TẢN MẠN
VỀ DÂN CHỦ NHÂN QUYỀN
&
VỤ ÁN CÙ HUY
HÀ VŨ
Trần Chung Ngọc
Vài Lời Nói Đầu:
Trong bài
diễn văn ở Cairo trước đây, Tổng Thống Obama nói:
Tôi
biết rằng có sự tranh luận về sự đẩy mạnh dân chủ trong
những năm gần đây, và phần lớn sự tranh luận này liên hệ đến
cuộc chiến ở Iraq. Vậy tôi xin nói rơ rằng:
không một hệ thống chính
phủ nào có thể, hoặc nên, áp đặt trên một quốc gia bởi một
quốc gia khác. Mỗi quốc gia sống theo nguyên tắc
này theo lối riêng của ḿnh,
đặt nền tảng trên những
truyền thống của dân tộc ḿnh. Hoa Kỳ không cho
là ḿnh biết những ǵ là tốt nhất cho mọi người…
[I
know there has been controversy about the promotion of
democracy in recent years, and
much of this controversy is connected to the war in Iraq. So
let me be clear: no system of government can or
should be imposed upon one nation by any other. Each nation
gives life to this principle in its own way, grounded in the
traditions of its own people. America does not presume to
know what is best for everyone…].
V́ lịch sử
nhân loại thường là những quốc gia và bộ lạc chinh phục lẫn
nhau cho những quyền lợi của ḿnh. Nhưng ở thời đại mới
này, những quan điểm như vậy chỉ tự chuốc lấy thất bại. V́
chúng ta phụ thuộc lẫn nhau,
bất cứ một trật tự thế giới
nào mà nâng một quốc gia hay một nhóm người lên trên một
quốc gia hay nhóm khác sẽ không tránh được sự thất bại.
Do đó bất cứ chúng ta nghĩ những ǵ về quá khứ, chúng ta
không được làm tù nhân của những thứ đó. Những vấn nạn
của chúng ta phải giải quyết bằng sự chung sức cùng nhau; sự
tiến bộ cần phải chia sẻ cùng nhau.
[For
human history has often been a record of nations and tribes
subjugating one another to serve their own interests. Yet in
this new age, such attitudes are self-defeating. Given our
interdependence, any world order that elevates one nation or
group of people over another will inevitably fail. So
whatever we think of the past, we must not be prisoners of
it. Our problems must be dealt with through partnership;
progress must be shared.]
Tổng
Thống Obama muốn lấy lại uy tín của nước Mỹ, tạo h́nh ảnh
b́nh đẳng của nước Mỹ trong cộng đồng quốc tế, giảm thiểu sự
thù ghét nước Mỹ v́ những thái độ trịch thượng của Mỹ trên
chính trường quốc tế trước đây, nhưng tiếc thay, một con én
không thể tạo nổi mùa Xuân. Và rút cục, Tổng Thống Obama
cũng không thoát ra được guồng máy truyền thống tự cao tự
đại và chế độ tài phiệt của người da trắng. Ông đă từng
phản đối chiến tranh ở Iraq, nhưng nay ông không thể rút
quân ra khỏi Iraq. Và việc ông, cùng với Âu Châu, về phe
với quân phiến loạn (rebels) ở Libya chứng tỏ rằng ông không
có khả năng để thực hiện lư tưởng thế giới chung sức cùng
nhau sống trong b́nh đẳng, tôn trọng lẫn nhau.
Ngày
nay, dân chủ và nhân quyền là những món hàng mà Mỹ cũng như
Âu Châu quảng cáo nhiều nhất và muốn xuất cảng trên khắp thế
giới. Lẽ dĩ nhiên, đó là dân chủ và nhân quyền theo quan
niệm của Tây phương cùng với ảnh hưởng của những giá trị Tây
phương. Và để đạt mục tiêu này, Tây phương, sau b́nh phong
dân chủ và nhân quyền, đă không ngần ngại dùng những biện
pháp phi dân chủ và phi nhân quyền. Những cuộc can thiệp
bằng quân sự của Tây phương gần đây vào Iraq, Afghanistan,
Libya, và những hành động trịch thượng xía vào những chuyện
nội bộ của các quốc gia khác là những thí dụ điển h́nh về
chính sách lưỡng chuẩn của Tây phương, miệng th́ nói ngọt về
dân chủ và nhân quyền, nhưng trên thực tế lại vi phạm nguyên
tắc dân chủ và nhân quyền hơn ai hết.
Một số
người Việt Nam ở hải ngoại cũng như ở trong nước hồ hởi năng
nổ tranh đấu dập theo khuôn của Tây phương, nấp sau chiêu
bài dân chủ, nhân quyền, trong khi những hành động chống
Cộng của họ ở ngoại quốc và những h́nh thức tranh đấu ở
trong nước chứng tỏ họ không có một ư niệm rơ ràng về tự do,
dân chủ và nhân quyền. Họ cho rằng để chống Cộng họ có thể
làm bất cứ điều ǵ, v́ nhiều khi, những hành động chống Cộng
của họ rất là phản tự do và phi nhân quyền. Họ muốn cho Việt
Nam phải đi đến dân chủ và tôn trọng nhân quyền theo quan
niệm của Tây phương, phần lớn dựa trên bản Tuyên Ngôn Quốc
Tế Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc vào năm 1948 mà có thể họ
chưa bao giờ đọc đến, một bản văn thành h́nh ở thời điểm khi
mà Liên Hiệp Quốc chỉ vỏn vẹn có 5 nước thắng Đệ Nhị Thế
Chiến và một số nhỏ nước chư hầu. Họ không đủ khả năng để
nhận thức được rằng,
không làm ǵ có một nền dân chủ và quan niệm về nhân quyền
đồng nhất chung cho mọi quốc gia trên thế giới.
Bài viết này sẽ làm sáng tỏ điều này qua một nghiên cứu tạm
gọi là đủ về dân chủ và nhân quyền, và trong phần sau sẽ đưa
ra một số ư kiến cá nhân về vụ xử “nhà dân chủ” Cù Huy Hà Vũ
ở Việt Nam gần đây. Trước hết là thực chất dân chủ và nhân
quyền của Mỹ.
I. Mỹ
Và Vấn Nạn Dân Chủ, Nhân Quyền.
Có thể
nói, Mỹ là nước tôn trọng nhân quyền vào bậc nhất. Nhưng
chúng ta cần hiểu rơ, Mỹ chỉ tôn trọng nhân quyền của người
Mỹ trên nước Mỹ mà thôi, và cũng không phải là tuyệt đối.
Thực ra, ngay trên nước Mỹ, sự tôn trọng nhân quyền cũng chỉ
là tương đối. Tất cả đều nằm trong luật pháp quốc gia,
và tùy theo t́nh h́nh, Mỹ có thể ra những đạo luật giới hạn
quyền của người dân, thí dụ như sau biến cố 9-11 ở New York.
Đạo luật Yêu Nước (Patriot Act) của Mỹ cho phép chính quyền
kiểm soát mọi khía cạnh trong đời tư của người dân, thí dụ
như có bao nhiêu tiền để trong ngân hàng, E-mail giao thiệp
với ai, đọc sách ǵ trong thư viện, FBI chỉ t́nh nghi là có
quyền xâm nhập gia cư bắt giữ người mà không cần lệnh của
ṭa án v…v…
Quyền
tự do ngôn luận ở Mỹ đôi khi là quyền ăn nói và hành động vô
trách nhiệm. Một trường hợp lạm dụng quyền tự do ngôn luận
bất kể đến hậu quả của người Mỹ trên đất Mỹ gần đây là vụ
Mục sư Terry Jones ở Florida. Ông Mục sư cuồng tín của một
cộng đồng nhỏ cơ đốc hữu này đă lập một ṭa án nhỏ xét xử
kinh Quran của Hồi Giáo, kết án Kinh này có tội [guilty] và
mang đốt cuốn kinh này. Người Mỹ chẳng mấy quan tâm đến
hành động nhỏ nhặt này. Nhưng trong thời đại thông tin điện
tử ngày nay, chỉ cần nhấn một cái trên con chuột là hành
động của mục sư Terry Jones đă loan truyền khắp thế giới.
Và phản ứng của Hồi giáo đă đưa đến kết quả bạo động làm cho
một số nhân viên Liên Hiệp Quốc bị giết ở Afghanistan. Báo
chí Mỹ và một số chính khách Mỹ lên án, chỉ lên án thôi,
quyền “tự do ngôn luận” của mục sư Terry Jones v́ những hậu
quả tác hại do sự lạm quyền này. Nói tóm lại,
quyền tự do ngôn luận không
phải là muốn nói ǵ th́ nói, thường bị giới hạn bởi luật
pháp quốc gia, và phải có tinh thần trách nhiệm về những hậu
quả do những hành động của ḿnh gây ra. Đi máy
bay mà nói đùa là mang bom th́ sẽ bị bắt ngay để điều
tra và phạt nặng.
Tôi
vào nước Mỹ hợp pháp, đă là một công dân Mỹ từ hơn 30 năm
nay, đi làm, đóng thuế đầy đủ, và chưa hề phạm một tội nào
đối với quốc gia mới của tôi là nước Mỹ. Cho nên tôi nghĩ,
so với nhiều công dân Mỹ khác gồm đủ mọi sắc dân, trắng,
đen, vàng v…v…ăn không ngồi rồi, lănh tiền trợ cấp của chính
phủ Mỹ, tôi không phải là người ăn nhờ ở đậu nước Mỹ. Là một
công dân của Mỹ Quốc, tôi nghĩ rằng tôi có đủ tư cách để t́m
hiểu vấn đề nhân quyền của nước Mỹ mà tôi đă chọn làm quốc
gia thứ hai và sử dụng quyền công dân Mỹ để bày tỏ một số ư
kiến cá nhân về vấn đề “Tại sao Mỹ, và một số tổ chức của
Tây phương, lại cứ xía vào những chuyện nội bộ của các quốc
gia khác, trong đó có Việt Nam” trong khi chính nước Mỹ
và khối Liên Hiệp Âu Châu có nhiều vấn nạn nghiêm trọng hơn
về nhân quyền cần phải quan tâm.. Tôi cảm thấy bức xúc sau
khi t́m hiểu về đất nước mới của tôi. Tôi thấy những điều
mà chúng ta thường được nghe về nước Mỹ như: “Là nước
giật giải quán quân về dân chủ và nhân quyền và muốn cả thế
giới phải theo những quan niệm về dân chủ và nhân quyền của
Mỹ”, những chiêu bài mà Mỹ thường muốn xuất cảng trên
khắp thế giới, đă đưa đến cho tôi một kết luận: “Đừng
nghe những ǵ Mỹ nói mà hăy nh́n kỹ vào những ǵ Mỹ làm”.
V́,
trên b́nh diện quốc tế, trong chính sách đối ngoại của Mỹ,
Mỹ là nước vi phạm nhân quyền vào bậc nhất, và những hành
động của Mỹ ở hải ngoại chứng tỏ Mỹ không quan tâm mấy đến
dân chủ và nhân quyền trong các nước khác. Mỹ đă ủng hộ
nhiều nhà độc tài nếu xét ra có lợi cho nước Mỹ, và nhiều
khi Mỹ đă dùng tay sai để lũng đoạn chính trị và dẹp nền dân
chủ trong một số nước. Đây cũng là mối bức xúc của nhiều
trí thức Mỹ, và họ đă viết ra nhiều tác phẩm và tài liệu về
thực chất bộ mặt dân chủ và nhân quyền của nước Mỹ. Nhiều sự
kiện trên khắp thế giới, thí dụ như những hành động của Mỹ ở
Việt Nam, Indonesia, Guatamala, El
Salvadore, Nicaragua v..v..(Xin đọc cuốn 9-11 ,
Seven Stories Press, New York, 2001, của Noam Chomsky) đă
chứng tỏ, đúng như Vince Hyaner đă viết trong bài “Những
Vi Phạm Của Hoa Kỳ” (US Violations) : Hoa Kỳ có
một thành tích khủng khiếp về nhân quyền.[The
US has a horrible human rights record.]
Tại sao Mỹ vẫn
dùng chiêu bài nhân quyền để xen vào những chuyện nhỏ nhặt
thuộc nội bộ Việt Nam? Mỹ muốn ǵ ở Việt Nam? Nhiều hăng
sản xuất của Mỹ đă sang Việt Nam v́ ở đây nhân công rẻ, mang
lại nhiều lợi nhuận cho Mỹ. Tại sao Mỹ lại cứ dính vào
những chuyện nhỏ nhặt như vụ án Cù Huy Hà Vũ. V́ nhân quyền
của người dân Việt Nam chăng? Chúng ta hăy đọc vài tài liệu
trước đây về nhân quyền của Mỹ mà có vẻ như các chính khách
Mỹ đều quên, coi như không hề có.
Walter J.
Rockler, nguyên công tố viên ṭa án xử tội phạm chiến tranh
Nuremberg, đă viết như sau về quan niệm nhân quyền của Mỹ:
"Cái
mà chúng ta gọi là quan tâm đến nhân quyền thật là lố bịch.
Chúng ta đă thả xuống Việt Nam một số lượng bom gấp đôi số
lượng bom mà các quốc gia liên hệ đến cuộc Đệ Nhị Thế Chiến
thả lên đầu nhau. Trong cuộc chiến này, chúng ta đă giết
hàng trăm ngàn thường dân. Ngay gần đây, chúng ta bảo trợ,
huấn luyện và ủng hộ những đoàn quân địa phương của
Guatamala, El Salvadore, và Nicaragua Contras ở Trung Mỹ,
trong sự tàn sát ít nhất là 200 ngàn người..."
(Our
alleged concern with human rights borders on the ludicrous.
We dropped twice as many bombs on Vietnam as all the
countries involved in World War II dropped on each other.
We killed hundreds of thousands of civilians in the course
of that war. Very recently, in Central America, we
sponsored, trained, and endorsed the local armies -
Guatemalan, Salvadoran, and Nicaraguan Contras - in the
killing of at least 200000 people.)
Robert Scheer viết như sau trên tờ Times:
"Chẳng
phải là chúng ta có một lịch sử "diệt chủng" hay sao, mới
đầu là thổ dân Mỹ, và sau là ở Việt Nam, khi quân đội Hoa Kỳ
lùa những dân làng trung thành, hầu hết là Công Giáo, vào
sống an toàn trong những Ấp Chiến Lược, trong khi biến
những vùng Phật Giáo ở thôn quê Nam Việt Nam thành những
vùng tự do thả bom một cách toàn diện?"
(Don't we
have our own history of "ethnic cleansing", first of the
Native American population and later in Vietnam, when U.S.
troops herded loyal, mostly Catholic villagers into
so-called "strategic hammers" for safety while turning the
mostly Buddhist countryside of South Vietnam into a
saturation bombing zone?)
Thượng
Nghị Sĩ Wayne Morse, Đảng dân Chủ - Oregon, nhận định:
“Theo sự
phán xét của tôi, chúng ta sẽ trở thành kẻ có tội v́ là sự
đe dọa lớn nhất cho nền ḥa b́nh thế giới. Đó là một sự
thực xấu xa, và người Mỹ chúng ta không thích đối diện với
nó. Tôi thật không muốn nghĩ rằng một trang sử của Mỹ sẽ
được viết ra liên quan đến chính sách vô pháp của chúng ta ở
Đông Nam Á.”
[We're going to become
guilty, in my judgement, of being the greatest threat to the
peace of the world. It's an ugly reality, and we Americans
don't like to face up to it. I hate to think of the chapter
of American history that's going to be written in the future
in connection with our outlawry in Southeast Asia." [Senator
Wayne Morse, (D-OR), 1967]
Và Ramsey Clark, Nguyên Chưởng Lư Mỹ dưới triều Lyndon
Johnson, nhận định:
“Tội
ác lớn nhất từ sau Đệ Nhị Thế Chiến là chính sách đối ngoại
của Mỹ.”
"The
greatest crime since World War II has been U.S. foreign
policy."
[Ramsey
Clark, former U.S. Attorney General under President Lyndon
Johnson]
Thực ra, chính
quyền Mỹ cũng không hẳn là một chính quyền hoàn toàn dân
chủ. Phiếu của các dân cử (electoral vote) có giá trị hơn là
phiếu của dân chúng (popular vote) và không có một người
nghèo nào, dù đạo đức và giỏi mấy, có thể ứng cử Tổng Thống
hay Thượng Nghị Sĩ, Dân Biểu. Tất cả tùy thuộc ứng cử viên
có bao nhiêu tiền, một yếu tố góp phần cho sự thắng cử.
Người ta cho rằng nước Mỹ rất dân chủ, có hai đảng, Cộng Ḥa
và Dân Chủ. Nhưng thực ra chỉ có một đảng: đảng Tài Phiệt,
và từ thế kỷ 20 sang 21, đảng này thường mang bộ mặt của
“đảng chiến tranh” (Steve Chapman: Now, it clearly shows
that the US has only one party: War Party). Dưới triều Tổng
Thống nào cũng vậy, Cộng Ḥa hay Dân Chủ, Mỹ đều tham gia
không ít th́ nhiều vào chiến tranh để phục vụ cho “đặc tính
quốc gia” của Mỹ. Alexis de Tocqueville đă có một nhận xét
khá chính xác về “đặc tính quốc gia” của Mỹ: “Khi chúng
ta đào sâu vào đặc tính quốc gia của người Mỹ, chúng ta thấy
rằng họ chỉ t́m giá trị của mọi thứ trên thế giới trong câu
trả lời của câu hỏi: Nó mang đến bao nhiêu tiền”. Có vẻ
như loại giá trị này đă gây nhiều ảnh hưởng trên thế giới,
kể cả Việt Nam.
