AMBERKAR, CHUYỂN LUÂN THÁNH VƯƠNG
CỦA THỜI ĐẠI
 

Quán Như

 

 

 

Nhắc tới lịch sừ cận đại cùa Ấn Độ mà không đề cập đến Bhimrao Ramji Ambedkar là một điều thiếu sót quan trọng. Cuộc đời Ông biểu tượng cho những nổ lực kỳ diệu của một thiên tài với một nhân cách phi thường, vượt qua những trở ngại tưởng chừng như không bao giờ vượt qua nổi, trong một xă hội mà một thiểu số bị áp bức đến mức cùng cực. Người ta nghe các ḷ sát sinh của Đức Quốc Xă dành cho dân tộc Do Thái hay chính sách kỳ thị của người da trắng đói với dân da mầu ở Nam Phi, nhưng có ít ai để ư đến chánh sách kỳ thị khắc nghiệt mà những người theo Ấn Giáo (Hindu) đă áp dụng cho một nhóm dân Ấn thiểu số: những người Hạ Tiện Untouchables. Đó là địa ngục trần gian được biện chính bằng giáo lư Vệ Đà. Đó là một chế độ kỳ thị bất b́nh đẳng và khắc nghiệt nhất trong cộng đồng nhân loại, và là một chế độ kỳ thị tệ hại nhất, v́ nó được người theo Ấn Giáo áp dụng cho chính đồng bào của họ.

Marx xây dựng lư thuyết xă hội của ḿnh trên nền tảng đấu tranh giai cấp. Nhưng cái gọi là giai cấp chỉ là một sự phân biệt giả tạo dựa trên khả năng, nghề nghiệp và nhất là quyền lợi. Tuy nhiên một cá nhân có thể di chuyển từ một giai cấp này sang một giai cấp khác một cách tự do: đời cha ông có thể là giai cấp công nông nhưng đời con có thể trở thành giai cấp ‘thống trị’: Ông hóa ra thằng, thằng hóa ra ông mà nhân dân Việt Nam trong mấy mươi năm qua đă thấm thía.  Các nhà xă hội học không thích từ ngữ ‘giai cấp xă hội’ (Social classes) nữa mà chỉ gọi là giai tầng xă hội (Social stratum) hay địa vị kinh tế xă hội (Social economic status). Có ba yếu tố ảnh hưởng đến địa vị của một cá nhân là sự giàu có, quyền hành và uy tín và cả ba yếu tố này đều là ‘nhân tạo’. Trong ba yếu tố này chỉ có tài sản là có thể thừa kế một cách rơ ràng; trong mấy nước Á Châu độc tài có một vài trường hợp quyền hành cũng được ‘thừa kế’, như đám con của Suharto, con Lư Quang Diệu, con Kim Nhật Thành....Trong xă hội hiện đại con vua không phải lúc nào cũng có thể làm vua. Yếu tố cuối cùng là uy tín, hoàn toàn không ai có thể truyền thừa cho ai. Một người có uy tín là v́ nhờ tài năng, đức độ nên được người khác mến phục. Không ai có thể bắt người khác mến phục ḿnh được.

Trong xă hội Ấn Độ, chế độ đẳng cấp là một chế độ truyền thừa. Một người thuộc một đẳng cấp là v́ anh được sinh ra từ một gia đ́nh thuộc đẳng cấp đó.  Sự phân chia đẳng cấp (Savarnas) rất rơ ràng v́ đó là ‘ư trời’. Bốn đẳng cấp (Varnas) thường được chấp nhận là Tăng Lữ (Brahmin), giai cấp quư tộc thống trị (Kshatriya), giai cấp ‘mại bản’ (Vaishya) và đẳng cấp bần cố nông (Shudra). Bốn đẳng cấp Ấn (Caste Hindus) là dân Ấn chính thống, c̣n một đẳng cấp ngoại hạng không phải là dân Ấn chính thức là Untouchables  Họ không được chấp nhận vào dân Ấn chính thức (Non-caste Hindus).  Những người thuộc đẳng cấp ngoại hạng này chỉ có một lỗi là sinh vào một gia đ́nh ngoại hạng, anh ta phải trả cho một thứ ‘tội tổ tông’ mù mịt từ kiếp nào. Tất cả sự phân chia đẳng cấp này đă được ‘định phận tại thiên thư’ trong kinh điển Vệ Đà, không ai có thể thay đổi được. Ai thay đổi được ư trời !

Và mỗi năm có chừng bốn năm trăm người Untouchables bị giết, hàng ngàn người khác bị đánh đập, hiếp dâm và tra tấn; nhà của họ bị cướp và đốt như Sangharakshita đă xác nhận trong tác phẩm Ambedkar and Buddhism. Đó không phải là những chuyện xảy ra trong lịch sử: tác phẩm này được xuất bản vào năm 1986. Đó là tại sao Ambedkar đă nói là ḿnh được sinh ra từ đáy địa ngục.

Như tên gọi, những người Untouchables là những người không nên sờ mó vào, v́ nếu sờ mó họ, hay chỉ cần đứng gần họ, người đó sẽ bị lây dơ bẩn. Sự ô nhiểm này có thể truyền nhiểm sang một vật tiếp cận. Ví dụ như đứng gần một người hạ tiện trên cùng một tấm thảm, cũng có thể bị lây dơ bẩn. Cầm vật ǵ mà người hạ tiện cầm trước đây cũng bị lây dơ bẩn. Sự ô nhiểm có thể truyền qua thức ăn và nước uống. Dẩm lên cái bóng của người hạ tiện cũng bị lây dơ bẩn. Người Untouchables không được tới gần một thầy tư tế Ấn (Brahmin) hơn 10 thước. Untouchables bị ruồng bỏ, xa lánh, khinh bỉ như bịnh dịch hạch. Và cũng không lấy ǵ làm lạ khi Untouchables xem các người dân Ấn ‘chính thống’ là những kẻ thù. Nếu có ai hỏi tại sao khi tiếp xúc với Untouchables lại bị lây dơ bẩn th́  họ sẽ được trả lời là tại v́ Untouchables ăn ở dơ bẩn, vô đạo đức và làm các nghề nghiệp dơ bẩn. Nếu người đó hỏi tiếp là tại sao Untouchables làm các nghể bẩn thỉu đó th́ học sẽ được trả lời là thánh thư đă định như vậy, không ai có thể làm khác đi được. Nếu hỏi tiếp là lúc uyên nguyên tại sao những người đó biến thành Untouchables, câu trả lời rất minh bạch: tại v́ họ sinh từ các gia đ́nh Untouchables, cũng như các nhà tư tế sinh từ các gia đ́nh Brahmin. Đă sinh là untouchables th́ đến lúc chết vẫn là Untouchables. Không có cái chuyện ông hóa thành thằng thằng hóa ra ông như trong các xă hội hiện đại khác.  Có nghĩa là nếu một Untouchables ăn mặc sạch sẽ, có đạo đức và làm những nghề trong sạch, họ vẫn là bịnh dịch truyền nhiểm. Và nhất là không có chuyện lấy vợ lấy chồng lẫn lộn giữa Untouchables and người Ấn Bà La Môn. Trong xă hội này chỉ có đẳng cấp tư tế Bà La Môn là nắm trọn quyền hành ‘đối thoại’ với Krisna và những cáí gọi là thánh thư chỉ là tác phẩm của các nhà tư tế này viết ra để bảo vệ quyền lợi của dẳng cấp này. Nhà tư tế Bà La Môn không bao giờ sai lầm và không bao giờ bị trừng phạt, cho dù là phạm tội ác lớn lao như thế nào đi nữa. Nhà vua không được thâu thuế các nhà tư tế và không bao giờ để họ sống thiếu thốn. Nếu để một nhà tư tế thiếu thốn, Krisna sẽ trừng phạt là cả một vương quốc bị đói khổ ! Chân của các nhà tư tế tượng trưng cho sự thiêng liêng tôn giáo. Ai muốn tẩy trừ ô uế của  tâm hồn, có thể uống nước rửa chân của một nhà tư tế Brahmin!

