
QUAN ĐIỂM
CỦA DAISETZ SUZUKI VỀ CÔNG ÁN
Hà Minh
Triết
Ư KIẾN PHẢN HỒI BÀI
VIẾT CỦA Lư Việt Dũng
http://www.giacngo.vn/tuvan/2008/03/26/56D619/
Cuốn “Essays in Zen Buddhism”của soạn giả Daisetz Teitaro Suzuki, mà dịch giả Trúc Thiên và thượng tọa Tuệ Sỹ dịch là Thiền Luận, thượng tọa Thích Nguyên Tạng dịch là "Khái luận Phật giáo Thiền", -- (hoặc nếu muốn, cũng có thể dịch là “Những bài tiểu luận về Thiền Phật giáo”) --, là bộ sách có nội dung gồm nhiều bài tiểu luận, không chỉ riêng viết về những đề tài trực tiếp liên hệ đến Thiền như thiền Công Án, thiền Chỉ Quán, mà c̣n đề cập đến cả những tài liệu gián tiếp liên hệ đến Thiền và Chứng Ngộ, thí dụ các kinh liễu nghĩa như kinh Lăng Già, kinh Đại Bát Nhă, kinh Hoa Nghiêm, Quán Kinh, và các tông phái như tông Hoa Nghiêm, tông Thiên Thai, tông Tịnh Độ, ... vân vân….và cũng có lược qua các đề tài về các môn phái Thiền khác tại Nhật như Thiền trong Kiếm thuật, trong Vơ đạo, trong Trà đạo, … vân vân….
Trong số rất nhiều đề tài khác nhau đó, nơi Thiền Luận bộ Trung, Tiểu Luận 1, Phần 1 với tên “Kinh nghiệm siêu việt tri kiến”, soạn giả Suzuki và dịch giả Tuệ Sỹ đă dùng tới trên 200 trang sách để tŕnh bày về một phương tiện Chứng Ngộ là tu tập Công Án, trong đó soạn giả Suzuki nói rất rơ về tầm quan trọng của Nghi T́nh và chủ trương không thể dùng tâm ư thức, suy tư t́m hiểu, kiến giải, để tu trong pháp môn khán Công Án, Thọai Đầu.
Đọc đến đây, có thể ai đó đă lắc đầu nhăn mặt rằng: “Thiền sao mà “luận” được, sai rồi, sai rồi”. Nếu quả có người nghĩ như thế th́ tôi mong rằng chúng ta nên nh́n vào thực tế, đừng để những vướng mắc của thành kiến che mất cánh cửa Văn, Tư, Tu, v́ chẳng riêng ǵ “Thiền” có thể “luận”, mà Đại sư Tăng Triệu c̣n “luận” luôn cả đến “Bát Nhă Vô Tri”, Niết Bàn Vô Danh” (Bát Nhă Vô Tri Luận, Niết Bàn Vô Danh Luận, trong bộ Triệu Luận, Đại Chánh tân tu Đại Tạng Kinh, mục số 1858, thiền sư Hám Sơn lược giải, thiền sư Thích Duy Lực dịch, Từ Ân Thiền Đường ấn hành).
Ngoài ra, bồ tát Long Thọ (Nāgārjuna) c̣n “luận” luôn cả đến Đại Bát Nhă (Mahā Prajñā Pāramitā), tức là “Trí Tuệ Bát-nhă Ba-la-mật”, bằng bộ “Đại Trí Độ Luận”. Đến Bát Nhă Vô Tri, Niết bàn Vô Danh, Trí Tuệ Bát Nhă, Tri Kiến Phật c̣n “luận” được th́ chẳng nên phê phán việc soạn giả Suzuki viết “Essays in Zen Buddhism” và các dịch giả Trúc Thiên và Tuệ Sỹ đă dịch là Thiền Luận.
Tóm lại, nếu muốn giải thích cho người khác thấu triệt được vấn đề ǵ th́ phải “luận giải”, do đó, trong Tam Tạng Kinh Điển của nhà Phật gồm “Kinh, Luật, Luận” mới có tạng thứ ba tên là Tạng Luận.
Nay xin trở về đề tài chính. Mở đầu chương “Tu Tập Công Án: Phương Tiện Chứng Ngộ”, soạn giả Suzuki nói về “Thánh Trí Tự Chứng” (Ngộ), và để giải thích thế nào là “Tự Chứng”, ông đă trích dẫn kinh Hoa Nghiêm:
“Thiện Tài Đồng Tử hỏi: Môn giải thoát này làm sao để hiện tiền? Làm sao để chứng đắc?
“Diệu Nguyệt trưởng giả đáp: Một người thân chứng hiện tiền môn giải thoát này khi nào người ấy phát khởi tâm Bát nhă Ba La mật (Prajna-paramita) và cực kỳ tương thuận; rồi th́ người ấy được chứng nhập trong tất cả những ǵ mà ḿnh thấy và thấu hiểu.
“Thiện Tài Đồng Tử lại thưa: Có phải do nghe những ngôn thuyết và chương cú về Bát-nhă Ba-la-mật mà được hiện chứng?”
“Diệu Nguyệt đáp: Không phải. Tại sao thế? Bởi v́ Bát-nhă Ba-la-mật thấy suốt thể tánh chân thật của các pháp mà hiện chứng vậy.
“Thiện Tài thưa: Há không phải do nghe mà có tư duy và do tư duy và biện luận mà được thấy Chân Như là ǵ? và há đây không phải là tự chứng ngộ?
“Diệu Nguyệt đáp: Không phải vậy. Không hề do nghe và tư duy mà được tự chứng ngộ. Này Thiện nam tử, đối với nghĩa này ta phải lấy một thí dụ, ngươi hăy lắng nghe!
“Thí dụ như trong một sa mạc mênh mông không có suối và giếng, vào mùa xuân hay mùa hạ khi trời nóng, có một người khách từ Tây hướng về Đông mà đi, gặp một gă đàn ông từ phương Đông đến, liền hỏi gă rằng: “Tôi nay nóng và khát nước ghê gớm lắm; xin chỉ cho tôi nơi nào có suối trong và bóng cây mát mẻ để tôi có thể uống nước, tắm mát, nghỉ ngơi và hoàn toàn tươi tỉnh lại?”
“Gă đàn ông ấy theo lời yêu cầu, liền chỉ dẫn cặn kẽ cho người khách rằng: “Cứ tiếp tục đi về hướng Đông, rồi sẽ có con đường chia làm hai nẻo, nẻo phải và nẻo trái. Bạn nên hăy theo nẻo bên phải và gắng sức mà đi tới chắc chắc bạn sẽ đến một nơi có suối trong và bóng mát.
“Này thiện nam tử, bây giờ ngươi có nghĩ rằng người khách nóng khát, từ Tây đến, khi nghe nói đến suối mát và những bóng cây, liền tư duy về việc đi tới đó càng nhanh càng tốt, người ấy có thể trừ được cơn khát và được mát mẻ chăng?”
“Thiện Tài đáp: “Dạ không; người ấy không thể làm thế được; bởi v́ người ấy chỉ trừ được cơn nóng khát và được mát mẻ khi nào theo lời chỉ dẫn của kẻ kia mà đi ngay đến ḍng suối rồi uống và tắm ở đó.
“Diệu Nguyệt: “Này thiện nam tử, đối với Bồ tát cũng vậy không phải chỉ do nghe, tư duy và huệ giải mà có thể chứng nhập hết thảy pháp môn. Này thiện nam tử, sa mạc là chỉ cho sinh tử; người khách đi từ Tây chỉ cho các loài hữu t́nh; nóng bức là tất cả những sự tướng mê hoặc; khát tức là tham và ái; gă đàn ông từ Đông đến và biết rơ đường lối là Phật hay Bồ tát đă an trụ trong nhất thiết trí, các ngài đă thâm nhập Chân Tánh của các pháp và Thật Nghĩa b́nh đẳng; “giải trừ khát cháy và thoát khỏi nóng bức nhờ uống ḍng suối mát” là chỉ cho sự Chứng Ngộ Chân Lư bởi chính ḿnh vậy.”
(Thiền Luận bộ Trung, trang 22)Để nhấn mạnh và làm sáng tỏ sự Chứng Ngộ vốn không liên quan đến ngôn ngữ, văn tự, ông Suzuki tiếp:
…”…Từ trích dẫn này chúng ta có thể nhận thấy rơ ràng môn giải thoát Bát- nhă ba-la-mật phải được chứng ngộ bằng kinh nghiệm cá biệt của ḿnh; c̣n như chỉ có nghe và học hỏi thôi th́ chúng ta không cách ǵ thâm nhập vào giữa ḷng chân tánh của thực tại. Người ta có thể hỏi, tại sao không thể vươn tới chân lư tự chứng bằng tri kiến? Câu hỏi này được trả lời ở một đoạn khác trong kinh Hoa nghiêm.
“Chân lư tự chứng (bản thân của Thực Tại) th́ không phải một, không phải hai (bất nhị). Do năng lực tự chứng này mà (Thực Tại) là khả năng làm ích lợi b́nh đẳng cho tất cả kẻ khác cũng như cho chính ḿnh; hoàn toàn không thiên lệch với ư tưởng đây kia, giống như mọi vật đều sinh trưởng từ ḷng đất. Chính Thực Tại hay Pháp Tánh, không phải hữu tướng, cũng không phải vô tướng; thể của nó như hư không, vượt ngoài tri kiến và liễu giải; pháp ấy vi diệu, khó lấy văn tự mà diễn nói.
“Tại sao thế? Bởi v́ nó siêu việt hết thảy cảnh giới của văn tự; siêu việt hết thảy cảnh giới của ngôn thuyết; siêu việt hết thảy các cảnh giới ngữ nghiệp vận hành; siêu việt hết thảy các cảnh giới của hí luận, phân biệt tư lương; siêu việt hết thảy các cảnh giới của tầm tư và tính toán, siêu việt cảnh giới sở tư của tất cả chúng sinh ngu muội; siêu việt cảnh giới của hết thảy phiền năo tương ưng ma sự; siêu việt hết thảy cảnh giới của tâm thức…”…
(Trang 24, sđd)Với quan niệm phải bác bỏ tri kiến trong sách vở khi tham thiền, soạn giả Suzuki viết:
“Bài thuyết pháp sau đây của Hoàng Long Tử Tâm Ngộ Tân Thiền sư (1044-1145) cho thấy không ǵ diễn ra trong ḷng của một kẻ học Thiền chân thật :
“Này chư Thượng tọa, thân người khó được, Phật pháp khó nghe. Thân này không nhắm đời nay độ, c̣n đợi đời nào độ thân này? Nay c̣n sống đó, các ngài hăy tham thiền đi, tham thiền là để buông bỏ. Buông bỏ cái ǵ? Buông bỏ tứ đại, ngũ uẩn, buông bỏ bao nhiêu nghiệp thức từ vô lượng kiếp đến nay; hăy nh́n xuống dưới gót chân của ḿnh mà suy xét cho thấu đáo để thấy đạo lư ấy là ǵ? Suy tới suy lui hốt nhiên tâm hoa bừng nở, chiếu khắp mười phương. Sự chứng ngộ th́ không thể trao truyền, dù chính các ngài biết rơ nó là cái ǵ ?
“Đây là lúc các ngài có thể biến đất lớn thành vàng ṛng, quậy sông dài thành biển sữa. Há không sướng khoái b́nh sinh sao! Vậy th́ đừng phí th́ giờ niệm ngôn niệm ngữ mà hỏi đạo hỏi thiền nơi sách vở; bởi v́ đạo thiền không ở nơi sách vở. Dù cho thuộc ḷng một bộ Đại tạng cũng như Bách gia chư tử, chẳng qua là những lời rỗi răi, khi chết chẳng dùng được ǵ”.
(Trang 28, sđd)Để sáng tỏ quan điểm về bác bỏ mọi sự t́m ṭi trên b́nh diện tri kiến, ngưng lại thói quen ”tâm viên ư mă”, ông Suzuki nhấn mạnh:
Kẻ thù tai hại nhất của kinh nghiệm Thiền là trí năng với bản chất và tác dụng là phân biệt chủ khách. Do đó người ta phải cắt bỏ bớt trí năng phân biệt nếu muốn khai triển ư thức Thiền, và công án được nêu cao để thực hiện mục đích này.
Khi khảo sát chúng ta nhận thấy ngay rằng giải thích của trí năng không có tác dụng ǵ hết trong công án. Lưỡi dao trí năng không đủ sắc bén để chẻ đôi công án hầu nh́n thấy nội dung của nó, bởi v́ một công án không phải là một mệnh đề luận lư mà là sự diễn đạt của một tâm trạng nào đó kết quả từ pháp môn Thiền. Chẳng hạn, có quan hệ luận lư nào giữa “Phật” và “ba cân gai”? hay giữa “Phật tính” và “vô” hay giữa “mật chỉ của Bồ-đề-đạt-ma” và “cây bách”?
Trong một tác phẩm Thiền mang danh là Bích Nham Lục, Viên Ngộ đưa ra nhưng ghi nhận sau đây về “ba cân gai” đồng thời cho thấy công án được giải thích ra sao bởi các môn đệ « tà Thiền » không đủ sức nắm vững Thiền.
