HIỂM HỌA TIN LÀNH 

 

(Phần I - Trường hợp khảo sát: Lê Anh Huy)

 

 

            Tin Lành là một hiểm họa rất nguy hiểm cho nhân loại nói chung, cho Việt Nam nói riêng,  nếu Việt Nam để cho Tin Lành được tự do truyền đạo.  Tại sao?  V́ trong khi tín đồ Ca-tô hoàn toàn lệ thuộc Giáo hội Ca-tô Rô-ma, là nô lệ tâm linh của vị chủ chăn là Giáo hoàng ở tổng hành dinh Vatican, th́ các tín đồ Tin Lành là nô lệ của cuốn Kinh Thánh, tuyệt đối tin rằng cuốn Kinh Thánh là những lời mặc khải của Thiên Chúa nên không thể sai lầm.  Trong lịch sử Ki-tô giáo, Giáo hội Ca-tô Rô-ma luôn luôn thay đổi, đă phải sửa sai nhiều lần, và đă phải chính thức xưng thú 7 núi tội ác của Giáo hội đối với nhân loại.  Trong khi đó th́ Tin Lành bảo thủ vẫn tiếp tục chấp chặt vào cuốn Kinh Thánh, một cuốn sách chủ trương độc thần không khoan nhượng, và hơn 50% chứa những chuyện giết người hàng loạt tàn bạo, loạn luân, vô đạo đức v..v.., chỉ v́ trong đó có hứa hẹn một sự “cứu rỗi” của một người Do Thái đă chết và táng xác cách đây gần 2000 năm.  Hiểm họa Tin Lành là ở chỗ này, v́ Kinh Thánh có rất nhiều điều sai lầm về thần học, về đạo đức, cũng như về khoa học, không hợp với thời đại, và có tính cách ngu dân.  Một học giả, Neale Donald Walsch, đă nhận định trong cuốn The New Revelations, A Conversation with God, trang 51: “Những nhà Tin Lành bảo thủ tin rằng con đường tiến tới là con đường đi giật lùi, giật lùi về đúng những lời nguyên thủy của cuốn Kinh Thánh – một cuốn sách phải đọc nguyên văn, và áp dụng từng câu từng chữ.”  (Fundamentalists  believe that the way forward is the way backward, to the original and exact words of the Holy Scripture – to be read verbatim, and applied literally).  Bài viết này không ngoài mục đích tŕnh bày những tai họa của Tin Lành trên đầu óc con người và do đó trên xă hội, qua sự phân tích một số sản phẩm “trí thức” của vài tân ṭng Tin Lành Việt Nam. 

 

*

 

Trên diễn đàn thông tin điện tử hải ngoại trong những năm gần đây, chúng ta thấy xuất hiện một số tân ṭng Tin Lành điển h́nh như Lê Anh Huy, Huỳnh Thiên Hồng, Nguyễn Huệ Nhật, và Trần Long v..v… ở trong nước.  Đặc tính chung của những tân ṭng này là bảo hoàng hơn vua, hung hăng nhất mực, đầu óc mê mẩn với một cái bánh vẽ trên trời.  Nếu họ chỉ mù ḷa tin bướng tin càn th́ chẳng ai nói đến làm ǵ.  Nhưng khổ thay, họ lại mang cái kiến thức rất hời hợt của họ về tôn giáo ra để mà truyền đạo, hi vọng có thể kéo con người trở lại thời đại man rợ trí thức của thời Trung cổ.  Trên diễn đàn trí thức ngày nay mà họ vẫn c̣n đưa ra những luận điệu truyền đạo đă lỗi thời, sặc mùi mê tín, đượm tính ngu si vô trí [xin hiểu “ngu si vô trí” theo nghĩa trong thuật ngữ của Phật giáo: Không biết rơ sự thật, không chấp nhận sự thật trước những bằng chứng hiển nhiên, và tiếp tục nhận giả làm chân], cùng lúc mang mớ kiến thức hời hợt, sơ đẳng, để xuyên tạc bài bác Phật Giáo và truyền thống văn hóa Việt Nam.  Tin Lành đă biến họ thành những kẻ không c̣n tinh thần quốc gia dân tộc, chối bỏ nguồn gốc, chỉ mê mẩn với sự “cứu rỗi” của một người Do Thái tiểu sử thuộc loại bất minh, đă chết và táng xác cách đây gần 2000 năm.

 

Xuyên qua một số bài viết của một số tân ṭng Tin Lành chúng ta có thể thấy rơ thực chất của đạo Tin Lành là như thế nào.  Lẽ dĩ nhiên chúng ta không thể lấy ư kiến của vài cá nhân để tổng quát hóa về đạo Tin Lành.  Nhưng kỳ lạ thay, khi nghiên cứu về phái bảo thủ Tin Lành, chúng ta thấy rơ sự phù hợp giữa sách lược truyền đạo, niềm tin tuyệt đối vào những điều vụn vặt trong Kinh Thánh, và những luận cứ trong  những bài viết của một số tân ṭng Tin Lành, ở ngoại quốc cũng như ở trong nước.

 

      Khuôn mặt tân ṭng Tin Lành mê muội và khộng kém phần ngu dốt là Lê Anh Huy và Nguyễn Huệ Nhật ở hải ngoại, và Trần Long ở trong nước.  Lê Anh Huy là một trí thức dỏm, ăn phải cái bả Tin Lành rồi bác bỏ nguồn gốc truyền thống của người dân Việt Nam, xuyên tạc Phật Giáo. Nguyễn Huệ Nhật th́ theo đạo Phật rồi v́ bị khủng khoảng cả tinh thần lẫn vật chất, như chính ông ta từng thú nhận: “khờ khạo, vụng về, mất thăng bằng, thất bại trong trường đời, bị tù, hai lần vợ bỏ v..v..” nên bỏ đạo Phật, quay sang Tin Lành, dựa vào sự an ủi của một cặp nạng thuộc loại ḿ ăn liền: thiên chúa.  Trong hoàn cảnh khủng khoảng tinh thần và v́ căn trí bất cập, chuyện Nguyễn Huệ Nhật bỏ đạo Phật, đạo của trí tuệ, để theo Tin lành, đạo của đức tin, tin mà không cần biết không cần hiểu, một đức tin thuộc loại mù ḷa tin bướng tin càn, là chuyện dễ hiểu, có thể thông cảm.  V́ đạo Tin Lành là để cho những người khờ khạo, vụng về, mất thăng bằng, và nhất là khi họ đang ở trong những hoàn cảnh khủng khoảng tinh thần hay vật chất như Nguyễn Huệ Nhật.  Đây không phải là điều tôi nói không căn cứ.  Tất cả đều dựa trên sự t́m hiểu của tôi về đạo Tin Lành.  Những trích dẫn sau đây hi vọng sẽ cho chúng ta biết rơ hơn về bản chất của đạo Tin Lành.

 

Trong cuốn “Đạo Tin Lành Và Sự Đàn Áp” (Protestantism and Repression, Orbis Books, New York, 1985), Mục sư Tin Lành Rubem Alves, giáo sư đại học ở Campinas, Brazil, đă phân tích rất sâu sắc về mọi khía cạnh của đạo Tin Lành, đặc biệt là về tâm thức của những người tân ṭng trong Chương 2: Cải Đạo:  Cái Khuôn Xúc Động T́nh Cảm Của Tin Lành (Conversion: The Emotional Matrix of Protestantism), dài 22 trang giấy, từ 22 đến 46.  Đây là một cuốn sách, dày 215 trang, rất hữu ích cho những người nào muốn t́m hiểu về đạo Tin Lành, từ cấu trúc t́nh cảm, nhận thức thực tại, cho đến phương pháp tẩy năo, nhồi sọ những giáo điều mà Tin Lành chấp chặt bất kể đến những bằng chứng về lô-gic, về khoa học, về xă hội, những bằng chứng trái ngược với Kinh Thánh một cách rất hiển nhiên.  Chúng ta hăy đọc một đoạn ngắn trong mục “Cải Đạo và Khổ” (Conversion and Suffering), trang 43-44, để thấy rơ Tin Lành đă lợi dụng những t́nh trạng khủng khoảng về vật chất và tinh thần của con người như thế nào để kéo họ vào trong ṿng mê tín của Tin Lành:

 

     Sự phân tích vấn đề của chúng tôi đưa đến kết luận là, kinh nghiệm cải đạo là sự đáp ứng của một t́nh trạng khủng khoảng.  Sự cải đạo giải quyết một ngơ bí t́nh cảm.