Về phương diện  xă hội không cần phải nói Untouchables là những người bần cùng nhất, hơn cả những dân bần cố nông Ấn chính tông (Shudra). Có nhiều nhà cải cách xă hội, cổ vơ cho một chính sách đối xử nhân đạo hơn với những người hạ tiện này, nhưng vẫn không dám chỉ trích những điều dạy vô nhân trong các Thánh Thư Vệ Đà, trong đó có Gandhi. Khi thực dân Anh đến Ấn, dù sao họ cũng đối xử với dân hạ tiện ‘nhân đạo và văn minh’ hơn các dân Ấn ‘Chính Thống’ đối với đồng bào của ḿnh, Một nữ sinh Untouchables đă viết trong một bài luận văn:‘ Thượng Đế đă ban ân cho chúng tôi bằng cách cho người Anh đến cai trị và nhờ thế nổi đau khổ của chúng tôi được giải trừ. Từ nay không c̣n ai dọa nạt chúng tôi, không c̣n ai treo cổ chúng tôi, không c̣n ai chôn sống chúng tôi. Từ nay chúng tôi có thể mặc quần áo đàng hoàng, Ai cũng có quyền sống tùy theo phương tiện có sẵn của ḿnh. Chúng tôi không c̣n chịu những cấm đoán vô lư nữa’.

Đây là một nghịch lư trong lịch sử Ấn Độ: chế độ thực dân đem đến những cải thiện về chính trị và xă hội cho dân cùng đinh hạ tiện Ấn.  Năm 1935 có một đạo luật Ấn (India Act) dành một vài ghế đại diện cho Untouchables (ngôn ngữ luật pháp gọi họ là Scheduled Castes và Gandhi gọi họ là Children Of God). Trong hiến pháp của Ấn Độ, điều khoản 47 của Hiến Pháp bải bỏ tầng cấp Untouchables, nhưng đến ngày nay họ vẫn tiếp tục chịu đựng những áp bức và kỳ thị từ các đẳng cấp khác của Ấn. Lư do cũng dễ hiểu: thánh thư Vệ Đà đă chuẩn nhận sự kỳ thị bất công này. Những kỳ thị bất công này hiện diện trên mọi lảnh vực xă hội, kinh tế, chính trị và giáo dục. V́ tiếp xúc với Untouchables có thể bị truyền nhiểm sự ô uế, dân Ấn chính thống không muốn sống chung đụng với họ. Mỗi làng có một khu dành cho người Ấn và một khu dành cho Untouchables, thường là gần khu cống rảnh và các ụ rác. Tuy nhiên Untouchables cần phải làm những công việc đo bẩn nên không thể nào không có sự tiếp xúc giữa hai bên. Người Ấn do đó phải nhượng b'b6 cho dân Untouchables đi vào làng bằng một lối dành sẵn, vào một khoảng thời gian nhất định nào đó, Untouchables không được tắm ở những nơi công cộng, không được uống chung giếng nước của làng. Họ không được đặt tên con theo các vị thần Ấn Giáo v́ như thế là phạm thánh. Họ chỉ được đặt tên theo các loài chim hay thú. Họ không được vào một đền thờ Bà La Môn hay không được đi trên một con đường có đền thờ. Họ có những đền thờ ŕêng và hai bên không bên nào đi vào đền thờ của bên kia. Họ không được phép đọc thánh kinh Vệ Đà. Việc đọc kinh và hành lễ là đặc quyền của các nhà tư tế Brahmin (ngay cả bần cố nông Ấn cũng không được phép đọc và nhớ thánh thư Vệ Đà). Nếu họ làm thế, theo thánh thư, lưỡi sẽ bị cắt và thân thể bị xẻ ra làm hai . hững kỳ thị về xă hội và kinh tế cũng khắc nghiệt không thua ǵ lảnh vực tôn giáo. Họ sinh sống không khác ǵ nô lệ. Sở dĩ dân Ấn chính tông không đem họ ra bán trên thị trường v́ họ là một thứ nô lệ công cộng: dân Ấn ai cũng có thể sử dụng sức lao động của họ. V́ không có qyền lực về chính trị nên họ cũng  không có cách nào thoát khỏi nô lệ kinh tế.

V́ untouchables có thể truyền ô nhiểm nên con cái của họ không được đến trường học, phần lớn do các nhà tư tế điều khiển. Như đă nói họ không được phép nghe kinh Vệ Đà, học kinh Vệ Đà và không được học cả tiếng Sanskrit, v́ đây là ch́a khóa để đi vào cổ thư Ấn. Sanskrit là ngôn ngữ Vệ Đà, có nghĩa là ngơn ngữ của các thần linh. Trong bao nhiêu thế kỷ Untouchables mù chữ, ngu dốt. Chỉ đến cuối thế kỷ 19 họ mới được vào trường công lập (nhờ các người Anh thực dân!) nhưng cũng gặp các sự chống đói dữ dội của giai tầng Brahmin. Các học sinh Untouchables không được ngồi chung bàn với các học sinh Ấn chính thống, không được uống nước chung trong giếng của trường; thầy giáo th́ không chịu chấm bài cho các em v́ sợ phải đụng đến sách vở và khi các em này ngỗ ngáo, thầy giáo cũng không dám đánh bằng roi, v́ chạm đến thân thể mấy em là chạm đến sự dơ bẩn. So với những kỳ thị mà dân Untouchables chịu đựng, những khổ nhục của các dân da mầu Nam Phi không thấm vào đâu. Trong cái địa ngục trần gian đó, Ambedkar đă ngoi lê, phấn đấu trên b́nh diện xă hội và chánh trị cũng như tôn giáo.

