CHÚA GIÊ-SU TRONG TÂN ƯỚC

 

Trần Chung Ngọc

 

 

 

   Vài Lời Dẫn Nhập:

 

   Bài viết này có mục đích tŕnh bày một số nét đặc biệt  về “Chúa Giê-su, Chúa của những người theo “đạo Giê-su” (Jesusism)” trong Tân Ước. Giám Mục James A. Pike viết trong cuốn Một Thời Để Cho Sự Thành Thật Của Ki Tô Giáo  cho rằng thời nay, đạo của những người tin Giê-su th́ có thể xếp vào loại “đạo Giê-su” (A Time For Christian Candor, p. 108: IN MODERN TIMES THE RELIGION OF MANY COULD WELL BE  CATEGORIZED AS “JESUSISM”).  Đây chỉ là những đoạn điển h́nh trong Tân Ước để cho chúng ta biết thêm chút ít về Giê-su, ngoài những điều chúng ta thường nghe về Giê-su.  Tin vào Chúa Giê-su mà không biết rơ và sự thật về Chúa th́ đó là cả một sự thiếu sót.  Chúa Giê-su đă chẳng từng nói: “Rồi các ngươi sẽ biết sự thật, và sự thật sẽ cởi trói cho các ngươi” [John 8: 32: Then you will know the truth, and the truth will set you free] hay sao?  Mà sự thật về Chúa th́ có ngay trong Tân Ước.  Vậy vấn đề chính là đọc Tân ước.

 

 

   Trước hết, người theo đạo Giê-su nhưng chưa hề đọc Tân Ước, hay chỉ được dạy vài điều trong Tân Ước,  được dạy như thế nào và tin ǵ ở Chúa Giê-su?   Họ được dạy để tin rằng Giê-su là Đấng Cứu Thế, là hiện thân của một vị Thần của dân tộc Do Thái mà họ gọi là Thượng đế, xuống đầu thai trong một trinh nữ, và sinh ra trong một chuồng súc vật ở Bethlehem để cứu chuộc cái gọi là “ tội tổ tông” của nhân loại.

    Tuy nhiên, nếu chúng ta đọc kỹ Cựu Ước th́ chúng ta phải thấy rằng, cái gọi là “tội tổ tông” đó chính là trách nhiệm của Thượng đế, nhưng ông ta lại đổ trên đầu con người. Thật vậy, Thượng đế tạo ra cặp vợ chồng nguyên thủy, Adam và Eve, trần truồng, mù và ngu dốt, không biết thế nào là phải là trái, do đó mới nghe lời của một con rắn biết nói tiếng người, một con rắn đi đứng bằng đuôi trước khi bị Thượng đế phạt phải ḅ sát đất, và ăn trái cây trên cây hiểu biết (the tree of the knowledge of good and evil).  V́ cái tội ngu dốt, không biết thế nào là phải với trái, đúng hay sai, do chính ư định của Thượng sáng tạo ra như vậy, nên mới trái lời Thượng đế mà không biết là ḿnh trái, thế mà Thượng đế lại đổ tội cho Adam và Eve không nghe lời, đi ăn trái cấm để mở mắt ra và sáng suốt như Thượng đế. “Tội tổ tông” là tội con người không chịu ở trong cảnh trần trường, mù ḷa, ngu dốt, mà lại muốn khôn ngoan như Thượng đế  [Genesis 3: 5:  For God knows that in the day you eat of it your eyes will be opened, and you will be like God, knowing good and evil].   Thực tế cho thấy rằng v́ Adam ăn trái cấm nên con người ngày nay mới không c̣n ngu dốt, mù quáng, trái lại c̣n thông thái, sáng suốt hơn Thượng đế cả trăm, cả vạn lần.  Sự tiến bộ trí thức của nhân loại và khoa học đă làm được rất nhiều điều có ích cho con người, nhưng Thượng đế đă làm ǵ có ích cho nhân loại ngoài điều muốn con người phải ở trong cảnh ngu dốt và phải yêu ông ta hết ḷng, hết sức, hết linh hồn, trong khi chẳng có ai biết ông ta là cái ǵ, ở đâu, h́nh dáng như thế nào?

   Giê-su tự nhận là Con của một Thượng Đế như vậy trước một nhóm nhỏ 12 người theo ông ta, phần lớn cũng ngu dốt như tên đánh cá Phê-rô (Peter hay Simon), rồi ông ta thuyết giảng về một nước Trời hay nước Chúa, thực ra đó chỉ là sự mơ tưởng của ông ta về một Jerusalem mới, nơi đó sẽ có tràn đầy sữa và mật và dưới quyền thống trị của Thượng đế..  Nhưng những lời thuyết giảng này không cứu được một ai, và chính người Do Thái lại không tin.  Thần học Ki Tô Giáo cho rằng con người không thể được cứu trừ phi có người hi sinh trả giá để chuộc cái "tội tổ tông", thật ra là tội của Thượng đế,  cho họ.  Cái giá này là sự hi sinh vĩ đại của Giê-su, chịu một cái chết đau khổ bị đóng đinh trên thập giá.  Ba ngày sau, để chứng tỏ sự chiến thắng của ḿnh trên tội lỗi và thần chết, Giê-su đă tự ḿnh sống lại, hiện thân trước vài tông đồ, rồi bay trở lại lên trời ngồi trên ngai, trên tay phải của Thượng đế.   Đến ngày tận thế, Giê-su sẽ trở lại trần gian để phán xét người sống cũng như người chết, làm cho xác chết sống lại, quyết định xem những ai xứng đáng được hưởng đời sống đời đời bên ông ở trên thiên đường, những người tin ông, và những ai bị luận phạt, phải đầy đọa vĩnh viễn dưới hỏa ngục, những người không tin ông!

    Nhưng cho tới nay, sau 2000 năm, với chính sách truyền đạo tàn bạo của Ki Tô Giáo, với chính sách thực dân của các nước Tây phương, linh mục đến trước, binh lính đến sau, mà số người “không tin” Giê-su trên thế giới, khoảng trên 4 tỷ người, vẫn đông ít ra là gấp đôi số người “tin” Giê-su, và càng ngày càng có nhiều người hơn tham gia đoàn thể của những người không tin.  Cách đây vài chục năm, số người vô thần ở Mỹ không đáng kể.  Ngày nay trên nước Mỹ có khoảng 14% – 16%, nghĩa là khoảng 40 – 50 triệu người vô thần.  Tỷ lệ người Tin Lành, với mấy trăm hệ phái khác nhau, tổng cộng ở Mỹ trước đây là trên 60%, ngày nay tụt xuống c̣n dưới 50%.  Âu Châu, cái nôi của Ki Tô Giáo trước đây, nay sống như là không biết đến Thiên Chúa mà cũng chẳng cần đến sự cứu rỗi của Giê-su nữa, như Giáo hoàng Benedict XVI đă than phiền!.  Và Ki Tô Giáo đang đi kiếm ăn ở những ốc đảo nghèo khổ, “ngu dốt” ở ngoài Âu châu, Mỹ châu.

    Đức tin trong Ki-Tô Giáo, Ca-Tô cũng như Tin Lành,  được xây dựng trên quan niệm về "tội tổ tông" (original sin) và huyền thoại "Giê-su sống lại" của Thánh Phao-Lồ (Paul), dẫn đến vai tṛ "cứu rỗi" của Giê-su.  Đối với người ngoại đạo, đức tin trên vừa làm cho họ lắc đầu mỉm cười, vừa là một thách đố trí tuệ đối với họ, v́ họ không thể nào hiểu nổi tại sao trong thời buổi này mà, không kể hàng triệu người thuộc lớp dân kém hiểu biết và ít học nhất trong mọi nước trên thế giới, nhất là trong những nước nghèo khổ kém phát triển, vẫn có những người tự xếp ḿnh vào giới trí thức c̣n tin như vậy.

   Họ không thể hiểu v́ trước những bằng chứng khoa học về nguồn gốc con người và vũ trụ mà không ai có thể phủ nhận, kể cả Ṭa Thánh Vatican, thuyết Thiên Chúa sáng tạo ra vũ trụ và muôn loài trong 6 ngày cách đây khoảng 6000 năm, cũng như vai tṛ "cứu rỗi" của Giê-su, đă trở thành vô nghĩa, ít ra là trong giới hiểu biết, ở trong cũng như ở ngoài Ki Tô Giáo.

   Ngày nay, không ai có thể phủ nhận sự kiện là, vũ trụ đă thành h́nh cách đây khoảng 13.7 tỷ năm, và trái đất mà chúng ta sống trên đó đă có tuổi khoảng 4.5 tỷ năm.  Trong vũ trụ th́ trái đất của chúng ta chỉ là một hạt bụi, và con người cũng chỉ do các sinh thể ban khai  tiến hóa tạo thành, có nguồn gốc từ những hạt bụi của các ngôi sao khi vũ trụ mới thành h́nh.  Là một chuyên gia về thiên văn học tại đại học Virginia, Giáo sư Trịnh Xuân Thuận viết trong cuốn “L'Infini Dans La Paume de la Main”: "Tiến hóa từ những cát bụi của những ngôi sao, chúng ta chia sẻ cùng một lịch sử vũ trụ với những con sư tử trong những vùng hoang mạc và những bông hoa tỏa mùi thơm" (Poussières d'étoiles, nous partageons la même histoire cosmique avec les lions des savanes et les fleurs de lavande).  Những khám phá trong các ngành khoa học, đặc biệt là những môn Cổ Sinh Vật Học, Sinh Học, Vật Lư… đă chứng minh rằng con người hiện đại đă xuất hiện trên trái đất cách đây hơn 2 triệu năm, và tổ tiên xa của loài người  cũng đă có mặt trên trái đất cách đây khoảng 6 triệu năm.

 

   Niềm Tin Của Người Ca-Tô & Tin Lành:

   Chúng ta hăy đọc người Ca-tô viết về cốt tủy niềm tin về Giê-su của người Ca-tô.

   Ông Nguyễn Chính Kết, một trí thức Ca-tô, được giới thiệu là một giảng sư thần học Thiên Chúa Giáo, viết như sau:

   Theo niềm tin của người Kitô hữu, Đức Giêsu chính là Đấng Cứu Thế mà các ngôn sứ đă từng loan báo hàng mấy trăm năm trước khi Ngài sinh ra. V́ thế, người Kitô hữu, những kẻ tin và sống theo giáo lư của Ngài, tin rằng Ngài chính là Ngôi Hai Thiên Chúa như chính Ngài đă tự xưng, đồng thời là người duy nhất đem lại ơn cứu độ phổ quát cho tất cả mọi người thuộc mọi nơi mọi thời trong nhân loại. Niềm tin này đă được định tín trong một tín điều, và được nhắc đi nhắc lại trong các văn kiện của các Công Đồng Chung, của các vị giáo hoàng, và gần đây nhất là tông huấn Ecclesia in Asia của Đức Gioan Phaolô II (ngày 6-11-1999) và tuyên ngôn Dominus Jesus của Hồng y Joseph Ratzinger (ngày 6-8-2000). Hai văn kiện sau cùng này nhấn mạnh chủ trương phải công bố Đức Giêsu là vị Cứu Tinh duy nhất và phổ quát của nhân loại.

   Tôi đă từng viết: Trong Ca-tô Giáo chỉ có “cứu rỗi” chứ không có chuyện “cứu độ”.  Thật vậy, trong lănh vực học thuật, “cứu rỗi” và “cứu độ” có ư nghĩa hoàn toàn khác nhau. Nhập nhằng “cứu rỗi” với “cứu độ” là một thủ đoạn của Ca-tô trong thời gian gần đây, lấy từ “cứu độ” cũng như một số quan niệm khác trong Phật Giáo để khoác lên ḿnh Chúa Giê-su và Ca Tô Giáo của họ, một thủ đoạn không lấy ǵ làm lương thiện. (Link http://giaodiemonline.info/noidung_detail.php?newsid=5778 )

   Bây giờ chúng ta hăy đọc “Hội Thánh Tin Lành Úc Châu” giảng ǵ về niềm tin vào Chúa Giê-su:     Thưa quư thính giả:

   Chúa Jêsus, Ngài là ai? Ngài từ đâu đến? Ngài đă làm ǵ để cứu cả nhân loại, trong đó có quư vị và tôi ra khỏi án phạt đời đời của Thượng Đế.

   Để t́m hiểu điều này, chúng ta cùng nhau xem lại phần thứ nh́ trong bản tin mà thiên sứ Gáp-ri-ên loan báo với Ma-ri, do sử gia Lu-ca kư thuật lại như sau. Thiên sứ Gáp-ri-ên nói:

   “Con trai đó rất cao quư, sẽ được xưng là Con Thượng Đế. Thượng Đế sẽ ban cho Ngài ngôi vua của Đa-vít. Ngài sẽ cai trị dân Y-sơ-ra-ên măi măi; nước Ngài tồn tại đời đời.”

   Thưa quư thính giả:

   Khi thiên sứ Gáp-ri-ên báo tin cho Ma-ri, nàng trinh nữ đức hạnh vẹn toàn vùng Na-xa-rét, rằng nàng sẽ mang thai, sau 9 tháng sẽ hạ sanh một bé trai, được đặt tên là Jêsus và bé trai này lớn lên sẽ là Chúa Cứu Thế của cả nhân loại blah..blah..blah.

   

    Chúng ta thấy rơ sự khác biệt giữa Ca-tô Rô-ma Giáo và Tin Lành.  Người Ca-tô tin tất cả những ǵ trong Kinh Tin Kính và trong những tông huấn và tuyên ngôn của Giáo hội mẹ.  C̣n Tin Lành th́ tin tất cả những ǵ viết trong Kinh Thánh và tùy tiện diễn giải theo mục đích, thí dụ như trong đoạn trên: Giê-su vừa hưởng ngôi vua David để cai trị dân Israel măi măi, vừa là Chúa Cứu Thế của cả nhân loại. Sự dăn nở của ngôn từ đă lên đến mức tuyệt đối, dù rằng trong Tân Ước không có chỗ nào viết Giê-su là “Chúa cứu thế của cả nhân loại”

   Vũ trụ học trong Kinh Thánh khẳng định lời Chúa không thể sai lầm là trái đất là một mặt phẳng có 4 góc, trên là một ṿm trời cứng bằng đồng thau, có những cánh cửa để khi Thiên Chúa muốn mưa th́ sai các thiên thần mở cửa, và trái đất đứng yên, mặt trời luôn luôn xuất hiện từ phương Đông rồi di chuyển sang phương Tây trên ṿm trời đó.  Chỉ có “nhân loại” thuộc Ki Tô Giáo mới sống trên một trái đất như vậy.  Chúng ta thấy rằng, ngay cả Chúa Cha, đấng toàn năng toàn trí sáng tạo ra vũ trụ muôn loài cũng không biết là quả đất tṛn và cho đến thế kỷ thứ 4, Thánh Augustine, bậc Thánh của Ca-Tô Giáo được coi là ông tổ của nền Thần học Đức Tin Ca-Tô,  có trí tuệ siêu việt như Giáo hội và con chiên thường ca tụng v..v.., cũng c̣n không quan niệm nổi một trái đất có h́nh cầu qua lời phát biểu: “Không thể nào có chuyện có người ở phía bên kia của trái đất, v́ Thánh Kinh không ghi lại bất cứ một giống người nào như vậy trong các hậu duệ của Adam” (It is impossible there should be inhabitants on the opposite side of the earth, since no such race is recorded by Scripture among the descendants of Adam). Lẽ dĩ nhiên, Thánh Kinh không hề ghi bất cứ điều ǵ về dân Việt Nam.  Vậy, trước đó gần 400 năm, “nhân loại” của Chúa Con chỉ là những quốc gia giới hạn trong tầm nh́n của Giê-su, nghĩa là không ra ngoài những quốc gia trong miền Trung Đông, và sau khi đă chết nằm yên dưới mồ, Chúa lại nhỏm dậy truyền cho các đệ tử phải đi loan báo tin mừng trong mọi quốc gia, th́ mọi quốc gia này cũng chỉ là những bộ lạc Do Thái và vài nước quanh quẩn trong miền Trung Đông mà thôi, chứ tuyệt đối không phải là mọi quốc gia trên một trái đất h́nh cầu. Điều này thật là rơ ràng khi chúng ta đọc vài câu Chúa dạy các tông đồ trong Tân ước sau đây:

Matthew 10: 5-7, “Không được đi đến nơi nào có dân Gentiles, và không được vào thành phố nào của dân Samaritan, mà chỉ được đi đến những con dân Do Thái bị lạc. Trong khi đi hăy rao truyền tin Nước Trời đă gần đến rồi.”  

Matthew 15:24:Ta được phái xuống trần chỉ để cứu đàn chiên Do Thái bị lạc mà thôi Matthew 10: 23: “Ta bảo đảm với các ngươi, các ngươi chưa đi hết các thành phố của Do Thái th́ Con của Người (nghĩa là Ta: Giê-su) đă đến rồi”. [Nghĩa là Giê-su đă trở lại trần gian rồi “Second coming”]

    Đó là tất cả những ǵ Giê-su muốn rao truyền, mọi luận điệu thần học khác về Giê-su chỉ là do mánh mưu ngụy tạo của Ki Tô Giáo.  Vậy mà cả Ca-tô Rô-ma Giáo lẫn Tin Lành đều tin Giê-su là “Chúa Cứu Thế”, nhưng mà tại sao phải cứu thế giới mà cứu như thế nào?  Nói ngắn gọn, Tin Lành và Ca-tô Rô-ma Giáo cùng tin vào những luận điệu thần học ngụy tạo của Ki Tô Giáo, cùng tin vào một huyền thoại về Jesus (Giê-su), con một người thợ mộc Do Thái tên là Joseph, huyền thoại cho rằng Giê-su là con của Thượng đế, xuống trần chịu chết trên một cái giá gỗ có h́nh chữ thập để chuộc cái gọi là “tội tổ tông” cho nhân loại, và có khả năng “cứu rỗi phần hồn” của những người chết, nghĩa là cho phần xác của họ (không biết đă chết từ bao giờ) nhập với phần hồn của họ được giữ trong một kho chứa (không biết ở đâu), rồi bốc họ lên thiên đường ( cũng không biết ở đâu), sống cuộc sống đời đời bên Chúa, ngày ngày hưởng nhan thánh Chúa, những người khi c̣n sống đă tin ông ta là đấng cứu chuộc cho ḿnh. Đây là điều mà Ki Tô Giáo nói chung gọi là “Tin Mừng Phúc Âm” để mê hoặc những đầu óc yếu kém.. 