Trong cuốn
Tương Lai Của Tự Do: Dân Chủ Phi Tự Do ở Trong Nước và ở
Ngoại Quốc (The Future of Fredom: Illiberal Democracy at
Home and Abroad), Fareed Zakaria, b́nh luận gia của tờ
Newsweek trước đây, đă viết:
“Thật là
kỳ khi Hoa Kỳ thường ủng hộ
[ngoài
miệng. TCN] dân chủ không hạn chế ở ngoại quốc. Điều đặc
biệt về hệ thống Mỹ không phải là nó dân chủ như thế nào mà
là nó phi dân chủ như thế nào, biết rằng nó có rất nhiều hạn
chế về sự bầu bán của các dân cử của những khối đa số.
Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền rút cục chỉ là một danh sách những
điều mà chính phủ có thể không theo, bất kể ước vọng của đa
số. Trong ba ngành của chính phủ, Ṭa Án Tối Cao –
ngành quan trọng nhất - cầm đầu bởi 9 người được chỉ định
và giữ chức suốt đời. Thượng viện Hoa Kỳ là Nghị Viện
“phi - đại diện” nhất trên thế giới, bất lực và trong mọi
biến cố ở trên ngưỡng cửa của sự thay đổi. Mỗi Tiểu Bang
gửi 2 Thượng Nghị Sĩ lên thủ đô Washington D.C., bất kể là
dân số của Tiểu Bang là bao nhiêu. Do đó tiểu bang
California với 30 triệu dân cũng chỉ có cùng một số phiếu
(trong Thượng Viện) như tiểu bang Arizona với 3 triệu 7 dân.
– khó có thể gọi là mỗi người một phiếu.”
[Fareed Zakaria, The
Future of Freedom: Illiberal Democracy at Home and Abroad,
W. W. Norton & Company, New York, 2003, p. 22: It is odd
that the United States is so often the advocate of
unrestrained democracy abroad. What is distinctive about
the American system is not how democratic it is but rather
how undemocratic it is, placing as it does multiple
constraints on electoral majorities. The Bill of Rights,
after all, is a list of things that the government may not
do, regardless of the wishes of the majority. Of Amrica’s
three branches of government, the Supreme Court – arguably
the paramount branch – is headed by nine unelected men and
women with life tenure. The US Senate is the most
unrepresentative upper house in the world, which is
powerless and in any event on the verge of transformation.
Each American state sends two senators to Washington D.C.,
regardless of its population. Thus California’s 30 million
people have as many votes in the Senate as Arizona’s 3.7
million – hardly one man, one vote.]
Nói th́ hay, vỗ tay th́ dở. Chính quyền Mỹ chẳng mấy khi
thực hành “lời nói đi đôi với việc làm”. Mỹ vẫn luôn luôn
can thiệp vào những chuyện nội bộ của các nước khác và vẫn
dùng những b́nh phong dân chủ, nhân quyền để đẩy mạnh sự
áp đặt những giá trị của Mỹ trên những nước khác. Thái
độ của Mỹ ở Egypt, Libya gần đây cho chúng ta thấy rơ hơn ǵ
hết là Mỹ nói một đàng, làm một nẻo. Và một vài cá nhân
trong quốc hội Mỹ cũng có những hành động bất xứng, nhúng
mũi vào những chuyện nội bộ của Việt Nam,
dù trên thực tế và về
phương diện pháp lư, họ không có một tư cách nào để làm như
vậy.
Thật vậy, khi mà Hạ Viện Mỹ ra những “dự luật về nhân quyền
cho Việt Nam” (sic) trước đây th́ Hạ Viện đă đi ra ngoài
thẩm quyền và nhiệm vụ của Hạ Viện, giẫm chân lên Bộ Ngoại
Giao, và ngay cả Bộ Ngoại Giao Mỹ cũng chẳng có quyền như
vậy. Tại sao họ thường có thái độ trịch thượng như vậy? Đó
là v́ thái độ tự tôn truyền thống của Mỹ, tự cho rằng Mỹ có
quyền xía vào những chuyện nội bộ của các quốc gia khác, dù
nhiều lần các nước khác đă có phản ứng mạnh, điển h́nh là
Trung Quốc, thiếu điều bảo “hăy im miệng đi và lo việc
của các người” (Shut up and mind your own business).
Chính trị
của Mỹ là chính trị cao bồi, ỷ mạnh hiếp yếu, khi nào có thể
được. Mỹ không dám đụng đến Nga, Trung Quốc nhưng thường
xía vào những chuyện nội bộ của các nước nhỏ, làm như Mỹ có
quyền pháp lư quyết định thay cho các nước đó.. Dựa vào ưu
thế về kinh tế, kỹ thuật chiến tranh, Mỹ thường tự cho ḿnh
là một thị trấn trên ngọn đồi (A city on the hill) nh́n
xuống tất cả các quốc gia khác ở dưới mà Mỹ cho là thấp kém,
hay là một cái đầu tầu phun khói (đen) dẫn đầu kéo cả đoàn
toa thế giới đi theo quan niệm về dân chủ , nhân quyền, và
những giá trị của nước Mỹ, nếu có thể gọi là giá trị, trên
đường rầy của ḿnh. Dân Chủ và Nhân Quyền là hai chiêu bài
mà nước Mỹ quảng bá rộng răi nhất và muốn xuất cảng chúng
trên khắp thế giới, lẽ dĩ nhiên đó là sách lược mạnh nhất
của Mỹ trước người dân Mỹ và số người vọng ngoại, và sau
những chiêu bài này, Mỹ đă tự cho ḿnh can thiệp vào chuyện
nội bộ của các nước khác. Mỹ không có cách nào có thể đặt
đạo đức của Mỹ song song ngang hàng với những ưu thế về kinh
tế và quân sự. Chúng ta chỉ cần nh́n vào thống kê những
tệ đoan và tội phạm đủ hạng trên nước Mỹ, từ tôn giáo cho
đến xă hội, từ phim ảnh tràn ngập những h́nh ảnh về t́nh
dục, bạo lực, và tiền trên hết (sex, violence, and money)
cho đến sách báo đồi trụy v…v… là thấy rơ điều này.
II.
Về Bản Phúc Tŕnh Nhân Quyền Hàng Năm Của Mỹ.
Nước Mỹ tự
cho ḿnh cái quyền làm “Quan ṭa phán xét nhân
quyền trên thế giới” [It presumes to be the "Judge of
Human Rights in the World"], v́ thế hàng năm Bộ Ngoại Giao
Mỹ thường tung ra một bản phúc tŕnh về t́nh trạng nhân
quyền, trong đó có vấn đề tôn giáo, của các nước khác trên
thế giới mà Mỹ cho rằng đáng quan tâm. Nhưng điều khó
hiểu là trong bản phúc tŕnh hàng năm về nhân quyền này bao
giờ Mỹ cũng bỏ sót một quốc gia có thể nói là vi phạm nhân
quyền vào hạng nhất trên thế giới:
Nước Mỹ.
Những người Việt Nam chống Cộng đến chiều, khi không c̣n
Cộng, rất ngây thơ, tưởng rằng phúc tŕnh về nhân quyền của
Mỹ, hay danh sách những nước trong CPC, có giá trị tuyệt
luân để cho Việt Nam phải thay đổi, không biết rằng những
thứ đó chỉ có mặt trên giấy tờ mà Mỹ tung ra với mục đích
chính trị và để tự đánh bóng bộ mặt cao cả đạo đức của nước
Mỹ, chứ tuyệt nhiên Mỹ không có một hành động nào tiếp theo
đối với những nước mà Mỹ cho rằng đáng quan tâm về vấn đề
nhân quyền hay tự do tôn giáo.
Có ai
nhớ là, tháng 10, 1998, quốc hội Hoa Kỳ đă thông qua một đạo
luật về tự do tôn giáo thế giới (The International Religious
Freedom Act). Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đă không theo qui định
phải đưa ra trước ngày 1 tháng 9, 1999, danh sách những nước
vi phạm trầm trọng tự do tôn giáo, và sau đó 90 ngày,
Tổng Thống Hoa Kỳ phải phúc tŕnh cùng quốc hội biện pháp
đối phó với quốc gia vi phạm..
(The State Department has not complied with the act's
requirement to name by September, 1999, those countries
deemed responsible for "particularly severe violations of
religious freedom". When a country is so designated, the
president has 90 days to report to Congress on action to be
taken).
Có ai viết thư hỏi Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ xem hàng năm, sau
khi đưa ra phúc tŕnh về nhân quyền cùng danh sách các nước
trong CPC, th́ chính quyền Mỹ đă có những biện pháp ǵ đối
với các nước nằm trong danh sách CPC hay theo Mỹ, đáng quan
tâm về nhân quyền?
Tự do tôn giáo hay dân chủ, nhân quyền chỉ là những chiêu
bài, và cách sử dụng những chiêu bài này c̣n tùy thuộc quyền
lợi chính trị và kinh tế của Hoa Kỳ. Chúng ta biết rằng
Sudan, Do Thái và Saudi Arabia là những nước vi phạm tự do
tôn giáo nhất trên thế giới. Nhưng điều chắc là Hoa Kỳ chỉ
kể đến Sudan và bỏ qua Do Thái và Saudi Arabia v́ Do Thái và
Saudi Arabia đều là đồng minh của Hoa Kỳ trên chính trường
quốc tế. Saudi Arabia c̣n là nước xuất cảng dầu nhiều nhất
trên thế giới, và không có một chính trị gia Hoa Kỳ nào
khuyên chính phủ ngưng mua dầu của Saudi Arabia như là một
hành động phản đối sự vi phạm tự do tín ngưỡng của quốc gia
này.
Trên
thực tế, nhiều khi Mỹ c̣n phải nhượng bộ trước phản ứng của
các quốc gia khác, điển h́nh là Trung Quốc. Tại sao? V́
sản phẩm của nhiều hăng Mỹ được làm ở Trung Quốc (made in
China) đang tràn ngập nước Mỹ, và Trung Quốc nay là một
cường quốc với gần 1.4 tỷ dân và trong tương lai không xa,
Trung Quốc sẽ trở thành đối thủ ngang hàng với Mỹ..
Chúng ta hăy đọc Giáo sư Samuel P. Huntington giải thích
trong cuốn Sự Xung Đột Giữa Các Nền Văn Minh Và Sự Tái
Lập Trật Tự Thế Giới (The Clash of Civilizations and the
Remaking of World Order). Huntington là một lư thuyết gia
chính trị thế giới nổi tiếng của Mỹ, thường viết trong tập
san Foreign Affairs. Uy tín của Huntington không ai
có thể phủ nhận. Ông ta là giáo sư đại học Harvard, giữ
chức vụ Giám Đốc Viện Nghiên Cứu Chiến Lược John M. Olin và
Chủ Tịch Học Viện Harvard Nghiên Cứu Các Địa Phương Trên Thế
Giới. Ông cũng từng là Giám Đốc Kế Hoạch An Ninh cho Hội
Đồng An Ninh Quốc Gia dưới thời Tổng Thống Carter, và Chủ
Tịch Hội Chính Trị Khoa Học Hoa Kỳ. Giáo sư Huntington
giải thích, trang 92:
V́ quyền
lực Tây phương suy thoái, khả năng áp đặt những quan niệm về
nhân quyền, tự do, và dân chủ của Tây phương trên các nền
văn minh khác cũng như sự hấp dẫn của những
giá trị Tây phương cũng suy thoái theo. Điều này đă xảy ra.
(As
Western power declines, the ability of the West to impose
Western concepts of human rights, liberalism, and democracy
on other civilizations also declines and so does the
attractiveness of those values to other civilizations. It
already has...)
Và Giáo
sư Huntington đưa ra trường hợp Mỹ phải dẹp vấn đề nhân
quyền và cho Trung Quốc hưởng quy chế Tối Huệ Quốc. Ông
viết, trg. 194:
Sự đầu
hàng của Hoa Kỳ về vấn đề nhân quyền đối với Trung Quốc và
các thế lực khác ở Á Châu là một sự “đầu hàng vô điều kiện”
(unconditional surrender). Sau khi đe dọa Trung Quốc là sẽ
rút bỏ quy chế Tối Huệ Quốc nếu Trung Quốc không tiến bộ về
nhân quyền, chính quyền Clinton mới đầu chứng kiến sự bẽ mặt
của ngoại trưởng Warren Christopher tại Bắc Kinh, không có
được ngay một hành động vuốt mặt mũi (denied even a
face-saving gesture), rồi đáp ứng bằng cách từ bỏ chính sách
đă đưa ra và tách quy chế Tối Huệ Quốc ra khỏi vấn đề nhân
quyền.

Mặt
khác, nhiều nước coi chiêu bài dân chủ và nhân quyền của Mỹ
nằm trong chủ nghĩa đế quốc rộng lớn của Mỹ.
Thủ Tướng Lư
Quang Diệu của Singapore cho rằng “Những bài thuyết
giảng về nhân quyền chỉ là những vận dụng của thái độ kiêu
căng Tây phương, sẽ không có ảnh hưởng ǵ đến Bắc Kinh”
(Newsweek, Nov. 29, 1993: “Human-rights lectures, says
Lee, are exercices in Western arrogance that will not
influence Beijing.”).
Thủ Tướng Nhật
Hosokawa cũng tuyên bố “Những quan niệm về nhân quyền
của Tây Phương không thể áp dụng một cách mù quáng vào Á
Châu” (New York Times, May 2, 1994: Japan’s Prime
Minister Hosokawa: “Western human rights concepts could not
be “blindly applied” to Asia”)
Georges Soros cũng viết trong cuốn “The Bubble of
American Supremacy: Correcting The Misuse Of American
Power”, trang 10, về “sự mâu thuẫn giữa quan niệm về
tự do và dân chủ của chính quyền Bush và những nguyên tắc
đích thực của tự do và dân chủ” (The contradiction
between the Bush administration’s concept of freedom and
democracy and the actual principles of freedom and
democracy), và c̣n viết, trang 12: “Người
dân trong mỗi xă hội sẽ quyết định cho ḿnh ư nghĩa của họ
về tự do và dân chủ và không chỉ đơn giản theo sự dẫn giắt
của Mỹ” [people are supposed to decide for
themselves what they mean by freedom and democracy and not
simply follow America’s lead]

Chẳng vậy mà
trước đây bà Tôn Nữ Thị Ninh đă khẳng định dứt khoát trước
sự nhúng mũi của dân biểu Loretta Sanchez vào chuyện nội bộ
của Việt Nam:
“Chúng
tôi chỉ tin tưởng vào một nền dân chủ do chính ḿnh tạo
dựng, và đă qua lâu rồi thời kỳ những nước đang phát
triển cần các nước phát triển đến khai sáng và cứu rỗi.”
Thật là đáng mặt
con cháu Hai Bà.
Cũng như mọi năm,
năm nay Bộ Ngoại Giao Mỹ lại tung ra một bản phúc tŕnh về
t́nh trạng nhân quyền của các nước khác, trong đó có Trung
Quốc. Nhưng cũng như những năm trước, Trung Quốc đă phản
ứng và tung ra một bản án rất dài về những vi phạm nhân
quyền của Mỹ:
http://news.xinhuanet.com/english2010/video/2011-04/11/c_13823315.htm
Theo
http://www.presstv.ir/detail/174033.html
ngày 10
tháng 4, 2011, th́:
Trung
Quốc đă yêu cầu Mỹ hăy ngưng nhúng mũi vào những chuyện nội
bộ của các nước khác dưới chiêu bài nhân quyền.
Phát
ngôn viên Bộ Ngoại Giao Trung Quốc, Hong Lei, nhấn mạnh là
Washington hăy tập trung vào việc cải thiện t́nh trạng nhân
quyền của Mỹ: “Chúng tôi khuyên răn Mỹ là hăy suy nghĩ về
những vấn đề nhân quyền của chính ḿnh và
đừng tự cho ḿnh ở vị thế
lên mặt dạy đời về nhân quyền”
Trung
Quốc coi những cuộc chiến của Mỹ ờ Iraq và Afghanistan là
những thí dụ hiển nhiên nhất về sự vi phạm nhân quyền của
Mỹ.
Mỹ nên ngưng dùng những
phúc tŕnh về nhân quyền để xía vào những chuyện nội bộ của
các quốc gia khác, nhà chính trị gia Trung Quốc
nói thêm.
Hong
nói: Trung Quốc hoan ngênh những trao đổi ư kiến về nhân
quyền đặt căn bản trên sự b́nh đẳng và kính trọng lẫn nhau
giữa các quốc gia. Tuy nhiên ông ta nói thêm là Bắc Kinh
cương quyết chống mọi sự nhúng mũi vào những vấn đề của các
quốc gia khác, và rằng
Trung Quốc chống việc Mỹ xía vào những chuyện nội bộ của
trung Quốc.