“Có một số người thời bấy giờ không lănh hội chân chính công án này; đấy là v́ không có kẽ hở nào cho trí năng của họ cắn răng. Bởi vậy ta nói nó rất ư nhạt nhẽo vô vị. Cổ nhân đă có nhiều câu trả lời cho câu hỏi: “Phật là ǵ?”. Vị th́ nói: “Ngài ngồi trong Phật điện”. Vị th́ bảo: “Một người có 32 tướng tốt”. Vị khác: “Cây roi bằng rễ tre”. Nhưng, không ai hay hơn Động Sơn: “Ba cân gai”; bất chấp cái phi lư của nó; cắt đứt mọi đường lối biện bác. (Trang 136 sđd)
Câu trích sau đây càng cho thấy Suzuki quyết liệt bác bỏ sự vận hành của trí năng trong Công Án:
“Đứng về mặt thủ pháp, công án được nêu ra cho kẻ sơ cơ là để “hủy hoại gốc rễ của sự sống”, “giết chết đầu óc so đo đốn ngă tâm trí hiện hành tử vô thủy”, v.v... Sự diễn tả như vậy có thể dồn người ta vào tử lộ, nhưng đích ư là vượt lên những giới hạn của trí năng, và chỉ có thể vượt qua những giới hạn này khi nào người ta dốc hết toàn lực, tận dụng những năng lực tâm thần vốn có...”...
(Trang 137 sđd)Trong tiểu mục “Những chỉ thị thực tiễn đối với tu tập công án”, soạn giả Suzuki viết:
”Một Thiền sư trên núi Hoàng Bá, khoảng đầu nhà Tống, chỉ thị về lối học Thiền như sau:
“Này chư huynh đệ! Có thể chư vị thích nói về Thiền, về Đạo chửi Phật, chửi Tổ nhưng đến khi tính lại, các thứ Thiền đầu môi chót lưỡi của chư vị nào có ích chi. Như thế chỉ làm mờ mắt kẻ khác, nhưng nay chư vị sẽ thấy rằng ḿnh tự làm mờ mắt ḿnh. Này chư huynh đệ! Lúc thân thể c̣n khang kiện hăy cố mà hiểu biết chân chính Thiền là ǵ. Quả t́nh, cái ổ khóa đó chẳng phải khó mở xoay vào cho lắm, mà chỉ v́ chư vị không quyết ḷng sống chết với công phu; rồi khi không biết làm sao để chứng, chư vị lại bảo “Khó lắm, khó lắm, sức ta không làm nổi”. Thật là vô lư! Nếu chư vị quả thật là những kẻ trượng phu, chư vị sẽ thấy ra ư nghĩa công án của ḿnh. Một thầy Tăng hỏi Triệu Châu: con chó có Phật tính không?” Châu đáp “Vô”. Rồi, bây giờ chư vị hăy chuyên tâm vào chữ VÔ này cả ngày lẫn đêm; dù đi, đứng hay nằm, ngồi suốt trong mười hai thời; dù cả khi mặc áo, ăn cơm, đại tiện, tiểu tiện, hăy chú tâm nhất định nơi công án. Hăy tận lực ghi nhớ nó măi trong ḷng. Ngày qua tháng lại, cho tới khi tâm của chư vị được nhồi lại thành một khối, th́ hoa ḷng bỗng nhiên bừng nở - tỏ ngộ cái tâm cơ của Phật và Tổ. Bấy giờ, kể từ nay, khắp trong thiên hạ chẳng c̣n một lăo Thiền sư nào mà mắt chư vị được nữa”
Nhấn mạnh điều sai lầm khi dùng tâm Ư thức nghiên cứu suy tư, một h́nh thức ”giải công án”, soạn giả Suzuki viết:
”Trong trích dẫn sau đây rút ra từ cuốn Đại Huệ Phổ Thuyết gồm các bài pháp của thiền sư Đại Huệ, ngài c̣n nêu lên một công án khác cho vị tăng thị giả của ḿnh là Tịnh Quang:
“Pháp không do kiến văn giác tri mà biết thấu rơ. Nếu pháp kiến văn giác tri mà thấu rơ, đấy chỉ là kiến văn giác tri mà thôi; hoàn toàn không phải là pháp. Bởi v́ pháp không ở nơi những cái mà người ta nghe từ kẻ khác hay học tập bằng thế trí. Bây giờ, người hăy bỏ đi những ǵ thấy, nghe và suy nghĩ, mà thấy nhưng ǵ trong chính ngươi. Chỉ có chân không, vô vật, không thể bắt nắm được, không thể nghĩ tưởng đến được. Tại sao? Bởi v́ đó là nơi siêu việt giác quan. Nếu giác quan mà với tới nơi này được, th́ đó là cái có thể nghĩ tưởng, có thể bám víu; và như vậy, nó nằm trong ṿng sống chết.
“Điều cốt yếu là khép chặt các giác quan, và biến tâm thức thành như một khúc cây. Khi khúc cây này đột nhiên trỗi dậy và khua vang, ấy là ngươi như sư tử cất tiếng rống tự do, tự tại, không ai quấy phá, hay như một con voi vượt qua sông chẳng e dè ḍng nước chảy xiết. Đấy là lúc không c̣n dao động, không c̣n tạo tác.....”….
(Trang 142 sđd)Soạn giả Suzuki ca ngợi:
”Đại Huệ không mệt mỏi nhắc nhở môn đệ của ḿnh sự quan trọng của chứng ngộ siêu việt ngôn ngữ biện biệt, vượt ngoài giới hạn của tâm hành...” ...
”Nơi khác, Đại Huệ nói: “Hăy kiên tŕ công án trong suốt cả b́nh sinh. Nếu một niệm khởi lên, đừng cố ư dẹp xuống, mà cứ cố giữ công án hiện tiền với tâm. Dù khi đi khi đứng hay nằm ngồi, chú tâm không gián đoạn. Đến khi bắt đầu thấy nó không c̣n hương vị ǵ hết, ấy là lúc thời cơ quyết định đang đến; đừng để nó vuột mất. Đến khi một vật đột nhiên chớp lên trong tâm ngươi, ánh sáng của nó sẽ sáng rực cả vũ trụ, và ngươi sẽ thấy rằng quốc độ của chư Phật hoàn toàn hiện lên trên đầu một sợi tóc, và bánh xe Chánh pháp vĩ đại đang quay trong một hạt bụi…”…
(Trang 146 sđd)Ông Suzuki cũng dẫn chứng lời thiền sư Không Cốc Long khuyên các sư tăng:
“Cái vô của Triệu Châu, trước khi các thầy thấu triệt nó, th́ nó như một ḥn núi bạc hay như một bức tường sắt (đứng chắn lối của các thầy). Nhưng khi các thầy tiến tới với cái vô ngày qua ngày, cố bước vào trong ḷng của nó, đừng để một khoảnh khắc dừng nghỉ, thời cơ tối thượng nhất định sẽ đến, như một cơn lụt tràn ngập; và rồi các thầy sẽ thấy rằng bức tường sắt hay ḥn núi bạc chẳng chút ǵ đáng sợ. Điều quan trọng là đừng tin ǵ ở cái học, cái hiểu, mà hăy để hết tâm trí vào việc giải quyết vấn đề sanh tử.
Đừng phí th́ giờ ngồi suy nghĩ về cái “vô”, hăy như một tên si ngốc không khác, đừng cố giải quyết sai lầm bằng tư duy biện biệt. Hăy kiên quyết để hết tâm chí mà thấu cái vô. Rồi đột nhiên, khi các người buông tay xuống, toàn thể tâm thức hoàn toàn đảo ngược và kể từ đây các người nhận thấy vô cùng minh bạch nơi chốn tận cùng của nó …”…(Trang 147 sđd)
Ông kết thúc bằng bài pháp của thiền sư Bạch Ẩn với lời lẽ như sau:
“Tôi kết luận vắn tắt chương này với một đoạn trích từ tác phẩm của Bạch Ẩn Huệ Hạc, cha đẻ của phái Thiền Lâm Tế Nhật Bản ngày nay. Trong trích dẫn này chúng ta sẽ thấy tâm lư của Thiền tiến hành ra sao vốn chẳng có thay đổi nhiều qua hơn một ngh́n năm, từ thời Huệ Năng và các môn đệ Trung Hoa của ngài:“Nếu các ngươi muốn đạt được đạo lư thanh tịnh của vô ngă, th́ hăy cứ một lần buông tay rơi trên vực thẳm, rồi các ngươi sẽ bừng tỉnh trỗi dậy trở lại và thành tựu bốn đức thường, lạc, ngă, tịnh. Thế nào là buông tay xuống vực thẳm? Giả sử có người dạo bước giữa những ḥn núi xa xôi, nơi chưa từng có ai lưu lạc đến. Người ấy đến bên bờ một vực thẳm không đáy, đá lởm chởm, rong rêu phủ kín, vô cùng trơn tuột, không biết đặt chân đâu cho vững; y không thể đi tới, không thể bước lui, cái chết đối diện. Nguồn hy vọng độc nhất là giữ lấy sợi dây sẵn trong tay; sinh mệnh của y gởi vào sợi dây này. Nếu y bất cẩn buông tay, thân thể y sẽ lao thẳng xuống vực, xương thịt sẽ tan ra từng mảnh.
“Người học Thiền cũng vậy. Khi y bám chặt công án trong tay, rồi y sẽ thấy rằng ḿnh đă bước tới cực độ khẩn trương của tinh thần và đang ở trong bước đường cùng. Như một người bị treo lơ lửng trên vực thẳm, chẳng c̣n biết phải làm ǵ. Trừ những cảm giác bồn chồn bất an, từng lúc và từng lúc, y giống như một người đă chết. Đột nhiên y thấy thân và tâm của ḿnh bị quét ra khỏi cuộc sống cùng lúc với công án. Đấy gọi là “buông tay”; khi các ngươi tỉnh khỏi cơn si ngốc và lấy lại hơi thở, giống khi uống nước chỉ ḿnh biết là lạnh. Đó là một niềm vui khôn tả”.
(Trang 152 sđd)Về tầm quan trọng của Nghi T́nh trong phương pháp tu khán Công Án, Thoại Đầu, soạn giả Suzuki viết:
- Hăy nhận xét những câu nói của thiền sư Đại Huệ trong Đại Huệ Phổ Thuyết như:
…“… Nhặt ra cái điểm suốt đời nghi ngờ và đặt nó ngay trước mặt”. Đó là Thánh hay phàm? Hữu hay vô? Hăy đẩy câu hỏi đó đến cùng. Đừng sợ rơi vào cái không: hăy t́m xem cái ǵ nuôi dưỡng nỗi sợ hăi này. Đó là cái không, hay không phải?” …
“Đại Huệ không bao giờ khuyên chúng ta chỉ việc đề khởi công án hiện tiền; trái lại, ngài bảo chúng ta hăy đặt nó vào ngay trong tâm bằng tất cả sức mạnh của nghi t́nh. Một khi công án được chỉ tŕ bởi một tinh thần như thế, ngài nói, nó “giống như một ngọn lửa cháy lớn đốt cháy tất cả những con sâu hí luận đang xăm tới.” Nếu không có sự phấn khích nghi t́nh mang màu sắc triết lư này, chẳng công án nào có thể đứng vững trước tâm thức. V́ vậy, lời nói thông thường của các Thiền sư là cho rằng: “Trong sự tham thiền, điều trọng yếu nhất là giữ vững nghi t́nh; nghi t́nh càng mạnh, ngộ càng lớn, quả thực, chẳng bao giờ có ngộ mà không có nghi, vậy, hăy bắt đầu bằng cách dọ hỏi vào ư nghĩa của công án”.
(Trang 182 sđd)Về từ ngữ “nghi t́nh”, nơi Thiền Luận bộ Thượng, trang 413, dịch giả Trúc Thiên đă định nghĩa như sau:
“Đại nghi, hoặc nghi t́nh, nghi niệm, nghi đoàn đây không liên hệ ǵ đến cái doute philosophique của Descartes. Thiền tông đặt nghi t́nh làm một trong ba điều kiện thiết yếu để tham công án, đó là đại ư chí, đại tin tâm, đại nghi t́nh. Nghi t́nh là nguồn kích động lực thúc đẩy hành giả từng giây từng phút nhảy sấn vào hư vô, dầu đó là địa ngục cũng mặc. Nên thiền sư Huệ Khai, trong Vô môn quan, nói: “Hăy đem hết ba ngàn sáu trăm khớp xương, tám vạn bốn ngàn lỗ chân lông đúc thành khối nghi t́nh công phá vào chữ “Vô” ấy của Triệu Châu. Ngươi hăy như người nuốt phải viên sắt nóng, trạo trực ói tới ói lui vẫn không mửa ra được, có thế mới gội sạch hết kiến thức chồng chất bấy lâu. để rồi nổ bùng lên như trời long đất lở. Chừng như ngươi vừa đoạt được cây đao thanh long của Quan Công cầm tay qua ải gặp Phật giết Phật, gặp Tổ giết Tổ, được tự tại ngay tại đầu bờ sanh tử, dạo nỗi vui du hí qua sáu nẻo luân hồi, bốn đường sanh hóa”.
Để nhấn mạnh thêm tầm tối quan trọng của “Nghi T́nh” trong Công Án, ông Suzuki dẫn chứng một loạt những lời khai thị của các thiền sư danh tiếng:
“Theo Cao Phong Nguyên Diệu (1238-1295) chúng ta được biết như vầy :
“Công án tôi thường đặt cho các môn nhân là: “Vạn pháp quy Nhất, Nhất quy hà xứ?” Tôi khuyên họ hăy tham cứu câu này.
Tham cứu câu ấy tức là đánh thức một mối nghi t́nh lớn đối với ư nghĩa cứu cánh của công án. Vạn pháp thiên sai vạn biệt được quy về Một, nhưng rồi Một trở về đâu? Tôi bảo họ, hăy đem hết sức mạnh b́nh sinh mà đeo mối nghi t́nh này, đừng lúc nào xao lăng. Dầu đi, đứng, nằm, ngồi hay làm các công việc, đừng để thời giờ luống trôi qua. Rồi ra cái Một trở về đâu?
