
TẠI SAO KI TÔ GIÁO PHẢI SUY THOÁI
Trần Chung Ngọc
Lời Nói Đầu:
Những bài về Ki Tô Giáo trên trang nhà Giao Điểm [GĐ]và Sách Hiếm [SH] chỉ đưa ra những sự thật về Ki Tô Giáo với đầy đủ tài liệu từ những tác phẩm của các bậc thức giả Âu Mỹ, ở trong cũng như ở ngoài Ki Tô Giáo. Nhưng chúng ta vẫn thấy trên một số diễn đàn công cộng của người Ki Tô giáo Việt Nam tại hải ngoại lên án GĐ và SH là “chống đạo Thiên Chúa” hay “chống Ca-tô” mà không tŕnh bày rơ là chống như thế nào và chống ở chỗ nào. Tuyệt đối không có người nào dám lên tiếng phản biện những luận cứ và những tài liệu tham khảo của GĐ và SH. Họ chỉ chụp mũ vu vơ là “chống Thiên Chúa”, làm như chống Thiên Chúa là một tội trọng không thể tha thứ, và chống Thiên Chúa là đương nhiên “thân CS”, nhưng không đưa ra bất cứ một bằng chứng nào. Những quy kết như trên chỉ chứng tỏ họ là những người có một tŕnh độ hiểu biết rất thấp kém, khiếm khuyết lớn nhất của đời người. Phải chăng những quy kết trên nằm trong sách lược “gây thù hận và vu khống” của Giáo hội Ca-tô Rô-Ma khi mà “những thanh gươm để giết người, và những bó củi để thiêu sống người đă bị tước khỏi nhưng bàn tay đẫm máu của Giáo hội.” [Xin đọc “False Claims” của John Remsburg]. Có vẻ như trong Ca-tô Rô-MaGiáo, từ chủ chăn cho tới các con chiên vô học, cùng có một tâm cảnh giống nhau, bất cứ người nào viết đụng đến Ca-tô Giáo, Giáo hoàng v…v…, dù đó là sự thật, th́ không là kẻ thù của Ca-tô Giáo th́ cũng là Cộng Sản. Những người Việt Nam lên án Giao Điểm và Sách Hiếm “chống đạo Thiên Chúa” không bao giờ tự hỏi: “Tại sao người ta lại “chống đạo Thiên Chúa”?”. Họ đă biết câu trả lời nên không bao giờ hỏi.
Qua vụ linh mục loạn dâm và ấu dâm đang nổ như pháo liên miên bất tận, lan ra khắp thế giới, Giáo hoàng Benedict XVI cũng như một số Hồng Y đă thú nhận là “Những sự tấn công vào Giáo hoàng và Giáo hội không chỉ từ bên ngoài Giáo hội, mà sự đau khổ của Giáo hội c̣n đến từ trong Giáo hội, từ những tội lỗi ở trong Giáo hội.” [Attacks on the Pope and the Church come not only from outside the church, but suffering of the church comes from inside the church, from the sins that exist inside the church] Các vị nầy cũng cho rằng đây là một phong trào bách hại chống Ca-tô Giáo của những kẻ thù của Ca-tô Giáo. Nhưng cũng như đám con chiên ở dưới, các vị chủ chăn cũng không bao giờ tự đặt câu hỏi: “Tại sao người ta lại tấn công Giáo hoàng và Giáo hội?” và “Tại sao Ca-tô Giáo, một tôn giáo tự nhận là “thánh thiện, duy nhất, tông truyền”, là tổ chức duy nhất được quyền bán vé lên thiên đường [không có sự cứu rỗi ngoài giáo hội Ca-tô] lại có lắm kẻ thù đến thế?” Chắc chắn với những đầu óc của các bậc chăn chiên, họ cũng đă biết rơ mười mươi câu trả lời nên không bao giờ tự đặt câu hỏi.
Ki Tô Giáo nói chung, Ca-tô Rô-Ma Giáo nói riêng, đang suy thoái mà không có cơ cứu văn, ở ngay cái nôi của Ki Tô Giáo trước đây: Âu Châu, và đang lan ra trên toàn thế giới. Đây là một sự kiện. Bài viết này chỉ có mục đích t́m hiểu những nguyên nhân nào đă đưa đến sự suy thoái của Ki Tô Giáo, một tôn giáo đă ngự trị ở Âu Châu qua nhiều thế kỷ, với quyền sinh sát ở trong tay. Nhưng rất có thể đối với một số người đầu óc đă bị thuần hóa hoặc kém hiểu biết th́ bài này là để “chống đạo Thiên Chúa”. Nếu đưa ra những sự thật về những sự kiện hiển nhiên trong Ki Tô Giáo là “chống đạo Thiên Chúa” th́ tôi chủ trương và kêu gọi mọi người Việt c̣n trân quư nền văn hóa truyền thống của dân tộc hăy “chống đạo Thiên Chúa” nhiều hơn và tích cực hơn nữa.
*
ÂU CHÂU, TRONG NHIỀU THẾ KỶ LÀ CÁI NÔI CỦA CHƯƠNG TR̀NH TRUYỀN GIÁO KI TÔ ĐI KHẮP NƠI, NAY CHÍNH NÓ LẠI TRỞ THÀNH NƠI CẦN PHẢI ĐƯỢC TRUYỀN GIÁO. MỘT SỐ NGƯỜI NÓI RẰNG ĐÂY LÀ MỘT LỤC ĐỊA “HẬU-KITÔ”.
(Europe, for centuries the craddle of Christian Mission, had itself become a mission field… Some say it is a “post-Christian” continent.)
JULIAN PETTIFER & RICHARD BRADLEY
TRONG MỘT HỘI NGHỊ ĐẶC BIỆT VÀO NĂM 1999, CÁC GIÁM MỤC ÂU CHÂU TUYÊN BỐ RẰNG CÁC DÂN TỘC TRONG TOÀN LỤC ĐỊA ÂU CHÂU ĐẢ QUYẾT ĐỊNH SỐNG “NHƯ LÀ THIÊN CHÚA KHÔNG HỀ HIỆN HỮU.
(At a special synod in 1999, the bishops of Europe declared that the peoples of the entire continent had decided to live “as though God did not exist.)
JOHN CORNWELL
“THẬT LÀ KHÁC LẠ TRONG THẾ GIỚI TÂY PHƯƠNG, MỘT THẾ GIỚI MỆT NHỌC VỚI CHÍNH VĂN HOÁ CỦA M̀NH, MỘT THẾ GIỚI Ở THỜI ĐIỂM MÀ KHÔNG CÓ BẰNG CHỨNG NÀO LÀ CON NGƯỜI C̉N CẦN ĐẾN THIÊN CHÚA NỮA, VÀ C̉N CẦN ÍT HƠN ĐẾN CHÚA KI TÔ. NHỮNG GIÁO HỘI GỌI LÀ 'TRUYỀN THỐNG' XEM RA NHƯ ĐANG CHẾT DẦN.”
KHÔNG THẤY CÓ GIẢI PHÁP NÀO MAU CHÓNG ĐỂ CỨU VĂN GIÁO HỘI CHÚNG TA CẢ.
(“It is different in the Western world, a world which is tired of its own culture, a world which is at the point where there’s no longer evidence for a need of God, even less of Christ," he told a meeting of clergy in the Italian Alps.
"The so-called traditional churches look like they are dying," he said, according to a text published by Vatican daily L’osservatore Romano.
"There’s no system for a rapid change.”)
GH BENEDICT XVI
CHÚNG TA TẠO RA THIÊN CHÚA CHO NHỮNG G̀ CHÚNG TA CẦN ĐẾN TRONG MỘT LÚC. TÔI THẬM GHÉT THIÊN CHÚA. TÔI THẬM GHÉT TẤT CẢ NHỮNG KẺ NÀO TOAN TÍNH GIẢNG GIẢI VỀ THIÊN CHÚA TRONG KHI HỌ THỰC SỰ KHÔNG BIẾT G̀ VỀ THIÊN CHÚA
(We make God into what we need for the moment. I hate God. I hate all those who try to explain God when they really don’t know.)
Mục sư tuyên úy Roger Benimoff, Quân Y Viện Walter Reed
Chúng ta thấy, t́nh trạng suy thoái của Ki Tô Giáo nói chung, Ca-Tô Rô-maGiáo nói riêng, ở phương trời Âu Mỹ là một t́nh trạng đă rơ rệt, không ai có thể phủ nhận. Trong khi đó th́ ở một vài nơi trên thế giới, thí dụ như ở Phi Châu và Việt Nam, Ki Tô Giáo lại có cơ phát triển. Điều này chứng tỏ cái ǵ? Một vài nhận định của các bậc thức giả hi vọng có thể cho chúng ta thấy rơ vấn đề.
Nữ
học giả Ca-tô Joanne H. Meehl, người mà sau khi đă thấy rơ chủ đích và những
việc làm của giáo hội Ca-Tô từ thế kỷ 4 tới nay, viết trong cuốn "Người Tín
Đồ Ca-Tô Tỉnh Ngộ" (The Recovering Catholic: Personal Journeys of Women who
left the Church, 1995 ), trg. 288, như sau:
"Đạo Ca-Tô chỉ thịnh hành và phát triển trong đám người nghèo và ngu dốt. Nó chỉ bị khắc phục bằng giáo dục (mở mang dân trí) và đời sống kinh tế thoải mái" (Catholicism thrives and grows among the poor and ignorant. It is overcome by education and economic well-being).
Điều trên không chỉ đúng với Ca-Tô Rô-maGiáo mà c̣n đúng với Tin Lành. Tin Lành vơ được một số tín đồ trong cộng đồng những dân tộc thiểu số ở Việt Nam và một số ở Bolsa, Little Saigon không phải là điều lạ. Thật là rơ ràng, Ki Tô Giáo suy thoái ở phương trời Âu Mỹ v́ ở các nơi đây dân trí tương đối cao và đời sống kinh tế tương đối thoải mái.
Cách đây hơn 1 thế kỷ, Robert G. Ingersoll đă nhận định về sự tồn tại lâu dài của Tin Lành và Ca-tô Rô-MaGiáo như sau (Joseph Lewis, Ingersoll: The Magnificient, p. 140):
Ca-Tô Rô-MaGiáo c̣n tồn tại lâu dài. Điều này chứng tỏ cái ǵ? Nó chứng tỏ rằng quần chúng th́ không hiểu biết (ignorant) và các linh mục th́ xảo quyệt [cunning]. [Roman Catholicism dies hard. What does that prove? It proves that the people are ignorant and that the priests are cunning]; Đạo Tin Lành c̣n tồn tại lâu dài. Điều này chứng tỏ cái ǵ? Nó chứng tỏ là quần chúng th́ mê tín và các mục sư th́ đần độn (stupid) [ Protestantism dies hard. What does that prove? It proves that the people are superstitious and the preachers stupid.]
Robert
G. Ingersoll được coi như là một nhà tư tưởng tự do và nhà hùng biện nổi danh
của Mỹ vào cuối thế kỷ 19 (A celebrated orator of 19th century
America). Ông ta là bạn của 3 Tổng Thống Hoa Kỳ, là người đă có công nhất trong
việc làm nở rộ quyền tự do tư tưởng ở Hoa Kỳ. (A personal friend of three U.S.
presidents, the individual most responsible for the flowering freethought in the
United States.). Bức tượng của ông, ghi công ông, nay được đặt ở Periora,
Illinois.
Malachi Martin, nguyên giáo sư tại Viện Nghiên Cứu Thánh Kinh ngay tại Vatican, viết trong cuốn The Keys of This Blood:
"Tự bao giờ, Ca Tô Giáo chỉ nảy nở trong đám dân chúng nghèo khổ và ít học."
(Catholicism has always flourished only in poor population of low educational quality)
Cùng một ư tưởng, Adrian Pigott viết trong cuốn Freedom's Foe - The Vatican (Kẻ thù của Tự do – Vatican):
"Họ (giáo dân) được nuôi nấng trong cái mà Tiến Sĩ Barnado gọi là "Bóng tối dày đặc của ư thức hệ La Mă". Thất học luôn luôn thịnh hành trong các nước theo Ca-Tô RôMaGiáo - nhờ đó mà tập đoàn linh mục có thể nảy nở"
(They have been brought up in what Dr. Barnado called "The thick darkness of Romanism".. Illiteracy is always prevalent in Romanist countries - to enable Priestcraft to flourish.)
Và Toàn Quyền Đông Dương J. L. de Lanessan, cách đây hơn 100 năm, trong cuốn Les Missions et leur Protectorat, trích dẫn bởi Patrick J. N. Tuck, cũng đưa ra một nhận xét như sau:
"Thật ra, trong hơn 2 thế kỷ mà các Hội Truyền Giáo Ca Tô hoạt động ở Trung Hoa và bán đảo Đông Dương, có lẽ họ không cải đạo được quá 10 học giả. Toàn thể giới cầm quyền có học của dân chúng đă tránh né sự truyền đạo của họ. Đại cương th́ các nhà truyền giáo chỉ tuyển mộ được tín đồ trong những giai cấp thấp nhất, và phần lớn là những kẻ, v́ lư do này hay lư do khác, đă bị xă hội An-Nam ruồng bỏ." [1]
Như vậy, ngày nay Ki Tô Giáo nói chung phát triển ở đâu th́ đó là dấu hiệu chứng tỏ nơi đó dân trí c̣n thấp kém và đời sống kinh tế c̣n khó khăn, và sự xảo quyệt của giới chăn chiên vẫn c̣n hữu hiệu. Điều này chúng ta thấy rơ v́ những người cầm đầu Ca-tô Rô-MaGiáo ở Vatican vẫn ra công khuyến khích các thuộc hạ ở các nước chậm tiến phải tích cực tiếp tục mê hoặc tín đồ những thứ đă không c̣n giá trị, và các thuộc hạ địa phương vẫn nhắm mắt theo “đức vâng lời”.
Thật vậy, trong bức thư nhan đề: “Tôi nghe thấy và học được ǵ từ những cuộc gặp gỡ với Bộ Ngoại Giao và Bộ Truyền Giáo của Vatican trong hai ngày 1 và 2 tháng 6.2010” của Hồng Y Phạm Minh Mẫn, chúng ta có thể đọc đoạn sau đây, chứng tỏ Vatican tiếp tục mê hoặc giáo dân Việt Nam, nhốt họ vào cái ngục tù tâm linh của Ca-tô Rô-MaGiáo:
“Đồng thời, với kinh nghiệm 30 năm phục vụ ngành Ngoại Giao của Vatican trong nhiều nước như Việt Nam, Đức Hồng Y Dias có lưu ư đến nhiệm vụ của các giám mục trên đất nước Việt Nam hôm nay, nhiệm vụ loan Tin Mừng, dẫn dắt các tín hữu đi trong ánh sáng đức tin, xây dựng Giáo Hội hiệp thông và hiệp nhất trong t́nh bác ái huynh đệ. Và ngài có lời khuyên người công giáo Việt Nam trên thế giới hăy chuyên cần cầu nguyện với Đức Mẹ La Vang là Nữ Vương ban sự b́nh an.”
Chỉ trong một đoạn ngắn như trên chúng ta đă thấy rơ sự xảo quyệt của giới chăn chiên ở Vatican, mê hoặc đám giáo dân thấp kém ở Việt Nam, trong khi họ đă biết rơ những sự thật về thế nào là Tin Mừng, là đức tin, và sự thật về La Vang. Tôi sẽ phân tích ba vấn đề này trong đoạn trên.
Nhiệm Vụ Loan Tin Mừng.
Trước hết chúng ta cần hiểu “Tin Mừng” trong Ki Tô Giáo là như thế nào. Đó là “Tin mừng Phúc Âm”. Cái mà Ca-Tô Rô-MaGiáo và Ki Tô Giáo nói chung gọi là “Tin Mừng Phúc Âm” thật ra chỉ là hai câu nhảm nhí nhất trong Tân Ước. Tin Mừng Phúc Âm không phải là những lời khuyên răn đạo đức hay bất cứ cái ǵ khác mà chỉ là hai câu trong Phúc Âm John, liên hệ đến huyền thoại sống lại và quyền phép “cứu rỗi linh hồn” của Giê-su, một huyền thoại mà không người nào có đầu óc ngày nay c̣n có thể tin được nữa. Hai câu trong Phúc Âm John như sau:
John 3: 16: “Thiên Chúa quá thương yêu thế gian đến nỗi ban Con duy nhất của Ngài, để những ai tin vào Người sẽ không bị luận phạt, nhưng được sống đời đời.”, và câu tiếp theo, John 3: 18: “Người nào không tin vào Giê-su th́ đă bị đầy đọa rồi, v́ người đó không tin vào đứa con duy nhất của Thượng đế”
Như vậy, câu trên là “Tin Mừng”, thực ra chỉ là Tin Bịp, đối với người tin, c̣n câu dưới là “tin xấu”, thực ra là vô giá trị, đối với người không tin. Phúc Âm không hẳn là chỉ có Tin Mừng mà c̣n chứa rất nhiều tin xấu, nếu chúng ta chịu khó đọc kỹ cuốn Tân Ước. Nhưng đây cũng chính là câu mà giáo hoàng John Paul II đă trích dẫn để trả lời câu hỏi “Tại sao nhân loại cần cứu rỗi” trong cuốn “Bước Qua Ngưỡng Cửa Hi Vọng” năm 1995.
Hai câu trên phản ánh sách lược truyền đạo của Ca-Tô Rô-MaGiáo đối với những người kém hiểu biết và gồm có hai mặt: 1) huyễn hoặc những người nhẹ dạ cả tin, mê mẩn về một sự sống đời đời, sau khi chết, ở trên một thiên đường giả tưởng, bằng cách tin vào một nhân vật đầy tính chất huyền thoại của Do Thái, Giê-su, do nền thần học Ki Tô Giáo tạo dựng lên; và 2) hù dọa những người đầu óc yếu kém về một sự luận phạt phi lư và hoang đường.
Đây là hai câu tạo nên niềm tin và hi vọng được sống đời đời sau khi chết của các tín đồ Ki Tô Giáo, bất kể khi c̣n sống họ là người như thế nào, v́ điều kiện duy nhất để được Giê-su cứu rỗi, nếu có cái gọi là cứu rỗi, là phải tin Giê-su là đấng cứu rỗi của ḿnh. Do đó, Giáo hoàng tha hồ làm ác, linh mục và con chiên tha hồ làm bậy, v́ họ chỉ cần tin Giê-su là “con duy nhất của Thượng đế” và có quyền năng “cứu rỗi” họ, là họ đă có sẵn cái vé lên thiên đường rồi. Đó là cốt tủy đức tin của Ca-Tô Rô-MaGiáo, đức tin của những người không đủ đầu óc để nhận ra sự nhảm nhí trong hai câu trên mà Ki Tô Giáo tận dụng trong sách lược truyền đạo để mê hoặc đầu óc những tín đồ đầu óc yếu kém đă bị Giáo hội điều kiện hóa và thuần hóa từ nhỏ. Tại sao lại là nhảm nhí?
Tại v́ những câu này chỉ có thể áp dụng cho những người sinh sau Giê-su mà thôi. Lẽ dĩ nhiên chỉ có những người sinh sau Giê-su mới có thể biết đến Giê-su và tin Giê-su để không bị luận phạt và có cuộc sống đời đời, lẽ dĩ nhiên sau khi chết. Như được viết rơ trong Tân Ước, ngay cả bố mẹ Giê-su là Joseph và Maria, cùng các em trai em gái Giê-su cũng không tin Giê-su là đấng cứu thế, trái lại c̣n cho là Giê-su đầu óc bất b́nh thường (out of his mind), cho nên chắc chắn là họ đều bị Giê-su luận phạt và đày đọa xuống hỏa ngục vĩnh viễn? Lịch sử loài người đâu chỉ bắt đầu từ khi Giê-su sinh ra, chết đi và sống lại, nếu chúng ta có thể tin vào chuyện hoang đường này. Ấy thế mà vẫn có vô số người tin vào những cái câu nhảm nhí này. Và Giáo Hoàng John Paul II vẫn dùng nó để mê hoặc con chiên.
Điều hiển nhiên là, trước khi Giê-su sinh ra đời th́ nhân loại đă trải qua bao nhiêu thế hệ trong nhiều ngàn năm, nếu không muốn nói là cả triệu năm, trong đó có các thế hệ của tổ tiên, ông bà Giê-su và tổ tiên ông bà những tín đồ theo Giê-su ngày nay. Ai biết đến Giê-su? Ai tin Giê-su? Vậy tất cả cũng đều bị luận phạt và đầy đọa nơi hỏa ngục hay sao? Trước năm 1533, người Việt Nam không ai nghe và biết đến tên Giê-su, hiển nhiên không ai có thể tin Giê-su, vậy tất cả dân tộc Việt Nam trong mấy ngàn năm trước năm 1533 cũng bị luận phạt hay sao? Những người Việt Nam tân ṭng Ca Tô Giáo có nghĩ đến các điều hoàn toàn vô nghĩa như trên hay không? Điều lạ là ngày nay mà các tín đồ vẫn c̣n tin theo cái tín lư quái gở cực kỳ vô lư đó với một tâm cảnh vô cùng ích kỷ, chỉ nghĩ đến đời sống đời đời sau khi chết của riêng ḿnh, mà không hề nghĩ đến bản chất ác độc, phi lư, phản khoa học, hoang đường, bất khả áp dụng, của sự luận phạt mà Ca-tô Rô-MaGiáo đưa ra để hù dọa những người không tin Giê-su. Không những chỉ ích kỷ mà họ c̣n để lộ một tinh thần yếu kém, sợ sệt thần linh trong thời đại tiến bộ của khoa học kỹ thuật ngày nay mà quan niệm thần linh khi xưa đă không c̣n chỗ đứng. Trong thời đại mà các lư thuyết thần học của Ki Tô Giáo đă không c̣n ư nghĩa, tại sao họ vẫn c̣n có thể tin vào một “Thần” của người Do Thái mà bản chất cũng không khác ǵ những “Thần” trong dân gian trên khắp thế giới, được con người tạo dựng lên với hi vọng đáp ứng được những khao khát, ước muốn của ḿnh.
V́ phần lớn giáo dân bị nhốt trong những ốc đảo ngu dốt [từ của LM Trần Tam Tĩnh] cho nên những tín đồ Ca-tô Việt Nam lại không biết là ḿnh bị giáo hội bịp. Và các bậc trí thức Ca-tô cũng chỉ v́ ham hố một cái bánh vẽ trên trời sau khi chết nên cũng tự giam ḿnh trong sự lừa bịp của Giáo hội, với một niềm hi vọng hăo huyền. Thật vậy, tháng 7, 1999, Giáo Hoàng John Paul II đă phải thú nhận là “không làm ǵ có thiên đường trên các tầng mây” và “Hỏa ngục không phải là sự trừng phạt áp đặt từ bên ngoài bởi Thượng đế”. Phủ nhận sự hiện hữu của một thiên đường trên trời và một hỏa ngục trong ḷng đất, giáo hoàng cũng đă phủ nhận luôn sự cứu rỗi và luận phạt của Chúa, một sự hứa hẹn thuộc một đời sau do đó không ai có thể kiểm chứng, và một sự đe dọa cùng loại, hoang đường, mà giáo hội vẫn tiếp tục dùng cho tới ngày nay để nhốt tín đồ vào trong ṿng mê tín. Đa số tín đồ Ca-Tô không biết đến sự phủ nhận thiên đường và hỏa ngục của giáo hoàng. Những thú nhận của John Paul II về thiên đàng và hỏa ngục ở trên đă dứt khoát bác bỏ những câu John 3: 16, 18 ở trên nhưng đồng thời cũng đă để lộ bộ mặt xảo quyệt lừa dối tín đồ của ông ta khi ông ta trích dẫn điều trên trong Tân ước để khuyến dụ đám tín đồ đầu óc thấp kém, trong khi ông ta đă biết rơ câu đó không có một giá trị thiết thực nào.
Chẳng vậy mà, b́nh luận câu John 3:16 ở trên, học giả Lloyd Graham cho rằng “Chưa bao giờ có nhiều ngụy biện có tính cách dạy đời được buộc chung với nhau trong một câu ngắn ngủi như trên” (No greater number of didactic fallacies were ever strung together in one short sentence) v́ Thiên Chúa không hề thương yêu thế gian, Thiên Chúa không ban cho thế gian bất cứ cái ǵ; ông ta không có “người Con duy nhất”, ḷng tin không cứu được một ai, và không có cái ǵ gọi là cuộc sống đời đời. (God does not love the world; God does not give the world anything; he has no “only begotten Son”, belief will not save anyone, and there is no such thing as everlasting life)
Thật vậy, trừ phi chúng ta chỉ biết cầm cuốn Thánh Kinh, không hề đọc, và nhắm mắt cầu nguyện. Nếu chúng ta mở mắt ra nh́n những cảnh khổ, cảnh bất công, cảnh con nít mới sinh ra đă bị khuyết tật hay chỉ là một quái thai v..v.. ở khắp nơi trên thế gian, kể cả trong các nước mà đa số dân chúng là tín đồ Ki Tô Giáo, thí dụ ở bên Anh trước đây và gần đây ở trên nước Mỹ có những trường hợp trong gia đ́nh Ca-Tô sinh ra một quái thai, hai thân dính liền nhau nhưng chỉ có một trái tim, th́ không có cách nào chúng ta có thể chấp nhận luận điệu thần học của Giáo hoàng John Paul II: “Thiên Chúa quá thương yêu thế gian..” khoan nói đến thực chất của Thiên Chúa, nếu có, trong Thánh Kinh Cựu Ước là như thế nào. Chúng ta nên biết, theo niềm tin trong Ca-Tô giáo th́ Thiên Chúa của họ gồm những thuộc tính “toàn nhân”, nghĩa là vô cùng nhân từ, và “toàn năng”, nghĩa là làm ǵ cũng được, trong khi Richard Dawkins đă đưa ra 16 thuộc tính ác ôn bất nhân của Thiên Chúa như được viết trong Cựu Ước. Hơn nữa, một Thiên Chúa mà đ̣i hỏi con người phải “yêu ông ta hết sức, hết linh hồn” và chỉ thương yêu những người tin ḿnh th́ thực chất chỉ là một ngụy Chúa, không xứng đáng để cho con người tin, đừng nói đến kính trọng và thờ phụng.
Cũng
v́ vậy mà Giám Mục John
Shelby Spong, đă viết trong cuốn Rescuing The Bible From Fundamentalism,
p.24:
Cuốn Thánh Kinh đă làm cho tôi đối diện với quá nhiều vấn đề hơn là giá trị. Nó đưa đến cho tôi một Thiên Chúa mà tôi không thể kính trọng, đừng nói đến thờ phụng
[A literal Bible presents me with far more problems than assets. It offers me a God I cannot respect, much less worship.]
Sự hiện hữu của những cảnh khổ, những chiến tranh tôn giáo, những sự xấu ác ở trên đời là một nghịch lư mà từ xưa đến nay các nhà thần học Ki Tô Giáo không sao giải thích nổi để biện minh cho một Thiên Chúa Toàn Năng “ quá thương yêu thế gian”. Lối giải thích nghe suôi tai đối với những tín đồ đầu óc mê muội nhưng lại có tính cách mạ lỵ đối với tư duy con người trong thế giới văn minh tiến bộ như ngày nay là: “đầu óc con người không hiểu được những ư định hay việc làm của Thiên Chúa”.