[China raps US
meddling
Sun Apr 10,
2011 8:26AM
China has
called on the United States to stop interfering in the
internal affairs of other countries under the pretext of
human rights issues.
China's
Foreign Ministry Spokesman Hong Lei urged Washington to
focus on improving its own human rights conditions, saying,
"We advise the US side to reflect on its own human rights
issues and not to position itself as a preacher of human
rights," the state-funded BBC reports.
China called the US-led wars in Afghanistan and Iraq the
explicit examples of America's violation of human rights.
"[The US
should] stop using the issue of human rights reports to
interfere in other countries' internal affairs," the Chinese
politician added.
Hong says
China welcomes talks about rights on the basis of equality
and mutual respect. However, he added that Beijing
resolutely opposes meddling in other countries' affairs, and
that it also opposes US interference in China's internal
affairs.]
Cũng như mọi năm,
trước những phản ứng của Trung Quốc, Mỹ giữ thái độ “im lặng
là vàng”. V́ thật ra phúc tŕnh về nhân quyền của Mỹ, theo
nhiều quan sát viên, chỉ là tài liệu chính trị chống những
quốc gia không có quan hệ tốt với Mỹ [The American report,
considered by many observers as more of a political document
against countries not in good terms with the US]. Thật vậy,
Giáo Sư Noam Chomsky đă nhận định về chiêu bài nhân quyền
của Mỹ như sau:
“Thật
ra chính sách ngoại giao của Mỹ là đặt căn bản trên nguyên
tắc không liên quan ǵ đến nhân quyền, mà là liên quan nhiều
đến sự tạo ra một bầu không khí thuận lợi cho ngoại thương”
(James
Speck, Editor, The Chomsky Reader, p. 331:
U.S. foreign policy is in fact
based on the principle that human rights are irrelevant, but
that improving the climate for foreign business operations
is highly relevant.)
III.
Thái
Độ Kiêu Căng Trịch Thượng Của Vài Tổ Chức Và Cá Nhân Khi Xía
Vào Chuyện Nội Bộ
Của Việt Nam.
Không những chính
quyền mà một số cá nhân trong chính quyền Mỹ cũng như một số
tổ chức, đài truyền thông ngoại quốc cũng cứ hay xía vào
những chuyện nội bộ của các quốc gia khác trong khi trên
b́nh diện quốc tế họ không có một tư cách nào để nhúng mũi
vào các quốc gia khác. Không hiểu họ lấy tư cách ǵ để
đ̣i Việt Nam phải thế này, phải thế kia. Dư luận thế
giới về những vi phạm nhân quyền của Mỹ trong nước cũng như
ở ngoài nước tràn ngập trên sách vở và Internet, nhưng có
vẻ như mấy cá nhân này không cần biết đến những sự kiện lịch
sử này và cứ trơ trẽn xía vào những chuyện nhỏ nhặt trong
nội bộ của Việt Nam, tin rằng v́ Mỹ là siêu cường về vũ khí
chiến tranh, do đó miệng lưỡi của cá nhân Thượng Nghị Sĩ
cũng như Dân Biểu Mỹ là gang là thép, có quyền ra lệnh cho
nước khác, cho nên muốn xía vào nước nào mà họ muốn ăn hiếp
th́ xía. Nhưng có Thượng Nghị Sĩ hay Dân Biểu nào dám đụng
đến Nga, Trung Quốc, hay Saudi Arabia, đồng minh của Mỹ, hay
Pakistan mà Mỹ cần sự cộng tác để săn lùng quân khủng bố?
Tôi
là một công dân Mỹ gốc Việt, cho nên tôi cũng quan tâm ít
nhiều đến Việt Nam, v́ tôi chưa bỏ được cái gốc Việt Nam,
ngày ngày soi gương vẫn thấy ḿnh mũi tẹt, da vàng, và “Mít”
đặc. Gần đây xẩy ra vụ án Cù Huy Hà Vũ. Tôi không ở Việt
Nam, không dự phiên ṭa xử Cù Huy Hà Vũ nên những thông tin
về vụ này đều lấy trên Internet. Trước hết là bản tin trên:
Sáng nay TAND Hà Nội đă mở phiên ṭa xét xử ông Cù
Huy Hà Vũ về tội tuyên truyền chống nhà nước. Với khung h́nh
phạt bị truy tố, ông Vũ có thể bị kết án 3-12 năm.
Những vi phạm
của ông Vũ theo xác định của Cơ quan ANĐT
Theo Trung tướng
Hoàng Kông Tư, qua các chứng cứ, tài liệu thu thập được, Cơ
quan ANĐT bước đầu xác định ông Cù Huy Hà Vũ có những hành
vi vi phạm sau:
Thứ nhất, làm ra
nhiều tài liệu có nội dung chống Nhà nước để tuyên truyền,
xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân; tuyên truyền luận
điệu chiến tranh tâm lư, đ̣i lật đổ chế độ, thực hiện đa
nguyên đa đảng, đi ngược lại với quyền lợi dân tộc, kêu gọi
nước ngoài can thiệp.
Thứ hai, quan hệ
với các đối tượng có tư tưởng chống đối Nhà nước trong nước,
các thế lực chống Việt Nam ở nước ngoài, đă thực hiện hơn 20
cuộc trả lời phỏng vấn các đối tượng, đài báo của các đối
tượng phản động chống Việt Nam ở nước ngoài với nội dung
chống Nhà nước và chuyển tải các tài liệu do ông Vũ làm ra
để chúng sử dụng chống phá Nhà nước Việt Nam.
Thứ ba, làm ra
các tài liệu, đưa thông tin thất thiệt, bịa đặt, xuyên tạc
sự lănh đạo và quản lư của Nhà nước, Chính phủ, gây hoang
mang trong nhân dân, kích động, cổ suư, hô hào chống Nhà
nước; vu khống, xúc phạm danh dự các đồng chí lănh đạo Đảng,
Nhà nước, chính quyền.
Kiểm tra chiếc
máy tính xách tay của ông Cù Huy Hà Vũ, công an phát hiện
trong máy lưu trữ nhiều tài liệu có nội dung chống Nhà nước
Việt Nam. V́ vậy, ngày 5-11, Cơ quan ANĐT đă ra lệnh bắt và
khám xét khẩn cấp nơi ở, nơi làm việc của ông Vũ về hành vi
tuyên truyền chống Nhà nước, thu giữ thêm nhiều tài liệu có
nội dung tương tự.
Theo ông Hoàng
Kông Tư, riêng trong máy tính xách tay của ông Vũ có khoảng
40 đầu tài liệu với hơn 240 trang với nội dung chống Nhà
nước, và ông Vũ đă kư vào từng trang, xác nhận đó là những
văn bản lưu trong máy tính cá nhân của ḿnh.
Việc bắt, khám
xét khẩn cấp ông Cù Huy Hà Vũ đă được Viện KSND Tối cao phê
chuẩn. “Cơ quan chức năng đang tiếp tục điều tra làm rơ mức
độ sai phạm của Cù Huy Hà Vũ để xử lư theo quy định pháp
luật. Ngoài ra, ông Vũ c̣n phải chịu trách nhiệm về hành vi
quan hệ dâm ô truỵ lạc tại khách sạn Mạch Lâm” - Trung tướng
Hoàng Kông Tư nói.
Cù Huy Hà Vũ
bị truy tố về tội “tuyên truyền chống Nhà Nước”. Có lẽ
chúng ta nên đọc thêm vài chi tiết về tội danh “Tuyên Truyền
Chống Nhà Nước” trong bài “Về Tội Tuyên Truyền Chống
Nhà Nước” của Luật Sư Nguyễn Văn Hậu trên:
http://www.thanhnien.com.vn/News/Pages/200929/20090718002726.aspx
Về tội tuyên truyền chống Nhà
nước
18/07/2009 0:27
Việc
giữ vững ḥa b́nh, an ninh và trật tự xă hội đất nước, chống
khủng bố là lợi ích thiết yếu của mọi quốc gia. Mặc dù có
không ít quan điểm cho rằng mọi người đều có quyền tự do
phát biểu quan điểm và họ đă dựa vào Công ước quốc tế về
những quyền dân sự và chính trị (ICCPR) để bảo vệ cho
luận điểm của ḿnh.
Tuy nhiên khoản 3 Điều 19 của
Công ước Quốc tế về quyền dân sự, chính trị đă quy định rất
rơ việc hành xử quyền tự do phát biểu quan điểm (quy định
tại khoản 2 Điều 19) đ̣i hỏi đương sự phải có những bổn
phận và trách nhiệm đặc biệt. Quyền này chỉ có thể bị giới
hạn bởi pháp luật v́ nhu cầu: Tôn trọng những quyền tự
do và thanh danh người khác; Bảo vệ an ninh quốc gia, trật
tự công cộng, sức khỏe công cộng hay đạo lư.
Tương tự, quyền hội họp có
tính cách ḥa b́nh cũng có thể bị giới hạn bởi luật pháp, v́
các nhu cầu cần thiết trong một xă hội dân chủ để bảo vệ an
ninh quốc gia, an toàn công cộng, trật tự công cộng, sức
khỏe công cộng, đạo lư hay những quyền tự do của người khác
(Điều 21).
Như vậy, mặc dù quyền tự do
ngôn luận và quyền hội họp có tính cách ḥa b́nh... được thế
giới thừa nhận nhưng một khi các quyền này ảnh hưởng đến an
ninh quốc gia, trật tự công cộng của quốc gia nào th́ quốc
gia đó có quyền giới hạn các quyền tự do ngôn luận và hội
họp có tính cách ḥa b́nh... nêu trên.
Bên cạnh đó, Điều 20 của Công
ước Quốc tế về quyền dân sự, chính trị cũng nghiêm cấm mọi
h́nh thức tuyên truyền, cổ vũ chiến tranh, cũng như mọi h́nh
thức gieo rắc căm hờn, xúi giục kỳ thị, hiềm khích, kích
thích bạo động giữa các quốc gia, các chủng tộc tôn giáo.
Như thế nào là hành vi đe dọa
đến an ninh quốc gia? Như thế nào là ảnh hưởng đến trật tự
công cộng? Tuyên bố của Hội nghị Nhân quyền thế giới tại
Viên (Áo) năm 1993 cũng đă nêu rơ cần phải tính đến các đặc
thù quốc gia và khu vực cũng như những nền tảng khác nhau về
văn hóa, lịch sử và tôn giáo của mỗi quốc gia trong việc bảo
vệ và thúc đẩy quyền con người. Do đó, một hành vi, phát
ngôn ở quốc gia này có thể không bị coi là hành vi đe dọa an
ninh quốc gia và vi phạm trật tự an toàn xă hội nhưng ở một
quốc gia khác th́ hoàn toàn có thể bị coi là đe dọa an ninh
quốc gia, vi phạm trật tự công cộng. Xét riêng đến quốc gia
Việt Nam, chúng ta có thể thấy rằng, nét đặc thù của Việt
Nam lại càng mang tính đặc biệt khi Việt Nam phải trải qua
nhiều năm tháng chiến tranh chống ngoại xâm mới giành lại
được ḥa b́nh, độc lập và tự do dân tộc; đến nay các lực
lượng thù địch chưa từ bỏ tham vọng chính trị, đă và đang
thành lập những tổ chức từ nước ngoài, nuôi dưỡng và cấu kết
với các phần tử trong nước, tiến hành thâm nhập vào Việt Nam
nhằm lật đổ Nhà nước Việt Nam…
Ở Việt Nam, quyền tự do ngôn
luận, bày tỏ chính kiến của công dân được pháp luật bảo đảm
và được thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, với những hành vi
lợi dụng quyền tự do ngôn luận vi phạm pháp luật, th́ việc
xử lư những người vi phạm pháp luật là cần thiết và là việc
làm b́nh thường mà các quốc gia trên thế giới thực hiện. Mặt
khác, đây hoàn toàn là
công việc nội bộ của Việt Nam, được thực hiện
theo đúng tŕnh tự thủ tục của pháp luật Việt Nam, và phù
hợp với các quy định của luật pháp quốc tế, trong đó có Công
ước Quốc tế về quyền dân sự, chính trị.
Bây giờ chúng ta
hăy điểm qua vài phản ứng về vụ xử Cù Huy Hà Vũ, phần lớn là
ở hải ngoại. Điều lạ đối với tôi là, không kể những diễn
đàn truyền thông hành nghề chống Cộng của những nhóm người
Việt ở hải ngoại, phản ứng về vụ xử Cù Huy Hà Vũ chỉ tập
trung ở những nguồn quen thuộc như các đài VOA (Voice Of
America) BBC VN, RFA [Radio Free Asia], tổ chức HRW [Human
Rights Watch], RFI [Radio France Internationale], Liên Hiệp
Âu Châu [Cả khối EU hay chỉ là một phái đoàn nhân danh EU?],
không có một tổ chức nào ở Á Châu hay trong những khối Ả
Rập, Phi Châu v…v…. Những tổ chức trên chỉ quan tâm đến
một người Việt bị kết án 7 năm tù v́ tội “Tuyên truyền chống
Nhà Nước”, nhưng h́nh như chẳng quan tâm ǵ đến việc Mỹ và
Anh, Pháp, NATO xâm lăng Iraq, Afghanistan và Libya, gây nên
sự chết chóc của hàng ngàn thường dân vô tội, và vẫn đang
tiếp diễn, v́ bom đạn của
những thế lực tự nhận là bảo vệ nhân quyền.
Những tổ chức trên đă nổi tiếng là không có mấy thiện cảm
đối với Việt Nam, luôn luôn chỉ đưa ra những thông tin một
chiều, nhiều khi sai sự thực, cho nên có bất cứ cơ hội nào,
dù nhỏ nhặt đến đâu, cũng cứ trịch thượng xía vào những
chuyện nội bộ của Việt Nam. Tại sao vậy? Tất cả đều bắt
nguồn từ cái “Hội chứng Việt Nam” (Vietnam syndrome) sau
hai cuộc chiến tranh Đông Dương, mà kết quả đă khắc sâu vào
tâm khảm của hai cường quốc, Pháp rồi Mỹ, trước lịch sử
chống xâm lăng của Việt Nam. Tự do tôn giáo, tự do ngôn
luận, dân chủ, nhân quyền v…v… chỉ là những chiêu bài diễn
giải một cách hạn hẹp một chiều để phục vụ vho những mục
đích chính trị của Tây phương và tỏ ra rằng Tây phương có
quyền ăn nói chứ thực ra chẳng liên quan ǵ đến nhân quyền
hay dân chủ. Đó là những món hàng được quảng cáo bề
ngoài rất tốt đẹp để xuất cảng chứ thực chất bên trong chẳng
liên quan ǵ đến mặt hàng đă được tuyên truyền, quảng cáo..
Tôi thật quả là
nghi ngờ sự lương thiện trí thức của những đài như BBC VN,
RFA Mỹ, và những cơ quan như Ân Xá Quốc Tế, HRW Mỹ, RFI
Pháp, hay một số chính khách Tây phương, Thượng Nghị Sĩ và
Dân Biểu Mỹ hầu như đă quên đi những tội ác ngập trời đối
với người dân Việt Nam của Pháp và Mỹ trong hai cuộc chiến
Việt Nam trước đây, vụ kiện Chất Độc Da Cam v… v…, và nay
lại lên mặt dạy đời về nhân quyền, tự do, và dân chủ, trong
khi họ không có quyền ǵ và cũng không đủ tư cách mà cứ xía
vào những chuyện nội bộ của Việt Nam.. Trong khi đó th́
một số người Việt lưu vong lại đi làm tay sai, cầu cạnh hay
tiếp tay với ngoại bang để chống phá Việt Nam. Phải chăng
v́ Hội Chứng Quốc-Cộng và Hội Chứng Việt Nam vẫn c̣n ám ảnh
đầu óc của một số người thiếu đầu óc?
Trong bài Tấn
Công Libya: Màn Kịch Thô Bạo Của Phương Tây, ngày 30
tháng 3, 2011, trên Sách Hiếm, P.N. Hành viết về Pháp và
Anh:
Từ tháng 2, Anh Pháp
(đang sắp phá sản v́ nợ)
đă manh động tính nhảy vô Libya trục lợi. Anh thả 1 toán SAS
xuống nhưng ... bị đuổi về! Hai thằng thực dân "mặt đầy tiền
án, trán đầy tiền sự" mà đ̣i bảo vệ nhân quyền th́ rơ là mặt
dày!
Nguyễn Tâm Bảo viết
trên Đàn Chim Việt:
Mỗi lần
thấy Hoa Kỳ lên tiếng chê trách Việt Nam vi phạm nhân quyền
th́ tôi chỉ thấy thối tha. Có ai cũng thấy thối như tôi
không?
C̣n có
ai chưa biết rằng Hoa Kỳ vẫn thường gửi các nghi phạm khủng
bổ (khá nhiều là
người vô can) sang các nước đồng minh ở Bắc Phi để bị tra
tấn, theo chương tŕnh Rendition?
Đó chỉ
là một ví dụ trong muôn vàn ví dụ về sự khốn nạn và thói đạo
đức giả của Hoa Kỳ.