Hăy cố mà t́m một câu trả lời chính xác cho câu hỏi này. Đừng buông trôi ḿnh trong cái vô sự; đừng luyện tập tưởng tượng phiêu du, mà hăy cố thực hiện cho được cái trạng thái toàn nhất viên măn bằng cách đẩy nghi t́nh lướt tới, bền bỉ và không hở. Rồi các ngươi sẽ thấy ḿnh như một kẻ bịnh ngặt, chẳng c̣n muốn ăn uống ǵ nữa. Lại như một thằng khờ, không hiểu cái ǵ ra cái ǵ hết. Khi công phu đến đây, giờ là lúc tâm hoa của các người bừng nở.
Cổ Âm Tịnh Cầm thiền sư, khoảng cuối thế kỷ XV, nói về sự tu tập công án như vầy:“Công phu có thể được thực hành tốt đẹp nhất là ở nơi không có tiếng động và tạp loạn: hăy dứt bỏ tất cả nhưng điều kiện quấy nhiễu, hăy dừng lại suy tư và nghĩ tưởng, để hết tâm trí vào việc tiến hành công án, đừng bao giờ buông thả nó ra khỏi trung tâm của thức, dù khi đi đứng hay nằm ngồi vẫn vậy. Đừng bao giờ quan tâm đến việc ḿnh đang ở trong cảnh ngộ nào, dù khi xứng ḷng hay trái ư, mà luôn luôn hăy cố giữ lấy công án trong ḷng, phản quan tự chiếu, và tự hỏi ai là kẻ đang theo đuổi công án chẳng biết mệt thế, và tự hỏi như vậy không ngớt.
“Cứ tiến hành như thế, hết sức là hăng hái, nghi chính kẻ đang nghi, chắc chắn sẽ đến lúc không c̣n nghi vào đâu được nữa, tuồng như các ngươi đă đi đến chính tận nguồn của ḍng suối và thấy ḿnh đang bị những ngọn núi vây hăm chung quanh. Đây là lúc gốc cây cùng với sắn b́m chằng chịt găy đổ, tức là khi sự phân biệt chủ khách hoàn toàn bị xáo trộn, khi kẻ bị nghi và cái bị nghi ḥa hợp thành một khối duy nhất. Một khi thức tỉnh tự sự hợp nhất này, cái ngộ lớn hiện đến, mang sự thanh b́nh cho nghi t́nh và tham cứu của các ngươi”.
Thiên kỳ Thụy ḥa thượng thị chúng:“Hăy gột sạch khỏi tâm tất cả khôn ngoan lừa lọc, dứt ḿnh ra khỏi tham sân do chấp ngă, và đừng để những mối nghĩ phân hai quấy phá, để cho tâm thức được lau chùi sạch sẽ. Khi đă thanh lọc được như vậy rồi, hăy đề khởi công án trước tâm: “Vạn pháp quy nhất, nhất quy hà xứ?”
“Hăy nghiền ngẫm vấn đề này từ thủy chí chung hoặc bằng nhiều nghi vấn, hoặc đơn độc một suy nghĩ, hoặc chỉ nghiền ngẫm cái Một ở nơi đâu. Bất cứ bằng cách nào cứ để cho hết thảy đầu mối của các câu hỏi ghi đậm trên ư thức của các ngươi khiến cho nó trở thành cái độc nhất, là cái đích chú tâm. Nếu các ngươi để phân biệt lư luật xen vào chuỗi dây liên tục bền bỉ của những nghi t́nh, kết quả sẽ làm sụp đổ hết cả công tŕnh tu tập.
“Một khi các người chẳng được công án trước tâm, chẳng có cơ duyên nào để chứng ngộ hết. Muốn chứng ngộ mà không có công án, chẳng khác nào nấu cát mà mong thành cơm.
“Cái cốt yếu bậc nhất là khơi dậy cái đại nghi và gắng thấy rằng rồi cái Một quy về đâu. Lúc nghi t́nh được giữ linh hoạt liên tục khiến cho những giải đăi, hôn trầm, tán loạn không c̣n cơ hội móng khởi; không cần t́m kiếm ráo riết, rồi thời cơ cũng sẽ đến, đây là lúc tâm hoàn toàn nhập định. Thế là dù đi hay đứng, nằm hay ngồi mà không phải để ư hẳn vào những việc đang làm ấy, cũng không hay biết ḿnh đang ở đâu, Đông hay Tây, Nam hay Bắc; quên luôn cả lục t́nh; ngày đêm như nhau cả. Nhưng đây chỉ mới nửa đường của ngộ, nhất định chưa phải ngộ hoàn toàn. Các người cần phải nỗ lực kỳ cùng và quyết liệt để xuyên qua đây, một trạng thái siêu thoát nơi đó hư không sẽ bị đập vỡ thành từng mảnh và vạn hữu đều được quy về cái b́nh đẳng toàn diện. Đấy lại như mặt trời ló dạng khỏi mây mù, th́ các pháp thế gian hay xuất thế gian đều hiện ra rơ rệt”.
Sở Sơn Thiệu Kỳ Thiền Sư:
“Người sơ cơ cần nhất là phải có một vật để mà nắm vào Thiền; và v́ thế họ được dạy cho pháp môn niệm Phật. Phật tức Tâm. Tâm tức Phật. Tâm và Phật từ đâu mà có? Có từ tâm. Tâm ấy không phải là tâm, không phải Phật, không phải vật. Vậy, là cái ǵ?
“Muốn thấy ra, hăy vứt bỏ đi tất cả những chữ đă tích chứa do học tập, tri thức, kiến giải; hăy chỉ hoàn toàn chuyên chú vào một câu hỏi: “Ai đang niệm Phật?” Hăy để cho nghi t́nh này nghi đến cực độ; đừng say sưa theo những nghĩ tưởng mê lầm; đừng để cho những ư tưởng phân biệt cùng khởi lên. Một khi công phu bền bỉ, liên tục không gián đoạn, th́ Thiền định của các người tất nhiên sẽ được thuần thục, và nghi t́nh của các ngươi nhất định bùng vỡ dữ dội. Rồi các ngươi sẽ thấy rằng Niết bàn (Nirvana) và sinh tử, cơi tịnh độ và cơi uế trược, chỉ là hí luận, và ngay từ đầu chẳng cần ǵ giải thích hay b́nh chú, và thêm nữa, Tâm không thuộc cảnh giới tâm ư thức, do đó là BẤT KHẢ ĐẮC.”
(Trang 186, sđd)Soạn giả Suzuki giải thích thêm:
“Sự phát khởi của lối thực tập công án hoàn toàn là một sự tăng trưởng tự nhiên trong lịch sử của Thiền. Muốn thế, nhiệm vụ của một công án đầu phải là cốt tạo ra, gần như giả trang, cùng một trạng thái ư thức như đă được kinh nghiệm bởi các Thiền sư xưa một cách ngẫu nhiên. Đấy là phương tiện đẩy nghi t́nh vào một điểm tập trung hay “đại nghi”. Nơi công án, không có đầu mối hợp lư để tựa vào bằng trí năng và biện luận…
(Trang 194, sđd)Một trong những bức thơ, đề cập đến các phước báo của phép Niệm Phật và công án, Bạch Ẩn viết:
“Trong việc học (Thiền), cái hệ trọng nhất là cường độ mănh liệt của nghi tâm. V́ vậy, người ta nói Nghi mạnh th́ Ngộ lớn, và có một nghi tâm khá mạnh th́ chắc chắn được ngộ lớn. Lại nữa theo Phật Quốc thiền sư, lỗi lầm lớn nhất (với thiền giả) là thiếu một nghi tâm đặt trên công án. Khi nghi tâm của họ lên đến điểm ngưng chú cao chót th́ có cơ bùng vỡ. Giả sử có một trăm, và cả đến một ngh́n thiền giả như thế, ta đoan chắc mỗi người sẽ đi tới chỗ cứu cánh. Khi thời cơ của đại nghi xuất hiện, họ cảm thấy ḿnh như đang ở giữa hư không, mở rộng cả bốn phương và trải rộng đến vô cùng; họ không biết ḿnh sống hay chết; họ cảm thấy trong suốt lạ thường và dứt khỏi mọi uế trước, tựa hồ đang ở trong một cái bồn pha lê, hay hăm ḿnh trong một khối băng cứng mênh mông; lại y như một người mất hết cảm giác; ngồi th́ quên đứng, mà đi th́ quên ngồi.
“Không một tư tưởng, không một xúc cảm nào móng khởi trong tâm, cái tâm giờ đây hoàn toàn độc nhất chuyên vào công án mà thôi. Lúc bấy giờ, đừng sợ hăi, đừng phân biệt cứ thẳng đường mà tiến tới công án, rồi đột nhiên họ nghiệm thấy như có một sự bùng nổ, tựa hồ cái chậu băng giá vỡ tan từng mảnh, tựa hồ một cái lầu ngọc bị lung lay, và hiện tượng này được kèm theo một cảm giác hoan lạc bao la chưa từng kinh nghiệm trong suốt b́nh sinh...
V́ vậy, các ngươi nên đặt nghi vấn vào công án VÔ và nh́n xem có ư ǵ trong đó. Nếu nghi tâm của các ngươi không hề bị xao lăng, luôn luôn chăm chú trên chữ VÔ, dứt hết mọi ư niệm, xúc cảm và tưởng tượng, chắc chắn các ngươi sẽ đạt đến chỗ hoàn toàn ngưng chú... Đấy tất cả là do sự hiện diện của nghi tâm trong các ngươi; v́ nếu không có nghi tâm th́ không đi tới chỗ cao tột này và ta đoan chắc với các ngươi, nghi tâm là đôi cánh mang các ngươi đi đến cùng đích.”
(Trang 198, sđd)Kết thúc phần nói về tầm tối quan trọng của “Nghi T́nh” trong khán Công Án, Thoại Đầu, tác giả Suzuki viết:
“Trong một tác phẩm tựa đề “Bác Sơn tham thiền cánh ngữ”, những lời cảnh tỉnh về tham Thiền của Bác Sơn; tác phẩm thuộc triều Minh, vấn đề nghi t́nh được thảo luận rất kỹ, lược nêu như sau: “Trong công phu chứng Thiền, điều cần thiết là nuôi dưỡng một khát vọng mănh liệt muốn hủy diệt cái tâm c̣n trong ṿng sống chết. Khi khát vọng này được khơi dậy, hành giả nghe ra tuồng như ḿnh đang bị một ngọn lửa hừng hực vây phủ. Y muốn trốn chạy nó nhưng không thể được, đứng im ra đấy không thể được, suy nghĩ vớ vẩn không thể được, mong chờ tha lực cũng không thể được. Để khỏi mất th́ giờ, y phải vận hết sức b́nh sinh mà nhảy xổ ra, không e dè ǵ đến hậu quả.
Một khi khát vọng ấy được nuôi dưỡng, phải khơi dậy nghi t́nh và giữ vững nó trong ḷng, cho đến phút chót khi đi tới một giải đáp. Mối nghi này nhắm từ chỗ “sinh từ đâu đến, chết đi về đâu” và luôn luôn được nuôi dương bởi khát vọng muốn vượt lên trên sống chết. Cái đó khó lắm, trừ phi nghi t́nh được thuần thục và tự bùng vỡ thành một trạng thái chứng ngộ.
Phương pháp làm thuần thục cốt ở chỗ :
1 Không bận ḷng đến những pháp thế tục.
2. Không đắm ḿnh trong trạng thái tịch mặc.
3. Không dao động bởi vạn vật.
4. Luôn luôn tự cảnh tỉnh, như mèo ŕnh chuột.
5. Tập trung tâm lực vào công án.
6. Không cố gắng giải quyết công án bằng trí năng trong khi chẳng có tŕnh tự luận lư nào trong đó.
7. Không có mổ xẻ nó.
8. Không coi nó là một trạng thái vô hành.
9. Không coi trạng thái sáng tỏ tạm thời là cứu cánh.
10. Không đọc công án y như tuồng niệm Phật hay tụng chú (dharani).Khi những chỉ dẫn này được thi hành nghiêm chỉnh, hành giả chắc chắn đưa nghi tâm đến chỗ thuần thục. Nếu không, không những không khơi dậy nổi nghi t́nh, hành giả c̣n dấn bước vào những chốn lầm lạc và sẽ không bao giờ có thể vượt khỏi sự ràng buộc của sống chết, nghĩa là không chứng được đạo Thiền”…
(Trang 200, sđd)
Sau khi lược sơ 200 trang của chương “Tu Tập Công Án: Phương Tiện Chứng Ngộ”, qua những trích dẫn kể trên, có lẽ chúng ta đă thấy rơ rằng:1 – Tác giả Suzuki chủ trương “không thể dùng tâm ư thức, suy tư t́m hiểu, kiến giải, để khán Công Án, Thọai Đầu”.
2 – Đề lên rất cao tầm quan trọng của “nghi t́nh” trong khán Công Án.
3 – Ông không dạy “giải công án”. Suốt 200 trang tŕnh bày về “Tu Tập Công Án: Phương Tiện Chứng Ngộ”, tác giả Suzuki không hề chủ trương “giải công án”. Không những thế, ông c̣n chống lại sự giải thích công án qua những ḍng như: “…kẻ thù tai hại nhất của kinh nghiệm Thiền là trí năng, và … giải thích của trí năng không có tác dụng ǵ hết trong công án…”…
Như thế, nếu có ai “cho là” một cách sai lầm rằng soạn giả Suzuki dạy “giải công án”, có lẽ là do người đó chưa hề “đọc” Thiền Luận của ông Suzuki, mà chỉ đoán ṃ rằng v́ ông Suzuki là người Nhật, nên dạy “giải công án”!