Rồi, trước những khám phá khoa học liên hệ đến thuyết Tiến Hóa bất khả phủ bác trong nhiều bộ môn của khoa học, năm 1996, Giáo hoàng John Paul II đă thú nhận trước thế giới là:
“Thân xác con người có thể không phải là một sự sáng tạo tức thời của Thượng đế, mà là kết quả của một quá tŕnh tiến hóa dần dần”. Ngài nói: “những kiến thức mới nhất dẫn đến việc phải chấp nhận thuyết tiến hóa hơn là một giả thuyết”. [2]
Chấp nhận thuyết tiến hóa, chấp nhận con người không phải là do Thượng đế tạo ra tức thời mà chính là kết quả của một quá tŕnh tiến hóa dần dần và lâu dài, thú nhận không làm ǵ có thiên đường (một cái bánh vẽ trên trời để dụ những người đầu óc mê mẩn, yếu kém), và hỏa ngục (một nơi để hù dọa những người không tin Chúa), Giáo hoàng đă chính thức bác bỏ thuyết “sáng tạo” của Ki Tô Giáo, phá tan huyền thoại về Adam và Eve là tổ tông loài người do Thượng đế tạo dựng từ đất sét, và kéo theo không làm ǵ có chuyện Adam và Eve sa ngă tạo thành tội tổ tông. Mà chẳng cần phải đến Giáo hoàng phá tan huyền thoại “sáng thế” và tội tổ tông. Nhân loại đă coi chuyện đó là một huyền thoại của thời bán khai, chứng tỏ đầu óc kém hiểu biết của những người viết Chương Sáng Thế trong Cựu Ước. Thật vậy, Thượng đế “sáng tạo” ra hai người mù và trần truồng: Adam và Eve, và tự khen là tác phẩm của ḿnh rất tốt đẹp [very good]. Trước khi ăn trái cây trên Cây Hiểu Biết và mắt mù chân chậm, Adam và Eve có biết quái ǵ đâu ngoài việc lần ṃ sờ soạng để đi trong cái gọi là vườn Eden. Khi đó, Adam và Eve đâu có biết thế nào là phải, thế nào là trái, đâu có biết cưỡng lời Thượng đế là sai. Không biết th́ không có tội. Vậy tại sao Thượng đế lại trừng phạt Adam và Eve về những hành động của họ trong khi họ c̣n mù và chưa ư thức được những hành động đó là đúng hay sai. Cái tội tổ tông mà Giáo hội đưa ra là dựa trên những sự kiện vô lư và mâu thuẫn ở trên, nói lên tính độc ác, bất nhân, bất công của Thượng đế. Thế mà cả tỷ tín đồ cứ nhắm mắt tin bừa, không biết rằng vai tṛ “chuộc tội” và “cứu rỗi” của Giê-su chỉ là những luận điệu thần học lừa dối của giới giáo sĩ Ki Tô Giáo khi xưa, được tiếp tục đưa ra không ngoài mục đích khai thác ḷng mê tín của một số người, huyễn hoặc và khuyến dụ họ tin vào những điều không thực. Thật vậy, sự kiện là, Giáo hoàng đă bác bỏ đức tin quan trọng nhất trong Ki-tô giáo: Quyền năng “cứu chuộc”, “cứu rỗi” của Giê-su, và cũng bác bỏ sự hiện hữu của một thiên đường, do đó hi vọng của các tín đồ Ki-tô về một cuộc sống đời đời trên thiên đường cùng Giê-su chẳng qua chỉ là một ảo vọng, bắt nguồn từ một sự mù ḷa tin bướng tin càn, và sự luận phạt của Thiên Chúa đối với những người không tín Giê-su chẳng qua chỉ là một sự hù dọa đă không c̣n ư nghĩa, dù đối với những người yếu bóng vía..
Cũng v́ vậy mà sau khi nghiên cứu cuốn Tân Ước, David Voas, Giáo sư đại học tiểu bang New Mexico (New Mexico State University), trong cuốn "Cuốn Thánh Kinh Mang Tới Tin Xấu: Cuốn Tân Ước" ("The Bad News Bible: The New Testament", trg. 1 - 2) đă viết về nội dung tổng quát của cuốn Tân Ước như sau:
"Vấn
đề là người ta nghĩ rằng người ta biết ở trong Thánh kinh có những ǵ, hoặc ít
nhất là Thánh kinh chứa loại tài liệu ǵ. Hầu hết đều lầm, họ chỉ quen thuộc
với vài đoạn trích dẫn đă được giáo hội chấp thuận, và họ sẽ ngỡ ngàng khi thấy
không những Thiên Chúa trong Cựu Ước khủng khiếp dễ sợ như thế nào, mà con của
hắn (nghĩa là Giê-Su; TCN) trong
Tân Ước cũng c̣n ở dưới mức hoàn hảo khá xa. Thông điệp của Giê-su không
hẳn toàn là tin mừng, thiên đường nhiều nhất là một viễn cảnh không chắc
chắn. Xét về toàn bộ th́ đó rất có thể là cuốn Thánh kinh mang tới tin xấu."
[3]
Ngoài ra, Regina Schwartz, giáo sư dạy Thánh Kinh trong 20 năm qua tại hai đại học nổi tiếng ở Hoa Kỳ là đại học Northwestern, Illinois, và đại học Duke, North Carolina, sau nhiều năm suy tư và nghiên cứu, đă xuất bản cuốn Lời Nguyền của Cain: Di sản bạo tàn của Tôn Giáo Độc Thần (The Curse of Cain: The Violent Legacy of Monotheism), và dạy sinh viên bài học: "không làm ǵ có những sự thật trong Phúc Âm" (Northwestern University professor's lesson: There are no Gospel truths), nghĩa là, trong Phúc Âm không làm ǵ có Tin Mừng, chỉ có những huyền thoại mà thôi. Giáo sư Schwartz cũng nhận ra rằng sinh viên ngày nay tin rằng Thượng Đế là do con người tạo ra theo h́nh ảnh con người thay v́ ngược lại. Nghĩa là, những tính nết của con người như tham lam, hẹp ḥi, ghen tuông, và sợ hăi được gán cho Thượng Đế. (...students come to believe that God is more often created in the image of man than the other way around. That is, mankind's greed, pettiness, jealousies and fears are often projected onto God).
Ánh Sáng Đức Tin.
Ánh sáng đức tin là ánh sáng như thế nào? Theo định nghĩa của H. L. Mencken th́ Faith hay Đức Tin là "một kiểu tin phi-lôgic vào sự xảy ra của những ǵ không chắc có thực" (an illogical belief in the occurrence of the improbable). Theo định nghĩa trong tự điển th́ Faith hay Đức Tin là "sự tin chắc vào một cái ǵ đó mà không chứng minh được cái đó có thực" (Firm belief in something for which there is no proof.) Chẳng vậy mà học giả Ca-tô Joseph L. Daleiden đă nhận định trong cuốn The Final Superstition: “Đức Tin Ki Tô (Christian Faith) và Lư Trí (Reason) tượng trưng cho hai con đường đối ngược: con đường đi tới mê tín đối với con đường đi tới hiểu biết” [The path to superstition versus the path to knowledge] “Ánh sáng đức tin” của Ca-tô Rô-MaGiáo c̣n thể hiện rơ qua câu phán sau đây của thánh Ignatius of Loyola, (1491-1536), người sáng lập ḍng Tên:
“Chúng ta phải luôn luôn sẵn sàng tin rằng cái mà chúng ta thấy là trắng thực sự là đen, nếu hàng giáo phẩm trong Giáo hội Công Giáo quyết định như vậy.“
[John Dollison, Pope-Pourri, p. 174: Ignatius of Loyola: We should always be disposed to believe that which appears white is really black, if the hierarchy of the Church so decides.]
Đó là “ánh sáng đức tin” trong Ca-tô Giáo, và gần đây Ṭa Thánh c̣n nhắc đi nhắc lại cho các tín đồ là phải tuân theo “đức vâng lời” của Ca-Tô Giáo. Và thảm thay, VietCatholic cũng quảng bá cái “đức con cừu” này cho giáo dân. Như vậy, đức tin của Ca-tô là sự tối tăm mù quáng của trí tuệ, mù ḷa tin bướng tin càn, nhắm mắt mà tin, chứ chẳng phải là ánh sáng, v́ ánh sáng cho chúng ta thấy rơ sự thật.
Đây là hiện tượng quen thuộc trong Ki Tô Giáo: người chột dẫn dắt người mù. Người mù là những người tin rằng ḿnh là con cháu của Adam nguyên thủy, một người mù mà Thiên Chúa tạo nên theo h́nh ảnh của Thiên Chúa, Thiên Chúa của Ki Tô Giáo. Kinh thánh viết rơ, chỉ sau khi cưỡng lời Thiên Chúa, ăn trái cây trên cây hiểu biết [the tree of knowledge], Adam mới mở mắt ra và nh́n thấy Eve trần truồng. [Sáng Thế Kư 3: 7: Rồi mắt của cả hai người (Adam và Eve) mở ra, và biết rằng ḿnh trần truồng] Nếu Adam và Eve cứ tuân theo “đức vâng lời” của Thượng đế, không ăn trái cây trên cây hiểu biết, th́ những người Ki Tô Giáo ngày nay, hậu duệ của Adam và Eve, vẫn c̣n mù và trần truồng và ngu như khi chưa hiểu biết. C̣n những người ngoại đạo th́ đă ăn trái cây trên cây hiểu biết từ trước Adam cả nhiều ngàn năm, cho nên mắt họ đă mở. Bài học đầu tiên trong Cựu Ước: Muốn mở mắt ra th́ hăy cố gắng ăn trái cây trên cây hiểu biết, ăn càng nhiều càng tốt, chứ đừng có tự giam ḿnh trong cảnh mù ḷa tin bướng tin càn theo ư định nguyên thủy của Thiên Chúa. Robert G. Ingersoll, nhà tư tưởng tự do vĩ đại của nước Mỹ vào cuối thế kỷ 19 đă phát biểu: ‘Hăy đầy tôi ra khỏi Vườn Eden khi nào ông [Thượng đế] muốn, nhưng trước hết hăy để cho tôi ăn trái cây trên Cây Hiểu Biết đă” [Banish me from Eden when you will but first let me eat of the fruit of the Tree of Knowledge.]
Cầu Nguyện Đức Mẹ La Vang.
Chúng ta đă biết, tất cả những vụ hiện thân của Đức Mẹ chỉ là do Giáo hội hoặc các bậc lănh đạo tôn giáo địa phương dàn dựng để mê hoặc và củng cố, đẩy mạnh ḷng sùng tín mù quáng của đám giáo dân thấp kém và để thu tiền tăng gia lợi tức cho địa phương. Độc giả có thể đọc trên http://www.sachhiem.net/TCN/TCNtg/TCN40.php để biết rơ chi tiết về mọi tín lư liên quan đến bà Maria do Giáo hội ngụy tạo, và có thể đọc về sự thật đàng sau các vụ hiện thân của bà Maria ở Fatima, Lourdes, La Vang http://www.sachhiem.net/TCN/TCNtg/CGchinhsu/CGCS7.php
Chúng ta nên biết rằng, hiện tượng Đức Mẹ hiện ra đă bị lạm phát, trên mấy trăm vụ trên khắp thế giới, nhưng Ṭa Thánh chỉ "chấp thuận" có 6 vụ mà thôi, điển h́nh là ở Fatima, Lourdes, Guadalupe chứ không chấp nhận vụ La Vang nhưng vẫn dùng La Vang để đẩy mạnh sự cuồng tín của Giáo dân Việt Nam như lời khuyên của Hồng Y Dias ở trên. Thật vậy, Vatican đă biết rơ là Mary không hề hiện ra ở La Vang như trong tờ Tuần-báo “L'Osservatore Romano”, tiếng nói chính-thức và có thẩm-quyền nhất của Ṭa Thánh Vatican, trong số 32/33, tuần lễ 12-19/8/1998, đă xác định là: “Bất hạnh thay, không có một văn-bản tài-liệu nào về những lần hiện ra (ở La Vang) này” [Unfortunately, there is no written documentation of these apparitions [at La vang]]. Đặc biệt là không có vụ nào ở cái xứ Mỹ văn minh tiến bộ nhất này được chấp thuận. Chúng ta cũng nên biết rằng, hiện tượng Đức Mẹ hiện ra càng ngày càng nhiều trên khắp thế giới đơn giản là v́ Ca-tô Rô-MaGiáo đang suy thoái trên khắp thế giới nên phải cho Đức Mẹ hiện ra để vớt vát phần nào đức tin trong đám giáo dân cao cũng như thấp.. Theo truyền thống của Giáo hội mẹ, giáo hội con muốn bắt bà Mary hiện ra ở đâu th́ bà ấy phải hiện ra ở đó. Chúng ta c̣n nhớ, năm 1975, một Linh mục Việt Nam cũng cho bà Mary hiện ra ở B́nh Lợi, nhưng không ăn khách, nên sự vụ bị xẹp như quả bóng x́ hơi.
![]() |
![]() |
![]() |
Hè năm 2005, tượng bà Maria trước Nhà thờ lớn Sài G̣n chảy « nước mắt ».
Giáo dân đua nhau đến cầu nguyện mấy ngày đêm. Hội đồng Giám mục VN không khẳng định
nhưng cũng không phủ định. Sau đó,
chính quyền đem phân chất th́ thấy đó chỉ là nước rĩ từ xi măng.
Hội đồng Giám mục lại cũng không khẳng định và không phủ định kết quả nầy…. (Ảnh
của độc giả GĐ)
Có một câu hỏi là, bà Mary hiện ra để làm ǵ, có ích ǵ cho nhân loại, và đă thực hiện được những ǵ cụ thể những điều mà người ta cho là bà ta nói, và không nói, ở những nơi hiện ra? Bà ấy khóc hay chảy máu mắt [máu của đàn ông theo sự phân tích DNA] th́ có ích ǵ cho nhân loại? Thật ra là vô tích sự, chẳng làm được cái ǵ có ích cho nhân loại ngoài việc nằm trong sự dàn dựng của Giáo hội, và Giáo hội đă lợi dụng chính sự dàn dựng của ḿnh để đẩy mạnh sự cuồng tín của con chiên và vơ vét tiền bạc. Câu hỏi như trên thường không được mấy người, kể cả giáo hội Ca-Tô bàn đến. Giáo hội chỉ quan tâm đến sự kiện là, mỗi lần hiện ra ở những nơi như vậy lại có nhiều tín đồ đổ xô đến chiêm bái, cầu nguyện, và giáo phận địa phương vơ vét được nhiều tiền qua những dịch vụ kinh tế bao quanh và tiền của con chiên cúng, mà không bao giờ quan tâm đến chuyện Mary hiện ra để làm ǵ? Linh mục James Kavanaugh đă đi đến Lourdes và cảm thấy xấu hổ v́ sự mê tín cùng cực của các tín đồ Ca-tô. Chúng ta có thể đọc bài ông nói về Lourdes trên http://www.sachhiem.net/TCN/TCNtg/ CGchinhsu/CGCS7.php Bài này cũng c̣n đưa ra những sự thật về các vụ Bà Maria hiện ra ở Fatima và Lavang. Người ngoại đạo và cũng không thiếu ǵ những người có đầu óc trong đạo thường cảm thấy sửng sốt và ngỡ ngàng khó hiểu trước những hoạt cảnh như vậy trong thời đại nguyên tử ngày nay.
Phân tích những vụ hiện ra, các học giả ngày nay đă cho rằng các trường hợp hiện ra của Mary không nằm ngoài chuyện làm công cụ cho giáo hội Công Giáo trong những mục đích chính trị hoặc nuôi dưỡng, đẩy mạnh thêm sự mê tín, sùng tín của các tín đồ, và lẽ dĩ nhiên, không thể tách rời mục đích kinh tế. Điển h́nh là vụ ở Fatima, nơi “Đức mẹ Maria” hiện ra để trao cho 3 đứa trẻ mù chữ những thông điệp chống Cộng gồm 3 điều bí mật: 1) Cảnh tượng của hỏa ngục; [Giáo hoàng John Paul II đă phủ nhận sự hiện hữu của một hỏa ngục dưới ḷng đất] 2) tiên đoán Nga Sô sẽ cải đạo theo Ca-tô Rô-MaGiáo;[Nga sô đă có luật cấm Ca-tô Giáo truyền đạo ở Nga] và 3) một bí mật không được tiết lộ cho đến năm 1960, nhưng ṭa Thánh đă dấu kín cho đến cuối thế kỷ 20, và khi John Paul II tiết lộ th́ không ai biết đó có đúng là điều giáo hội đă ngụy tạo ra trước hay là mới ngụy tạo ra, nhưng điều chắc là, theo một số chuyên gia về Ca-tô giáo, th́ điều “bí mật” sau cùng này là điều giáo hội mới phịa ra để đánh bóng vai tṛ của John Paul II trước t́nh trạng suy thoái hiện thời của giáo hội. Điều đáng nói là cả ba điều tiên tri của Đức Mẹ chỉ là những lời nói láo do Giáo hội bịa ra v́ không có lời tiên tri nào đúng.
Tuy vụ Đức Mẹ hiện ra ở La Vang không được Ṭa Thánh công nhận nhưng người Ca-Tô Việt Nam cũng cứ coi La Vang như là một linh địa, linh địa La Vang ở gần Quảng Trị, một linh địa rất ít được thế giới biết đến và không có mấy ai đến hành hương ngoại trừ những tín đồ Công Giáo bản địa, và chỉ bắt đầu từ thời Phán Quan Tây Ban Nha Ngô Đ́nh Diệm, ông Tổng Thống có tham vọng Ca-Tô hóa miền Nam, đưa cả khối dân 93% Việt Nam phi-Ca-Tô vào ṿng mê tín dị đoan, nô lệ Vatican. Ngày nay, La Vang dược dùng làm nơi biểu dương lực lượng của Ca-Tô Giáo ở Việt Nam, một thách đố chính trị nấp sau chiêu bài tôn giáo đối với chính quyền, và rất có thể dùng làm bàn đạp để tiến tới những thách đố chính trị khác.
Qua lô-gíc và sự phân tích và b́nh luận trí thức những tài liệu về sự hiện ra của bà Mary ở La Vang, chúng ta có thể kết luận là, và đây cũng là kết luận của Đức Cố Lê: “Xin thưa: Thật ra không hề có việc Đức Mẹ (của Ca-Tô Giáo) hiện ra tại La Vang. La Vang chỉ là một ngụy tích như hàng trăm các ngụy tích khác do các Giáo hội Ca-Tô trên thế giới dựng ra chứ không phải là những sự kiện lịch sử, nhất là La Vang, v́ tất cả về La Vang chỉ là nghe nói, truyền khẩu, nghe biết, truyền tụng nhau, hay giai thoại.

Thực ra là “linh địa La Vang” là do Ca-Tô Giáo đă đến phá chùa để cướp đất và họ đă kể lại trong những bài vè khá dài kể về hành động côn đồ cướp Chùa này. Chúng ta hăy đọc vài câu thơ có tính cách thú nhận của Linh mục Nguyễn Văn Ngọc, hănh diện viết lại trong cuốn Linh Địa La Vang, trang 41:
Rằng Phật rằng Thần lao đao
Có bà bên đạo (chích. TCN) phép cao lạ lùng
Bà vào bà đánh tứ tung
Bao nhiêu Thần Phật đều tung ra ngoài
Tiếng bà thật đă linh oai
Lư hương bát nước đền đài đều hư...
Thật là đẹp mặt bà Mary. Thật là đẹp mặt Ca-Tô Giáo Việt Nam. Vậy Đức Mẹ là Nữ Vương ban sự b́nh an như Hồng Y Vatican Dias đă phán cho Hồng Y Mít Phạm Minh Mẫn phải dạy con chiên của ḿnh siêng năng cầu nguyện, hay thực chất chỉ là Nữ Tướng Cướp dẫn đám lâu la vào phá Chùa cướp đất như LM Nguyễn Văn Ngọc đă mô tả ở trên. Chỉ bằng vào mấy câu thơ này chúng ta cũng có thể quyết đoán là chính giáo dân Ca-Tô đă đánh phá Chùa ở La Vang, phá hủy các bàn thờ, tượng thờ trong Chùa, theo đúng lời dạy của Chúa Jehovah trong Cựu Ước, nghĩa là cướp Chùa để xây nhà thờ La Vang trên đó, tương tự như đă cướp Chùa Báo Thiên ở Hà Nội để xây lên Nhà Thờ Lớn, hoặc đất Chùa ở Saigon để xây lên nhà thờ Đức Bà trước Ty Bưu Điện v..v.. Đất ăn cướp của Chùa đă trở thành Linh Địa của Ca-Tô Giáo ở Việt Nam !!!.
Đó là những ǵ mà Hồng Y Phạm Minh Mẫn của Việt Nam học được của Hồng Y Dias ở Vatican, và phải thi hành. Phải loan báo “tin xấu” coi như là tin mừng, dẫn con chiên đi trong tối tăm coi như là trong ánh sáng, và cầu nguyện với một nhân vật đánh phá lung tung coi như là biểu tượng của sự b́nh an. Thật là tội nghiệp.
Những Yếu Tố Chính Đưa Đến Sự Suy Thoái Của Ki Tô Giáo.
Sau đây chúng ta thử t́m hiểu tại sao Ki Tô Giáo phải suy thoái và những yếu tố nào đă khiến cho Ki Tô Giáo phải suy thoái mà không có cơ cứu văn. Các giáo hội Ki Tô, đặc biệt là Ca-Tô Rô-MaGiáo, thường đổ tội cho các xă hội thế tục và chủ nghĩa vật chất v..v.. đă làm cho Ki Tô Giáo suy thoái, trong khi thực tế là các giáo hội Ki-Tô mới chính là thế tục và theo chủ nghĩa vật chất. Nh́n vào những hoạt động chính trị của Ki tô giáo, vào tài sản của Vatican, các chức sắc Ca-tô mặc quần áo và ăn uống như thế nào, các nhà truyền giáo Tin Lành ở trên TV vơ vét tiền bạc ra sao, chúng ta thấy rơ đâu là thế tục, đâu là vật chất. Nước Mỹ là nước bậc nhất thờ chủ nghĩa vật chất gồm có ba cái nhất: t́nh dục, tàn bạo, và tiền [sex, violence, and money], nhưng Mỹ là nước mà Ki Tô Giáo vẫn là chủ lực tinh thần và tỷ lệ giáo dân trên dân số vẫn cao nhất, vào khoảng gần 80%, trong đó có khoảng 23% theo Ca-tô Rô-MaGiáo..
Yếu tố chính làm cho Ki Tô Giáo suy thoái là, Ki Tô Giáo với những cấu trúc quyền lực, với những giáo lư dựa trên Thánh Kinh, đă không c̣n hợp với thế giới văn minh tiến bộ ngày nay. Thật vậy, nghiên cứu kỹ vấn đề, chúng ta thấy thật ra sự suy thoái của Ki Tô Giáo không phải trong thời đại này mới xảy ra mà đă bắt nguồn từ sự tiến bộ trí thức của con người ít ra là từ cuộc Cách Mạng Khoa Học (The Scientific Revolution) vào đầu thế kỷ 17, từ Thời Đại Lư Trí (The Age of Reason) và Thời Đại Khai Sáng (The Age of Enlightenment) trong thế kỷ 18, rồi qua các Thời Đại Của Các Hệ Thống Tư Tưởng (The Age of Ideology) trong thế kỷ 19, đến Thời Đại Phân Tích (The Age of Analysis) trong thế kỷ 20 của một số đông triết gia và khoa học gia. Những thời đại này đă kéo con người Tây phương ra khỏi Thời Đại Của Đức Tin (The Age of Faith), một thời đại mà sự thống trị của Ca-Tô Rô-maGiáo đă đưa Âu Châu vào 1000 tăm tối được biết dưới tên Thời Đại Trung Cổ (The Middle Ages) hay Thời Đại Hắc Ám (The Dark Ages), hay Thời Đại Của Sự Man Rợ Và Đen Tối Trí Thức (The age of barbarism and intellectual darkness). Điểm chung của các thời đại này là, một số đông tư tưởng gia và khoa học gia tin tưởng rằng lư trí và khoa học, chứ không phải là Ki Tô Giáo, sẽ thúc đẩy sự tiến bộ của nhân loại. Và ngày nay chúng ta thấy rơ như vậy. Từ thế kỷ 17, khoa học đă tiến một bước dài, và ngày nay, trước những khám phá của khoa học về mọi bộ môn để giải thích thiên nhiên như nó là như vậy, Thiên Chúa của những khoảng trống (God of the gaps) càng ngày càng thu nhỏ lại, chỉ c̣n có thể ẩn náu trong những khoảng trống rất nhỏ hẹp ở trong đầu óc của các tín đồ. Sau đây chúng ta hăy duyệt qua những sự kiện chính trong những thời đại trên.
Thế Kỷ 17: Cuộc Cách Mạng Khoa Học. [The Scientific Revolution]
Mở đầu là cuộc cách mạng khoa-học phát khởi ở Tây phương từ thế kỷ thứ 16, phát triển mạnh trong thế kỷ thứ 17, với những tư tưởng và công tŕnh khảo cứu của Nicolaus Copernicus (1473-1543), Giordano Bruno (1548-1600), Galileo Galilei (1564-1642), Johannes Kepler (1571-1630) v...v...Người ta gọi đó là 1 cuộc cách mạng khoa học, bởi v́ nhờ đó mà Tây phương thoát ra khỏi cảnh tăm tối đă kéo dài gần 1000 năm, từ năm 476 tới năm 1473. Chính trong thời đại này, Tây phương đă nằm dưới quyền thống trị của Ca-tô Rô-MaGiáo. Những giáo điều, tín lư của Ca-tô Rô-MaGiáo, tôn giáo của Tây phương, cộng với quyền hành của các lănh tụ tôn giáo ở địa vị nắm quyền, hay liên kết với những chính quyền đương thời, đă ngăn chặn sự phát triển khoa học và tự do tư tưởng của con người. Mọi khám phá khoa học, mọi tư tưởng trái ngược với Thánh Kinh đều bị lên án là “lạc đạo" (heretics), phải diệt trừ. Do đó, cũng chính trong khoảng thời gian này, Tây phương phải chịu đựng 8 cuộc Thập Ác Chinh (Crusades) và hàng trăm ngàn các vụ xử án dị giáo (Inquisitions), với kết quả là nhiều triệu người gồm già, trẻ, lớn, bé, trai, gái đă bỏ mạng v́, hoặc bị tàn sát, có khi tập thể; hoặc bị tra tấn bởi những dụng cụ tra tấn kinh khủng nhất trong lịch sử nhân loại (Hơn 40 dụng cụ tra tấn dă man này hiện được trưng bầy trong 1 bảo tàng viện nhỏ tên là Medieval Dungeon trên đường Jefferson, khu Fisherman Warf, tại San Francisco, và trong một bảo tàng viện ở Hà Lan); hoặc bị treo cổ, hoặc bị đốt sống v...v..., tất cả chỉ v́ họ không chấp nhận hay có những tư tưởng ngược với Thánh Kinh. Đó là những vết tỳ ố không sao tẩy xóa được trong lịch sử loài người, dù ngày nay Giáo hội Ca-tô Rô-Ma đă làm hết sức để quảng cáo cái bộ mặt giả nhân giả nghĩa ngụy trang dưới những chiêu bài như nhân quyền, từ thiện, bác ái v..v.. với hi vọng làm cho thế giới quên đi cái lịch sử tàn bạo của Giáo hội, đẫm máu và nước mắt của hàng triệu người vô tội.
Cuộc cách mạng khoa học đă gây nên hai ảnh hưởng to lớn: Trong giới khoa học, đó là khởi điểm của các tiến bộ khoa học hiện đại, v́ từ đó các khoa học gia đă thoát ra khỏi sự thống trị tư tưởng của tôn giáo; trong xă hội đại chúng, đó là khởi điểm của sự đạp đổ nền độc tài tôn giáo và những giáo điều lỗi thời, v́ những khám phá khoa học mới đă có tác dụng mở mang dân trí, chấm dứt 1000 năm tăm tối, giải phóng con người khỏi sự chuyên chế độc tài của giới giáo sĩ, điển h́nh là cuộc cách mạng năm 1789 tại Pháp mà kết quả là tước bỏ quyền hành của giới lănh đạo Công giáo trong quần chúng, hay nói theo John E. Remsburg trong cuốn False Claims: “tước khỏi những bàn tay đẫm máu của Giáo hội Công Giáo những thanh gươm để giết người, và những bó củi để thiêu sống người.”. Để có một nhận định khách quan và trung thực về vấn đề trên, có lẽ chúng ta nên duyệt sơ sự diễn tiến của cuộc cách mạng khoa học, một cuộc cách mạng vô tiền khoáng hậu trong lịch sử Tây phương, được viết trong các sách giáo khoa mà bất cứ sinh viên đại học nào học về khoa học cũng phải biết.