   Chỉ có điều, đối với tuyệt đại đa số con người trên thế giới th́ “Tin Mừng Phúc âm” chỉ là những điều mê tín cách đây 2000 năm của dân tộc Do Thái, v́ ngày nay, những chuyện như “tội tổ tông”, “Giê-su sinh ra từ một nữ trinh”, “Giê-su chết đi rồi sống lại bay lên trời ngồi bên tay phải Cha ông ta”, “linh hồn lên thiên đường và xác chết ngày sau sống lại” v…v… đều thuộc loại chuyện “Chú Cuội ngồi trên cung Hằng”, hoặc chuyện “lông rùa, sừng thỏ”, và v́ "cứ tin ở Chúa" chỉ có thể áp dụng cho con người sinh sau Chúa, nghĩa là cách đây khoảng 2000 năm, trong khi lịch sử nhân loại đă trải dài ít ra là vài triệu năm, và đă có hàng tỷ người sinh ra trước Chúa.  Sau đây chúng ta hăy đọc những lời mê sảng về “Chúa cứu thế” trên vài trang web của Ki Tô Giáo.

- http://www.hoithanhnewyork.org/Tim_hieu/TaiSaoChuaJesusLaConDCT3.html

   Tâm-tánh Ngài [Giê-su] đă đánh mạnh vào trí-óc mọi người quen biết Ngài, kể cả kẻ thù-nghịch Ngài. Họ nh́n nhận rằng chưa hề nghe ai giảng dạy khôn ngoan như Ngài. Những người luôn sống với Ngài tuyên bố rằng Ngài đầy dẫy ân điển và chân lư. Ngay cả thời nay, những người không tin Ngài cũng tôn-quí và kính trọng Ngài, coi Ngài là người tốt nhứt từng sống ở đời nầy. [sic]

   Khi Chúa Giê-xu phán rằng Ngài là Con Đức Chúa Trời, th́ Ngài phải biết rằng Ngài thật là Con Đức Chúa Trời, bằng không th́ Ngài thật đă cố quyết toan lừa dối người ta. Nếu Ngài đă lừa dối th́ Ngài thật gian trá và cuối cùng người ta sẽ nhận biết.

- http://www.gotquestions.org/Viet/Viet-Jesus-Christ.html

   Vậy th́ Chúa Giê Xu đă tuyên bố Ngài là ai? Kinh Thánh nói Ngài là ai? Trước tiên hăy xem những lời Chúa Giê Xu nói trong Giăng 10:30 “ Ta với Cha ta là một”.

   Chúa Giê Xu được xưng là Đức Chúa Trời rơ ràng không thể chối căi. Nếu Ngài không phải là Đức Chúa Trời th́ Ngài là kẻ nói dối do đó không phải là tiên tri, giáo sư tốt, hay người tin kính tốt.

 - http://gxdaminh.net/chia-s/350-bai-35-chua-giesu-la-ai.html

 

 

   Giê-su là ai? Người là tôi tớ Thiên Chúa được sai đến để hoàn tất mọi niềm hy vọng cho Is-ra-el. Ngài liên kết với dân Thiên Chúa được tuyển chọn đến độ Ngài mang tên của họ, Is-ra-el (Is,49,3). Ngài được ẩn dấu trong "ống tên" của Chúa Cha (Is 49,2). Và khi đến thời thuận tiện, Ngài tự tỏ ḿnh ra cho Is-ra-el và cống hiến cho họ sự chia sẻ vinh quang của Chúa Cha.

   Giê-su là ai? Ngài không chỉ hoàn thành lời hứa đă lâu là khôi phục Is-ra-el, Ngài c̣n là "ánh sáng muôn dân" để đem ơn cứu độ đến tận cùng trái đất (Is 49,6). T́nh yêu Thiên Chúa quá cao cả v́ sự sáng tạo để Ngài trở thành người mang sự cứu độ đến tận cùng trái đất. Qua Chúa Giê-su, mỗi người trên thế giới giờ đây được mời gọi đi vào giao ước với Thiên Chúa.

   [Isaiah 49,6 viết: “I also give you as a light to the Gentiles”  Dân Gentiles chỉ là một sắc dân nhỏ ở vùng Trung Đông khi đó, không phải là “muôn dân”.  Ki Tô Giáo rất xảo quyệt, dịch láo Kinh Thánh rất nhiều và dựng lên nhiều chuyện để lừa bịp, truyền đạo cho đám dân ngu]

   Điều thú vị là ngày nay, các học giả Tây phương nghiên cứu Thánh Kinh đă có thể khẳng định là Ngài [Giê-su] đă nói nói sai sự thật rất nhiều, nôm na gọi là nói láo, và Ngài không phải là Đức Chúa Trời, cũng không phải là tiên tri, giáo sư tốt, hay người tin kính tốt.  Chứng minh?

 

   Giới Trí Thức Tây Phương [và Đông Phương] Biết Ǵ Về Giê-su ?

 

     Vậy bây giờ chúng ta hăy t́m hiểu xem Tây phương, cái nôi của Ki Tô Giáo, và do đó Đông phương, một lục địa đă từ chối Ki Tô Giáo, biết ǵ về nhân vật  Giê-su trong Tân Ước.  Trước hết, chúng ta cần ghi nhận rằng, ngày nay những người nghiên cứu Tân Ước, ở trong cũng như ở ngoài giáo hội, đều đồng ư với nhau ở những điểm sau đây về Tân Ước:

 

1. Những thư của Paul được viết vào khoảng 20 năm sau khi Giê-su chết và không hề viết ǵ về cuộc đời của Giê-su: nơi sinh, nơi giảng đạo, nơi bị hành h́nh v..v.. và c̣n viết rằng Giê-su là con của Joseph và Maria, sinh ra từ một người đàn bà (born of a woman).

2. Trong 4 phúc âm th́ phúc âm Mark được viết sớm nhất, vào khoảng 40 năm sau khi Giê-su chết, và Mark cũng không viết ǵ về sự sinh ra của Giê-su từ một trinh nữ cũng như về gia hệ của Giê-su.
3. Hai phúc âm Matthew và Luke được viết vào khoảng cuối thế kỷ đầu, nghĩa là khoảng 70 năm sau khi Giê-su chết. 90 %  nội dung là lấy của Mark và thêm vào đó chuyện Giê-su được sinh ra từ Maria đồng trinh và viết về gia hệ của Giê-su. Thêm vào với mục đích ǵ, ngày nay các học giả nghiên cứu Thánh Kinh đă rơ.

4. Phúc âm John được viết vào đầu thế kỷ thứ hai, có thể gần 100 năm sau khi Giê-su chết, và cũng không viết ǵ về sự sinh ra của Giê-su.

5. Cả 5 tác giả trên đều không phải là tông đồ của Giê-su, không trực tiếp biết Giê-su là ai, cho nên chỉ viết lại những chuyện đồn đại thay đổi thêm thắt theo ư kiến và chủ đích riêng của ḿnh.

 

   Nghiên cứu Tân Ước, các học giả Tây phương đă biết ǵ về con người Giê-su?  Trong cuốn     “Giê-su Nguyên Thủy” (The Original Jesus, 1995), hai tác giả Elmar R. Gruber và Holger Kersten viết, trang 3:


   
Hầu như không có đề tài nào khác gây sôi nổi trong thế giới Tây phương như là nhân vật “Giê-su ở Nazareth”; hầu như không có đề tài nào khác đă đưa đến sự hiện hữu của nhiều cuốn sách như vậy, hoặc đến những sự tranh luận sôi nổi và nồng nhiệt như vậy. Tuy vậy, nhân cách của con người Giê-su lịch sử được bao phủ bởi một bức màn đen tối dày đặc. Trong 15 thế kỷ, chúng ta chỉ có những chuyện kể về Giê-su theo luận điệu thần học chính thức của giáo hội, viết ra với mục đích củng cố đức tin Ki-Tô cùng lôi cuốn người ngoại đạo vào Ki Tô giáo....  Trong thế kỷ 19, lần đầu tiên Tân Ước được đưa ra làm chủ đề nghiên cứu trí thức. Đây là sự bắt đầu của công cuộc khảo cứu có hệ thống về cuộc đời của Giê-su.

   Năm 1835 David Friedrich Strauss đă xuất bản một cuốn sách nhan đề “Cuộc Đời Của Giê-su”, gây nhiều ảnh hưởng. Trang bị với những quan điểm phân tích thuần lư và với tinh thần không thỏa hiệp, Strauss đă thẳng thắn bác bỏ tích cách chính xác lịch sử của các phúc âm. Đối với ông, những điều viết trong phúc âm chỉ là những truyền thuyết và những chuyện sùng tín về h́nh ảnh con người Giê-su, lấy ư từ Cựu Ước. Sự chống đối tính cách xác thực của phúc âm như trên c̣n đi xa hơn vào khoảng giữa thế kỷ 19. Bruno Bauer loại hẳn h́nh ảnh của Giê-su trong công việc nghiên cứu lịch sử, tuyên bố rằng nhân vật chính trong Tân Ước là một phát minh huyền thoại. Giê-su và Paul (Phao Lồ) chỉ là những giả tượng văn chương; và Ki Tô Giáo được coi là tạo ra bởi một nhóm cuồng tín pha chế đức tin xung quanh hai nhân vật phát minh từ những truyền thống tôn giáo Hi Lạp, Do Thái và La Mă.

   Ngày nay chúng ta có đến hơn 80.000 tác phẩm chuyên khảo về Giê-su, nhưng tác dụng của chúng để soi sáng nhân vật Giê-su lịch sử thật quả là vô cùng khiêm nhường. Ai là Giê-su? Ông ta sinh ra bao giờ? H́nh dáng ông ta ra sao? Khi nào ông ta bị đóng đinh trên thập giá? Bao giờ, ở đâu và ông ta chết như thế nào? T́m kiếm giải đáp cho những câu hỏi trên đă trở thành một vấn đề không giải quyết nổi. Trong những cuốn sách viết trong hai thế kỷ đầu hầu như không có cuốn nào nhắc đến Giê-su như là một con người thực sự hiện hữu. Những nguồn tài liệu về sau toàn là những tác phẩm thần học, dựa trên niềm tin không thắc mắc: Giê-su là con đấng Cứu Tinh (của dân Do Thái mà thôi. TCN) và là con của Thần Gia-vê (thần của dân Do Thái. TCN). Do đó, hầu như không có những tác phẩm thực sự vô tư về Giê-su, và cho tới ngày nay, công cuộc nghiên cứu trí thức cũng không ở vị thế có thể khẳng định là Giê-su sinh ra năm nào. Hầu như không có tài liệu nào nói về cuộc đời niên thiếu của Giê-su, một giai đoạn quan trọng làm nền tảng tạo ra những cá tính của con người. Ngay cả những chuyện kể về khoảng thời gian ngắn ngủi ông ta tiếp xúc với quần chúng cũng không nói ǵ nhiều về tiểu sử của ông ta. Có vẻ như là ông ta không được các sử gia đương thời biết tới, hay ít nhất là không đáng để nhắc tới. Vậy làm sao mà các sử gia này không hề biết tới những phép lạ hoặc những hiện tượng kỳ lạ như được kể trong phúc âm?

   [Gruber, Elmar R. & Kersten, Holger, The Original Jesus: The Buddhist Sources of Christianity, Element Books, Inc., Rockport, MA, 1995, pp. 3-4.: Hardly any other theme has caused such a stir in the Western world as the person of “Jesus of Nazareth”; hardly any other theme has led to the writing of so many books, or such animated and passionate discussions.  And yet the personality of the historical Jesus is veiled in profound darkness.  For a millennium and a half there were only accounts depicting Jesus in accordance with official Church theology, written with the objective of strengthening Christians’ faith or inducing other to turn to Christianity... During the nineteenth century the New Testament was subjected to scholarly investigation for the first time.  It was the beginning of systematic research into the life of Jesus.. .

 In 1835 David Friedrich Strauss published his influential book The Life of Jesus (Das Leben Jesu).  Armed with uncompromisingly critical rational views, he bluntly rejected the historical factuality of the Gospels.  For Strauss they were nothing but legends and pious stories about the figure of Jesus, inspired by the Old Testament.  Such opposition went further at the mid-nineteenth century.  Bruno Bauer completely banned the figure of Jesus from historical research, simply declaring that the central figure in the New Testament was a mythical invention.  Jesus and Paul were said to be nothing but literary fictions; and Christianity was seen as having been created by a fanatical group which concocted the faith around those two invented figures out of Jewish, Greek, and Roman religious traditions... Today there are well over 80000 monographs on Jesus, but their impact in terms of illuminating the historical figure is modest in the extreme.  Who was Jesus?  When he was born?  What did he look like?  When he was crucified?  When how, and where did he died?  Finding answers to those questions soon turned out to be an insoluble problem.  In the books written during the first two centuries AD there is hardly any mention of Jesus as a real human being.  The later sources are almost exclusively theological writings, which take for granted a belief in Jesus Christ as the Messiah and Son of God.  So truly impartial written testimony is practically non-existent, and scholarship in thus not in a position, even today, to say in which year Jesus was born... Hardly any attention is paid in the canonical Gospels of Jesus’ childhood and youth, a phase of life of such importance for the formation of a person’s character.  Even in the accounts of the brief period of his public impact there is only very sparse biographical information about him.  It seems as if he was almost completely unknown to the historians of his time, or at least not worth mentioning.  How is it possible that they paid no attention to the amazing miracles and extraordinary events recorded in the Gospels.] Link http://dharmaduta.multiply.com/reviews/item/6

  V́ con người Giê-su lịch sử được bao phủ bởi một bức màn đen tối dày đặc, và trong 15 thế kỷ, chúng ta chỉ có những chuyện kể về Giê-su theo luận điệu thần học chính thức của giáo hội, viết ra với mục đích củng cố đức tin Ki-Tô cùng lôi cuốn người ngoại đạo vào Ki Tô giáo... cho nên, nếu chúng ta đặt một câu hỏi then chốt: Giê-su là ai? th́ câu trả lời thật là dễ dàng đối với những tín đồ Ki Tô Giáo, Ca-Tô cũng như Tin Lành: “Chúa tôi.”, v́ họ chỉ được dạy như vậy và tin có vậy. Nhưng nếu chúng ta hỏi tiếp: “Chúa tôi là ai?” th́ có lẽ tín đồ Ki Tô Giáo sẽ không trả lời v́ không biết trả lời ra sao. Nhưng phần chắc là, do được dạy nhồi sọ từ nhỏ, họ sẽ nh́n chúng ta với một cặp mắt khinh khi, cho rằng chúng ta đích thật là những kẻ mọi rợ, chưa biết đến “tin mừng phúc âm” trong khi họ chưa bao giờ đọc hết phúc âm và cũng không biết trong phúc âm có những ǵ, ngoài vài điều vụn vặt chọn lọc được rao giảng trong nhà thờ, và trong sách báo tuyên truyền một chiều của Ki-Tô giáo.

   Vậy th́ trong ṿng 200 năm nay, các học giả Tây phương nghiên cứu về nhân vật Giê-su qua cồ sử Do Thái, qua Tân Ước v…v… đă có những kết luận ǵ về Giê-su?  Các học giả không thể kết luận là Giê-su đă sinh ra ngày nào, năm nào, nhưng đă có thể kết luận khá nhiều về con người Giê-su như được viết trong Tân Ước.  Học giả  Russell Shorto, sau khi duyệt các công cuộc nghiên cứu về Giê-su trong hai thế kỷ nay đă viết trong cuốn “Sự Thật Trong Phúc Âm” (Gospel Truth, Riverhead Books, New York, 1997) như sau, trang 14:

   Các học giả đă biết rơ sự thật từ nhiều thập niên nay – rằng Giê-su chẳng ǵ khác hơn là một người thường sống với một ảo tưởng  – họ đă dạy điều này cho nhiều thế hệ các linh mục và mục sư Nhưng những vị này vẫn giữ kín không cho đám con chiên biết v́ sợ gây ra những phản ứng xúc động dữ dội trong đám tín đồ. Do đó, những người c̣n sống trong bóng tối là những tín đồ Ki Tô b́nh thường.

   [Scholars have known the truth – that Jesus was nothing more than a man with a vision – for decades; they have taught it to generations of priests and ministers, who do not pass it along to their flocks because they fear a backlash of anger.  So the only ones left in the dark are ordinary Christians.]