Nhưng
vấn đề ĐÁNG BÀN, cái thối nhất ở đây là cái TÂM LƯ hèn
mọn của khá nhiều người Việt vẫn c̣n muốn bán víu vào những
lời giả tạo của Hoa Kỳ như phương tiện để dân chủ hoá đất
nước.
Đó là
tâm lư của những kẻ nô lệ từ trong tiềm thức, những kẻ không
có khả năng và không muốn gánh vác trách nhiệm giải quyết
những vấn đề của cá nhân ḿnh, của dân tộc ḿnh.
Đó là
tâm lư của những kẻ hèn mọn, hậu duệ của những kẻ đầy tớ chỉ
biết ngửa cổ cảm ơn thực dân đă khai sáng cho cha mẹ ḿnh,
ngửa cổ cảm ơn bọn khốn kiếp Mỹ đă dội bom giết bớt đồng bào
ḿnh để ḿnh có “hai mươi năm yên ổn”, và bây giờ đang tiếp
tục van nài ông chủ cũ ra ơn mà đánh đuổi kẻ thù của ḿnh.
Hăy
tỉnh giấc đi và vứt bỏ cái tâm lư hèn hạ cầu cạnh đi, để
thấy rằng cái việc DÂN
CHỦ HOÁ phải là việc của người dân TRONG NƯỚC,
xuất phát từ nhu cầu của chính họ, do chính họ đảm nhận
trọng trách, do chính họ tiến hành, chứ không cần bất cứ sự
trợ lực nào từ bên ngoài.
Chúng ta c̣n nhớ
trước đây, trong bài phỏng vấn của Thông Tấn Xă Việt Nam,
Bà Tôn Nữ Thị Ninh đă dạy cho Dân Biểu Loretta Sanchez một
bài học, nhưng có vẻ chính trị của dân biểu Sanchez là ù lỳ
và không biết ngượng, cũng như một vài dân biểu Mỹ khác,
tưởng rằng một dân biểu Mỹ th́ có quyền đ̣i hỏi những ǵ
ḿnh muốn ở một nước khác trong khi chỉ là một cá nhân, họ
không có một tư cách nào để xía vào chuyện nội bộ của một
nước khác:
“Trong
thời gian ở thăm Việt Nam, những hành vi không phù hợp của
Loretta Sanchez
là sự can thiệp trắng trợn vào công việc nội bộ của Việt
Nam dưới chiêu bài “đem dân chủ” từ bên ngoài đến Việt Nam.
Những hành động này của bà không có lợi cho sự phát triển
của quan hệ Hoa Kỳ-Việt Nam.
“Chúng
tôi thấy khó hiểu những đại biểu dân cử như bà Loretta
Sanchez lại quan tâm quá mức và tốn nhiều sức lực cho vấn đề
nhân quyền ở nước ngoài, như Việt Nam. Có lẽ những nỗ lực
và sự quan tâm đó sẽ mang tính xây dựng và phù hợp hơn nếu
được dành cho những vấn đề “gần nhà hơn” ví dụ như vấn đề
Guantanamo.”
Trở lại vụ Cù Huy
Hà Vũ. Chúng ta có thể đọc một số đ̣i hỏi trịch thượng và
một số lời ca tụng có tính cách khoa trương rất lố bịch về
nhân vật Cù Huy Hà Vũ. Trước hết chúng ta cũng nên biết là
những đài phát thanh như VOA, BBC, RFA, RFI chỉ là những cơ
quan thông tin tuyên truyền sao cho phù hợp với đường lối
chủ trương của các quốc gia liên hệ chứ chẳng phải là những
tổ chức thông tin vô tư. Thí dụ về RFA.
Nếu đọc giả nào
muốn biết rơ về RFA th́ hăy kiếm đọc bài: “Đài RFA Tuyên
Truyền Chống Việt Nam” của Trần Đ́nh Hoàng trên
chuyenluan.net ngày 12.6.2007. Đây là bài nghiên cứu đầy đủ
với nhiều chi tiết về thực chất và mục đích của RFA. Sau
đây là phần kết của bài:
Bài
viết này muốn nhắc nhở những người nào c̣n lầm tưởng RFA đấu
tranh cho quyền lợi của người Việt rằng:
RFA là
một tổ chức phục vụ cho quyền lợi của Mỹ và do một nhóm
người Việt lưu vong điều hành nhằm làm suy yếu sự đoàn kết
dân tộc của Việt Nam và gây bất ổn chính trị xă hội ở Việt
Nam để người nước ngoài có cơ hội “thừa nước đục thả câu”.
Những người ở trong nước đă và đang cộng tác với họ hoặc do
bị lừa gạt hoặc tự nguyện cần ư thức được rằng RFA -- v́ sứ
mệnh chính trị của họ -- chưa bao giờ khách quan, chưa bao
giờ có thiện chí với Việt Nam và dân tộc Việt Nam. Do đó,
cộng tác với họ cũng đồng nghĩa với việc hợp tác với những
người chống lại quyền lợi của Việt Nam.
Trước hết, tôi
muốn nói đến sự can thiệp rất trịch thượng của Mỹ và Âu Châu
vào nội bộ của Việt Nam.
Ngày 5/4, người
phát ngôn Bộ Ngoại giao Nguyễn Phương Nga đă trả lời câu hỏi
của phóng viên về phản ứng của Việt Nam trước tuyên bố của
quyền phó phát ngôn Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ liên quan đến phiên
ṭa (http://vietnamnet.vn/vn/xa-hoi/15341/ong-cu-huy-ha-vu-nhan-7-nam-tu-giam.html
) xét xử Cù Huy Hà Vũ trước đó một ngày.
Bà Nga nói:
“Đây là một tuyên bố can thiệp vào công việc nội bộ của Việt
Nam. Việt Nam là một Nhà nước pháp quyền. Việt Nam xử lư các
hành vi vi phạm pháp luật theo đúng các quy định của pháp
luật Việt Nam và hoàn toàn phù hợp với các quy định của luật
pháp quốc tế, trong đó có Công ước quốc tế về các quyền dân
sự, chính trị”.
Theo tin của
Thông tấn xă Việt Nam, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam
Nguyễn Phương Nga ngày 9/4 vừa qua cũng đă bác bỏ những lời
chỉ trích của quốc tế về vụ xử Cù Huy Hà Vũ khi tuyên bố
rằng : « Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, Bộ Ngoại giao Anh, Phái
đoàn Liên minh châu Âu tại Việt Nam và một vài tổ chức đă có
những nhận xét thiếu khách quan, dựa trên những thông tin
sai lệch, không phản ánh chính xác t́nh h́nh và có những ư
kiến can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. »
Tôi không hiểu
tại sao Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, Bộ Ngoại Giao Anh, Phái Đoàn
Liên Hiệp Âu Châu lại quan tâm đến vụ xử án một công dân
Việt Nam can tội có những hành động vi phạm luật pháp quốc
gia, chỉ bị 7 năm tù, trong khi Mỹ, Anh và Pháp và NATO đang
giết không ít người vô tội ở Iraq, Afghanistan và Libya.
Chúng ta hăy đọc lời tuyên bố của Mark Toner, Quyền Phó Phát
Ngôn Viên Bộ Ngoại Giao Mỹ.
BỘ NGOẠI
GIAO HOA KỲ
Văn pḥng Phát ngôn
viên
Dành cho đăng tải ngay 4/42011
2011/524
TUYÊN BỐ CỦA MARK TONER, QUYỀN PHÓ PHÁT NGÔN VIÊN
Việt Nam:
Việc kết án nhà hoạt động Cù Huy Hà Vũ.
Hoa Kỳ quan
ngại sâu sắc về việc kết án 7 năm tù giam ngày 4/4 đối với
nhà hoạt động Cù Huy Hà Vũ về tội “tuyên truyền chống chính
phủ”. Chúng tôi cũng lo ngại về việc tiến hành phiên toà rơ
ràng đă thiếu tŕnh tự chuẩn mực, và việc tiếp tục giam giữ
một số cá nhân đă t́m cách quan sát phiên toà một cách ôn
hoà.
Việc kết án
ông Vũ đi ngược lại với Tuyên ngôn Nhân quyền Liên Hiệp Quốc
và đặt ra những câu hỏi nghiêm túc về cam kết của Việt Nam
về nền pháp trị và cải cách. Không cá nhân nào đáng bị bỏ tù
v́ thực hiện quyền tự do ngôn luận.
Chúng tôi
thúc giục chính phủ Việt Nam thả ngay lập tức Cù Huy Hà Vũ
và tất cả các tù nhân lương tâm khác.
Trước sự lên tiếng của một chính khách Mỹ chắc chắn là
không nắm vững đầy đủ thông tin về nội vụ một vụ án mà trong
thực tế không đáng để cho Bộ Ngoại Giao Mỹ quan ngại, hay lo
ngại, và có vẻ như cũng không biết rơ về Tuyên Ngôn Nhân
Quyền Liên Hiệp Quốc, chỉ vu vơ, không nói rơ việc kết án
ông Vũ đi ngược lại khoản nào trong bản Tuyên Ngôn, tôi nẩy
ra ư kiến thử đóng vai một “Quyền Phó Phát Ngôn Viên” Bộ
Ngoại Giao Việt Nam và tuyên bố như sau, dựa trên ư của
chính ngài Toner, để ngài suy ngẫm:
Văn pḥng Phát ngôn
viên
Dành cho đăng tải ngày Good Friday 4/22/2011
2011/666
TUYÊN BỐ CỦA
[Một Công Dân Mỹ tự cho ḿnh đóng vai] QUYỀN PHÓ PHÁT NGÔN
VIÊN
MỸ, Anh, Pháp, NATO:
Sự can thiệp vào những chuyện nội bộ của Iraq, Afghanistan
và Libya.
Việt Nam
quan ngại sâu sắc về việc Mỹ, Anh, Pháp và NATO can thiệp
quân sự vào những nước Iraq, Afghanistan và Libya để kiếm
“Vũ Khí Giết Người Hàng Loạt” (Weapon of Mass Destruction),
để kiếm và giết Osama Bin Laden ở Pakistan, và để ủng hộ
quân phiến loạn (rebels) chống chính quyền Libya. Chúng tôi
cũng lo ngại về sự bất khả biện minh cho những cuộc can
thiệp quân sự của Mỹ, Anh, Pháp và NATO vào các nước trên
đưa đến kết quả là nhiều người vô tội gồm cả phụ nữ và trẻ
em bị chết v́ bom đạn.
Sự can
thiệp quân sự của Mỹ, Anh, Pháp và NATO vào các nước trên đi
ngược lại với Tuyên Ngôn Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc
[không tôn trọng quyền
sống trong ḥa b́nh của người dân] và đặt ra những câu
hỏi nghiêm túc về quan niệm nhân quyền của Mỹ và Liên Minh
Châu Âu, và nhất là chính sách đối ngoại của Mỹ mà Tổng
Thống Barack Obama đă khẳng định trong bài diễn văn ở Cairo
trước đây: Vậy tôi xin nói rơ rằng:
không một hệ thống chính
phủ nào có thể, hoặc nên, áp đặt trên một quốc gia bởi một
quốc gia khác. (So
let me be clear: no system of government can or
should be imposed upon one nation by any other.)
Chúng tôi
thúc giục chính phủ Mỹ, Anh, Pháp và NATO hăy rút ngay quân
đội và các h́nh thức quân sự khác ra khỏi các quốc gia trên
và ngưng can thiệp vào những chuyện nội bộ của các quốc gia
khác, đặc biệt là Việt Nam trong đó không có người vô tội
nào bị giết mà chỉ có vài người chống đối chính quyền bị xét
xử theo luật pháp quốc gia của Việt Nam.
Tôi không hiểu
những lời tuyên bố của Mark Toner là lời tuyên bố trong lănh
vực ngoại giao giữa hai nước b́nh đẳng trên chính trường
quốc tế hay là một bản án và một lệnh của Bộ Ngoại Giáo Mỹ
cho nước Việt Nam. Ông Mark Toner có hiểu là ḿnh đă
tuyên bố những lời ngoài thẩm quyền của ḿnh như thế nào
không. Ông dựa vào cái ǵ và lấy quyền ǵ mà đ̣i hỏi Nhà
Nước phải “Thả Ngay lập Tức” một phạm nhân đă bị kết án bởi
Ṭa Án Việt Nam, bất kể là phán quyết của Ṭa án là như thế
nào? Trên nước Mỹ thiếu ǵ trường hợp kết án nhầm, giam giữ
người không có tội trong nhiều năm, và sau đó khi sự thật
phơi bầy mới được thả. Ông muốn nói về bản Tuyên ngôn Nhân
quyền Liên Hiệp Quốc, vậy th́ để tôi khai sáng một chút về
bản này.
Điều 29 trong bản
Tuyên Ngôn Nhân Quyền Của Liên Hiệp Quốc viết như sau:
Mọi người đều có bổn phận
đối với cộng đồng nào mà chỉ trong đó mới có thể phát
triển toàn vẹn và tự do nhân cách của ḿnh.
Trong
việc hành xử nhân quyền và thụ hưởng tự do,
mọi người chỉ phải chịu
những hạn chế do luật định, và những hạn
chế này chỉ nhằm mục tiêu bảo đảm sự thừa nhận và tôn trọng
nhân quyền, và quyền tự do của những người khác, cũng như
nhằm thỏa măn những đ̣i hỏi chính đáng về luân lư, trật
tự công cộng, và nền an sinh chung trong một xă hội dân
chủ. Trong bất cứ trường hợp nào, nhân quyền và những quyền
tự do này cũng không được hành xử trái với những mục tiêu và
nguyên tắc của Liên Hiệp Quốc.
[Everyone
has duties to the community in which alone the free and full
development of his personality is possible.
In the
exercise of his rights and freedoms, everyone shall be
subject only to such limitations as are determined by law
solely for the purpose of securing due recognition and
respect for the rights and freedoms of others and of meeting
the just requirements of morality, public order and the
general welfare in a democratic society.
These
rights and freedoms may in no case be exercised contrary to
the purposes and principles of the United Nations.]
Những thế
lực muốn can thiệp vào nội bộ Việt Nam, Mỹ cũng như Âu Châu,
luôn luôn dùng chiêu bài nhân quyền, tự do ngôn luận để
chống đối Việt Nam, hầu như quên đi vài điều khoản trong bản
Hiệp Ước Quốc tế Về Quyền Dân Sự và Quyền Chính Trị
(The International Covenant on Civil and Political Rights:
The CP Covenant), và Hiệp Ước Quốc Tế về Những Quyền Kinh
Tế, Xă Hội, và Văn Hóa (The International Covenant on
Economic, Social, and Cultural Rights: The ESC Covenant),
quy định vấn đề nhân quyền trước luật pháp quốc gia,
được Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc chấp thuận ngày 6 tháng
12 năm 1966, 18 năm sau khi bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền
Liên Hiệp Quốc ra đời..
Điều Khoản
19:
1. Mọi người
đều có quyền tự do phát biểu ư kiến..
2. Việc
thực thi những quyền quy định trong mục 2 của điều khoản này
đi cùng với những bổn phận và trách nhiệm đặc biệt.
Nó có thể phải chịu một số
hạn chế, nhưng những hạn chế này chỉ có thể do luật pháp đặt
ra.
Article 19
1. Everyone
shall have the right to freedom of expression..
2. The
exercice of the rights provided for in Paragraph 2 of this
article carries with its special duties and
responsibilities. It may therefore be subject to certain
restrictions, but these shall only be such as are provided
by law.
Điều khoản 21
1. Công nhận
quyền hội họp trong ḥa b́nh
2. Không hạn
chế nào được đặt trên sự thực thi quyền trên
ngoài những hạn chế được áp
đặt để tuân theo luật pháp.
Article 21.
1.
The
right of peaceful assembly shall be recognized.
2.
No
restriction may be placed on the exercice of this right
other than those imposed in conformity of the law.
Chúng
ta thấy ngay rằng, mọi
quyền của con người, theo tinh thần của những bản văn trên,
đều phải nằm trong ṿng luật pháp của mỗi nước.
Nếu luật pháp của mỗi quốc gia mỗi khác th́ quyền thực thi
những quyền dân sự về chính trị, tôn giáo trong mỗi quốc gia
cũng mỗi khác. Không có lư do ǵ để Mỹ hay bất cứ tổ
chức nào khác lấy nền luật pháp của Mỹ hay của bất cứ nước
nào để dựa vào đó mà đo vấn đề nhân quyền trên toàn thể thế
giới.
Ngoài ra,
điều khoản 20 trong bản Giao ước viết: “đ̣i
hỏi chính quyền phải ra luật ngăn cấm mọi tuyên truyền cho
chiến tranh và mọi ủng hộ cho sự căm thù quốc gia, thù hận
chủng tộc hay tôn giáo có tác dụng tạo nên sự khích động cho
những vấn đề kỳ thị, thù nghịch hay bạo lực”
(Article 20 of the CP covenant “requires States parties to
prohibit by law any propaganda for war and any advocacy of
national, racial or religious hatred that constitutes
incitement to discrimination, hostility or violence..).