Trong thời Trung Cổ, tuy cũng có những tiến bộ về khoa học và toán học, nhưng về nhân chủng học và vũ trụ học, tất cả đều dựa trên Cựu Ước trong Thánh Kinh, một cuốn sách viết bởi nhiều môn phái trong nhiều thế kỷ. Ngoài ra, Tân Ước cũng được viết bởi nhiều người trong nhiều thế kỷ sau khi Giê-su bị đóng đinh trên cái giá gỗ h́nh chữ thập. Tuy ngày nay, nhiều học giả nghiên cứu Thánh Kinh, và ngay cả những tín đồ Ca-Tô tiến bộ, có đầu óc suy luận và kiến thức về khoa học, đều công nhận là cuốn Thánh Kinh chứa đầy những huyền thoại cóp nhặt từ các huyền thoại dân gian, đầy những sai lầm và mâu thuẫn, những tư tưởng dă man của thời bán khai với những cảnh giết chóc, tàn sát tập thể, loạn luân v...v... và hoàn toàn trái nghịch với những khám phá mới nhất đă được kiểm chứng của khoa học. Nhưng vào thời Trung Cổ, cuốn Thánh Kinh đă được giới lănh đạo Ca-Tô coi như chính là những lời của Thần của họ, do đó không thể sai lầm. Theo sự đoan quyết của các nhà thần học Ca-Tô, dựa trên Thánh Kinh, th́ thế giới mà chúng ta đang sống là thế giới duy nhất do một vị thần mà họ gọi là Thượng Đế tạo ra, và trái đất là trung tâm của thế giới này, là một mặt phẳng có bốn góc. Mặt trời và các hành tinh khác đều do các thiên thần xoay vần xung quanh trái đất. Trên trái đất là 1 ṿm trời cứng để giữ nước ở phía trên, có những cánh cửa mở để nước rơi xuống thành mưa theo hứng của Thượng Đế. Những sao trên trời là những ngọn đèn mà tối tối Thượng Đế sai các thiên thần mang ra treo. V́ đó là những lời của Thượng Đế trong Thánh Kinh nên bất cứ quan niệm nào không phù hợp với Thánh kinh đều bị coi là "tà thuyết" và, theo Thánh Philastre, đương nhiên "sai lầm đối với tín ngưỡng Ca-tô giáo" [Any other view, St. Philastrius declared "false to the Catholic faith" ("Science and Theology" by Andrew Dickson White)].
Nhưng vào đầu thế kỷ 16, Nicolaus Copernicus, một nhà vũ trụ học người Ba Lan, đă đưa ra một khám phá mới: đó là, không phải là mặt trời và các hành tinh quay xung quanh trái đất, mà chính là trái đất và các hành tinh quay xung quanh mặt trời. Copernicus không dám phổ biến khám phá này như là một sự thực khoa học. Nhưng cuối cùng ông cũng xuất bản một cuốn sách: "Chuyển động quay của các thiên thể" (Revolutions of the Heavenly Bodies) trong đó có ghi những khám phá của ông.

Để tránh cho Copernius những hậu quả khó có thể lường trước được, trong phần đề Tựa cuốn sách, bạn của Copernicus là Osiander đă khéo léo tŕnh bày công tŕnh khảo cứu của Copernicus như là một giả thuyết (hypothesis) hay là một nghịch lư (paradox). Nhưng, khi cuốn sách vừa được xuất bản th́ Copernicus qua đời, vào năm 1543. Do đó Ṭa Thánh cũng làm ngơ và cho phép các nhà thần học thỉnh thoảng được bàn tới "giả thuyết" của Copernicus. Sự chống đối trong giới khoa học tuy có nhưng chỉ ngấm ngầm, không ai dám lên tiếng coi thuyết của Copernicus là một chân lư, v́ sợ bị kết án là lạc đạo, tra tấn và mang ra xử tại ṭa án xử dị giáo.
Tuy nhiên, có một triết gia thuộc loại "uy vũ bất năng khuất", đó là Giordano Bruno, một linh mục ḍng Dominique người Ư. Bruno không những đồng ư với Copernicus mà c̣n táo bạo hơn, đưa ra quan niệm là ngoài thế giới chúng ta đang sống có thể c̣n có nhiều thế giới tương tự khác nữa. Điều này trái với lời của Thượng Đế trong Thánh Kinh: Trái đất là trung tâm của thế giới duy nhất mà chúng ta đang sống.
![]() |
![]() |
Ingersoll viết về Bruno:
“Do đó, Bruno bị bắt giam trong 6 năm. Sau cùng, v́ từ chối không chịu chấp nhận những điều trái với niềm tin bắt nguồn từ những kết quả nghiên cứu khoa học vững chắc mà ông cho là đúng dù rằng nếu chấp nhận là sai ông sẽ được tự do, ông bị đưa ra ṭa án xử dị giáo, kết án, dứt phép thông công và bị tuyên án tử h́nh bằng cách thiêu sống. Ông bị các Linh Mục, những người có ḷng thương yêu kẻ thù (theo như lời dạy của Giê-su trong Thánh Kinh. TCN) , dẫn từ nhà tù ra nơi hành h́nh. Ông bị cột vào một cọc xung quanh có chất củi. Rồi các Linh Mục, đệ tử của Chúa Ki-Tô, châm lửa và thiêu sống vị Thánh tử đạo vĩ đại nhất, hoàn hảo nhất này.” [4]
Năm 1616, kính thiên văn đầu tiên của Galilei đă làm cho ṿm trời trong Thánh Kinh rớt ra từng mảng. Công cuộc khảo cứu của Galileo Galilei dựa trên sự quan sát thiên văn qua hàng loạt những kính thiên văn ngày càng tân kỳ hơn, đă thực chứng quan niệm của Bruno và đồng thời khẳng định thuyết của Copernicus như là một chân lư khoa học. Chúng ta đă biết, năm 1633, dưới triều Giáo Hoàng Urban VIII, ṭa án xử dị giáo đă buộc Galilei phải sửa đổi khám phá khoa học của ông cho phù hợp với Thánh Kinh, nghĩa là mặt trời quay xung quanh trái đất, và dù vậy ông ta vẫn bị biệt giam tại nhà cho đến khi chết vào năm 1642.
![]() |
![]() |
Chuyện được kể như sau:
"Năm 1633, khi Galileo, dựa trên những dữ kiện khoa học không thể phủ nhận, đoan quyết trong một cuốn sách khảo cứu thiên văn của ông rằng: không phải là mặt trời quay xung quanh trái đất mà chính là trái đất quay xung quanh mặt trời, th́ ông bị kéo ra trước ṭa án dị giáo của giáo hoàng Urban VIII, vốn là bạn của Galileo. Khi đó ông đă già, gần chết. Giáo hoàng phán: "Trước khi chết, ngướ hăy sửa lại điều trên v́ nó ngược lại với thánh kinh. Bất cứ điều nào ngược với thánh kinh đều đương nhiên sai lầm, v́ thánh kinh là lời của Thượng Đế”.
Galileo là một khoa học gia vĩ đại, dù đă 80 tuổi, sắp chết, nhưng vẫn c̣n đầy đủ óc khôi hài tuyệt vời. Ông nói: "Không thành vấn đề, tôi sẽ sửa lại lời tôi viết, tôi sẽ viết lại trong sách của tôi đúng như lời Thượng Đế đă viết trong thánh kinh - nghĩa là mặt trời quay xung quanh trái đất. Nhưng có một điều tôi cần tŕnh ngài rơ: cả trái đất lẫn mặt trời đều không đọc sách của tôi. Và sự thực th́, trái đất sẽ tiếp tục quay xung quanh mặt trời. Nếu ngài nhất định muốn biết tại sao th́ tôi có đầy đủ bằng chứng. Tôi đă dùng cả đời tôi để nghiên cứu vấn đề này, và những người có đầu óc khoa học đều tuyệt đối đồng ư với sự khám phá của tôi. Trước sau ǵ rồi ngài cũng phải đồng ư v́ không ai có thể chống lại sự thực lâu dài”. [5]
Tuy vậy Galileo vẫn bị buộc phải sửa đổi sự thực khoa học ông đă viết trong sách, bị kết án là "lạc đạo" và bị biệt giam tại nhà cho đến khi ông chết, năm 1642. Nhưng lời tiên đoán của ông đă thành sự thực, tuy hơi chậm. Phải mất … 359 năm sau, ngày 29 tháng 10 năm 1992, khi mà bất cứ học sinh tiểu học nào trên thế giới cũng đều đă biết trái đất quay quanh mặt trời, th́ giáo hoàng John Paul II mới tuyên bố vụ án Galileo là một “sai lầm” và phục hồi danh dự cho Galileo, sau khi một ủy ban gồm những bộ óc thượng thặng của toà thánh nghiên cứu trong 13 năm về vấn đề Galileo. Trong ḍng thời gian vô tận, 359 năm cũng chẳng phải là lâu. Và, 13 năm dùng để nghiên cứu một vấn đề mà đối với toàn thế giới đă rơ như ban ngày từ mấy trăm năm nay phải chăng phản ánh thực chất của những bộ óc thượng thặng đang ngự trị trong Ṭa Thánh Vatican? Thú nhận sai lầm trong vụ án Galileo Ṭa Thánh đă thú nhận là cuốn Kinh Thánh không đáng tin cậy v́ có nhiều sai lầm trong đó. Thật vậy, qua nghiên cứu của nhiều học giả th́ cuốn Kinh Thánh của Ki Tô Giáo, thực ra là của Do Thái, chứa rất nhiều sai lầm về thần học và khoa học, và phần lớn là những điều “không thể đọc được”, nhất là đối với trẻ dưới 18 tuổi.
Trong
cuốn “Những vị Thần cuối cùng của Huyền Thoại: GiaVê và Giêsu”
(“Mythology’s Last Gods: Yahweh and Jesus”, p. 16), Tiến sĩ William Harwood,
một tín đồ CaTô đă tỉnh ngộ và bỏ được một niềm tin sai lầm sau khi nghiên cứu
lịch sử các tôn giáo trong đế quốc La Mă và khám phá ra rằng “bí tích” ăn thịt
uống máu Chúa (Eucharist) mà ông đă tin và thọ hưởng cái bí tích rùng rợn này
hàng tuần và trong nhiều năm, đă có từ 3000 năm trước khi Giêsu ra đời, và rằng
các Thần hay Thượng Đế (Gods) chỉ là những sản phẩm tưởng tượng của con người (Dr.
Harwood..discovered that the “god-eating” ritual in which he participated weekly
as a believing Christian had existed three thousand years before Jesus’ birth.
Not for three years, however, could he fully abandon the disproved beliefs to
which he had been emotionally committed, and acknowledge that gods are as
imaginary as fairies),
đă viết:
“Người ta đă khám phá ra rằng, từng quyển một trong Thánh Kinh đều chứa những sai lầm về sự kiện, những phỏng đoán không chính xác, những kỹ thuật làm hợp lư hóa, những điều tiên tri về những sự việc đă xảy ra, ghép với những điều tiên tri về tương lai đă được chứng tỏ là không chính xác, và không c̣n sai lầm ǵ nữa là chứa những lời nói láo cố ư. Nếu sự khám phá này được phổ biến tới đại chúng th́ cái huyền thoại Do Thái – KiTô đă bị quật nhào bởi một cơn gió lốc khó có hi vọng phục hồi. [Quần chúng càng ngày càng biết nhiều hơn về sự kiện này. TCN]
Trước nguy cơ bị loại bỏ này, Giáo Hoàng đương thời (John Paul II) bổ nhiệm một số sử gia của chính ông ta để khảo sát những kết luận về Thánh Kinh của những sử gia thế tục và t́m ra trong những bằng chứng của họ những sơ hở mà Giáo Hoàng tin rằng thể nào cũng phải có. Kết quả là những sử gia của Giáo Hoàng cũng phải xác nhận là cuốn Thánh Kinh của Ki Tô Giáo thực ra chỉ là một ảo tưởng sai sự thực. Họ phúc tŕnh kết quả lên Giáo Hoàng, và khi Ngài lập tức dẹp bỏ cái phúc tŕnh này đi th́ họ không c̣n là tín đồ CaTô nữa. Rồi Giáo Hoàng ra lệnh cho bộ máy tuyên truyền của Ngài phát minh ra một phương pháp luận khác để đánh đổ phương pháp của những sử gia trên, một phương pháp luận được tạo ra với mục đích rơ rệt là phải đi đến kết luận là cuốn Thánh Kinh của Do Thái – KiTô không phải là một tác phẩm hoang đường, không cần để ư đến chuyện phải xuyên tạc những bằng chứng đến cỡ nào để đi tới mục đích trên. Cái phương pháp luận đó là “Thần học”…
Đó là quyền lực của chính trị Thần quyền của thế giới mà, mặc dù đă có hàng ngàn tác phẩm nghiên cứu và bài khảo cứu phủ bác toàn bộ Thánh Kinh Do Thái – KiTô, cho tới ngày nay, 90% dân chúng trong những xă hội mà tôn giáo chính là KiTô Giáo không hề biết đến sự hiện hữu của những bằng chứng bất khả phủ bác là quyển Thánh Kinh chỉ là một tác phẩm giả tưởng.” [6]
Ngoài ra, cùng thời với Galilei c̣n có nhà thiên văn và toán học người Đức là Johannes Kepler. Không những Kepler đồng ư với Copernicus và Galilei mà ông c̣n đưa ra 3 định luật về cơ học các thiên thể (celestial mechanics) để mô tả một cách vô cùng chính xác sự chuyển động của các hành tinh, trong đó có trái đất, xung quanh mặt trời. Đó là:
1. Quỹ đạo của các hành tinh quay xung quanh mặt trời là h́nh ellip (bầu dục) thay v́ h́nh tṛn.
2. Các hành tinh quét những khoảng không gian bằng nhau trong những khoảng thời gian bằng nhau.(Nghĩa là tùy theo vị trí của hành tinh trên quỹ đạo ellip, vận tốc chuyển động của hành tinh khác nhau)
3. B́nh phương chu kỳ quay T (thời gian quay được một ṿng quỹ đạo) th́ tỷ lệ thuận với lập phương khoảng cách trung b́nh R giữa hành tinh và mặt trời. (T^2 tỷ lệ thuận với R^3).
Kepler cũng bị Ṭa Thánh chỉ trích, hành hung và bắt bớ giam cầm trong nhiều năm, nhưng các khoa học gia khác như Descartes, Fermat, Newton v...v...đều ủng hộ ông cùng góp phần phát minh ra những khám phá mới. Rút cục, giáo hội Ca-Tô chỉ c̣n biết đưa ra sắc lệnh lên án các kết quả khảo cứu của Copernicus và Galilei là sai lầm, thí dụ như:
"Điểm thứ nhất, nói rằng mặt trời là trung tâm và không quay xung quanh trái đất, là điên rồ, vô nghĩa, sai lầm về thần học, và là tà thuyết v́ trái ngược hẳn với Thánh Kinh; và điểm thứ hai, nói rằng trái đất không phải là trung tâm mà lại quay xung quanh mặt trời , là vô nghĩa, sai lầm về triết lư, và ít nhất từ quan điểm thần học, đối nghịch với chân tín ngưỡng" [7]
và cấm các giáo sĩ và con chiên đọc sách của Copernicus và Galilei.
Lệnh cấm này kéo dài suốt 278 năm cho tới năm 1821 mới được Giáo Hoàng Pius VII thu hồi. Nhưng cấm th́ cứ cấm, giới trí thức cùng người dân đọc th́ vẫn cứ đọc. Dần dần quyền hành tôn giáo ở Âu Châu không c̣n địa vị độc tôn và giữ quyền sinh sát như trước nữa, v́ cuộc cách mạng khoa học và các phát triển khoa học về sau trong mọi ngành, nhất là về nhân chủng học và di truyền học, và phương pháp định tuổi của vật chất bằng phóng xạ đồng vị của Carbon và của vài nguyên tố khác đă làm sụp đổ tận gốc rễ thuyết sáng tạo trong Thánh Kinh, căn bản tín ngưỡng của Công giáo . Đó là ảnh hưởng trực tiếp to lớn của cuộc cách mạng khoa học trên xă hội Tây phương. Ngày nay, những người c̣n tin ở thuyết sáng tạo là do ḷng tin lập thành trong tôn giáo chứ không phải ḷng tin qua suy lư khoa học.
Thế Kỷ 18: Thời Đại Của Lư Trí và Khai Sáng (The Age of Reason & Enlightenment)
Thế kỷ 18 nổi tiếng với những triết gia như David Hume, Thomas Paine và những nhà đại văn hào của Pháp như Voltaire, Victor Hugo v..v…
Giữa thế kỷ 18, Voltaire đă nhận định: “vô thần là thói xấu của một số ít những người thông minh” (Atheism is the vice of a few intelligent people) để đối chiếu với số đông những người “hữu thần” ngu dốt tin nhảm tin nhí vào một thần trong thời đó ở Âu Châu, tuyệt đại đa số là tín đồ Ki-Tô Giáo, Ca-tô Giáo cũng như Tin Lành.
![]() David Hume |
![]() Thomas Paine |
![]() Voltaire (François-Marie Arouet) |
![]() Victor Hugo |
Victor Hugo cũng đưa ra hai nhận định rất nổi tiếng trong thời đó:
“Chỉ có hai tội phạm: César và Phê-rô (Peter) César th́ giết người (hủy diệt thân xác), Phê-rô th́ nói láo (hủy diệt tư duy của con người). Người linh mục đă, hoặc có thể, bị thuyết phục và thành thật [tin vào những điều mê tín hoang đường]. Chúng ta có nên trách họ không? Không! Chúng ta có nên chống họ không? Nên!”
(Il n'y a que deux coupables, César et Pierre; César qui tue, Pierre qui ment. Le prêtre est, ou peut être, convaincu et sincère. Doit-on le blâmer? Non. Doit-on le combattre? Oui.)
“Nền văn minh, ánh sáng này, có thể bị tắt đi bởi hai cách nhận ch́m nó, hai sự xâm lăng nguy hiểm đối với nó: sự xâm lăng của các quân lính và sự xâm lăng của các linh mục. Sự xâm lăng của các quân lính đe dọa mẹ chúng ta: tổ quốc; sự xâm lăng của các linh mục đe dọa con chúng ta: tương lai.”
(La civilisation, cette lumière, peut être éteinte par deux modes de submersion, deux invasions lui sont dangereuses, l’invasion des soldats et l’invasion des prêtres. L’une menace notre mère: la patrie; l’autre menace nos enfants: l’avenir)
Thomas Paine xuất bản cuốn Thời Đại Của Lư Trí làm ba phần, vào những năm 1794, 1785, và 1807. Nội dung phê b́nh chỉ trích định chế tôn giáo của Ki Tô Giáo và chất vấn về tính chính đáng (legitimacy) của cuốn Kinh Thánh. Ông ta vạch ra sự đồi bại của Giáo hội Ki Tô [corruption of the Christian Church] và chỉ trích những nỗ lực của Giáo hội để có những quyền lực chính trị. Paine cổ vơ việc sử dụng lư trí thay v́ tin vào mặc khải, bác bỏ mọi phép lạ trong Ki Tô Giáo và coi cuốn Kinh Thánh như là một văn phẩm b́nh thường chứ không phải là một cuốn sách linh khải bởi thần thánh. Ảnh hưởng của Thomas Paine thấy rơ trong những nhà tư tưởng tự do (freethinkers) trong những thế kỷ 19 và 20, điển h́nh là trong những tác phẩm của Christopher Hitchens.
Đến cuộc cách mạng của người dân Pháp vào năm 1789, trong đó người dân Pháp đă nh́n Ca-tô Rô-MaGiáo như là một hiểm họa cho quốc gia và đă có những biện pháp cực đoan đối với Giáo hội Ca-tô ở Pháp. Theo Linh mục Ḍng Tên Malachi Martin, Giáo sư tại Viện Nghiên Cứu Thánh Kinh Của Giáo Hoàng, và đă phục vụ trong Vatican dưới triều Giáo hoàng John XXIII th́: Pháp, Trưởng Nữ của Giáo Hội Ca-tô Rô-ma, trong cuộc Cách Mạng 1789, đă chính thức đưa Lư Trí lên bàn thờ Chúa, đă tàn sát trên 17000 Linh Mục, 30000 Nữ Tu và 47 Giám Mục, và đă dẹp mọi Trường Ḍng, Trường Học Ca-tô, những Ḍng Tu, đốt phá nhà thờ, thư viện của Giáo hội v..v.. [Xin đọc The Decline and Fall of The Roman Church trang 196: “France, “eldest daughter of the Church”, enthroned Reason officially as supreme deity, massacred over 17,000 priests and 30,000 nuns as well as 47 bishops, abolished all seminaries, Catholic schools, religious orders, burned churches and libraries...”]
Nước Pháp vào thế cuối thế kỷ 18 có thể gọi là toàn ṭng Ca-tô. Nền giáo dục quốc gia nằm trong tay giới giáo sĩ. Nếu Ca-tô Giáo thực sự là một lực lượng tinh thần của dân chúng, nếu Ca-tô Giáo là một “hội thánh” được chỉ đạo về luân lư đạo đức bởi các giới giáo sĩ và nữ tu, nếu Ca-tô Giáo thực sự mang phúc lợi đến cho quốc gia v..v.. , th́ tại sao lại lại có thể xảy ra những vụ tàn sát như trên trong cuộc cách mạng 1789? Câu trả lời thật là đơn giản. V́ Ca-tô Giáo là một hiểm họa của quốc gia. Chúng ta có thể nhận rơ hiểm họa này qua vài hành động của giới trí thức Pháp vào thời đó.
Chúng ta khó có thể quên Léon Gambetta, một chính trị gia lỗi lạc của Pháp, trong phong trào hô hào đoàn kết quốc gia, đă hét lên “một lời tuyên chiến”: “Chế độ Giáo sĩ đặc quyền, đó là kẻ thù” (Le cléricalisme, voilà l'ennemi).
Và Émile Combes, một nghị sĩ đă phát biểu giữa nghị viện Pháp:
Không phải là chúng ta tấn công tôn giáo mà là những giáo sĩ của nó, những người muốn dùng tôn giáo làm một công cụ để thống trị.
(Ce n'est pas à la religion que nous attaquons, c'est à ses ministres, qui veulent s'en faire un instrument de domination).
Và Jean Bossu khi tranh đấu cho nền dân chủ của Pháp đă tuyên bố:
Chống chế độ giáo sĩ đặc quyền là nền tảng căn bản của tinh thần dân chủ. Đối với chúng ta, chế độ giao sĩ đặc quyền chính là Giáo hội, chính là Chủ thuyết Ca-tô mà từ trước tới nay luôn luôn là kẻ thù của mọi sự tự do.
(L'anticléricalisme est la base fondamentale de l'esprit démocratique. Pour nous, le cléricalisme, c'est l'Église, c'est le Catholicisme, qui a toujours été l'adversaire de toute liberté).
Tại sao các nhà trí thức Pháp lại chống Ca-tô Rô-MaGiáo một cách quyết liệt như vậy. V́ qua nhiều thế kỷ, giới trí thức Pháp đă biết rơ bản chất thực sự của Ca-tô Rô-MaGiáo, không như đám quần chúng kém hiểu biết ở trong thế giới thứ ba và trong những nước kém phát triền, đám quần chúng vẫn c̣n tin vào một đấng siêu nhiên, phép lạ, những điều mê tín, và những ǵ không thể có được [who still believe in the supernatural, the miraculous, the superstitious, and the impossible]
Các trí thức Pháp đă nhận thức được sự quan trọng của một nền giáo dục khai phóng, tiến bộ, yêu nước, cho nên họ đă cương quyết chống lại nền giáo dục của giáo hội Ca-tô trên nhiều phương diện, và họ đă thành công, qua cuộc cách mạng 1789, trong mục đích “Giật con em ra khỏi bàn tay giáo dục của những linh mục, vạch trần những sự đạo đức giả của Giáo hội.” (Arracher l’enfant au moine, dévoiler les hypocrisies de l’Église). Họ lên án Ca-tô Giáo, như lời tuyên bố của Charles Dupuy, Bộ Trưởng Giáo Dục Pháp: “Không thể nhân nhượng trong chiều hướng giáo dục tự do, cho bất cứ ai lại có thể dạy dỗ những đứa trẻ để chống lại tổ quốc của chúng và cản sự tiến bộ của chúng” (Il nous parait intolérable qu’à la faveur de la liberté d’enseignement, qui que ce soit élever les enfants contre leur pays et contre leur temps).
Chúng ta biết rằng, “dạy dỗ những đứa trẻ để chống lại tổ quốc của chúng và cản sự tiến bộ của chúng” chính là hai sắc thái đặc thù của Ca-tô Rô-MaGiáo trong các trường học Ca-tô trên khắp thế giới, đặc biệt trong thời thịnh hành của chế độ Thực Dân như ở Việt Nam và các nước trong thế giới thứ ba.
Thế Kỷ 19: Thời Đại Của Các Hệ Thống Tư Tưởng (The Age of Ideology)
Thế kỷ 19 có ba vĩ nhân làm thay đổi bộ mặt của Ki Tô Giáo qua những nghiên cứu khoa học và xă hội: Charles Darwin, Karl Marx, và Robert G. Ingersoll. Charles Darwin là một khoa học gia người Anh, Karl Marx là một triết gia người Đức, c̣n Robert G. Ingersoll là một nhà tư tưởng tự do (freethinker) nổi tiếng nhất của nước Mỹ. Charles Darwin sinh năm 1809, Karl Marx, 1818, và Ingersoll, 1833.
Darwin:
Năm 1859, Charles Darwin cho ra đời cuốn Về Nguồn Gốc Các Chủng Loại Do Chọn Lọc Tự Nhiên (On the Origin of Species By Means of Natural Selection). Then chốt của thuyết này là ở phần cuối tên cuốn sách: “Chọn Lọc Tự Nhiên”. Chỉ hai chữ “Chọn lọc” (Selection) đă bác bỏ một lư luận chống đối rất kém của Ki Tô Giáo, cho rằng tiến tŕnh Tiến Hóa là do sự ngẫu nhiên hay t́nh cờ, để bác bỏ.
![]() |
![]() |
Charles Darwin là người Anh nên sự chống đối bắt đầu từ bên Anh với giám mục Samuel Wilberforce ở Oxford. Giám mục Wilberforce lên án Darwin phạm tội “có khuynh hướng giới hạn sự vinh quang của Thiên Chúa (God) trong sự sáng tạo” (Guilty of “a tendency to limit God’s glory in creation”); rằng “nguyên lư chọn lọc tự nhiên th́ tuyệt đối không tương hợp với lời của Thiên Chúa” (the principle of natural selection is absolutely incompatible with the word of God); rằng nguyên lư này “đối ngược với sự mạc khải về những mối liên hệ giữa sự sáng tạo và đấng sáng tạo” (contradicts the revealed relations of creation to its Creator); rằng thuyết này “không phù hợp với sự tràn đầy vinh quang của Thiên Chúa” (inconsistent with the fullness of His glory); rằng có một “giải thích đơn giản hơn về sự hiện diện của những dạng kỳ lạ trong những tác phẩm của Thiên Chúa – sự giải thích đó là “sự sa ngă của Adam”” (a simpler explanation of the presence of these strange forms among the works of God – that explanation being “the fall of Adam”). Rơ ràng là đầu óc của ông giám mục này, và có lẽ của đa số các giám mục khác trong thời đó, cũng như đầu óc của những tín đồ hạ căn cuồng tín ngày nay, điển h́nh là Mục sư Rick Warren, tác giả cuốn “The Purpose Driven Life”, không chứa được cái ǵ khác ngoài những điều tin nhảm tin nhí vào Thánh Kinh, cho rằng tất cả những lời “mạc khải” của Thiên Chúa, do những người của một dân tộc du mục trong thời bán khai, Do Thái, viết trong Thánh Kinh, tất nhiên phải là những chân lư.