 

   Cho nên chúng ta không lấy ǵ làm lạ khi thấy các tín đồ Ki-tô chỉ tin chứ biết rất mù mờ về Giê-su, v́ họ, ở Âu Mỹ, bị các “bề trên” dấu kín những sự thật về Giê-su, dù rằng “bề trên” cũng đă biết rơ sự thật.  C̣n ở các nước bị thực dân xâm chiếm trước đây, trong đó có Việt Nam, phần lớn “bề trên” cũng mù mờ như là con chiên của họ. Và họ cứ đời này sang đời khác truyền lại cho các lớp người sau những điều mà họ được cấy vào đầu.  Họ không hề biết rằng họ đă đặt niềm tin trên những luận điệu thần học ngụy tạo, dối trá của Giáo hội, và một niềm tin như vậy th́ thực ra có thể gọi là “đức tin” [faith] hay không?. 

   Nhưng ảo tưởng của Giê-su là ảo tưởng như thế nào? Đó chính là Tâm Lư Bệnh Hoạn về Những Ảo Tưởng Hăo Huyền về Quyền Lực hay Toàn Năng [Megalomania =  A psycho-pathological condition in which fantasies of wealth, power or omnipotence predominate] và cái tâm lư bệnh hoạn này đă tạo thành tâm điểm mà mọi hành động của Giê-su đều xoay quanh. Chính cái ảo tưởng này đă khiến cho Giê-su tưởng ḿnh là “con duy nhất của Thượng đế”, “có nhiệm vụ cứu người Do Thái ra khỏi tội lỗi để làm ḥa với ông cha tưởng tượng của Giê-su v́ ngày tận thế đă gần kề”.  Đó là những ǵ Tân Ước đă viết rất rơ cho những ai đọc kỹ Tân Ước.  Nhưng về sau, để truyền bá, Ki Tô Giáo đă kéo dài (stretch) những điều hoang tưởng của Giê-su ra thành “khả năng chuộc tội cho nhân loại”, “đấng cứu thế”, “sẽ trở lại trần phán xét thiên hạ””  v…v…

   Một số bác sĩ chuyên ngành phân tâm học như các bác sĩ George de Loosten, William Hirsch, Binet-Sanglé, Tiến sĩ Emil Rasmussen v..v.. cho rằng những ảo tưởng trên là của một  người bị bệnh tâm thần, mắc bệnh chứng hoang tưởng (paranoia).  Bệnh chứng này bắt nguồn từ một nguồn gốc lư lịch không mấy tốt đẹp của Giê-su [là đứa con hoang], một tâm cảnh cuồng tín tôn giáo của Giê-su khi ông đọc và tuyệt đối tin những điều trong Cựu Ước, sinh ra nhiều ảo giác và tự cho ḿnh những quyền năng thần thánh, vai tṛ cứu chuộc nguyên tội, rửa sạch tội lỗi của dân tộc Do Thái, chỉ dân tộc Do Thái mà thôi,  để dân tộc này làm lành với Thần Gia-vê của họ v..v.. Tóm tắt những khảo cứu về tâm bệnh của Giê-su như trên đă được tŕnh bày trong [http://www.sachhiem.net/TCN/TCNtg/Giesu/Giesulaai.php.] với nhiều chi tiết hơn.   Cho nên chúng ta không lấy ǵ làm lạ khi thấy Giê-su có những tư tưởng hoàn toàn trái ngược nhau, độc ác như ông Cha hờ của ông ta trong Cựu Ước, như sẽ được chứng minh khi tôi trích dẫn những câu Giê-su nói từ Tân Ước.

    Với ảo tưởng trên, Giê-su tin rằng ḿnh có nhiệm vụ cứu người Do Thái khỏi tội lỗi với những lời kêu gọi người dân Do Thái hăy thống hối để làm nguôi sự giận dữ của vị Thần Do Thái, làm ḥa với Thần, v́ ngày tận thế đă gần kề,  sẽ xẩy ra khi một số người theo Giê-su c̣n sống.  Hermann Samuel Reimarus  nhận định:

    Tất cả những điều rao giảng của Giê-su có thể nhận ra rơ ràng.  Chúng nằm trong hai câu có ư nghĩa y hệt nhau: “Hăy thống hối, và tin vào Kinh Thánh” hoặc, ở một nơi khác “Hăy thống hối, v́ Nước Thiên Đàng sắp tới” (What belongs to the preaching of Jesus is clearly recognized.  It is contained in two phrases of identical meaning, “Repent, and believe the Gospel,” or, as it is put elsewhere, “Repent, for the Kingdom of Heaven is at hand”).

   Ảo tưởng của Giê-su là con Thượng đế cũng không lạ, v́ ngày nay chúng ta cũng có những trường hợp phát sinh ảo tưởng tương tự, thí dụ như Hồng Tú Toàn ở bên Tàu, tin ḿnh là em Giê-su, hoặc Jim Jones ở Jonestown, hay David Koresh ở Waco, Texas, khoan kể đến nhiều trường hợp các nhà truyền giáo Tin Lành trên TV tự nhận là đă nói chuyện với Gót, hay được Gót mạc khải cho điều này điều nọ, tất cả chỉ là lừa bịp tín đồ để vơ vét tiền bạc, kiếm được bạc triệu, sống trong xa hoa, phè phỡn.

   Trong cuốn sách có tên là Một Thời Để Cho Sự Ngay Thẳng Của Ki Tô Giáo [A Time For Christian Candor], Giám Mục Pike đă thảo luận về các niềm tin của tín đồ đối với Giê-su, và chứng minh rằng Giê-su chỉ là một người thường, trang 109, như sau:

        “Giê-su có một đầu óc giới hạn – điều này cũng đúng cho mọi người.  Thí dụ, giống như các thầy tu Do Thái cùng thời, Giê-su cho rằng David đă viết tất cả bộ Thi Thiên cho nên ông ta đă viện dẫn thi thiên số 110 mà ông ta cho là của Vua David (thực ra là bài thơ này được viết sau thời của David), khi tranh luận với người dân Pharisees.  Và ông ta nghĩ, cũng như mọi người trong thời đó, là ngày tận thế đă sắp đến.

    [He had a limited mind – as is true of every man.  For example, like his fellow rabbis He thought that David wrote all the Psalms and hence He quotes as of Davidic authorship Psalm 110 (which in fact is of later date) in an argument with the Pharisees.  And He thought, in accord with the apocalyptic temper of his day, that the end of the world is near].

    Như vậy, Giê-su chỉ là một người dân thường Do Thái, nhưng mà là người như thế nào?  Đọc Tân Ước các học giả đă đưa ra những nhận định khá chính xác.  Giám mục John Shelby Spong, trong cuốn Hăy Cứu Cuốn Thánh Kinh Ra Khỏi Phái Bảo Thủ, nhận định:

   Có những đoạn trong bốn Phúc Âm mô tả Giê-su ở Nazareth như là một con người thiển cận, đầy hận thù, và ngay cả đạo đức giả.

   (John Shelby Spong, Rescuing The Bible From Fundamentalism, p. 21: There are passages in the Gospels that portray Jesus of Nazareth as narrow-minded, vindictive, and even hypocritical).

   Và Jim Walker cũng viết trên Internet trong bài http://www.nobeliefs.com/jesus.htm: Chúng Ta Có Nên Kính Ngưỡng Giê-su Không? (Should We Admire Jesus?):

       Nhiều tín đồ Ki-Tô-giáo không hề biết đến là nhiều đoạn trong các Phúc Âm trong Tân Ước, Giê-su được mô tả như là một con người đầy hận thù, xấu xa, bất khoan dung, và đạo đức giả.

   [Unbeknownst to many Christians, many times the Gospels of the New Testament portray Jesus as vengeful, demeaning, intolerant, and hypocritical.]

   Làm sao mà một người có tới gần 2 tỷ người trên thế giới gọi là Chúa và thờ phụng mà lại có thể là một người thiển cận, ḷng đầy hận thù, xấu xa, bất khoan dung và đạo đức giả?  Phải chăng Giám mục Spong cũng như Jim Walker thuộc các tổ chức chống đạo?  Phải chăng họ là tay sai, viết theo đơn đặt hàng của CS Việt Nam để thi hành chính sách chống Ki Tô Giáo của CS Việt Nam như các tín đồ Ki Tô thường lên án như vậy đối với những tác giả Việt Nam viết về Ki Tô Giáo trên giaodiemonline.com hay sachhiem.net ?  Lẽ dĩ nhiên là không phải, v́ chỉ có những con chiên có đầu óc của con chiên mới tin được những luận điệu chụp mũ quái gở như vậy.  Nhưng nếu không phải như vậy th́ v́ lẽ ǵ mà các tác giả trên, là những người trong đạo, lại đưa ra những nhận định tiêu cực về Giê-su như trên.  Lư do rất đơn giản.  V́ họ là những trí thức có lương tâm, đă đọc kỹ Tân Ước và những nhận định của họ không ra ngoài Tân Ước.  Sau đây là những trích dẫn từ cuốn Tân Ước, thuần túy từ Tân Ước, hi vọng qua đó chúng ta có thể nhận ra con người thực của Giê-su và có thể đánh giá sự đúng hay sai của những nhận định của Giám mục Spong và Jim Walker, cùng thẩm định lại giá trị của những điều đă được các giáo hội Ki-tô dạy về Giê-su.

 

   Chứng Minh Những Nhận Định Của Giám Mục Spong Và Jim Walker:

 

   Chúa Giê-su có phải là người kém hiểu biết và kém đạo đức không?

 

    Matthew 21, 18-22:  Sáng sớm, khi trở vào thành, Giê-su cảm thấy đói. Trông thấy cây vả bên đường, Giê-su lại gần nhưng chỉ thấy lá trên cây [không có quả để ăn cho đỡ đói], bèn nói: "Từ nay, không bao giờ mày có trái nữa!"  Cây vả khô héo chết ngay lập tức.  Thấy vậy, các môn đệ ngạc nhiên nói: "Sao cây vả lại chết ngay lập tức như thế?"  Giê-su trả lời: "Ta bảo thật các ngươi,  nếu các ngươi có đức tin và không nghi ngờ, th́ không những các ngươi làm được điều Ta làm cho cây vả, mà nếu các ngươi bảo núi này: Dời chỗ đi, nhào xuống biển! th́ sự việc sẽ xảy ra như thế. 

    Matthew 17: 20:  Chắc chắn là, ta nói cho các ngươi biết, nếu các ngươi có đức tin chỉ nhỏ bằng hạt cải, các ngươi sẽ bảo trái núi này "Di chuyển từ chỗ này sang chỗ kia", nó sẽ di chuyển như vậy; và đối với ngươi không có ǵ mà làm không được. (Assuredly, I say to you, if you have faith as a mustard seed, you will say to this mountain, "Move from here to there", and it will move; and nothing will be impossible for you.)

     Cũng v́ vậy mà các chuyên gia phân tích Thánh Kinh kết luận rằng: hành động của Giê-su trong câu chuyện về cây sung (hay cây vả) chứng tỏ Giê-su đă vấp phải 4 sai lầm về kiến thức cũng như về đạo đức cùng một lúc:

1)  Không biết là trong mùa đó cây sung không thể có trái, nghĩa là thiếu kiến thức về mùa màng, cây cỏ.

2) Tự nhiên hủy diệt vô lư vĩnh viễn một cây ra trái ăn được chứng tỏ bản tính ác độc..

3) Dễ nổi nóng, nổi quạu khi bị phật ư. [Nhiều chỗ khác trong Tân Ước cũng viết về tính này]

4) Lừa dối các môn đồ bằng những lời hứa hẹn hoang đường: chỉ cần có đức tin là có thể thay đổi t́nh trạng vật chất thiên nhiên bằng lời nguyền rủa hay ra lệnh.

   Kể từ khi đó, không có người nào trên thế gian có đủ đức tin Giê-su, dù chỉ nhỏ bằng hạt cải,  v́ không có người nào có thể nguyền rủa cho một cái cây đang tươi tốt khô héo chết ngay, hay bảo một trái núi nhào xuống biển là núi sẽ tự động ḅ xuống biển.  [Điều này chứng minh Giê-su đă lừa dối, hứa hẹn láo với những người tin theo ông ta]

 

   Tâm địa bất nhân của Chúa Giê-su đối với súc vật :

   Một chuyện khác trong Tân Ước,  Matthew 8: 28 - 34, có  thể cho chúng ta thấy rơ ḷng dạ độc ác của Chúa Giê-su,  được tóm tắt như sau:

   Có hai người bị quỷ ám gặp Chúa Giê-su và quỷ trong hai người đó xin Chúa Giê-su nếu đuổi chúng ra khỏi hai người th́ hăy cho chúng nhập vào một bày heo gần đó.  Chúa ra lệnh "đi ra", chúng liền ra khỏi hai người nhập vào bầy heo, và cả bầy heo (độ 2000 con, theo Mark 5: 13) lao đầu xuống biển chết đuối hết.  Trẻ con chăn heo chạy về làng kể chuyện lại cho dân làng nghe, cả làng kéo ra khỏi làng gặp Chúa Giê-su và...van nài (có nghĩa là đuổi) Ngài hăy đi ra khỏi vùng đất của họ.

   Chúng ta hăy tự hỏi, 2000 con heo có tội t́nh ǵ mà Chúa Giê-su "ḷng lành vô cùng" của các tín đồ Ki Tô Giáo lại phù phép làm cho 2 con quỷ nhập vào cả đàn, rồi bắt chúng nhào xuống sông chết đuối hết?  Như vậy có phải là Giê-su là người không có ḷng nhân, vô cớ tự nhiên đang tâm giết cả một đàn heo vô tội một cách tàn nhẫn.  Mà đàn heo cũng lại là những sản phẩm của chính Chúa Cha “sáng tạo” ra, v́ theo niềm tin Ki Tô th́ mọi thứ trên đời này đều là do Chúa Cha tạo ra cả.   Bởi vậy dân làng mới coi Giê-su như là một tên phù thủy, một kẻ đáng chê trách, đă vô cớ hủy đi một nguồn lợi của dân làng, làm cho họ tự nhiên mất đi cả một đàn heo tới 2000 con, cho nên họ kéo ra ngoài làng, chặn đuổi Giê-su đi nơi khác, không dám để cho Giê-su vào làng.]

   Bởi vậy, về hai chuyện trên trong Tân ước nên Giám mục John Shelby Spong viết:

   Chúng ta có thấy hấp dẫn đối với một Chúa phải giết cả một bày heo để đuổi một con quỷ ra khỏi thân người hay không?  Chúng ta có nên khâm phục và kính trọng người mà chúng ta gọi là Chúa đă nguyền rủa một cây sung khi nó không ra trái lúc trái mùa không?...

    Cuốn Thánh Kinh đă làm cho tôi đối diện với quá nhiều vấn đề hơn là giá trị.  Nó đưa đến cho tôi một Thiên Chúa  mà tôi không thể kính trọng, đừng nói đến thờ phụng.

 

 

   [John Shelby Spong, Rescuing The Bible From Fundamentalism, pp. 21,24:  Are we drawn to a Lord who would destroy a herd of pigs in order to exorcise a demon?  Are we impressed when the one we call Lord curses a fig tree because it did not bear fruit out of season?...

   A literal Bible presents me with far more problems than assets.  It offers me a God I cannot respect, much less worship.]

 

   Về những hứa hẹn vô trách nhiệm của Chúa Giê-su:

    Matthew 21: 22 Và mọi điều, bất cứ các ngươi xin cho điều ǵ trong cầu nguyện, tin tưởng, th́ cũng sẽ nhận được [KJV: And all things, whatever you ask in prayer, believing, you will receive]"

    Mark 11: 24Vậy ta nói cho các ngươi biết, khi các ngươi cầu nguyện, bất cứ điều ǵ mà các ngươi xin cho, tin rằng các ngươi sẽ nhận được, và các ngươi sẽ có chúng. (Therefore I say to you, whatever things you ask when you pray, believe that you receive them, and you will have them.)

     Lời Chúa hứa hẹn có thực hiện được không?  Chúng ta đều biết rằng, mọi cầu nguyện của tín đồ Ki tô đều không được đáp ứng, kể cả cầu nguyện ngày đêm của “thánh mẹ” Teresa ở Calculta, và cầu nguyện với búa, ḱm và xà beng của Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt và hàng ngàn con chiên ở Ṭa Khâm Sứ. Tất cả chỉ là sự trống rỗng đầy thất vọng trong tâm hồn.  Chẳng ai dám nói là Mẹ Teresa không phải là người tin Chúa và bà ta chưa từng cầu nguyện Chúa.  Làm việc thiện cho Chúa, không phải v́ ḷng nhân từ, như chính bà thú nhận, nhưng cuối cuộc đời cũng phải ngậm ngùi mà than một cách cay đắng: “Giê-su có một t́nh thương yêu rất đặc biệt cho các bạn, nhưng đối với tôi, sự yên lặng (của Chúa) và sự trống rỗng (trong tâm hồn của tôi) thật là quá lớn lao đến nỗi tôi t́m (Chúa) nhưng không thấy, lắng tai nghe Chúa, nhưng chẳng nghe thấy ǵ” [Mother Teresa : Jesus has a very special love for you. As for me, the silence and the emptiness is so great that I look and do not see, listen and do not hear. Nhưng thực ra, những hứa hẹn trên đều bắt nguồn từ Tâm Lư Bệnh Hoạn về Những Ảo Tưởng Hăo Huyền về Quyền Lực hay Toàn Năng của Giê-su, tuy là hăo huyền, bất khả thực hiện, nhưng cũng rất hấp dẫn đối với đám dân ngu dốt thời bấy giờ.  Và ngày nay, các “bề trên” cũng vẫn tiếp tục đưa ra để mê hoặc tín đồ, nhưng chỉ để duy tŕ quyền lực thế tục trên đám tín đồ mà thôi. 