            Đó là tại sao giáo hội phát triển nhanh hơn trong những địa phương ở đó những tiến tŕnh xă hội đă gây ra sự khổ, đặc biệt là từ hoàn cảnh ngoài lề xă hội và sự sụp đổ ư nghĩa của cuộc đời.. Những địa phương như vậy là ưu tiên số một của các nhà thờ ở địa phương, mà những nỗ lực để tạo nên đời sống trong giáo hội được chú trọng trong những địa phương này.

            Tôi không nói điều ǵ mới lạ đối với những người Tin Lành.  Không có sự cải đạo (vào Tin Lành) nếu không có sự khủng khoảng, không có sự cải đạo mà không có sự khổ.  Cải đạo là một quá tŕnh mà con người hấp thụ sự khổ thành một ư nghĩa mới của cuộc đời và làm cho nó có ư nghĩa...

            Có phải là khó hiểu không khi mà (vai tṛ của) Chúa Ki-Tô (Giê-su) không thể rao giảng được cho những người cảm thấy ḿnh an toàn, hạnh phúc, cho những người cảm thấy đời sống thật đáng sống, cho những người không đang ở trong cơn khủng khoảng?  Có phải là kỳ cục không khi mà Chúa Ki-Tô chỉ có thể tŕnh bày và làm cho có ư nghĩa trong những t́nh trạng bệnh hoạn trong đó con người bị nhiễm bởi sự bất an, bởi những cảm xúc tội lỗi, và sợ hăi cái chết?  Thật ra nhiệm vụ của những nhà truyền bá phúc âm là ǵ?  Nhiệm vụ của họ là gán cho một cơn khủng khoảng những cái tên thần học trong khi nguồn gốc của nó chỉ là tâm lư xă hội.  Nhà truyền bá phúc âm t́m cách khơi động một cơn khủng khoảng mà con người có thể không cảm thấy trước, rồi từ đó, và chỉ từ đó, họ mới có thể tuyên bố: “Chúa Ki-Tô là giải đáp”

            Chúng tôi bắt buộc phải kết luận rằng thế giới chỉ mở chỗ cho Kờ-rít khi nó cảm thấy ốm đau, bệnh hoạn.  Có một lư do thần học nào để giải thích là tại sao sự sợ hăi cái chết lại là những bí tích đặc quyền của sự cứu rỗi?  Nói cách khác, kinh nghiệm cải đạo giả định là điểm gặp nhau giữa Thiên Chúa và thế giới là sự khổ và thống khổ.  Có phải là có một cách nh́n thực tại một cách tự măn trong sự đau khổ (sadomasochistic vision of reality) tiềm ẩn ở đàng sau giả định như vậy? [Tác giả dùng từ sadomasochistic nghĩa là phối hợp của sadism (thỏa măn trong sự độc ác) và masochism (cảm thấy thích thú khi bị thống trị hay bị bạc đăi).  Về điểm này, Tin Lành không khác ǵ Ca-tô Giáo Rô-ma. Trong cuộc hành hương vừa qua tại Lộ Đức (Lourdes), Giáo hoàng John Paul II đă phát biểu là ngài chia sẻ sự đau đớn vật chất của các tín đồ và bảo đảm với họ là những sự đau đớn bệnh hoạn của họ là nằm trong “kế hoạch kỳ diệu” của Thiên Chúa. (Pope John Paul II joined thousands of other ailing pilgrims at Lourdes... telling them he shares in their physical suffering and assuring them that the burden is part of God’s “wondrous plan”.)]

            Sự khổ được biến đổi thành một dạng ân sủng, v́ nó mang đến cho kẻ tội lỗi một cơ hội để gặp Chúa Ki-Tô.  [Ở đây, chúng ta lại thấy Tin Lành và Ca-tô gặp nhau ở điểm này.  Thật vậy, một học giả chuyên gia viết tiểu sử, Anne Sebba, đă sang tận Calcutta và nhiều nơi khác để quan sát nhưng “cơ sở từ thiện” (sic) của bà Teresa, và đă viết trong cuốn “Mother Teresa: Beyond The Image” (Mẹ Teresa: Ngoài Cái H́nh Ảnh Đă Được Dựng Lên) là: “Công việc từ thiện của bà Teresa không bắt nguồn từ chính ḷng từ thiện mà động cơ thúc đẩy chính là để làm sáng danh Chúa Ki-Tô và để truyền đạo...  Bà Teresa đă khẳng định rằng công việc từ thiện bà làm là để phục vụ Chúa Ki-Tô, không phải phục vụ con người, phục vụ Chúa Ki-Tô bằng cách kiếm thêm nhiều tín đồ cho Chúa Ki-Tô mà những sự đau khổ, bất hạnh của con người là những cơ hội để bà làm việc thiện, chứng tỏ ḷng “từ bi” (sic) của bà.”  Sự khổ càng lớn th́ những cơ hội truyền đạo càng nhiều.  Phải chăng điều này hàm ư là Giáo hội được đặt trong một vị thế khó hiểu là thường cầu nguyện cho nhân loại bị khổ nhiều hơn để cho con người có thể chấp nhận thông điệp của giáo hội?  Đây là câu hỏi mà Dietrich Bonhoeffer [Một nhà thần học Ki-tô bị chết trong nhà tù của Đức Quốc Xă] đặt trước Giáo hội.]    

            Vậy những nhà biện hộ cho đức tin Ki-tô, những người mang những “tin lành” thực sự đă làm những ǵ?

            Họ chứng tỏ cho những người đang ở trong t́nh trạng an toàn, hài ḷng, hạnh phúc, thực ra là chẳng sung sướng ǵ, tuyệt vọng, và không ư thức được rằng ḿnh đang ở trong t́nh trạng nghiêm trọng mà ḿnh không biết ǵ về nó, từ đó chỉ có họ (những nhà truyền bá phúc âm) mới có thể cứu được.  Bất cứ ở nơi nào mà có sự khỏe mạnh, sức sống, sự an toàn, b́nh dị, họ ḍ xét để kiếm những trái cây ngọt ngào [những kẻ nhẹ dạ, cả tin] để gặm nhấm hoặc kiếm chỗ đặt những cái trứng độc hại của họ trong đó.  Họ đặt mục tiêu số một vào cách đưa con người vào t́nh trạng tuyệt vọng nội tâm, và từ đó những người này sẽ hoàn toàn lệ thuộc họ. [Bonhoeffer].