Rồi đến Hồng y Manning lên tiếng tuyên bố “căm thù quan điểm mới về thiên nhiên” (declared his abhorrence of the new view of Nature), và mô tả quan điểm này là “một triết lư thô bạo – nghĩa là, không làm ǵ có Thiên Chúa, và con khỉ là Adam của chúng ta” (a brutal philosophy – to wit, there is no God, and the ape is our Adam). Manning không hiểu thuyết Tiến Hóa cho nên mới viết nhảm: “con khỉ là Adam của chúng ta” nghĩa là tổ tiên loài người là khỉ.
Một mục sư Tin Lành, phó giám đốc viện “chống khoa học “nguy hiểm”” (institute to combat “dangerous” science), tuyên bố là lư thuyết của Darwin là “một toan tính truất ngôi Thiên Chúa” (an attempt to dethrone God).
Nhiều vị lănh đạo Ki Tô Giáo khác đă lên án Darwin là chủ trương “Thiên Chúa đă chết” (God is dead); “Nếu thuyết của Darwin đúng th́ chuyện sáng thế là láo khoét, toàn thể cuốn sách về sự sống tan ra từng mảnh, và sự mạc khải của Thiên Chúa cho con người, mà người Ki Tô chúng ta biết, là một ảo tưởng và một cái bẫy” (If the Darwinian theory is true, Genesis is a lie, the whole framework of the book of life falls to pieces, and the revelation of God to man, as we Christians know it, is a delusion and a snare).
Giới giáo sĩ Ki Tô Giáo ở khắp nơi tiếp tục lên tiếng chống đối thuyết Tiến Hóa trong nhiều năm liền, và sự chống đối này lan sang nhiều nước Ki Tô khác ở Âu Châu như Pháp, Đức, Ư v..v..và lan sang cả Mỹ và Úc. Chúng ta có thể đọc những lời chống đối tương tự ở các quốc gia trên, thí dụ như: “lên án Darwin là không tin vào Thiên Chúa” (Infidelity); là “vô thần” (atheist); hoặc “Nếu giả thuyết này đúng th́ Thánh Kinh chỉ là một chuyện giả tưởng không thể dung thứ được.. như vậy trong gần 2000 năm nay các tín đồ Ki Tô đă bị lừa dối bởi một lời nói láo vĩ đại.. Darwin đ̣i hỏi chúng ta không nên tin vào lời đầy quyền năng của Đấng Sáng Tạo” (If this hypothesis be true, then is the Bible an unbearable fiction..then have Christians for nearly two thousand years been duped by a monstrous lie..Darwin requires us to disbelieve the authorative word of the Creator); “Thuyết Tiến Hóa trái ngược với những điều rơ ràng trong Tân Ước cũng như Cựu Ước: Nếu tất cả chúng ta, người và khỉ, ṣ và chim ưmg, đều phát triển từ một mầm gốc, th́ lời tuyên bố vĩ đại của Thánh Paul: “Không phải mọi sinh vật đều có cùng một loại xương thịt, có một loại cho người, một loại khác cho thú vật, một loại khác cho cá, và một loại khác cho chim” – là sai bét” (The evolution theory is as contrary to the explicit declarations of the New Testament as to those of the Old – If we have all, men and monkeys, oysters and eagles, developed from an original germ, then is St. Paul’s grand deliverance – “All flesh is not the same flesh; there is one kind of flesh of men, another of beasts, another for fishes, and another for birds” – untrue); “Tạo trong những độc giả một sự không tin vào Thánh Kinh” (to produce in their readers a disbelief of the Bible); “một biếm họa chế giễu sự sáng tạo” (a caricature of creation); “đuổi đấng Sáng Tạo ra khỏi cửa” (turned the Creator out of doors); “quyết tâm săn đuổi Thiên Chúa ra khỏi thế giới” (resolved to hunt God out of the world); “hoàn toàn không phù hợp với Thánh Kinh” (utterly inconsistent with the Scriptures); “không biết đến sự thiết kế trong việc sáng tạo của Thiên Chúa là truất ngôi Thiên Chúa” (to ignore design as manifested in God’s creation is to dethrone God); “một Thiên Chúa vắng mặt, không làm ǵ cả, đối với chúng ta là không có Thiên Chúa” (an absent God, who does nothing, is to us no God); “thuyết tiến hóa và thuyết sáng tạo trong Thánh Kinh về nguồn gốc con người không thể nào ḥa hợp với nhau được” (evolutionism and the scriptural account of the origin of man are irreconciable); “không biết đến Chúa Cha và không tuân theo phúc âm của con ông ta (nghĩa là Chúa Con = Giê-su)” (know not God and obey not the gospel of his Son); “nếu thuyết của Darwin đúng th́ không có chỗ nào cho Thiên Chúa” (if the Darwinian view is true, there is no place for God) v..v..
Trước những sự chống đối thuyết Tiến Hóa của Ki Tô Giáo dựa trên niềm tin tuyệt đối vào sự không thể sai lầm của Thánh Kinh, Herbert Spencer, một khoa học gia cùng thời với Darwin, đă đưa ra một lời phê b́nh sắc bén:
“Những người dũng cảm như hiệp sĩ bác bỏ thuyết Tiến Hóa v́ thuyết này không có đầy đủ sự kiện chứng minh có vẻ như quên rằng thuyết Sáng Tạo của họ không được chứng minh bởi bất cứ một sự kiện nào .” [8]
Thứ ba, điểm đặc biệt nhất ở đây là chính những luận cứ của Ki Tô Giáo chống đối thuyết Tiến Hóa đă quật ngược lại họ một cách không thể cứu văn, do đó cái đường thẳng “tin Chúa” của Ki Tô Giáo chỉ c̣n có thể cúi đầu khuất phục đi theo cái đường cong Tiến Hóa như linh mục ḍng Tên Teillard de Chardin nhận định. Thật vậy, như trên chúng ta đă biết, những luận cứ chống đối như:
· “Nếu thuyết của Darwin đúng th́ chuyện sáng thế là láo khoét, toàn thể cuốn sách về sự sống (cuốn Thánh Kinh) tan ra từng mảnh, và sự mạc khải của Thiên Chúa cho con người, mà người Ki Tô chúng ta biết, là một ảo tưởng và một cái bẫy”;
· “Nếu giả thuyết này đúng th́ Thánh Kinh chỉ là một chuyện giả tưởng không thể dung thứ được.. như vậy trong gần 2000 năm nay các tín đồ Ki Tô đă bị lừa dối bởi một lời nói láo vĩ đại.. Darwin đ̣i hỏi chúng ta không nên tin vào lời đầy quyền năng của Đấng Sáng Tạo”;
· “Nếu thuyết của Darwin đúng th́ không có chỗ nào cho Thiên Chúa”
· “Thuyết Tiến Hóa trái ngược với những điều rơ ràng trong Tân Ước cũng như Cựu Ước”
Ngày nay, nhân loại đă có câu trả lời thích đáng: “Thuyết Tiến Hóa đúng, là một quá tŕnh thiên nhiên, là một sự kiện (fact) không ai có thể phủ bác, và không c̣n cần phải bàn căi nữa.” Và lẽ dĩ nhiên, câu trả lời này kéo theo những sự kiện (facts) khác, kết luận từ những luận điệu chống đối nêu trên:
· “Chuyện sáng thế là láo khoét, toàn thể cuốn sách về sự sống (cuốn Thánh Kinh) đă tan ra từng mảnh, và sự mạc khải của Thiên Chúa cho con người, mà người Ki Tô biết, là một ảo tưởng và một cái bẫy”
· “Thánh Kinh chỉ là một chuyện giả tưởng không thể dung thứ được.. và trong gần 2000 năm nay, các tín đồ Ki Tô đă bị lừa dối bởi một lời nói láo vĩ đại..”
· “Không có chỗ nào cho Thiên Chúa” [ở trong thế giới của chúng ta ngày nay. TCN]
· “Thuyết Tiến Hóa đúng, vậy Thánh Kinh (Cựu Ước & Tân Ước) phải sai.”
Marx:
Trước khi nói đến Karl Marx có lẽ chúng ta cũng cần biết qua Marx là người như thế nào?
1835: Marx vào Đại Học Bonn học Luật.
1836: Marx đổi sang học Luật tại Đại Học Friedrich-Wilhelms-Universität ở Berlin.
1836-38: Marx học Luật, Triết Lư, Lịch Sử, Anh Ngữ và Pháp Ngữ ở Berlin.
1839-41: Marx nghiên cứu Triết Lư Hi Lạp và viết Luận Án Tiến Sĩ. Tốt nghiệp Ph.D. năm
1840 với luận án so sánh lư
thuyết nguyên tử của Democritus và Epicurus
![]() |
![]() |
Ở đây tôi xin miễn kể ra những tác phẩm của Marx mà cả thế giới đă phải để tâm nghiên cứu và được dạy trong mọi đại học danh tiếng trên đất Mỹ.
Vị trí của Marx trong số những tư tưởng gia vĩ đại của thế giới là như thế nào?
1. “Theo kết quả thăm ḍ ư kiến thính giả đài BBC Radio 4 trong tháng 7, 2005 th́, trong số 20 tư tưởng gia được biết đến, kính trọng, và có ảnh hưởng nhiều nhất, Marx lại được coi như là một triết gia vĩ đại nhất của mọi thời đại”??. [BBC Press Release: 13-7-2005: Out of a shortlist of twenty of the best known, most respected and influential philosophical thinkers, nominated by the In Our Time audience, Karl Marx has been voted the Greatest Philosopher of all time by BBC Radio 4 listeners.] Theo bảng kết quả th́ David Hume, một nhà nhân bản, xếp hạng 2, Nietzshe hạng 4, Kant hạng 6, và Aquinas của Ki-tô Giáo hạng 7.
2. “Kết quả chọn vĩ nhân của Đức Quốc, với con số tham dự trên 5 triệu người, Karl Marx đứng hàng thứ 3 trong 100 ứng viên, Albert Einstein đứng hàng thứ 10 ( www.unserebesten.zdf.de).
Lạ nhỉ, cả thế giới trí thức này đều không đủ tŕnh độ để bài bác Marx như những “lư thuyết gia” Mít nửa mùa, dỏm, kiến thức ăn đong, tự phong trên Internet như Minh Vơ, Đỗ Thái Nhiên, Trương Minh Ḥa, Trần Mạnh Hảo v…v… và v…v...
Ở đây tôi không bàn đến vấn đề người ta đă áp dụng chủ thuyết Marx đúng hay sai trong những bối cảnh lịch sử địa phương. Tôi cũng không bàn đến lư thuyết về “kinh tế chính trị” (political economy) đă tạo nên những ảnh hưởng to lớn trên các xă hội Tây phương như thế nào, thí dụ như thành lập nghiệp đoàn, thiết lập những quyền lợi của công nhân v…v…. Nội dung bài này là viết về những ảnh hưởng đưa đến sự suy thoái của Ki Tô Giáo. Không thể phủ nhận là Marx đă chống tôn giáo, đúng ra là Ki Tô Giáo của Tây phương. Khi Marx nói “tôn giáo là thuốc phiện” th́ tôn giáo đây là Ki Tô Giáo mà Marx biết rơ chứ không phải nói về mọi tôn giáo
Nhiều nhà thần học CaTô cũng đă nghiên cứu về ư chí chống tôn giáo của Marx, điển h́nh là sự phân tích của Linh mục John Courtney Murray, một nhà Thần Học Ca Tô nổi danh thuộc hiệp hội Giê-Su (S.J. = Society of Jesus), trong cuốn "Vấn nạn về Gót" ("The Problem of God", Yale University Press, New Haven & London, 1964). Tôi đă tóm tắt sự phân tích này trong bài “Phật Giáo Việt Nam Giữa Hai Ư Hệ Công và Cộng”, đăng trên giaodiem.com trước đây. Ở đây tôi chỉ nói đến kết quả của sự phân tích này.
Qua mấy điểm phân tích của Linh Mục Murray về luận cứ chống tôn giáo của Marx, chúng ta thấy rằng cái tôn giáo mà Marx muốn chống là cái tôn giáo độc Thần trong các xă hội tư bản, phong kiến, cái tôn giáo đă liên kết với thế quyền và tư bản để bóc lột dân vô sản qua sách lược lừa dối, dụ dỗ, ru ngủ, hứa hẹn những điều không tưởng, cái tôn giáo trong đó giới giáo sĩ được hưởng những đặc quyền vật chất, ngự trị trên sự qụy lụy của đa số giáo dân sống trong nghèo khổ, chứ không phải là các tôn giáo Đông phương như Phật Giáo, Khổng Giáo, Lăo Giáo mà Marx không hiểu ǵ và không hề có kinh nghiệm ǵ về những tôn giáo này. Thật vậy, Marx chủ trương đánh bật vị "“Gót” trong Thánh Kinh" ra khỏi đầu óc con người. Đây cũng là chủ thuyết nhân bản, v́ thực tế cho thấy rằng, chỉ có con người mới giúp được con người, mới thay đổi cải tiến được xă hội, thay đổi được lịch sử, chứ không phải là một “Gót” luôn luôn vắng mặt. Chúng ta c̣n nhớ chuyện một nông dân Mỹ, trong một năm được mùa, được ông linh mục xứ khuyên hăy cảm tạ Thiên Chúa đă “giúp con được mùa”. Nông dân Mỹ trả lời: “Thưa Cha, con phải đổ ra bao nhiêu mồ hôi công sức mới được như vậy. Nếu phó mặc cho Thiên Chúa th́ đồng lúa của con chỉ có toàn là cỏ dại.” Óc thực tế của người Mỹ hiểu biết là như vậy.
Nói tóm lại, quan điểm tôn giáo của Marx chủ trương bác bỏ một “Gót” của Ki Tô Giáo, một “Gót” có những thuộc tính không xứng đáng với một “Gót” nếu thực sự là “Gót”. Marx muốn loại bỏ một “Gót” bất xứng như vậy ra khỏi đầu óc con người, v́ một “Gót” như vậy chỉ có tác dụng làm tê liệt đầu óc con người như thuốc phiện. Kết quả lư thuyết Marx đă làm cho người dân Âu Châu thức tỉnh phần nào, vứt đi cặp nạng Thiên Chúa, và đưa Ki Tô Giáo vào con đường suy thoái không có cách nào cứu văn. Hiện tượng này thật là rơ rệt, không những chỉ ở Âu Châu, cái nôi của Ki Tô Giáo, mà c̣n ở khắp nơi trên thế giới, kể cả Bắc Mỹ. Cho nên không lạ ǵ khi chúng ta thấy Ki Tô Giáo, nhất là Ca-tô Rô-MaGiáo, rất tích cực chống Marx qua sách lược mượn CS, cũng như đă mượn CS để chống vô thần trong khi vô thần đă có từ ít ra là 2000 năm chứ không chỉ xuất hiện từ khi có Marx.
Ingersoll :
Robert G. Ingersoll là một nhân vật rất đặc biệt trong lịch sử Hoa Kỳ. Ông ta mang cấp bậc Đại Tá trong cuộc nội chiến, và sau đó làm Chưởng Lư (Attorney General), bang Illinois. Tượng kỷ niệm Ingersoll hiện nay c̣n ở Periora, Illinois. Chỉ cần vào Google, đánh chữ Robert G. Ingersoll là chúng ta có thể thấy tất cả những ǵ chúng ta muốn biết về ông ta.
![]() |
![]() |
Tượng kỷ niệm Ingersoll ở Periora, Illinois
Ingersoll là nhà tư tưởng tự do [a freethinker] nổi danh nhất nước Mỹ, một chiến sĩ tiền phong trong chủ trương giải phóng đầu óc con người khỏi những cùm xích của vô minh và mê tín Ki Tô Giáo (free men’s minds from the shackles of ignorance and Christian superstition). Trong công cuộc giải hoặc Ki Tô vào cuối thế kỷ 19, khi mà các nhà lănh đạo Ki Tô Giáo c̣n nhiều quyền thế và người dân c̣n trong ṿng mê tín, Ingersoll đă phải đối diện với rất nhiều nguy hiểm. Ông ta đă bị bôi bẩn, nhục mạ, vu khống, chụp mũ, chế giễu, xa lánh, tẩy chay và đe dọa đến tính mạng (He was maligned, insulted, slandered, libeled, caricatured, shunned, ostracized, and his life threatened.) Nhưng ông ta đă không thoái lui, đứng vững như bàn thạch. Và ông ta đă đi rất nhiều nơi để thuyết tŕnh. Điểm đặc biệt là muốn nghe ông thuyết tŕnh phải trả 2 đô-la (vào khoảng 1890) cho mỗi đầu người, nhưng bao giờ pḥng cũng đông nghẹt người. Nhiều giáo dân đă bỏ đi lễ nhà thờ để đến nghe ông thuyết tŕnh “chống đạo” của họ. Điều này làm Ki Tô Giáo lo sợ. Chúng ta hăy đọc một đoạn Joseph Lewis viết về Ingersoll:
“Khi thế giới tôn giáo nhận thức được sự nguy hiểm của Ingersoll, họ tập hợp những cỗ trọng pháo của họ để chống ông ta (Ingersoll).
Từ hàng ngũ tôn giáo, những người có khả năng nhất được tuyển mộ. Những sự khác biệt tôn giáo được quên đi – Tin Lành và Ca Tô trở thành những “chiến hữu” đồng vai sát cánh chống kẻ thù chung. Dưới ngọn cờ Giê-su Ki Tô chỉ có một tiếng hô xung trận – “Phải tiêu diệt Ingersoll, không th́ chúng ta thua”.
Những tướng lănh trang bị giáp phục và tiến tới cuộc chiến.
Những cỗ đại pháo hướng về ông ta.
Mở đầu là một ông “cảnh sát”, viên Chưởng Lư của chính phủ Hoa Kỳ: Jeremiah S. Black. Rồi tới con chó sói mang lốt con cừu, hiền ḥa và ăn nói nhỏ nhẹ – giáo sĩ Henry M. Field. Những câu trả lời nhỏ nhẹ của ông này chứa đầy chất độc của sự phẫn nộ tôn giáo. Sau đến Ngài William E. Gladstone – Thủ Tướng Anh, đại diện dân sự cho Tin Lành, tôn giáo của quốc gia. Khi sự chuyên chế của quốc gia cộng chung với sự đạo đức giả của giáo hội, chúng ta có một thí dụ hiện đại về hai con chim kền kền song sinh đă từng xâu xé con người, quyền của con người, qua nhiều thời đại. Sau cùng, nhưng không kém phần quan trọng, là Hồng Y Manning. Chưa từng bao giờ mà giáo hội Ca Tô bị một đ̣n nặng đến chết (such a death blow) như vậy. Viên chức cao cấp nói tiếng Anh lưu loát này của giáo hội đă bị bẽ mặt và nhục nhă.
Ingersoll đă đánh đổ tất cả những người này.
Họ bị tan tành như những cọng cỏ bị cắt bởi máy cắt cỏ.
Với kiến thức dạt dào tuôn ra về vũ trụ và những định luật vận hành trong đó một cách chính xác, với những câu hỏi về lôgic không thể trả lời nổi, với sự hiểu biết Thánh Kinh nhiều hơn là những đối phương thuộc giới giáo sĩ, và với sự hùng hồn vô tiền khoáng hậu, những kẻ thù của Ingersoll đă được bỏ lại trên băi chiến trường – thương tích trầm trọng – chỉ c̣n những tiếng thở hắt ra.
Họ không bao giờ c̣n kiếm chuyện với Ingersoll nữa. Họ đă thấm đ̣n quá đủ. Họ không c̣n muốn đối đầu với Ingersoll nữa.” [9]
Một số bài đặc sắc của Ingersoll như “Những Lời Châu Ngọc Về Cuốn Kinh Thánh” và “Những Lời Châu Ngọc Về Ki Tô Giáo” đă được dịch và đưa lên trang nhà Giao Điểm trước đây.
Thế Kỷ 20: Thời Đại Phân Tích (The Age of Analysis)
Thế kỷ 20 là thế kỷ với những tiến bộ vượt bực về kiến thức của nhân loại trong mọi lănh vực. V́ có quá nhiều khám phá trong mọi bộ môn kiến thức của nhân loại, cho nên chúng ta không thể kể ra hết. Sau đây tôi chỉ kể vài sự kiện liên quan đến chủ đề của bài viết này: Sự Suy Thoái Của Ki Tô Giáo.
- 1912, Leawitt khám phá ra sự tương quan giữa chu tŕnh Cepheid (hiện tượng ngôi sao mới đầu sáng, rồi mờ đi, rồi lại sáng trở lại, và cứ tiếp tục thay đổi đều đặn như vậy) và độ sáng [Khám phá này về sau được áp dụng để tính ra khoảng cách của một ngôi sao đối với trái đất.]
- 1927, Thuyết Big Bang về nguồn gốc vũ trụ. Xin đọc: http://www.sachhiem.net/TCN/TCNkh/TCNkh00.php
- 1929, Hubble khám phá ra rằng các thiên hà càng ngày càng di chuyển ra xa. [Khám phá này kiểm chứng thuyết Big Bang về nguồn gốc vũ trụ]
- 1953, Watson và Crick mô tả cái thang xoắn của DNA.
- 1965, Arno Penzias và Robert Wilson ở trung tâm khảo cứu của hăng Bell (Bell Research Laboratories), ḍ ra được bức xạ nền (background radiation), một loại âm thanh vi sóng vô tuyến thuần nhất trong vũ trụ (microwave radio noise coming uniformly from all over the sky), di tích của Big Bang đă được Gamow tiên đoán từ thập niên 1940.
- 1975, máy điện toán cho cá nhân (personal computer) được tung ra thị trường.
- 1992, Internet mang đến mạng lưới thông tin toàn cầu
- 1992, vệ tinh COBE (COsmic Background Explorer) của cơ quan thám hiểm không gian Hoa Kỳ (NASA) đă ḍ ra được những vân trong bức xạ nền với những sai biệt đúng như sự tiên đoán của các khoa học gia. Thuyết Big Bang không c̣n là một thuyết nữa mà trở thành một sự kiện khoa học (scientific fact) và cả thế giới đều công nhận sự kiện này về nguồn gốc của vũ trụ.
- 1994, khám phá ra một ông tổ của loài người cách đây 4.4 triệu năm [4.4 million-year-old human ancestor is found]
- 1996, con cừu Dolly được con người “sáng tạo” theo phương pháp “cloning” [tạo sinh vô tính?]
- Đó là chưa kể ngày nay y học đă tiến bộ đến mức thay được những cơ quan trong người như thận, gan, tim v..v…
-
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
Chỉ cần những khám phá trên mà thôi cũng đă đủ để phá đổ toàn bộ thuyết sáng tạo của Ki Tô Giáo trong đó Thượng đế của Ki Tô Giáo mới sáng tạo ra vũ trụ và con người cách đây khoảng 6000 năm, một thế giới thường hằng không bao giờ thay đổi, và con người theo h́nh ảnh của Thượng đế mà Thượng đế, sau khi nặn ra từ đất sét, đă tự khen là tác phẩm của ḿnh rất tốt đẹp (very good). Ngoài ra Mạng Thông Tin Toàn Cầu (Worl Wide Web) đă giúp cho con người t́m hiểu bất cứ vấn đề ǵ và những sự thật về Ki Tô Giáo không c̣n có thể che dấu được nữa.
Nhưng không phải chỉ có vậy. Hai cuộc Thế Chiến: 1914-1918 và 1941-1945, và cuộc chiến Triều Tiên, cuộc chiến Việt Nam, với những thảm cảnh, tàn phá con người cũng như vật chất của chiến tranh, và vô số những thiên tai v..v… đă khiến cho con người trong những xă hội Ki-tô phải đặt câu hỏi: Nếu có một “Gót” rất mực nhân từ, toàn năng [nghĩa là làm ǵ cũng được], toàn trí, th́ tại sao nhân loại lại phải gánh chịu những thảm họa như vậy?
Trước sự tiến bộ trí thức của nhân loại như trên, Ki Tô Giáo bắt buộc phải suy thoái, v́ căn bản Ki Tô Giáo là một tôn giáo thuộc loại mê tín nhất thế gian, nhốt tuyệt đại đa số tín đồ vào một “đức tin” (faith) không cần biết không cần hiểu. Nhưng sự tiến bộ trí thức của nhân loại đă khiến cho không ít tín đồ và một số các vị lănh đạo Ki Tô Giáo nhận ra sự thật cay đắng này. Những niềm tin căn bản của Ki Tô Giáo nói chung, ví dụ như chuyện Thiên Chúa sáng tạo ra vũ trụ trong 6 ngày cách đây khoảng 6000 năm, chuyện vườn địa đàng Eden, Adam và Eve sa ngă tạo nên tội tổ tông, Chúa Giê-su sinh ra từ một nữ trinh, bị đóng đinh trên thập giá chết đi rồi sống lại sau ba ngày và rồi 40 ngày sau đó bay lên trời ngồi bên phải của Chúa Cha, khả năng chuộc tội và cứu rỗi của Giê-su v..v.., tất cả đều không c̣n chỗ đứng trong giới hiểu biết và trí thức ngày nay. Bởi vậy nên một số các bậc lănh đạo trong Ki Tô Giáo cũng như một số học giả trí thức Ki Tô Giáo đă cố gắng nghiên cứu, viết sách, tŕnh bày sự thật để giáo dục những tín đồ Ki Tô Giáo đáng thương của họ. Điều này đă góp phần lớn trong sự suy thoái của Ki Tô Giáo trên thế giới. Sau đây là vài kết quả nghiên cứu điển h́nh của họ.
Tín đồ Ki-Tô Giáo tin vào Giê-su như là đấng cứu rỗi cho họ. Do đó, Giám Mục James A. Pike, Trưởng Ban Tôn Giáo, Đại Học Columbia [Chairman of the Department of Religion, Columbia Universsity], đă nhận định:
…TRONG THỜI HIỆN ĐẠI, TÔN GIÁO CỦA NHIỀU NGƯỜI RẤT CÓ THỂ ĐƯỢC XẾP VÀO LOẠI “ĐẠO GIÊ-SU”
(Bishop JAMES A. PIKE: IN MODERN TIMES THE RELIGION OF MANY COULD WELL BE CATEGORIZED AS “JESUSISM”) [A Time For Christian Candor, p. 108]
Vậy trước hết chúng ta hăy t́m hiểu Giê-su là con người như thế nào. Sau đây là một số nhận định của các học giả Tây Phương, ở trong cũng như ở ngoài các Giáo hội Ki-Tô:
Russell Shorto đă viết trong cuốn Sự Thật Của Phúc Âm (Gospel Truth) như sau:
Điều
quan trọng nhất là, tác động của quan điểm khoa học ngày nay đă khiến cho các
học giả, ngay cả những người được giáo hội Ca-Tô bảo thủ cho phép nghiên cứu,
cũng phải đồng ư là phần lớn những điều chúng ta biết về Giê-su chỉ là huyền
thoại… Các học giả đă biết rơ sự thật từ nhiều thập niên nay – rằng Giê-su
chẳng ǵ khác hơn là một người thường sống với một ảo tưởng – họ đă dạy
điều này cho nhiều thế hệ các linh mục và mục sư. Nhưng những vị này vẫn giữ
kín không cho đám con chiên biết v́ sợ gây ra những phản ứng xúc động dữ dội
trong đám tín đồ. Do đó, những người c̣n sống trong bóng tối là những tín đồ Ki
Tô b́nh thường.