Người ngoại quốc
hay những người Việt chống Cộng ở hải ngoại có thể không
đồng ư hay không chấp nhận nền luật pháp của Việt Nam, nhưng
người dân Việt Nam, sống trong đất nước Việt Nam, th́ bắt
buộc phải tuân theo luật pháp Việt Nam. Không một công dân
nào có quyền nói, tôi không đồng ư với luật của Nhà Nước nên
không có bổn phận phải theo luật đó. Thay đổi điều luật nào
là do cơ quan lập pháp quyết định và sửa đổi, chứ không phải
là do cá nhân tự quyết định. Một du khách vào Việt Nam mà
vi phạm luật Việt Nam th́ cũng sẽ bị xét xử theo luật Việt
Nam, bất kể là luật đó có theo đúng luật của Mỹ hay của Pháp
không. Đây là vấn đề thuộc chủ quyền quốc gia.
Vài sự kiện có
thể cho chúng ta thấy rơ điều này. Chúng ta c̣n nhớ:
Chính quyền Clinton cũng phải rút lui trong việc can thiệp
cho một công dân Mỹ khỏi bị đánh đ̣n ở Singapore , và về
trường hợp Nguyễn Tường Vân, một công dân Úc gốc Việt, một
tín đồ Công giáo, can tội buôn ma túy bị bắt quả tang ở
Singapore và bị kết án tử h́nh treo cổ, và dù được các viên
chức trong chính quyền Úc cùng những viên chức trong Giáo
hội Công giáo như Tổng Giám Mục Phillip Aspinall của Anh
Giáo Úc Đại Lợi, hay Hồng Y George Pell, Tổng Giám Mục địa
phận Sydney, người đă viết thư để xin sự trợ giúp của Giáo
Hoàng John Paul II. Trước khi qua đời Giáo Hoàng John Paul
II đă gởi lời xin tha mạng tới Chính Phủ Singapore, nhưng
tất cả đều vô hiệu trước nền pháp luật của Singapore, án
lệnh vẫn được thi hành, và Nguyễn Tường Vân vẫn bị hành
quyết. Việt Nam cũng đă xử tử người từ nước ngoài mang ma
túy vào trong nước.
Những
h́nh phạt như “đánh đ̣n” hay “treo cổ” là những biện pháp
quy định trong luật pháp quốc gia của Singapore, tất cả đều
trái với quan niệm về nhân quyền của Mỹ. Ngoài ra, Nhật Bản
cho rằng khi bắt được quả tang một người phạm tội th́ người
đó không cần phải có luật sư, chỉ việc mang ra ṭa xét xử và
định tội. Điều này cũng trái với quan niệm về nhân quyền
của Mỹ, mọi tội phạm đều có quyền gọi một cú điện thoại cho
luật sư của ḿnh. Điều khoản 20 trong bản Giao ước lại “đ̣i
hỏi chính quyền phải ra luật ngăn cấm mọi tuyên truyền cho
chiến tranh và mọi ủng hộ cho sự căm thù quốc gia, sắc dân
hay tôn giáo có tác dụng tạo nên sự khích động cho những vấn
đề kỳ thị, thù nghịch hay bạo lực” (Article 20 of
the CP covenant “requires States parties to prohibit by law
any propaganda for war and any advocacy of national, racial
or religious hatred that constitutes incitement to
discrimination, hostility or violence..). Điều khoản này
là một món quà vô giá để cho nhiều quốc gia biện minh cho
những hành động bảo vệ chủ quyền và nền an ninh quốc gia mà
Tây phương cho là phi dân chủ, phi tự do.
Đi vào chi tiết,
có vài điều rất căn bản mà chúng ta cần biết về Bản Tuyên
Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền:
Thứ nhất,
khi Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền ra đời năm 1948 th́
Mỹ và đồng minh vừa đánh bại Đức Quốc Xă, Nhật Bản, và ảnh
hưởng của Nga Sô đang bành trướng trên nửa hoàn cầu. Khi đó
Mỹ ở thế mạnh nhất về chính trị, kinh tế, và quân sự.
Anh và Pháp đang lo củng cố hoặc tái lập quyền cai trị ở các
thuộc địa.
Thứ nh́,
bản Tuyên Ngôn không có giá trị công pháp quốc tế
(not legally binding), v́ không có một định nghĩa rơ ràng
thế nào là nhân quyền, chỉ đưa ra một số điều khoản mơ hồ mà
Liên Hiệp Quốc, h́nh thành theo sự vận động và quan niệm của
Mỹ, dưới sự chi phối của Mỹ, cho đó là nhân quyền, do đó,
theo nguyên tắc, không nước nào, cơ quan nào có thể dựa vào
Bản Tuyên Ngôn để ép buộc bất cứ quốc gia nào phải thi hành
những điều khoản trong bản Tuyên Ngôn. (Mary E.
Williams, Human Rights, p. 16: declarations are not
legally binding; Robert W. Lee, The United Nations
Conspiracy, p.101: the UN later adopted its vague,
non-binding Declaration of Human Rights), nghĩa là các
quốc gia không có bổn phận phải thi hành những điều khoản
trong Bản Tuyên Ngôn Quốc tế Nhân Quyền.
Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền không có giá trị công pháp
quốc tế, như chúng ta đă biết. Bởi vậy cho nên khi đó,
1948, Pháp đang công khai mở cuộc tái xâm lược Đông Dương
với 80% quân phí do Mỹ đài thọ, ḥng tái lập thuộc địa ở
Việt, Cambod, Lào, một hành động vi phạm trắng trợn mọi nhân
quyền của người dân Việt Nam, những quyền ghi trong Bản
Tuyên Ngôn, mà không có sự phản đối của Liên Hiệp Quốc. Và,
việc Mỹ đơn phương tạo nên cuộc chiến Quốc Cộng ở Việt Nam,
đơn phương xóa bỏ hiệp định Geneva, nuốt lời tuyên bố của
chính phủ Mỹ (tuy không kư vào bản Hiệp Định Geneva nhưng sẽ
không can thiệp vào quyền tự quyết (self-determination) của
các dân tộc), đổ quân và vũ khí vào miền Nam, ném bom tàn
phá ruộng nương, nhà thờ, trường học, nhà thương, chùa chiền
v..v.. trên toàn đất nước Việt Nam, trải thuốc khai quang
Agent Orange v..v.., để lại nhiều di hại cho người dân Việt
Nam cho tới tận ngày nay, không đếm xỉa ǵ tới nhân quyền và
ḷng khao khát ḥa b́nh của người dân Việt, muốn sống tự do
và b́nh đẳng theo lư trí và lương tri của ḿnh trong cộng
đồng quốc tế, cũng không có sự chống đối nào của Liên Hiệp
Quốc. Vậy th́, giá trị của Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân
Quyền là ở đâu, và tại sao ngày nay những kẻ mù mờ vẫn bám
vào cái vô dụng để can thiệp vào chuyện nội bộ của các nước
khác?
Và thứ
ba, điều rơ ràng là những điều khoản trong bản tuyên ngôn
phản ánh những chế độ, văn hóa và xă hội Tây phương v́ năm
1948, Liên Hiệp Quốc nằm trong sự thao túng của các cường
quốc Âu Mỹ. Bởi vậy, một số lănh tụ Á Châu, như Thủ Tướng
Mă Lai Mahathir Mohamad, đă cho rằng Bản Tuyên Ngôn Quốc
Tế Nhân Quyền là sản phẩm của những quốc gia Tây phương,
không hiểu ǵ về các xă hội Đông phương, có tính cách xâm
lược văn hóa của chính sách đế quốc Tây phương (Some
Asian leaders, like Malaysian Prime Minister Mahathir
Mohamad, denounce it (the Declaration) as Western cultural
imperialism), và đề nghị phải duyệt lại bản Tuyên Ngôn Nhân
Quyền này. Phải chăng v́ vậy mà cho tới ngày nay, đường
đi tới sự thực hiện bản Tuyên Ngôn trên b́nh diện quốc tế
vẫn c̣n xa lắc, xa lơ? (Doug Cassel: "The Universal
Declaration still is a long way from universal reality").
Doug Cassel là Giám Đốc Trung Tâm Nhân Quyền Quốc Tế tại đại
học Northwestern, Illinois.
Bởi vậy,
khi Charles Malik, một cựu chủ tịch đại hội đồng Liên Hiệp
Quốc, phát biểu là:
Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, là kết quả của sự tổ hợp
và xét đến quan điểm của mọi hệ thống pháp lư, mọi tôn giáo,
mọi nền văn hóa, và mọi quan điểm về đời sống con người.
(Charles Malik, Man in the Struggle for Peace, p. 89)
Th́ Robert W. Lee đă
phê b́nh câu trên như sau:
“Hăy suy nghĩ về điều trên một
lát. Có cái ǵ có thể lố bịch và vô nghĩa hơn là toan tính
đổ “quan điểm của mọi hệ thống
[Cộng Sản và Tư Bản], mọi
tôn giáo [Ki Tô Giáo và Hồi Giáo], mọi nền văn hóa
[Tây phương và Nam Phi], và mọi quan điểm về đời sống
[luân thường và phi luân] vào một cái b́nh nấu cho
chảy, ḥa lẫn với nhau để thành một cái ǵ giống như một
chính sách về nhân quyền thích đáng? Một tiền lệ chúng ta
có thể nghĩ tới là toan tính nổi tiếng của Frankenstein khi
lắp các phần riêng biệt lại với nhau. Ông ta đă sáng tạo ra
một con quỷ.”
(Robert W. Lee, The
United Nations Conspiracy, p. 101: Think about that for
a moment. Could anything be more ridiculous and futile than
attempting to pour the “views of all systems (Communist
and Capitalist), all religions ( Christian and Moslem),
all cultures (Western and Hottentot), and all
outlooks (moral and immoral)” into a melting pot and
come up with anything resembling a decent human rights
policy? The only meaningful precedent we can think of is
Dr. Frankenstein’s renowned attemp to piece things
together. He, too, created a monster.)

Những sự
kiện trên chứng tỏ rằng Nhân Quyền chỉ là một chiêu bài hữu
danh vô thực của một số cường quốc Âu Mỹ, với nhằm mục đích
ép những tiểu nhược quốc nào có thể ép được phải theo quan
niệm lưỡng chuẩn (double standard) về nhân quyền, dân chủ,
đường lối chính trị, quyền lợi kinh tế của Tây phương, với
Mỹ đương nhiên đứng đầu, trong khi trên b́nh diện quốc tế,
Mỹ và Anh, Pháp, NATO ở Tây phương lại vi phạm nhân quyền
vào bậc nhất.. Tuy nhiên, trong thế kỷ 20, t́nh h́nh thế
giới đă thay đổi nhiều. Trước đây, quyền lực của Tây phương
đối với các thuộc địa, và quyền bá chủ của Mỹ trong thế kỷ
20, sau đệ nhị thế chiến, đă có tác dụng bành trướng nền văn
hóa Tây phương trên khắp thế giới. Nhưng t́nh h́nh thế giới
đă thay đổi, cán cân quyền lực không c̣n ngả về Tây phương.
Sự vươn lên của Á Châu, chiến tranh Việt Nam đă đưa đến sự
cáo chung của chế độ thực dân trên thế giới, cho nên Tây
phương không c̣n khả năng để ép các quốc gia khác phải theo
ư ḿnh. Trong khi đó th́ những nền văn hóa khác Tây phương
đang phục hồi mạnh mẽ. Hai cuộc Thế Chiến đều xảy ra ở Tây
phương, các cuộc chiến tranh tôn giáo cũng đều xảy ra ở Tây
phương, vật chất đè bẹp đạo đức, tội ác lan tràn, đạo đức
của giới chăn chiên suy sụp v..v... Những sự kiện này cho
người Á Đông thấy rơ sự băng hoại và thất bại của những chủ
lực tinh thần ở Tây phương, và những giá trị Tây phương
không c̣n hấp dẫn.
Tưởng chúng ta
cũng nên biết, trong Hội Nghị Vienna, những quốc gia Á Châu
đă họp ở Bangkok và chấp thuận một bản tuyên ngôn nhấn mạnh
rằng nhân quyền phải được xét đến “trong bối cảnh của
những đặc tính quốc gia và địa phương, và những nền tảng
lịch sử văn hóa tôn giáo khác nhau” (human rights
must be considered in the context of national and regional
particularities and various historical religious and
cultural backgrounds), và rằng “theo
dơi vấn đề nhân quyền là vi phạm chủ quyền quốc gia”
(that human rights monitoring violated state
sovereignty) và sau cùng “viện trợ kinh tế với điều
kiện, dựa trên tiêu chuẩn nhân quyền là đối ngược với quyền
phát triển” (and that conditioning economic
assistance on human rights performance was contrary to the
right of development).
Các cường quốc Âu
Mỹ có thể phần nào, phần nào thôi, tôn trọng nhân quyền
trong các nước của họ và theo quan niệm về nhân quyền của
họ, nhưng có bao giờ tôn
trọng nhân quyền trong các nước nhỏ yếu, đang phát triển
đâu. Lịch sử thế giới đă chứng tỏ như vậy. Quan
niệm nhân quyền của Á Đông đặt căn bản trên sự kiện là con
người không phải là một thực thể riêng biệt, mà có liên hệ
tới toàn thể cộng đồng. Do đó, Á Đông đặt quyền lợi của
cộng đồng trên quyền của cá nhân, và những quyền cá nhân
được coi là thứ yếu so với những yêu cầu của quốc gia
[Protection of the rights of individual was frankly
acknowledged to be secondary as compared to the needs of the
state]. Các xă hội Tây phương đặt nặng chủ nghĩa cá nhân và
quyền tự do cá nhân (Western societies emphasize
individualism and personal freedom), trong khi các nền văn
hóa Á Đông đặt giá trị của sự tự kiểm và trật tự xă hội cao
hơn quyền của cá nhân. (Asian cultures place a higher value
on self-discipline and order.) Trong những xă hội ổn
định Tây phương, tự do ngôn luận có thể coi là một quyền
công dân căn bản, trong khi ở những xă hội chưa được ổn
định như ở Việt Nam, hậu quả của một cuộc chiến tranh làm
ḷng người chia rẽ, phân hóa, và trước sự tiếp tục đánh phá
hay phá ngầm của ngoại lai và tay sai hải ngoại hay bản địa,
chính quyền có thể xét đến ảnh hưởng của sự tự do này, trong
một số trường hợp đặc biệt trong bối cảnh xă hội, và coi đó
là gây sự hỗn loạn trong xă hội, do đó có phương hại đến sự
ổn định xă hội, ngăn cản sự phát triển kinh tế v..v..
Sau đây tôi
muốn nói đến lời
phát biểu của
Phil Robertson, Phó Giám
đốc phụ trách Châu Á của Tổ chức Theo Dơi Nhân quyền [HRW =
Human Rights Watch] mà nội dung là sự can
thiệp trắng trợn vào nội bộ Việt Nam. Trước hết chúng ta hăy
t́m hiểu ít nhiều về bộ mặt thực của HRW.
Đọc giả chỉ cần đánh ba chữ trên vào chỗ “search” là có thể
biết tất cả về HRW. Sau đây là vài thông tin về HRW từ:
http://www.ngo-monitor.org/article/human_rights_watch_hrw_:
·
Trong khi HRW tự nhận là “vô tư và chính xác trong những
phúc tŕnh, bảo đảm tiêu chuẩn và hănh diện của HRW”, điều
này không được thấy trong nghị tŕnh của HRW về Do Thái và
cuộc xung đột Ả Rập – Do Thái.
·
While HRW claims that "The hallmark and pride of Human
Rights Watch is the even-handedness and accuracy of our
reporting", this is not reflected in its agenda regarding
Israel and the Arab-Israeli conflict.
·
Nhiều viên chức HRW, gồm cả những người đứng đầu các phân bộ
ở Trung Đông và Bắc Phi, có một lịch sử về sự thiên lệch về
lư tưởng không phù hợp với điều đ̣i hỏi phải khách quan và
gồm tất cả trong phúc tŕnh về nhân quyền [nghĩa là không
thiên lệch]
·
Many HRW
officials, including the heads of the Middle East and North
Africa Division, have a history of ideological bias that is
inconsistent with the requirements for objectivity and
universality in human rights reporting.
Nhưng đầy đủ chi
tiết về HRW hơn cả là trong trang nhà sau đây, chúng ta có
thể đọc vài đoạn trong đó:
http://web.inter.nl.net/users/Paul.Treanor/HRW.html :
Tổ chức theo dơi nhân quyền
(HRW) được thành lập trên niềm tin về sự đứng trên hết của
những giá trị của Mỹ. Tổ chức này liên hệ chặt chẽ với
chính sách ngoại giao của giới cầm quyền ưu tú Mỹ, và những
vận động ngoài hành lang về chủ thuyết can thiệp và bành
trướng.
Không
một công dân Mỹ nào, và không một tổ chức nào của Mỹ, có bất
cứ quyền nào để áp đặt những giá trị của Mỹ lên Âu Châu
[và Á Châu].
Nhưng HRW tự cho là hiển nhiên Mỹ có quyền hợp pháp để sửa
lại cơ cấu của bất cứ xă hội nào, nơi đó Mỹ thấy có một
nghĩa địa của tập thể. Đó là niềm tin nguy hiểm của một
siêu cường: chủ nghĩa thuộc địa của Âu Châu chứng tỏ là
“nhiệm vụ văn minh hóa” đă tạo ra những sự tàn bạo của chính
ḿnh… Và các lính Mỹ sẽ tiếp tục giết, tra tấn và hiếp dâm,
để ngăn chận những sự giết chóc, tra tấn và hiếp dâm.