    Riêng đối với  người Việt Nam th́ xin cho với chính quyền th́ may ra c̣n có thể được, chứ xin cho với Chúa, dù thắp nến cầu nguyện hiệp thông ngày đêm, th́ cũng chẳng bao giờ được Chúa cho.  Tại sao?  V́ cầu nguyện phải đúng như Chúa dạy, Matthew 6: 5-6: “Khi các ngươi cầu nguyện, đừng có giống như bọn đạo đức giả.  V́ chúng thích đứng cầu nguyện trong giáo đường và ngoài đường phố để cho mọi người nh́n thấy. Ta cho các ngươi biết, chúng không được thưởng ǵ đâu. Nhưng các ngươi, khi các ngươi cầu nguyện, hăy đi vào trong pḥng, đóng cửa lại, hăy cầu nguyện với Cha các ngươi đang ở chỗ kín (who is in the secret place); và Cha các ngươi từ chỗ kín thấy các ngươi, sẽ thưởng ngay cho các ngươi.Nhưng nhất là, Chúa Giê-su đâu có biết người Việt Nam là dân nào, ở bên kia quả địa cầu, v́ khi đó Chúa đâu có biết là quả đất tṛnVả chăng Chúa đă khẳng định là chỉ cứu người Do Thái mà thôi như trong chuyện dưới đây.  TCN]

 

   Người Việt Nam có được “ơn cứu rỗi” của Chúa không?

 

    Câu chuyện sau đây trong Thánh Kinh sẽ chứng tỏ rằng sự ước mơ của những tín đồ Việt Nam theo Ki Tô Giáo để được Giê-su cứu rỗi đích thực là một ảo vọng.  Chúng ta hăy đọc và đọc kỹ đoạn sau đây trong Tân Ước,  Matthew 15: 21-28:

   "Thế rồi Giê-Su đi tới vùng Tyre và Sidon.  Và có một người đàn bà người Canaan đến từ vùng đó và kêu với Giê-Su "Hăy thương tôi, Chúa ơi, Con của David.  Con gái tôi đang bị quỷ ám nặng."  Nhưng Người không thèm trả lời bà ta một tiếng.  Và các đệ tử của Giê-Su tới và yêu cầu Giê-Su: "Hăy đưổi bà ta đi, v́ bà ta cứ kêu cứu cùng chúng ta."  Nhưng Giê-Su trả lời: "Ta được phái xuống đây chỉ để cứu dân Do Thái mà thôi."  Rồi người đàn bà kia tới và thờ phượng Giê-Su và nói: "Chúa ơi, hăy giúp tôi."  Nhưng Người trả lời: "Lấy bánh của con dân Do Thái  mà ném cho mấy con chó nhỏ [không phải người Do Thái] ăn th́ thật là chẳng tốt tí nào."  Và người đàn bà kia nói: "Đúng vậy, Chúa ơi, nhưng dù là những con chó nhỏ th́ chúng cũng được ăn những mảnh bánh vụn rơi văi từ trên bàn của chủ  chúng xuống chứ."  Rồi Giê-Su trả lời: "Ô, Bà Già! Ḷng tin của bà thật là lớn lao! Thôi tôi cũng chiều theo ư bà."  Và con gái bà ta hết bị quỷ ám ngay từ ǵờ phút đó."

   (When Jesus went out from there and departed to the region of Tyre and Sidon.  And behold, a woman of Canaan came from that region and cried out to Him, saying, "Have mercy on me, O Lord, Son of David!  My daughter is severely demon-possessed."  But He answered not a word.  And His disciples came and urged Him, saying, "Send her away, for she cries out after us.".  But He answered and said, "I was not sent except to the lost sheep of the House of Israel."  Then she came and worshipped Him saying, "Lord, Help me!"    But He answered and said, " It is not good to take the children's bread and throw it to the little dogs."  And she said, "True, Lord, yet even the little dogs eat the crumbs which fall from their masters' table."  Then Jesus answered and said to her, "O woman, great is your faith! Let it be to you as you desire."  And her daughter was healed from that very hour.)

   Tôi xin để cho các độc giả tùy ư nhận định về tư cách, đạo đức và ḷng vị tha của Giê-Su trong câu chuyện trên.  Tôi không hiểu các đồng bào Ki-Tô của tôi nghĩ thế nào khi đọc đoạn trên trong Tân Ước. H́nh ảnh của một Chúa nhân từ, được rao giảng là "thương yêu tất cả mọi người" v.v..,  quả thật không phù hợp với những ngôn từ Chúa nói trong Tân Ước.

   Về chuyện Giê-su gọi người phi-Do Thái là chó ở trên, Tiến Sĩ  Madalyn O'Hair b́nh luận như sau:

    Trừ khi anh là người Do Thái, chẳng ai muốn anh trong tôn giáo này.  Đối với người nào thực sự "thực tâm cảm thấy Giê-Su là đấng cứu thế của họ" tôi xin giới thiệu một nhà phân-tâm học. (Unless you are a Jew, you are not wanted in this religion.  For someone who really "truly feels in his heart that Jesus is his Savior" I would recommend a psychiatrist.)

   Và, Frederick Heese Eaton b́nh luận như sau trong cuốn  Scandalous Saints, trang 214:

     Giê-Su thường nhắc nhở đệ tử là phải thương yêu nhau, và thương yêu ngay cả kẻ thù (John 13:35; Matthew 5:44)  Nhưng khi một người đàn bà không phải là người Do Thái tới nhờ Giê-Su chữa lành bệnh cho con gái, th́ Giê-Su lại bảo bà ta rằng, "Không thể lấy bánh của con dân Do Thái vứt cho chó ăn." (Matthew 15:26)  Nói một cách khác, ông nói, "Người phi Do Thái là đồ chó.  Tại sao ta lại phải làm bất cứ ǵ cho ngươi?"  Anh cảm thấy thế nào khi Jesus gọi anh là chó?  Gọi người phi Do-Thái là đồ chó không phải là sự biểu thị của ḷng thương yêu.  Giê-Su thật là hỗn hào, kiêu căng và tự phụ khi gọi người đàn bà kia là chó.  Vậy trong vấn đề  thực hành, Thánh Giê-Su chẳng có chút ǵ là Thánh cả.  Những sự kiện cho thấy Giê-Su thực sự ghét những người phi Do-Thái.

   Thánh Phao-Lồ (Paul) viết rằng, theo lời mặc khải của Thiên Chúa, "Giê-Su luôn luôn như vậy, ngày hôm qua, ngày hôm nay và cho tới măi măi, không bao giờ thay đổi." (Hebrew 13:8)  Vậy nếu anh dự định lên Thiên Đường ở cùng Giê-su đầy t́nh thương, và anh không phải là người Do Thái, anh nên nghĩ lại đi th́ vừa.

   (Frederick Heese Eaton, Scandalous Saints, p. 214:  Jesus repeatedly admonished his disciples to love one another, and even to love their enemies. (John 13:35; Matthew 5:44)  Yet when a non-Jewish woman begged him to heal her daughter, Jesus told her, "It is not fit to take the children (of Israel's) bread and to cast it to dogs." (Matthew 15:26)  In other words he said, "You non-Jews are dogs.  Why should I do anything for you?"  How would you like to have Jesus call you a dog?  Calling people dog who were not Jews is hardly an expression of love.  Jesus was insolent, arrogant and conceited in calling this woman a dog.  So in actual practice, Jesus the Saint was not so saintly after all.  The facts show that Jesus actually hated those who were not Jews.

   Saint Paul writes, allegedly under inspiration of God, "Jesus Christ the same yesterday, and today, and for ever." (Hebrew 13:8)  So if you were planning to go to heaven to be with the loving Jesus, and you are not a Jew, you had better think it over again.)

     Người Việt Nam hiển nhiên không phải là người Do Thái. Không hiểu các tín đồ Ki Tô Giáo Việt Nam có ư thức được sự kiện này hay không.  Và họ có ư thức được không, rằng hi vọng được Chúa cứu rỗi chỉ là ảo vọng.   Nhưng ở trên cơi đời này, không phải chỉ có người Việt Nam, mà c̣n có nhiều triệu người khác cũng thường sống trong ảo vọng.  Đó là niềm an ủi lớn cho họ v́ ở trên cơi đời họ chẳng biết làm ǵ hơn là mê mẩn trông ngóng cho một đời sau ở một nơi chỉ có trên mặt văn tự.  2000 năm qua, bao nhiêu thế hệ của các tín đồ Ki Tô Giáo đă chết đi, những xác chết đó nay c̣n hay mất, và phải chờ đến bao giờ Chúa mới trở lại để cho họ lên thiên đường, nếu họ xứng đáng theo tiêu chuẩn của Chúa để được lên thiên đường.

 

    Chúa Giê-su sinh ra đời để làm ǵ ?

   Matthew 10: 34-36, đă viết rơ, Giê-su khẳng định:

   Đừng tưởng rằng Ta xuống trần để mang lại ḥa b́nh trên trái đất.  Ta không xuống đây để mang lại ḥa b́nh mà là gươm giáo.  V́ Ta xuống đây để làm cho con chống lại cha, con gái chống lại mẹ, con dâu chống lại mẹ chồng, và kẻ thù của con người ở ngay trong nhà hắn.

   Và Luke 12: 51-53 cũng xác định lại khẳng định của Giê-su như sau:

   Đừng tưởng Ta đến để đem ḥa b́nh cho thế giới.  Không, Ta đến để chia loài người làm hai.  Từ đây, một nhà có năm người sẽ chia rẽ chống đối nhau: hai chống ba, và ba chống hai.  Mâu thuẫn sẽ diễn ra giữa con trai với cha, con gái với mẹ, con dâu với mẹ chồng.

  

 Thái độ của Chúa Giê-su đối với gia đ́nh phản ánh những lời khẳng định trên.

   Chúng ta hăy đọc chuyện sau đây được kể trong Tân Ước: Nhân ngày lễ vượt qua, vợ chồng Joseph, Mary và Giê-su, khi đó mới 12 tuổi, cùng đến Jerusalem.  Sau ngày lễ th́ hai vợ chồng Joseph thấy biến mất ông con.  Tưởng rằng ông con đă đi cùng bạn bè đi về nhà nên ông bà cũng trở về nhà.  Nhưng đi suốt cả ngày cũng không thấy Giê-su đâu, lúc bấy giờ mới hỏi thăm và đi t́m Giê-su.  Hai ông bà quay trở lại Jerusalem và ba ngày sau th́ thấy Giê-su đang ngồi đối đáp với mấy thầy thông thái trong một đền thờ.  Sau đây là những lời qua lại giữa bà Mary và ông con Giê-su:

Luke 2 : 48 -50:   Khi cha mẹ thấy Ngài, th́ lấy làm lạ, và mẹ hỏi rằng: Hỡi con, sao con làm cho hai ta thế này? Này, cha và mẹ đă khó nhọc lắm mà t́m con.  Ngài trả lời: Các người kiếm tôi làm chi?  Há chẳng biết tôi phải lo việc Cha tôi hay sao?  Nhưng hai người không hiểu lời ngài nói chi hết.

   Quư vị có thấy một đứa bé 12 tuổi nào hỗn hào với cha mẹ như vậy chưa, trừ phi nó là một nghiệp chướng của một gia đ́nh vô phúc.  Trước hết nó ở lại Jerusalem một ḿnh mà không hề xin phép cha mẹ.  Sau đó khi cha mẹ t́m được nó, trách nó, th́ nó lại sẵng giọng cùng cha mẹ và hỏi họ kiếm nó làm chi?  Nhưng câu chót “Nhưng hai người không hiểu lời ngài nói chi hết”  đă chứng minh rằng cả Joseph và Mary đều biết, nhất là Mary, người biết rơ hơn ai hết ai là cha thực của Giê-su, rằng Giê-su không phải là ân sủng đặc biệt của Thiên Chúa, không phải là con của Chúa Thánh Thần, không phải là Chúa Cứu Thế v..v.. cho nên mới không hiểu Giê-su nói ǵ khi Giê-su nói là đang lo việc của Cha, nghĩa là việc của Chúa Cha alias Thần Gia-vê của Do Thái.  Chuyện cha mẹ lo lắng cho con là chuyện tự nhiên, nhưng chuyện “Chúa tôi” đối đáp với cha mẹ như vậy th́ quả thật là đặc biệt, hiếm có trên thế gian, và ít ra là không hợp với nền luân lư của Việt Nam.

   Chúng ta cũng biết, trong Tân Ước, ngoài trường hợp hỗn hào với bố mẹ khi Giê-su 12 tuổi ở trên, chỉ có hai trường hợp khác Giê-su trực tiếp nói cùng bà Maria, và cả trong hai trường hợp đó Giê-su đều gọi mẹ là "Người đàn bà kia".  Trường hợp thứ nhất, John 2: 1-4 kể rằng: Trong một tiệc cưới có cả hai mẹ con Mary và Giê-su dự,  khi rượu hết bà Mary đến nói với Giê-su là "Họ đă hết rượu rồi".  Giê-su trả lời bà như sau: "Người đàn bà kia! Sự quan tâm của bà th́ có liên can ǵ tới Ta?  Giờ của Ta c̣n chưa tới" (Woman, what does your concern have to do with Me?  My hour has not yet come). Giờ ǵ?  Đọc tiếp Thánh Kinh chúng ta mới thấy rằng đó là giờ Giê-su trổ tài làm phép lạ, biến 6 vại nước thành rượu.  Kinh Thánh tiếng Việt của American Bible Societies xuất bản năm 1998 dịch đoạn trên như sau: "Hỡi đàn bà kia, Ta với ngươi có sự ǵ chăng?  Giờ Ta chưa đến".  [Gần đây, con chiên Việt Nam dịch láo “woman” là “thưa mẹ” để đánh bóng Giê-su]  Đó là câu nói "hiếu kính với cha mẹ" của "Chúa" của những tín đồ Ca-Tô Việt Nam.  Vậy họ c̣n đợi  ǵ mà không noi  gương Chúa,  đối  xử  với cha mẹ như Chúa?

   Trường hợp thứ hai là khi Giê-su đă bị đóng đinh trên thập giá, đang hấp hối sắp chết.  John 19: 26 kể rằng: Chúa Giê-su thấy mẹ ḿnh, và một môn đồ Ngài yêu đứng gần người, th́ nói cùng mẹ rằng: "Người đàn bà kia, đó là con của ngươi.." (When Jesus therefore saw His mother, and the disciple whom he loved standing by, He said to His mother: "Woman, behold your son!")

    Chúng ta nên để ư là Giê-su đă dùng cùng danh từ "Người đàn bà kia" (Woman) để gọi một người đàn bà từ xứ Canaan đến xin chữa bệnh cho con gái mà mới đầu Giê-su không chịu chữa mà c̣n gọi người ta là chó v́ bà ta không phải là dân Do Thái, và một người đàn bà khác can tội tà dâm (John 8:10, Matthew 15:28).  Ngoài ra,  Matthew 12:48-49  cũng c̣n kể:  Trong khi Giê-su đang đứng giữa đám đông, Bà Mary và các em trai của Giê-su đến và nhờ người nhắn với Giê-su là Mẹ và các em đang ở phía ngoài muốn gặp Giê-su th́ Giê-su sẵng giọng nói: "Ai là mẹ Ta? Ai là các em  Ta?"   (Who is my mother?  and who are my brothers?). Và giơ tay chỉ các môn đệ và nói: "Đây mới là mẹ tôi và anh em tôi. V́ người nào làm theo ư muốn của Cha tôi trên trời mới là em trai em gái và mẹ tôi.” [Here are my mother and my brothers.  For whoever does the will of my Father in heaven is my brother and sister and mother].  Tại sao Giê-su lại đối xử với mẹ và các em như vậy?  Các học giả đă t́m ra câu trả lời: v́ cả gia đ́nh Giê-su cũng như những người cùng quê hương với Giê-su, không có ai tin Giê-su là “đấng cứu thế” mà c̣n cho là ông ta có đầu óc bất b́nh thường (mad, out of his mind) như tôi sẽ trích dẫn trong phần sau.  Và Giê-su đă nổi tiếng là rất ghét những người không tin những ǵ ông ta tự xưng.

 

 

    Giê-su ghét gia đ́nh là chuyện của ông ta, nhưng ông ta lại muốn những kẻ theo ông cũng phải ghét gia đ́nh của họ như ông ta đă ghét gia đ́nh ḿnh, và phải yêu ông ta hơn cả bố mẹ, con cái.  Do đó ông ta đă dạy các môn đồ như sau:

    Luke 14, 26 Nếu  kẻ nào đến với  ta mà  không "căm ghét" cha mẹ, vợ con, anh chị em, và ngay cả đời sống của hắn, th́ hắn không thể là môn đồ của Ta. (If anyone who comes to me and does not hate his father and mother, wife and children, brothers and sisters, yes, and his life also, he cannot be My disciples.) [Thánh Kinh Việt Nam dịch “hate” là “dứt bỏ”]

   Theo  Gene  Kasmar  trong cuốn  Tất Cả  Những  Chuyện Tục Tĩu Trong Thánh Kinh (All The Obscenities in the Bible), trang 359, th́ chữ "căm ghét" là dịch từ tiếng Hi Lạp (Thánh Kinh gốc viết bằng tiếng Hi Lạp)  "miseo", có nghĩa là ghét tởm và khinh khi (detest and despise).

   Matthew 10:37 :  "Ai yêu cha yêu mẹ hơn ta, th́ không xứng với ta. Ai yêu con trai con gái hơn ta, th́ không xứng với ta”. (He who loves father or mother more than me is not worthy of me.  And he who loves son and daughter more than me is not worthy of me).

   Và khi một đệ tử của Giê-su nói, Matthew 8: 21-22:    “Xin để con đi chôn cất cha con xong con sẽ đi theo Ngài" Giê-su trả lời: "Hăy đi theo ta ngay, hăy để cho người chết  lo mai táng người chết của họ”.