            Cải đạo (theo Tin Lành) là một giải đáp cho một vấn nạn đau đớn.  Người ta bắt đầu đi từ cải đạo đến một quan niệm về thế giới có tác dụng ngăn ngừa sự tái xuất hiện của kinh nghiệm bất an tiên khởi.  Mục đích [của cải đạo] là đuổi đi sự sợ hăi.  Nếu sự cải đạo đă đủ để chứng minh có thể đuổi đi sự sợ hăi, tâm thức con người sẽ gắn chặt vào kinh nghiệm cải đạo và vào quan niệm mới về thế giới.  Đó là tại sao mọi lư luận không có tác dụng ở tŕnh độ này.  Chúng ta có thể đưa ra mọi thứ bằng chứng – lô-gic, khoa học, hay bất cứ bằng chứng nào khác – để kêu gọi người cải đạo suy tư về kinh nghiệm cải đạo của họ.  Bằng chứng này bị bác bỏ ngay lập tức bởi người tân ṭng. [Bởi v́ người tân ṭng sợ phải đối diện lại với một tâm thức bất an như trước.]  1

 

            Nơi trang 84-85, mục sư Rubem Alves c̣n cho chúng ta biết rơ những người tân ṭng đă cải đạo vào Tin Lành như thế nào và tâm thức của họ đă bị cộng đồng Tin Lành thay đổi như thế nào để họ có thể được chấp nhận trong “hội thánh” (sic) Tin Lành.  Đọc xong đoạn sau đây chúng ta sẽ hiểu rơ hơn tại sao những tín đồ Tin Lành như Lê Anh Huy, Huỳnh Thiên Hồng hay Nguyễn Huệ Nhật, Trần Long lại như những con vẹt, nhắc lại y chang những điều mà họ được truyền dạy trong những cộng đồng Tin Lành:

 

            T́nh trạng của một kẻ tân ṭng giống như t́nh trạng của một đứa trẻ lần đầu tiên đi đến trường học.  Họ không biết ǵ hết.  Kiến thức sẽ được dàn xếp để truyền cho họ bởi một người [tự cho là] đă có kiến thức (về Tin Lành).  Quá tŕnh học tập là một quá tŕnh tập sự.  Sự tương giao xă hội giữa hai bên không phải là một sự tương giao b́nh đẳng.  Ông thầy và kẻ tập sự, thầy dạy giáo lư và kẻ tân ṭng học hỏi, không ở cùng một tŕnh độ.  Một người là thuộc cấp của người kia; do đó quyền lực nằm trong phương tŕnh này.  Những người dạy giáo lư là những người có quyền năng áp đặt những định nghĩa về thực tại của ḿnh; những kẻ tân ṭng học hỏi là những người không có quyền giữ những định nghĩa về thực tại của ḿnh..

            Ngay cả trước khi những kẻ tân ṭng học hỏi bất cứ điều ǵ về thế giới, họ được dạy để tự coi ḿnh như là không biết ǵ.  Những kiến thức của họ được để trong dấu ngoặc và được dạy phải  nghi ngờ.  Họ không được phép viện ra những điều mà họ cho là họ biết để phê b́nh loại kiến thức mà “hội thánh” muốn chuyển đạt cho họ.  Tại sao vậy?  V́ kiến thức có trước của họ là tài sản từ các thời kỳ tăm tối và bị đầy đọa từ trước.  Đầu óc của họ được đưa về t́nh trạng của những trang giấy trắng.  Họ không có ǵ để nói; nhiệm vụ của họ là nghe.  Là những kẻ tập sự và học hỏi, họ phải tuân phục định chế của giáo hội trong yên lặng.  Nay họ biết rằng định chế đó có độc quyền về sự hiểu biết tuyệt đối, do đó có độc quyền để nói.

            Như vậy, trong thế giới Tin Lành, quá tŕnh học hỏi bắt đầu bằng một bài học thuộc loại đặc biệt về mối giao hệ xă hội: những người dạy giáo lư nói, những kẻ học hỏi ngồi yên; những người dạy giáo lư giảng dạy, những kẻ học hỏi nhắc lại.  Nếu những kẻ học hỏi không biết là ḿnh tin cái ǵ (như những người giảng dạy tự cho là ḿnh đă biết), họ không đủ tư cách để nói.  Đúng là những kẻ tân ṭng được tự do tỏ lộ t́nh cảm của ḿnh.  Nhưng họ không thể nói điều ǵ về sự hiểu biết của họ.  Đó là tại sao loại ngôn từ thích hợp của những kẻ tân ṭng học hỏi là nhắc lại, như sách giáo lư (của Tin Lành) đă minh họa rơ ràng.  Những sách giáo lư là sách đầu tiên để cho những kẻ tân ṭng tập sự và học hỏi.  Chúng chứa những câu hỏi và những câu trả lời viết sẵnKhi nào th́ những kẻ tân ṭng học hỏi hiểu sách giáo lư của Tin Lành?  Khi họ có thể đọc thuộc ḷng những câu trả lời in sẵn trong đó.  Sự học ḥi của cộng đống Tin Lành được định nghĩa theo loại kiến thức đó, và sự kiểm tra sự học hỏi của những kẻ tân ṭng là khả năng nhớ và nhắc lại những câu hỏi và câu trả lời trong sách giáo lư.  Theo cách này tâm thức tập thể của cộng đồng Tin Lành được in vào đầu óc và tâm thức của thành viên.  Thế c̣n vấn đề tự do t́m hiểu th́ sao?  Thế c̣n vấn đề để cho những kẻ tân ṭng học hỏi tự mở mang trí tuệ?  Không thể t́m thấy ở đâu trong đạo Tin Lành. 2

 

            Ngoài ra, mục sư Rubem Alves c̣n cho chúng ta biết, trang 34, là Tin Lành cấy vào đầu tân ṭng mặc cảm tội lỗi, và để có thể vào trong cộng đồng Tin Lành, người tân ṭng phải tin rằng ḿnh sinh ra trong tội lỗi, và v́ cái bản chất tội lỗi đó con người không thể làm điều ǵ tốt (Believe that you were born in sin, and that by nature you are incapable of doing good.).  Để thoát ra khỏi cái bản chất tội lỗi đó, con người chỉ có một cách: chấp nhận Dê-su Ki Tô là đấng cứu chuộc duy nhất và đầy đủ (Accepting Christ as the sole and sufficient savior).  Cái công thức này không khuyến khích làm thiện mà chỉ cần đầu phục Dê-su Ki-Tô (The formula calls not for doing  but for surrendering to Christ).  Thật vậy, rất mực đạo đức c̣n thường được coi là một chướng ngại trong sự cải đạo (Indeed moral excellence is often considered an obstacle to conversion).

 

Với những hiểu biết như trên về sự cải đạo vào Tin Lành, rồi đọc một vài bài của Lê Anh Huy, Huỳnh Thiên Hồng, hay Nguyễn Huệ Nhật, Trần Long v…v… chúng ta thấy Mục sư Rubem Alves viết không sai một mảy may, và chúng ta không thể không tội nghiệp cho những đầu óc đă bị điều kiện hóa qua những thủ đoạn truyền đạo của Tin Lành.  Nhưng thật ra, chúng ta không thể quy trách hoàn toàn cho những người truyền đạo, bởi v́ đó là nghề nghiệp của họ, dùng bất cứ thủ đoạn nào để kéo những người đang ở trong cơn khủng khoảng tinh thần và vật chất vào mớ xiềng xích tâm linh của Tin Lành.  Họ thành công v́ một phần khá nhiều thuộc căn trí thấp kém và yếu kém của những kẻ tân ṭng.  Nếu căn trí của những kẻ tân ṭng không yếu kém, nếu ḷng tự tin, tự trọng  của họ không mất đi, nếu đầu óc của họ có khả năng suy luận dù chỉ là tối thiểu, th́ làm sao họ có thể bị thuyết phục bởi những điều thuộc loại mê tín, hoang đường đă quá lỗi thời của Tin Lành?  

Chẳng trách là  Mục sư Tin Lành Ernie Bringas đă nhận định trong cuốn Going By The Book: Past and Present Tragedies of Biblical Authority, trang b́a sau: “đầu óc của đa số tín đồ Ki Tô Giáo, đặc biệt là Tin Lành, có một khuyết tật, họ là nạn nhân của một khoảng cách kiến thức đặt họ vào tŕnh độ hiểu biết tôn giáo thích hợp nhiều hơn với thế kỷ 17”. [Christians are victims of a knowledge gap which places them at a level of religious understanding much more appropriate to the 17th century].  Để chứng minh, sau đây tôi sẽ luận về một vài điểm điển h́nh trong những bài tôi đă đọc của Lê Anh Huy, Huỳnh Thiên Hồng và Nguyễn Huệ Nhật, Trần Long.  Tuy nhiên đây không phải là bài phê b́nh mấy người trên, mà chỉ là phân tích những vấn nạn chung của Ki Tô Giáo qua những niềm tin lạc hậu, vô căn cứ của họ. Trong phần I của đề tài Hiểm Họa Tin Lành, tôi chỉ phê b́nh một câu của Lê Anh Huy.