Ở Nhật có trường thiền dạy giải công án, cho là giải được càng nhiều, càng tốt. Nhưng soạn giả Suzuki không hề “dạy” ai “giải công án” trong Thiền Luận, không những thế trong những dẫn chứng, chúng ta đă thấy tác giả bác bỏ việc giải công án một cách kịch liệt.
Tóm lại, có một số thiền sư dạy giải công án tại Nhật, nhưng không có nghĩa là tất cả các thiền sư Nhật đều dạy giải công án. Chúng ta có thể kiểm chứng điều này tại tu viện Shasta, là một chi nhánh của Soto Zen bên Nhật. Thiền viện tọa lạc trên núi Shasta, tiểu bang California. Đạo hữu Danny Việt (có một số bài đăng trong Thư viện Hoa Sen) đă từng tới đó tu học, viết rằng “không hề có chuyện “giải công án”. Ở đó thiền sinh theo phương pháp của thiền sư Đạo Nguyên truyền lại là “Chỉ Quán Đả Tọa” (Shikantaza meditation). Phương pháp này không “khán” hoặc “giải công án” ǵ cả”.
Thành kiến cũng tức là biên kiến, là ác kiến, là tai họa trong tu thiền v́ nó “chấp chặt” vào một quan điểm nào đó, không cần biết là đúng hay sai, -- trong khi tu Thiền th́ lại chủ trương “phá chấp” triệt để. Thành kiến về một điều ǵ đó, không tự ḿnh t́m hiểu đúng sai, tức là tự ḿnh đă bịt mất một con mắt t́m chân lư, uổng phí lời đức Phật dạy trong bài kinh Kalama, không thấy được ánh sáng của Sự Thật.
Hà Minh Triết
Cư sĩ Truyền Bích:
Thưa Đạo hữu THC,
Sau khi t́m hiểu về ông Lư Việt Dũng, tôi có được thông tin sau đây:
Ông Lư Việt Dũng biết nhiều về Phật pháp nhưng biết với tính cách của một học giả, một nhà nghiên cứu thuần túy dùng tư duy lư luận để t́m hiểu chứ không có tu, không có chứng. Cho nên luận giải của ông ấy chắc là chủ quan suy luận suông mà thôi, có thể coi là hí luận. Ông ấy chỉ dạy Hán văn cho các tăng ni, phật tử ở Thiền viện Vạn Hạnh (đường Nguyễn Kiệm SG) chứ không phải dạy Thiền, xin đừng hiểu lầm.
Bài của ông Dũng chủ trương dùng cái biết để giải công án c̣n phương pháp của thầy Thích Duy Lực là dùng cái không biết để tham công án, để phát khởi nghi t́nh. Giải công án tất nhiên là vô ích, dù có giải được tất cả công án cũng vô dụng, vẫn không thể giác ngộ, v́ tất cả hiểu biết, tất cả lư luận đều thuộc phạm trù vô minh. Triết học và khoa học của loài người cũng đều nằm trong phạm trù vô minh.
Nhưng dù sao cũng không có ǵ phải hoang mang nếu hiểu được những điều cơ bản của Phật pháp.
Những điều cơ bản của Phật pháp là:
1. Tin rằng ai cũng có Phật tánh và tu là để phát hiện Phật tánh của ḿnh, lúc đó gọi là kiến tánh, giác ngộ thành Phật.
2. Có nhiều phương pháp để tu. Tuỳ theo nhân duyên, nếu pháp nào hợp với ḿnh th́ tu theo pháp đó.
3. Khi đă quyết chí tu tập theo pháp môn nào th́ phải theo đúng tôn chỉ của pháp môn đó. Đối với pháp môn Tổ Sư Thiền do thầy Thích Duy Lực hoằng truyền th́ tôn chỉ đó là: VÔ SỞ ĐẮC, VÔ SỞ CẦU, VÔ SỞ SỢ.
4. Để phân biệt chánh pháp và tà pháp th́ căn cứ vào các điểm sau:
a/ Phá ngă chấp là chánh, ngược lại là tà.
b/ Phá chấp thật là chánh, cố chấp là tà. Vũ trụ vạn hữu là vô thường, v́ " Tam giới duy TÂM, vạn pháp duy THỨC (ba cơi Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới đều là ảo ảnh của tâm, tất cả sự vật hữu h́nh và vô h́nh trong pháp giới vũ trụ đều chỉ là ảo giác của thức, tất cả chúng đều thuộc phạm trù VÔ MINH).
c/ Không lạc lối vào tranh luận chỉ trích người khác là chánh, ngược lại là tà.
d/ Tinh tấn tu tập công phu miên mật là chánh, ngược lại là tà.
Phật Thích Ca ngày xưa trước khi thành Phật cũng đă từng tu theo giáo phái Bà-la-môn, sau thấy chưa rốt ráo nên mới không theo ai cả mà ngồi tham thiền dưới cội cây bồ đề cho đến khi giác ngộ thành Phật. Vậy vấn đề là ta phải dấn thân thực hành, có tu tập rồi mới biết đúng sai. Nếu cứ "văn" và "tư" măi th́ cũng chẳng đi đến đâu mà chỉ phí th́ giờ vô ích.
Trên đây là vài ư kiến thô thiển của tôi, nếu có ǵ sai sót, xin quư Thày và quư vị chỉ giáo.
Truyền Bích
Cư sĩ Trần Hiển Chánh:
Thưa đạo hữu Truyền Bích,
Đọc thư của đạo hữu với những lời phân tích b́nh tĩnh, ôn tồn, quan tâm đến câu hỏi của kẻ t́m học, tôi rất vui mừng. Ít ra, tôi đă thấy được một trong số qúy hành giả Tổ Sư Thiền đọc kỹ thư tôi gửi, hiểu thấu đáo những câu hỏi để không dùng những câu trả lời trịch thượng, khiếm nhă, lùm loạp, thậm chí mạ lị người hỏi bằng cách mạt sát đến cả tư cách người ta một cách chụp mũ.
Thư tôi gửi tới qúy vị là mong qúy vị lên tiếng với bài báo của ông Lư Việt Dũng về sự dạy sai của ông ấy trong pháp môn Tổ Sư Thiền, để các thiền sinh c̣n mới bước chân vào cửa Thiền không bị lạc hướng. Nhưng có vài vị chưa đủ định lực để b́nh tĩnh đọc một bức thư cho thấu suốt ư người gửi, đă nổi lên những lời mạt sát vô căn cứ, thật đáng tiếc rằng qúy vị đó c̣n quá thiếu sót về mặt hành tŕ cho nên mới nóng nảy như thế.
Phần đầu thư, đạo hữu đă mạnh dạn phân tách bài giảng của ông Lư Việt Dũng và cho biết là ông ấy dạy cách khán Công Án như thế là sai, rơ ràng minh bạch, xin cảm ơn đạo hữu.
Phần thứ hai trong thư đạo hữu th́ tôi cũng đă thường đọc trong các bài giảng của thiền sư Thích Duy Lực, bàng bạc trên khắp các thư viện điện tử và các diễn đàn điện tử toàn cầu của Phật giáo. Tuy nhiên, không phải v́ thế mà chúng ta ngủ quên, không thấy rằng một bậc thày như ông Lư Việt Dũng, chẳng lẽ chưa hề đọc qua các bài giảng của thiền sư Thích Duy Lực hay sao mà lại đă dạy ngược với những lời dạy của thiền sư về khán Công Án, Thoại Đầu. Ngoài ra, ông Lư Việt Dũng c̣n viết những câu dễ gây hiểu lầm cho bậc thày Tổ Sư Thiền như:
Trích Lư Việt Dũng:
…”… không thiếu chi sư gia đă lợi dụng đặc tính “bí hiểm” trên để che đậy chỗ hạn chế của ḿnh…”…
Cho nên, nếu thấy những bài gây hiểu lầm cho pháp môn Tổ Sư Thiền mà có người gửi thư tới “thăm hỏi và nhắc nhở” th́ xin qúy vị ấy cũng mở ḷng từ bi mà giúp cho người muốn học hỏi khỏi đi lạc đường.
Xin rất cảm ơn đạo hữu và mong qúy hành giả lăo tham trong Tông Môn có được thái độ ôn ḥa, nhiệt thành và đọc kỹ thư hỏi đạo từ các nơi gửi tới để hiểu sâu sắc và trả lời rành mạch như đạo hữu.
Kính,
THC
Cư sĩ Nhuận-Bảo:
I.
Trước hết xin nói rơ, ở đây chúng tôi không mong làm cái việc khờ khạo, nguy hiểm và đáng chê trách như là những kẻ cầm c̣i chạy trước đầu xe. Bỡi việc làm đó chẳng những vô bổ đă đành, mà c̣n có hại cho tự thân và những người can hệ, tức các bạn đồng tu và những người đang nghiên cứu về Thiền học, đặc biệt những người bắt đầu có hứng thú với pháp tham công án Thiền.
Có nghĩa là, tuy đề tài có liên quan đến Thiền, đến Đạo, nhưng nội dung của bài viết hoàn toàn không mong lư-giải ư Đạo, ư Thiền ḥng thỗ măn tham vọng hiểu biết không thấy chán của người đời, hay mong muốn lấp đầy tri thức sanh diệt cho sự ṭ ṃ của người học đạo. Những việc làm ngốc nghếch đó, trước hết chẳng đem lại ích lợi ǵ cho sự đạt ngộ của người thật sự cầu đạo giải thoát, cũng như chẳng dính dấp ǵ tới bản chất và mục đích tối thượng của công án.
Bỡi một sự thật quá rơ ràng là, công án là tinh ba cốt tuỷ của Thiền được vận dụng thành lời, thành hành động vượt thoát nhị nguyên nhơn quả, nên tự thân nó và công năng kỳ đặc của nó cũng không nằm ngoài bản chất thanh tịnh tuyệt đối, vô ngôn, "biết rơ ràng nói không thể tới" của Thiền học. Điều ấy có nghĩa, tuy nó cũng là ngôn ngữ, là hành động nhưng chúng ta không thể hiểu nó bằng tư duy, phân biệt hay suy lường, mà chỉ có thể thâm nhập nó, "biết" nó bằng trực giác. Thế nên những công án Thiền không phải là đối tượng để cho chúng ta có thể tiếp cận hay hiểu nó bằng cảm quan, t́nh thức, bằng học vấn, suy tư hoặc có thể mổ xẻ, lư giải bằng ngôn ngữ, văn tự theo cách hiểu thông thường. Nghĩa là những Thiền ngữ này, tức phương tiện khai thị của các Thiền-sư hoàn toàn chẳng giống như những bài toán, những luận đề hay là những lư thuyết khoa học mà con người có thể biện biệt, phân tích, luận bàn đúng sai phải trái, để rồi dẫn đến một kết luận tương đối hay cho ra một đáp án khả dĩ số đông chấp nhận được. Bản chất và công năng của Công án Thiền hoàn toàn không phải như thế.
Có nghĩa là, với tánh sáng tịnh-thanh "vô nhứt vật", dù chỉ mảy may khái niệm cũng không có chỗ đứng, không chỗ dính dấp tới cảnh giới Thiền, nhưng cũng ngay đây, đức Phật và tiếp nối sau đó là chư Tổ Thiền-tông đă vận dụng trí huệ giải thoát và sức biện tài không thể nghĩ bàn lên ngôn ngữ và hành động vượt thoát khái niệm nhị nguyên một cách tài t́nh để ứng dụng thành phương tiện độc đáo mà độ người. Đó là thứ ngôn ngữ, hành động xuất sanh từ cảnh giới tự chứng, vượt tri kiến, ĺa đối đăi nhơn quả, có công năng vừa chặn lấp, đánh đổ, triệt tiêu toàn bộ mọi ngóch ngách có thể nghĩ ngợi, suy lường bằng thế trí của người đối diện, vừa kích thích sự phát huy mạnh mẽ tiềm năng trực giác, vừa cùng lúc biết khai mở lối thoát đúng thời điểm cho trực giác phóng xuất; ngay đó tánh thấy biết bổn lai bùng vỡ, cũng là hốt nhiên ngộ nhập bản thể .
Một hôm ngoại đạo mang hoa đến dâng Phật, thỉnh Phật khai thị.
Phật bảo : - Buông hoa xuống.
Ngoại đạo buông hoa.
Phật lại bảo : - Buông tay xuống.
Ngoại đạo buông tay.
Phật dạy tiếp : Buông thân xuống.
Ngoại đạo đang lừng khừng, lưỡng lự.
Phật quở : Không buông được th́ gánh lên đi.
Vừa chợt nghe, ngoại đạo hốt nhiên đại ngộ.Thiền ngữ của các bậc giải thoát như mây bay, như gió thổi, như sấm sét, như mưa rào, chợt đến, chợt đi, thoắt biến, thoắt hiện, không từ một gốc gác, một trụ xứ nào, khiến không một mảy may t́nh tưởng, tri thức có thể nắm bắt, nương vin. Tuỳ căn cơ, trí tuệ, và đặc biệt là phước duyên sâu dày của từng người cầu đạo đối với pháp môn này mà ngay trong chỗ biến hóa khôn lường của từng lời vượt thoát kia vừa chợt ĺa miệng Tổ, thiền ngữ tự có công năng kỳ đặc, nhiệm mầu, kích thích sự khai mở tuệ nhăn một cách tích cực, hiệu quả tức th́.
Trong thời Chánh-pháp, sau khi đức Phật nhập diệt, một hôm, ngài A-Nan hỏi Tổ Ca-Diếp:
- Bạch Sư huynh ! Khi Thế-tôn phó chúc và truyền y kim tuyến cho Sư huynh, c̣n có pháp ǵ truyền riêng nữa chăng ?
Tổ Ca-Diếp liền gọi :
- A-Nan !