   Tôi cảm thấy quá tội nghiệp cho những tín đồ Ki-Tô Việt Nam, Ca-Tô cũng như Tin Lành.  Họ trông ngóng ǵ ở con người đối xử với mẹ và gia đ́nh như trên?  Một con người tư cách như vậy có đáng để cho họ thờ phụng hay không?  Tại sao họ vẫn c̣n ham hố một sự "cứu rỗi" hoang đường, giả tưởng từ một người Do Thái tầm thường với tư cách đạo đức đáng chê trách như vậy?  Bởi v́ từ khi sinh ra đời họ đă bị lừa dối bởi những xảo thuật nhồi sọ tinh vi của giáo hội qua vai tṛ "chăn dắt con chiên" của những giám mục, linh mục, với sự phụ giúp vô t́nh và bắt nguồn từ vô minh của các bậc cha mẹ, tất cả vốn cũng đă bị nhồi sọ như họ từ khi c̣n nhỏ. 

   Như tôi đă tŕnh bày ở trên, các học giả đă dùng từ Megalomania để mô tả cái Tâm Lư Bệnh Hoạn về Những Ảo Tưởng Hăo Huyền về Quyền Lực hay Toàn Năng của Giê-su là rất đúng, và chứng tỏ là ông ta không ưa những người không tin ông ta, dù những người đó là mẹ, em trai, em gái ông ta.  Và trong nhiều trường hợp đối với người ngoài, ông ta c̣n nguyền rủa thậm tệ họ nữa, như tôi sẽ chứng minh trong một đoạn sau.

      Qua những quan niệm và cách hành xử đối với gia đ́nh như tôi vừa trích dẫn từ "Thánh Kinh" ở trên, Giê-su đă tự ḿnh "làm gương" cho những người theo ông.  Và lịch sử cũng đă chứng tỏ, đạo Giê-su đi đến đâu cũng làm cho gia đ́nh, xă hội chia rẽ chống lại nhau một khi trong gia đ́nh, trong xă hội, có những con người tân ṭng mù quáng tin vào Giê-su mà không biết ǵ về thực chất con người của Giê-su, và nhất là tin vào những giáo lư vô tổ quốc, phản dân tộc, vô gia đ́nh,  vô tổ tiên v..v.. của Ca-Tô và Tin Lành.  Tất cả chỉ v́ mù quáng tin vào những lời giảng dạy của giới truyền đạo cuồng tín trong giáo hội, dựa theo một nền Thần học ngụy tạo, lạc dẫn.  Kinh nghiệm Việt Nam từ khi khi đạo "Chúa" bắt đầu du nhập đă cho chúng ta thấy rơ điều này qua những sự kiện, bằng chứng lịch sử.

    Nhận xét về những tác hại mà Ki Tô Giáo đă mang đến cho nhân loại trong vấn đề chia rẽ trong gia đ́nh, quốc gia, và dân tộc, học giả Ca-Tô Joseph L. Daleiden đă đưa ra một nhận định về lời phán trên của Giê-su trong cuốn Sự Mê Tín Cuối Cùng (The Final Superstition), trang 177, như sau:

  Thảm thay, đây là một trong vài hứa hẹn mà lịch sử chứng tỏ là Giê-su đă thành công thực hiện.

   [Joseph L., The Final Superstition, p. 177:  Tragically, this is one of the few promises that history shows Jesus was successful in fulfiling.]

 

  Giê-su Có Đạo Đức Giả Không?:

    Trong phần này tôi sẽ tŕnh bày những lời dạy và thái độ đối ngược của Giê-su đối với các lời dạy, chứng tỏ Giê-su, đúng như nhận định của Giám mục Spong và Jim Walker: Giê-su là một con người đạo đức giả.

 1. Chúa Giê-su dạy: Matthew 7: 1-5  Đừng phê phán ai để các ngươi cũng không bị phê phán."  V́ các ngươi phê phán ai như thế nào th́ người ta cũng phê phán các ngươi như thế.  Và sao các ngươi chỉ nh́n thấy hạt bụi trong mắt người anh em mà không xét đến cái đà trong mắt các ngươi...Đồ đạo đức giả!  Trước hết hăy lấy cái đà trong ma91t các ngươi, rồi các ngươi sẽ nh́n rơ hơn để lấy hạt bụt ra khỏi mắt người anh em.

    Nhưng rồi chính Giê-su lại đi phê phán người khác: Matthew 23: 13: Khốn cho giới dạy luật và Biệt Lập, hạng đạo đức giả; Matthew 23:15: Khốn cho các ông, hạng giả nhân giả nghĩa; Matthew 23: 16: Khốn cho các ông, hạng lănh đạo mù quáng; và c̣n nhiều lời phê phán tương tự khác đầy dăy trong Tân Ước.

    Vậy trước khi phê phán họ, Chúa Giê-su có xét đến cái đà trong mắt ḿnh ra không?

 

2. Chúa Giê-su dạy: Matthew  5: 22: "Người nào nguyền rủa anh em sẽ bị xuống  hỏa  ngục"   

Nhưng  chính  Giê- su lại đi nguyền rủa những người không chịu tin theo ông ta:

 Luke 8: 24: Nếu ngươi không tin ta là con Thượng Đế, ngươi sẽ chết trong tội lỗi của ngươi.

Matthew 12: 34Ôi  thế  hệ của  những loài  rắn  độc, ác như các ngươi làm sao có thể nói những lời tốt lành?

 Matthew 23: 33: Ngươi là loài rắn, ngươi là thế hệ của những rắn độc, làm sao các ngươi thoát khỏi hỏa ngục?  

  

   Vậy bây giờ Chúa Giê-su đang ở đâu?  Dưới hỏa ngục hay trên thiên đường?  Có thể ông hiện là cai ngục v́ ông ta là Chúa, nếu áp dụng chính những lời ông ta dạy.   Trong Tân Ước có nhiều đoạn mô tả Giê-su rất hận thù những người không tin ông ta và đưa ra những lời nguyền rủa rất cay nghiệt tương tự như trên.  Cũng v́ vậy mà học giả Ca-Tô Joseph L. Daleiden đă đưa ra nhận định sau đây

     Con người hành động dă man phần lớn là bị ảnh hưởng đạo đức trong nền văn hóa của ḿnh.  Đạo đức của Tân Ước là trả thù bất cứ người nào bác bỏ Ki Tô Giáo.  Tuy những người viết Tân Ước một mặt viết Giê-su dạy phải tha thứ, thực ra Ông ta có một thái độ cực kỳ bất khoan nhượng đối với những người không chấp nhận ông ta là đấng cứu rỗi của họ.

   [Joseph L. Daleiden, The Final Superstition, p.179: That human act savagely is in large part a function of their cultural ethic.  The ethic of the New Testament was vengeance on any who rejected Christianity.  Although on one hand the New Testament writers have Jesus preaching forgiveness, He espouses an extremely intolerant attitude toward those who do not accept Him as their Savior.]

 

     3.  Chúa Giê-su  dạy:   Matthew 5: 44: "phải  yêu  kẻ thù  và  cầu nguyện cho người khủng bố hành hạ các con"

   Nhưng chính Giê-su th́ lại hành động ngược lại:

     Matthew 12:30: Kẻ nào không theo ta, ở  với ta, là chống đối ta.[Tổng thống Bush cũng nói câu này về cuộc xâm chiếm Iraq, và Ca-tô Giáo thường có thái độ thù nghịch với những người ngoại đạo nào mà họ không quyến rũ nổi]

     Luke 19:27 Hăy  mang  những  kẻ  thù  của  Ta  ra  đây, những người không muốn Ta  ngự  trị trên họ, và giết chúng ngay trước mặt Ta. [Ca-tô giáo đă theo sát lời dạy này, tàn sát những người mà giáo hội cho là “lạc đạo”]

    John 15: 6: Nếu người nào không ở lại với ta [nghĩa là rời bỏ ta], nó sẽ bị cắt bỏ như một cành cây rồi khô héo; và người ta sẽ gom chúng lại, ném vào lửa, và chúng bị thiêu đốt. ["If a man abide not in me, he is cast forth as a branch, and is withered; and men gather them, and cast them into the fire, and they are burned."]  (Lời dạy này của Chúa là kim chỉ nam cho Giáo hội Ca-tô Rô-ma để cho Giáo hội đi săn lùng, tra tấn và thiêu sống các phù thủy, và cả khoa học gia như Bruno.)

 

 4. Chúa Giê-su dạy: Matthew 23: 11-12: Các con càng khiêm tốn phục vụ người th́ càng được tôn trọng... Ai tự đề cao sẽ bị hạ thấp, ai khiêm tốn hạ ḿnh sẽ được nâng cao.

   Nhưng chính Chúa lại tự tôn một cách quá cống cao ngă mạn.  Cái tính khiêm tốn mà Giê-su dạy các môn đồ, Giê-su để vào đâu mà lại đưa ra những lời tự nhận quá huênh hoang như sau:

John 6:35: Ta là thức ăn của đời sống. (I am the bread of life)

John 8:12, 9:5: Ta là ánh sáng của thế gian (I am the light of the world)

John 10: 11, 14: Ta là người chăn chiên chí thiện  (I am the good shepherd)

John 11:25: Ta là Sự Sống Lại và là Sự Sống (I am the resurrection and the life)

John 14:6Ta là Con Đường, là Sự Thật và là Sự Sống (I am the way, the truth, and the life)

 

   Những tư tưởng mâu thuẫn do đầu óc không b́nh thường của Giê-su:

   Trong Tân Ước có nhiều chỗ viết rằng chính gia đ́nh, anh chị em Giê-su cũng không tin Giê-su là đấng cứu tinh cho dân tộc Do Thái và c̣n cho là ông ta có đầu óc bất b́nh thường.  Những tư tưởng mâu thuẫn sau đây của Giê-su chứng tỏ như vậy.

 John 10:30: Ta với Cha Ta là một. (I and My Father are one).

John 14: 28: Cha ta vĩ đại hơn ta (My Father is greater than I.)

John 10:36: Ta là Con Thiên Chúa (I am the Son of God).

John 12:49:  Ta không nói theo ư Ta; Chính người Cha sai Ta xuống đây đă cho lệnh Ta phải nói những ǵ và nói như thế nào.

   Ba câu sau hoàn toàn mâu thuẫn với câu đầu.

 John 5: 31:  Nếu ta làm chứng cho chính ta, th́ sự làm chứng của ta không đúng sự thật. (If I bear witness of myself, my witness is not true)

John 8 : 14:  Tuy ta tự làm chứng cho chính ta, nhưng sự làm chứng của ta đúng là sự thật. (Though I bear record of myself, yet my record is true)

 John 12: 47:  Và người nào nghe những lời ta nói mà không tin, ta sẽ không phán xét họ; v́ ta xuống đây không phải để phán xét thế giới mà để cứu thế giới. (And if anyone hears my words and does not believe, I do not judge him; for I did not come to judge the world but to save the world.)

 John 9: 39: Để phán xét ta đă xuống trần, và những người nào không nh́n thấy sẽ nh́n thấy, và những người nào nh́n thấy có thể bị làm cho mù.  (For judgment I have come into this world, and those who do not see may see, and that those who see may be made blind.)

 

   Ḷng dạ Chúa nhân từ hay độc ác ?

    Matthew 18:6: Nếu ai làm cho một trong những đứa trẻ đă tin Ta phạm tội, th́  tốt hơn cho hắn là buộc một cối đá vào cổ hắn  và ném hắn xuống đáy biển cho chết đuối.

   (But whoever causes one of these little ones who believe in me to sin, it would be better for him if a millstone were hung around his neck, and he were drowned in the depth of the sea)

    Phạm tội ǵ?  Thánh Kinh tiếng Việt dịch "to sin" là "mất đức tin". Không tin Giê-su hay mất đức tin về Giê-su có phải là một tội hay không?  Ngày nay, có biết bao nhiêu người mất đức tin, bỏ đạo, v́ biết đến thực chất của huyền thoại về Giê-su cũng như về nền thần học ngụy tạo của Ki Tô Giáo qua những tác phẩm nghiên cứu của các bậc học giả trong giáo hội cũng như ngoài giáo hội nên đă tỉnh ngộ. Chưa thấy ai cột đá vào cổ những tác giả này rồi mang nhận cho chết đuối dưới bể, v́ đây là một quan niệm vô cùng ác độc và man rợ  cách đây 2000 năm của một người  Do Thái mà các tín đồ được dạy phải coi như Chúa và  "Chúa ḷng lành vô cùng", không c̣n có thể chấp nhận trong thế giới tiến bộ với những tiêu chuẩn đạo đức của con người ngày nay.

    Chính gia đ́nh Giê-su và các anh chị em Giê-su cùng dân ở Nazareth đều không tin Giê-su là “đấng cứu thế” và c̣n cho rằng ông ta có đầu óc bất b́nh thường:

 Matthew 13: 55-57: Đây có phải là con ông thợ mộc không? Có phải mẹ ông ta là Mary không?  Và các em trai là James, Joses, Simon, và Judas?   Và các em gái đang có ở đây sao?  Vậy th́ từ đâu mà ông ta mà ông ta biết những điều như vậy?  Do đó họ cảm thấy bực ḿnh v́ ông ta. Nhưng Giê-su nói với họ: “Một tiên tri không phải là không có vinh quang (honor) trừ nơi quê hương và trong gia đ́nh.”  Và ông ta không làm những phép lạ ở đó, v́ họ không có tin.

  Mark 6: 3 cũng kể giống như đoạn trên.

John 10: 20: Có nhiều người nói: “Ông ta bị quỷ ám và điên rồi.  Nghe ông ta làm chi? (And many of them said, “He has a demon and is mad.  Why do you listen to him?”)

John 6: 42:  Và họ nói: “Đây chẳng phải là Giê-su, con ông Joseph hay sao mà cha mẹ ông ta chúng ta đều biết.  Sao mà ông ta lại nói: “Ta đă từ trên trời xuống

John 7: 5: V́ ngay cả các em ông ta cũng không tin ông ta. (For even his brothers did not believe in him)

Mark 3: 20-21: Giê-su trở về nhà và đám đông lại kéo đến, thành thử Người và các môn đệ không có th́ giờ ăn uống được. Thân nhân của Người hay tin ấy, liền đi bắt Người, v́ họ nói rằng “Người đă mất trí.”

    Chúng ta thấy, ngay thời đó mà cũng có nhiều người không tin Giê-su.  Có thể đó là những người có đôi chút đầu óc.  V́ thế nên Giê-su dạy:

    Matthew 18: 3 Đúng vậy, ta nói cho các ngươi biết, trừ phi các ngươi biến cải và trở thành như trẻ con, không có cách nào các ngươi có thể vào trong nước thiên đường. (Assuredly, I say to you, unless you are converted and become as little children, you will by no means enter the kingdom of heaven.)

   Mark 10: 15: Đúng vậy, ta nói cho các ngươi biết, người nào mà không tiếp nhận nước Chúa như là một đứa trẻ th́ sẽ không có cách nào vào đó được.  (Assuredly, I say to you, whoever does not receive the kingdom of God as a little child will by no means enter it.)

    Chúng ta cũng c̣n thấy đoạn mô tả Giê-su cầu nguyện:

    Matthew 11: 25: Hỡi Cha là Chúa của trời đất, tôi khen ngợi Cha, v́ Cha đă che dấu những điều này đối với kẻ khôn ngoan, người sáng dạ, mà tỏ ra cho những con trẻ hay.  (I thank you, Father, Lord of heaven and earth, because you have hidden these things from the wise and prudent and have revealed them to babes)

    Như vậy, chúng ta thấy rằng, đạo Giê-su là đạo dành cho những người có đầu óc của trẻ con.  Con trẻ, về thể chất cũng như tinh thần , đều chưa phát triển và trưởng thành, chưa có đủ khả năng suy nghĩ để phân biệt thật hay giả, đúng hay sai, cho nên ai nói ǵ cũng tin và hay làm theo, bắt chước.  Nó giống như một con chiên (cừu), người chăn chiên dắt đi đâu th́ đi đó.  V́ vậy các tín đồ Ca-Tô Việt Nam c̣n được gọi là con chiên. Hiển nhiên là Chúa  rất thành công với những người đầu óc như của con trẻ, c̣n đối với những người thông thái sáng dạ hay ít ra là có đôi chút  đầu óc suy nghĩ th́ Ngài lại hoàn toàn thất bại.  Chúa cũng c̣n thành công với những người đầu óc bấn loạn, khủng khoảng tinh thần, cần bám vào một cặp nạng thần quyền để lê lết trong cuộc đời.

       Các tác giả Phúc Âm thường lấy những câu ngoài ngữ cảnh (out of context) trong Cựu Ước để chứng minh vai tṛ “cứu thế” của Giê-su là phù hợp với những lời tiên tri trong Cựu Ước, nhưng v́ Giê-su không hoàn thành bất cứ điều nào mà Giáo hội cho là tiên tri trong Cựu Ước, cho nên họ lại dựng lên chuyện Giê-su sẽ trở lại (Second coming) để hoàn thành những điều Giê-su đă thất bại khi c̣n sống.  Nhưng những ǵ viết trong Tân Ước lại cho thấy Giê-su cũng lại là một nhà tiên tri dỏm.  Chúng ta hăy đọc những ǵ ông ta nói về ngày trở lại của ông ta:

 

   Matthew 16: 27-28:  “Ta (Con của Người: Giê-su) sẽ trở lại với các thiên sứ trong vinh quang của Cha ta để thưởng phạt mỗi người tùy theo việc họ làm.  Ta cho các con biết: một vài người đang đứng đây sẽ c̣n sống cho đến khi nh́n thấy ta vào trong Nước ta”. (For the Son of Man will come in the glory of His Father with His angels, and then He will reward each according to his works. Assuredly, I say to you, there are some standing here who shall not taste death till they see the Son of Man coming in his kingdom.)