 

Năm 2001 tôi đă phê b́nh bài “T́m Hiểu Niết Bàn” của Lê Anh Huy [trên trang nhà Giao Điểm] và chứng minh là kiến thức của ông ta về đạo Phật và về chính tôn giáo của ông ta, Ki-tô giáo, thuộc loại ăn đong, rất hời hợt, bắt nguồn từ sự mù ḷa tin bướng tin càn vào những chuyện hoang đường về Dê-su Ki Tô (Jesus Christ).

Lê Anh Huy viết bậy rất nhiều, nhưng chúng ta hăy đọc một trí thức (sic) ăn phải cái bả Tin Lành rồi nguyền rủa dân tộc Việt Nam yêu quư của chúng ta như thế nào:

 

“Nhưng mặc khải của Chúa cho biết rằng Rồng là h́nh ảnh của ác quỉ . Do đó chúng tôi vẫn cầu nguyện cho dân tộc VN chối bỏ truyền thuyết "con rồng cháu tiên" .  Đây là dấu chỉ của sự phục ṭng ác quỉ.  Một dân tộc thờ lạy ác quỉ th́ lẽ đương nhiên thưộc quyền ác quỉ và đầy tớ của chúng.”

 

Tôi chưa thấy ai có thể viết vừa ngu xuẩn, vừa láo lếu [xin lỗi quư độc giả, tôi không thể t́m được danh từ nào thích hợp hơn] hơn Lê Anh Huy.  Tai họa của Tin Lành thật là rơ rệt, có thể biến một người b́nh thường, và ngay cả một người tự coi ḿnh là trí thức, thành một kẻ vong bản, một kẻ mù quáng đến độ có thể nguyền rủa cả một dân tộc và tổ tiên của chính ḿnh.  Cái thậm ngu, chí ngu của Lê Anh Huy là mang cái gọi là “mặc khải của Chúa” về con rồng, coi đó là một chân lư không thể sai lầm, để mà đả phá những quan niệm khác trên thế giới về con rồng, và nhất là niềm hănh diện “con rồng cháu tiên” của tuyệt đại đa số người dân Việt Nam, trong đó có tổ tiên và có thể là có ông bà, cha mẹ của Lê Anh Huy.

 

Một chân lư khoa học th́ có tính phổ quát, v́ có thể áp dụng khắp nơi.  Một quan niệm địa phương của một người Do Thái về bất cứ cái ǵ cũng không thể coi như là chân lư, giống như một chân lư khoa học.  Đây là điều sơ đẳng nhất mà chỉ có những kẻ hạ căn cuồng tín nhất mới dám mang ra dùng.  Lê Anh Huy không biết rằng đối với nền văn hóa Á Đông, Rồng là một trong Tứ Quư: Long, Ly, Qui, Phượng.  Ở đây không phải là chỗ bàn về nguồn gốc dân Việt.  Tôi chỉ muốn nói rằng, mỗi nền văn hóa đều khác nhau.  Văn hóa Á Đông coi Rồng như một biểu tượng của sự cao quư, biểu tượng của Vua Chúa, biểu tượng của trí tuệ.  V́ chỉ là một biểu tượng cho nên Rồng chưa làm hại ai, nên không thể gọi là ác quỷ.  Nhưng thực ra chính là Lê Anh Huy đang thờ lạy ác quỷ.  Chứng minh?

 

James A. Haught đă đưa ra một nhận định bất khả phủ bác trong cuốn 2000 years of disbelief: famous people with the courage to doubt, trang 324, như sau, về Chúa Trời của Lê Anh Huy:

 

     Qua luận lư, chúng ta có thể thấy quan niệm của giáo hội về một thiên chúa ở trên trời với ḷng thương yêu vô cùng không đứng vững.  Nếu có một đấng thần linh sáng tạo ra muôn loài th́ ông ta đă làm ra ung thư vú cho phái nữ, bệnh hoại huyết cho trẻ con, bệnh cùi, bệnh AIDS, bệnh mất trí nhớ (alzheimer), và hội chứng down (khuyết tật tinh thần).  Ông ta ra lệnh cho những con cáo cắn xé nát những con thỏ ra từng mảnh, những con báo giết những hươu nai.  Không có một con người nào độc ác đến độ hoạch định những sự khủng khiếp như vậy.  Nếu một đấng siêu nhiên làm như vậy, ông ta là một con ác quỷ, không phải là một người cha nhất mực nhân từ.

     (Through logic, you can see that the church concept of an all-loving heavenly creator doesn't hold water.  If a divine maker fashioned everything that exists, he designed breast cancer for women, childhood leukemia, leprosy, aids, alzheimer's disease, and down's syndrome.  He madated foxes to rip rabbits apart and cheetahs to slaughter fawns.  No human would be cruel enough to plan such horrors.  If a supernatural being did so, he's a monster, not an all-merciful father.)

 Ông Lê Anh Huy nghĩ sao?  Con Rồng chưa làm hại ai, trong khi thiên chúa của ông đúng là một ác quỷ mà ông đang thờ lạy.  Ông có dám phủ nhận điều này hay không? Có phải là một người thờ lạy ác quỉ th́ lẽ đương nhiên thưộc quyền ác quỉ và là đầy tớ của nó”  Vậy thật ra, bản chất của Lê Anh Huy chỉ là một tôi tớ của một ác quỉ, không hơn, không kém.  Bởi v́ chỉ có ác quỉ mới dạy tôi tớ chối bỏ nguồn gốc của ḿnh để đi theo ác quỉ.  Không cứ phải là một bậc thánh thiện, mà bất cứ người thường nào cũng không làm như vậy.

 

Ông Lê Anh Huy tin vào lời mạc khải của Chúa về con Rồng.  Vậy ông có tin vào những lời mạc khải của Chúa trong sách Khải Huyền ở cuối Tân ước hay không?  Chắc chắn là có phải không?  V́ đó là niềm hi vọng để ông được Chúa chọn (với xác suất bằng số không) cho lên thiên đường (mù) sống cuộc sống đời đời cùng Chúa.  Nhưng ông có biết rằng Sách Khải Huyền đă được Tổng Thống Hoa Kỳ Thomas Jefferson phê b́nh một cách rất chính xác như sau: “Sách Khải Huyền là những lời nói dốt nát của một kẻ điên khùng [President Thomas Jefferson referred to the Book of Revelation as “the ravings of a maniac”, West County Times, California, USA, Editor Steven Morris, 14 August, 1995]. 

Kẻ điên khùng dốt nát này là ai?  Kinh Thánh viết rơ tên sách Khải Huyền: “The Revelation of Jesus Christ”, có nghĩa là Lời mạc khải của Dê-su Ki-Tô”.  Vậy tại sao ông lại tin vào những lời mạc khải của một tên dốt nát điên khùng để chối bỏ nguồn gốc con Rồng cháu Tiên của người dân Việt Nam mà hầu hết người dân Việt Nam chúng tôi đều trân quư, trừ những kẻ vong bản, mất gốc như ông?  Đối với đa số học giả và những người trong giới hiểu biết th́ Kinh Thánh chẳng qua chỉ là một sản phẩm dẫn xuất từ những sự mê tín trong thời bán khai (a product derived from primitive superstitions).