[10]
Đối với một số học giả trong ngành phân tâm học th́ những điều Giê-su tự nhận như: “con duy nhất của Thiên Chúa”, “có khả năng chuộc tội cho nhân loại”, “đấng cứu thế”, “sẽ trở lại trần phán xét thiên hạ trong tương lai rất gần thời Giê-su” v..v.. đều là những ảo tưởng của một người bị bệnh tâm thần, mắc bệnh chứng hoang tưởng (paranoia). Bệnh chứng này bắt nguồn từ một nguồn gốc lư lịch không mấy tốt đẹp của Giê-su [là đứa con hoang], một tâm cảnh cuồng tín tôn giáo của Giê-su khi ông đọc và tuyệt đối tin những điều trong Cựu Ước, sinh ra nhiều ảo giác và tự cho ḿnh những quyền năng thần thánh, vai tṛ cứu thế, rửa sạch tội lỗi của dân tộc Do Thái để dân tộc này làm lành với Thượng đế v..v.. Đó là kết luận của những nhà phân tâm học như các bác sĩ George de Loosten, William Hirsch, Binet-Sanglé, Tiến sĩ Emil Rasmussen v..v..
Giám Mục John Shelby Spong, trong cuốn Sinh Ra Từ Một Người Đàn Bà: Một Giám Mục Nghĩ Lại Chuyện Sinh Ra Đời Của Giê-su (Born of a woman: A Bishop Rethinks The Birth of Jesus, Harper, SanFrancisco, 1992) đă đưa ra nhận xét, trang 41:
Giê-su đă được “ sinh ra từ một người đàn bà”. Nguồn gốc sinh ra đời của Giê-su
cũng gây nhiều tai tiếng như cách ông ta chết. Ông ta
(Giê-su) không là ai cả, một đứa trẻ ở Nazareth, chẳng có ǵ tốt đẹp có thể
rút tỉa ra từ sự sinh ra đời này. Chẳng có ai biết cha ông ta là ai.
Rất có thể ông ta là một đứa con hoang. Rải rác trong miền đất truyền thống
Ki Tô lúc đầu (4 Phúc Âm), có những chi tiết chứng tỏ như vậy, giống như
những thỏi ḿn chưa kiếm ra và chưa nổ. [11]
Ngoài ra, Giám mục John Shelby Spong, sau khi nghiên cứu Tân ước, đă đưa ra thêm một nhận định khác về Giê-su như sau:
Có những đoạn trong bốn Phúc Âm mô tả Giê-su ở Nazareth như là một con người thiển cận, đầy hận thù, và ngay cả đạo đức giả.
(There are passages in the Gospels that portray Jesus of Nazareth as narrow-minded, vindictive, and even hypocritical).
Và Jim Walker cũng viết trên Internet trong bài Chúng Ta Có Nên Kính Ngưỡng Giê-su Không? (Should We Admire Jesus?):
Giê-su trong Thánh Kinh có xứng đáng với vinh dự mà người ta đă ban cho ông ta hay không? Bất hạnh thay, những người giảng đạo, mục sư, và giáo sĩ đă giảng cho chúng ta những câu chuyện với thành kiến một phía, nhấn mạnh và thổi phồng những điều mà họ thấy là tích cực và dẹp bỏ hoặc bỏ qua những điều tiêu cực. Nền học thuật về Thánh Kinh trong trăm năm nay không được những người thường biết đến. Trong khi đó th́, chúng ta thấy những mục sư và nhà truyền đạo trên TV chính trị đă khẳng định những điều vô nghĩa trong Thánh Kinh mà không bị ai đặt vấn đề trách nhiệm của họ. Tuy trên 90% gia đ́nh ở Mỹ có một cuốn Thánh Kinh, thường là không đọc đến, hoặc nhiều nhất là làm nhẹ bớt hoặc lược bỏ khi muốn nói về Thánh Kinh.
Nhiều tín đồ Ki-Tô-giáo không hề biết đến là nhiều đoạn trong các Phúc Âm trong Tân Ước, Giê-su được mô tả như là một con người đầy hận thù, xấu xa, bất khoan dung, và đạo đức giả. [12]
Đó là những nhận định về con người thật của Giê-su như được viết trong Tân Ước. Bây giờ chúng ta hăy sang phần cốt tủy đức tin trong Ki Tô Giáo: Quyền năng “cứu rỗi” của Giê-su.
Nhận rơ được tính chất hoang đường, vô tác dụng, lỗi thời của “bí tích rửa tội”,
của vai tṛ “chuộc tội” và “cứu rỗi” của Giê-su, nên trong cuốn Tại Sao Ki Tô
Giáo Phải Thay Đổi Không Th́ Chết (Why Christianity Must Change or Die),
Giám mục John Shelby Spong đă dành riêng chương 6 để viết về đề tài Giê-su
Như Là Đấng Cứu Thế: Một H́nh Ảnh Cần Phải Dẹp Bỏ (Jesus as Rescuer: An
Image That Has To Go). Quư đọc giả có thể đọc bài trên trong trang nhà Sách
Hiếm:
http://www.sachhiem.net/TCN/TCNtg/TCN37.php Trong chương này, Giám Mục Spong
viết như sau, trang 98-99:
“Nhân loại chúng ta không sống trong tội lỗi. Chúng ta không sinh ra trong tội lỗi. Chúng ta không cần phải rửa sạch cái t́ vết tội tổ tông trong lễ rửa tội. Chúng ta không phải là những tạo vật sa ngă, mất đi sự cứu rỗi nếu chúng ta không rửa tội. Do đó, một đấng cứu thế có nhiệm vụ khôi phục t́nh trạng trước khi sa ngă của chúng ta chỉ là một sự mê tín trước thời Darwin và một sự vô nghĩa sau thời Darwin.” [13]
Và trong cuốn “Thiên Chúa Vẫn Sống: Từ Sợ Hăi Tôn Giáo Đến Tự Do Tâm Linh” (God Lives: From Religious Fear To Spiritual Freedom, Steven J. Nash Publishing, IL., 1993), trang 114, Linh mục James Kavanaugh cũng đưa ra nhận xét sau đây về tín điều “chuộc tội” trong Ca Tô Giáo:
“Đối với bất cứ người nào trong thế giới cổ xưa đứng trước Thiên Chúa như là một nạn nhân bất lực, tin rằng ḿnh là một người có tội một cách vô vọng, coi Thiên Chúa như là một ông quan ṭa giận dữ không thể tới gần được, cái chết có tính cách hi sinh của đức Ki Tô là một huyền thoại với đôi chút thực tế. Nhưng đối với con người hiện đại, nó chẳng c̣n ư nghĩa ǵ mấy trừ khi hắn đă bị làm cho sợ hăi và tẩy năo một cách thích hợp từ khi mới sinh ra đời. Đối với hắn, hắn là một nạn nhân tuyệt đối thụ động của sắc luật của Thiên Chúa trong Thánh Kinh. Đối với tôi, đó là một huyền thoại “cứu rỗi” thuộc thời sơ khai miêu tả một người cha lấy cái chết của chính con ḿnh để bớt đi cơn giận dữ. Đó là một chuyện ác độc không thể tưởng tượng được…
Tôi chấp nhận sự kiện là đức Ki Tô đă chết, ngay cả chuyện ông ta bị đóng đinh trên thập giá. Nhưng tôi không thể chấp nhận huyền thoại cho rằng cái chết của ông ta là để chuộc tội cho tôi. Huyền thoại cứu rỗi như được viết trong Tân Ước chỉ là một lối diễn giải. Đó là một huyền thoại của thời sơ khai, bản chất của nó tương đương với nhiều huyền thoại cứu rỗi của nhiều dân tộc trong thời sơ khai ở khắp mọi nơi, nhưng nó lại độc ác một cách không tưởng hơn là hầu hết các huyền thoại khác. Nó phản ánh một thế giới mà con người có thể làm nguôi cơn giận của những thần sấm sét trong một cơn giông tố. Ngày nay, chó và mèo vẫn c̣n sợ sấm sét, nhưng con người th́ ngồi yên trong nhà và hiểu rơ cái hiện tượng thiên nhiên đang xảy ra…
Tôi sẽ không chấp nhận cái huyền thoại về một Chúa Cha khắt khe đối xử với chính con của ḿnh, Giêsu, bằng một công lư vô t́nh cảm, và đ̣i hỏi con ḿnh phải chết trên thập giá cho những tội lỗi của tôi. Cái huyền thoại này cũng chẳng trở thành hấp dẫn hơn v́ Chúa Cha đă làm cho con sống lại, đội mồ mà lên một cách vinh quang. Tôi không thể yêu mến một người cha như vậy hoặc phải biết ơn một người con như vậy trong một câu chuyện mượn từ một câu chuyện truyền tụng của nền thần học Do Thái cổ lỗ và thay đổi nó đi. Tôi không hề yêu cầu Giêsu phải chịu khổ thay cho tôi và ngay cả muốn ông ta làm như vậy…” [14]
Quư đọc giả có thể đọc toàn bài “Huyền Thoại Cứu Rỗi” (The Salvation Myth) của Linh mục James Kavanaugh trên: http://www.sachhiem.net/TCN/TCNtg/TCN36.php.
Nhưng không phải chỉ có những huyền thoại về “chuộc tội” và “cứu rỗi” của Ki Tô Giáo đă bị dẹp bỏ mà hầu hết những tín điều mà tín đồ Ki Tô tin cũng đă không c̣n chỗ đứng trong thế giới ngày nay. Chúng ta hăy đọc vài nhận định của các bậc lănh đạo trong Ki Tô Giáo nói chung:
Trong cuốn "Theo Đúng Như Trong Sách: Những Thảm Họa Trong Quá Khứ Và Hiện Tại Của Quyền Lực Thánh Kinh" (Going By the Book: Past and Present Tragedies of Biblical Authority), Mục sư Ernie Bringas, tốt nghiệp môn thần học tại đại học United Theological Seminary ở Dayton, Ohio, nhận định rằng:
Với
sự tái khám phá phương pháp khoa học trong thế kỷ 16 ở Âu Châu và sự tiến triển
tiếp theo của thời đại Khai sáng trong thế kỷ 18, một sự phân tích Thánh Kinh
một cách thuần lư hơn là điều không thể tránh được. Trong một thế giới đang trở
thành hướng theo tinh thần khoa học, những mô tả về Chúa đi trên sóng, về ma
quỷ, thiên thần, những câu chuyện về sự sống lại của Chúa, và nhiều hiện tượng
khác, càng ngày càng khó có thể chấp nhận như là những sự thực lịch sử.
Trong những năm 1835-1836, cuốn "Khảo Sát Cặn Kẽ Về Đời Sống của Giê-su" (The Life of Jesus Critically Examined) của D. F. Strauss đă quy một số chuyện trong Tân Ước là "huyền thoại" và định nghĩa những câu chuyện phi lịch sử như trên là sự biểu thị của một chuỗi những ư tưởng tôn giáo. Ngày nay, kết quả những cuộc nghiên cứu phân tích tiếp tục hỗ trợ và xác nhận sự khẳng định này. Đa số các học giả coi những chuyện trong Tân Ước và bảy giáo lư giáo hội đưa ra sau đây đều là huyền thoại:
1. Đức Mẹ đồng trinh
2. Hiện thân của Chúa (Thượng đế hiện thân thành người, Thượng đế là Giê-su.)
3. Nhiệm vụ cứu rỗi của Chúa
4. Sự sống lại của Chúa.
5. Sự thăng thiên của Chúa (Thân xác Chúa bay lên trời 40 ngày sau khi sống lại)
6. Chúa trở lại trần (để làm sống lại những người chết cho ngày phán xét cuối cùng)
7. Ngày phán xét cuối cùng (Chúa Cha phán xét luận tội mọi người trong ngày Giê-
su trở lại trần thế) [15]
Đúng vậy, thực chất của Ki Tô Giáo đă được các học giả nghiên cứu kỹ trong ṿng 200 năm gần đây, bác bỏ mọi huyền thoại mà Ki Tô Giáo dựng lên, những chuyện thuộc loại hoang đường, mê tín cổ xưa đó bắt buộc phải ra khỏi đầu óc của con người, nhường chỗ cho những sự kiện khoa học và những thực tế xă hội.
Một
cuốn sách điển h́nh về hiện tượng giải hoặc Ki Tô Giáo này là của Uta
Ranke-Heinemann, người phụ nữ duy nhất trên thế giới chiếm được ngôi vị giáo sư
thần học Ca-Tô của giáo gội Ca-Tô [the first woman in the world to hold a chair
of Catholic theology], cuốn “Hăy Dẹp Đi Những Chuyện Trẻ Con” (Putting
Away Childish Things, HarperCollins, 1995). Những chuyện trẻ con nào? Đó là
những tín lư căn bản của Ca-Tô Giáo:
- “Tư cách thần thánh của Chúa Ki Tô” [The divinity of Christ]
- “Sinh ra từ một nữ trinh” [The Virgin mother]
- “ngôi mộ trống”[Empty Tomb]
- “Ngày Thứ Sáu tốt đẹp”[ Easter, Good Friday]
- “Phục sinh”[ Resurrection]
- “Thăng Thiên” [Ascension]
- “Bị hành quyết để chuộc tội” [Redemption by execution]
- “Hỏa ngục” [Hell].
Tác giả trích dẫn câu 1 Corinthians 13:11 ở ngay đầu cuốn sách: “Khi tôi c̣n là một đứa trẻ, Tôi nói như một đứa trẻ, tôi hiểu như một đứa trẻ, tôi nghĩ như một đứa trẻ; Nhưng khi tôi trở thành một người trưởng thành, tôi dẹp bỏ những chuyện của trẻ con” [When I was a child, I spoke as a child, I understood as a child, I thought as a child; But when I became an adult, I put away childish things.]
Trong cuốn Một Ki Tô Giáo Mới Cho Một Thế Giới Mới (A New Christianity For A new World), xuất bản năm 2001. Giám Mục Spong liệt kê ra 5 tín điều căn bản của Ki Tô Giáo như sau:
- Thánh Kinh là những lời mạc khải của Thiên Chúa.
- Tư cách thần linh của Giê-su v́ sinh ra từ một Nữ Trinh.
- Cái chết của Giê-su là để chuộc tội cho nhân loại, và máu của Giê-su là năng lực cứu rỗi (saving power of his blood).
- Thân xác Giê-su sống lại. Ngôi mộ trống là một sự thật cũng như chuyện Giê-su hiện ra sau khi chết.
- Giê-su sẽ trở lại để phán xét nhân loại.
Và Giám mục Spong đưa ra nhận định như sau:
Ngày nay, tôi thấy những tín lư căn bản này mà chúng ta thường hiểu theo truyền thống, không những chỉ là ngây ngô mà c̣n có thể phải dứt khoát loại bỏ. Trong thế hệ của chúng ta, không một tín điều nào ở trên được các học giả Ki Tô danh tiếng xác nhận. [16]
Một khi mà chính những bậc lănh đạo có thẩm quyền trong Ca-tô Rô-MaGiáo như giáo sư thần học Uta Ranke-Heinemann, Linh mục James Kavanaugh v…v… và nhiều bậc lănh đạo khác trong Ki Tô Giáo như Giám mục John Shelby Spong, Mục sư Ernie Bringas v..v…, và một số học giả Ki Tô Giáo đă nhận thức được rằng, những tín lư mà nền thần học Ki Tô Giáo tạo ra về Giê-su chỉ là những huyền thoại, những chuyện để cho trẻ con tin, hoặc cho những người lớn có đầu óc ở tŕnh độ của trẻ con, và viết sách để mở mang kiến thức của các tín đồ Ki Tô trong những xă hội Âu Mỹ, th́ tất nhiên Ki Tô Giáo phải suy thoái. Chúng ta không thể lên án họ đều là những người “chống đạo”. Có thể những tín đồ Ca-Tô Việt Nam ngày ngày ca tụng “Đức Thánh Cha” của họ không tin là cái đạo cao quư của ḿnh lại có thể suy thoái một cách trầm trọng như vậy, và họ rất hănh diện là tín đồ Ca-Tô Việt Nam vẫn giữ vững đức tin, kiên tŕ đi trong đường hầm để bảo tồn những niềm tin đă bị phế thải ở Âu Mỹ. Nhưng không tin là một chuyện, c̣n t́nh trạng suy thoái thực sự của giáo hội Ca-Tô hoàn vũ lại là một chuyện khác.
Sau đây là một số tài liệu điển h́nh nói về t́nh trạng suy thoái của Ki Tô Giáo nói chung, Ca-Tô Rô-maGiáo nói riêng, trên khắp thế giới. Đây là những tài liệu nghiên cứu, thống kê của các tác giả Tây Phương trong đó có một số linh mục và tín đồ Ki Tô Giáo. Không có một tài liệu nào của Cộng Sản hay của Phật Giáo Việt Nam. Tôi chỉ tŕnh bày những tài liệu sau đây với tư cách của một người đă nghiên cứu về tôn giáo và trong lănh vực học thuật (scholarship), những tài liệu mà tôi cho rằng trong thời đại ngày nay, không có lư do ǵ người dân Việt Nam, nhất là những tín đồ Ca-Tô ở Việt Nam, không được quyền biết, mà trái lại v́ tương lai dân tộc, người dân cần phải biết như là một phần quan trọng của bộ kiến thức thời đại. Trước hết, chúng ta hăy điểm vài tài liệu trên vài cuốn sách đă xuất bản và trên báo chí.
Ngay từ năm 1983, Malichi Martin, một linh mục ḍng Tên, giáo sư tại Viện Nghiên Cứu Thánh Kinh của Giáo hoàng, tiến sĩ về khoa ngôn ngữ Do Thái, Khảo Cổ và Lịch Sử Đông Phương, đă viết trong cuốn “Sự Suy Thoái Của Giáo Hội Ca-Tô Rô Ma” [The Decline and Fall of the Roman Church], như sau, trang 1:
“Tiến
tŕnh bất ngờ và làm cho người ta phân vân nhất trong 20 năm gần đây là sự suy
thoái đột nhiên của giáo hội Ca-Tô Rô-ma trong tổ chức giáo quyền và trong lư
tưởng đồng nhất của giáo hội.
Với t́nh trạng ngày nay, có vẻ như không có một hi vọng hợp lư nào để cho sự suy thoái đó ngưng lại.. [Phù hợp với lời than của Benedict XVI ngày nay]
Những thống kê đáng tin cậy và những chi tiết khác thật là khủng khiếp cho đầu óc người Ca-Tô Rô-ma truyền thống. Khi vẽ trên một biểu đồ từ năm 1965 đến năm 1980, số linh mục, nữ tu (các sơ), huynh trưởng trong đạo, học sinh trung học, sinh viên đại học tư (của Ca Tô Giáo), số người rửa tội, vào đạo, lấy người cùng đạo, dự lễ ban thánh thể, xưng tội, thêm sức – mọi thống kê đáng kể hiện hữu - đều mô tả một sự suy giảm chúc đầu xuống không ngừng. Thêm vào những yếu tố chính trên là số tín đồ Ca Tô Rô-ma dứt khoát bác bỏ hoàn toàn giáo lư của Rô-ma về ly dị, ngừa thai, phá thai, đồng giống luyến ái, và Cộng sản.
Hơn nữa c̣n có một số yếu tố vô h́nh nhưng không kém phần quan trọng. Ví dụ, ngày nay không thể nào biết được là có bao nhiêu linh mục được phong một cách có giá trị [nghĩa là có đầy đủ giá trị về những quyền năng thần thánh mà nền thần học xảo quyệt của giáo hội đă tạo ra cho giới chăn chiên để nắm giữ đầu óc tín đồ, ví dụ như: có quyền gọi Thánh Linh bất cứ ở đâu đến phục vụ cho ông ta trong những màn pháp thuật được gọi là “bí tích”, có quyền rửa sạch cái tội tổ tông không hề có của một đứa bé mới sinh ra đời, có quyền tha tội cho ai th́ người ấy được tha, có khả năng biến một mẩu bánh làm bằng bột thành thân thể thực sự của Chúa v..v..]. V́ chắc chắn là nhiều giám mục phong chức linh mục cho các ứng viên không hề có ư định là tạo ra những linh mục với quyền năng thiêng liêng là ban thánh thể và tha tội cho những kẻ xưng tội, và nhiều ứng viên cũng không hề có ư định là sẽ nhận được những quyền năng như vậy. [17]
Malachi Martin viết không sai, giáo hội sống c̣n là nhờ vào mớ quyền năng tự tạo cho giới linh mục, khai thác sự yếu kém tinh thần và tŕnh độ hiểu biết của đa số giáo dân. Ngày nay, mớ quyền năng đó đă trở thành những màn bịp bợm mê tín nên ngay cả những tín đồ Ca-Tô b́nh thường cũng như những người trí thức trong giáo hội cũng không c̣n tin, trừ số tín đồ thấp kém ở dưới, nên trên thực tế, giáo hội đă chết.
Trong cuốn Những Giáo sĩ thừa sai (Missionaries) của Julian Pettifer và Richard Bradley, cuốn sách dựa trên một chương tŕnh TV 6 kỳ của đài BBC, nội dung nghiên cứu về lịch sử truyền giáo của Ki Tô Giáo nói chung trên thế giới, chúng ta có thể đọc được vài sự kiện như sau:
Trang
242: Âu châu đă trở thành “một mối bối rối, lúng túng cho Ki Tô Giáo”, một lục
địa mà nhà thần học Đức Kierkegaard đă gọi là lục địa của những “người ngoại
giáo đă được rửa tội”. Nói ngắn gọn, Âu châu, trong nhiều thế kỷ là cái nôi của
chương tŕnh truyền giáo Ki Tô đi khắp nơi, nay chính nó lại đă trở thành nơi
cần phải được truyền giáo.. Một số người nói rằng đây là một lục địa
“hậu-Ki-Tô”.
Theo Floyd McClung (một nhà truyền giáo Ki Tô) th́: Người ta e rằng nếu Âu châu cứ tiếp tục quay lưng lại Thượng đế th́ sẽ có ngày Thượng đế sẽ quay lưng lại Âu Châu.
Những nhà truyền giáo ngày nay tin rằng Âu Châu hiện ở trong nguy cơ bị lún sâu trong làn sóng thủy triều của chủ nghĩa thế tục. Họ cực lực phủ nhận đó là định mệnh tối hậu không thể tránh được của các quốc gia theo Ki Tô Giáo. [18]
Trang 244: Ở Anh Quốc: T́nh trạng vô Thượng đế ở Anh đuọc coi như là một sự truyền nhiễm trong giới lao động ở đô thị. Tuy rằng có những biệt lệ đáng kể, giới trung lưu vẫn c̣n là những người, nếu không phải là sợ Thượng đế th́ ít nhất cũng là những kẻ tiếp tục đi lễ nhà thờ... H́nh ảnh này đă hoàn toàn thay đổi. Sự truyền nhiễm đă tràn vào giới trung lưu sống ở ngoại thành, và ngay cả mạch sống của giáo hội, những giáo xứ ở miền quê, cũng đă bị nhiễm độc. Trong cuộc kiểm tra về ngày chủ nhật năm 1851, vào khoảng 40% dân chúng đi lễ nhà thờ. Một thế kỷ sau, 1951, số người đi lễ nhà thờ ngày chủ nhật vào khoảng gần 10%.
Các nhà thống kê tranh căi nhau về số tín đồ Ki Tô thuần thành ở Anh thấp như thế nào. Một số người cho rằng số người thường xuyên đi lễ nhà thờ chỉ là 4%. Tới năm 1986, 1/5 số 2870 nhà thờ Tin Lành ở Luân Đôn chỉ có cộng đồng tín đồ dưới 25 tín đồ; 3/4 có dưới 100 tín đồ.. Nhà thờ trên khắp nước Anh bị bỏ hoang vắng. Đặc biệt là ở Luân Đôn, sự biến cải nhà thờ thành một cơ sở khác là một dịch vụ kiếm lời lớn. Những đèn nhấp nháy để nhảy Disco soi sáng những khung cửa kính màu của một nhà thờ chính ở Luân Đôn, nhà thờ này đuọc đặt tên lại là Hộp Đêm Ánh Sáng; ở Barnsbury, Bromley-by-Bow, Ealing và Highgate, những nhà phát triển địa ốc đă biến những nhà thờ từ thời Victoria thành những căn nhà ở cho thuê; ở Wales, giáo phái Tin Lành Bresbyterian biến cải 300 nhà thờ thành những nhà ở cho những cặp vợ chồng trẻ đang trong cảnh khó khăn để mua được một căn nhà đầu tiên. Ở nhiều nơi khác, nhà thờ được dùng làm kho bán hạ giá bàn ghế tủ giường thảm, và làm tiệm ăn.
Tuy nhiên sự quan tâm về t́nh trạng suy sụp tâm linh ở Anh chẳng có nghĩa lư ǵ khi so sánh với Pháp. Theo nhà truyền giáo (Tin Lành) Mỹ David Barnes, mặc dù Pháp có một nền văn hóa phong phú, dân Pháp cũng “không biết đến Thượng đế như là những thổ dân thiếu văn minh ở trong những lục địa tối tăm nhất trên thế giới.” Trong số 54 triệu dân, chỉ có 0.22% theo Tin Lành. Tuy rằng 94% dân chúng được rửa tội theo Ca-Tô giáo, chỉ có 2% là thường đi lễ nhà nhờ ngày chủ nhật. Dù rằng Pháp chịu ảnh huỏng rất lớn của Ca-Tô giáo, Hội Truyền Giáo Đến Các Nơi Chưa Biết Đến Phúc Âm tuyên bố Pháp là miền đất phải được truyền giáo. [19]
Không
phải là ngày nay tín đồ Ki Tô Giáo mới ít đi nhà thờ, mà chuyện này đă xảy ra từ
thế kỷ 19 trong những nước văn minh tiến bộ. Bruce Bawer viết trong cuốn
Stealing Jesus, Three Rivers Press, New York, 1998, p. 164:
Trong thế kỷ 19, những người thuộc giai cấp cao, có học, và nhiều người thuộc mọi giai cấp, đă hàng loạt thôi không dự các lễ ở nhà thờ, để lại đàng sau một Giáo hội gồm hầu hết những kẻ ít học. Để xoa dịu t́nh cảm mê tín của những người c̣n lại này, Vatican đưa vào thêm những giáo lư mới về Mary đồng trinh, nghĩa là giáo lư về Thụ Thai Vô Nhiễm (1854) và Thăng Thiên của Mary (1950). Cả hai ư tưởng này - đối với một tín hữu có đầu óc th́ thật là vô nghĩa – không có căn cứ trên Phúc âm mà chỉ là ḷng mộ đạo dân gian. [20]
Và những thống kê mới nhất cũng cho chúng ta thấy t́nh trạng này. Trong tờ Chicago Tribune ngày 19 tháng 6, 2006, kư giả hải ngoại của tờ báo, Tom Hundley, có một bài tường tŕnh, đăng trên trang nhất, về t́nh trạng Ki Tô Giáo ở Âu Châu với chủ đề “Đức Tin Phai Nhạt: Sự Suy Thoái Của Ki Tô Giáo ở Âu Châu” (Fading Faith: The Decline of Christianity in Europe) trong đó có những đoạn như sau:
Ở Pháp và ở hầu hết các quốc gia khác ở Âu Châu, Ki Tô Giáo có vẻ như đang “rơi xuống tự do” không phương cứu văn [Christianity appears to be in a free fall: Tác giả dùng từ trong khoa học: “free fall”, có nghĩa là rơi xuống tự do, càng ngày càng nhanh mà không có ǵ ngăn cản lại]. Tuy 88% dân Pháp nhận ḿnh là tín đồ Công Giáo, chỉ có 5% đi lễ nhà thờ ngày chủ nhật, 60% nói rằng họ “không bao giờ” (never) hoặc “hầu như không bao giờ” (practically never) đi lễ nhà thờ [Đối với người Ca-Tô Việt Nam, họ bị dọa là không đi lễ nhà thờ ngày chủ nhật là một trọng tội, phải đày hỏa ngục, các “bề trên” dạy vậy, nên giáo dân Bùi Chu, Phát Diệm, Hố Nai, Gia Kiệm vẫn nườm nượp kéo nhau đi lễ nhà thờ ngày chủ nhật, và cả ngày thường, chứng tỏ tŕnh độ tôn giáo của giáo dân Việt Nam vượt trội hẳn tŕnh độ giáo dân Âu Châu và Mỹ Châu về mê tín, niềm hănh diện của giáo hội Ca-Tô Việt Nam trong sự tiếp tục tuân theo những giáo lư thuộc loại nhốt đầu óc tín đồ vào những ngục tù tâm linh, những giáo lư mà Âu Châu và Mỹ Châu đang dần dần phế thải]. Không c̣n phải bàn căi ǵ nữa, Ca-Tô Giáo đang đối diện với một cơn khủng khoảng nghiêm trọng… Một lễ ngày chủ nhật điển h́nh trên khắp nước Pháp là h́nh ảnh của một linh mục già nua trước một đám phụ nữ cũng già nua. Odon Vallet, giáo sư tôn giáo ở đại học Sorbonne nói: “Lễ Mi-sa thật là chán (Mass is boring), lễ tiết chẳng có ǵ hay (the ceremony isn’t beautiful), nhạc cũng tệ (music is bad), bài giảng không có ǵ hấp dẫn (the sermon is uninteresting).