Matthew 24:34: “Ta quả quyết, thời đại này chưa chấm dứt, các biến cố ấy đă xảy ra rồi” (Assuredly, I say to you, this generation will by no means pass away till all these things are fulfilled)

Mark 9: 1: Chúa bảo các môn đệ: “Ta cho các con biết, một vài người đang đứng đây sẽ c̣n sống cho đến khi nh́n thấy nước trời thiết lập với uy quyền vĩ đại”  (And He said to them, “Assuredly, I say to you that there are some standing here who will not taste death till they see the kingdom of God present with power.”)

 Mark 13:30:  “Ta quả quyết, thế hệ này chưa qua đi th́ các biến cố đó (các biến cố xung quanh ngày tận thế và sự trở lại của Giê-su. TCN) đă xảy ra rồi”. (Assuredly, I say to you, this generation will by no means pass away till all these things take place.)

Luke 21: 27, 32: “Bấy giờ nhân loại sẽ thấy ta giáng xuống trong mây trời với vinh quang và uy quyền tuyệt đối.. Ta quả quyết: thế hệ này chưa qua, các biến cố ấy đă xảy ra rồi”. (Then they will see  the Son of Man coming in a cloud with power and great glory.. Assuredly, I say to you, this generation will by no means pass away till all these things are fulfilled.)

John 14: 3: “Ta đi chuẩn bị chỗ ở cho các con.  Khi chuẩn bị xong, ta sẽ trở lại đón các con về với ta để các con ở cùng ta măi măi.” (And if I go and prepare a place for you, I will come again and receive you to myself; that where I am, there you may be also).

 

   Nhưng nay thế hệ của các tông đồ của Giê-su đă qua 2000 năm rồi, có ai thấy ông ta trở lại hay là thấy ông ta ở đâu ngoài trên các bức tranh hay trên những cây thập giá trong các nhà thờ?

   Một chuyện khác là Giê-su tuyệt đối tin vào những chuyện hoang đường trong Cựu Ước và hoang tưởng vào chính ḿnh như đoạn sau đây:

   Matthew 12: 40 Cũng như Jonas nằm trong bụng cá voi ba ngày ba đêm, con của người (Giê-su) cũng sẽ ở trong ḷng đất ba ngày ba đêm. [For as Jonas was three days and three nights in the whale's belly; so shall the Son of man be three days and three nights in the heart of the earth.]

   Nhưng Tân Ước cũng lại viết rơ là Giê-su chết chiều thứ Sáu (Kinh Tin Kính nói là ông ta xuống “ngục tổ tông”) và đă sống lại vào sáng Chủ Nhật (ngôi mộ trống), như vậy là có hai đêm và hơn một ngày.  Giê-su đă tiên tri sai về chính đời ḿnh. Điều này cho thấy chuyện Giê-su chết đi sống lại, cũng như mọi lời tự nhận của Giê-su như là từ trên trời xuống, là ánh sáng, là sự sống v.v… đều không đáng tin, chỉ là những luận điệu thần học.  Mà thật vậy, tất cả những lời tự nhận của Giê-su đều đă bị các học giả bác bỏ.  Tại sao?

   Giê-su tự nhận ḿnh là Con Thiên Chúa, hay chính là Thiên Chúa “John 10:30: Ta với Cha ta là một”.  Mà Thiên Chúa, theo niềm tin của các tín đồ Ki-Tô, là bậc toàn năng, nghĩa là làm ǵ cũng được, và toàn trí, nghĩa là cái ǵ cũng biết, kể cả quá khứ vị lai, hai thuộc tính của Thiên Chúa có tính cách loại trừ hỗ tương (mutual exclusive), nghĩa là có cái này th́ không thể có cái kia, mà giáo hội đă thành công cấy vào đầu óc tín đồ từ khi c̣n nhỏ, khi họ chưa phát triển về trí tuệ cũng như về thân xác.  Điều  này khiến chúng  ta bắt buộc phải chọn một trong hai điều sau đây chứ không thể chọn cùng lúc cả hai. 

-   Nếu những lời Giê-su nói không hề sai lầm, đúng trong mọi thời đại, th́ vai tṛ Thiên Chúa của Giê-su có thể tạm chấp nhận được. 

 -  Nếu trong những lời nói và hành động của Giê-su có những sai lầm th́ Giê-su không thể nào là Thiên Chúa. 

  

   Nhưng Tân Ước lại chứng tỏ rằng Giê-su có rất nhiều sai lầm.  Vậy thực ra những lời nói của Giê-su cũng chỉ là những lời nói của một người thường, với sự hiểu biết giới hạn của một người thường, ở tŕnh độ của một người dân thường trong vùng dân Do Thái cách đây 2000 năm, như Russell Shorto đă nhận định ở trên.  Và như vậy, Giê-su đă phạm tội nói láo và lừa dối, v́ ông ta khẳng định rằng những lời nói của ông là của Thiên Chúa không thể sai lầm.  Kết luận: Giê-su chỉ có thể đóng một trong hai vai tṛ: Thiên Chúa hay một người thường phạm tội nói láo và lừa dối chứ không thể cùng lúc cả hai.  Vậy vai tṛ nào là vai tṛ đích thực của Giê-su? 

    Điều này không khó, chúng ta chỉ cần mở Thánh Kinh ra đọc th́ sẽ thấy ngay.  Khoan kể những sai lầm của Giê-su về “ngày trở lại vinh quang” của ông ta, và nằm trong ḷng đất “ba ngày ba đêm”, Bác sĩ  Nguyễn Văn Thọ cũng như học giả Rubem Alves, dựa trên Thánh Kinh, đều viết rằng Giê-su tin và khẳng định rằng Moses (Môise) là tác giả của Ngũ Kinh trong khi thực sự th́ Moses không viết.  Huyền thoại về Moses được viết ra khoảng 3, 4 trăm năm sau khi Moses đă chết, trong 2 phẩm Xuất Ê-Díp-Tô (Exodus) và Dân Số (Numbers). Đây là kết quả nghiên cứu của những chuyên gia nghiên cứu Thánh Kinh mà chính giáo hội Công giáo cũng phải chấp nhận. Bằng chứng?  Tên các vị Vua xứ Edom viết trong Sáng Thế 36 là những vị Vua sống trong những thời kỳ sau khi Moses đă chết từ lâu.  Trong Phục Truyền 34 có kể cả chuyện Moses chết ra làm sao, chẳng lẽ Moses lại tả chuyện chính ḿnh chết?  Cho nên Moses không thể là tác giả của Ngũ Kinh.  Vậy, nếu Giê-su đă sai lầm về một sự kiện lịch sử nhỏ nhặt như trên, không biết đến cả tác giả Ngũ Kinh là ai mà lại cho đó là Moses,  th́ làm sao chúng ta có thể tin được những lời nói về những chuyện trên trời, dưới đất, và nhất là những lời tự tôn của Giê-su, cho ḿnh chính là  Thiên Chúa toàn năng, toàn trí, và những lời đó chính là của Thiên Chúa?  Kết luận, những câu khẳng định về cái "Ta" của Giê-su chẳng qua cũng chỉ là những điều hoang tưởng bệnh hoạn, không khác ǵ những hoang tưởng của David Koresh, James Jones và vô số người khác trong thời đại này.

    Tôi có thể trích dẫn từ Tân Ước nhiều hơn nữa những điều viết về con người của Giê-su, nhưng tôi nghĩ như vậy cũng đă tạm đủ để cho chúng ta nhận thức được đứng đắn về con người Giê-su mà các tín đồ Ki Tô tin là Thiên Chúa thực sự là như thế nào.  Tôi cần phải nói, đây là sự nghiên cứu trong lănh vực học thuật, những trích dẫn và khảo luận vấn đề đều dựa trên chính cuốn Tân Ước.  Đọc giả có thể kiểm chứng dễ dàng và nhận định về con người Giê-su ra sao là tùy theo cá nhân mỗi người.  Ai không tin Giê-su th́ cứ việc không tin, c̣n ai tin Giê-su th́ cứ việc tin.  Đây là quyền tuyệt đối của mỗi người.

    Rất có thể khi tôi trích dẫn những câu từ Tân Ước th́ chắc chắn sẽ có người nói rằng tôi đọc Thánh Kinh mà không hiểu, hoặc người phàm không hiểu được bậc thánh.  Tôi hi vọng những người phê b́nh như vậy hăy bỏ chút th́ giờ để giảng cho tôi và có thể cho một số đọc giả khác để cho chúng tôi hiểu rơ hơn.  Những lư luận đại khái như: “Hội Thánh hay các nhà thần học đă giải thích những đoạn đó từ lâu rồi” mà không đưa ra sự giải thích đó như thế nào th́ thực chất là vô giá trị, không thể thuyết phục được người đọc, không nên đưa vào trong một bài thuộc lănh vực phê b́nh, đối thoại.

    Người dân Việt, với bản chất hiền lành, mộc mạc, "dĩ ḥa vi quư", không bao giờ muốn gây sự hiềm khích giữa các khối dân chúng có tín ngưỡng khác nhau. Hệ thống tín ngưỡng của Việt Nam, trong tinh thần Tam Giáo (Thích, Nho, Lăo) Đồng Nguyên, là một hệ thống chiết trung, nghĩa là không bám chặt vào một tín ngưỡng hay một hệ thống tư tưởng chuyên biệt nào, thể hiện một tinh thần bao dung, không có tính cách loại trừ. Cho nên, rất có thể có những người không đồng ư với công việc nghiên cứu của tôi: đưa ra những sự thật về Chúa Giê-su của người Ki-tô, Ca-tô cũng như Tin Lành, cho rằng như vậy chỉ gây chia rẽ tôn giáo. Những người này phần lớn là những tín đồ Ca-tô Rô-ma Giáo.

    Trong lănh vực học thuật, đưa ra những sự kiện lịch sử về Ki-Tô Giáo nói chung, về Ca-tô Rô-ma Giáo nói riêng, và những điều viết trong cuốn Thánh Kinh của Ki Tô Giáo, thuần túy từ Thánh Kinh, không có nghĩa là gây chia rẽ tôn giáo, chống Ki-Tô giáo, hay gây hận thù giữa những khối dân tộc có tín ngưỡng khác nhau. Đây là chuyện các trí thức Tây phương đă làm từ 200 năm nay.  Sự thật là sự thật, sự thật không có tính cách bè phái và tuyệt đối không thiên vị. Lương tâm trí thức của bất cứ người Việt Nam nào quan tâm đến vấn đề tôn giáo là phải tôn trọng sự thật trong các tôn giáo, bất kể sự thật đó như thế nào. Trong thời đại này, chúng ta phải có can đảm đối diện với sự thật dù sự thật đó không hợp ư ta hay mang đến cho chúng ta ít nhiều phiền muộn, cay đắng. 

    Mặt khác, muốn nói về chia rẽ tôn giáo th́  nếu chúng ta nh́n kỹ lịch sử th́ chúng ta sẽ thấy rằng, trong mấy trăm năm nay, từ khi Ca-Tô Rô-ma giáo du nhập Việt Nam, và cho tới tận ngày nay, sự chia rẽ tôn giáo không phát xuất từ đại khối dân tộc, mà từ một tín ngưỡng thuộc thiểu số, vào khoảng 7% dân số: tín ngưỡng Ca-Tô, dựa trên thế lực ngoại bang và cường quyền. Lịch sử Việt Nam, từ khi Ca-Tô Giáo du nhập Việt Nam năm 1533, trong thời Pháp thuộc, và trong 20 năm, từ 1955 đến 1975, ở miền Nam Việt Nam, đă chứng tỏ như vậy. Thật vậy, chính Linh mục Lương Kim Định cũng phải thú nhận trong cuốn Cẩm Nang Triết Việt, trang 57, rằng:


"sự truyền đạo Thiên Chúa vào Việt Nam...đă đưa đến sự chia khối dân tộc đang thống nhất thành hai phe lương giáo làm cho sự liên lạc giữa đôi bên trở nên nhức nhối đầy e dè nghi kỵ. Đấy là một tai nạn lịch sử mà thời gian tuy có giảm đi nhưng xem ra không sao xóa sạch được."

   Không nhức nhối và e dè nghi kỵ làm sao được khi mà người trí thức Ca-Tô đạo gốc Bùi Văn Chấn, alias Charlie Nguyễn, đă phải đau ḷng viết sách tố cáo tinh thần nô lệ của Hội Đồng Giám Mục Ca-Tô Việt Nam, và nêu lên sự kiện là cho tới tận ngày nay, trong các sách bổn, kinh cầu nguyện, kinh nhựt khóa của giáo dân Ca-Tô Việt Nam v..v.., vẫn c̣n chứa những câu có tính cách xúc phạm đến toàn thể dân tộc Việt Nam, đến ông bà tổ tiên chúng ta, đến Phật Giáo và tất cả những tôn giáo khác v..v.., những câu như: "Kẻ dữ là kẻ chẳng có đạo"; "Xin Chúa đoái thương dân tộc Việt Nam đang c̣n ngồi trong bóng tối tăm ngoại giáo"; "..đang ở nơi tối tăm thờ lạy bụt (Phật) thần ma quỉ"; "Ông Thánh Phan-xi-cô Xa-vi-e phá tan đạo Bụt Thần"; "Ông Thánh Phan-xi-cô Xa-vi-e là lịnh rao truyền tiếng Đức Chúa Thánh Thần cho những dân mọi rợ." v..v.. (Xin đọc "Công Giáo: Huyền Thoại Và Tội Ác", và "Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm" của Charlie Nguyễn, Giao Điểm xuất bản, 2001)


   Khi xưa, nấp dưới bóng thực dân Pháp, và dưới hai chế độ Ca-Tô ở miền Nam, sự hiện hữu của những bản kinh này thật là dễ hiểu, v́ cường quyền và bạo lực đă thắng công lư. Nhưng ngày nay, nước nhà đă độc lập và thống nhất, sự hiện hữu của những bản kinh trên trong một dân tộc mà Ca-Tô giáo chỉ chiếm 7% dân số th́ thực là một điều khó hiểu. Đối với tôi th́, v́ hiểu rơ bản chất của Ki Tô Giáo nói chung, Ca-Tô Rô-ma Giáo nói riêng, nên tôi chẳng chấp vào những điều huênh hoang hung hăng cuồng tín bắt nguồn từ vô minh và ảo tưởng kiêu căng vô lối, hỗn xược của đám người nô lệ trong giáo hội Ca-Tô Việt Nam. Nhưng đối với đại khối dân tộc th́ sao? Ai đă chia rẽ tôn giáo ở đây? Chắc chắn không phải là những người viết sách đưa ra những sự thực lịch sử của Ca Tô Rô-Ma Giáo, đặc biệt là Ca-Tô Giáo Rô-Ma tại Việt Nam, hay lịch sử Tin Lành.

     Do sự "giáo dục" của giáo hội, đặc tính của những con chiên này là sống vất va vất vưởng tạm bợ nhờ cơm gạo của các quốc gia ḿnh đang sống trong đó để lo t́m nước Chúa v́ đây mới chính là quê thật của họ.  Kinh Nhựt Khóa của Ca-tô Giáo ở Việt Nam đă chẳng có câu: "Xin Chúa làm cho tôi khinh dễ sự đời là chốn muông chim cầm thú, xin làm cho tôi đặng về quê thật hiệp làm một cùng vua David."  hay sao? (Xin đọc Charlie Nguyễn: Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm, trang 66).  Lẽ dĩ nhiên, trong chốn chim muông cầm thú đáng khinh dễ này không thể thiếu mặt gia đ́nh, ông bà, cha mẹ, anh chị em các tín đồ, và đồng bào, v́ không ai có thể sống ngoài sự đời.  Lời kinh trên đă theo đúng lời Giê-su dạy mà tôi đă trích dẫn từ Thánh Kinh ở trên: Luke 14: 26: Nếu kẻ nào đến với ta mà không "căm ghét" cha mẹ, vợ con, anh chị em, và ngay cả đời sống của hắn, th́ hắn không thể là môn đồ của Ta. (If anyone who comes to me and does not hate his father and mother, wife and children, brothers and sisters, yes, and his life also, he cannot be My disciples.)

    Tôi không hiểu tại sao tín đồ Ca Tô Việt Nam lại cứ bám vào sự sống trong chốn chim muông cầm thú mà không tự sát chết hết đi cho rồi để về quê thật mà hiệp với Vua David?  Tại sao họ lại oán trách các Vua Triều Nguyễn đă bách hại giáo dân mà không nghĩ rằng các ông Vua Triều Nguyễn đă giúp họ thoát khỏi cảnh chim muông cầm thú để họ có thể mau về với Vua David ở quê thật của họ?  Những câu hỏi trên tôi chỉ đặt ra để cho những Ki Tô hữu của tôi suy nghĩ về câu kinh họ cầu chứ không phải là tôi man rợ đến độ thực tâm muốn cho họ chết hết, hay đồng ư với sự bạo hành giáo dân dưới thời các triều Nguyễn, v́ tôi biết rằng trải qua bao nhiêu đời, họ đă bị nhốt trong bóng tối dày đặc của ư thức hệ Rô-Ma (Dr. Barnado: In the thick darkness of Romanism), do đó nhiều khi họ chỉ đọc những kinh như con vẹt mà không hiểu ǵ cả, kinh viết bởi những người vốn cũng đă từng sống trong bóng tối dày đặc của ư thức hệ Rô Ma trong nhiều đời.