 

Vậy giá trị sự mạc khải của thiên chúa trong Kinh Thánh th́ có giá trị ǵ đối với nhân loại.  Nó chỉ có giá trị đối với những người như Lê Anh Huy, nhưng người bị bệnh tâm thần. Nghiên cứu Tân Ước, các học giả cũng đă thấy rơ rằng, Dê-su đă vấp phải nhiều sai lầm về lịch sử, về khoa học, và về thần học.  Vậy làm sao ta có thể tin được những lời mà những người như Lê Anh Huy [LAH] xưng tụng như là những lời mạc khải của Thiên chúa, làm như những lời này phải có giá trị tuyệt đối mà ai cũng phải tin theo?  Để giúp ông Lê Anh Huy thấy rơ vấn đề, sau đây tôi xin đưa ra vài tài liệu nghiên cứu về thực chất Chúa của ông ta mà uy tín của các tác giả khó có ai trong giới trí thức có thể phủ nhận. 

 

1.  Sau khi duyệt qua những công cuộc khảo cứu về nhân vật Dê-su trong 2 thế kỷ nay, học giả Russell Shorto đă viết trong cuốn Sự Thật Trong Phúc Âm  (Gospel Truth) như sau:

 

   ... Các học giả đă biết rơ sự thật từ nhiều thập niên nay – rằng Dê-su chẳng ǵ khác hơn là một người thường sống với một ảo tưởng  – họ đă dạy điều này cho nhiều thế hệ các linh mục và mục sư.  Nhưng những vị này vẫn giữ kín không cho đám con chiên biết v́ sợ gây ra những phản ứng xúc động dữ dội trong đám tín đồ. Do đó, những người c̣n sống trong bóng tối là những tín đồ Ki Tô b́nh thường.

   (Scholars have known the truth – that Jesus was nothing more than a man with a vision – for decades; they have taught it to generations of priests and ministers, who do not pass it along to their flocks because they fear a backlash of anger.  So the only ones left in the dark are ordinary Christians.)

 

2.  Giám Mục Tin Lành John Shelby Spong là một học giả Ki Tô nổi tiếng của Hoa Kỳ.  Ông ta viết rất nhiều sách duyệt lại hệ thống tư tưởng Ki Tô Giáo dựa trên Thánh Kinh, và ông đă nhiều lần được mời lên TV để tŕnh bày quan điểm của ḿnh.  Trong cuốn Sinh Ra Từ Một Người Đàn Bà: Một Giám Mục Nghĩ Lại Về Chuyện Sinh Ra của Giê-su (Born of a Woman: A Bishop Rethinks The Birth of Jesus) , Giám mục Spong viết như sau:

 

“Chẳng có ai biết cha ông ta (Dê-su) là aiRất có thể ông ta là một đứa con hoang.  Rải rác trong miền đất truyền thống Ki Tô lúc đầu (4 Phúc Âm), có những chi tiết chứng tỏ như vậy, giống như những thỏi chất nổ chưa kiếm ra và chưa nổ .”

(No one seemed to know his father.  He might well have been illegitimate.  Hints of that are scattered like undetected and unexploded nuggets of dynamite in the landscape of the early Christian tradition)

 

3.  Trong cuốn  Hăy Cứu Thánh Kinh Khỏi Phái Bảo Thủ (Rescuing the Bible From Fundamentalism), Giám mục Spong viết:

 

-  Có những đoạn trong bốn Phúc Âm mô tả Dê-su ở Nazareth như là một con người thiển cận, đầy hận thù, và ngay cả đạo đức giả. (There are passages in the Gospels that portray Jesus of Nazareth as narrow-minded, vindictive, and even hypocritical).

-  Cuốn Kinh Thánh đă làm cho tôi đối diện với quá nhiều vấn đề hơn là giá trị.  Nó đưa đến cho tôi một Thiên Chúa mà tôi không thể kính trọng, đừng nói đến thờ phụng. (A literal Bible presents me with far more problems than assets.  It offers me a God I cannot respect, much less worship)

 

  4.   Và khi bàn về ơn cứu rỗi của Dê-su, trong cuốn Tại Sao Ki Tô Giáo Phải Thay Đổi Không Th́ Chết (Why Christianity Must Change Or Die), Giám mục John Shelby Spong đă dành riêng chương 6 để viết về đề tài Dê-su Như Là Đấng Cứu Thế: Một H́nh Ảnh Cần Phải Dẹp Bỏ (Jesus as Rescuer: An Image That Has To Go) [Bài này đă được dịch và đăng trên trang nhà Giao Điểm].  Trong chương này, Giám Mục Spong viết như sau:

 

   "Nhân loại chúng ta không sống trong tội lỗi.  Chúng ta không sinh ra trong tội lỗi.  Chúng ta không cần phải rửa sạch cái t́ vết tội tổ tông trong lễ rửa tội.  Chúng ta không phải là những tạo vật sa ngă, mất đi sự cứu rỗi nếu chúng ta không rửa tội.  Do đó, một đấng cứu thế có nhiệm vụ khôi phục t́nh trạng tiền sa ngă của chúng ta chỉ là một sự mê tín trước thời -Darwin và một sự vô nghĩa sau thời -Darwin."

   (We human beings do not live in sin.  We are not born in sin.  We do not need to have the stain of our original sin washed away in baptism.  We are not fallen creatures who will lose salvation if we are not baptized.. A savior who restores us to our prefallen status is therefore pre-Darwinian superstition and post-Darwinian nonsense)

 

            Chúng ta thấy ngay, từ vài kết quả nghiên cứu nêu trên trong số hàng trăm kết quả nghiên cứu khác về nhân vật Dê-su, tất cả những niềm tin của các tín đồ Tin Lành (những người tuyệt đối tin vào sự không thể sai lầm của Kinh Thánh), bất kể là khoa học cộng với hàng trăm tác phẩm nghiên cứu về Kinh Thánh đă bác bỏ tất cả những chuyện hoang đường do Ki Tô Giáo dựng lên quanh nhân vật Dê-su, ngày nay đă không c̣n chỗ đứng trong giới trí thức và những người hiểu biết.  Như Russell Shorto đă nhận định, phần lớn các tín đồ Tin Lành vẫn c̣n sống trong bóng tối của sự ngu si.  Và những nhận định của Giám Mục Spong ở trên đă chứng tỏ rằng những chuyện hoang đường như Dê-su sinh ra từ một trinh nữ, Dê-su là con Thượng đế, Dê su là đấng cứu thế, vai tṛ “cứu chuộc”, “cứu rỗi” của Dê-su v..v.. chỉ là những điều mê tín trước thời Darwin đưa ra thuyết Tiến Hóa.

 


1 Our analysis has led us to the conclusion that the experience of conversion is a response to a crisis situation.  It resolves an emotional impasse.

That is why the Church grows more rapidly in areas where social processes are causing suffering, particularly from anomie and the collapse of meaning-structures...Such areas should be given top priority by the churches, that efforts to build up church life should be concentrated in them...

I am not saying anything that is news to Protestants.  There is no conversion without crisis, no conversion without suffering.  Conversion is a process whereby one assimilates suffering to a new meaning-structure and thus makes it meaningful...

Isn’t it curious that Christ cannot be prached to people who feel secure and happy, to people who feel that life is worth living, to people who are not going through a crisis?  Isn’t it odd that Christ can only be proclaimed and made meaningful in morbid situations where people are infected with existential anxiety, guilt feelings, and terror of death?  What really is the task of the evangelists?  His or her task is to give theological names to a crisis that could well be psychosocial in origin.  The evangelist seeks to activate a crisis which might not have been sensed befored, so that then, and only then, he or she can proclaim that “Christ is the answer.”

We are forced to conclude that the world makes room for Christ only when it feels ill, when it has come down with some sickness.  Is there some theological reason why dread of death and guilt are the privileged sacraments of salvation?  To put it another way, the experience of conversion presupposes that the meeting-point between God and the world is suffering and anguish – the world’s state of pain and sickness.  When there is health and happiness, language about God loses its meaningfulness.  Isn’t there a sadomasochistic vision of reality buried underneath such presupposition?

Suffering is transformed into a blessing, because it provides an opportunity for the sinner to encounter Christ.  The greater the suffering, the greater the opportunities for evangelists!  Doesn’t that suggest that the Church is being put in the curious position of praying for more human suffering so that human hearts will be more receptive to its message?  That was a question which Dietich Bonhoeffer posed to the Church.