Trong bài “Hăy giữ đức tin” (Keeping The Faith) trên tờ New York Times ngày 8 tháng 4, 2007, chúng ta có thể đọc được vài đoạn như sau:
Phong cảnh giáo hội ở Âu Châu – không chỉ là Giáo hội Ca Tô mà hầu như mọi h́nh thức tổ chức của Ki Tô Giáo – đang thay đổi nhanh như chớp.
Có những ông giám mục Âu Châu cảm thấy rằng họ không c̣n có thể nói về một Âu Châu Ki Tô Giáo mà không cảm thấy ḿnh đang mạ lỵ sự thông minh của quần chúng. [21]
Ngày nay, tín đồ Ki Tô Giáo Tây phương ít đi lễ nhà thờ v́ họ đă nhận thức được rằng, trong nhà thờ không có thiên đường mà chỉ có những bài giảng ngược thời gian và những giỏ thu tiền, để làm ǵ, giáo dân không có quyền biết. Nhưng chúng ta biết là Giáo hội Ca-tô thánh thiện đă phải bỏ ra trên 2 tỷ đô-la để bồi thường cho những nạn nhân t́nh dục của các linh mục, à quên, các “Chúa thứ hai”, can tội loạn dâm và ấu dâm.
Trên đây là vài tài liệu điển h́nh về sự suy thoái ở Âu Châu, đặc biệt là ở Anh và Pháp. Nhưng sự suy thoái không chỉ ở trong hai nước này mà c̣n ở trên khắp Âu Châu kể cả các quốc gia được gọi là Ca-tô như Ư, Tây Ban Nha, Ba Lan v…v… Tại sao vậy? V́ các quốc gia này đă nhận thức được hiểm họa của Ki Tô Giáo trong những nước văn minh, tiến bộ, dân chủ ngày nay.
Ở Mỹ, t́nh trạng Ki Tô Giáo nói chung, Ca-Tô Giáo Rô-ma nói riêng, cũng không sáng sủa ǵ hơn. Đức tin Ca-tô càng ngày càng suy giảm, linh mục và giáo dân bỏ đạo hàng loạt, các “bí tích” trở thành mất ư nghĩa, do đó giáo dân không chịu đi lễ nhà thờ ngày chủ nhật. Trong nhà thờ ngày chủ nhật chúng ta thấy phần lớn là những bộ mặt già nua và những giáo dân Mít, Mễ, và gốc Phi Châu. 60% tín đồ của hệ phái Tin Lành lớn nhất Methodist trên 50 tuổi. Một số nhà thờ, Ca-tô cũng như Tin Lành, được rao bán để người mua muốn sử dụng làm ǵ th́ làm, có nhiều trường hợp nhà thờ nay biến thành chùa. Nhiều trường học Ca-tô ở các địa phương đóng cửa v́ không đủ tài chánh để tiếp tục, nhưng giáo xứ vẫn có tiền bồi thường, thường là lên đến hàng triệu đô-la, cho các nạn nhân của các linh mục loạn dâm.
Tờ USA Today’s viết về sự suy thoái của Ki Tô Giáo ở Âu Châu nêu lên câu hỏi về tương lai [Ki Tô Giáo] ở Mỹ. Trong nhiều phương diện khác nhau, có vẻ như Mỹ sẽ theo gót gương của Âu Châu nhưng chậm hơn nhiều năm. Tuy nhiên nhịp độ thay đổi luân lư ở Mỹ có thể cho thấy rằng Mỹ sẽ nhanh chóng theo kịp mẫu thế tục của Âu Châu. [22]
Năm
1990, linh mục David Rice ḍng Đô-Mi-Nic xuất bản cuốn Lời Nguyện Tan Vỡ:
Linh Mục Bỏ Đạo (Shattered Vows: Priests Who Leave), đưa ra kết quả nghiên
cứu của ông sau khi đi khắp nơi tổng cộng 38 ngàn miles (khoảng 60 ngàn cây số)
để phỏng vấn và t́m hiểu đời sống của các linh mục bỏ đạo:
Một trăm ngàn ( 100 000 ) linh mục Ca-tô Rô-ma đă bỏ đạo trong 20 năm qua – cứ mỗi 2 giờ đồng hồ lại có hơn một linh mục ra đi. Hầu như phân nửa số linh mục Mỹ sẽ bỏ đạo – thường là để lập gia đ́nh – chưa tới 25 năm sau khi được tấn phong. Vatican không nói tới cuộc di dân này, nhưng đó chính là cuộc khủng khoảng nghiêm trọng nhất mà giáo hội phải đối diện, kể từ khi có cuộc Cải Cách tin Lành. [23]
Trong khuôn khổ bài viết này, tôi không có cách nào có thể đưa ra tất cả những h́nh ảnh suy thoái của Ki Tô Giáo trên thế giới. Đọc giả có thể đọc một bài khá đầy đủ chi tiết với nhiều con số thống kê trên http://www.sachhiem.net/TCN/TCNtg/TCN06.php về Thực Trạng Suy Thoái Của Ca-Tô và Tin Lành trên thế giới. Ở đây chỉ là vài trường hợp điển h́nh trong các nước trước đây được coi là đa số theo Ca-tô Rô-MaGiáo.
ÂU CHÂU:
London, UK:
Theo “Hiệp Hội Thế Tục Quốc Gia” có căn cứ địa ở Luân Đôn th́ hơn một trăm ngàn (100.000) người Anh đă vừa tải xuống “Giấy Chứng Nhận “Sửa Bỏ Rửa Tội”” từ mạng lưới toàn cầu trong một công bố từ bỏ đức tin Cơ Đốc Giáo của họ. [“Sửa Bỏ Rửa Tội” có nghĩa là chính thức sửa lại hồ sơ rửa tội theo pháp lư để bỏ đi hiệu lực của “bí tích rửa tội”]
Chủ tịch Hiệp Hội, Terry Anderson, nói rằng Hiệp Hội phát động sáng kiến “Giấy chứng nhận sửa bỏ rửa tội” trên Internet từ 5 năm trước để chế nhạo chuyện rửa tội con nít quá trẻ để đồng ư ưng thuận những lễ tiết tôn giáo. Trang nhà của Hiệp Hội gây cảm hứng cho những người vào đọc hăy ”tự giải phóng khỏi những lời lố lăng nguyên thủy để giải phóng họ ra khỏi cái Tội Tổ Tông mà họ chưa bao giờ có” và họ có thể in ra một tờ chứng nhận dùng loại ngôn ngữ giống như đúng nghi thức để “loại bỏ những giáo điều về rửa tội và những điều mê tín như vậy.”
Tây Ban Nha: [Spain]
Cả Âu Châu đă không c̣n đặt vấn đề về thuyết Tiến Hóa, và trong những quốc gia phi-Ki-tô th́ không có mấy người c̣n bận tâm đặt ra câu hỏi trên. Nhưng ngay cả những nước mà tuyệt đại đa số người dân nhận là theo Ca Tô giáo như Tây Ban Nha ngày nay cũng đă thức tỉnh. Báo Chicago Tribune ngày 8 tháng 2, 2009, có một bài của Christine Spolar viết về hiện tượng tách biệt tôn giáo và chính quyền ở Tây Ban Nha: “Separation of church and state at a crossroads in Spain; Crucifix removal in schools at heart of religious debate” Theo bài báo viết từ Barcelona th́ các trường học công cộng được lệnh phải cất bỏ những cây thập giá hoặc h́nh tượng Giê-su bị đóng đinh trên cây thập giá treo trên những bức tường của trường [Public schools are being told by judicial order to pull crucifixes from their walls]. Một ông Ṭa coi những h́nh tượng này là vi hiến – không có một tôn giáo nào được ngự trị ở Tây Ban Nha – và ra lệnh phải tháo bỏ chúng đi [A judge ruled the crosses violated the constitution—that no single religion should dominate in Spain—and ordered them removed.] Ngoài ra c̣n có những xe buưt (bus) trên có tấm bích chương lớn mang khẩu hiệu như “Có thể Thiên Chúa không hiện hữu” (Probablement Déu No Existex = Probably God doesn’t exist) đă chạy khắp thành phố [City buses with billboards espousing atheism have been rumbling through the streets here] Những chiếc xe bus được gọi là “vô thần” (godless buses) đó - dập theo một chiến dịch khởi sự ở bên Anh – đă xuất hiện ở Madrid và Malaga, Tây Ban Nha, và có kế hoạch sẽ xuất hiện ở nhiều nơi khác ở Âu Châu [The so-called godless buses — which copy a campaign begun in Britain — have appeared in Madrid and Malaga, Spain, and are planned for elsewhere in Europe.]

So-called godless buses, which carry a campaign begun in Britain,
have
been appearing in Barcelona. (Fernandez
/AP/January 12,
2009)
Ái nhĩ Lan: (Ireland)
Theo một bài báo trên christianpost.com:“Ki Tô Giáo Suy Thoái Ở Âu Châu – Tiếp Đến Là Mỹ?” [Christianity Recedes in Europe--Is America Next?, Thursday, August 18, 2005] th́:
Ngày nay người ta không thể không biết đến những thống kê về t́nh trạng thế tục hóa Âu Châu. Ái Nhĩ Lan, vẫn c̣n là một trong những nước ít thế tục nhất ở Tây Âu, đă thấy rằng số người đi lễ nhà thờ giảm ít nhất là 25% trong 30 năm qua. Lẽ dĩ nhiên, Ái Nhĩ Lan là nước hầu hết là theo Ca-Tô Giáo, nhưng bài báo ghi: “Không có một người nào sẽ được phong chức linh mục ở Dublin năm nay”[2005]
Về phía Tin Lành, h́nh ảnh cũng chẳng khá hơn. Thụy Sĩ, Đức, và Hà Lan, một thời đă là những cái nôi của phong trào Cải Cách Tin Lành, nay trở thành những thí dụ chính của Âu Châu thế tục.
Theo Trung Tâm Nghiên Cứu về Ki Tô Giáo toàn cầu, Chủng viện thần học Gordon-Conwell ở Boston, sự suy thoái của ảnh hưởng Ki Tô Giáo th́ rơ rệt nhất ở Pháp, Thụy Điển và Hà Lan, ở những nơi đây số người đi lễ nhà thờ là dưới 10% ở một số nơi. [24]
HOA KỲ:
Chicago, Illinois:
Mới đây, tháng 6/2010, ở Chicago đă xuất hiện những tấm bích chương của Hội Tự Do Ra Khỏi Tôn Giáo [Freedom From Religion Foundation], có trụ sở ở Wisconsin, khuyên mọi người “hăy ngủ kỹ trong những ngày Chủ Nhật” [nghĩa là đừng có bận tâm đi lễ nhà thờ] , và với khẩu hiệu “Không người nào phải cần đến Thiên Chúa để trở thành người tốt” [No one needs God to be good] đă xuất hiện trên các đường phố và dán trên những xe buưt công cộng.

Hăy ngủ kỹ
trong những ngày chủ nhật
Denver, Colorado:
Nước Mỹ ngày nay có khoảng 15-16% , nghĩa là khoảng từ 45 đến 48 triệu người vô thần. Trong lịch sử Hoa Kỳ trước đây, người vô thần bị kỳ thị trên mọi địa hạt, từ trong các công sở , trường học cho đến trong thương trường. Do đó rất ít người có can đảm nhận ḿnh là người vô thần. Nhưng ngày nay, những người vô thần đă mạnh dạn nói lên tiếng nói của họ, và v́ lư tưởng nhân bản của họ nên họ đă được xă hội chấp nhận. Ngày nay số người vô thần càng ngày càng tăng gia và họ đă có những hoạt động công khai bày tỏ tư tưởng của họ về Ki Tô Giáo.
Theo tin ở Denver, Colorado ngày 16 tháng 11, 2008, th́ Hội những người vô thần đă tung ra những bản bích chương dán trên nền màu xanh da trời và ghi, "Không tin vào Thiên Chúa? Bạn không cô đơn đâu."
Mười bảng bích chương sẽ cắm đầy xe buưt Denver, trong khi một bảng sẽ được dựng lên ở Colorado Springs. Và tổ chức vô thần có dự định phổ biến bảng này khắp nơi.

Không tin vào Thiên Chúa? Bạn không đơn độc đâu.
Qua một số nhỏ tài liệu trích dẫn ở trên, chúng ta thấy rằng hiện tượng suy thoái của Ki Tô Giáo trên thế giới là một sự kiện. Nhưng ở một vài địa phương ở Phi Châu và Á Châu, trong những vùng chậm tiến và nghèo khổ, nếu chỉ kể trên con số, Ki Tô Giáo lại có vẻ phát triển, tuy rằng những con số đó, so với mức gia tăng của dân số th́ thực sự không phải là một dấu hiệu phát triển. Điều đáng buồn là có một số tín đồ Ca-Tô cũng như Tin Lành Việt Nam lại khoe khoang là số tín đồ của tôn giáo ḿnh gia tăng, cũng như một số tân ṭng Ca-Tô hay Tin Lành cũng khoe khoang là ḿnh được vào trong “hội thánh”. Họ thường vinh hạnh khoe: nay có ông tu sĩ Phật giáo này bỏ Phật theo Chúa, mai có người kia làm chứng lời Chúa v..v.. nhưng tất cả đều chỉ là những nhân vật vô tên tuổi, không ai biết đến, và phần lớn là bịa ra làm chứng láo. Vấn đề là thực chất những điều này không phải là những điều đáng khoe khoang mà trái lại, đó là một sự biểu hiện của ô nhục và ngu đần [A badge of shame and ignorance]. Tại sao? V́ thử hỏi, có ǵ đáng khoe khoang ở cái chuyện đi nhặt những niềm tin thuộc loại hoang đường mê tín mà Âu Châu và Mỹ Châu đang dần dần phế thải về làm của báu cho ḿnh. Âu Châu và Mỹ Châu vốn là cái nôi của Ki Tô Giáo, nhưng ngày nay Ki Tô Giáo ở những phương trời này lại bị phá sản, như học giả Eliezer Berkovits đă viết về “sự phá sản đạo đức của nền văn minh Ki Tô Giáo và sự phá sản Tâm Linh của Ki Tô Giáo” [The moral bankrupcy of Christian civilization and the spiritual bankrupcy of Christian religion] trong cuốn “Đạo Do Thái Trong Thời Kỳ Hậu Ki Tô” (Judaism in the Post-Christian Era). Trong khi nhiều người đă thoát ra để tự thanh tẩy kư ức và để dứt bỏ sự dính líu của ḿnh vào một tôn giáo có một lịch sử tàn bạo và đồi bại nhất thế gian, th́ có người lại tự đâm đầu vào cái định chế tôn giáo mà lịch sử ô nhục đẫm máu của nó không ai có thể chối căi. Đó có phải là điều đáng khoe hay là điều đáng thương hại và tội nghiệp? Theo quan điểm của Phật Giáo th́ đó là điều đáng mừng khi thấy Phật tử đổi đạo. Tỳ Kheo Abhiyana đă có một nhận định xác đáng:
Sự kiện mà người ta bỏ đạo Phật để đi theo các tôn giáo khác thực sự là một điều đáng mừng đối với Phật Giáo, v́ rằng những người thay đổi tôn giáo thường chỉ là thay đổi danh xưng chứ không phải sự thay đổi bản chất. Những ai thay đổi tôn giáo nhằm kiếm chác được một cái ǵ chẳng hạn như về vật chất hoặc một tờ giấy bảo lănh là họ tự phản bội lấy ḿnh và đánh mất đi sự liêm sỉ của chính ḿnh. (Về Với Thực Tại, Trang 6)
Với bản chất thay đổi tôn giáo như trên th́ những người này thực sự không thích hợp với Phật Giáo, có ở lại trong Phật Giáo nhiều khi chỉ có hại cho Phật Giáo. Điển h́nh là Nguyễn Huệ Nhật, bỏ đạo của trí tuệ để theo đạo của đức tin, một đức tin mù quáng vào những điều nhảm nhí không thể tin được.
Kết Luận: Đôi Lời Ngỏ Cùng Các Tín Đồ Tin Lành Và Ca-Tô:
Quư vị cần ghi nhận một điều: những kết quả nghiên cứu như trên đều do các vị có chức vụ trong các giáo hội Ki Tô hoặc các học giả trong các xă hội Ki Tô Giáo, không phải của người ngoại đạo, cho nên chúng ta khó có thể nghi ngờ thành ư và sự lương thiện của họ trong lănh vực học thuật. Không người nào có đầu óc c̣n có thể bảo là họ “chống Ki Tô Giáo”. Tuy nhiên thật là lạ, khi Giao Điểm và Sách Hiếm đưa lên những tài liệu như vậy để tăng kiến thức của người dân và giáo dân th́ luôn luôn bị quư vị chụp cái mũ “chống đạo Thiên Chúa” lên đầu, làm như đó là một tội không thể tha thứ được. Quư vị có biết là ḿnh đang sống trong thế kỷ nào không?
Chúa Giê-su của quư vị đă từng phán: “Sự thật sẽ cởi trói cho các ngươi” (“The truth will set you free"), vậy th́ quư vị không nên sợ sự thật. Để giúp quư vị tự cởi trói, sau đây là một số sự thật quư vị cần phải biết dù rằng các bề trên của quư vị không bao giờ muốn cho quư vị biết. Làm thế nào để quư vị biết được sự thật. Quư vị cần phải thoát ra ngoài sự trói buộc của những luận điệu thần học mà các bề trên của quư vị đă nhồi sọ quư vị. Thoát bằng cách nào? Không có cách nào khác là đọc những tác phẩm nói lên những sự thật về Ki Tô Giáo của quư vị. Những tác phẩm này đều là của những bậc thức giả trong những xă hội Âu Mỹ, ở trong cũng như ở ngoài các giáo hội Ki Tô.
Trước hết, tôi muốn đặt vài vấn đề chung cho những tín hữu Tin Lành và Ca-Tô. Quư vị chắc chắn là tin tất cả vào những điều Chúa Giê-su của quư vị dạy, có phải không? V́ nếu quư vị không tin th́ theo giáo lư Ki Tô, quư vị sẽ phải xuống hỏa ngục để cho ngọn lửa vĩnh hằng thiêu đốt. Quư vị tin, nhưng quư vị có bao giờ thử thực hiện những lời Chúa dạy sau đây không?
Mark 11:22-24: Rồi Giê-su nói với các đệ tử: “Hăy có đức tin vào Gót”. Thật vậy, ta bảo đảm với các người, bất cứ người nào [mà có đức tin vào Gót] bảo ngọn núi này, “Hăy rời đi xuống biển”, và không nghi ngờ ǵ trong ḷng, mà tin rằng điều đó sẽ xảy ra, họ sẽ được bất cứ điều ǵ họ nói.” Do đó ta bảo các ngươi, bất cứ điều ǵ mà các con cầu nguyện xin-cho, tin rằng sẽ nhận được điều đó, th́ sẽ được điều đó.
John 14: 13-14: Các ngươi nhân danh ta mà cầu xin bất cứ điều ǵ, ta sẽ làm cho. Nếu các người cầu xin bất cứ điều ǵ nhân danh ta, ta sẽ làm cho.
Mark 16: 17-18: Và những dấu hiệu này sẽ theo những người tin: Nhân danh Ta họ sẽ đuổi được quỷ, và sẽ nói được nhiều tiếng nói mới. Họ sẽ cầm các rắn độc, và nếu họ uống mọi thứ chất độc, sẽ không có ǵ làm hại được họ; họ sẽ đặt tay lên người bệnh, và chúng sẽ khỏi.
Tôi đă biết câu trả lời cho câu hỏi trên cho nên không muốn tiếp tục làm phiền quư vị với những điều vớ vẩn hoang đường nữa.
Với Những Người Tin Lành:
Mục sư Nguyễn Văn Huệ giải thích về đức tin Tin Lành như sau:
Người Tin Lành tin tưởng Thánh Kinh là uy quyền duy nhất và đầy đủ của đức tin. Người Tin Lành chỉ tôn trọng những truyền thống nào của Hội Thánh phù hợp với Kinh Thánh. Người Tin Lành muốn trở về với cội nguồn đức tin và h́nh thức sống đạo theo như Thánh Kinh dẫn, không thêm, không bớt.
Thật ra th́ Tin Lành có ba giáo lư căn bản về đức tin: 1) Tin vào tính tuyệt đối của Thánh Kinh [Sola Scriptura =Bible alone]; 2) Tin Giê-su là đấng cứu rỗi duy nhất cho ḿnh [Sola Fide = Faith alone]; và 3) Nhiệm vụ truyền đạo của mọi tín đồ [Priesthood of all believers].
Nhưng ngày nay, những ai c̣n nói chuyện mạc khải, hay thẩm quyền của Thánh Kinh, thật ra chỉ là những người c̣n sống trong bóng tối, lạc hậu ít ra là vài thế kỷ. Bởi v́, thực tế là, Thánh Kinh có phải là do Thiên Chúa mạc khải hay không th́ trong Thánh Kinh, những chuyện loạn luân vẫn là loạn luân, độc ác vẫn là độc ác, giết người vẫn là giết người, phi lư phản khoa học vẫn là phi lư và phản khoa học v..v... Thật vậy, tất cả những chuyện thuộc các loại sau đây chiếm hơn nửa cuốn Kinh Thánh: bạo hành giết người (Violence & Murder), giết người hàng loạt (Mass Killing), loạn luân (Incest), ăn thịt người (Human Cannibalism), độc ác đối với trẻ con (Child cruelty), tục tĩu quá mức (Scatology), trần truồng (Nakedness), đĩ điếm (Harlotry), hiếp dâm (Rape), thù hận tôn giáo và chủng tộc (Religious & Ethnic Hatred), nô lệ (Slavery), say rượu (Drunkeness) v..v.. [Xin đọc cuốn Tất Cả Những Chuyện Tục Tĩu Trong Kinh Thánh (All The Obscenities In The Bible) của Gene Kamar], chưa kể là những lời “mạc khải” của Thiên Chúa về vũ trụ, nhân sinh, đă chứng tỏ là hoàn toàn sai lầm trước những sự kiện khoa học bất khả phủ bác ngày nay.
Tôi có thể nói chắc rằng tuyệt đại đa số tín đồ Tin Lành và Ca-Tô, kể cả một số không nhỏ được gọi là trí thức, chưa hề đọc Thánh Kinh, hay có đọc cũng chỉ đọc lơm bơm những đoạn cần thiết để truyền đạo hay tự tạo một niềm hi vọng, trong thực tế chỉ là vô vọng. Chúa Giê-su của quư vị đă từng dạy: “Sự thật sẽ cởi trói cho các ngươi” [The truth will set you free]. Làm sao để biết sự thật? Hăy chịu khó đọc sách. Sự thật về Ki Tô Giáo nằm trong các tác phẩm nghiên cứu về Ki Tô Giáo của các bậc trí thức, học giả, lănh đạo Ki Tô Giáo Âu Mỹ. Giáo hoàng John Paul II đă đừng ngồi trong chiếc xe bọc sắt có lồng kính chắn đạn đi khắp nơi để dạy con chiên “đừng sợ”. Vậy quư vị hăy đừng sợ khi đọc sách, v́ đọc sách để mở mang kiến thức chứ chưa có ai v́ đọc sách mà phải xuống hỏa ngục của Ki Tô Giáo cả.
Do đó, tôi khuyên quư vị hăy mở cuốn Thánh Kinh ra và đọc với một đầu óc chưa bị nhiễm độc. Nếu ngại công t́m kiếm những điều trên, có đầy trong thánh Kinh, tôi xin giới thiệu một số tác phẩm trong đó các tác giả đă trích dẫn sẵn những câu, những đoạn trong Thánh Kinh mà lẽ dĩ nhiên các tín đồ Ki Tô Giáo không bao giờ được nghe giảng trong nhà thờ:
- “Cuốn Thánh Kinh Thuộc Loại Dâm Ô: Một Nghiên Cứu Bất Kính Về T́nh Dục Trong Thánh Kinh” [The X-Rated Bible: An Irreverent Survey of Sex in the Scripture, AA Press, Austin, Texas, 1989] của Ben Edward Akerley: cuốn sách dày hơn 400 trang, liệt kê những chuyện t́nh dục dâm ô, loạn luân trong Thánh Kinh.
- “Tất Cả Những Chuyện Tục Tĩu Trong Thánh Kinh” [All The Obscenities in the Bible, Kas-mark Pub., MN, 1995] của Kasmar Gene: cuốn sách dày hơn 500 trang, liệt kê tất cả những chuyện tục tĩu, tàn bạo, giết người, loạn luân v..v.. (Human sacrifice, murder and violence, hatred, sex, incest, child cruelty etc..) trong Thánh Kinh.
- “Sách Chỉ Nam Về Thánh Kinh” [The Bible Handbook, AA Press, Ausrin, Texas, 1986] của W. P. Ball, G.W.Foote, John Bowden, Richard M. Smith …: Liệt kê những mâu thuẫn (contradictions), vô nghĩa (absurdities), bạo tàn (atrocities) v..v.. trong Thánh Kinh.
- “Sách Hướng Dẫn Đọc Thánh Kinh Của Người Tái Sinh Nhưng Hoài Nghi” [The Born Again Skeptic’s Guide To The Bible, Freedom From Religion Foundation, Wisconsin, 1979] của Bà Ruth Hurmence Green: B́nh luận những chuyện tàn bạo, dâm ô, kỳ thị phái nữ trong Thánh Kinh.
- “Một Trăm Điều Mâu Thuẫn Trong Thánh Kinh” [One Hundred Contradictions in the Bible, The Truth Seeker Company, New York, 1922] của Marshall J. Gauvin: Liệt kê 100 điều mâu thuẫn trong Thánh Kinh.
- “Lột mặt nạ Thánh Kinh” [The Bible Unmasked, The Frethought Press Association, New York, 1941] của Joseph Lewis: đưa ra những sai lầm trong Thánh Kinh.
- “Thẩm Vấn Ki Tô Giáo” [Christianity Cross-Examined, Arbitrator Press, New York, 1941] của William Floyd: Phân tích từng quyển một trong Thánh Kinh.
- “Ki Tô Giáo Và Loạn Luân” [Christianity and Incest, Fortress Press, MN, 1992] của Annie Imbens & Ineke Jonker: Viết về Ki Tô Giáo và vấn đề loạn luân, những sự kiện về loạn luân và kỳ thị phái nữ bắt nguồn từ Thánh Kinh.
- The Dark Bible” trên http://www.nobeliefs.com/DarkBible/DarkBibleContents.htm
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
Đọc xong quư vị sẽ thấy nội dung cuốn Thánh Kinh rất khác với những điều rao giảng về Thánh Kinh của các bề trên. Nhưng ngay cả với những điều rất tốt đẹp trong Thánh Kinh thường được giảng trong nhà thờ, thí dụ như “Thiên Chúa quá thương yêu thế gian”, “Giê-su yêu bạn”, “Đức Mẹ c̣n trinh vĩnh viễn” v…v…, tôi cũng không hi vọng quư vị nhận ra được những mâu thuẫn với những điều trên nằm ngay trong Thánh Kinh, v́ đọc Thánh Kinh là một nghệ thuật. Phải đọc kỹ một cách sáng suốt và với một đầu óc phân tích. Và các học giả đă làm điều này trong ṿng 200 năm gần đây, kết quả là chúng ta có hàng trăm tác phẩm nghiên cứu nghiêm chỉnh về cuốn Thánh Kinh và về Ki Tô Giáo.