Ngài A-Nan ứng thinh :
- Dạ !
Tổ Ca-Diếp bảo :
- Trời chiều rồi, đem cây chống cữa vào.
Vừa chợt nghe, ngài A-Nan liền tỏ ngộ.Lời khai thị của các Ngài đôi khi như chẳng dính dấp ǵ tới cái đích hỏi của người cầu đạo. Thế nhưng nếu là người lanh cơ, trực giác mạnh mẽ, có thể liền ngay đó bắt nhịp cùng ḥa "một" với các Ngài, th́ con đường sống tức khắc mở toang trước mắt.
Một ông Tăng hỏi ngài Triệu-Châu :
- Con mới vào chùa, xin Ngài chỉ dạy:
Sư hỏi :
- Ăn cháo chưa ?
Ông ta đáp :
- Ăn cháo rồi.
Sư nói :
- Rửa bát đi.
Vừa chợt nghe, ông Tăng liền tỏ ngộ.Chánh pháp Nhăn tạng của đức Phật, c̣n được gọi là Thiền tông. Tổ sư Bồ đề Đạt ma, vị Tổ thứ 23 của Thiền-tông Thiên trúc, đă đem Chánh-pháp này truyền sang đất nước Trung-hoa. Ngài được tôn xưng là Sơ-tổ của Thiền tông Trung-hoa. Tông này sau đó được Tổ Tổ trao truyền, tiếp nối xiểng dương, chẳng những phát triển mạnh mẽ trong nước mà c̣n lan toả đến các quốc gia lân cận như Nhật bản, Triều tiên, Việt-nam suốt một thời gian dài, ảnh hưởng đến tận ngày nay.
Ở Việt-nam, vào đời nhà Trần, nhất là dưới thời của Điều-Ngự Giác-Hoàng Trần-Nhân Tông trụ thế và giáo hóa, chánh pháp này được nhiều người tu học, nhiều người đắc pháp và có thể nói, đó là đỉnh cao, là thời kỳ cực thịnh của Thiền-tông Việt-nam nói riêng và Thiền học Phật giáo nói chung.
Công án Thiền mà chúng ta đang đề cập, chính là Thiền ngữ của các bậc đắc pháp ngày xưa (Trung-hoa và Việt-nam) được những bậc thầy của Tông môn này sưu tầm, kết tập lại để dạy người đời sau tham thiền, tu học .
Trong bài viết này, chúng tôi không đá động ǵ đến nội dung, cũng là tinh ba sống động của công án Thiền. Điều ấy có nghĩa là, chúng tôi đủ sáng suốt để biết rằng, không dại ǵ mà tự nhiên gây nghiệp oan gia cho chính ḿnh, chẳng khác cầm c̣i chạy trước đầu xe như đă cảnh giác ở trên. Bỡi một điều quá dễ hiểu, là tự thân công án chẳng khác viên Ma-ni bảo châu sáng trong, óng ánh, tuỳ ở từng vị trí khác nhau của ánh mắt hướng về nó mà tự nó phản quang, chiếu diệu muôn màu muôn vẻ khác nhau. Không có tia sáng và mầu sắc của một góc cạnh nào giống tia sáng và mầu sắc của một góc cạnh nào, mà tự nó luôn luôn đổi khác, luôn luôn mới lạ, luôn luôn sai biệt nhau, tuỳ thời và điểm nhỏ nhất của từng ánh mắt hướng về nó. Cho nên chúng ta hăy cứ lẳng lặng, yên ổn, thong thả và kiên nhẫn mà ngắm nghía, chiêm ngưỡng nó trong từng mỗi góc độ nhỏ nhất; nếu biết đem hết thân tâm ḥa quyện vào nó, miệt mài không rời ĺa, không dừng nghỉ, cho đến một lúc nào đó tṛn duyên, hạnh lành kia chuyển thành công đức, vâng, công đức, nhưng phải nói là công đức hy hữu mới xứng, tức bất giác tự làm "một" cùng nó. Tới chừng đó, nó chẳng c̣n là nó đối với ta nữa, ta cũng chẳng c̣n là ta đối với nó nữa, mà nó là ta, ta là nó, không phải hai, không phải khác mà là nhứt hợp tướng; nói nhất hợp tướng cũng chỉ là cách mượn ngôn ngữ để tạm gọi cái chỗ "một" tuyệt đối nói không thể tới, an ổn, tịch lặng, sáng trong, bất động, tuỳ duyên thị hiện khắp cơi ba thời, mà chợt nh́n lại, không chốn đi về.
Một khi tánh thấy biết bừng sáng, tức con mắt đạo học khai mở, th́ tự mỗi người liền nhận ra cái thấy biết vừa khám phá đan xen với cái thấy biết thường t́nh trước đây,thông lưu vô ngại nhau. Cũng ngay đó, liền tự biết như thật, vạn pháp trước mắt và cả cái thân tâm đang động tay, múa chân, nghĩ suy, nói nín này, cũng như cái thấy biết thường t́nh trước đây đều là chỗ dụng, là cái bóng của tánh biết tuyệt đối . Tất thảy những sắc tướng mà một sát na trước, với con mắt và cái biết thường t́nh, ta cho là thật có, th́ một sát na sau, bằng tánh biết tuyệt đối, tự biết như thật, tất cả đều như huyễn, như hoá, không phải thật có; thật tướng của chúng là không; tánh biết sáng suốt tuyệt đối mới là bản thể chơn thật, tự tại, phi sanh diệt, cũng là pháp thân thường trụ.
Lời nói và động tác có tính cách giáo hoá của những người vừa được khai thị, đều chân thật, v́ nó xuất sanh từ tánh biết tuyệt đối, vượt ĺa khái niệm, cũng tức là từ cảnh giới Thiền, trong trẻo, chơn như, vô ngă, vô sở đắc, vô sở trụ nên người b́nh thường khó cùng bắt nhịp, nghĩa là không sao hiểu được. Thế là đối với cái thấy biết của người b́nh thường, những lời nói, những hành động vượt thoát kia lại trở thành những công án .
Ngày xưa, thiền sinh học đạo may mắn hơn chúng ta ngày nay rất nhiều, đó là được chư Tổ Thiền-tông đắc pháp dẫn dắt trong các Thiền đường, trực tiếp, mặt đối mặt, nên số người đắc pháp, theo Thiền sử, cũng không phải nhỏ, bỡi đó là thời kỳ cực thịnh của Thiền học. C̣n ngày nay, chúng ta chỉ biết dựa vào lời dạy của người xưa, được gọi là công án Thiền, tức tham học lại những thiền ngữ c̣n ghi trong sử sách, song song với việc nghiên cứu kinh điển Đại thừa, để tự tham tự tu là chính. Không biết cách tu học như thế có phải là Thiền-Giáo song tu như người ta thường nói đến chăng?
Đôi khi cũng có ngoại lệ, đó là những người may mắn hơn nhờ duyên phước sâu dày, có thể gặp được các bậc đắc pháp của Tông-môn này trực tiếp dẫn dắt, th́ sự đạt ngộ có thể nhanh chóng hơn những người trên kia. Nhưng điều này phải nói là rất hiếm, v́ các Thiền sư đến đi thường ít lưu dấu, nên cũng khó có cơ duyên để nhận biết mà cầu học. Có lẽ đó là t́nh trạng thật tế của Tông Thiền tại thời điểm này nói chung, cũng như pháp tu tham công án Thiền nói riêng chăng?
Chư Tổ đă tịch diệt nhưng tâm từ thương xót chúng sinh th́ xuyên suốt không gian và trùm khắp ba thời, nên đă ǵn ḷng tốt lưu lại cho thế gian những báu vật vô ngần, tức những công án kia. Phận làm con cháu các Ngài, chúng ta nên biết trân trọng, giữ ǵn cái vốn quí ấy như ǵn giữ viên bảo châu Ma-ni, để luôn luôn được trong sáng, mới mẻ, lúc nào cũng tinh nguyên, không sức mẻ, hoen ố. Có làm được như thế, những hàng hậu bối tiếp bước chúng ta trên con đường tu học theo Chánh-pháp Nhăn tạng của đức Phật chắc chắn sẽ cảm kích và biết ơn chúng ta lắm lắm.
II.
Bản thể của Thiền là tuyệt đối, vô ngă, vô sở đắc. Và dưới con mắt của Thiền học, chơn lư tối thượng này hiển bày, đó là bản tánh chơn thật của mọi hiện tượng trên đầu, dưới chân, sau lưng, trước mắt đều "không", cũng là nhứt thiết pháp vô ngă, tánh vô tự tánh. Bỡi thế cho nên, để hiểu Thiền thế nào cho đúng "như tánh nó là", cũng có nghĩa là để quay trở về lại bổn tánh tự thuỷ tuyệt đối, vô ngă, chơn thường, vô sở đắc th́ chúng ta chỉ có một cách duy nhất là phải cùng nó dung thông, vô ngại nhau; hay nói rơ hơn, chỉ có thể cùng nó tự "một" ngay khi nào trạng thái tinh thần đạt tới "vô ngă" như bổn tánh nó là.
Đă gọi là tự tánh th́ tánh này cùng ta (thân tâm này) chỉ một. Sống chơn thật "một" trong chính nó, đó là cuộc sống Thiền, là an trú pháp thân thường trụ, là không rời ĺa tự tánh Phật, là sống với tánh biết tuyệt đối, chơn thật, vô ngă, nhứt như. Mà đă gọi là tuyệt đối, vô ngă, nhứt như, th́ làm ǵ có đối tượng để mà dụng ngôn, nghĩ tưởng, hay tiếp cận tới được. Thế nên tới chỗ này th́ cũng là ngay sát na đó tự thể vắng lặng, bặt ngôn ngữ, ĺa t́nh tưởng, tri thức, cũng là ở trong trạng thái "vô", vô ngă, vô chấp, vô phân biệt. Hay nói ngược lại, để trở về bản thể uyên nguyên, th́ người tu Phật, đặc biệt là những người căn cơ trí tuệ vào hàng trung thượng, đang cầu học theo Chánh pháp Nhăn-tạng của Thế-tôn, trước khi dụng công tham học, cần biết buông xả thân tâm cho thư thái, khiến cái tâm đang ở trạng thái "có", tức cái tâm ràng buộc "hữu-vô" đối đăi, trở thành cái tâm "hư", rổng rang, nghe nh́n không phân biệt. Ngay ở trạng thái tâm thể này mà dụng công tham học Công-án Thiền, lại may mắn có được bậc đắc pháp trực tiếp dẫn dắt, đến lúc hạnh lành tṛn duyên , ắc đốn ngộ bản thể tuyệt đối một cách diệu kỳ, không ngờ được.
Trong Pháp-Bảo Đàn kinh, có đoạn miêu tả việc tu sĩ Huệ-Minh đảnh lễ và thưa hỏi ngài Huệ-Năng, lúc Ngài c̣n chưa thọ cụ túc giới và đang trên đường bôn tẩu để tránh bị truy sát.
Giữa chốn núi non, tu sĩ Huệ-Minh thưa thỉnh
- Xin Hành-giả thuyết pháp cho tôi nghe.
Huệ-Năng nói :
- Ngươi đă v́ pháp đến đây th́ phải dẹp hết các duyên, chớ sanh một niệm nào, ta sẽ thuyết cho ngươi nghe.
Tu sĩ Huệ-Minh tịnh tâm giây lâu, Huệ Năng liền nói :
- "Đừng nghĩ thiện, đừng nghĩ ác, chính trong lúc đó, thế nào là bổn lai diện mục của Minh thượng toạ?".
Tu-sĩ Huệ-Minh chợt nghe, liền đại ngộ.Do thế trí và ngôn ngữ không thể tiếp cận được tới chỗ ảo diệu của bản thể tuyệt đối, như hư như thật, như có như không, nên nói "một" cũng chỉ là cách quyền biến mượn lời tạm gọi mà thôi. Tự trong "một", tánh và tướng đan xen vô ngại nhau, nghĩa là cái tướng động tay, múa chân, đứng ngồi, nghĩ suy, nói nín này là cái bóng, là chỗ dụng của thể tánh kia, như cái thấy của con mắt. Cái thấy ẩn tàng trong con mắt, nh́n thấy khắp mọi vật nhưng lại chẳng thể thấy chính "cái thấy" của nó. Giả như bất giác có lúc nào đó, cái thấy của con mắt tự nh́n vào trong hốt nhiên thấy được "cái thấy" của chính nó, cũng là tánh thấy, th́ ngay đó hết chỗ nói. Hai cái "sự thấy và tánh thấy" đă "nhứt như", thể và dụng của nó đan xen làm một, dung thông, vô ngại, mà trong đây, nói một cũng thiệt chẳng phải một, chẳng phải hai, cũng không phải khác, không thể mở miệng, hay suy lường, nghĩ tưởng tới được. Đó chính là "sắc tức thị không, không tức thị sắc, sắc bất dị không, không bất dị sắc" mà đức Phật đă tán thán ngài Quán-thế Âm Bồ-tát có chỗ thấy biết sáng suốt, chơn thật, tuyệt đối sau khi hành tŕ pháp Bát-nhă Ba-la-mật (Trí-Huệ Giải thoát) đến chỗ sâu rộng không thể nghĩ bàn.
Tri thức, t́nh tưởng, giác quan của chúng ta đối với tánh biết sáng suốt này cũng vậy, đan xen nhau làm một, dung thông vô ngại như nước với sữa. Sáng tánh biết th́ biết rơ ràng mà nói không thể tới, v́ tự thể là một nhất hợp tướng, nhưng chẳng phải thiệt một, không phải hai cũng không phải khác. C̣n một khi đă mở miệng được th́ chẳng phải thật sự "đang-là" một trong nó. Bỡi vậy, chợt khởi niệm, hay nghĩ suy, phân biệt th́ liền cùng tánh biết chia ĺa, là trăm sai, ngàn khác, biệt mù xa cách.