What do the apologists for the Christian faith, the bearers of the “good news” really do?

They demonstrate to secure, content, happy mankind that it is really unhappy and desperate, and merely willing to realize that it is in severe traits it knows nothing at all about, from which only they can rescue it.   Wherever there is health, strength, security, simplicity, they spy luscious fruit to gnaw at or to lay their pernicious eggs in.  They make it their object first of all to drive men to inward despair, and then it is all theirs (Bonhoeffer).

Conversion is a solution to a painful problem.  One starts from conversion to structure a world whose function is to prevent the reappearance of anxiety.  The aim is the exorcism of the terror.  Now if the conversion has proved adequate in exorcising this terror, consciousness will be firmly glued to that conversion-experience and its attendant cognitive worldview.  That is why arguments won’t work at this level.  You may offer all sorts of evidence – logical, scientific, or whatever – to call to convert’s basic experience into question.  It will immediately and flatly rejected by the convert.

2   The situation of the new converts is akin to that of children going to school for the first time.  They know nothing.  Knowledge will be mediated to them by a person who has knowledge. The learning process is a process of apprenticeship.  The social interaction between two parties involved is not an interaction between equals.  Master and apprentice, teacher and learner, are not the same level.  One is subordinate to the other; hence power is involved in the equation.  The teachers are those who have the power to impose their definition of reality; the learners are those who do not have the power to maintain their definition of reality..

            Even before new converts learn anything about the world, they are taught to view themselves as people who know nothing.  Their own knowledge is placed between parentheses and called into doubt.  It is not permissible for them to appeal to what they think they know in order to criticize the knowledge that the church community wishes to transmit to them.  Why?  Because their knowledge is a heritage from their earlier period of darkness and damnation.  Their minds are reduced to blank pages.  They have nothing to say; their job is to listen.  As apprentices and learners, they must submit silently to the church institution.  They now know that the institution has the monopoly on absolute knowledge, hence a monopoly on the right to talk.

            In the Protestant world, then, the learning process begins with a lesson in a particular kind of social relationship: the teachers speaks, the learners keep quiet; the teachers teach, the learners repeat.  If the learners do not know what they believe, they are not qualified to speak.  It is true that the converts are free to sing their emotions.  But the discourse of knowledge is still impossible.  This is why the proper mode of speech for the learners is repetition, as catechisms clearly illustrate.  Catechisms are primers for apprentice-learners.  They contain questions and ready-made answers.  When do learners know their catechism?  When they can recite by heart the printed answers in it.  The learning of the church community is defined in terms of that knowledge, and the test of learning is the ability to memorize and repeat the catechism questions and answers.  In this way the collective conscience of the community is imprinted as truth on the mind and conscience of the individual member.  What about free inquiry?  What about let the converts break their own ground?  That is nowhere to be found.

 


 

 

HIỂM HỌA TIN LÀNH 


(Phần II - Trường hợp khảo sát: Huỳnh Thiên Hồng)

 

 

Tân ṭng Tin Lành thứ hai mà tôi muốn nói đến là Huỳnh Thiên Hồng. Chúng ta hăy đọc Huỳnh Thiên Hồng nhắc lại luận điệu truyền đạo thuộc loại mê tín hoang đường của Tin Lành trong bài “Thuyết Vô Ngă của Triết Phật & Tín Lư Hữu Ngă trong Thánh Kinh”.  Chúng ta hăy bỏ qua những điều Huỳnh Thiên Hồng viết láo lếu về Vô Ngă, thí dụ như “Sự luận giải Lập thuyết Vô Ngă có thể tóm tắt trong ‘Thập Nhị Nhân Duyên’” (sic) hoặc “Vô ngă tức là không có thật” (sic) chứng tỏ sự hiểu biết về Phật Giáo của Huỳnh Thiên Hồng thuộc tŕnh độ các nhà truyền giáo Tin Lành ngu ngơ về đạo Phật, cố t́m cách để xuyên tạc những giáo thuyết của Phật Giáo.  Chúng ta cũng bỏ qua điều trong Kinh Thánh không làm ǵ có tín lư Hữu Ngă.  Nếu có thể nói về một cái ngă (linh hồn) trong Kinh Thánh th́ đó chỉ là ngă của những con chiên, thuộc loại súc vật, người ta chăn dắt đi đâu th́ đi đó.  Huỳnh Thiên Hồng viết:

 

Thánh Kinh bày tỏ sự hữu ngă của nhân loại và chỉ ra con đường cứu rỗi cho nhân loạiCon đường cứu rỗi đó, không cần phải qua một quá tŕnh tu tập không cần phải phải tự lực giác ngộ.  Con đường cứu rỗi đó là sự ban cho vô điều kiện của Đức Chúa trời, Đấng Tạo Hóa, Đấng Cao Siêu Tuyệt Đối. Một khi con người tiếp nhận sự cứu rỗi ấy, lập tức được giải thoát khỏi gông cùm của tội lỗi và mặc cảm tội lỗi, lập tức tràn ngập b́nh an, hạnh phúc...Muốn được ơn cứu rỗi, con người cần ăn năn tội và tiếp nhận ơn tha thứ của Đức Chúa trời trong Đức Chúa Jesus Christ..”

 

Tôi thật không muốn b́nh luận về luận điệu truyền đạo rất ấu trĩ như trên của ông Huỳnh Thiên Hồng v́ với kiến thức của con người hiện đại nhưng cụm từ như Đức Chúa trời, Đấng Tạo Hóa, Đấng Cao Siêu Tuyệt Đối chỉ là những lời nói trống rỗng, không có một căn bản thuyết phục nào. Những thứ đó chỉ có trong đầu những tín đồ cấp dưới đă bị các bề trên nhồi sọ để duy tŕ quyền lực thế tục chứ phần lớn cũng không c̣n trong đầu óc của các bề trên nữa ..  Nhưng để khai sáng đầu óc của ông Hồng cũng như của những người tin vào ơn cứu rỗi của Chúa Trời trong Dê-su Ki Tô (Jesus Christ), tôi đành phải mất chút th́ giờ để viết về cái gọi là “ơn cứu rỗi”.  Chưa kể là Kinh Thánh viết rơ không làm ǵ có chuyện Dê-su “cứu rỗi” người Việt Nam v́ trong Tân Ước ông ta đă nhiều lần khẳng định là ông ta được Cha ông ta cho xuống trân chỉ để cứu dân Do Thái mà thôi và c̣n coi những người không phải Do Thái là đồ “chó”.  Vậy ông Huỳnh Thiên Hồng, hay bất cứ người Việt Nam nào, đương nhiên không phải là người Do Thái,  muốn nhận thân phận đó để được Dê-su cứu rỗi th́ xin cứ tùy tiện, tôi không hề ngăn cản. 

 

    Thứ nhất, ông Huỳnh Thiên Hồng (HTH) chưa đủ tŕnh độ để đi vào nền thần học Ki Tô Giáo để biết ư nghĩa của sự “cứu rỗi” cho nên ông chỉ nhắc lại những điều Tin Lành nhồi vào đầu óc ông.  Thứ nh́, ông HTH chắc chắn là chưa bao giờ đọc Kinh Thánh hay có đọc th́ cũng chỉ đọc những đoạn vụn vặt trong đó. Chứng minh?