Với Những Người Ca-tô-líc:
Bản chất của con cừu là đi theo sự dẫn dắt của người chăn cừu. Bản chất của con chiên Ca-tô là theo “đức vâng lời” của các “bề trên” dạy. Nhưng chính cái “đức vâng lời” này lại là một hiểm họa cho bất cứ quốc gia nào trong đó có một tỷ lệ người Ca-tô đáng kể, nhất là khi tôn giáo này có một thế lực nào đó ở địa phương. Tại sao? V́ chúng ta đều biết, trong khi Tin Lành là nô lệ của cuốn Thánh Kinh th́ Ca-Tô là nô lệ của Vatican. Người Ca-tô trung thành với Vatican hơn là quốc gia ḿnh sinh ra trong đó và nuôi dưỡng ḿnh. Do đó họ tuyệt đối tuân theo lệnh của Vatican bất kể là đường lối chính trị và tôn giáo của Vatican hoàn toàn không phù hợp với quốc gia của ḿnh hay phù hợp với truyền thống văn hóa của quốc gia ḿnh.
Bản chất “đức vâng lời” trong giáo lư Ca-tô là như thế nào? Như chúng ta đă biết, căn bản “đức vâng lời” trong Ca-Tô Rô-maGiáo đă được khẳng định bởi Thánh Ignatius of Loyola, người sáng lập ḍng Tên, như sau:
Chúng ta phải luôn luôn sẵn sàng tin rằng cái mà chúng ta thấy là trắng th́ thực sự là đen, nếu hàng giáo phẩm trong Giáo hội Ca-tô quyết định như vậy
Giáo hội luôn luôn mang Chúa ra làm bung xung để đạt những mục đích thế tục của ḿnh. Điều này rơ ràng nhất trong vài câu sau đây trong bản văn của Vatican, đăng trên VietCatholic News gần đây:
Bản tiếng Việt: “Trước hết, bản văn xem xét chủ đề đức vâng lời tu sĩ, gốc của nó được thấy trong sự t́m kiếm Chúa và ư muốn của Chúa là điều đặc biệt đối với những tín hữu”
Bản tiếng Anh: “Đức vâng lời”, tài liệu của Vatican nói rằng, phải nên hiểu bởi tín hữu như là “một con đường để giúp cho cộng đồng và tổ chức t́m kiếm Chúa và hoàn thành ư muốn của Chúa”
[Obedience, the Vatican document says, should be understood by religious as "a way to help the community or institute to seek and achieve the will of God.]
Đây là tṛ bịp cố hữu của Giáo hội, v́ Chúa Cha th́ vô h́nh, c̣n Chúa Con th́ đă chết cách đây 2000 năm rồi, vậy những vấn nạn thế tục ngày nay mà giáo hội luôn luôn dự phần vào th́ Chúa có biết ǵ không, thí dụ như cuộc tranh luận giữa “Thuyết Tiến Hóa” và “Thuyết Sáng Tạo” của Chúa? Vậy ai giám khẳng định là “ư Chúa” là như thế nào? Mặt khác, giáo lư Ca-tô Giáo dạy rằng Chúa Cha (God) có 23 thuộc tính, trong đó có 3 thuộc tính sau đây: “không ai thấy được” [invisible], “không ai biết được” [unknown], và “không ai hiểu được” [incomprehensible], và chúng ta cũng biết, giáo hoàng, linh mục v..v.. thường tự nhận là “đại diện của Chúa” hay “Chúa thứ hai”, thực ra cũng cũng chỉ là người thường như chúng ta [luận cứ của giáo dân để giải thích những chuyện làm bậy của giới chăn chiên], có khi c̣n tệ hại hơn nhiều, làm đủ mọi tội ác, vậy làm sao biết được ư Chúa là như thế nào. Do đó, sự thật là, những điều giáo hội dạy là ư Chúa, chẳng qua đó chỉ là những thủ đoạn lừa dối để ru ngủ đám tín đồ dốt nát mà thôi.
Thật vậy, chúng ta có thể đọc câu sau đây trong cuốn Giáo Lư Của Giáo Hoàng (The Pope's Catechism) của J. Sheatsley, trang 80:
Tín đồ Công giáo phải tin tất cả những ǵ Thiên Chúa đă mạc khải và tất cả những ǵ Giáo hội Ca-tô dạy, bất kể là những điều đó có hay không có trong Thánh Kinh. V́ Truyền Thống Ca-tô (nghĩa là những ǵ giáo hội dạy) và Thánh Kinh đều do Thiên Chúa mạc khải.
(A Catholic must believe all that God has revealed and the Catholic Church teaches, whether it is contained in Holy Scripture or not. Because Catholic Tradition and Holy Scripture were alike revealed by God)
Giáo hội Ca-tô đă viện cái gọi là “mạc khải của Thiên Chúa” để tự tạo quyền lực cho ḿnh. Nhưng điều này chỉ có thể thuyết phục được đám tín đồ mà tuyệt đại đa số thuộc loại thất học trong thời bán khai và Trung Cổ, nhất là trong những thời đại mà Giáo hội giữ độc quyền đọc và diễn giảng Thánh Kinh. Nhưng từ thế kỷ 16, khi mà cuốn Thánh Kinh được dịch ra các tiếng địa phương và người dân được tự do đọc Thánh Kinh th́ người ta đă khám phá ra rằng cuốn Thánh Kinh chứa rất nhiều điều sai lầm về khoa học và thần học, do đó, tuyệt đối không phải là sản phẩm “mạc khải” của một thiên chúa toàn năng, toàn trí….
Tại sao Ca-tô Rô-MaGiáo lại bị coi như một hiểm họa cho mỗi quốc gia nói riêng, cho nhân loại nói chung? Chính bởi v́ bản chất phi dân tộc của Ca-tô Rô-MaGiáo cùng với cấu trúc toàn trị của hệ thống quyền lực Ca-tô Rô-MaGiáo, kèm theo những tín lư, tín điều thuộc loại mê tín đă lỗi thời vẫn c̣n tiếp tục được sử dụng để nô lệ hóa đầu óc tín đồ, biến họ thành đám người cuồng tín mê mẩn, chỉ biết đến thiên đường của Chúa chứ không cần biết đến quốc gia dân tộc là ǵ, và cúi đầu “quên ḿnh trong vâng phục” một định chế ngoại lai, một định chế tự cho là ḿnh nắm trong tay chân lư mạc khải, quyết định luân lư, đời sống tâm linh và xă hội của nhân loại. Và nhất là, kinh nghiệm 2000 năm lịch sử đen tối, tác hại của Giáo hội Ca-tô Rô-Ma đối với nhân loại cho thấy Ca-tô Rô-MaGiáo đúng là một hiểm họa cho mọi quốc gia. Chúng ta hăy học kinh nghiệm của người Mỹ đối với Ca-tô Rô-MaGiáo.
Trong cuốn American Freedom and Catholic Power, tác giả Paul Blanshard cho rằng nước Mỹ đă phải đối diện với một sự xung đột căn bản về văn hóa và giá trị xă hội (America was facing a fundamental clash of culture and values). Tác giả viết: “Vấn nạn Công Giáo Mỹ là như thế này: Chúng ta phải làm ǵ đối với một hệ thống quyền lực hoạt động trong thế kỷ 20 ở nước Mỹ dưới sự kiểm soát của Trung Cổ Âu Châu? (The American Catholic problem is this: “What is to be done with a hierarchy that operates in 20th century America under medieval European controls.”) Và ông ta đă đưa ra đề nghị “Phải có một phong trào đối kháng để ngăn ngừa hệ thống đó áp đặt những chính sách xă hội của họ trên những trường học, nhà thương, chính quyền và tổ chức gia đ́nh của chúng ta.” (A resistance movement designed to prevent the hierarchy from imposing its social policies upon our schools, hospitals, government and family organization.)
Và David R. Boldt viết trong tờ Philadelphia Inquirer, 1990:
“Chúng ta cần phải nhớ rằng, Giáo hội Ca-tô Rô-Ma thật sự là một định chế không phải là của Mỹ. Định chế này không có tinh thần dân chủ. Quan điểm của giáo hội về thủ tục hợp pháp và về địa vị phái nữ, chỉ kể hai vấn đề chính, thật là đối nghịch với luật pháp của xă hội thế tục Mỹ. Và những chính sách chính yếu [của Giáo hội Ca-tô Mỹ] đều được thiết lập ở Vatican, ở thành phố La Mă.” [25]
Nước Mỹ là một nước dân chủ, tôn trọng quyền tự do của con người, luôn luôn khuyến khích tiến bộ trí thức, củng cố chủ nghĩa dân tộc (nationalism) v..v.., do đó người Mỹ đă coi Ca-tô Rô-MaGiáo như là tôn giáo của sự đàn áp, ngu đần, là kẻ thù ngấm ngầm của dân chủ (Catholicism as the religion of represssion and ignorance, the implicit enemy of democracy.) Đối với đa số dân Mỹ, “Người Ca-tô Rô-MaGiáo thuộc một định chế toàn cầu không bao giờ cho phép tín đồ coi ḿnh như là công dân của một quốc gia mà chỉ là con cái của Giáo hội. Với bản chất của ḿnh, Giáo hội Ca-tô phủ nhận quyền độc lập tuyệt đối của quốc gia và chủ nghĩa dân tộc.” (Catholics belong to a global institution which could never allow its members to think of themselves primarily as citizens of a state rather than sons and daughters of the Church. Of its nature, The Catholic Church denied the absolute claims of nations and nationalism.) Và người Mỹ coi “người Ca-tô giáo Mỹ” như bất khả tương hợp với “công dân Mỹ”: “Từ khi bắt đầu thành lập Giáo hội Ca-tô trên đất Mỹ, tất cả vấn đề là một “người Ca-tô Mỹ” có vẻ như nói lên một sự mâu thuẫn, một sự thiếu đầu óc. Làm sao mà một thần dân của một chế độ - đặc biệt là chế độ này tự tán dương là nắm thần quyền trong tay - lại đồng thời có thể là công dân của một chế độ khác?” (From the first establishment of the Church on American soil, the whole issue being an “American Catholic” seemed to involve a contradiction, even an oxymoron. How could the subject of one regime – especially with such exalted claims to divine authority – simultaneously be the citizen of another?) [Philip Jenkins, The New Anti-Catholicism, Oxford University Press, 2003] Ở Việt Nam, chúng ta cũng thấy có người nhân danh là công dân của nước trời để viết thư cho chính quyền v..v..
Tôi nghĩ người Việt Nam chúng ta cũng nên để tâm đến sự mâu thuẫn này: Làm sao mà một người “Ca-tô Việt Nam” có thể cùng lúc là “công dân Việt Nam”?, nếu họ c̣n nhất cử nhất động đều phải theo lệnh của Vatican?. Họ không thể nói rằng, tôi theo đạo là vấn đề tín ngưỡng riêng tư, tôi vẫn là công dân của nước Việt Nam và cũng yêu nước như bất cứ ai. Tại sao?
Thứ nhất, v́ lịch sử Việt Nam thời cận đại đă chứng minh trái ngược hẳn lại. Cuộc hỗ trợ rất đáng kể của giáo dân Ca-tô trong cuộc Pháp xâm chiếm Việt Nam, như nhiều tài liệu lịch sử đă ghi rơ, là một bằng chứng rơ ràng nhất, và Ca-tô Giáo Việt Nam có những nhân vật nổi tiếng phi dân tộc và phản bội quốc gia nhất: Trần Bá Lộc, Nguyễn trường Tộ, Pétrus Kư, Nguyễn Thân, Ngô Đ́nh Khả, Ngô Đ́nh Diệm, Ngô Đ́nh Thục, Trần Lục, Nguyễn Bá Ṭng, Phạm Ngọc Chi, Lê Hữu Từ, Hoàng Quỳnh v..v.. Theo hệ thống chăn dắt giáo dân của Ca-tô Giáo th́ người Ca-tô Giáo phải tuyệt đối tuân lệnh bề trên. Do đó, nếu các bậc lănh đạo Ca-tô bản chất là phi dân tộc và phản dân tộc th́ giáo dân, khi hành động theo lệnh của các bề trên theo “đức vâng lời”, tất nhiên cũng trở thành phi dân tộc và phản dân tộc dù là hành động trong vô ư thức. Sự kiện Linh mục Trần Lục dẫn 5000 giáo dân đi hỗ trợ quân xâm lược Pháp để hạ chiến khu Ba Đ́nh là một bằng chứng điển h́nh và rơ ràng nhất. Sự kiện những khu tự trị Bùi Chu, Phát Diệm dưới sự lănh đạo của Giám mục Lê Hữu Từ và Linh mục Hoàng Quỳnh, người nổi tiếng với câu “Thà mất nước chứ không thà mất Chúa”, săn lùng, giết hại người Việt kháng chiến yêu nước là một bằng chứng thứ hai. Và gần đây, những hành động cuồng tín phi luật pháp của các giáo dân, được các bề trên xách động, ở Ṭa Khâm Sứ Hà Nội, cũng như ở Ấp Thái Hà v..v.. , đă cho chúng ta thấy bản chất phi dân tộc của những người Ca-tô Việt Nam, và Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, khi trả lời chính quyền là những chuyện xách động làm loạn trên không trái với giáo luật của Ca-tô Giáo th́ đă đặt giáo luật của Ca-tô lên trên nền luật pháp của quốc gia.
Thứ nh́, v́ một sự trung thành nước đôi th́ không thể gọi là trung thành. Quyền lợi của Vatican không phải là quyền lợi của Việt Nam cũng như không phải là quyền lợi của bất cứ quốc gia nào khác trên thế giới. Trung thành với Vatican không hẳn chỉ là trung thành trong vấn đề tín ngưỡng, bởi v́ Vatican bản chất là một định chế thế tục, muốn kiểm soát mọi khía cạnh của xă hội như chúng ta thấy vài nhận định sau đây của người Mỹ:
“Những người Ca-tô có ư chí và khả năng áp đặt những tiêu chuẩn và sở thích của ḿnh trên quảng đại quần chúng. Giáo hội Ca-tô không giới hạn ảnh hưởng của ḿnh trên địa hạt tâm linh nhưng tự đề cao có quyền hành rộng răi trên những vấn đề thế tục. Trong hầu hết thế kỷ 20, những nhóm áp lực Ca-tô Giáo đă tạo được ảnh hưởng sâu rộng (trong đất Mỹ) trên những ǵ mà người phi-Ca-tô được đọc, phim ảnh được xem, và ngay cả những quyết định về kế hoạch gia đ́nh.” [26]
Trong thế giới Âu Mỹ ngày nay,
Ca-tô Giáo được nhận biết rơ ràng như là một tai ương ngoại lai, một sự đe dọa tàn khốc đối với những khái niệm Âu Mỹ về căn cước và độc lập quốc gia (Catholicism was clearly identified as a foreign evil, a dire threat to Anglo-American notions of national identity and independence.) [Philip Jenkins, The New Anti-Catholicism, Oxford University Press, 2003, p. 25]
Năm 1959, chính Tổng Thống Hoa Kỳ Harry Truman đă khẳng định là:
“Khó có thể tin được người Ca-tô Giáo ở vị thế cao cấp nắm chính quyền v́ người Ca-tô Giáo có nhiệm vụ trung thành với hệ thống quyền lực của Giáo hội. Chúng ta không muốn bất cứ ai nắm giữ chính phủ Hoa Kỳ mà lại có một sự trung thành khác, tôn giáo hay bất cứ cái ǵ khác.” [27]
Việt Nam nên nhớ kỹ câu này, và Quốc Hội Việt Nam nên ra một đạo luật tuyệt đối không bao giờ để cho người Ca-tô Giáo lên nắm chính quyền. Gương Ngô Đ́nh Diệm, Nguyễn Văn Thiệu ở miền Nam Việt Nam, Franco ở Tây Ban Nha, Palevich ở Croatia v..v.. là những bài học lịch sử mà người Việt Nam phải ghi nhớ. Quên đi th́ lịch sử lại có cơ tái diễn.
Đọc lịch sử truyền đạo của Ca-tô Rô-MaGiáo ở Nhật chúng ta biết rằng, Nhật đă nhận ra hiểm họa của Ca-tô Giáo trên đất nước, cho nên đă đưa ra những biện pháp tàn nhẫn quyết liệt để đối phó với Ca-tô Rô-MaGiáo.
Trong cuốn “Các Giáo sĩ Thừa Sai” (Missionaries), Julian Pettifer và Richard Bradley viết, trang 169:
"Trong 24 năm đàn áp CaTô Giáo ở Nhật Bản, 62 thừa sai Tây phương đă bị hành quyết cùng với hàng ngàn giáo dân Nhật. Phải tới hơn 200 năm sau Nhật mới lại mở cửa cho các thừa sai trở lại, nhưng ḷng của họ vẫn khép kín." [28]
Ngày nay, tổng số giáo dân Ca-tô trên đất Nhật là dưới 450,000 [theo Paul Minh Nhật trên VietCatholic] trên một dân số là 12,800.000 [The World FactBook] nghĩa là chỉ vào khoảng 0.35 %, nghĩa là trong 100 người Nhật chỉ có “1/3 của một người” theo Ca-tô Giáo..
Việt Nam quá nhân từ nên đă để cho Ca-tô Giáo mang bao nhiêu bất hạnh đến Việt Nam. Thật vậy, Hal Dareff trong cuốn Câu Chuyện Việt Nam (The Story of Vietnam, trg. 28,) đă nêu lên hoàn cảnh khác biệt giữa Nhật Bản và Việt Nam trong thế kỷ 19:
"Đóng cửa biên giới, họ (triều đ́nh Gia Long. TCN) sẽ tránh được sự xâm nhập của người ngoại quốc với những lối sống xa lạ của họ. Bất hạnh thay, trong nước đă có những người ngoại quốc rồi - Các giáo sĩ thừa sai." [29]
Nhận định trên chứng tỏ sự hiện diện của các thừa sai Ca-tô là điều bất hạnh cho quốc gia Việt Nam, không chỉ là trong thời thực dân Pháp xâm chiếm Việt Nam với sự hỗ trợ của giáo dân Ca-tô Việt Nam , yếu tố quyết định để đưa nước nhà vào ṿng nô lệ Pháp, mà c̣n kéo dài qua thời kháng chiến chống Pháp và thời Ngô Đ́nh Diệm cai trị ở miền Nam. Đây là những sự kiện lịch sử.
V́ cái lịch sử không mấy tốt đẹp của Ca-tô Rô-MaGiáo ở Việt Nam cho nên Giáo hội Ca-tô Việt Nam cứ phải tiếp tục dựa vào Vatican để mà tồn tại, tin tưởng rằng Vatican có một thế lực nào đó trên thế giới. Để tồn tại, Giáo Hội Ca-Tô Việt Nam phải tuyệt đối tuân lệnh Vatican. Nếu Giáo Hội Ca-tô Việt Nam là một Giáo hội độc lập, tự trị, th́ sẽ không có vụ phải dẹp những màn cầu nguyện xin-cho ở Ṭa Khâm sứ hay Thái Hà, và những màn cầu nguyện này sẽ kéo dài vô thời hạn, cho đến khi Chúa Giê-su thực hiện lời hứa với những người tin Chúa: “Nhân danh Ta, Xin ǵ th́ sẽ được nấy, Ta sẽ làm cho”. Và cũng không có vụ ông Tổng Kiệt phải nhục nhă ra đi không kèn không trống trong đêm tối. Đó là cái hại của tinh thần nô lệ với kết quả tự hủy và càng ngày càng xa lánh đồng bào, dân tộc.
Trong thực tế, thế lực của Ca-Tô Rô-maGiáo trên thế giới không c̣n ǵ, có chăng chỉ c̣n đối với đám tín đồ thấp kém. Trong thế giới, Vatican có làm ǵ th́ chỉ có “mẹ hát con khen hay” chứ đối với người ngoại đạo chẳng có bất cứ một giá trị ǵ v́ người ta đă hiểu rơ Vatican quá rồi. Nhưng ngay cả đối với người Ca-tô trong thế giới Âu Mỹ, Vatican nói th́ Vatican nghe, giáo dân nhiều khi c̣n lên tiếng phê b́nh chỉ trích. Những Giáo lư của Vatican đi ngược thời gian chẳng có ai buồn nghe, đừng nói đến chuyện tuân theo. Điển h́nh là các giáo lư về ngừa thai [hơn 90% người Ca-tô Mỹ không theo], phá thai [nạn nhân mă], đồng giống luyến ái [Khoa học đă chứng minh là khuynh hướng trên liên hệ đến “gen” và DNA khi sinh ra, do đó cá nhân không có sự chọn lựa (choice) chứ không phải là một tội lỗi theo Thánh kinh] v…v… của Vatican đâu có mấy người Ca-tô theo.
Giáo hội Ca-Tô Rô-ma tại Việt Nam c̣n hoàn toàn lệ thuộc Vatican v́ không biết đến thực chất Vatican là một tổ chức như thế nào, cho nên vẫn tưởng là ḿnh ở trong một “Hội Thánh.” Trong khi thế giới bên ngoài đă tràn ngập những tác phẩm về bộ mặt thực của Vatican, th́ ở trong nước, người Ca-tô vẫn mù mờ tin bướng tin càn. Giáo hoàng John Paul II đă từng ngồi trong chiếc Popemobile bọc sắt, trên có lồng kính chắn đạn, đi khắp nơi dạy con chiên… “đừng sợ”. Vậy quư vị đừng có sợ đọc sách v́ không có ai đọc sách mà bị ngọn lửa vĩnh hằng trong hỏa ngục của Ca-tô Giáo thiêu đốt đâu. Sách viết về Ca-Tô Rô-maGiáo th́ có rất nhiều, nhưng riêng về Vatican th́ tôi đề nghị mọi giới Ca-tô ở Việt Nam hăy đọc ít nhất là những cuốn sau đây về Vatican để thấy ḿnh đang ở dưới quyền của một tổ chức tôn giáo hay thế tục như thế nào. Quư vị “đừng sợ” phải xuống hỏa ngục, v́ Giáo hoàng John Paul II của quư vị đă khẳng định trước thế giới là chẳng làm ǵ có hỏa ngục cả.
- “Vatican Mis À Nu” của Đức Ông Luigi Marinelli
- Những cuốn “The Vatican’s Mafia”; “Vatican Exposed: Money, Murder, and the
Mafia”; “The Vatican’s Finances”; “The Antichrist in the Vatican”; “The Lies of Pope
John Paul II” v..v.. của Đức Ông Rafael Rodríguez Guillén.
- “The Secret Archives of the Vatican” của Maria Luisa Ambrosini & Mary Willis
- “The Vatican and Zionism” của Sergio I. Minerbi.
- “The Love Affairs of the Vatican or The Favorites of the Popes” của Dr. Angelo S.
Rappoport
- “In the Vatican: The Politics and Organization of the Roman Catholic Church” của
Thomas Reese
- “Vicars of Christ: The Dark Side of the Papacy” của Giám mục ḍng Tên Peter de
Rosa
- “The Vatican’s Holocaust” của Baron Avro Manhattan
- “In the Vatican” của Peter Hebblethwaite
- “The Vatican Empire” và “The Incredible Book of Vatican Facts and Papal
Curiosities” của Nino Lo Bello
- “O Vatican: A slightly wicked view of the Holy See” của Paul Hofmann
- “The Vatican Connection” của Richard Hammer
- “Vicars of Christ” của Peter de Rosa
Trong danh sách trên có hai cuốn đặc biệt của hai nhân vật cao cấp trong Ca-tô Rô-MaGiáo. Đó là cuốn “Vatican Mis à Nu” của Đức Ông Luigi Marinelli, và cuốn “The Vatican’s Mafia” của Đức Ông Rafael Rodríguez Guillén.
Đức Ông Luigi Marielli: Vatican Mis À Nu, Traduit de l’Italien par Pierre-Émmanuel Dauzat, Edition Robert Laffont, Paris, 2000.

Cuốn sách này là bản dịch sang tiếng Pháp của bản gốc tiếng Ư: VIA COL VENTO IN VATICANO. Bản dịch tiếng Anh có tên Gone With The Wind In The Vatican mà có người Việt Nam dịch là Cuốn Theo Chiều Gió Ở Vatican. Bản tiếng Anh không thấy bán trong các tiệm sách nhưng có thể đặt mua trên Internet. Tôi mua được bản tiếng Pháp ở Paris, hè 2002. Bản tiếng Pháp không dịch mà đặt tên khác: Lột Trần Vatican (Vatican Mis À Nu). Đúng là lột trần v́ độc giả sẽ thấy một h́nh ảnh Vatican mục nát, không mũ măng, quần áo ḷe loẹt trang trí bên ngoài. Cuốn sách này là con dao mổ xẻ của tác giả đă đâm ngập vào một vết thương sâu (ce livre est un bistouri plongé dans une plaie profonde) với hi vọng có thể cắt bỏ những máu mủ độc hại trong đó. Tác giả đă vạch trần bộ mặt vô tín vô luật (sans foi ni loi) trong trung tâm chỉ đạo của Giáo hội Ca-tô Rô-ma (Curie Romaine) gồm hầu hết những kẻ chạy chọt làm áp-phe, chạy theo chức tước, đồng giống luyến ái, tranh chấp phe đảng, và những công cụ để được thăng chức nhanh chóng... (Affairisme, carriérisme, homosexualité, la course aux postes, la lutte des clans, des instruments de promotion accélérée...)
Chúng ta hăy đọc vài lời nơi trang b́a sau:
Ngày 16 tháng 7, 1999, Đức Ông Luigi Marielli, một giáo sĩ cao cấp trong tập đoàn chỉ đạo của giáo hội RôMa, bị gọi đến trước ṭa án của Vatican để giải thích về việc xuất bản một cuốn sách mà người ta đồn ông là tác giả. Cuốn sách này, bị mọi nhà xuất bản ở bán đảo Ư từ chối, cuối cùng được phát hành bởi một nhà xuất bản nhỏ chống giới giáo sĩ, xuất phát từ một nhóm viên chức cao cấp của Vatican, “Les Millénaires” [nhóm người hi vọng một thời kỳ tốt đẹp, thịnh vượng và công bằng hơn], những người chọn con đường phá hủy luật im lặng. Và nếu ṭa Thánh ước mong cuốn sách này không được bán, th́ chính ṭa Thánh đă lên án một cách độc hại sự đồi bại tinh thần và vật chất trong hệ thống lănh đạo của giáo hội. Sự xuất hiện của Đức Ông Marielli đă đẩy mạnh cuốn sách lên hàng bán chạy nhất.
Người ta không biết được cái ǵ ở đàng sau nhóm “Les Millénaires”, ngay cả khi người ta x́ xào là có một Hồng y trong đó. Điều chắc là, đây là lần đầu tiên, tấm màn (che dấu những sự đồi bại) đă được kéo lên từ bên trong, để lộ hệ thống lănh đạo rất tối tăm của Giáo hoàng...Làm áp-phe, chạy theo chức tước, đồng giống luyến ái, tam điểm: bức tranh mà nhóm “Les Millénaires” phác họa triều chính Giáo hoàng thật là dễ sợ, tất cả với rất nhiều chi tiết chứng tỏ một sự hiểu biết sâu đậm về hậu trường của trung tâm chỉ đạo của Giáo hội Ca-tô Rô-ma. Phải chăng Vatican sẽ nằm trong tay của một băng đảng của những kẻ chạy theo chức tước, vô tín vô luật. [30]
Đức
Ông Rafael Rodríguez Guillén:
“The Vatican’s Mafia”. Tôi tin rằng quư vị không
thể ngờ được là trong cuốn “The Vatican’s Mafia”
lại có những chương mục như sau, và xin quư vị biết rằng cuốn sách đă được phổ
biến rộng răi và quư vị có thể download hoặc mua cuốn này từ trên Internet để mà
đọc. Tôi tin rằng, trong tương lai, bằng cách này hay cách khác, cuốn sách này
sẽ được phổ biến rộng răi ở Việt Nam trong chiều hướng tiến bộ trí thức của
người Việt, và quư vị không có cách nào có thể ngăn chận được chiều hướng này.
