đây là thuyết Tiến Hóa của Công giáo.

 

 

Trần Chung Ngọc
Grayslake, IL.

Ngày 1/11/11

  


 

 

Giới thiệu Tủ sách điện tử (ebook):

 

Nhập Hạnh Bồ Tát

Nhập Hạnh Bồ Tát của Tịch Thiên

Refine  kinh phat  nhap hanh bo tat

More info - by vietsu49 - 125 pages -

· More like this

· Less like this

Kinh Pháp Cú

Kinh Pháp Cú - Lời Phật Dạy

Refine  sutra dhammapada  kinh phap cu

More info - by vietsu49 - 476 pages -

· More like this

· Less like this

 

Ánh Sáng Á Châu

Đời Đức Phật của Edwin Arnold

Refine  anh sang a chau  duc phat

More info - by vietsu49 - 366 pages -

· More like this

· Less like this

 

Cải đạo Á Châu

Cải đạo Á Châu

Refine  cai dao  a chau

More info - by vietsu49  - 165 pages -

·    More like this

·    Less like this

 

Phê b́nh Cải đạo

Phê b́nh Cải đạo

Refine  phe binh  cai dao

More info - by vietsu49 - 102 pages -

·    More like this

·    Less like this

Tông huấn Cải đạo Châu Á

Tông huấn Cải đạo Châu Á

 

   

227

Published by arrangement between Huong Trang Cultural Company Ltd. and the author. All rights reserved. More info - by nguyenminh  - 478 pages

 

384

In ấn và phát hành tại Nhà sách Quang Minh 416 Nguyễn Thị Minh Khai, P5, Q3, TP HCM Việt Nam More info - by nguyenminh  - 290 pages

 

  

 

 

Kính Cáo Cùng Đọc Giả Sách Hiếm và Giao Điểm :

Những bài của tôi, Trần Chung Ngọc, từ xưa tới nay chỉ gửi cho 
giaodiemonline.com và sachhiem.net, ngoài ra không gửi cho bất cứ diễn đàn công cộng nào khác.


V́ những bài đó chỉ cốt phổ biến rộng răi cho nên không có bản quyền, nên ai cũng có thể lấy để phổ biến ở nơi nào họ muốn.  Tôi chỉ có hai yêu cầu đối với những người lấy bài của tôi đăng nơi khác :

- Xin đừng thay đổi đầu đề, cắt xén hay thêm bớt.  
- Xin ghi rơ xuất xứ và Link để đọc giả kiểm chứng bản gốc.

  Xin thành thực cám ơn.

Trần Chung Ngọc
Grayslake, Illinois