Cho nên, những ai có ư nghĩ dùng tri thức phân biệt, dù là tri thức bác học đi nữa để mong tiếp cận, giảng giải, luận bàn đúng sai, phải trái các công án Thiền th́ cũng có nghĩa là trong chỗ vô t́nh v́ thiếu hiểu biết, hay cố ư v́ muốn làm lớn thêm danh tướng của bản ngă, muốn chứng tỏ cái sở học của ḿnh, th́ việc làm này khiến tự ḿnh càng xa ĺa, càng đánh mất bản thể chơn thật của chính ḿnh.
Như trên đă nói, không thể coi Thiền như là một đối tượng, nghĩa là nó không phải là một sự, một vật có h́nh tướng cụ thể nào, hoặc một ư niệm trừu tượng nào là hai là khác đối với "ta" để có thể mường tượng, hoặc dùng cảm quan, t́nh thức, nghĩ suy, phân biệt mà với tới được. Tự bản chất nó không là ǵ cả. Nói không là ǵ cả cũng không phải là không ngơ không có, mà tánh chơn thiệt bổn lai không phải có không phải không, là như không như có, như hư như thật, không đến, không đi, xuyên suốt, bao trùm, bất biến, không đâu không hiện hữu. Đă nói bất biến sao lại hiện hữu cùng khắp ? V́ bổn tánh thường hằng, bất biến nhưng linh diệu, tuỳ duyên khéo sanh các pháp, như mặt trăng sáng tỏ, tịch lặng chiếu soi mà khiến có muôn vàn bóng trăng trên sóng nước, trên những giọt sương, ao hồ, nước vũng.
Nói không là ǵ cả, cũng có nghĩa là nó không thuộc về sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, không phải tứ đại ngũ uẩn, tức những món trói buộc trong nhơn quả. V́ không là ǵ cả nên cũng không tên, không tuổi, không mặt mày, gốc gác. Có thể gọi nó là "Vô", tức cái "vô" tuyệt đối. V́ tuyệt đối, cũng là không có đối đăi, nên chẳng thể thấy, nghe, hay, biết bằng thế trí, chứ chẳng phải cái vô của "hữu - vô" tương đối trong nhơn quả nhị nguyên. Bản tánh của nó, tuy nói "Vô" cũng chỉ là một cách gọi, chứ "vô" mà chẳng phải thiệt "không", mà như không như có, như thiệt như hư, nên mới có thể từ đó diệu sanh các pháp. Bản tánh nó như thiệt như hư, như không như có, cũng là pháp thân thường trụ .
Một hôm Lục-Tổ Huệ-Năng hỏi đại chúng:
Ta có một vật không đầu không đuôi, không danh, không tự, không lưng không mặt, các ngươi có biết vật chi chăng?
Thần-Hội bước ra bạch : - Vật ấy là nguồn gốc của chư Phật, là Phật tánh của Thần-Hội.
Tổ nói : "Ta đă nói vật không danh không tự, mà ngươi laị gọi là nguồn gốc Phật tánh. Ngươi dù đi tới đâu, có nắm tranh che đầu, cũng chỉ thành một tông đồ trí giải mà thôi.Chơn Thiền th́ vô nhiễm. Không nhiễm sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, nhưng trang trải, chan hoà, thông lưu cùng khắp mọi sự vật, mà giác quan, tri thức, t́nh tưởng không thể nắm bắt. Hay nói ngược lại, chợt khởi niệm tưởng, t́nh thức, phân biệt th́ liền cùng nó chia ĺa, ngàn trùng xa cách. Tự dẹp sạch phân biệt, để tâm trở về trạng thái "point mort - số không", tức cái tâm hư, rổng rang, vắng lặng, th́ chơn tánh hiện tiền, thông lưu cùng khắp, mà ngay đó, biết như thật ḿnh cùng nó chẳng phải một, chẳng phải hai cũng không phải khác. Tại chỗ này, tạm mượn từ gọi là chỗ, cái chỗ không chỗ, tuyệt đối, trùm khắp, vượt quá thời-không nhơn-quả, biết rơ ràng nói không thể tới. Chợt động môi, suy tính, nghĩ ngợi th́ liền cùng nó chia ĺa, trăm sai ngàn khác. Thế nên, c̣n biết thở, c̣n biết động tay múa chân, nghĩ suy nói nín, th́ c̣n biết như thật, Thiền tồn tại cùng khắp, vượt không gian và thời gian, không đâu không hiện hữu.
Một sự thật đă quá rơ ràng như thế, nhưng không hiểu v́ sao, ngay trong thời đại này, vẫn c̣n có người đem Thiền ngữ của cổ nhân ra luận bàn, giảng giải, nào là ư thiền như thế này, ư đạo như thế nọ, thậm chí có vị c̣n đ̣i vạch ra bộ mặt thật của Tông Thiền cho người ta thấy, th́ quả đúng là chuyện siêu hí luận, là hành động rất đáng bị lên án.
Việc làm ngớ ngẩn ấy, chẳng những không đem lại lợi ích ǵ cho việc đạt ngộ của người tu học đă đành, mà c̣n gây hậu quả khôn lường là chận đường, bít lối của những người đi sau muốn tu tập theo pháp môn này; c̣n đối với bản hoài của đức Phật và Tông chỉ của Tổ sư, ngài Bồ-đề Đạt ma, th́ đó chẳng phải hành động đi ngược lại với Tông-môn, đắc tội với Tổ, Phật ư?
Bỡi cớ sao ? Bỡi v́ công án Thiền luôn luôn là những lời khai thị linh hoạt, sống động, vượt quá ảnh hưởng của không gian và thời gian. Nghĩa là, cũng một công án này mà hàng ngàn người có thể cùng lúc tham học; nhưng tuỳ căn cơ, trí tuệ, phúc đức của mỗi người mà từng người có được chỗ khai mở nhiệm mầu vi tế khác nhau, không ai giống ai, nhưng cùng một kết quả, đó là đốn ngộ Phật tánh. Giảng giải công-án Thiền, dù vô t́nh hay cố ư cũng đều là hành động giết chết sự sống của nó, là đốt cháy trí tuệ linh hoạt của người xưa, khiến nó biến thành những từ ngữ chết, những cái xác không hồn, vô giá trị đối với người cầu học đă trót lỡ phải nghe những lời giảng giải đó.
Tới đây, người viết bỗng nhớ ra, nếu không lầm th́ h́nh như trong Đạo-Đức kinh, Lăo-Tử có dạy "Tri giả bất ngôn, ngôn giả bất tri - , nghĩa là "đă thật biết th́ không thể nói ra được, c̣n nói ra được th́ không thật biết". Lời của bậc Thánh nhân chẳng những nói không sai, mà phải nói lại cho đúng, là ngàn đời không sai. Vâng, từ hơn năm trăm năm trước công nguyên tới giờ, nội dung câu nói ấy vẫn c̣n giữ nguyên giá trị, nhất là đối với Thiền-học, v́ đó là chơn lư.
Lời răn dạy nghiêm khắc của bậc thánh nhân ở trên khiến người viết cảm thấy thẹn thùng, ái ngại, v́ tự nhận là ḿnh chẳng biết ǵ nhưng lại trót lỡ lời. Chẳng những nói, mà c̣n nói nhiều nữa là đằng khác, nói tràn giang đại hải, không đầu không đuôi, làm mất thời giờ quí báu của các bạn đạo. Rất mong những bậc cao minh, đă lỡ ghé mắt vào, lượng thứ cho.
LỜI BAN BIÊN TẬP:
Sau khi đọc bài « Công
Án Là Ǵ», của nhà nghiên cứu Hán nôm Lư Việt Dũng,
đăng trên báo Giác Ngộ của Phật giáo. Một độc giả của TVHS, Cư sĩ Trần Hiển
Chánh đă gửi thư cho ban biên tập TVHS, yêu cầu chúng tôi nêu vấn đề này trên
diễn đàn công luận, để trước nhất là xin quư Tôn Túc trong Tông Phong, thí dụ Tổ
Đ́nh Từ Ân bên Hoa Kỳ, chùa Tam Bảo tại Sa Đéc, Thiền đường Liễu Quán tại Tân
Thành Vũng Tầu, quư thượng tọa Thích Minh Thiền, Thích Đồng Thường, Thích Thiện
Đức, Thích Minh Hoà, … vân vân, giải thích rơ ràng sự đúng hoặc sai của những
lời dạy của tác giả bài « Công Án Là Ǵ
». Chúng tôi xin đăng nguyên văn bức điện thư của Cư sĩ Trần Hiển Chánh để quư
Tôn Túc cùng quư Cư sĩ hành giả góp ư giải đáp làm sáng tỏ vấn đề:
* * *
Kính thưa Ban biên tập Thư Viện Hoa Sen,
Trước đây tôi có nghiên cứu về Thiền Tông do thiền sư Thích Thanh Từ giảng dạy. Sau này, nhờ có Thư Viện Hoa Sen phổ biến môn phái Tổ Sư Thiền, tham Công Án, Thoại Đầu do thiền sư Thích Duy Lực hoằng truyền, tôi rất ngưỡng mộ. Mới đây, tôi lại được đọc một bài về Thiền Công Án, tác giả là Lư Việt Dũng, đăng trên báo Giác Ngộ của Phật giáo. Tác giả đă giải thích « Công Án Là Ǵ» bằng một bài dài gần 3.600 chữ.
V́ thấy tác giả viết câu «Các thiền sinh của tôi ơi, … », tôi đoán rằng đây là một bậc thày dạy Thiền Công Án, Thoại Đầu, cho nên tôi đọc một cách trân trọng. Nhưng càng đọc tôi càng thấy dường như rất khác, đúng hơn th́ phải nói rằng những lời dạy này nhiều khi trái ngược hẳn với lời dạy về tham Công Án, Thoại Đầu của thiền sư Thích Duy Lực.
Kính thưa quư vị,
Nay tôi xin kính nhờ quư vị nêu vấn đề này lên quư Thư Viện, để trước nhất là xin quư tôn túc trong Tông Môn, thí dụ Tổ Đ́nh Từ Ân bên Hoa Kỳ, chùa Tam Bảo tại Sa Đéc, quư thượng tọa Thích Minh Thiền, Thích Đồng Thường, … vân vân …, giải thích rơ ràng sự đúng hoặc sai của những lời dạy thiết yếu này, v́ đó là vấn đề liên quan đến cả một đời tu, coi như vấn đề sinh tử, không phải chỉ cho riêng tôi, mà cho rất nhiều độc giả của báo Giác Ngộ đă đọc bài kể trên được hiểu rơ, không bị lạc phương hướng trong cách tham Công Án, Thoại Đầu của Tổ Sư Thiền.
Tôi xin gửi tới quư vị toàn bộ bài « Công Án Là Ǵ » của tác giả Lư Việt Dũng, đồng thời xin trích vài đoạn điển h́nh kèm theo với thư này.
Xin cảm ơn quư Ban Biên tập.
Trần Hiển Chánh
Trích từ bài của tác giả Lư Việt Dũng :
… »… V́ ngôn hạnh của các Tổ sư được ghi chép lại như vừa nói trên cũng mang ư nghĩa như một cáo bạch chính thức, một công án của chính phủ, tức đầy đủ tính cách trang nghiêm bất khả xâm phạm, lại cũng giúp khải phát tư tưởng, cung ứng tư duy cho người nghiên cứu Thiền, đồng thời cũng làm phép tắc khuôn mẫu để đời sau nương nhờ, cho nên mới gọi là công án….
… Rất nhiều người phản bác việc lư giải công án Thiền, nhất là hướng dẫn Tăng Ni sinh t́m hiểu công án. Nói xin sám hối, ngoại trừ một số tác gia thật sự hiểu công án nhưng muốn để hàng hậu học tự xúc phát trực giác mà ngộ, c̣n th́ không thiếu chi sư gia đă lợi dụng đặc tính “bí hiểm” trên để che đậy chỗ hạn chế của ḿnh v́ đúng là không ai có thể lư giải giùm người khác cái trực giác mà chính họ phải tự bộc phát lấy để ngộ Thiền, nhưng trong một chừng mực vừa phải nào đó, thầy dạy có thể gợi ư để giúp học đồ mau chóng phần nào thấy được hướng mở khóa để hiểu sơ bộ ngoại vi mật ư công án để rồi sau đó cảm thụ sâu thẳm tự khoái trá thế nào, nhấm nháp hương vị công án ra sao là tùy căn cơ, tâm cảnh của mỗi người.
I. Điều kiện tối thiểu cần có để hiểu sơ bộ công án
Trước một công án Thiền tông bằng Hán văn, các thiền sinh chí ít cần có một số điều kiện tối thiểu để có thể tạm lănh hội được dễ dàng mau chóng ư Thiền nằm trong đó:
1. Trước hết có khả năng đọc
nguyên văn chữ Hán
2. Biết thành ngữ điển cố đời thường
3. Biết thành ngữ điển cố Thiền tông
4. Biết phong tục tập quán chủ yếu Trung Hoa cổ đại (hoặc
Á Đông nói chung)
5. Biết các thuật ngữ và dụng ngữ Thiền lâm
6. Đọc sâu hiểu rộng Thiền sử
7. Cảm thụ được Thiền cơ, nhất là tính u mặc (tếu)
8. Có năng khiếu nhạy bén thiên bẩm để lănh hội được Thiền
chỉ v.v...