Trong
những năm gần đây, những thái độ này cứng rắn hơn: chủ
nghĩa can thiệp nhân danh nhân quyền trở thành sự
nhất trí của giới ưu tú trong chính sách ngoại giao Mỹ ngay
cả trước ngày 9-11. HRW là một phần của giới đó, gồm có
những pḥng sở trong chính phủ, những tổ chức, những tổ chức
không phải của chính phủ
(NGO = Non-government
organizations) và giới khoa bảng. HRW chắc chắn không
phải là một tổ chức tư của những người công dân quan ngại.
Những người trong ban chỉ đạo gồm những viên chức chính phủ
trong quá khứ và hiện tại…
Nhân
Quyền không chỉ là lư tưởng can thiệp. “Nhiệm vụ văn minh
hóa”, biện minh cho chính sách thuộc địa ở thế kỷ 19, là một
thí dụ khác. Điểm chính là nhân quyền có thể phục vụ cho
mục đích chính trị tùy vùng địa dư, không liên quan ǵ đến
nội dung đạo đức… Và chính trị tùy vùng địa dư là tất cả
những ǵ là HRW – không phải về đạo đức. HRW hầu như toàn
thể là tổ chức của Mỹ. Quan điểm của HRW về nhân quyền là
theo truyền thống Anh-Mỹ. Đó là độc quyền về đạo đức –
không công nhận bất cứ giá trị đạo đức hợp pháp nào khác
ngoài giá trị của chính ḿnh.
HRW có
một số hoạt động bỏ sót kỳ thị, để duy tŕ đặc tính Mỹ, và
giảm thiểu những phê phán nội tại với quan điểm giới hạn.
Tuy HRW phát hành những ấn phẩm bằng những tiếng ngoại quốc
để quảng cáo cho những quan điểm của ḿnh, tổ chức chỉ là
Anh-Mỹ mà thôi.
Do đó,
HRW không thể tự cho là ḿnh có bất cứ vị thế cao cả nào
về đạo đức. HRW đă dính líu vào nhiều thực hành mà HRW
lên án ở những nơi khác. HRW cũng tự cho là trung lập. Đối
với những người cai quản HRW, thế giới không phải là Tây
phương là một danh sách những sự tàn bạo, và qua phương tiện
truyền thông, HRW truyền đạt thái độ này cho quần chúng Mỹ.
Nó chỉ có thể hạ thấp con người Phi Châu, Á Châu, Ả Rập và
Đông Âu. Hợp lại với nhau theo chiều hướng phần c̣n lại của
thế giới là kẻ thù, điều này góp phần vào những lạm dụng mới
và tiếp tục gây nên sự chết chóc của người dân, trong những
cuộc thánh chiến của Mỹ.
[Human
Rights Watch is founded on belief in the superiority of
American values. It has close links to the US foreign policy
elite, and to other interventionist and expansionist
lobbies.
No US
citizen, and no US organisation, has any right to impose US
values on Europe. But Human Rights Watch finds it
self-evident, that the United States may legitimately
restructure any society, where a mass grave is found. That
is a dangerous belief for a superpower: European colonialism
shows how easily a 'civilising mission' produces its own
atrocities… And American soldiers will continue to kill,
torture and rape, in order to prevent killings, torture and
rape.
In recent
years attitudes hardened: human-rights interventionism
became a consensus among the 'foreign policy elite' even
before September 11. Human Rights Watch itself is part of
that elite, which includes government departments,
foundations, NGO's and academics. It is certainly not an
association of 'concerned private citizens'. HRW board
members include present and past government employees…
Human
rights are not the only ideology of intervention. The
'civilising mission', which justified 19-th century
colonisation, is another example. The point is that human
rights can serve a geopolitical purpose, which is unrelated
to their moral content... And geopolitics is what Human
Rights Watch is about - not about ethics. HRW itself is an
almost exclusively US-American organisation. Its version of
human rights is the Anglo-American tradition. It is
'mono-ethical' - recognising no legitimate ethical values
outside its own.
Human
Rights Watch operates a number of discriminatory exclusions,
to maintain its American character, and that in turn reduces
internal criticism of its limited perspective. Although it
publishes material in foreign languages to promote its
views, the organisation itself is English-only…
Human
Rights Watch can therefore claim no ethical superiority. It
is itself involved in practices it condemns elsewhere, such
as discrimination in employment, and exclusion from social
structures. It can also claim no neutrality. To the people
who run HRW, the non-western world consists of a list of
atrocities, and via the media they communicate that attitude
to the American public. It can only dehumanise African,
Asians, Arabs and eastern Europeans. Combined with a
tendency to see the rest of the world as an enemy, that will
contribute to new abuses and continuing civilian deaths,
during America's crusades.
Với bộ mặt thực
của HRW như trên th́ thử hỏi tiếng nói của ông
Phil Robertson, Phó Giám
đốc phụ trách Châu Á của Tổ chức HRW có bao
nhiêu giá trị? Chúng ta hăy đọc một đoạn trong lời phát
biểu của ông Phil Robertson để xem tư cách và thái độ của
ông ta ở mức nào. Đối với tôi, ông Phil Robertson, nhân
danh chỉ là một phó giám đốc của một tổ chức trên danh nghĩa
là của tư nhân ở nước ngoài, rất có ít uy tín trong giới trí
thức v́ những mục đích thiên lệch chính trị như đă tŕnh bày
ở trên, đă phát biểu một cách đầy thiên kiến, thiếu hiểu
biết, và hỗn xược đối với một quốc gia, chứng tỏ một tâm
cảnh trịch thượng, đạo đức chính trị thấp kém.
Ông Phil
Robertson phát biểu từ Bangkok:
“Việt
Nam cần thả ngay lập tức nhà bảo vệ nhân quyền và môi trường
Cù Huy Hà Vũ.”
(Bangkok) –
Vietnam should immediately release the human rights and
environmental defender Cu Huy Ha Vu, Human Rights Watch said
today.
Ông Robertson là
ai, HRW là cái ǵ, lấy quyền ǵ, mà dám lên tiếng đ̣i chính
quyền Việt Nam phải cần thả ngay lập tức một phạm nhân của
Việt Nam đă bị kết án? Nhiều nhất là HRW, với tư cách là một
hội tư, nếu có cảm t́nh với Cù Huy Hà Vũ v́ một lư do riêng
tư nào đó, và cho rằng Cù Huy Hà Vũ vô tội, chỉ có thể xin
Nhà Nước Việt Nam hăy xử lại hay giảm án cho Cù Huy Hà Vũ,
hay giúp Cù Huy Hà Vũ kháng án, chứ không có tư cách ǵ
nhúng mũi vào chuyện nội bộ của Việt Nam để mà tuyên bố nọ
kia ở ngoại quốc, đ̣i Nhà Nước Việt Nam phải “thả ngay tức
khắc” Cù Huy Hà Vũ. Hành động trịch thượng, tự tung tự tác
xía vào chuyện nội bộ Việt Nam, đối với người dân Việt Nam
thường cũng không thể chấp nhận đừng nói đến chính quyền
Việt Nam. Mấy người ngoại quốc không biết ngượng, tự cho
ḿnh là văn minh tiến bộ, cứ trơ trẽn xen vào chuyện nội bộ
của Việt Nam, trong khi ḿnh không có bất cứ một thẩm quyền
nào hay có tư cách nào để có những hành động vô lối, coi
thường chủ quyền quốc gia của Việt Nam. Việt Nam nên coi
những lời đó chỉ là rác rưởi, không đáng quan tâm.
Ông Phil
Robertson c̣n lên tiếng hỗn xược đ̣i Việt Nam nên sửa đổi
hoặc hủy bỏ những điều luật chung chung về an ninh quốc gia:
“Việt Nam cần sửa đổi hoặc hủy
bỏ những điều luật không rơ ràng về an ninh quốc gia, thay
v́ sử dụng những điều luật đó để bịt miệng những người phê
phán chính phủ một cách ôn ḥa. Làm sao mà Việt Nam có thể
trở thành một quốc gia có nền pháp trị khi chính phủ tiếp
tục trừng phạt các nhà chủ trương hợp phápt?”
“Vietnam
should amend or repeal its broad national security laws
instead of using them to silence peaceful government
critics. How can Vietnam become a country governed by the
rule of law if the government continues to punish legal
advocates?”
Tôi miễn phê b́nh
những lời trịch thượng ngu đần và vô thẩm quyền này. V́ ông
Robertson không tự biết con người của ḿnh và tổ chức HRW
của ông, và không có ư thức đúng về chính trị quốc tế. Hơn
nữa, ông không đọc những lời thuộc loại chợ búa của Cù Huy
Hà Vũ mà ông ta cho là “phê phán ôn ḥa”. Tôi chỉ muốn nói
một câu: tự do ngôn luận không phải là tự do nói láo, hay tự
do nhúng mũi vào những chuyện nội bộ của một quốc gia, nhất
là đối với một viên chức cao cấp của HRW, và HRW không có
một quyền ǵ đối với Việt Nam, vậy đừng có sử dụng nhân
quyền trên đầu môi chót lưỡi để xía vào những chuyện nội bộ
của Việt Nam..
IV.
Cù Huy
Hà Vũ Là Người Như Thế Nào?
Tôi đă đọc khá
nhiều về Cù Huy Hà Vũ trên những diễn đàn thông tin ở trong
nước cũng như ở hải ngoại. Lẽ dĩ nhiên những người hành
nghề chống Cộng ở hải ngoại lại có dịp hoan hô ủng hộ những
lời tuyên bố của Mark Toner, của HRW, RFA, RFI, Liên hiệp Âu
Châu v…v… để lên án Nhà Nước về vụ xử “Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ”
. Tôi không thấy một tài liệu nào nói về Cù Huy Hà Vũ tốt
nghiệp Tiến sĩ Luật ở Đại học nổi tiếng của Pháp, Sorbonne,
năm nào, với Luận Án như thế nào, nhưng lại không được phép
hành nghề luật sư ở Việt Nam. Có thể nói là Cù Huy Hà Vũ có
một đầu óc bất b́nh thường, nếu không muốn nói là vô trí
trong vài vụ ông ta kiện lung tung và những phát biểu tầm
bậy.
Tôi không có
th́ giờ đi vào những thông tin về Cù Huy Hà Vũ có thể nói là
đầy đủ nhất trên trang nhà
http://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%B9_Huy_H%C3%A0_V%C5%A9.
Tôi chỉ có thể điểm qua vài hành động điển h́nh của Cù Huy
Hà Vũ, một nhân vật mà có người ở hải ngoại, Trần Khải, ca
tụng một cách không thể nào lố bịch hơn:
Phiên
xử Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ vào ngày 4-4-2011 tại Ṭa án
Nhân dân thành phố Hà Nội sẽ có một vị trí độc đáo trong
lịch sử Việt Nam.
[Nhưng trước ṭa chỉ có một bị cáo tên là Cù Huy Hà Vũ trước
một bản cáo trạng, không làm ǵ có “Tiến sĩ luật”]
Cù Huy
Hà Vũ là trí thức thực sự
[Chúng ta sẽ xem thực sự CHHV trí thức như thế nào]
Bất kỳ
ai kết án Cù Huy Hà Vũ, đều là kết án những trật tự của trí
thức và pháp lư.
[Những hành động ngông cuồng vô trí của CHHV là “trật tự của
trí thức và pháp lư”?]
Bất kỳ
một xúc phạm nào
tới một người như Cù Huy Hà Vũ đều sẽ là xúc phạm tới dân
tộc, tới quyền lợi của toàn dân. [CHHV là dân tộc, là
quyền lợi của toàn dân, viết ngu như vậy mà cũng viết lên
được]
Không
trả tự do cho Cù Huy Hà Vũ sẽ có nghĩa là cầm tù cả hồn
thiêng sông núi.
[Cù Huy Hà
Vũ, một người mà trong một số hoạt động đă tự chứng tỏ là
thiếu trí tuệ, như sẽ được chứng minh trong một phần sau, mà
là Hồn Thiêng Sông Núi?]
Viết những
lời khoa trương lố bịch và ngu đần như vậy th́ có đáng để
cho chúng ta phê b́nh không. Nhưng đó lại là phản ánh trí
tuệ của một số người hành nghề chống Cộng cho thương vụ của
ḿnh.
Sau đây
tôi có vài nhận xét về một số hành động và phát ngôn thuộc
loại “trật tự của trí thức và pháp lư” của Cù Huy Hà Vũ.
Nhưng trước hết chúng ta hăy điểm qua vài dư luận về Cù Huy
Hà Vũ. Trước hết là của Hội Nhà Văn Việt Nam:
http://hoinhavanvietnam.vn/Details/ly-luan-phe-binh/ve-vu-cu-huy-ha-vu/32/0/2681.star
trích đăng ư kiến của nhà văn Đông La:
Đọc những bài
của Vũ trước hết tôi thấy thật lạ lùng, Vũ vừa là TS luật
vừa là Thạc sỹ văn chương, tưởng viết phải rất đúng luật và
chặt chẽ, nào ngờ hoàn toàn ngược lại. Trong nhiều bài viết,
Vũ đă sử dụng ngôn ngữ chợ búa, phạm luật, và trước những
vấn đề đại sự lại rất ấu trĩ.
http://www.cand.com.vn/vi-VN/binhluan/2009/11/139859.cand
Việc một Cù Huy Hà Vũ ảo
tưởng và ngông cuồng sa lưới pháp luật âu cũng là hệ quả tất
yếu. Ở đâu cũng thế thôi, cố t́nh đi trái làn măi, ắt sẽ gặp
phải tai nạn giao thông. Chỉ có điều, đến giờ phút này, trên
nhiều diễn đàn mạng thông tin điện tử, nơi vẫn được coi như
một công cụ chính để Vũ thể hiện những ngông cuồng ấy, nhiều
học giả, trí thức đă từng rất thiện chí mà chỉ ra những việc
làm sai trái của Vũ từ lâu rồi.
Cù Huy Hà
Vũ không phải là người b́nh thường! Bởi
người b́nh thường th́ không ai lại cố t́nh có hàng loạt hành
vi vi phạm pháp luật đến như thế.
Sau khi tốt
nghiệp Đại học Ngoại ngữ Hà Nội (chuyên ngành tiếng Pháp),
năm 1979, Vũ nhận công tác tại Ban Thông tin Học viện Quan
hệ quốc tế. Trong thời gian 5 năm làm việc ở Học viện, Vũ
liên tục được đi Pháp để tiếp tục học tiếng Pháp và học thêm
các chuyên ngành quản lư nhà nước, quan hệ quốc tế, luật
kinh tế.
Hơn 15 năm
được ưu tiên du học nước ngoài, đủ mọi loại bằng cấp nhưng
Cù Huy Hà Vũ chẳng cống hiến được ǵ với nơi đă tạo điều
kiện cho Vũ ăn học cũng như cho xă hội. Đă thế, khi về nước
vào năm 1999, Vũ không đến cơ quan làm việc, không chấp hành
kỷ luật của tổ chức. Đùng một cái, đến năm 2004, Vũ trở mặt
quay lại kiện cáo đ̣i cơ quan phải trả lương.
Có thể nói,
lật giở các trang hồ sơ từ Học viện Quan hệ Quốc tế đến UBND
phường Điện Biên, thông qua những người anh em họ hàng cũng
như hàng xóm, khối phố của Cù Huy Hà Vũ mới thấy con người
này quả là "danh bất hư truyền" về thói hung hăng, côn đồ,
coi thường gia phong, coi thường luật pháp.
Tính cách
thiếu đàng hoàng ấy lại thêm một lần bộc lộ ở ngay chính cái
biển to chềnh ềnh trên nóc cổng số nhà 24 đường Điện Biên
Phủ. Mặc dù đă nhận bào chữa cho một số vụ kiện dân sự, thậm
chí có bằng Tiến sĩ Luật kinh tế của Pháp hẳn hoi, nhưng Cù
Huy Hà Vũ chưa từng được pháp luật công nhận hành nghề luật
sư tại Việt Nam.
Cụ thể, Đoàn
Luật sư Hà Nội đă phải ra thông báo chính thức rằng Cù Huy
Hà Vũ không phải là luật sư. C̣n về Văn pḥng Luật sư Cù Huy
Hà Vũ: Văn pḥng này được thành lập và đăng kư hoạt động
ngày 9/4/2007 do Luật sư Nguyễn Thị Dương Hà (vợ Vũ) làm
Trưởng Văn pḥng và tên giao dịch của nó th́ lại được đặt
trúng tên... Cù Huy Hà Vũ!!!
Đọc những thông
tin trên, tôi có cảm tưởng là Nhà Nước đă rất ưu ái và nhân
nhượng với Cù Huy Hà Vũ, cho ông ta đi học thành tài, quá
nhân nhượng trong những vụ bỏ sở làm, đánh người v…v… của Cù
Huy Hà Vũ, có lẽ v́ ông ta là con của Cù Huy Cận. Nhưng
không hiểu v́ lư do ǵ mà Cù Huy Hà Vũ cứ làm tới qua những
hành động cực kỳ ngông cuồng vô lư, liên hệ với nhiều tổ
chức ngoại quốc, một vấn đề rất nhạy cảm đối với Việt Nam,
phát biểu bừa băi với những ngôn từ phi trí thức, nên cuối
cùng Nhà Nước không thể tiếp tục nhân nhượng để ông ta tiếp
tục làm càn.