Một Nhân Cách Vĩ Đại

Sinh ở miền Trung Ấn vào năm 1891 trong một gia đ́nh có 14 người con thuộc giai tầng thấp kém nhất trong xă hội: Untouchables. Lẽ ra ông không được đi học và thủ đắc bất cứ tài sản nào, cũng như bất cứ mọi con cái sinh ra từ gia đ́nh đẳng cấp hạ tiện. Nhưng nhờ sự hiện diện của thực dân Anh, thân phụ của ông được đi lính kiểu lính thợ trong quân đội Ấn. Nhờ thế mà thân phụ của ông có một chút vốn liếng giáo dục Anh Ngữ để dạy lại con cái và khuyến khích các con theo đuổi con đường giáo dục. Năm 1908 chàng thanh niên Ambedkar đậu tú tài. Đây là một chuyện không tiền khoáng hậu nên Untouchables trong tỉnh tụ họp nhau lại để ăn mừng. Sau đó nhờ một học bỗng của Thống Đốc tiểu bang Baroda, bốn năm sau Ambedkar tốt nghiệp trường Đại Học Bombay về Kinh Tế và Chính Trị.  Thân phụ ông mất, và dù c̣n đang tang chế, ông được cấp thêm một học bỗng để học Đại Học Columbia tại Mỹ. Từ năm 1913 đến 1917 và sau đó từ 1920 đến 1923   ông theo học tại  hai Đại Học nổi tiếng ở Mỹ và Anh, Columbia và London School of Economics  Political Science. Ông được cấp bằng Tiến Sĩ với luận án Sự Tiến Hóa của Nền Tài Chánh Tỉnh Thị Tại Ấn và bằng D.Sc tại Đại Học Luân Đôn. Ông cũng được phép gia nhập Luật Sư Đoàn. Trước khi về Ấn, Ông sang Đức học thêm về Kinh Tế ttại Đại Học Bonn.

Khi trở về nước năm 1923 Ông là người có bằng cấp cao nhất trong hàng ngũ công quyền và hành trang đó giúp Ông tranh đấu hữu hiệu cho hàng ngũ của những người cùng khổ tại Ấn. Trong những năm Ông miệt mài kinh sử ở nước ngoài, t́nh h́nh Ấn đă có nhiều thay đổi. Nguyện vọng độc lập của dân Ấn được thế giới biết tới nhờ cuộc vận động và lảnh đạo của thánh Gandhi. Gandhi và đảng Quốc Đại tuyên bố là không có một quốc gia nào có đủ phẩm cách để cai trị một quốc gia khác và bắt đầu cuộc vận động bất hợp tác và bất tuân lệnh của chánh phủ bảo hộ Anh. Là một người yêu nước Ambedkar cũng chỉ trích chánh quyền đô hộ Anh, mặc dù như đă nói, nhờ chánh phủ thực dân Anh mà nguyện vọng của Untouchables được lắng nghe và có những đạo luật được làm ra để cải thiện t́nh trạng xă hội và kinh tế của đẳng cấp cùng đinh này. Tuy nhiên Ambedkar thêm vào khẩu hiện đó một phụ chú: không có đẳng cấp nào có đủ phẩm cách để cai trị một đẳng cấp khác. Mặc dù chống thực dân Anh, nhưng nổ lực chính của ông là làm thế nào để hủy bỏ t́nh tạng bất công cùng cực về kinh tế, xă hội, giáo dục và luật pháp của đẳng cấp cùng đinh. Dần dần ông nhận ra rằng, để bao vệ tiếng nói của thiểu số Untouchables, cần có những đơn vị tuyển cử riêng cho họ, như cho các cộng đồng thiểu số khác như Hồi Giáo, Ky Tô Giáo, Sikhs và người gốc Âu Châu. Nổ lực này đưa đến sự va chạm giữa Ambedkar và Gandhi.  Tuy nhiên luận cứ của Ambedkar chinh phục được chánh phủ bảo hộ Anh và vị toàn quyền cho phép Untouchables được có các đơn vị tuyển cử riêng biệt. Phản ứng của Gandhi rất quyết liệt: tuyệt thực vô thời hạn. Thánh Gandhi được xem như là nhà lảnh đạo cho phong trào độc lập Ấn và việc đụng độ này khiến cho người Ấn được cớ tô vẻ Ambedkar như là một kẻ phản bội. Tuy vẫn giữ vững lập trường Ambedkar thấy cần phải thương thuyết cho một giải pháp tương nhượng. Thỏa ước Poona thiết lập những đơn vị tuyển cử hỗn hợp và tăng số đại diện dành riêng cho Untouchables. Nhận thấy một người như thánh Gandhi cũng không dám đi ra ngoài truyền thống Ấn Giáo để thay đổi t́nh trạng bấtcông tương tự như t́nh trạng mà chính ngài phải chịu đựng tại Nam Phi, Ambedkar  thấy là không có một hy vọng cải thiện t́nh trạng áp bức của giới untouchables, ông bắt đầu nghĩ tới chuyện chối bỏ Ấn Giáo để đi t́m đến một tôn giáo khác. Năm 1935 trong một hội nghị của Untouchables, ông tuyên bố làm chấn động cả nước Ấn: mặc dù là sinh ra trong Ấn Giáo, ông không có ư định chết như một người theo Ấn Giáo. Cùng trong năm đó ông được bổ nhiệm làm Hiệu Trưởng Trường Luật ở Bombay. Ông cũng lập ra đảng Lao Động Độc Lập và tham gia vào cuộc bầu Hội Đồng Tỉnh Thị, được bầu vào Hội Đồng Lập Pháp Bombay Tiếp tục tranh đấu cho công bằng xă hội, băi bỏ chế độ nông nô, bảo vệ quyền đ́nh công của công nhân, cổ vơ việc hạn chế sinh sản. Khi thế chiến thứ hai bùng nổ, mẫu quốc Anh đang chiến đấu sống c̣n với Đức Quốc Xă, Gandhi và đảng Quốc Đại xem đó là cơ hội tốt để thương thuyết độc lập, nên chủ trương một chánh sách bất hợp tác với chánh phủ bảo hộ Anh. Trái lại Ambedkar thấy được cái nguy cơ của chế độ Quốc Xă cho to'e0n thể nhân loại. Ông cổ vơ dân Ấn, nhất là dân Untouchables, gia nhập quân đội Anh. Nhờ thế mà ông được bổ vào Ủy Ban Cố Vấn Quốc Pḥng và Hội Đồng Hành Chánh Thuộc Địa. Ông biến đổi đảng Lao Động Độc Lập  thành Liên Hiệp Các Sắc Dân Untouchables Ấn, xuất bản một số sách gây ra nhiều tranh luận trong đó có quyển Gandhi Và Đảng Quốc Đại Đă Làm Được Ǵ Cho Untouchables?