Trong khi đó, thiền sư Thích Duy Lực lại dạy rằng:
… »… Hỏi thầm trong bụng câu thoại, thí dụ "Khi chưa có trời đất ta là cái ǵ ?" Có hỏi th́ có đáp, không hiểu th́ đáp không ra, thắc mắc không hiểu tức đă phát khởi nghi t́nh, Hỏi lần thứ nhất, đáp không ra, hỏi tiếp lần thứ hai, vẫn đáp không ra, hỏi tiếp lần thứ ba, cứ hỏi tiếp hoài , ngày đêm chẳng ngừng, gọi là miên mật. Tham thiền cần có sự miên mật, miên là kéo dài, mật là không có kẽ hở, liên tiếp không có kẽ hở, không cho gián đoạn, miên mật măi mới thành khối. …
… Tham thiền chú trọng đến cái không hiểu, việc thế gian muốn hiểu th́ khó, không hiểu th́ dễ, nên bà già 80 - 90 tuổi vẫn tham được; trẻ con 3 - 4 tuổi cũng tham được, chỉ cần một cái không hiểu là được….…
…… Người thường cho rằng tham thiền phải thượng căn thượng trí mới có thể tham được, sự thật từ lịch đại Tổ Sư cho đến đời Măn Thanh, đă có bảy ngàn Tổ, vị Tổ nào cũng nói " Ai cũng có thể tham được", bất cứ già trẻ, nam nữ, thông minh, dốt nát, khờ ngốc v.v….…
…… Pháp môn tham Tổ Sư Thiền chú trọng chữ NGHI, t́nh trạng nghi gọi là nghi t́nh. Từ nghi đến ngộ, nghi là nhân, ngộ là quả. Không nghi không ngộ, nên nói bất nghi bất ngộ; nhân nhỏ quả nhỏ, nên tiểu nghi tiểu ngộ; nhân lớn quả lớn, nên đại nghi đại ngộ.
Đối với hai chữ THOẠI ĐẦU, theo sự giải thích của ngài Hư Vân th́ “thoại đầu là chỗ trước khi chưa có câu thoại,” là đầu tiên của lời nói, tức chưa nổi niệm muốn nói, mới gọi là thoại đầu, cũng gọi là vô thỉ vô minh, Thiền tông gọi “Đầu sào trăm thước,” “Đáy thùng sơn đen,” ngài Nguyệt Khê gọi là “Hầm sâu đen tối,” chứ không phải là câu thoại, chỉ dùng lời nói để chỉ thị chỗ trước khi chưa có lời nói, cho nên nói “tham thoại đầu,” chứ chẳng phải tham câu thoại đó.
Hành giả tham thiền bất cứ tham câu nào, hễ có dấu hỏi tức nghi t́nh, vừa nh́n vừa hỏi, gọi là “khán thoại đầu,” “chiếu cố thoại đầu.” Phải lấy thoại đầu làm đối tượng, không được lấy câu thoại làm đối tượng, nếu ở trong lời nói tức thành thoại vĩ . Tiếc rằng nhiều người theo tôi mười mấy năm, vẫn c̣n hiểu sai nghĩa thoại đầu, chẳng những nỗi niệm, lại c̣n chấp vào câu thoại, khiến cách xa thoại đầu, chẳng những không phải thoại vĩ, lại cách thoại vĩ không biết bao xa!
Phật Thích Ca truyền pháp môn này, gọi là Giáo ngoại biệt truyền, là pháp thiền trực tiếp, tức không cho nổi lên một niệm. Tất cả pháp môn khác, thiền quán khác đều dùng cái biết để tu, dùng ghi nhớ biết, t́m hiểu biết để tu. C̣n Tổ Sư Thiền th́ ngược lại, không cho t́m hiểu, ghi nhớ và suy nghĩ.
Toàn bộ bài « Công án là ǵ?”, của tác giả Lư Việt Dũng:
* * *
CÔNG ÁN LÀ G̀
HỎI: Tôi là một thiền sinh gặp rất nhiều khó khăn khi t́m hiểu công án. Vậy xin quư Báo cho biết công án là ǵ và có cách nào giúp dễ dàng tiếp cận t́m hiểu công án không? (TRẦN VĂN HIỂU, Cần Thơ)
ĐÁP: Công án nguyên nghĩa là án lệ phán quyết chuyện phải trái cáo bạch công khai trên bảng yết thị của quan phủ ngày trước, tạm coi tương đương như thông báo của Nhà nước ngày nay.
Việc
Thiền tông đem ngôn hạnh của Tổ sư các đời ghi chép lại dùng để khải thị cho kẻ
tọa thiền, lâu dần cũng thành ra một loại tư khảo, hoặc một bài minh nhắc nhở
ghi khắc bên cạnh người ngồi thiền. V́ ngôn hạnh của các Tổ sư được ghi chép lại
như vừa nói trên cũng mang ư nghĩa như một cáo bạch chính thức, một công án của
chính phủ, tức đầy đủ tính cách trang nghiêm bất khả xâm phạm, lại cũng giúp
khải phát tư tưởng, cung ứng tư duy cho người nghiên cứu Thiền, đồng thời cũng
làm phép tắc khuôn mẫu để đời sau nương nhờ, cho nên mới gọi là công án.
Phong khí này xuất hiện ban đầu từ đời Đường, đến nhà Tống th́ thật thịnh hành. Căn cứ vào sách Cảnh Đức truyền đăng lục, có người cho rằng tổng số công án ở Trung Quốc ước khoảng 1.700, nhưng thật ra không đúng như thế, v́ một số công án chỉ là các mẫu đối cơ giữa sư đồ hay đấu cơ phong giữa các thiền sư với nhau.
Thật ra ngày nay, ngay cả các câu đối đáp dí dỏm, hóm hỉnh đượm tính mí mửng hàm chứa cơ lược của các Tăng sĩ hay cả cư sĩ cũng có thể coi là công án hiện đại trong một chừng mực nào đó. Mà ngay cả các công án chính thức cũng thường có sự trùng lắp hay chỉ là mượn ư cũ thay cách nói mới, hoặc chưa hội đủ tính tham cứu nên theo sự nhận định chung của các nhà nghiên cứu công án th́ con số có thể chấp nhận vào khoảng 500 tắc (mẩu chuyện).
Thuở ban sơ, Thiền tông chỉ có độc gia ngữ lục nên sách chuyên về công án không có. Dần dần ngữ lục ra đời ngày càng nhiều nên mới có các loại sách chuyên vựng tập công án, trong đó nổi tiếng nhất là Bích nham lục, Thung dung lục, Vô môn quan, Cảnh Đức truyền đăng lục, Nhân thiên nhăn mục, Chỉ nguyệt lục, Tục Chỉ nguyệt lục v.v... Trong công án phần nhiều có một chữ hay một câu nói ngắn nêu ra để cho người học tham cứu gọi là “Thoại đầu”, như hỏi: “Con chó có Phật tính không?”, đáp: “Không”, th́ mẩu đối thoại này gọi là công án, mà chữ “Không” là một thoại đầu (Vấn “Cẩu tử hữu Phật tính dă vô?”. Đáp “Vô”).
Nếu khi tham thiền mà nhằm công án hạ công phu th́ gọi là “Tham thoại đầu”.
Riêng công án mà sư gia dùng ngôn ngữ để khai thị học nhân th́ gọi là “Thoại đầu công án”.
Theo lư thuyết mà nói th́ người ta không thể dùng luận lư (la tập) để suy đoán hoặc dùng kiến thức để giải thích ư nghĩa công án v́ tinh thần Thiền tông vượt qua khỏi ư nghĩa của từ ngữ hoặc sự suy lường của thế trí. Do đó mà sư gia thường sử dụng tính cách “Không thể dùng luận lư” để giúp họ thể chứng chân tánh.
Hàm nghĩa trọng yếu của công án gồm có 5 phần:
1. Là công cụ giúp cho ngộ
Thiền
2. Là phương pháp giúp ḿnh tự khảo nghiệm tŕnh độ Thiền
3. Là khuôn phép tạo uy lực Thiền
4. Là dấu đóng xác minh được ấn chứng
5. Là chỉ điểm rốt ráo để ngộ Thiền.
Rất nhiều người phản bác việc lư giải công án Thiền, nhất là hướng dẫn Tăng Ni sinh t́m hiểu công án. Nói xin sám hối, ngoại trừ một số tác gia thật sự hiểu công án nhưng muốn để hàng hậu học tự xúc phát trực giác mà ngộ, c̣n th́ không thiếu chi sư gia đă lợi dụng đặc tính “bí hiểm” trên để che đậy chỗ hạn chế của ḿnh v́ đúng là không ai có thể lư giải giùm người khác cái trực giác mà chính họ phải tự bộc phát lấy để ngộ Thiền, nhưng trong một chừng mực vừa phải nào đó, thầy dạy có thể gợi ư để giúp học đồ mau chóng phần nào thấy được hướng mở khóa để hiểu sơ bộ ngoại vi mật ư công án để rồi sau đó cảm thụ sâu thẳm tự khoái trá thế nào, nhấm nháp hương vị công án ra sao là tùy căn cơ, tâm cảnh của mỗi người.
I. Điều kiện tối thiểu cần có để hiểu sơ bộ công án
Trước một công án Thiền tông bằng Hán văn, các thiền sinh chí ít cần có một số điều kiện tối thiểu để có thể tạm lănh hội được dễ dàng mau chóng ư Thiền nằm trong đó:
1. Trước hết có khả năng đọc
nguyên văn chữ Hán
2. Biết thành ngữ điển cố đời thường
3. Biết thành ngữ điển cố Thiền tông
4. Biết phong tục tập quán chủ yếu Trung Hoa cổ đại (hoặc
Á Đông nói chung)
5. Biết các thuật ngữ và
dụng ngữ Thiền lâm
6. Đọc sâu hiểu rộng Thiền sử
7. Cảm thụ được Thiền cơ, nhất là tính u mặc (tếu)
8. Có năng khiếu nhạy bén thiên bẩm để lănh hội được Thiền
chỉ v.v...
Xin đơn cử một vài thí dụ:
1- Điều kiện thứ nhất:
Không cần phải nêu thí dụ ǵ cả v́ bất cứ ai muốn dịch giải công án Thiền tông hệ chữ Hán th́ đương nhiên phải chuyên sâu Hán văn cổ.
2- Biết thành ngữ điển cố đời thường:
Như trong công án sau đây:
Có ông Tăng hỏi Thiền sư Tuệ Minh:
- Thế nào là bản lai diện mục?
Tuệ Minh đáp:
- Một lời nói ra, ngựa tứ khó theo!
Nếu biết thành ngữ đời
thường “Nhứt ngôn kư xuất, tứ mă nan truy” có nghĩa là:
“Lời nói khi thốt ra th́ đi nhanh đến nỗi loại tuấn mă là
ngựa kéo xe tứ cũng không đuổi theo kịp”, ta sẽ suy diễn rộng ra ư Thiền sư muốn
nói là: “Nếu dùng lời lẽ th́ đă rời quá xa chân lư không c̣n có thể nắm bắt
được, tức Thiền bất dụng ngôn ngữ.
3- Biết thành ngữ điển cố Thiền tông:
Như công án dưới đây:
“Tăng hỏi: “Người xưa nói: “Thiền Như Lai th́ kể như huynh
đă hiểu, c̣n Thiền Tổ sư th́ nằm mộng cũng chưa thấy”. Xin hỏi Thiền Như Lai và
Thiền Tổ sư giống và khác nhau thế nào?
Sư đáp: “Mũi tên đă bay qua đến Tân La!”.
Nếu biết Tân La là tên xưa của nước Triều Tiên được Thiền lâm dùng để chỉ nơi xa xăm th́ ta sẽ hiểu thành ngữ: “Mũi tên đă bay đến nước Tân La (Nhất tiễn quá Tân La)” được Thiền sư dùng để chỉ “Thiền cơ đă qua mất rồi” nhằm khai thị ông Tăng là khi dùng tâm chấp thủ hỏi Tổ sư Thiền là Như Lai Thiền tức có ư so sánh nọ kia mà không biết cả hai chỉ là một th́ đă để vuột mất Thiền cơ rồi vậy.
4- Biết phong tục tập quán, chủ yếu Trung Hoa cổ đại:
Như công án sau đây:
Tăng hỏi: “Thế nào là tự kỷ?”. Sư đáp “Vua chốn triều
đường, tướng quân ngoài biên ải”.
Nếu biết phong tục tập quán xă hội phong kiến Trung Quốc
trước kia, ta sẽ hiểu câu trả lời của sư có ư nói: “Chính ḿnh là kẻ tối thượng,
là kẻ quyền uy đối với ḿnh như ông vua ở chốn triều đ́nh và ông tướng chỉ huy
ngoài biên ải quyền lực vô biên”.
Hoặc công án:
Hỏi: “Ư Thiền và ư Giáo giống hay là khác?”.
Sư đáp: “Quan Thượng thơ họ Lư, quan Bộc xạ họ Vương”.
Nếu biết được tổ chức quan viên đời Đường chức Thượng thơ
và Bộc xạ ngang nhau th́ ta sẽ hiểu ư Thiền sư muốn khải thị ư Thiền và ư Giáo
tên tuy gọi khác nhưng thực chất là một.
5- Biết các dụng ngữ Thiền tông:
Như công án dưới đây:
Tăng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây Lai Ư?”. Sư Động Sơn đáp:
“Chờ khi nào nước khe trong động chảy ngược lên dốc sẽ nói cho ngươi nghe”.
Nếu biết “Tổ sư Tây Lai Ư” là thuật ngữ Thiền dùng để chỉ “Ư chỉ của Thiền tông” th́ ta sẽ hiểu ngay câu trả lời của Thiền sư Đông Sơn là “Chỉ ư của Thiền tông là một sự kiện bất khả tư ngh́, không thể dùng ngôn ngữ văn tự mà lư giải được. Vậy kẻ nào muốn dùng ngôn ngữ để nói bàn về Tổ sư Tây Lai Ư th́ đă làm một việc vô lư xuẩn ngốc như muốn nước khe trong động chảy ngược lên dốc cao!”.