    Do đó, chúng ta không lấy ǵ làm lạ khi nền giáo dục Ca-Tô đă có thể đào tạo nên một  Linh Mục Hoàng Quỳnh, người phát biểu câu thời danh nhất trong lịch sử Việt Nam: "Thà mất nước chứ không thà mất Chúa.".  Và ngày nay, 1995, Linh Mục Trịnh Văn Phát vẫn có thể thản nhiên tuyên bố: "Giúp quê hương không phải là bổn phận trực tiếp của tôi.  Tôi không có tự do chọn lựa, tôi được huấn luyện là để phục vụ cho nhu cầu của Giáo hội." ("Cảm nghĩ một chuyến đi"; Liên lạc Giáo hoàng học viện Piô Đàlạt số 2, 7/1995, trg. 72. (Nhóm Úc Châu)).

   Chúng ta cũng không nên quên rằng, khi các nhà truyền giáo Tây phương xâm nhập Việt Nam truyền đạo, những tín đồ Ca-Tô tân ṭng được dạy là phải tuyệt đối "quên ḿnh trong vâng phục" các linh mục và giám mục, chứ không có bổn phận phải tuân theo luật lệ quốc gia, v́ theo chủ thuyết Ca-Tô, Thần quyền tự phong của Ca-Tô Giáo đứng trên thế quyền ở bất cứ nơi nào trên thế giới.  Và đây chính là một trong nhiều lư do các Vua Triều Nguyễn đă coi Ca-Tô Giáo là Tà Đạo.

   Cái bản chất  phi tổ quốc,  phi dân tộc  của các tín đồ Ca-Tô đă được Edgar Jones phân tích khá rơ trong cuốn Jesus: The Rock of Offense.  Tác giả là mục sư Tin Lành ở Memphis, Tennessee.   Từ sự phân tích này, hi vọng chúng ta có thể hiểu rơ vấn đề hơn.

   Những người đáp ứng lời kêu gọi gia nhập "đoàn chiên nhỏ", giống như Giê-su, đến từ một quốc tịch của một quốc gia trong những quốc gia trên thế giới.  Họ không c̣n dự phần trong những quốc gia (của họ) trong thế giới nữa, và họ cũng chẳng muốn dự phần làm chi.  Sự tách biệt ra khỏi quốc gia này là do sự thay đổi về ḷng trung thành của cá nhân họ và phản ứng của thế giới (đối với họ) : sự căm ghét.  Giê-su đă chứng nghiệm sự căm ghét cao độ của quốc gia ông ta.  Với sự căm ghét này ông ta đă làm gương cho các môn đồ của ông ta.  Ông dạy họ là họ sẽ bị mọi quốc gia ghét (Matthew 24:9). Ông ta bao giờ cũng cân nhắc cẩn thận lời nói của ḿnh để chuyển đạt ư định của ḿnh.  Bất cứ khi nào ông nói "mọi quốc gia" là ông ta nghĩ đúng như vậy.  Cũng vậy, điều mà chúng ta biết chắc là: bất cứ người nào mà không bị mọi quốc gia ghét th́ người đó không thuộc đoàn chiên của ông ta.  Giê-su đă nói thật rơ ràng rằng những người theo ông sẽ bị mọi quốc gia ghét.

   Vậy, đây là một tiêu chuẩn để chúng ta định giá trị về ước vọng của chúng ta trong sự chia xẻ gia tài của nước Chúa. Hăy nhớ lời của Giê-su: "Các ngươi sẽ bị mọi quốc gia ghét (Matthew 24:9)"

   Chúng ta thay đổi sự trung thành của chúng ta v́ chúng ta không c̣n ǵ mấy để chia xẻ với những quốc gia của chúng  taChúng ta không c̣n dự phần ǵ mấy với cha mẹ, gia đ́nh, châu báu, sự t́m kiếm, đời sống, bạn hay thù.  Giêsu  đă hủy bỏ sự trung thành với nơi sinh của chúng ta và thay thế bằng một nơi sinh thứ hai hay tái sinh.(Ki Tô Giáo có danh từ "born again" chỉ những người hoàn toàn thay đổi, như là chết đi sống lại để tuyệt đối tin vào Chúa và hiến thân toàn vẹn cho Chúa.  Nói cách khác con người cũ của chúng ta phải chết đi để sống lại trong Chúa dù không phải là thân xác chết thật. TCN)

   Do đó, ḷng ái quốc, chủ  yếu thường  đặt vào quốc gia của con người, nay trở thành tâm điểm của sự ácChúng ta không c̣n là những người yêu nước theo ư nghĩa quốc gia, v́ yêu nước có nghĩa là tôn trọng tổ tiên, và chúng ta đă thay thế tổ tiên xưa, nghĩa là những người sáng lập đất nước, và tổ tiên đă sinh ra ta, bằng một người cha của chúng ta ở trên trời.

   Sự   tái  sinh  này  cũng  giống y  như  sự  sinh  ra  đầu  tiên, theo nghĩa là nó cung cấp cho chúng ta các bậc sinh thành mới, một gia đ́nh mới, một quốc gia mới, và một quốc tịch mới.  Mọi sự liên hệ mà chúng ta có từ khi mới sinh ra đời đối với quốc gia dân tộc gia đ́nh v.. v.. được thay thế bởi những liên hệ mới trong sự tái sinh.  Trong dân tộc mới này, Thiên Chúa là người Cha mới và duy nhất,và những người tuân theo ư Thiên Chúa là những người mẹ mới, anh chị em, con trai con gái mới. Dân tộc mới là "đoàn chiên nhỏ", và quốc tịch mới là quốc tịch ở trong đoàn chiên nhỏ, hay căn bản hơn, là quốc tịch trong nước của Thiên Chúa, v́ nước này đă được trao cho bầy chiên nhỏ.

 

   [Edgar, Jones, Jesus: The Rock of Offense, p. 68-69: People who respond to the call to belong to the little flock come, like Jesus, out of a nativity associated with nations of the world.  They are no more participants in the nations of the world, nor do they wish to be.  Their separation is effected both by a change in their personal loyalty and by the response of the world: hatred.  Jesus experienced the intense hatred of the nation.  In this he served as an example for his disciples.  He had taught that they were to be hated by all nations.  Therefore there is no nation that does not hate his disciples (Matthew 24:9).  He always chose his words with care to convey his meaning.  Whenever he said, "all nations", he meant exactly that.  Also, of this we may be sure: whoever is not hated by all the nations of the world has no part in the little flock.  Jesus said expressly that such would be hated by all nations.  This, then, becomes a criterion by which we evaluate our hope of sharing in the inheritance of the Kingdom.  Remember his word: You shall be hated by all nations (Matthew 24:9)

   We change our personal loyalty because we no longer have much in common with the nations.  We share neither father, nor family, nor treasure, nor quest, nor life, nor friend, nor wnemy.  He cancels the loyalty of the first nativity and replaces it with a new one arising from a second nativity or rebirth.  Thus patriotism, as usually centered in one's earthly nation, becomes a focus of evil.  We are no more patriots in the national sense, for patriotism means "fatherism", and we have supplanted the old fatherism, which focused on "the fathers of the nation" and the progenitor fathers, with a new one centered in the Father in heaven.

   This second nativity is nothing less than the new birth that Jesus made essential to seeing the Kingdom of God.  It was to Nicodemus that he said:  Truly, truly, I say to you, unless one is born a new, he cannot see the Kingdom of God (John 3:3).

   This new birth acts in precisely the same way as the old one, in that it provides one with a new parentage, a new family, a new nation and citizenship.  Every relationship arising from the first birth is replaced by the new relationships arising from the second, or new birth.... Within the new ethnicity, God is the new and only Father; those who do his will are the new mother, brother, sister, son, and daughter.  The new nation is the little flock, and the new citizenship is that in the little flock, or more fundamentally, citizenship in the Kingdom of God, since it is to the little flock that the Kingdom is given.

 

    Tôi không chủ trương gây hận thù hay chia rẽ, nhưng tôi quan niệm rằng sự mở mang dân trí là điều kiện tất yếu của sự tiến bộ quốc gia, và sự ḥa hợp trong các khối dân tộc chỉ có thể có khi chúng ta hiểu rơ tín ngưỡng của nhau và t́m những phương cách để cùng nhau chung sống trên đất nước thân yêu của chúng ta. Hận thù và chia rẽ bắt nguồn từ sự thiếu hiểu biết chứ không từ sự hiểu biết những sự thực tôn giáo. Sự ḥa hợp tôn giáo trong các nước văn minh tiến bộ Âu Mỹ, nơi đây có vô số những sách viết về mọi tôn giáo, là một tấm gương để chúng ta soi vào.

  
Tôi không chống cá nhân những người theo Ki Tô Giáo, Ca-Tô cũng như Tin Lành. Đối với tôi, không có lư do ǵ để chống họ, nhất là chỉ v́ họ đi theo một tôn giáo hợp với sở thích của họ. Tuy nhiên, trong thời đại này, những sự thực lịch sử cũng như giáo lư của tôn giáo, bất kể là tôn giáo nào, cần phải được tŕnh bày rơ ràng để cho người dân biết đâu là sự thực. Đưa ra những sự thật về tôn giáo để nhận rơ đâu là nguồn gốc khổ đau cũng như đâu là nguồn gốc hạnh phúc mà tôn giáo đă mang đến cho nhân loại, ít ra là trong vài ngàn năm qua, tôi cho là một điều cần thiết, nhất là đối với tuyệt đại đa số người dân Việt Nam.

   Để biện giải và bẻ hướng nghiên cứu Thánh Kinh của các học giả, một số tín đồ Ki Tô Giáo thường đưa ra câu hỏi: “Thế trong Thánh kinh không có đạo lư hay sao?  Những ǵ chúng tôi biết về Ki Tô Giáo là những đạo lư  như kính Chúa, yêu người, và các điều răn của Thiên Chúa v.v…”  Các học giả đă gọi lối biện giải này là “quan sát chọn lọc” (selective observation), nghĩa là chỉ xét đến những cái hay mà không cần biết đến những cái dở.  Người Mỹ c̣n có câu: “Chỉ kể những cái trúng, bỏ qua những cái trật” (Only counting the hits and ignoring the misses). Bởi v́ thực tế là: Hơn 90% cuốn Thánh Kinh là những chuyện thuộc vùng đất Do Thái, thuộc lịch sử Do Thái và là những chuyện chém giết, vô luân, độc ác v..v.. cùng những tín lư chứ không phải là đạo lư.”  Phần c̣n lại, như bài giảng trên núi, cũng không có ǵ đặc biệt, không có ǵ mới lạ, không có ǵ theo kịp, khoan nói đến chuyện vượt qua, được những tư tưởng, giáo lư của Phật Giáo, Khổng Giáo và Lăo Giáo.  Tôi thách đố bất cứ ai có thể đưa ra bất cứ đạo lư nào, tôi xin nhấn mạnh: đạo lư về đạo đức, cách xử thế v..v…chứ không phải là tín lư,  trong Thánh Kinh mà ta không thể t́m thấy trong Nho, Thích, Lăo, và có thể minh xác  cho độc giả thấy cái đạo lư trong Thánh Kinh là cái đạo lư như thế nào, có nhất quán hay không, hay là mâu thuẫn với rất nhiều điều vô đạo ở trong cuốn Thánh Kinh?

   Những tín đồ CaTô giáo thường không đọc Thánh Kinh, và thường là những người các linh mục “bảo sao nghe vậy”, mà linh mục lại là những người Ṭa Thánh “bảo sao nghe vậy” và cũng không đọc Thánh Kinh, cho nên họ vẫn tin rằng Thánh Kinh là những lời mặc khải của Thượng đế, do đó không thể sai lầm và tất nhiên phải chứa những lời khuyên răn về t́nh thương, luân lư, đạo đức v…v…Ngoài ra, theo lời “Giáo hội dạy rằng”, họ tin rằng CaTô giáo là cái đạo chân thật duy nhất, cao quư nhất trên hoàn cầu.  Họ bị một cái guồng máy nhồi sọ tinh vi của Giáo hội đưa vào đầu óc họ những thông tin  sai lầm  thí dụ  như: nền văn minh tiến bộ ở Âu Mỹ là nền văn minh KiTô giáo, và rằng giáo hội CaTô đứng đầu trong việc tôn trọng nhân quyền, bảo vệ tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, là bạn của dân nghèo, là quán quân trong các việc thiện, là tiền phong trong vấn đề giáo dục mở mang đầu óc con người.  Các học giả nghiên cứu về Ca Tô Giáo Rô-ma đă coi những điều tuyên truyền trái ngược với sự thực của Giáo hội như trên là “Học Thuật Ca Tô” (Catholic scholarship), và “Học Thuật Ca Tô” đă nổi tiếng trên thế giới không phải là “học thuật” (scholarship) theo đúng nghĩa của một “học thuật lương thiện”.

   Ngày nay, v́ một lư do rất dễ hiểu, Ki Tô Giáo đă  đặt nhẹ Cựu Ước và tập trung vào vai tṛ “cứu thế” của Giê-su trong Tân Ước,  với những giáo lư mà Giáo hội khoác lên ḿnh Giê-su theo sách lược “quan sát chọn lọc” để quảng cáo cho cái h́nh ảnh Giê-su do Giáo hội dựng lên. Vậy th́ chúng ta hăy t́m hiểu có những giáo lư ǵ đặc biệt, độc đáo trong những lời thuyết giảng của Giê-su.    Nhận định sau đây của Joseph L. Daleiden, một học giả Ca-tô, trong cuốn The Final Superstition, trg. 174, về cái gọi là giáo pháp của Giê-su có thể giúp chúng ta nh́n rơ vấn đề một cách tổng quát:

   Có rất ít, nếu có, điều sáng tác độc đáo trong giáo pháp mà người ta cho là của Giêsu.  Giống như chính huyền thoại về Giêsu, những quan điểm mà Giêsu diễn đạt chỉ là một mớ hổ lốn những ngụ ngôn và luân lư mà chúng ta có thể thấy trong những đạo cổ xưa của Ai Cập, Babylon, Ba Tư, Hi Lạp, Phật, Khổng, Ấn Độ…  Một điều rơ ràng:  Ki Tô Giáo, một tôn giáo sinh sau đẻ muộn trong lịch sử các tôn giáo, chỉ cóp nhặt những quan điểm, ư kiến của Do Thái Giáo và các tôn giáo gọi là dân gian.  Trong cuốn “Nguồn Gốc Luân Lư Trong các Phúc Âm”, Joseph McCabe (Một Linh Mục Ca-tô. TCN) đă trích dẫn những quan điểm luân lư trong Phúc Âm mà người ta cho là của Giêsu song song với những quan điểm luân lư tương đương và y hệt của các tác giả Do Thái và dân gian.

   [Daleiden, Joseph L., The Final Superstition, p. 174:  There is very little, if anything, that is original in the teaching attributed to Jesus.  Like the myth of Jesus itself, the sentiments he expresses are a hodgepodge of aphorisms and moral convictions that can be found in the ancient Egyptian, Babylonian, Persian, Greek, Buddhist, Confucian, and Hindu religions…  But one thing is certain:  Christianity, a late-comer in the history of religion, merely plagiarized sentiments from Judaism and the so called pagan religions.  In his book Sources of Morality in the Gospels, Joseph McCabe quoted the moral views attributed to Jesus in the gospels and in parallel columns gave exact moral equivalents from Jewish and pagan writers.]

 

   Thật vậy, đọc Thánh Kinh và với một chút kiến thức về triết học và tôn giáo, chúng ta có thể thấy rơ là nhận định của Daleiden không phải là sai.  Và chúng ta nên nhớ, Joseph L. Daleiden chỉ nói về những điều mà người ta cho là có ư nghĩa phần nào về đạo đức và luân lư, chứ không kể đến những điều vô đạo đức và phi luân lư của Giê-su trong Tân ước như tôi đă chứng minh qua những trích dẫn ở phần trên.  Vậy tại sao các tín đồ Ca-tô lại bỏ qua hàng núi những cái trật mà chỉ kể đến dăm ba điều mà họ cho là trúng, dù rằng họ có thể t́m thấy những điều này trong các tôn giáo dân gian khác.  Như vậy, thật ra những người Ca-tô theo đạo chẳng phải v́ những điều đạo đức trong Thánh Kinh, hay những ǵ để họ có thể thăng tiến về mặt trí tuệ, mà tất cả chỉ là tin vào một cái bánh vẽ trên trời, mà họ gọi là “tin mừng phúc âm”.  Điều này thật là rơ ràng qua những lời họ cầu hàng ngày trong Kinh Nhựt Khóa: "Xin Chúa làm cho tôi khinh dễ sự đời là chốn muông chim cầm thú, xin làm cho tôi đặng về quê thật hiệp làm một cùng vua David."