Sau đây tôi sẽ đi
vào vài hành động ngông cuồng vô trí của Cù Huy Hà Vũ. Thứ
nhất là vụ kiện album Chat với Mozart của ca sĩ Mỹ Linh.
Theo
http://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%B9_Huy_H%C3%A0_V%C5%A9,
th́:
Năm
2006,
ông kiện album Chat với
Mozart
của ca sĩ
Mỹ Linh
và nhạc sĩ Dương Thụ v́ cho rằng việc đặt tên và lời tiếng
Việt cho các tác phẩm của các tác giả nhạc cổ điển trong
album này đă "vi phạm quyền nhân thân" của họ.[12]
Trong một cuộc trả lời phỏng
vấn
báo Công
an Nhân dân, Cù Huy Hà Vũ cho rằng, theo
Luật Sở
hữu trí tuệ, nhạc có hai loại: nhạc có lời và
nhạc không
lời. "Nhạc người ta đang không lời, ḿnh cải biên
thành có lời là không được", và nhạc của Mozart "là đỉnh cao
của âm nhạc. Người ta đang ở “cao”, ḿnh kéo xuống “b́nh
dân” là phá hoại văn hóa." Ông cho rằng cách làm của ông
nặng về luật hơn là cảm tính.[12]
Ông Vũ cũng nói đùa rằng ông kiện ca sĩ trong nước vi phạm
bản quyền nhạc nước ngoài là
nhằm sau này "bảo vệ các nhạc sĩ trong nước nếu họ bị vi
phạm bản quyền ở nước ngoài".[12]
Đây là một vụ
kiện kỳ cục và vô lư nhất hành tinh. Ông Cù Huy Hà Vũ không
hiểu ǵ về luật về bản quyền. Thứ nhất ông Vũ lấy tư cách
ǵ để kiện, kiện cho ai? Đại diện cho Mozart (1756-1791)?
Đại diện cho thân nhân của Mozart? Ông Vũ không biết rằng
bản quyền không phải là vô thời hạn mà bao giờ cũng có giới
hạn về thời gian. Và mỗi quốc gia đều có luật giữ bản quyền
cho những tác giả văn học, nghệ thuật v…v… trong nước ḿnh.
Luật bản quyền của Mỹ bảo vệ quyền tác giả trong suốt đời
sống của tác giả, cộng thêm tối đa là 70 năm cho thân
nhân sau khi tác giả qua đời. Sau thời gian này, các
tác phẩm văn học, nghệ thuật v..v… đều đi vào lănh vực công
cộng (public domain).
http://en.wikipedia.org/wiki/Copyright :
Những người giữ bản quyền có
đặc quyền kiểm soát sự sao chép và khai thác những tác phẩm
của ḿnh trong một thời gian nhất định, sau đó tác phẩm
thuộc lănh vực công cộng
(nghĩa là mọi người đều có quyền sử dụng mà không cần phải
xin phép tác giả)
(Copyright
owners have the exclusive statutory right to exercise
control over copying and other exploitation of the works
for a specific period of time, after which the work is
said to enter the
public domain.)
Ông Vũ có nhắc
tới luật bản quyền của Berne Convention, nhưng đây là giới
hạn thời gian của bản quyền:
http://en.wikipedia.org/wiki/Berne_Convention_for_the_Protection_of_Literary_and_Artistic_Works:
Hội nghị Berne tuyên bố là mọi
tác phẩm ngoại trừ nhiếp ảnh và phim ảnh sẽ được giữ bản
quyền ít nhất là 50 năm sau khi tác giả chết.
(The Berne
Convention states that all works except photographic and
cinematographic shall be copyrighted for at least 50
years after the author's death.)
Mozart chết
năm 1791, tới năm 2006 là bao nhiêu năm, ông Vũ tính không
ra, nhưng tôi biết làm tính trừ nên tính ra được là 215
năm. V́ sự hiểu biết quá kém về luật bản quyền cho nên ông
Vũ c̣n cường điệu:
Chưa xuôi đâu.
Sắp tới chắc chắn Cục Bản quyền và Sở VH-TT Hà Nội sẽ phải
chính thức trả lời tôi. Có cơ sở pháp lư nào bênh vực được?
Tôi tin tưởng việc phạt Mỹ Linh là chắc chắn. Luật Sở hữu
trí tuệ ghi rất rơ: Nhạc có hai loại: có lời và không lời.
Nhạc người ta đang không lời, ḿnh cải biên thành có lời là
không được.
Ấy là chưa nói
tới việc nhạc không lời (trong trường hợp này là nhạc giao
hưởng - NV) là đỉnh cao của âm nhạc. Người ta đang ở “cao”,
ḿnh kéo xuống “b́nh dân” là phá hoại văn hóa.
Tôi tự hỏi, Cục
Bản quyền và sở VH-TT Hà Nội dựa vào cái ǵ để phạt Mỹ
Linh. Từ xưa tới nay không biết là đă có bao nhiêu trường
hợp đặt lời ca, nhiều khi chỉ một đoạn, cho những bản nhạc
không lời nổi tiếng. Thí dụ, bài “Tristesse” của Chopin với
2 câu đầu: L’ombre s’enfuit, Adieu vos rêves… chẳng qua là
đặt lời ca cho đoạn đầu của bản “Etude No. 3 en Mi” của
Chopin v́ đoạn giữa là đoạn rất khó để tập dương cầm, không
thể nào đặt được lời ca. Ông Vũ cũng không biết là ở Việt
Nam, những bản nhạc như Le Beau Danube Bleu, Les Flots du
Danube, Ave Maria, Hồ-Ly Nai, Sài Lang Nai (Holy Night,
Silent Night) v..v.. đều có lời ca Việt Nam mà có vấn đề ǵ
đâu. Tại sao? V́ tất cả đều ở trong “Public Domain”.
Người ta thấy hay cho nên mới đặt lời chứ đâu có phải là kéo
một cái ǵ đang “cao” (sic) xuống “b́nh dân” (sic).
Mặt khác, trong
nghệ thuật chẳng có ǵ có thể gọi là đỉnh cao mà tất cả mọi
người đều phải công nhận, tất cả chỉ tùy thuộc sở thích cá
nhân. Tôi thích và mê vọng cổ th́ đối với tôi nhạc giao
hưởng của Mozart chỉ như gơ thùng thiếc bể. Một bức tranh
của Picasso giá cả triệu đô, nhưng đối với tôi nó như tranh
vẽ bùa, kém xa tranh mạc thủy của Tàu giá vài đô. Ông Vũ
lấy cái sở thích cá nhân của ḿnh và đi kiện củ khoai v́ cho
rằng ai cũng phải đồng quan điểm của ḿnh. Đó là ư tưởng
của một trí thức dỏm, đầu óc bất b́nh thường.
Hành động ngông
cuồng vô trí thứ hai của Cù Huy Hà Vũ là “nộp đơn tự ứng
cử chức
Bộ trưởng
Bộ Văn hóa
Thông tin.”
Các Bộ Trưởng trong Nội Các là do Tổng Thống hay Thủ
Tướng tuyển chọn, có thể phải qua sự chấp thuận của Quốc
hội, nếu Hiến Pháp qui định như vậy, để thi hành đường lối
của chính phủ hay phải qua một cuộc bầu cử? Từ xưa tới nay
các nguyên thủ quốc gia đều thảo luận trước với người ḿnh
chọn là Bộ Trưởng để xem họ có cùng một đường lối như ḿnh
không chứ đâu có tuyển chọn một tên cha căng chú kiết nào ở
ngoài do người dân bầu, mà ông Vũ tự ra ứng cử vào một chức
vụ chưa bao giờ có chuyện bầu bán. Ông Vũ c̣n tự khoe:
Tôi là người
được đào tạo bài bản ở Tây, luôn luôn nghĩ tới tính hiệu
quả. Không bao giờ nghĩ “không được” mà tôi lại ra ứng cử.
Xét về nhiều phương diện, tôi thấy việc tôi ra ứng cử lúc ấy
là chín muồi.
Được đào tạo bài
bản ở Tây mà sự hiểu biết của ông Vũ lại quá kém cỏi như
vậy, học luật mà chẳng biết rơ về luật, th́ nói ra chỉ tổ
làm cho người ta coi thường cái bài bản của ông ở Tây, và
trên thực tế ông Vũ đă hạ thấp những trường đă đào tạo ra
một người như ông Vũ. Bởi v́ thiếu ǵ người đă được đào tạo
bài bản ở Tây nhưng có ai lại kém hiểu biết và ngông cuồng
vô trí như ông Cù Huy Hà Vũ đâu.
Ông Cù Huy Hà Vũ
thường phát ngôn bừa băi một cách thiếu suy nghĩ, có thể v́
sự hiểu biết của ông rất giới hạn, mà có thể v́ ông ta ngông
cưồng, dựa vào vào cơ quan truyền thông ở hải ngoại và sách
lược nhập cảng, áp đặt dân chủ và nhân quyền trên đất nước
Việt Nam, nên phá rối chính quyền Việt Nam để gây tiếng tăm
cá nhân. Ông ta phát biểu:
"Mọi người
Việt Nam chỉ có một tổ quốc là Việt Nam, chủ nghĩa xă hội
không phải là tổ quốc của người Việt Nam." "Tổ quốc là do tổ
tiên tạo lập, c̣n chủ nghĩa xă hội là một học thuyết chính
trị, không phải là quốc gia, và không thể là quốc gia do các
vua Hùng lập ra."
Ông Vũ đă nói lên
một câu rất ngớ ngẩn và thừa thăi. Có ai cho một chủ
nghĩa, bất cứ là chủ nghĩa nào, là tổ quốc bao giờ đâu.
Chủ nghĩa Xă Hội là một hệ thống chính trị, kinh tế nhằm
phục vụ tổ quốc theo một đường hướng mà những người theo chủ
nghĩa này tin rằng đường hướng đó có lợi cho tổ quốc. Ông
Vũ đă dựng lên một người rơm, cho Chủ Nghĩa Xă Hội là Tổ
Quốc để lên tiếng bài bác, không biết rằng luận điệu của
ḿnh ngớ ngẩn đến mức nào. Tôi thật phục sát đất cái “bài
bản ở Tây” của ông Vũ.
Báo Quân
đội Nhân dân viết:
"Trong nước, trước những khó khăn về t́nh h́nh kinh tế-xă
hội,
thiên tai
hoành hành… Vũ thường lợi dụng vào đó để bịa đặt, xuyên tạc
sự
lănh đạo
của
Đảng
và công tác quản lư của
Nhà nước,
kích động và vận động nhân dân chống đối chính quyền, xúc
phạm danh dự cá nhân các
đồng chí
lănh đạo
Đảng
và
Nhà nước...
Cù Huy Hà Vũ không ngần ngại kiện bất kỳ ai, có những đơn
kiện của Vũ h́nh như không phải để thắng kiện, mà để nổi
danh…
Sau đây tôi muốn nói về vài
nhận định của ông Cù Huy Hà Vũ về cuộc chiến tranh Việt Nam
vừa qua. Ông Vũ phát ngôn:
Không có Đảng
cộng sản Việt Nam th́ Độc lập dân tộc và Thống nhất đất nước
vẫn cứ đến với người Việt Nam như lịch sử đă minh chứng
trong suốt hai ngh́n năm qua... Chắc chắn,
Hai Bà
Trưng,
Lư Bí,
Triệu
Quang Phục,
Ngô Quyền,
Đinh Bộ
Lĩnh,
Lê Hoàn,
Lư Công
Uẩn,
Lư Thường
Kiệt,
Trần Hưng
Đạo,
Lê Lợi,
Nguyễn
Trăi,
Nguyễn Huệ
không phải là
Đảng cộng
sản Việt Nam hay ủy viên trung ương Đảng cộng sản
Việt Nam khi tiến hành thành công các cuộc chiến tranh đánh
đuổi quân xâm lược phong kiến Trung Hoa để giành Độc lập dân
tộc hay để thống nhất đất nước.
Tôi nghĩ rằng đầu óc của Cù
Huy Hà Vũ quả thật thuộc loại bất b́nh thường. Tất cả những
nhân vật lịch sử của Việt Nam ông Vũ nêu trên đều thuộc
những thời đại Đảng Cộng Sản chưa ra đời, vậy tất nhiên họ
“không phải là Đảng Cộng Sản” (sic) hay “Ủy viên trung ương
Đảng Cộng sản Việt Nam” (sic). Nhưng thử hỏi, không có Đảng
Cộng sản Việt Nam th́ chế độ nô lệ thực dân Pháp có cáo
chung không? Trong hơn 80 năm dưới sự đô hộ của Pháp, đă có
biết bao cuộc nổi giậy của những người Việt Nam yêu nước
chống Pháp, nhưng có ai thành công không? Từ phong trào Cần
Vương, Hoàng Hoa Thám v…v… cho đến Phan Bội Châu, Phan Chu
Trinh, Nguyễn Thái Học, những người yêu nước trên đă đạt
được những kết quả ǵ trong công cuộc đánh đuổi thực dân
Pháp? Lê Lợi, Nguyễn Huệ v…v… đâu, sao không thấy, mà chỉ
thấy có Hồ Chí Minh, theo gương các tiền nhân anh hùng của
Việt Nam là thành công đánh đuổi được thực dân Pháp. Độc
Lập dân tộc và Thống Nhất đất nước vẫn cứ đến với người Việt
Nam bằng cách nào, phải chờ bao nhiêu lâu nữa, hay nằm hút
thuốc phiện há miệng chờ sung, hay chờ cho một Lê Lợi,
Nguyễn Huệ khác, không phải là Cộng sản, xuất hiện?.
Đừng có quên là Pháp trở lại với mục đích tái lập nền đô hộ
ở Việt Nam với 80% quân phí do Mỹ yểm trợ. Và cũng đừng
quên là Mỹ đă đơn phương dựng lên một chế độ bù nh́n Công
Giáo Ngô Đ́nh Diệm ở Việt Nam, không chịu thi hành khoản
Tổng Tuyển Cử vào năm 1956 trong Hiệp Định Geneva. Ông Cù
Huy Hà Vũ có vẻ như không hiểu mấy về lịch sử cận đại Việt
Nam. Ông không biết rằng cuộc chiến thắng chống ngoại xâm
của Việt Nam dưới sự lănh đạo của Đảng Cộng sản đă gây nên
tiếng vang trên thế giới như thế nào. Ông công nhận những
cuộc chiến thắng quân Tàu ngoại xâm của Việt Nam trong những
thời trước nhưng lại muốn phủ nhận công chiến thắng quân
ngoại xâm Pháp rồi Mỹ của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cái
chuyện ngày nay chính quyền thoái hóa, xa rời lư tưởng, tham
nhũng v…v… là một chuyện, c̣n chuyện giành được độc lập và
thống nhất cho đất nước lại là một chuyện khác. Không thể
dựa vào những chuyện của chính quyền ngày nay mà ông không
đồng ư để mà phủ nhận những công trên của Đảng Cộng sản, dù
trên con đường cứu quốc, Đảng Cộng sản đă có những biện pháp
quá khích và tàn nhẫn. Nhưng nay, có một điều ông Vũ cần
phải hiểu là, nếu Đảng Cộng sản vẫn như xưa th́ không làm ǵ
c̣n Cù Huy Hà Vũ, hay Lê Quốc Quân, Phạm Hồng Sơn, Nguyễn
Văn Lư v…v…
Ông Vũ c̣n nói:
Khi
nói "giải phóng Miền Nam" th́ không thể không xác định giải
phóng
Miền Nam
khỏi ai, khỏi cái ǵ. Chắc chắn không phải "giải phóng Miền
Nam" khỏi sự chiếm đóng của
Hoa Kỳ
v́ ngày
30 tháng 4
năm
1975
quân đội
cộng sản
nhận sự đầu hàng của
Tổng thống
Việt Nam
Cộng hoà
Dương Văn
Minh, đó chưa kể Hoa Kỳ đă rút hết quân khỏi Miền
Nam từ năm
1973
theo
Hiệp định
Paris.
Nếu ông Hà Vũ không hiểu
“giải phóng miền Nam” là giải phóng khỏi ai và giải phóng
khỏi cái ǵ th́ không nên đặt thành vấn đề xác định, v́ ông
c̣n thiếu một thắc mắc là “giải phóng miền Nam” để làm ǵ?