Khi Ấn thực hiện được độc lập vào năm 1947, Ambedkar đă được bầu vào Quốc Hội, và được Thủ Tướng đàu tiên của Ấn, Nehru, mời làm Bộ Trưởng Tư Pháp. Một vài tuần lễ sau, quốc hội tín nhiệm bầu Ông làm Chủ Tîch Ủy Ban Thảo Hiến. Ông tự ḿnh thảo hầu hết các điều trong bản hiến pháp. Tuy nhiên Ấn phải trả một giá khá đắt cho dộc lập: dất nước chia hai thành hai quốc gia Ấn và Hồi; cảnh nồi da xáo thịt lại diễn ra: Ấn tàn sát dân Hồi và Hồi tàn sát dân Ấn. Gandhi bị ám sát. Lúc này Ambedkar đă 58 tuổi, sức khỏe yếu kém dần,. Ông tục huyền với người vợ kế, và oái oăm thay, bà là người thuộc đẳng cấp Brahmin. Và rồi Ông cũng hoàn tất việc soạn thảo hiến pháp vào năm 1948 và vào tháng 9 năm 1949 Quốc Hội thông qua bản hiến pháp do Ông dự thảo, chỉ sửa đổi có một vài điều. Lịch sử Ấn chứa đầy những nghịch lư: cha đẻ của Bản Hiến Pháp của một nước Ấn độc lập là một người thuộc đẳng cấp Untouchables, một đẳng cấp bị ruồng bỏ, khinh khi đến tận cùng đáy địa ngục; trong khi Phật Giáo đă bị biến mất khỏi nước Ấn từ thế k'9b thứ 10 hay 11 và Ấn Giáo hoàn toàn chế ngự trên b́nh diện tôn giáo, thế mà trên quốc huy và quốc kỳ có h́nh bánh xe chuyển pháp của Hoàng Đế A Dục. Mặc dù các dân Ấn chính thống vẫn c̣n thù ghét việc Ambedkar tuyên bố từ bỏ Ấn Giáo và đốt thánh thư, khi ông qua đời, tượng ông được tạc trước thêm quốc hội Ấn, một tay cầm bản hiến pháp, một tay trỏ vào ṭa nhà quốc hội.

Tuy nhiên những thành công này chỉ có giá trị tinh thần. Ngoài bản hiến pháp, những dự luật của ông thảo, nhất là dự luật liên hệ đến gia đ́nh, hôn phối, ly dị, tài sản, thừa kế... đều bị các dân biểu thuộc đảng Quốc Đại chống đối v́ nó tấn công tận nền tảng của Ấn Giáo. Ông không có cách nào hơn là từ chức khỏi nội các của Nehru.

Từ đó tất cả năng lực của ông dồn vào việc tiếp tục tranh đấu cho đẳng cấp Untouchables và sữa soạn cuộc hành tŕnh đi t́m một tôn giáo mới cho họ. Khi đi t́m gốc rễ lịch sử của Untouchables, ông đă t́m thấy lại Phật Giáo, một tôn giáo uyên nguyên từ Ấn, nhưng biến mất hoàn toàn và phải di tản qua mấy nước Á Châu khác như ngày nay chúng ta biết: Tiểu Thừa truyền bá ở Tích lan, Miến Điện, Thái Lan, Cam Bốt và Lào, Trung và Bắc Ấn, Nepal và Tây Tạng, là quê hương của Kim Cương Thừa; và Đại Thừa lan rộng ở các nước Trung Hoa, Nhật Bản, Đại Hàn và Việt Nam.