    Nhưng nghiên cứu kỹ th́  “Tin Mừng Phúc Âm” lại là một điều nhảm nhí nhất trong những điều nhảm nhí ở trong Tân Ước.  Đó là câu John 3:16: “Thiên Chúa quá thương yêu thế gian đến nỗi ban Con duy nhất của Ngài, để những ai tin vào Người sẽ không bị luận phạt, nhưng được sống đời đời.”  Đây chính là cái bánh vẽ trên trời.  Tại sao?  V́ câu này chỉ có thể áp dụng cho những người sinh sau Giê-su mà thôi. Lẽ dĩ nhiên chỉ có những người sinh sau Giê-su mới có thể biết đến Giê-su và tin Giê-su để không bị luận phạt và có cuộc sống đời đời, tất nhiên là sau khi đă chết, và phải chờ cho đến ngày Giê-su trở lại trần, phán xét công tội của họ, để quyết định cho họ lên thiên đường hay đầy họ xuống hỏa ngục. .  Như được viết rơ trong Tân Ước, ngay cả bố mẹ Giê-su là Joseph và Maria, cùng các em trai em gái Giê-su cũng không tin Giê-su là đấng cứu thế, trái lại c̣n cho là Giê-su đầu óc bất b́nh thường (out of his mind), cho nên  chắc chắn là họ đều bị Giê-su luận phạt và đày đọa xuống hỏa ngục vĩnh viễn?  Lịch sử loài người đâu chỉ bắt đầu từ khi Giê-su sinh ra, chết đi và sống lại, nếu chúng ta có thể tin vào chuyện hoang đường này.  Trước năm 1533, người Việt Nam không ai nghe và biết đến tên Giê-su, hiển nhiên không ai có thể tin Giê-su, vậy tất cả dân tộc Việt Nam trong mấy ngàn năm trước năm 1533 cũng bị luận phạt hay sao?  Những người Việt Nam tân ṭng Ca Tô Giáo có nghĩ đến các điều hoàn toàn vô nghĩa như trên hay không, v́ trong số những người không biết đến và không tin Giê-su có cả những tiền bối hay tổ tiên xa của họ? 

    Điều lạ là ngày nay mà các tín đồ vẫn c̣n tin theo cái tín lư quái gở cực kỳ vô lư đó với một tâm cảnh vô cùng ích kỷ, chỉ nghĩ đến đời sống đời đời sau khi chết của riêng ḿnh, mà không hề nghĩ đến bản chất ác độc, phi lư, phản khoa học, hoang đường, bất khả áp dụng, của sự luận phạt mà Ca-tô Rô-MaGiáo đưa ra để hù dọa những người không tin Giê-su.  Không những chỉ ích kỷ mà họ c̣n để lộ một tinh thần yếu kém, sợ sệt thần linh trong thời đại tiến bộ của khoa học kỹ thuật ngày nay mà quan niệm thần linh khi xưa đă không c̣n chỗ đứng.  Trong thời đại mà các lư thuyết thần học của Ki Tô Giáo đă không c̣n ư nghĩa, tại sao họ vẫn c̣n có thể tin vào một “Thần” của người Do Thái mà bản chất cũng không khác ǵ những “Thần” trong dân gian trên khắp thế giới, được con người tạo dựng lên với hi vọng đáp ứng được những khao khát, ước muốn của ḿnh.  Do đó, tin Giê-su th́ được có cuộc sống đời đời là một sự bịp bợm phi lư rất trắng trợn, như vậy mà không mấy người nh́n ra, và một số bậc lănh đạo Ca-tô ngày nay vẫn ngu ngơ trích dẫn câu trên để truyền đạo, thí dụ như LM Ngô Tôn Huấn trong bài “Sự Thưởng Phạt Đời Đời”:

[http://www.conggiaovietnam.net/index.php?m=module2&v=detailarticle&id=30&ia=8215]

   Dù vậy, đó là quyền tự do tín ngưỡng của họ.  Chúng ta không có quyền ngăn cấm hay dẹp bỏ quyền này, nhưng chúng ta có quyền phê phán, v́ quyền tự do tín ngưỡng đó có ảnh hưởng đến mọi mặt của xă hội.  Trước những sự thực về cuốn Thánh Kinh, và trước những sự tiến bộ của khoa học trong việc t́m hiểu vũ trụ và nhân sinh, con người trong thời đại này không c̣n thể nào tiếp tục tin vào những điều hoang đường, phi lư và không thể đọc được trong Thánh Kinh và trong những giáo lư của Ca Tô Giáo Rô-ma nữa.  Điều này phản ánh sự suy thoái trầm trọng của Ki Tô Giáo đang xẩy ra ở phương trời Âu Châu, cái nôi của Ca-Tô Giáo Rô-ma và Tin Lành trước đây. Tuy nhiên, điều đáng nói là, không phải là các giáo hội con không biết đến những sự kiện này, mà v́ những quyền lợi thế tục về quyền lực cũng như về kinh tế, các giáo hội con ở các địa phương kém phát triển vẫn tiếp tục lùa đám giáo dân thấp kém vào những ốc đảo ngu dốt (từ của linh mục Trần Tam Tĩnh), bưng bít và dấu kín mọi thủ đoạn thiếu lương thiện của Giáo hội cũng như mọi sự tiến bộ của con người. 

 

   Tín đồ Ca Tô quả là những người đáng thương chứ không đáng trách.  Họ bị thuần hóa để tin vào những điều không c̣n giá trị ǵ trong thế giới tiến bộ v́ chúng cực kỳ phi lư,  phản khoa học, chỉ phù hợp với đầu óc của những tín đồ Âu châu trong thời Trung Cổ.  Cho nên, theo tôi, mọi người chúng ta cần phải nỗ lực giải hoặc cho họ, giúp họ theo kịp đà tiến bộ của nhân loại, giúp họ biết rơ sự thật về bản chất của tôn giáo họ, để từ đó họ có thể tự ḿnh giải thoát ra khỏi mớ xiềng xích tâm linh vô h́nh.  Trong thế giới Tây phương, không thiếu ǵ những bậc lănh đạo Ca Tô, từ những nhà Thần học, các hồng y, giám mục, linh mục, cho đến các học giả trí thức v..v.. đă làm công việc này.  Và viết bài này, tôi cũng không đi ra ngoài mục đích trên, một hành động mà theo tôi, trong thời đại này, v́ sự tiến bộ của quốc gia trên mọi mặt, chúng ta không thể tự cho phép lơ là trước những vấn đề trọng đại của đất nước.

   Chúng ta hăy tích cực trong nhiệm vụ này.  Giúp cho người dân mở mang đầu óc, cập nhật hóa kiến thức thời đại, nhận rơ chân thực, là mang đến cho họ một nguồn vui vô tận, đó là ḷng từ: “cho vui”; giúp cho người dân tỉnh thức, không bị huyễn hoặc bởi những điều hoang đường, mê tín, cất bỏ ḷng sợ hăi thần quyền, và thoát khỏi một tâm cảnh nô lệ ngoại quyền, đó chính là ḷng bi: “cứu khổ”.  V́ sự an sinh của quần chúng, v́ tương lai của dân tộc, v́ sự tiến bộ trí thức của người dân, chúng ta hăy cùng nhau góp sức đẩy mạnh những hoạt động có ích này trong t́nh trạng đang phát triển, tiến bộ về mọi mặt của đất nước.  Chúng ta nên nhớ, văn hóa là linh hồn của dân tộc.  Và văn hóa của Việt Nam chính là văn hóa của các bậc tiền nhân để lại và tuyệt đại đa số người dân sống theo.  Chúng ta sẽ không cần phải e ngại trong nhiệm vụ đập tan mọi luận điệu, mưu toan muốn hạ thấp hay xóa bỏ nền văn hóa của Việt Nam mà nhiều đời ông cha cũng như chúng ta đều trân quư.  Lẽ dĩ nhiên, đây là nhiệm vụ chung của mọi người dân yêu nước, nếu chúng ta muốn duy tŕ, ǵn giữ một quốc gia thuần nhất về truyền thống và văn hóa.  Chúng ta không ngần ngại áp dụng những cái hay cái đẹp của các xă hội khác trên thế giới.  Nhưng chúng ta quyết không để cho những đồ phế thải của các xă hội đó xâm nhập vào Việt Nam để gây phương hại cho đất nước.  Chúng tôi hi vọng mọi người chúng ta sẽ có đủ kiến thức và tinh thần vô úy để tham gia trong mặt trận văn hóa này.

   Để kết luận, tôi xin trích dẫn một tài liệu của Học giả Colin Wilson trong cuốn:  “Những Đấng Cứu Thế Lừa Đảo:  Chuyện Về Những Đấng Cứu Thế Tự Xưng” (Rogue Messiahs: Tales of Self-Proclaimed Saviors), cuốn sách có nội dung nghiên cứu về nhiều nhân vật tự xưng là Đấng Cứu Thế trong lịch sử cổ xưa của loài người, trong đó có chương nói về Giê-su. Sau đây là vài đoạn ngắn, trang 18-25:

 

   Đấng Cứu Thế duy nhất trong thời kỳ đó mà ngày nay người ta c̣n nhớ đến, tên là Joshua, được biết nhiều hơn dưới tên Hi Lạp, Giê-su… Ông ta đọc Cựu Ước và tin rằng ngày tận thế sẽ đến ngay trong thời đại của những người sống cùng thời với ông ta; khi đó sẽ có chiến tranh, nạn đói, động đất, và người chết sẽ được làm cho sống lại.  Mặt Trời sẽ trở nên tối tăm và Mặt Trăng sẽ đỏ ngầu như máu, và các ngôi sao sẽ từ trên trời rơi rụng xuống. [Như được viết trong sách Khải Huyền. TCN]

   Thông điệp làm cho chúng ta nhớ tới Giê-su – hăy yêu người láng giềng và làm cho người ta những điều mà ḿnh muốn người ta làm cho ḿnh – đă là một phần trong truyền thống Do Thái.  Hơn 1000 năm bị áp bức – người Do Thái đă bị nô lệ hóa bởi Vua Ai Cập từ 1250 năm trước thời đại thông thường này – đă tạo nên cho người dân một tâm cảnh ḥa b́nh và tuân phục ư Chúa; do đó khi Giê-su dạy hăy yêu kẻ thù là ông ta chỉ nhắc lại điều Moses dạy…

   Một trong những niềm tin căn bản của Do Thái là những sự đau khổ của người Do Thái bắt nguồn từ tội lỗi của ông tổ Adam của họ.  Phao-Lồ rao truyền rằng cái “tội tổ tông” này đă được hóa giải bởi cái chết của Giê-su trên thập giá, cho nên người nào trở thành tín đồ Ki-Tô th́ nay cái tội tổ tông họ mang trên người đă được cứu chuộc.  [Đây chỉ là một luận điệu thần học ấu trĩ của thời bán khai, v́ nếu quả thật cái chết của Giê-su trên thập giá có thể chuộc được tội th́ đó là chuộc cái “tội tổ tông” cho cả dân Do Thái, chứ không phải chỉ chuộc tội cho những người Do Thái nào trở thành tín đồ Ki Tô.  Giới trí thức trong thời đại ngày nay coi chuyện “tội tổ tông” là chuyện hoang đường nhất trong những chuyện hoang đường,  không những tầm bậy mà c̣n nói lên cái tâm địa tàn nhẫn độc ác và phủ nhận trách nhiệm của chính Thiên Chúa.  Thật vậy, trong cuốn “God’s Funeral, A. N. Wilson viết: “Quan điểm khoa học đă làm lung lay nền tảng của một tôn giáo cổ xưa, tin rằng Gót đă ban quyền cho Adam trên hết mọi vật sáng tạo của ông ta, và tạo nên con người theo h́nh ảnh của ông ta, và ngay cả khi con người không tuân lời ông ta, th́ cùng cái ông Gót này lại tự biến thành người, và xuống trái đất để chuộc những tội của ông ta” [The “scientific” viewpoint shook the foundation of an old religion which believes that God had put Adam in charge of all His earthy creation, and made Man in his own image and likeness; even, when Man had disobeyed Him, this self-same God had himself become Man, and come down to earth to redeem Him of His sins.] Mặt khác, nhân loại, như chúng ta đă biết, đă có mặt trên trái đất trước Giê-su cả triệu năm.  Điều rơ ràng là vai tṛ cứu chuộc tội tổ tông của Giê-su chỉ là một điều mê hoặc cho đám người trí tuệ thấp kém sinh sau Giê-su.  V́ vậy cho nên Linh mục James Kavanaugh đă cho “cứu rỗi” chỉ là một huyền thoại, và Giám Mục John Shelby Spong đă cho rằng phải dẹp bỏ h́nh ảnh Giê-su như là “đấng cứu thế” TCN]

   Đến  năm 100 của thời đại thông thường này, mọi người đều thấy rơ là lời tiên tri của Giê-su sẽ không thực hiện được.  Nhưng khi đó th́ Ki Tô Giáo đă lan rộng cho nên đó không thành vấn đề.  Sự mong đợi ngày tận thế nay được hoăn lại một thiên niên kỷ, tới năm 1000 – và từ ngữ “thiên niên kỷ” trở thành đồng nghĩa với “Ngày Phán Xét”.  Ki Tô Giáo đạt được chiến thắng lớn năm 313 khi hoàng đế Constantine – một tên ngông cuồng ngu xuẩn khát máu và sa đọa như nhiều hoàng đế La Mă – tuyên dương Ki Tô Giáo là tôn giáo chính thức của đế quốc La Mă…

   Làm sao mà những “Đấng Cứu Thế” này lại hấp dẫn như vậy.  Thứ nhất, họ đều là những người có năng khướu thuyết giảng.  Nhưng không phải chỉ có vậy.  Chúng ta đă biết, Giáo hội Ki Tô, mới đầu là một tổ chức nghèo nàn và bị bạo hành, nhiều người lănh đạo bị ném cho những con sư tử ăn thịt, đột nhiên trở thành tôn giáo chính thức của La Mă năm 313, dưới triều hoàng đế Constantine.

   Khi có được quyền lực rồi, những tín đồ Ki Tô bắt đầu xử sự ngay một cách tệ hại hơn kẻ thù của họ rất nhiều: phá hủy những đền đài của dân gian, thiêu sống những kẻ ngoại đạo, và căi vă với nhau.  Thực chất là, Giáo hội đă trở thành một tổ chức siêu độc tài.  Và dân nghèo, được lệnh phải đi lễ nhà thờ ngày chủ nhật, rên xiết dưới gánh nặng thuế má, và bắt buộc phải trả lệ phí để cho tội lỗi của họ được tha thứ, càng ngày càng trở nên bất măn với những lănh đạo tinh thần của họ.  Nhưng họ không thể làm ǵ được; Giáo hội đă đặt họ vào trong gọng ḱm sắt như là Đức Quốc Xă (Nazis) ở Đức hoặc Cọng Sản dưới thời Stalin ở Nga.

[Wilson, Colin, Rogue Messiahs: Tales of Self-Proclaimed Saviors, pp. 18-25: The only messiah of that period who is remembered today was called Joshua, better known by the Greek form of his name, Jesus…  Study of  the  scriptures  had led him to believe the  world would  end within the lifetime of people then alive; there would be wars, famines, and  earthquakes, and the dead would be brought back to life.  The  sun  would be  turned to  darkness and the  moon to blood, and the stars would fall from the sky.

   The message by which we remember Jesus – love one’s neighbor and do to others as you’d have them do unto you – was already a part of the Jewish tradition.  More than a thousand years of oppression – the Jews had been enslaved by the pharaoh Rameses II as long ago as 1250 B.C. – had developed a spirit of pacifism and submission to the will of God; so Jesus’s injunction to love your enemy was merely a restatement of the Mosaic teaching…

  …One of the most fundamental beliefs of Judaism was that the sufferings of the Jews were caused by the sin of their forefather Adam.  Paul announced that this “original sin” had been canceled out by the death of Jesus on the cross, so that anyone who became a Christian was now redeemed…

   Before 100 A.D. it was clear to everyone that Jesus’ prophecy was not going to be fulfilled.  But by that time, Christianity had became widespread that this made no difference.  The expectation of the end of the world was now transferred to the Millennium itself – the year 1000 A.D. – and the word Millennium became a synonym for the Day of Judgement.  Christianity achieved its greatest triumph so far on 313 A.D. when the Emperor Constantine – as blodthirsty and vicious a maniac as many of the Roman emperors – declared it the official religion of the empire…

   How did these “messiahs” become so powerful?  To begin with, all of them had the gift of preaching.  But it was more than that.  As we have seen, the Christian Church, which began as as poor and persecuted organization whose leaders were thrown to the lions, suddenly became the official religion of Rome in 313 A.D., under the Emperor Constantine.

   As soon as they gained power, the Christians began to behave far worse than their enemies, destroying pagan temples, burning heretics, and squabbling among themselves.  In effect, the Church became the supreme dictator.  And the poor, ordered to go to church every Sunday, groaning under heavy taxes, and forced to pay to have their sins forgiven, became increasingly disenchanted with their spiritual masters.  But there was nothing they could do; the Church exerted the same iron grip as the Nazis in  Germany or  the Communists  in Stalin’s  Russia.]

   Bài nghiên cứu này về nhân vật Giê-su trong Tân Ước không có mục đích thay đổi hay làm mất niềm tin của các tín đồ Ca-Tô bằng lư lẽ hay bằng những sự thật về Giê-su như được viết trong Tân Ước.  V́, như Frederick Nietzsche đă viết:  "Những ǵ mà quần chúng được dạy để tin mà không cần đến lư lẽ,  vậy th́ ai có thể phủ bác niềm tin này bằng lư lẽ?" (What the populace learned to believe without reasons, who could refute it then by means of reasons?). http://vi.wikipedia.org/wiki/Friedrich_Nietzsche

   Bài viết này chỉ là một khảo luận trí thức về Giê-su trong ánh sáng của lư trí và khoa học, nghĩa là, nh́n các vấn đề như chúng thực là như vậy (to see things as they really are), và đặt trước độc giả những sự thực về Giê-su như những đề tài để tự ḿnh suy luận và t́m ra giải đáp cho chính ḿnh.  Đă có rất nhiều cuốn sách viết về đề tài này và viết bởi những nhân vật có uy tín trong giáo hội cũng như trong giới học giả.  Tôi hi vọng bài viết này là một đóng góp bằng tiếng Việt về đề tài "Sự thật về Chúa Giê-su trong Tân Ước" cho những công cuộc khảo cứu về sau sâu sắc hơn  của những nhà khảo cứu tôn giáo ở Việt Nam.

 

Trần Chung Ngọc