3. PERSONAGES OF THE SACRED MAFIA OF THE VATICAN
4 - THE VATICAN MAFIA IN THE CATHOLIC CHURCHES
5 - THE GANGSTERS OR THE VATICAN'S SACRILEGIOUS MAFIA
6 - THE CONNECTION OF THE VATICAN IN THE COUNTERFEITING OF
BILLIONS OF DOLLARS
7 - THE VATICAN AND HER CONNECTIONS WITH THE CRIME SYNDICATE
8 - THE ARCHBISHOP MARCINKUS AND THE VATICAN'S MAFIA
9 - THE VATICAN'S MURDEROUS MAFIA
11 - THE VATICANS ALLIANCES WITH THE INTERNATIONAL MAFIA
12 - THE HOLY MAFIA
13 - THE INTELLECTUAL, POLITICAL AND SACRED MAFIA
15 - THE TERRORIST MAFIA OF THE VATICAN
16 - THE VATICAN AND HER ROMAN LEGIONS CONNECTED WITH THE MAFIA
20 - THE HOLY MAFIA OR THE OPUS DEI
21 - WRITERS AND HISTORIANS WHO PROVE THE VATICAN'S MAFIA
Hậu Kết:
Một câu hỏi thường được đặt ra cho những người Ki Tô Giáo: Tại sao Ki Tô Giáo lại suy thoái, nếu nó thực sự là một tôn giáo có mục đích nâng cao tŕnh độ hiểu biết của con người, một tôn giáo đạo đức, một tôn giáo có thể giúp cho con người thăng tiến lên một cảnh giới cao hơn v…v… Ki Tô Giáo đă hoàn toàn thất bại trong nhiệm vụ này như lịch sử đă chứng minh. Và thực tế lịch sử cho thấy rằng: thay v́ Ki Tô Giáo văn minh hóa nhân loại th́ chính sự tiến bộ của nhân loại đă văn minh hóa Ki Tô Giáo. V́ như John Remsburg đă viết trong cuốn “False Claims”: “Những thanh gươm (để giết người) và những bó củi (để thiêu sống người) đă bị tước khỏi những bàn tay đẫm máu của Giáo hội Ca-tô. Ngày nay Giáo hội chỉ c̣n lại hai vũ khí: gây thù hận và vu khống”. Đây là một sự thật không ai có thể chối căi. Ngày nay, quyền lực của Ṭa Thánh và Giáo hoàng chỉ c̣n trên số tín đồ thấp kém tin bướng tin càn. Đối với các tín đồ tiến bộ trong thế giới Âu Mỹ th́ quyền lực của Vatican và Giáo Hoàng là một con số không vĩ đại. Richard Dawkins và Christopher Hitchens đ̣i bắt giam Giáo hoàng Benedict XVI khi ông ta đến thăm viếng Anh sắp tới. Năm 2002 một giáo dân ở Seatle đâm đơn kiện trước Ṭa Án Mỹ ở Oregon Ṭa Thánh và Giáo Hoàng về vụ linh mục Andrew Ronan đă cưỡng dâm ông ta nhiều lần khi ông ta c̣n nhỏ. Vụ trên bị dẹp bỏ nhưng mới đây, Pháp Viện Tối Cao Mỹ cho phép vụ kiện được tiếp tục để xét xử. Luật sư của Vatican, Feffrey Lena, nói rằng: “Khi vụ kiện trở về Ṭa án Liên Bang ở Oregon, Ṭa Thánh sẽ chứng tỏ rằng không chịu trách nhiệm về những hành động của linh mục Ronan v́ ông ta không phải là nhân viên của Ṭa Thánh.” [Chicago Tribune, June 30, 2010: “When the case returns to a federal court in Oregon, the Holy See [Very Holy??] will show it was not responsible for the action of the priest because he was not a Vatican employee]. Vậy tại sao các linh mục phải nghe lệnh của Ṭa Thánh? Tại sao Ṭa Thánh lại có quyền phong chức cũng như cất chức một linh mục? Lư luận xảo quyệt của Ṭa Thánh để trốn trách nhiệm cho ta thấy một điều: Ṭa Thánh luôn luôn bảo vệ quyền lợi tiếng tăm của Ṭa Thánh và không đếm xỉa ǵ đến sự đau khổ của con chiên bị “Chúa thứ hai” của ông ta cưỡng dâm, và cũng trốn luôn trách nhiệm tinh thần đối với thuộc hạ. Người Ca-tô Việt Nam nên lấy trường hợp này làm kinh nghiệm về đạo đức tôn giáo của “Đức Thánh Cha”.
Ngày nay, không có một ông giáo hoàng nào dám hô hào cổ vơ một cuộc thập tự chinh, tổ chức một ṭa án xử dị giáo hay một cuộc săn lùng phù thủy, gây hận thù người Do Thái về tội “giết Chúa”, khích động một cuộc chinh phục các nước nhỏ kém phát triển bằng vũ lực. Không một ông giáo hoàng nào dám đưa Einstein, Carl Sagan, hay Stephen Hawking, Richard Dawkins, Sam Harris, Christopher Hitchens v..v.. lên dàn hỏa như đă đưa Bruno lên trước đây, dù Richard Dawkins đă công khai mắng Giáo hoàng Benedict XVI là “stupid” và cùng với Christopher Hitchens đ̣i bắt giam ông ta khi ông ta viếng thăm Anh tới đây.
Tại sao Ca-Tô Rô MaGiáo bắt buộc phải suy thoái. Câu trả lời nằm trong chính bản văn xưng tội trước thế giới của Vatican.
Ngày 12 tháng 3 năm 2000, trong một cuộc “thánh lễ” công cộng tại “thánh đường” Phê-rô, Giáo hoàng cùng một số hồng y, tổng giám mục, trong đó có tổng giám mục Nguyễn Văn Thuận, đại diện cho “hội thánh” Ca-Tô, đă chính thức “xưng thú 7 núi tội ác” đối với nhân loại của Ca-Tô giáo Rô-ma. 7 núi tội ác này, qua gần 20 thế kỷ, đă đưa đến những thảm họa to lớn cho nhân loại như “thập tự chinh” (thường được gọi một cách sai lầm là “thánh chiến” v́ bản chất những cuộc chiến này rất man rợ, bạo tàn chứ chẳng có ǵ là “thánh” cả), ṭa h́nh án xử dị giáo, bách hại dân Do Thái, kỳ thị phái nữ, liên kết với thực dân để truyền đạo với sách lược xâm lăng văn hóa, mưu toan thống trị và có thái độ thù nghịch với các tôn giáo khác v..v.. (Xin đọc chi tiết những tội ác của Ca-Tô giáo đối với nhân loại trong cuốn VATICAN: Thú Tội Và Xin Lỗi? của 6 tác giả, Giao Điểm xuất bản năm 2000). Hành động “xưng thú 7 núi tội lỗi” này đă làm cho những lời tự nhận của giáo hội mà giáo hội thường nhồi nhét vào đầu óc tín đồ từ khi c̣n nhỏ, rằng Ca-Tô giáo là tôn giáo “thiên khải duy nhất”, “thánh thiện”, “mầu nhiệm”, “tông truyền”, “hôn thê của Chúa”, “cao quư”, “ánh sáng của nhân loại”, bác ái”, “dân chủ” v..v.., trở thành những lời nói láo vĩ đại nhất trong lịch sử các tôn giáo của loài người. Một khi mà những lời nói láo không c̣n có hiệu lực và không c̣n thuyết phục được ai, th́ tất nhiên con người sẽ không c̣n tin vào chúng nữa. Và tín đồ bỏ đạo hàng loạt là v́ họ không c̣n muốn dính dáng ǵ đến một giáo hội đầy tội lỗi thế gian, và tŕnh độ người dân ngày nay đă cao, không c̣n có thể tin vào những điều thuộc loại hoang đường mê tín nữa. Chính các học giả ở trong cũng như ở ngoài các giáo hội Ki-Tô đă khai sáng cho họ qua những tác phẩm nghiên cứu nghiêm chỉnh về Ki Tô Giáo.
Nhưng chúng ta đă biết, mất đi chỗ đứng trong thế giới Tây phương, Ca-Tô Giáo cũng như Tin Lành đều có mưu toan bành trướng sang Á Châu, nơi đây ở một số nơi, con người c̣n đang sống trong cảnh khó khăn vật chất và thiếu hiểu biết. Họ là nhưng mồi ngon trong sách lược truyền đạo của Ki Tô Giáo. Đối với đất nước Việt Nam, đó là một hiểm họa cần phải pḥng ngừa nếu chúng ta muốn bảo vệ và ǵn giữ nền văn hóa truyền thống của Việt Nam. Không có lư do ǵ để cho người dân tiếp tục bị lừa dối để chấp nhận những đồ phế thải của Tây phương mà lịch sử đă chứng tỏ trái nghịch với truyền thống văn hóa và tôn giáo của Việt Nam.
Vậy biện pháp nào thích hợp nhất để bảo vệ và ǵn giữ nền văn hóa truyền thống của Việt Nam? Tôi cho rằng, để tránh cái hiểm họa Ca-Tô (Công Giáo) và Tin Lành, cái hiểm họa đă được chứng tỏ trong 2000 năm lịch sử của Ki Tô Giáo, đặc biệt là Ca-Tô giáo , ở Việt Nam, ngoài việc cương quyết canh chừng, kiểm soát những phương cách truyền đạo bất chính, con đường hữu hiệu nhất là con đường mở mang dân trí. Qua con đường này, người dân sẽ biết rơ về bản chất và những sự thực về Ki Tô Giáo nói chung, Ca-Tô Giáo nói riêng, và từ đó sẽ không c̣n bị mê hoặc bởi những lời truyền đạo giả dối, che đậy thực chất mê tín, hoang đường, phi lư của Ki Tô Giáo mà ngày nay thế giới Tây Phương đă nhận thức rơ và đang từ bỏ dần dần. Chúng ta nên nhớ, “người Ki Tô Giáo không sợ tội lỗi, chỉ sợ sự thật.” Cho nên chúng ta không cần làm bất cứ điều ǵ khác, chỉ cần đưa ra những sự thật về bản chất và lịch sử của Ki Tô Giáo nói chung, Ca-tô Rô-MaGiáo nói riêng.
Mở mang dân trí, cập nhật hóa kiến thức thời đại, đây chính là một nhiệm vụ quan trọng trong thời đại ngày nay, không chỉ riêng của chính quyền mà là nhiệm vụ chung của mọi người dân Việt Nam nào c̣n có ḷng với dân tộc, đất nước, c̣n trân quư truyền thống văn hóa và tôn giáo của Việt Nam. Tôi hi vọng giới trí thức, nhất là giới trẻ ngày nay, hăy nhận thức rơ tầm quan trọng của lănh vực văn hóa này. V́ lợi ích của mọi người, và v́ tương lai của dân tộc và đất nước, chúng ta hăy cùng nhau tích cực hoạt động trong đường hướng mở mang dân trí, giúp người dân nhận thức được những sự thật về các tín ngưỡng và tôn giáo ở Việt Nam.
1. In fact during the two centuries and more that the Catholic Missions have been operating in China and the Indochinese peninsula they have probably not converted more than ten scholars in all. The entire educated and governing class of the population has evaded their proselytism. In general Catholic missionaries only recruit from among the lowest classes, and mainly among those who, for various reasons have been rejected by Annamese society.
2. Pope John Paul II has put the teaching authority of the Roman Catholic Church firmly behind the view that “the human body may not have been the immediate creation of God, but is the product of a gradual process of evolution.. The pope said that “fresh knowledge leads to recognition of the theory of evolution as more than just a hypothesis”.
3. The problem is that people think they know what's in the Bible, or at least what kind of material it contains. Most of them are wrong: they are only familiar with a few church-approved extracts, and are astonished not just how awful God is in the Old Testament, but also at how much less than perfect his son seems in the New. The message of Jesus isn't all good news; paradise is an uncertain prospect at best. Taken as a whole, it could well be The Bad News Bible.
4. He believed in a plurality of worlds, in the rotation of this, in the heliocentric theory. For these crimes, and for these alone, he was imprisoned for six years. He was offered his liberty, if he would recant. Bruno refused to stain his soul by denying what he believed to be true. He was tried, condemned, excommunicated and sentenced to be burned. He was taken from his cell by the priests, by those who loved their enemies, led to the place of execution..He was chained to a stake and about his body the wood was piled. Then priests, followers of Christ, lighted the fagots and flames consumed the greatest, the most perfect martyr, that ever suffered death. ("Ingersoll The Magnificient" By Joseph Lewis)).
5. Galileo was a great scientist who, even at the age of eighty, when he was dying, had such a beautiful sense of humor. He said: There is no problem. I will change it; I will write in my book exactly what God has written in the bible - that the sun goes around the earth. But one thing I must make clear to you: neither the sun reads my book nor the earth reads my book. As far as reality is concerned, the earth will continue going around the sun. And why should you insist? Because I have every proof; I have devoted my whole life to the search, and all those who have a scientific mind are in absolute agreement with me. Sooner or later you will have to agree because one cannot remain against truth for long. ["Priests and Politicians", Second revised edition, Cologne, West Germany, p.27]
6. One by one the various books of the bible were discovered to contain errors of fact; inaccurate guesses; rationalizations; prophecies ex-post-facto, usually combined with prophecies of the future that proved inaccurate; and unmistakable, deliberate lies. Had this discovery been allowed to reach general public, Judeo-Christian mythology would have suffered a blow from which it could not have hoped to recover.
Facing elimination, the current Pope appointed his own historians to examine the secular historians’ conclusions and find the flaw in their evidence that he believed must be there. The outcome was that the Papal historians confirmed that their bible really was falsifiable fantasy. They presented the Pope with their reports and, when he promptly suppressed them, they all ceased to be Catholics. So the Pope ordered his propaganda machine to invent an alternative methodology to combat that of the historians, a methodology created for the specific purpose of reaching the conclusion that the Judeo-Christian bible is nonfiction, no matter how severely the evidence had to be distorted in order to achieve that objective. That methodology was ‘theology’..
…Such was the power of the world’s theocracies that, despite the publication of thousands of scholarly books and articles refuting every part of the Judeo-Christian bible, to this day the existence of unchallengeable proof that the bible is a work of fiction is unknown to ninety percent of the population of Christian-dominated societies.
7. The first proposition, that the sun is the centre and does not revolve about the earth, is foolish, absurd, false in theology, and heretical, because expressely contrary to the Holy Scriptures; and the second proposition, that the earth is not the centre but revolves about the sun, is absurd, false in philosophy, and from a theological point of view at least, opposed to the true faith. ("The Scientific Revolution" Edited by Vern L. Bullough.)
8. Those who cavalierly reject the Theory of Evolution, as not adaquately supported by facts, seem quite to forget that their own theory of creation is supported by no facts at all.
9. When the religious world realized the danger of Ingersoll they marshalled their heaviest artillery against him.
From the ranks of religion there was recruited the top brass. Religious differences were forgotten – protestants and catholics became “brothers-in-arms” against a commun enemy. Under the banner of Jesus Christ there was only one battle cry – “Ingersoll must be destroyed, or we are lost”.
The generals buckled their armor and went forth for battle.
The big guns were leveled against him.
First came the “policeman,” in the person of Jeremiah S. Black, the Attoerney General of the US’ government. Then came the wolf in sheep’s clothing, the gentle and soft-spoken clergyman – Henry M. Field. His sof answers were poisoned with religious wrath. Next was the honorable William E. Gladstone – England’s Prime Minister – the civil representative of the state-church of Protestantism. When the tyrrany of the state is combined with the hypocrisy of the church, you have a modern example of the twin vultures that have devoured man, and his rights, throughout the ages. Last, but not least, was Cardinal Manning. Never before had the Catholic Church suffered such a mortal blow. This highest English-speaking Catholic prelate was humiliated and disgraced.
Ingersoll demolished them all.
They were decimated as the blade of the grass is cut by the steel blade of the mower.
With an outpouring of the knowledge of the universe and the laws which operate with undeviating accuracy, with unanswerable logic, with more understanding of the Bible than his clerical opponents, and with an eloquence without parallel, Ingersoll'’ adversaries were left upon the the field of battle – mortally wounded – the only audible sounds were their dying sights.
They never sought battle again. They had enough. They wanted no more of Ingersoll.
10. Most important, the impact of the scientific perspective is having now that even scholars working under a conservative Catholic imprimatur agree that much of what we know of Jesus is myth… Scholars have known the truth – that Jesus was nothing more than a man with a vision – for decades; they have taught it to generations of priests and ministers, who do not pass it along to their flocks because they fear a backlash of anger. So the only ones left in the dark are ordinary Christians.
11. But he was “born of a woman”… His origins were as scandalous as his means of death. He (Jesus) was a nobody, a child of Nazareth out of which nothing good was thought to come. No one seemed to know his father. He might well have been illegitimate. Hints of that are scattered like undetected and unexploded nuggets of dynamite in the landscape of the the early Christian tradition.
12. Does the Biblical Jesus merit the honor bestowed upon him? Unfortunately, preachers, ministers, and clergymen have given us biased, one-sided stories, emphasizing and inflating what they see as positive while subverting or ignoring the negative. Biblical scholarship of the last hundred years has not reached the common man. Instead, we see political ministers and televangelists making absurd biblical claims without anyone calling them accountable. Although over 90 percent of households in America own a Bible, it usually goes unread, or at best sanitized or bowdlerized to what people want it to say.
Unbeknownst to many Christians, many times the Gospels of the New Testament portray Jesus as vengeful, demeaning, intolerant, and hypocritical.
13. We human beings do not live in sin. We are not born in sin. We do not need to have the stain of our original sin washed away in baptism. We are not fallen creatures who will lose salvation if we are not baptized… A savior who restores us to our prefallen status is therefore pre-Darwinian superstition and post-Darwinian nonsense.
14. To any man in the ancient world who stood before God as a helpless victim, who believed himself a hopeless sinner, who considered God an unapprochable and angry judge, the sacrificial death of Christ was a myth of some substance. But to modern man, it makes far less sense unless he has been suitably frightened and brainwashed from birth. To him, he is a voiceless victim of God’s decree in the Bible. To me, it is a primitive ‘salvation” myth which portrays an angry father appeased by the death of his own son. It is a tale of unbelievable cruelty… I accept the fact that Jesus died, even that he was crucified. But I cannot accept the myth that his death was an atonement for my sins. The salvation myth as it appears in the New Testament is an interpretation. It is a primitive myth, in essence parallel to the salvation myths of primitive peoples everywhere, but it is more unbelievable and cruel than most myths. It rings of a world in which man could appease the gods of thunder during a storm. Now cats and dogs are frightened during storms; man stays inside and understands the natural phenomenon that is taking place… I will not accept this mythical God-the-demanding-Father Who could treat His own son Jesus in unfeeling justice and demand his death on the cross to pay for my sins. Nor is the myth more appealing because He brought His son gloriously from the tomb. I cannot love such a Father or even be grateful for such a son in this borrowed and modified tale of archaic semitic theology. I did not ask him to suffer for me or even want him to..
15. With the rediscovery of the scientific method in 16th-century Europe and the subsequent evolvement of the Enlightenment during the 18th-century, it was inevitable that a more rational analysis of Scripture would occur. In a world becoming scientifically oriented, descriptions of walking on water, of demons, angels, resurrection stories, and other phenomena grew increasingly unacceptable as historical realities.
In 1835-1836, The Life of Jesus Critically Examined, by D. F. Strauss, referred to some NT narratives as "myth" and defined those unhistorical elements as expressing a series of religious ideas. Today, analytical studies continue to support and confirm this assertion. The majority of scholars regard the following NT accounts and Church-developed doctrines as myth:
1. The virgin birth
2. The Incarnation (God in human form; that is, God as Jesus)
3. The work of Atonement (plan for salvation)
4. The resurrection
5. The ascension (Jesus' bodily ascent into heaven 40 days after the resurrection)
6. The Second Coming (the return of Jesus to raise the dead and to summon all to the
Last Judgment)
7. The Last Judgment (the judgment of all by God at Christ's Second Coming)
16. Today I find each of these fundamentals, as traditionally understood, to be not only naïve, but eminently rejectable. Nor would any of them be supported in our generation by reputable Christian scholars.
17. Malachi Martin, a Jesuit Professor at the Pontifical Biblical Institute in Rome, doctorate in Semitic languages, archeology and Oriental history, The Decline and Fall of the Roman Church, a Bantam Book, NY, 1983, p.1: The most surprising and the most puzzling development in the last 20 years has been the sudden and undoubted decline of the Church of Rome in its ecclesiastical organization and ideological unity..
As things now stand, there appears to be no reasonable hope that this decline can be arrested…
The relevant statistics and other details are horrendous for the traditional Roman Catholic mind. When plotted on a graph covering the years 1965-1980, the number of priests, nuns, religious brothers, junior and senior high school students, private college students, baptisms, conversions, inter-Catholic marriages, communions, confessions, confirmations – every significant statistics available – describes a plummeting, - for the priesthood have no intention of creating priests with the sacramental powers to offer the sacrifice of the Mass and to absolve penitents of sins, and many candidates do not have the intention of receiving such powers..
18. Europe had become “an embarrassement to Christianity”, a continent of what the German theologian Kierkegaard called “baptised pagans”. In short, Europe, for centuries the craddle of Christian Mission, had itself become a mission field… Some say it is a “post-Christian” continent.
For Floyd McClung: there is a fear that if Europe continues to turn its back on God, the time may come when God will turn His back on Europe.
The missionaries believe that Europe is in danger of being swamped by a tidal wave of secularism. They vigorously deny that this is the inevitable and ultimate destiny for all Christian nations..
19. In Britain: Godlessness in Britain was presumed to be a contagion confined to the urban working classes. Although there were notable exceptions, the middle classes remained, if not God- fearing, then at least church-going folk…The picture had completely changed. The disease had spilled into middle-classes suburbia and even the life-blood of the church, the rural parishes, had been infected. On census Sunday in 1851, some 40% of the population went to church. A century later, in 1951, it was nearer 10%.
The statisticians quibble about how just low the figures are for practising Christians in Britain. Some argue that consistent church attendance is as low as 4%. By 1986, a fifth of London’s 2870 Protestant churches had congregations of less than 25; had less than 100 members… Churches all over Britain lie abandoned and derelict. In London particularly, church conversion has become big business. Disco lights illuminate the stained-glass windows of one central London church, renamed the Limelight Nightclub; in Barnsbury, Bromley-by-Bow, Ealing and Highgate, developers have turned Victorian churches into exclusive apartments; ..In Wales, the Bresbyterian Church is converting 300 churches into homes for young married couples struggling to buy a first house. Elsewhere, churches are being used as furniture warehouse, carpet disount stores and restaurants.
But concerns over Britain’s spiritual welfare is nothing compared to that over France. According to the American missionary David Barnes, despite the richness of their culture, the French “are as ignorant of the things of God as the uncivilised natives of one of the world’s darkest continents”. A mere 0.22% of France’s 54 million population are evangelical Protestants. Although 94% are baptised Catholics, a mere 2% regularly attend church. Despite the huge influence of the Catholic Church, the Unevangelised Fields Mission (UFM) have declared France a mission field.
20. During the 19th century, members of the educated upper classes, and men of all classes, ceased attending service in droves, leaving behind a church composed mostly of the under-educated. To appease these members’ sentimental superstitions, the Vatican added new doctrines about the Virgin Mary, namely the Immaculate Conception (1854) and the Assumption (1950). Both ideas – “which, to a thingking believer, were meaningless – had their basis not in scripture but in folk piety.
21. "The landscape of the church in Europe — and not just the Catholic Church but nearly all forms of organized Christianity – is changing at a lightning pace.
There are European bishops who feel you can’t talk about a Christian Europe anymore without insulting people’s intelligence.”
22. USA Today's cover story on the decline of Christianity in Western Europe raises the question of America's future. In many ways, America seems to be following the European example, though several years behind. Yet the pace of moral transformation in the United States may indicate that America is fast catching up with the European model of secularization
23. 100000 Roman Catholic priests have walked out in the last 20 years – more than one every two hours. Almost half of all American priests will leave – most often, to marry – before the 25th anniversary of their ordination. The Vatican won’t talk about this exodus, yet it is the most grievous crisis to face the Church since the Protestant Reformation.
24. The statistics documenting European secularization are now impossible to ignore. Ireland, still one of the least secular nations in Western Europe, has seen church attendance fall by at least 25 percent over the last three decades. Ireland is predominantly Roman Catholic, of course, but the paper reports, "Not one priest will be ordained this year in Dublin."
On the Protestant side, the picture is not much better. Switzerland, Germany, and the Netherlands, once the cradles of the Reformation, are now prime examples of Europe's secular shape.
According to the Center for the Study on Global Christianity, at the Gordon-Conwell Theological Seminary in suburban Boston, the decline in Christian influence "is most evident in France, Sweden and the Netherlands, where church attendance is less than ten percent in some areas."
25. The Roman Catholic Church, it needs to be remembered, is quite literally an un-American institution. It is not democratic. The Church’s views on due process and on the status of women, to name just a couple of key issues, are sharply at odds with those that inform the laws of American secular society. And its principal policies are established by the Vatican in Rome.)
26. Catholics had both the will and ability to impose their tastes and standards on the wider population.
The Catholic Church was not prepared to limit its influence to a strictly defined spiritual sphere, but claimed wide authority over secular matters. Through much of the 20th century, Catholic pressure groups had a profound effect on what ordinary non-Catholics could read, the film they could see, and even the decisions thery could legally make concerning family planning.. [Philip Jenkins, The New Anti-Catholicism, Oxford University Press, 2003, p.42]
27. Speaking in 1959, Harry Truman himself asserted that Catholics could scarcely be trusted in the high office because Catholics have a loyalty to a church hierarchy. You don’t want to have anyone in control of the government of the US who has another loyalty, religious or otherwise.
[Paul Blanshard, American freedom and Catholic Power, p.3]
28. During the twenty-four years of the great Japanese persecution, sixty-two European missionaries were put to death together with thousands of Japanese Christians. It was to be more than 200 years before the Japanese would again open their doors to missionaries but even then, they did not open their hearts.
29. By sealing off their borders, they would keep out the foreigner and his alien ways. Unfortunately, there were already foreigners in Vietnam - The Missionaries.
30. Le 16 Juillet 1999, Mgr Luigi Marielli, un prélat de la curie romaine, est convoqué devant un tribunal du Vatican pour s’expliquer sur la publication anonyme d’un livre dont la rumeur lui attribute la paternité. Cet ouvrage, refusé par tous les éditeurs de la Péninsule, finalement publié par une petite maison anticléricale, serait l’émanation d’un groupe de hauts dignitaires du Vatican, “Les Millénaires”, qui aurait choisi de briser la loi du silence. Et si le Saint-Śege souhaite le voir retiré de la vente, c’est qu’il dénonce avec virulence la corruption morale et physique régnant dans le gouvernement de l’église. La comparution de Mgr Marielli propulse l’ouvrage en tête des best-sellers..
On ne sait toujours pas qui se cache derrière “Les Millénaires”, même si l’on murmure qu’un cardinal en ferait partie. Ce qui est certain, c’est que pour la preḿre fois, le voile a été levé, de l’intérieur, sur le très opaque gouvernement pontifical...Affairism, carriérisme, homosexualité, franc-maconnerie: le tableau que “Les Millénaires” brossent de la cour du Pape est effarant, le tout avec un luxe de détails qui trahit une connaissance approfondie des coulisses de la curie. Le Vatican serait-il aux mains d’une coterie de carriéristes sans foi ni loi?