Hành Tŕnh T́m Lại Quê Hương Tâm Linh

Tại Ấn c̣n có mấy tôn giáo khác lâu đời đang cạnh tranh mạnh mẽ với Ấn Giáo (Hindu) như Hồi, Sikhs... Cũng như trong lịch sử thực dân bất cứ tại đâu, c̣n có một số Tin Lành tân ṭng. Thuở nhỏ Ông có đọc một số sách viết về Phật Giáo và lấy làm thích thú v́ lư tưỏng b́nh đẳng của đạo Phật, nhưng có lẽ tâm trí c̣n bận lo gây dựng sự nghiệp, nên ông không có th́ giờ t́m hiểu sâu xa tư tưởng của Đức Phật.Vả lại bỏ một truyền thống văn hóa, cho dù đó là một truyền thống gây ra và chuẩn nhận những kỳ thị  xă hội cho đẳng cấp Untouchables, không phải là không có những bức xúc đau đớn. Trường hợp Gandhi là một. Không phải Gandhi không thấy những điều mà Ambedkar đă thấy. Nhưng thay v́ phủ nhận, Gandhi gắng làm những cải cách từ bên trong. Ông đă từng nói là địa ngục mà người Untouchables chịu đựng đă đến hồi kết. Nhưng có lẽ thánh Gandhi không đánh giá đúng mức ḷng cuồng tín của những người theo Ấn Giáo. Sự tàn sát giữa Ấn và Hồi cho thấy ḷng cuồng tín của hai nên cũng ngang nhau. Không ai phủ nhận là trong số nhữg người theo Ấn Giáo Chính Thống có những người trọng công b́nh xă hội, muốn cải thiện t́nh trạng bất công, nhưng họ không thấy rằng cái nguồn gốc của sự bất công đó là chính Ấn Giáo. Đó là lư do tại sao Ambedkar sau khi vận động phong trào bất bạo động đi lễ đền thờ Ấn Giáo và Đi Uống Tại Các Bồn Nước Công Cộng, cũng đă làm lễ đốt thánh thư Manusmriti, một quyển luật cổ đă qui định ra những luật lệ giới hạn quyền làm người của Untouchables.  Phủ nhận Ấn Giáo và muốn cải đạo th́ theo đạo nào? Hồi giáo cũng chấp nhận sự bất b́nh dẳng và cuồng tín cũng không thua ǵ Ấn Giáo. Sikhs không có tầm vóc khả dĩ là một tôn giáo tương lai. Như đă nói có một số tân ṭng theo Tin Lành. Cũng có một số Untouchables theo Anh Giáo, nhưng dân Ấn chính thống, tuy đều là con của Chúa, nhưng từ chối không chịu làm lễ chung với những người đồng đạo gốc Untouchables và các Mục Sư cũng không làm ǵ để giải quyết sự tẩy chay đó, ngoài chuyện làm những nhà thờ riêng cho bổn đạo hai bên. Lúc trẻ khi c̣n là sinh viên, Ambedkar có đọc được một quyển sách về cuộc đời Đức Phật. Ông cảm động và suy nghĩ về chuyện Phật nhận đệ tử từ đẵng cấp hạ tiện và phụ nữ (Tỳ Kheo Ni) vào hàng ngũ Tăng Già. Ông cho hai sự kiện này ất có ư nghĩa mà nhiều người nghiên cứu Phật Giáo không nhận thấy đúng mức tầm quan trọng. Đó là một thái độ phản kháng và chối bỏ Bà La Môn một cách toàn triệt, là một sự phủ nhận thánh thư đă cổ vỏ và biện minh cho sự đàn áp thô bạo và vô nhân đối với những người untouchables. Khi Ambedkar tuyên bố chối bỏ Ấn Giáo, những chức sắc Hồi Giáo tuyên bố sẽ chấp nhận tất cả những người Untouchables muốn cải theo đạo Hồi và c̣n đề nghị tặng Ambedkar một số tiền lớn để vận động quần chúng. Ông từ chối. Khi không c̣n bận rộn trong chính trường nữa, Ambedkar có thêm th́ giờ nghiên cứu tư tưởng Đức Phật và tham dự vào một số hoạt động của Phật Giáo. Năm 1950 Ông công khai ca ngợi Đức Phật là một nhà đại cách mạng xă hội. Ông đến thăm Tích Lan do lời mời của Thanh Niên Phật Tử Tích Lan tại Colombo; nói chuyện tại Đại Hội Liên Hữu Phật Giáo Thế Giới (thường được gọi là Phật Giáo Thế Giới) ờ Kandy; kêu gọi những người Untouchables ở Tích Lan cải đạo theo Phật Giáo. Năm 1951 trong khi biện hộ cho những lời kết tội Đức Phật làm ‘giảm vai tṛ của phụ nữ tại Ấn’, ông soạn ra một cuốn sách tụng niệm nhỏ Buddha Upasana Patha, Ông thăm Miến Điện hai lần vào năm 1954, lần sau là để tham dự Hội Nghị Phật Giáo Thế Giới lần thứ ba tại Ngưỡng Quang (Rangoon). Năm 1955 ông lập ra Hội Phật Giáo Ấn Độ, lập Niệm Phật Đường với chân dung của Đức Phật. Ông tuyên bố là sẽ để tâm chuyên vào các công cuộc hoằng Pháp. Ông khởi thảo soạn cuốn Đức Phật Và Chánh Pháp từ năm 1951 và hoàn thành vào tháng giêng 1956, vài tháng trước khi ông từ trần. Ông tham dự hội nghị Phật Giáo Thế Giới lần thứ tư tại Kathmandu, Nepal, đọc một bài diển văn quan trọng ‘ Đức Phật và Karl Marx’. Ông hoàn tất tác phẩm này chỉ một vài ngày trước đó. Vào ngày 5 tháng 12 Ông đ̣i nhà xuất bản đem tác phẩm Đức Phật Và Chánh Pháp để ông sửa lần cuối cùng trước khi in. Sáng hôm sau Ông mất, thọ 64 tuổi 7 tháng và chỉ quy y tam bảo mới được có 7 tuần lễ. Tuy  mới quy y có 7 tuần lễ nhưng có lẽ không ai làm công việc hoằng dương chánh pháp tại Ấn được như ông, ngoài Hoàng Đế A Dục. Ông đă đặt nền móng vững chắc cho sự phục hưng Phật Giáo tại Ấn Độ và đă nhấn mạnh lại thông điệp cứu khổ của Đức Phật trong công cuộc tranh đău cho b́nh đẵng xă hội.