6- Đọc sâu hiểu rộng Thiền chỉ:
Như công án sau đây:
Tăng hỏi Ba Lăng: “Thế nào là tông phong của Đề Bà?”.
Ba Lăng đáp:
- Trong chén bạc chứa đầy tuyết.
Có thông Thiền sử ta mới biết được Đề Bà tông là tông phong của ngài Ca Na Đề Bà, mà Ca Na Đề Bà là truyền tự của ngài Long Thọ, làm Tổ thứ 15 của Thiền tông Tây Thiên nổi danh dùng biện tài để diệt tà kiến ngoại đạo. C̣n ngài Ba Lăng là hậu tự của Vân Môn Văn Yển cũng nổi danh với chủ trương “Biện tài vô ngại”. Có nắm được các chi tiết trên, ta mới hiểu câu hỏi của ông Tăng là “Thiền pháp của Ba Lăng giống Thiền pháp Đề Bà như thế nào”, để rồi sau đó hiểu luôn câu trả lời của Ba Lăng là Thiền pháp hai người tuy giống mà cũng có chỗ dị biệt, như bạc và tuyết đều cùng màu trắng giống nhau, nhưng bạc là kim loại, c̣n tuyết là nước đông”.
7- Cảm thụ Thiền cơ:
Thiền cơ rất khó nắm bắt,
gặp thuận duyên th́ phải chộp ngay, nhưng không phải dễ, mà cần có sự bén nhạy
thiên phú như gặp công án sau đây:
Ni cô tên Huyền Cơ đến tham vấn Ḥa thượng Tuyết Phong.
Tuyết Phong hỏi: “Từ xứ nào đến?”.
Đáp: “Từ núi Đại Nhựt (Mặt trời lớn) đến”.
Phong hỏi:
- Mặt trời lên chưa?
Đáp: “Nếu mặt trời lên th́ nung chảy núi Tuyết (Tuyết
Phong) c̣n ǵ?”.
Tuyết Phong hỏi:
- Ni cô tên ǵ?
Đáp: “Huyền Cơ (máy dệt)”
Phong hỏi hóm hỉnh:
- Mỗi ngày dệt nhiều ít?
Đáp: “Tấc tơ chẳng dính”.
Nói xong bèn lễ bái mà lui. Vừa trở lui ba bốn bước th́
Tuyết Phong gọi giật lại bảo: “Góc cà sa quét đất ḱa”.
Ni quay đầu lại nh́n, Tuyết Phong nói:
- Đúng là “Tấc tơ chẳng dính” thứ thiệt đấy!
Đối với công án “Thốn ti bất quải” này, các thiền sinh ngoài kiến thức thông thường c̣n phải có một cơ phong bén nhạy để nắm bắt v́ đây là một cuộc đấu Thiền cơ lư thú giữa một ni cô và một thiền sư “nặng kư”. Đầu cuộc gặp gỡ là hai bên xuất độc chiêu ngay.
Ni cô vừa cho biết ḿnh ở núi Đại Nhựt đến là Tuyết Phong hỏi kiểu chơi chữ ngay “Mặt trời lên chưa” v́ Đại Nhựt có nghĩa thông thường là mặt trời lớn, vậy là 1-0.
Ni cô chẳng phải tay vừa, phản pháo lại ngay “Nếu mặt trời lên th́ sẽ nung cháy ngọn núi tuyết rồi c̣n ǵ”, tức nung chảy sư Tuyết Phong v́ Tuyết Phong, pháp hiệu của sư, có nghĩa là núi tuyết. Chơi chữ gặp chơi chữ thế là 1-1.
Tuyết Phong lại xuất độc chiêu chơi chữ kế tiếp v́ khi Ni cô cho biết ḿnh tên Huyền Cơ là sư hỏi ngay “Ngày dệt được bao nhiêu” v́ thời xưa “huyền cơ” có nghĩa là cái khung dệt vải. Thế là 2-1.
Ni cô nào phải thứ dễ nuốt nên lại xuất quái chiêu phản độc chiêu khi dùng dụng ngữ “Thốn ti bất quải” vốn có nghĩa chốn Thiền lâm là “Tâm tính không vướng nhiễm chút bụi bặm” để vừa trả lời sát sườn câu hỏi của Tuyết Phong vừa chứng tỏ ḿnh tâm tính đă sạch làu làu. Thế là lại 2-2.
Tuy nhiên khi ni cô vừa lễ tạ lui ra đôi ba bước th́ sụp vào cái bẫy tuyệt chiêu của Tuyết Phong v́ bất th́nh ĺnh sư gọi giật lại bảo cho biết là góc áo cà sa phết đất, và v́ mất cảnh giác ni cô bất chợt quay lại nh́n nên bị sư nói mỉa “A, đây là tấc tơ chẳng dính thứ thiệt đấy” có nghĩa chê ni cô chỉ nói được chứ chưa thật sự “Tâm tính chẳng nhiễm chút bụi trần”. Rốt lại th́ 3-2.
Các thiền sinh ta ơi, thật ra mọi công án đều hàm chứa đủ tính bí hiểm, u mặc như công án “Thốn ti bất quải” này, cho nên một số điều kiện tạm nêu ra chỉ là để gợi ư, c̣n đứng trước một công án, bao giờ các thiền sinh cũng phải vận dụng tối đa phần trực giác bén nhạy để mà tự ngộ vậy!
II. Một số kinh nghiệm thực tiễn
Công án là một h́nh thức khải thị sâu kín chỉ ư Thiền tông. Vậy muốn t́m hiểu sơ bộ chỉ ư Thiền để làm phương hướng giúp trực giác tự phát lănh hội phần sâu thẳm th́ các thiền sinh nên chú tâm đến phạm trù chỉ ư. Thật ra về phương diện tuyệt đối th́ chỉ ư là phần bất khả tư ngh́, là thánh ư không thể dùng ngôn ngữ văn tự phàm t́nh để mong nắm bắt, nhưng ở một chừng mực tương đối nào đó th́ chỉ ư này bao hàm một số nguyên lư nằm trong chủ trương và tinh thần Thiền tông. Thiền tông dựa trên tinh thần tự chủ, sùng thật và cách tân (c̣n gọi là thích nghi) và đưa ra chủ trương Bất lập ngôn ngữ văn tự, giáo ngoại biệt truyền, dĩ tâm truyền tâm, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật.
Từ tinh thần và chủ trương
này, Thiền tông mặc nhiên nêu một số quy định, cụ thể tạm kê ra theo vài phạm
trù đại khái như sau:
1. Nói là sai, là ĺa xa đạo lư
2. Ḿnh là chủ tể của chính ḿnh (Tự kỷ Phật)
3. Đạo lư không tự ngoài ḿnh mà có được
4. Thiền b́nh thường giản dị
5. Thiền cụ thể hiện tiền
6. Thiền không chủ trương thần thông
7. Phải phản quan tự kỷ
8. Nhất tâm bất sinh, vạn pháp chí lư.
Từ mấy quy luật tạm nêu trên đây, chúng ta có thể đưa ra một số thí dụ tương ứng như:
1- Nói là sai, là ĺa xa đạo lư
Trong công án “Đại Chứng chỉ thạch sư tử”, Tuệ Trung Quốc sư chỉ con sư tử đá yêu cầu hoàng đế Đường Túc Tông hạ một chuyển ngữ. Đế lắc đầu bảo sư nói. Sư tạ tội không nói được.
Gặp loại công án này, các thiền sinh hăy tập trung ư vào phạm trù “Nói là sai đạo lư” v́ sư tử đá tượng trưng cho bản lai diện mục mà bản lai diện mục th́ không thể dùng lời lẽ mà nói bàn được nên cả vua lẫn quốc sư đều lắc đầu chào thua.
2- Ḿnh là chủ tể của chính ḿnh
Hai Thiền sư Thản Nhiên và Hoài Nhượng hỏi: “Thế nào là Tổ sư Tây Lai Ư?”. Thiền sư Tuệ An đáp: “Sao không tự hỏi chỉ ư của chính ḿnh”.
Gặp loại công án này, các thiền sinh hăy chú ư tới phạm trù “Ḿnh là chủ tể của chính ḿnh”. Từ đó sẽ hiểu ư thiền sư muốn khải thị “Tự kỷ ư” là phần quan trọng sao không tự hỏi mà đi hỏi chi Tổ sư Tây Lai Ư.
3- Đạo lư không từ bên ngoài mà có được
“Thiền sư Triệu Châu làm hỏa đầu đóng cửa bếp đốt lửa khói xông lên mù mịt rồi la toáng lên “chữa cháy - chữa cháy”. Mọi người chạy đến, sư bảo: “Hăy nói đúng th́ ta mới mở cửa”. Mọi người không biết làm thế nào. Sư Nam Tuyền đến đút ch́a khóa qua song cửa, sư liền mở”.
Gặp loại công án này, các thiền ni sinh nên chú ư tới phạm trù “Đạo lư không từ ngoài mà có được”. V́ lửa khói tượng trưng cho phiền năo. Dẹp tan phiền năo là tự ḿnh chứ không nhờ người ngoài giúp được, tức đạo lư không từ bên ngoài mà có được.
4- Thiền b́nh thường giản dị
Nửa đêm sư Trí Thông la to lên: “Ta ngộ rồi, ta ngộ rồi”, làm mọi người đều nhốn nháo. Qua hôm sau tại pháp đường, được trụ tŕ hỏi ngộ cái ǵ th́ sư bảo “Ni cô là phụ nữ”. Trụ tŕ phải nhận là đúng.
Gặp loại công án này, các thiền sinh phải chú ư tới phạm trù “Thiền b́nh thường giản dị như” như Sư cô là phụ nữ (c̣n Tăng là đàn ông).
5- Thiền cụ thể hiện tiền
Tăng hỏi Triệu Châu: “Kính nghe Ḥa thượng từng tham vấn ngài Nam Tuyền phải không?”. Sư đáp bâng quơ: “Ở Trấn Châu có sản sinh một củ cải to”.
Gặp loại công án này, các thiền ni sinh phải chú ư tới phạm trù “Thiền cụ thể hiện tiền” bởi ư sư Triệu Châu muốn khải thị là chúng ta nên chú ư đến sinh hoạt thiết thực hiện tiền, nếu không th́ lời nói vàng ngọc của ngài Nam Tuyền không có giá trị cụ thể bằng một củ cải nuôi được người dân hàng ngày.
6- Thiền không chủ trương thần thông
Trong công án “Hương Nghiêm nguyên mộng”, Thiền sư Quy Sơn Linh Hựu ngủ trưa dậy, bảo hai đệ tử là Ngưỡng Sơn Tuệ Tịch và Hương Nghiêm Trí Nhàn bàn giải giấc mộng của ḿnh. Ngưỡng Sơn bèn bưng một chậu nước và cái khăn tới cho sư lau rửa mặt mày, c̣n Hương Nghiêm th́ bưng đến một tách trà nóng cho sư uống sau khi rửa mặt.
Gặp loại công án này, các thiền sinh nên chú ư phạm trù Thiền tông không chủ trương thần thông huyền bí" mà thực tế hiển hiện v́ đối với người mới thức dậy, đoán mộng là chuyện thần thông đâu đâu sao bằng cụ thể mang nước khăn đến rửa mặt rồi chén trà nóng thấm giọng.
7- Phản quan tự kỷ
Thiền sư Vân Môn dạy rằng: “Ai ai cũng có sẵn quang minh vậy mà khi nh́n lại không thấy, chỉ thấy tối ṃ. Mà ánh sáng quang minh là cái ǵ? Là cổng chùa, nhà kho”.
Gặp loại công án này, các thiền sinh phải chú ư đến phạm trù, “Phản quan tự kỷ” v́ ai ai cũng có ánh quang minh mà v́ không tự nh́n lại ḿnh, mải lo đi t́m tự đâu đâu mà nào có biết ánh quang minh chỉ là những vật b́nh thường giản dị như nhà bếp, cổng chùa.
8- Nhất tâm bất sinh, vạn pháp chí lư
Trong công án “Bản lai diện mục vô sinh diệt”, Thiền sư Triệu Châu nói: “Phật bằng vàng không chịu nổi ḷ nung. Phật bằng gỗ không chịu nổi lửa, Phật bằng đất không chịu nổi nước, chỉ có chân Phật là an nhiên”.
Gặp loại công án này, các thiền sinh phải chú ư đến phạm trù “Nhất tâm bất sinh, vạn pháp chí lư” v́ Phật bằng chất ǵ cũng bị vật chất hủy hoại, chỉ có chân Phật tự tánh bảo nhiệm ngồi nghiêm bên trong không bị nước lửa hủy hoại, biểu thị nhất tâm bất sinh đồng với vạn pháp chí lư.
Các thiền sinh của tôi ơi, viết đến đây tôi tự cảm thấy các điều ḿnh vừa tŕnh bày đều vô nghĩa v́ ở mỗi công án đều dung chứa đồng lúc nhiều phạm trù nên càng phân tích chiết trung càng bế tắc... và thấy được phạm trù thiên h́nh vạn trạng ở các công án đâu phải là chuyện một bài hỏi đáp chỉ ra được. Vậy th́ chung quy cũng quay lại nguyên tắc mỗi thiền sinh trước công án phải vận dụng trực giác bén nhạy thôi!
Lư Việt Dũng
http://www.giacngo.vn/tuvan/2008/03/26/56D619/
Source : http://thuvienhoasen.org/conganlagi-thuhoi-00.htm