Hoa Kỳ chưa bao giờ chiếm đóng miền Nam, chỉ dựng lên miền
Nam rồi khi t́nh h́nh nguy ngập, đổ nửa triệu quân vào đánh
giúp miền Nam để miền Nam khỏi rơi vào tay Cộng sản, và khi
thấy không thể thắng được và không c̣n muốn giúp nữa th́ Hoa
Kỳ tháo chạy (từ của Nguyễn Tiến Hưng) hay văn vẻ lịch sự
hơn là “rút lui trong danh dự”. Thực tế là trong miền Nam
c̣n có Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và số người dân miền Nam
ủng hộ Mặt Trận này, nếu không chẳng bao giờ Cộng sản có thể
thành công “giải phóng miền Nam” được. Lẽ dĩ nhiên một số
người ở miền Nam, v́ hoàn cảnh đất nước nên dù muốn dù không
cũng thuộc miền Nam, trong đó có tôi, chẳng muốn ḿnh được
giải phóng. Nhưng không muốn là một chuyện mà chuyện thống
nhất quốc gia để hợp với ḷng dân, ít ra là đa số người dân,
lại là một chuyện khó tránh, v́ người dân không muốn cảnh
Trịnh Nguyễn phân tranh trong lịch sử tái diễn. Hơn nữa, CS
đă lănh đạo người dân kháng chiến chống Pháp, tốn bao xương
máu, đi đến chiến thắng Điện Biên Phủ, kư Hiệp Định Geneva
với hi vọng thống nhất đất nước qua giải pháp chính trị Tổng
Tuyển Cử năm 1956, nhưng bị Mỹ dựng lên miền Nam, cường
quyền thắng công lư, không thi hành điều khoản Tổng Tuyển Cử
vào năm 1956 quy định trong Hiệp Định Geneva. CS có cách nào
hơn để đi đến thống nhất đất nước, chẳng lẽ tốn bao xương
máu để cho miền Nam trù phú ở trong tay một “chí sĩ” Công
giáo nằm trong các tu viện Công giáo suốt trong thời gian
toàn dân kháng chiến chống Pháp hay sao? “Giải phóng miền
Nam” là câu tuyên truyền của CS để thực hiện thống nhất đất
nước. Cho nên câu hỏi của ông Vũ chứng tỏ là ông không biết
mấy về cuộc chiến ở Việt Nam. Tôi cũng là người đă tháo
chạy trước ngày 30/4/75 vài ngày, nhưng với lương tâm trí
thức, chẳng thể nào phủ nhận diễn biến lịch sử nó là như
vậy.
V. Vài
Lời Kết Luận.
Tôi biết rằng
viết ra những ư kiến cá nhân ngược gịng dư luận hải ngoại
thể nào cũng lại bị chụp vài cái mũ trên đầu. Nhưng chẳng
sao, v́ những kẻ buôn nón cối thường không đủ khả năng để
thảo luận những vấn đề tôi viết trong bài. Nếu người nào
đọc bài này mà cho rằng tôi bênh vực chính quyền Việt Nam
hoặc lên án Cù Huy Hà Vũ th́ người đó chưa bao giờ hoạt động
trong lănh vực học thuật.
Tôi ở trong quân
đội Quốc Gia cho nên năm 1954 đă di cư vào Nam. Tôi đă phục
vụ trong quân lực của miền Nam tổng cộng là 8 năm rưỡi, và
đă phục vụ trong ngành giáo dục Việt Nam cho đến ngày cuối.
Tôi nghĩ ḿnh ở đâu, làm đầy đủ bổn phận công dân ở đấy là
đủ, không có ǵ phải hổ thẹn với lương tâm. Nhưng cuộc
chiến Quốc-Cộng đă ngưng 36 năm trước đây rồi, cho nên trong
đầu óc tôi không c̣n Quốc-Cộng mà chỉ c̣n người Việt Nam.
Khi nghiên cứu về lịch sử th́ chúng ta phải hiểu rơ là những
sự thật lịch sử th́ không có tính cách bè phái hay
Quốc-Cộng. Và dù những sự thật đó có làm chúng ta đau ḷng
cách mấy chúng ta cũng phải chấp nhận. Đó là sự lương thiện
trí thức của con người.
Viết bài này, tôi
chẳng bênh vực chính quyền mà cũng chẳng lên án Cù Huy Hà
Vũ mà tôi chỉ nghiên cứu sự việc qua những thông tin trên
Internet, tổng hợp, phân tích và đưa ra những ư kiến dựa
trên những thông tin và những sự kiện chứ không dựa trên cảm
tính cá nhân. Nhưng tôi cần phải nói là tôi chống những
sự can thiệp của bên ngoài, bất cứ từ đâu, vào nội bộ Việt
Nam. Không phải chỉ v́ tôi đă thấy rơ bản chất của
chính sách đối ngoại của Mỹ, thực chất của những tổ chức như
RFA, HRW RFI v…v.. Mà lư do chính là v́, như trên tôi đă
nói, tôi là một công dân Mỹ gốc Việt Nam, mà đă là gốc Việt
Nam th́ tôi nghĩ, những vấn nạn của Việt Nam hăy để cho
người Việt Nam tự giải quyết, không cần đến những sự can
thiệp trịch thượng và đạo đức giả vào nội bộ Việt Nam của
bất cứ ai hay thế lực nào khác.
Tôi chẳng có ác
cảm ǵ với những cá nhân hay tổ chức chuyên can thiệp vào
những chuyện nội bộ Việt Nam, v́ đó là mục đích chính trị
của họ. Tôi cũng chẳng có ác cảm ǵ với Cù Huy Hà Vũ và
những người ở trong nước tranh đấu cho dân chủ và nhân
quyền, v́ đó là quyền tự do của họ. Vấn đề là ở chỗ thẩm
quyền của những tổ chức bên ngoài để can thiệp vào chuyện
nội bộ Việt Nam và h́nh thức tranh đấu cho dân chủ và nhân
quyền của những người trong nước. Hung hăng chửi bậy trong
ṭa như Nguyễn Văn Lư th́ không phải là tranh đấu cho dân
chủ và nhân quyền. Thắp nến cầu nguyện với búa, ḱm và xà
beng ở Ṭa Khâm Sứ th́ không phải là h́nh thức tranh đấu hợp
pháp. Tuyên ngôn Phục linh không phải là quyền tự do ngôn
luận. Những người tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền ở
trong nước mà dựa thế nước ngoài là tranh đấu một cách rất
vụng về. Mục đích tranh đấu là đúng, nhưng không thể tự lực
mà phải nhờ đến người ngoài là phương thức tranh đấu không
có hiệu quả, v́ chính quyền Việt Nam và đa số người dân Việt
Nam, theo truyền thống lịch sử, rất nhạy cảm đối với sự can
thiệp của nước ngoài. Nh́n lại lịch sử, chúng ta có bao
giờ nghĩ rằng các cường quốc Tây phương thực tâm v́ nhân
quyền mà ủng hộ sự tranh đấu cho nhân quyền của chúng ta hay
không? Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta thôi, không
tranh đấu cho nhân quyền nữa. Nhưng vấn đề là làm sao tạo
được uy tín, được sự ủng hộ của người dân mà không có bóng
dáng của bất cứ một cá nhân hay tổ chức nào ở ngoài, chỉ như
vậy mới có thể đi đến thành công.
Dựa vào thế
lực ngoại quốc để tranh đấu cho nhân quyền ở Việt Nam, hoặc
liên hệ truyền thông với những tổ chức ở nước ngoài mà mọi
người đều biết là không có thiện cảm với chính quyền Việt
Nam, tôi cho là những h́nh thức tranh đấu không có mấy hiệu
quả, hơn nữa có thể gây nên những phản tác dụng đối với
chính quyền Việt Nam hiện thời, một chính quyền rất nhạy cảm
trước mọi hành động có tính cách xen vào nội bộ Việt Nam.
Kết quả những công cuộc vận động ngoại quốc để làm áp lực
đối với chính quyền Việt Nam sẽ không mang lại kết quả khả
quan nào, v́ những người Việt yêu nước, bất kể là chính kiến
khác nhau như thế nào, đều không thể ủng hộ đường lối nhờ sự
can thiệp của người ngoại quốc vào những chuyện bất đồng ư
kiến giữa người Việt với nhau. Nh́n vào quá khứ, chúng ta
thấy đă có biết bao nghị quyết nọ kia, kể cả nghị quyết của
Liên Hiệp Âu Châu, và cả danh sách CPC, dự luật về nhân
quyền cho Việt Nam (sic) của Hạ Viện Mỹ, nhưng kết quả là
bao nhiêu, chính quyền VN lùi một bước tiến hai bước và cứ
làm theo ư. Tại sao? V́ chính quyển VN thừa biết rằng tất
cả chỉ là những tài liệu chính trị chống Việt Nam và cũng
thừa biết chiêu bài nhân quyền của các cường quốc Âu Mỹ là
đạo đức giả, có tính cách lưỡng chuẩn (double standard),
thường để che đậy những mưu đồ chính trị sau bức b́nh phong
nhân quyền. Những cuộc vận động ngoại nhân để làm áp lực
đối với chính quyền Việt Nam mà không nghĩ tới những hậu quả
nghiêm trọng có thể xâm phạm đến trật tự, an ninh và chủ
quyền quốc gia, là những bước đi chính trị vụng về, thiếu
trí tuệ, không nghĩ đến truyền thống yêu nước của người Việt
Nam.
Ông Hà Vũ tuyên
bố: "Đa đảng là con đường duy nhất để thực hiện một nước
Việt Nam thực sự dân chủ, toàn vẹn lănh thổ, giàu mạnh, công
bằng và văn minh" Đây là một câu nói vu vơ, ai nói cũng
được. Là một trí thức đă được đào tạo bài bản ở Tây, ông Vũ
phải chỉ ra một con đường là Việt Nam sẽ đi đến đa đảng và
dân chủ như thế nào, đa đảng là bao nhiêu đảng, điều kiện để
lập đảng là như thế nào, thế nào mới có thể gọi là một đảng,
cá nhân nào, tổ chức nào có quyền lập đảng và trong bao lâu
hay ngay lập tức với những luận cứ chặt chẽ về t́nh trạng xă
hội hiện nay, về h́nh thức dân chủ, về giới hạn của nhân
quyền, về giới hạn của tự do ngôn luận, về tinh thần trách
nhiệm của người dân trước luật pháp, về tŕnh độ dân trí, có
ngoại quốc nhúng tay vào không v…v... Ai cũng biết tự do
ngôn luận, tự do tôn giáo, đa đảng, dân chủ là tốt nhưng vấn
đề là tự do tới mức nào, đa đảng như thế nào, và h́nh thức
dân chủ ra sao. Không thể đi tới dân chủ mà không có sửa
soạn. Làm sao để người dân thấm nhuần được ư thức một nền
dân chủ riêng cho Việt Nam, trách nhiệm người dân trong thể
chế dân chủ, bổn phận người dân góp sức cho dân chủ v…v…
Tất cả đều phải đi qua một quá tŕnh giáo dục cần thời gian,
và tất cả đều phải rơ ràng trong giai đoạn sửa soạn tiến tới
dân chủ và đa đảng để tránh những hành động vô cương vô pháp
gây hỗn loạn trong xă hội, cảnh lạm dụng tự do ngôn luận,
cảnh lạm dụng quyền tự do tôn giáo, hoặc cảnh “lắm thầy thối
ma”. Đa đảng và dân chủ, hay lắm! Nhưng không đơn giản như
chỉ cần tuyên bố đa đảng là con đường duy nhất để thực hiện
một nước Việt Nam thực sự dân chủ. Mặt khác, trên thế giới
ngày nay tôi đố ông Vũ t́m đâu ra một quốc gia thực sự dân
chủ.
Tôi rất đồng cảm
với quan niệm của Lê Dọn Bàn trong bài “Dân Chủ Và Đạo KiTô
Ở Việt Nam”
http://sachhiem.net/THOISU_CT/ChuL/LeDB00.php :
Dân chủ là thành quả của những
vận động lâu dài vốn và phải có sự tham dự của toàn bộ dân
chúng trong một quốc gia, và từ cả hai bộ phận cầm quyền và
không cầm quyền - dĩ nhiên là không thể nhập cảng, không đến
từ bất cứ áp lực nào bên ngoài, và nếu có gây dựng ở trong,
càng không thể đến từ những niềm tin tôn giáo. Dân chủ
là hoa nở từ trí tuệ - hay thu hẹp hơn – ư thức chính trị xă
hội - của dân chúng được phát triển – khi dân chúng thực sự
đạt đến một tŕnh độ ư thức trưởng thành, tự ḿnh thấm nhuần
được những quan niệm xă hội và chính trị sáng xuốt, thuận
t́nh hợp lư với cộng đồng của ḿnh. Thêm nữa, không phải
chỉ vài dăm bông hoa, nhưng cả một mùa hoa, và cũng phải hết
sức chăm sóc để sẽ nở măi, qua năm tháng. Trong t́nh
trạng VN, dân chủ phải đi đôi với dân trí, và có lẽ điều
này làm chúng ta nhớ kinh nghiệm của Phan Chu Trinh, một
người rất sáng xuốt và có lư tưởng, cùng can đảm, đă đi
trước thời đại của ông.
Cũng như quan niệm
của Nguyễn Tâm Bảo trên Đàn Chim Việt:
việc DÂN
CHỦ HOÁ phải là việc của người dân TRONG NƯỚC,
xuất phát từ nhu cầu của chính họ, do chính họ đảm nhận
trọng trách, do chính họ tiến hành, chứ không cần bất cứ sự
trợ lực nào từ bên ngoài.
Ông Cù Huy Hà Vũ
cũng có vài hành động tốt, thí dụ như kiện Ủy Ban Nhân Dân
tỉnh Thừa Thiên - Huế về quyết định cấp phép đầu tư xây
dựng dự án khách sạn Life Resort trên đồi Vọng Cảnh. Nhưng
phần lớn là ông đi kiện lung tung mà không suy nghĩ, thí dụ
như vụ kiện album Chat của Mỹ Linh, vụ kiện Vũ Hải Triều mà
không đưa ra bất cứ bằng chứng nào có tính cách thuyết phục
và không biết phân biệt những blog nào đứng đắn, những blog
nào chuyên xuyên tạc và nói xấu Việt Nam. Mặt khác những
lời ông phê b́nh, bằng loại ngôn từ không thích hợp với một
trí thức đă được đào tạo bài bản ở Tây, các viên chức nhà
nước như Chủ Tịch Nguyễn Minh Triết, Thủ Tướng Nguyễn Tấn
Dũng, Chủ tịch quốc hội Nguyễn Phú Trọng, mà thực ra chỉ là
những ư kiến cá nhân và trên thực tế là vô giá trị v́ không
phải ai cũng đồng ư với ông như vậy. [http://hoinhavanvietnam.vn/Details/ly-luan-phe-binh/ve-vu-cu-huy-ha-vu/32/0/2681.star]
Vụ kiện Thủ Tướng
Nguyễn Tấn Dũng là một điểm son cho Cù Huy Hà Vũ, một hành
động can đảm và đúng v́ đă có nhiều nghiên cứu về sự nguy
hại trên môi trường của chất thải bùn đỏ trong quá tŕnh
tinh luyện Bauxite, và vùng Tây Nguyên là vùng chiến lược
quân sự liên hệ đến sự bảo vệ lănh thổ. Nhưng mặt khác,
Việt Nam có mỏ bauxite lớn thứ ba trên thế giới, và đó là
một nguồn tài nguyên khổng lồ của nước nhà v́ quặng bauxite
sẽ đưa đến sự chế tạo ra nhôm (aluminum), một kim loại sử
dụng rất nhiều trong nhiều ngành kỹ nghệ. Ngoài Trung Quốc,
cả Mỹ, Nga và Úc cũng muốn thiết lập các nhà máy tinh luyện
Bauxite ở Việt Nam. Nếu không khai thác th́ cả cái khối tài
nguyên đó trở thành vô dụng. Vậy vấn đề không phải là không
khai thác Bauxite mà là kỹ thuật khai thác sạch, và ai phụ
trách khai thác. Việt Nam đă vội vă cho Tàu khai thác,
trong khi có thể gửi người đi học, nghiên cứu kỹ vấn đề để
người Việt Nam tự khai thác và đủ kinh nghiệm để kiểm soát
việc xử lư chất bùn đỏ. Và nếu Việt Nam không có những quy
định kiểm soát rơ ràng trong hợp đồng khai thác, và không có
khả năng kiểm soát phương pháp khai thác, biện pháp xử lư an
toàn bùn đỏ, th́ rất có thể sẽ gây ra nhiều hậu quả tác hại
không thể lường được.
Nếu ông Cù Huy Hà
Vũ chỉ có những hành động như kiện UBND Tỉnh Thừa Thiên –
Huế hay kiện Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng về vụ Bauxite th́ tôi
chắc ai cũng ủng hộ v́ đó là những hành động xây dựng, bảo
vệ văn hóa, môi trường của Việt Nam. Nhưng ông ta lại đi
kiện lung tung và lang bang vào những chuyện không rơ ràng
như đ̣i dân chủ, đa nguyên đa đảng mà không đưa ra một mô
thức nào cho dân chủ, đa nguyên đa đảng thích hợp với hoàn
cảnh chính trị Việt Nam ngày nay, và mặt khác những chuyện
làm lung tung của ông chứng tỏ tŕnh độ hiểu biết của ông
c̣n thiếu sót nhiều cho nên đă có phản tác dụng, làm loăng
đi giá trị của những việc làm đáng khen của ông. Thật là
đáng tiếc.
Trần Chung Ngọc
Grayslake, Illinois
Ngày 26 tháng Tư
Ngày tôi rời Saigon cách đây 36 năm