Đối với Ambedkar hành tŕnh từ Ấn Giáo để trở về Phật Giáo là một hành tŕnh cam go: rủ bỏ một nền ‘văn hoá’ đă nuôi dưỡng ḿnh, dù là một nền văn hoá đă từ chối cái quyền làm người của untouchables, là một quá tŕnh khai tử-khai sinh chính bản thân. Trong ṿng 7 hay 8 thế kỷ qua, không có một dân Ấn nào c̣n nhớ đến Phật Giáo. Khi quân Hồi Giáo vào Bihar, 6 ngàn tăng già bị thảm sát. Một số sống sót di tản sang các quốc gia láng diềng như Trung Hoa, Nepal và Tây Tạng. Tuy có những nổ lực gây dựng lại  hàng ngũ tăng già để phục hưng Phật Giáo, nhưng quá muộn v́ bấy giờ hơn 90 phần trăm đă trở lại Ấn Giáo. Chỉ vào thế kỷ 19, nhờ các công tŕnh của các học giả và khảo cổ Tây Phương, niềm thích thú về việc nghiên cứu Phật Giáo mới được khơi lại. Và niềm thích thú này cũng chỉ giới hạn ở một số trí thức Ấn. Hội Kinh Điển Phật Giáo được thành lập ở Calcutta vào năm 1892 và thanh niên Anagarita Dharmapala vận động việc trùng tu nới Đức Phật thành đạo, Bodh-gaya. Hội Bồ Đề (Maha Bodhi Society) do một số học giả Ấn thuộc đẳng cấp Brahmin làm chủ tịch và hội viên cốt cán. Càng ngày Ambedkar càng nhận rơ là, nếu chấp nhận ẤnGiáo tức là chấp nhận việc đẳng cấp Untouchables bị trừng phạt về ‘tội tổ tông’ đời đời vả những người Ấn Chính Thống, cho dù có tinh thần tự do và cải cách đến đâu, cũng chấp nhận bất b́nh đẳng tôn giáo và xă hội như là một chuyện tự nhiên nhi nhiên. Ấn Giáo và chế độ đẳng cấp không thể tách rời nhau. Năm 1927 có một biến cố làm Ông quyết tâm từ bỏ Ấn Giáo. Hội Đồng Thành Phố Bombay quyết định cho phép Untouchables được phép dùng tất cả giếng và hệ thống chứa nước công cộng của thành phố. Tại hội đồng Mahad có một bồn chứa nước gọi là Chowdar Tank, nơi mà các ngưới Ấn chính thống lấy nước dùng hàng ngày. Mặc dù về phương diện pháp lư, Untouchables được quyền đến dùng nước, nhưng các dân Ấn chính thống nhất quyết ngăn trở. T́nh trạng nhùng nhằng này kéo dài 3 năm. Tháng Ba năm đó, các dân Untouchables tổ chức  một hội nghị ở ngoại ô Mahad. Có chừng 10,000 người tham dự. Hội nghị quyết nghị là sẽ tuần hành bất bạo động đến bồn nước Chowdar lấy  nước uống. Liền khi đó có tin đồn là Untouchables cũng sẽ tuần hành vào đền Ấn Giáo gần đó, dân Ấn chính thống bao vây hội trường, đả thương một số đại biểu. Nếu không có sự can thiệp của Ambedkar đă có cuộc bạo động giữa hai bên, Dân Ấn chính thống cho rằng hồ nước đă bị ô nhiểm nên tổ chức lễ thánh tẩy sự ô uế. Hành động này là một sự nhục mạ công khai nên Untouchbles tổ chức một hội nghị thứ hai, tuyên bố là sẵn sàng đến lấy nước ở Chowdar một lần nữa. Quyền dùng nước ở Chowdar chỉ được giải quyết khi Toà Án Tới Cao ở Bombay xác nhận quyền dùng nước của Untouchables ở các nơi công cộng. Biến cố này là giọt nước cuối cùng khiến Ambedkar dứt khoát tữ bỏ Ấn Giáo. Trong một hành động tượng trưng, ông tổ chức một buổi lễ công khai đốt thánh thư Manusmiti. Thái độ quyết liệt này được so sánh với thái độ của Luther đă đốt lịnh rút giấy phép thông công của Đức Giáo Hoàng tại Wittenberg.

Thái độ quyết liệt cuối cùng của Ambedkar phản ánh vào hội nghị Untouchables vào năm 1935 nhằm duyệt xét cuộc tranh đấu đ̣i quyền b́nh đẳng xă hội và chánh trị. Sau khi nhận xét là những nổ lực tranh đấu này đă không mang lại kết quả mong muốn cụ thể nào, Ambedkar tuyên bố chính thức là họ sẽ bỏ Ấn Giáo. Câu tuyên bố bất hủ của ông là: Tôi sinh ra từ một gia đ́nh Ấn Giáo, nhưng tôi sẽ không chết như một người Ấn Giáo. Hầu hết các Untouchables ở mọi nơi đều hưởng ứng lời kêu gọi của vị lảnh tụ của họ. Tất cả vị lảnh đạo các tôn giáo lớn tại Ấn đều tỏ thái độ. Một nhà triệu phú lảnh đạo Hồi Giáo, Nizam ở Hederabad, đề nghị tặng phong trào 40 hay 50 triệu rupees nếu Untouchables chịu cải thành tín đồ Ḥi Giáo. Giám Mục Bombay, tuy có dè dặt hơn, cũng hoan nghinh Untouchables nếu họ muốn thành tín đồ Methodist. Người lảnh đạo giáo phái Sikhs đánh điện cho Ambedkar cũng khuyến khích các người ủng hộ Ambedkar gia nhập giáo phái này v́ họ ‘đối xử mọi người một cách b́nh đẳng’.

Các đại diện các nhà lảnh đạo Phật Giáo Miến Điện, Thái Lan,Tây Tạng và Trung Quốc hoan nghênh quyết định của Ambedkar, đánh điện khuyến khích ông và Untouchables gia nhập cộng đồng Phật Giáo. Hội Maha Bodhi ‘lấy làm tiếc là Untouchables quyết định phải chối bỏ Hindu, nhưng hoan nghênh việc untouchables gia nhập Phật Giáo, ‘một tôn giáo không kỳ thị bất cứ ai về mặt tôn giáo và xă hội’. Phản ứng chống đối dĩ nhiên là từ các người Ấn Chính Thống. Họ lên án Ambedkar, miệt thị ông bằng đủ mọi từ ngữ. Nếu Untouchables rời bỏ Hindu, về phương diện lao động, họ sẽ mất một nguồn nhân lực rẽ tiền làm các nghề hạ tiện. Về phương diện chính trị, nhân số cộng đồng Hindu sẽ giảm xuống và cán cân quyền lực sẽ nghiêng về các cộng đồng Hồi, Ky Tô và Sikhs. Thánh Gandhi và các nhà lảnh đạo khác của đảng Quốc Đại lên tiếng cho rằng lời tuyên bố của Ambedkar là một điều đáng tiếc ‘mặc dù thông cảm cho sự tức giận của một người trí thức như Ambedkar và untouchables phải chịu đựng những sự dàn áo thô bạo. Tuy nhiên sự kỳ thị bất công mà Untouchables chịu đựng đă đến hồi kết cuộc. Tôn giáo không phải là một cái áo hay cái nhà mà ai muốn thay đổi lúc nào cũng được’. Trả lời cho nhận xét này, Ambedkar đáp là ‘quyết định này không phải là một quyết định nông nổi nhất thời. Hindu không phải là tôn giáo tốt cho chúng tôi, v́ căn bản đạo đức của Hindu là sự bất b́nh đẳng và untouchables không thể nào thực hiện những quyền làm người nếu cứ măi chấp nhận Hindu’.

Sau ngày thứ hai của Hội Nghị và lời tuyên bố của Ambedkar, phong trào đoạn tuyệt truyền thống Ấn Giáo bắt đầu. Tuy không tuyên bố dứt khoát là sẽ chấp nhận tôn giáo nào, có những dấu hiệu cho thấy là Ambedkar càng ngày càng có khuynh hướng chấp nhận Phật Giáo. Trong khi đi t́m lư do lịch sử tại sao dân Ấn chính thống, nhất là đẳng cấp Brahmin, lại thù ghét và trừng phạt Untouchables tàn bạo và dai dẳng đến mức như vậy, Ông đi đến một giả thuyết là, sau khi bị Hồi Giáo tàn sát, những người Untouchables sở dĩ bị trừng phạt là v́ đă không chịu từ bỏ Phật Giáo trong khi tất cả mọi người khác đều chấp nhận Ấn Giáo. Nói một cách khác giới Brahmin trả thù Phật Giáo và Phật Tử, v́ Phật Giáo đă làm một cuộc cách mạng phá bỏ xă hội đẳng cấp và phá bỏ độc quyền tư tế của giới Brahmin. Và nếu chấp nhận Phật Giáo, Untouchables không phải là những người mới quy y, mà học chỉ trở lại tôn giáo nguồn cội của cha ông họ trong lịch sử.