 

   Trước hết, chúng ta cần biết thế nào là ơn cứu rỗi. Trong cuốn Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng, trang 76,  để trả lời câu hỏi "Tại sao nhân loại cần cứu rỗi?", Giáo hoàng John Paul II đă trích dẫn một câu trong Phúc Âm John làm luận điểm giải thích, John 3:16: “Thiên Chúa quá thương yêu thế gian đến nỗi ban Con duy nhất của Ngài, để những ai tin vào Người sẽ không bị luận phạt, nhưng được sống đời đời. Đọc tiếp Tân Ước, chúng ta thấy câu John 3: 18: “Người nào không tin vào Giê-su th́ đă bị đầy đọa rồi, v́ người đó không tin vào đứa con duy nhất của Thượng đế”  Câu John 3:16 ở trên không phải là lời giải thích cho câu hỏi “Tại sao nhân loại cần đến sự cứu rỗi?” mà là một câu Giáo hoàng dùng để khẳng định về một đức tin mà thực chất rất là ngu xuẩn của Ca-Tô Giáo với mục đích:

 

1) huyễn hoặc những người nhẹ dạ cả tin, mê mẩn về một sự sống đời đời, sau khi chết, ở trên một thiên đường giả tưởng, bằng cách tin vào một nhân vật đầy tính chất huyền thoại do nền thần học Ki Tô Giáo tạo dựng lên; và 2) hù dọa những tín đồ đầu óc yếu kém về một sự luận phạt phi lư và hoang đường.  Tại sao tôi lại bảo là rất ngu xuẩn?  Phần phân tích hai câu trên trong một phần sau sẽ cho chúng ta thấy rơ vấn đề.

 

   Trước hết, điều này thật là rơ ràng v́ tháng 7, 1999, Giáo Hoàng John Paul II, trước những khám phá xác tín nhất của khoa vũ trụ học, và trước những hiểu biết của con người ngày nay về cấu trúc của trái đất, đă bắt buộc phải tuyên bố: "thiên đường không phải là một nơi trừu tượng mà cũng chẳng phải là một nơi cụ thể ở trên các tầng mây” (Heaven is neither an abstraction nor a physical place in the clouds), và “Hỏa ngục không phải là sự trừng phạt áp đặt từ bên ngoài bởi Thiên Chúa, mà là trạng thái hậu quả của những thái độ và hành động mà con người đă làm trong đời này” (Hell is not a punishment imposed externally by God, but the condition resulting from attitudes and actions which people adopt in this life).  Như vậy là Giáo Hoàng đă bác bỏ đức tin quan trọng nhất trong Ki-tô giáo:  Quyền năng “cứu rỗi” của Jesus, và hi vọng của các tín đồ Ki-tô về một cuộc sống đời đời trên thiên đường cùng Jesus, và sự luận phạt của Jesus đối với những người không tin ông ta, và tin vào luật “Nghiệp Báo” của Nhà Phật.  Nếu không có thiên đường th́ chỗ nào là chỗ để cho những người tin Giê-su sống một cuộc sống đời đời?  Nếu không có hỏa ngục th́ chỗ nào để cho Giê-su luận phạt và đầy đọa những người không tin ông ta?  Tin vào những ǵ không có thực th́ chẳng phải ngu xuẩn th́ là ǵ.

 

    Mặt khác, phân tích ra th́ những câu John 3: 16 và John 3: 18 là những câu vô nghĩa và nhảm nhí nhất trong Tân Ước v́ những câu này chỉ có thể áp dụng cho những người sinh sau Giê-su mà thôi. Thật ra đó chỉ là đức tin vào Dê-su Ki Tô của một số người Do Thái trong thời cách đây chưa đầy 2000 năm, thí dụ như các “thánh” John và Paul mà đầu óc không lấy ǵ làm sáng sủa cho lắm.  Về sau, nền thần học Ki-tô giáo, qua nhiều thế kỷ đă khai thác sự mê tín của con người và diễn giải quan niệm của John và Paul, một quan niệm đặc thù của người Do Thái trong thời chưa khai hóa, là Dê-su Ki Tô có quyền năng “cứu rỗi” cho cả nhân loại.  Ngày nay, Tin Lành cũng chấp chặt vào câu John 3:16 ở trên và chủ trương chỉ cần tin và đầu phục (surrender) Chúa Dê-su Ki Tô là được cứu rỗi.  Điều này chúng ta thấy rơ trong đoạn trên của Huỳnh Thiên Hồng. 

 

   Điều hiển nhiên là, trước khi Giê-su sinh ra đời th́ nhân loại đă trải qua bao nhiêu thế hệ trong nhiều ngàn năm, nếu không muốn nói là cả triệu năm, trong đó đă trải qua biết bao nhiêu thế hệ của tổ tiên, ông bà Giê-su.  Ai biết đến Giê-su? Ai tin Giê-su?  Vậy tất cả cũng đều bị Giê-su luận phạt hay sao?  Trước năm 1533, người Việt Nam không ai nghe và biết đến tên Giê-su, hiển nhiên không ai có thể tin Giê-su, vậy tất cả dân tộc Việt Nam trong mấy ngàn năm trước năm 1533 cũng bị luận phạt hay sao?  Những người Việt Nam theo Ki Tô Giáo có nghĩ đến các điều hoàn toàn vô nghĩa như trên hay không? Cái tín điều phi thực tế, phi nhân tính, phi lôgic  như vậy mà giáo hoàng nêu lên được trong thời đại này th́ kể cũng lạ.  Điều lạ hơn nữa là các tín đồ vẫn c̣n tin theo cái tín lư quái gở đó với một tâm cảnh vô cùng ích kỷ, chỉ nghĩ đến đời sống đời đời sau khi chết của riêng ḿnh, mà không hề nghĩ đến bản chất ác độc, phi lư, phản khoa học, hoang đường, bất khả áp dụng, của sự luận phạt của Giê-su.  Không những chỉ ích kỷ mà họ c̣n để lộ một tinh thần yếu kém, sợ sệt thần linh trong thời đại tiến bộ của khoa học kỹ thuật ngày nay mà quan niệm thần linh khi xưa đă không c̣n chỗ đứng.  Trong thời đại mà các thần b́nh vôi, thần cây đa, thần hà bá v..v.. đă không c̣n ư nghĩa, tại sao họ vẫn c̣n có thể tin vào một “Thiên Chúa” của người Do Thái cách đây 2000 năm mà bản chất cũng không khác ǵ những “Thần Linh” trong dân gian trên khắp thế giới? 

 

    Đọc Kinh Thánh, chúng ta thấy rơ là cứu rỗi có nghĩa là cứu rỗi linh hồn, linh hồn này khi chết được để vào một kho chứa ở đâu đó, ai để không biết, ở trong đó chờ ngày Dê-su Ki Tô trở lại trần lần thứ hai, bao giờ trở lại, không ai biết, hi vọng Giê-su  làm cho xác chết sống lại, chẳng biết c̣n nguyên vẹn hay đă tan rũa, họp lại với linh hồn để sống một cuộc sống đời đời trên thiên đường (mù) cùng Chúa.  Đó là ư nghĩa đích thực của từ “cứu rỗi” và là niềm tin của người Ki-tô vào hi vọng được sống đời đời với Chúa của họ.

 

            Qua sự phân tích ở trên, chúng ta thấy sự “cứu rỗi” của Dê-su Ki Tô, hoặc Hồng ân Thiên Chúa, hoặc ơn tha thứ của Dê-su Ki Tô v..v..  chẳng qua chỉ là cái bánh vẽ của Ki tô Giáo để dụ những người ngu ngơ, khờ khạo như Huỳnh Thiên Hồng và Nguyễn Huệ Nhật vào trong ṿng xiềng xích tâm linh của Ki-tô Giáo.  Thực sự, đó chỉ là cái bánh vẽ, vậy th́ con đường đi đến cái bánh vẽ đó chỉ dẫn những kẻ khờ khạo xuống vực thẳm đen tối của sự ngu si. 

Huỳnh Thiên Hồng quảng cáo “con đường cứu rỗi” của Dê-su Ki Tô và tin rằng Con đường cứu rỗi đó, không cần phải qua một quá tŕnh tu tập không cần phải phải tự lực giác ngộ, và chỉ cần ăn năn tội và tiếp nhận ơn tha thứ của Đức Chúa trời trong Đức Chúa Jesus Christ..”.