Ông bắt đầu ca ngợi công khai nhân cách của Đức Phật, trích các lời Phật dạy, in lại tác phẩm nổi tiếng của Narasu ‘ Tinh Yếu Của Đạo Phật’ (The Essence of Buddhism), đặt tên một trường  do Hội Giáo Dục Quần Chúng là Siddharta College. Theo Ông Ấn đă có quốc hội từ thời Đức Phật c̣n tại thế: đó là lối sống của hàng ngũ tăng già. Tăng già có những luật lệ giống như luật lệ điều hành trong quốc hội hiện đại, từ chuyện sắp xếp chỗ ngồi, đề nghị, ra quyết định, túc số, người giữ trật tự, bầu phiếu đếm phiếu, áp dụng luật lệ....nghĩa là sinh hoạt hoàn toàn có tính cách dân chủ. Ambedkar c̣n đi xa hơn, tuyên bố Phật Giáo là tôn giáo mà thế giới tương lai cần có, Như đă nói ông tham dự các hội nghị Phật Giáo Thế Giới, thăm viếng Tích Lan, Miến Điện, Nepal.

Ông tuyên bố lư thuyết xă hội của ḿnh như sau: ‘Lư thuyết của tôi có thể tóm lại trong ba nguyên tắc: Tự Do, B́nh Đẵng và Huynh Đệ. Xin quư vị đừng nghĩ là tôi dùng ba khẩu hiệu của cuộc cách mạng Pháp. Không phải thế. Lư thuyết của tôi bắt rễ từ tôn giáo, không phải từ chính trị.  Tôi đă rút những nguyên tắc này từ lời dạy của Đức Phật’. Chủng tử đă chín muồi. Ông có ư định quy y cho ông và 500,000 Untouchables trong dịp lễ Phật Đản 2500 năm, tức năm 1956-57. Đồng thời ông gấp rút hoàn thành một tập Kinh Phật tương đương với tập Kinh Thánh của Ky Tô Giáo, Đức Phật Và Giáo Pháp (The Buddha And His Dharma) trong dịp này.

Cuộc Quy Y Vĩ Đại

Ambedkar chọn Nagpur làm nơi quy y cho ông và 400,000 Untouchables khác. Ông ta đến quê hương tâm linh này vào ngày 14 tháng 10 1956. Thời gian và địa điểm ông chọn mang ư nghĩa dặc biệt. Đó là ngày hội lễ Dassara mà theo Ambedkar, ăn mừng Hoàng Đế A Dục trở về sau khi đă thắng cuộc chiến tranh với Kalinga. Và đó là lúc mà Hoàng Đế A Dục chuyển đổi ḷng tin, từ chiến thắng bằng vũ lực trong chiến tranh (yuddhavijaya), sang chiến thắng bằng đạo nghĩa (dharmavijaya).  Theo Ambedlar đó là ngày hội lễ ăn mừng sự chiến thăng của ánh sáng trên bóng tối, của Phật Giáo trên Ấn Giáo. Nagpur nằm ngay trung tâm của Ấn Độ thuộc tiểu bang Madhya Pradesh, là nơi liên hệ với Bồ Tát Long Thọ. Đó là thành phố của dân Nagas, những người đă truyền bá chánh pháp đầu tiên và là nơi truyền bá chánh pháp trên thế giới. Nagpur đă trở thành quê hương tâm linh của Untouchables ‘Chúng ta là con cháu của Nagas. Untouchables đến  Nagpur bằng mọi phương tiện: đi bộ, xe ḅ, xe lửa, xe buưt; đàn ông , đàn bà, trẻ con ...tất cả đều ăn mặc chỉnh tề: quần áo trắng sạch sẽ, trang nghiêm. Họ ăn ở nhà người quen, ở trong các trường học, những lều tạm trú, ngoài trời....Vào  cuối tuần con số tham dự lễ quy y lên tới 400,000. Ambedkar, vợ và một thư kư riêng đến Nagpur vào ngày 11 tháng 10 . Hai ngày sau ông họp báo để làm sáng tỏ mọi vài điểm chính yếu. Thứ nhất là tôn phái Phật Giáo mà Untouchables theo. Ông tôn trọng tất cả lời Đức Phật dạy nhưng không nhất thiết theo Tiểu Thừa hay Đại Thừa. mà là Tân Thừa (Navayana). Đó là một chi phái đựa trên nền tảng chung của hai phái Đại Thừa, sau khi đă gạt bỏ những ǵ không c̣n thích hợp với xă hội hiện nay nữa. Dù là từ bỏ Ấn Giáo, nhưng ông đă chọn một giải pháp ít tổn hại đến truyền thống Ấn v́ ‘Phật Giáo cũng là một phần của truyền thống và do đó không làm tổn hại đến truyền thống văn hóa và lịch sử của quốc gia’. Ông cũng công khai tuyên bố hoạt động chính trị, lập Đảng Cộng Ḥa (Republic) để tiếp tục tranh đấu cho quyền lợi của Untouchables.

Vào ngày Thứ Tư 14 tháng !0,  cả bầu trời yên lặng và trong sáng. Các ộng sự viên báo cáo là mọi việc tiến hành tốt đẽp. Từng doàn người mặc áo trắng lặng lẽ tiến về nơi hành lễ quy y. Có một số người làm việc như phu quét đường, dậy thật sớm để biến các con đường trong thành phố không c̣n một cộng rác.

Ambedkar mặc áo trắng lụa  lên xe đến nơi hành lễ với vợ. Khu hành lễ là khu đất rộng chừng 14 mẫu. Phía cuối có một khán đài có mái che phủ giống h́nh tháp Phật và được trang hoàng với cờ ngũ sắc của Phật Giáo Thế Giới. Ông đứng trên khán đài, đối diện với đồng bào của ḿnh, một tay cầm thiền trượng, một tay chống lên vai của người thư kư riêng. Đó là h́nh ảnh một một người hành hương cuối cùng đă đến quê hương tâm linh. Đám đông yên lặng, rồi bùng vỡ tiếng hoan hô. Sau thủ ục, Ambedkar ngồi giữa khán đài, một bên là người vợ, một bên là trưởng lăo Hoà Thượng U Chandramani, một nhà sư Miến Điện sang Ấn Độ ‘hoằng hóa’ từ lâu (oái ăm thay, hàng ngũ tăng già Ấn Độ lúc đó không có là bao nhiêu). Ngồi sau Ambedkar là chủ tịch hội Maha Bodhi, mặc quốc phục trắng cùng với Ḥa Thượng Sangharatana và một số các nhà sư Tích Lan. mặc y vàng, và một số các hội viên trong liên đoàn Untouchables và Hội Phật Giáo Ấn Độ. Theo truyền thống, buổi lễ bắt đầu với một bài hát ca ngợi Embedkar; một phút mặc niệm cho thân phụ Ông. Ambedkar và vợ cuối cùng đứng dậy đảnh lễ Ḥa Thượng  U Chandramani. Ḥa Thượng làm lễ quy y Tam Bảo cho hai người. Ambedkar và vợ đănh lễ và dâng hoa cúng Phật . Sau đó là đến lúc làm lễ thọ ngũ giới. Ambedkar từ lúc đó chính thức là một Phật Tử đă quy y. Sau khi được các người chung quanh chúc tụng, được tặng ṿng hoa, ông đứng lên cử hành một nghi lễ của phái ông (Ambedkarite): Ông đọc 22 lời nguyện do chính ông soạn ra, như không tin và thờ cúng các thần linh (Ấn Giáo), không xem Đức Phật là hóa thân của thần Vishnu (mà Ấn Giáo đă cố t́nh xuyên tạc), không cử hành nghi lễ Hindu cho các người chết, không nhờ Brahin trong các việc tư tế, và tích cực hơn, tin và cố gắng thực hiện b́nh đẵng giũa tất cả mọi người (có nghĩa là chống đối chế độ đẳng cấp), theo Phật Đạo và giữ giới. Hai mươi hai lời nguyện này có thể tóm lược trong lời nguyện cuối cùng: ‘Tôi chối bỏ Ấn Giáo (Hindu) một tôn giáo đă làm tổn hại đến con người và sự phát triển cửa con người, v́ đó là một tôn giáo dựa trên sự bất b́nh đẵng; tôi chấp nhận Phật Giáo như là tôn giáo của ḿnh. Tôi tin tưởng nơi Chánh Pháp của Đức Phật. Tôi tin tưởng là tôi đang được tái sinh. Tôi trang nghiêm tuyên bố và xác nhận là tôi sẽ sống theo những nguyên tắc hướng dẫn theo lời Phật dạy và Giáo Pháp của Ngài’. Khi đọc câu ‘Tôi chối bỏ Ấn Giáo’ Ambedkar run giọng. Đó là biểu hiện cho những t́nh cảm trái ngược, từ vui mừng cho đến biết ơn v́ đă được giải thoát khỏi Ấn Giáo, cho đến sự hối tiếc và căm giận cho cuộc sống bất công và đày đọa do những người theo Ấn Giáo gây ra cho đồng bào và đồng đạo của Ông.

Sau đó chính Ông đứng ra quy y cho 400,000 Untouchables, mặc quần áo trắng đang ngồi im lặng dưới kia. Loa phóng thanh yêu cầu những người nào đồng ư chấp nhận giáo pháp của Đức Phật đứng dậy. Tất cả đồng loạt im lặng và nghiêm chỉnh chắp tay đứng dậy, Dù chỉ là một cư sĩ, Ambedkar đùng ra làm lễ quy y và thọ ngũ giới cho tất cả mọi người. Trong ṿng nửa giờ Ông đă đem về với Chánh Pháp một số lượng đông đảo Phật Giáo Đồ để làm nền tảng cho việc phục hưng Phật Giáo Ấn Độ mà nhiều người từ trước đến giờ vẫn cho là bất khả. Và lần đầu tiên một cư sĩ đứng ra làm lễ quy y và truyền giới cho Phật Tử khác và đặc biệt với 22 lời nguyện, ông đă nhấn mạnh lại sứ điệp xă hội của Đức Phật mà Phật Giáo Tiểu Thừa đă lăng quên. Ambedkar cũng nhắc lại ư nghĩa cộng đồng tăng già nguyên thủy trong thời Đức Phật c̣n tại thế: đó là cộng đồng gồm cả Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc và Ưu Bà Di. Mỗi giới không khác nhau trong lư tưởng hộ tŕ và phổ biến Phật Pháp, chỉ tuỳ phương tiện và hoàn cảnh mà hành tŕ.

Cộng đồng Phật Giáo chăm chú theo dơi kỹ càng lễ quy y tập thể của Ambedkarites (những người theo ‘phái’ Ambedkar). Điện văn chúc mừng từ U Ba Swe, Thủ Tướng Miến Điện, U Nu (Tổng Thư Kư Liên Hiệp Quốc sau này) các nhân vật quan  trọng ở Tích Lan và Ấn Độ và các Phật Tử Anh. Mặc dù là Ấn lúc đó đang bảo trợ lễ 2500 Đản Sinh của Đức Phật, không có một điện văn chào mừng nào từ Nội Các chánh phủ Ấn Độ.

Ngày hôm sau Ambedkar cử hành một buổi lễ quy y cho 100,000 người khác đến chậm. Các buổi lễ quy y sau đó cũng đă được cử hành ở Bombay, Dekhi và Agra và hơn 25 tỉnh thị khác ở Ấn. Năm 1971 theo thống kê dân số có chừng 3 triệu rưỡi Phật Tủ tại Ấn. Con số này không phản ánh đúng số Phật Tử hành tŕ chánh pháp tại Ấn. Con số ước lượng số Phật Tử vào năm 1959 từ 15 đến 20 triệu người trở vể với Đạo Phật. So vơí dân Ấn, con số này c̣n quá khiêm nhường, nhưng cuộc tranh đấu của Ambedkar đă hồi phục lại ư nghĩa của việc hành tŕ chánh pháp: sứ điệp xă hội của Phật Giáo. Hành tŕ chánh pháp không phải là chỉ tŕ giới hay ngồi thiền (tệ hơn nữa là chỉ nói chuyện về Thiền) để đạt được Định và Tuệ. Có trí tuệ để phát triển ḷng từ bi và có ḷng từ bi là để thực hiện lư tưởng Bồ Tát.

(Kỳ tới: Đức Phật Và Giáo Pháp theo Ambedkar)

QUÁN NHƯ