 

Nhắc lại những điều vô nghĩa, huyền hoặc trên, Huỳnh Thiên Hồng đă chứng tỏ cho độc giả thấy là ông ta mù tịt về Kinh Thánh, chỉ tin vào những lời giả dối bịp bợm của giới truyền đạo.  Chúng ta hăy khoan xét đến sự kiện là nhân loại có cần đến cái gọi là “cứu rỗi”, một ảo tưởng của Ki Tô Giáo hay không? và con đường tu tập, tự lực giác ngộ là con đường ngược chiều với con đường cứu rỗi, do đó câu trên hoàn toàn vô nghĩa....

 

Thiên Chúa ban cho con đường là để đi trên con đường đó.  Đi đâu?  Đi đến cứu rỗi?  Bao giờ th́ được cứu rỗi?  Khi c̣n sống hay khi đă chết, và chết rồi cũng c̣n phải chờ đến ngày tận thế?  Theo như Huỳnh thiên Hồng th́ chỉ cần ngồi yên mà hưởng cái Thiên Chúa ban cho mà không cần phải đi, không cần phải tu tập, tương tự như “nằm há miệng chờ sung rụng từ cây sung ở gần thành Jerusalem (Nước trời (Kingdom of God) của Ki Tô Giáo)”  [Nhưng khổ một nỗi cây sung đó đă bị Chúa Dê-su của ông Hồng nguyền rủa cho nó chết héo queo rồi, không bao giờ có thể ra trái nữa, nên ông Hồng có nằm đến ngày tận thế cũng không hứng được trái nào].

 

Cái dỏm của Huỳnh Thiên Hồng là không chịu đọc Kinh Thánh, không biết thế nào là cứu rỗi, cho nên cứ viết bậy viết bạ về “ơn cứu rỗi” của Dê-su Ki Tô.  Đọc Kinh Thánh, chúng ta thấy Dê-su đă đưa ra nhiều con đường để cho những ai muốn hưởng cuộc sống đời đời trên thiên đường (mù) cùng ông ta phải theo.  Sau đây là vài đoạn trích từ Kinh Thánh:

 

Thứ nhất, Matthew 5: 17-19:  Đừng tưởng ta đến để hủy bỏ luật pháp [luật của Thượng đế trong Cựu Ước] và lời tiên tri.  Không, ta đến để hoàn thành luật pháp và thực hiện các lời tiên tri [chẳng thực hiện được điều ǵ].  Ta nói quả quyết: Một khi trời đất vẫn c̣n th́ không một chi tiết nào trong luật pháp bị xóa bỏ, trước khi mục đích luật pháp được hoàn thành [Thực tế là nhiều luật có tính cách man rợ của Thượng đế trong Cựu Ước không c̣n phép được áp dụng trong thế giới văn minh ngày nay].  Người nào phạm điều răn nhỏ nhất và quyến rũ người khác làm theo là người hèn mọn nhất trong Nước Trời.  Trái lại, người nào vâng giữ điều răn và dạy người khác làm theo là người lớn trong Nước Trời. [Hai câu này cho thấy Nước trời (Kingdom of God) không phải là nước thiên đường trên các tầng mây mà chỉ là một Jerusalem mới của người Do Thái đặt dưới quyền thống trị và luật pháp của Thượng đế đích thân cai quản, theo như niềm tin của người Do Thái trước khi Dê-su sinh ra đời và đặc biệt cũng là của Dê-su sau này như tất cả các học giả nghiên cứu Kinh Thánh đều đồng thuận điểm này].

Matthew 19: 17:  Chúa Dê-su đáp:..Muốn hưởng sự sống đời đời, phải vâng giữ các điều răn.

Vậy, giữ các điều răn trong Cựu Ước là con đường thứ nhất để có thể hưởng cuộc sống đời đời (được cứu rỗi) trên thiên đường  (mù). 

 

Thứ nh́, Matthew 19:21:  Dê-su đáp: Nếu ngươi muốn được trọn vẹn, hăy đi bán hết tài sản, lấy tiền phân phát cho người nghèo, th́ ngươi sẽ có của cải quư giá ở trên Trời, rồi hăy theo Ta.

Matthew 19: 29:  Người nào bỏ nhà cửa, bỏ anh em, chị em, cha mẹ, vợ con, tài sản để theo ta th́ người ấy sẽ lănh bội phần, và sẽ hưởng sự sống đời đời.

Vậy bán sạch tài sản giúp người nghèo, từ bỏ cha mẹ, vợ con, anh chị em là con đường thứ hai để có được cuộc sống đời đời trên thiên đường (mù) cùng Dê-su.

 

Thứ ba, Mark 8: 35, Luke 9: 24:  Ai muốn bám lấy sự sống của ḿnh th́ sẽ mất đi sự sống, c̣n ai v́ Ta mà mất đi sự sống th́ sẽ được cứu.

John 12: 25:  Ai quư chuộng mạng sống của ḿnh sẽ mất nó.  Ai ghét sự sống của ḿnh trong đời này, sẽ được sống đời đời.

 

Vậy con đường thứ ba để đi đến cứu rỗi là phải ghét bỏ sự sống hiện tại để sống đời đời về sau.  Chẳng vậy mà Kinh Nhật Khóa của Ca-tô Giáo có câu cầu nguyện hàng ngày “Xin Chúa làm cho tôi khinh dễ sự đời là chốn chim muông cầm thú, xin làm cho tôi đặng về quê thật hiệp làm một cùng vua David” (Charlie Nguyễn, Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm, Giao Điểm 2001, trang 173.).  Muốn có sự sống đời đời cùng Chúa trên thiên đường (mù), con đường nhanh nhất là con đường tự sát, chết đi cho rồi.

 

Thứ tư, như đă viết ở trên, John 3: 16: “Thiên Chúa quá thương yêu thế gian đến nỗi ban Con duy nhất của Ngài, để những ai tin vào Người sẽ không bị luận phạt, nhưng được sống đời đời.” một câu tôi cho là nhảm nhí nhất trong Tân Ước mà tôi đă phân tích ở trên.

 

   Tôi không hiểu những người như Lê Anh Huy, Huỳnh Thiên Hồng v… v… sẽ chọn cái ǵ trên con đường đó:  Áp dụng luật Môi-se; hay bán sạch tài sản, từ bỏ cha mẹ, vợ con, anh chị em; hay ghét bỏ sự sống hiện tại hoặc chết quách đi để mau về Nước Trời;  hay tin vào cái bánh vẽ cứu rỗi cho riêng ḿnh mà không nghĩ đến họ hàng tổ tiên của ḿnh ở Việt Nam trước thế kỷ 16, không cần biết đến nhân loại đă sinh ra trước Dê-su cả triệu năm?  Hi vọng những người như Lê Anh Huy, Huỳnh Thiên Hồng v… v… cho chúng tôi biết đă chọn con đường đó như thế nào?

 

Nhưng tại sao con người lại phải tin vào một huyền thoại của dân tộc Do Thái?  Theo huyền thoại này và theo luận điệu thần học của Ki Tô Giáo th́ tin ở đây là tin Dê-su là Con Thiên Chúa người con duy nhất mà Thiên Chúa đă hy sinh [mà thật ra không phải là đứa con duy nhất mà là chính Thiên Chúa theo thuyết “Ba Ngôi Thiên Chúa”], bắt phải chịu khổ nạn đóng đinh trên thập giá để chuộc cái tội tổ tông hoang đường do chính Thiên Chúa toàn năng gây ra, để cho Thiên Chúa nguôi cơn giận với nhân loại v..v.. chứ không phải là tin vào ơn tha thứ của Dê-su.  Thiên Chúa toàn năng, nhưng lại không thể nghĩ ra cách nào khác để lấy lại sự ḥa thuận giữa Thiên Chúa và con người, phải dùng đến sự hy sinh đứa con một, một tội ác mà các ṭa án dân sự ngày nay không dung thứ.  Hổ cũng không ăn thịt con, nhưng Thiên Chúa c̣n dữ hơn hổ, không ăn thịt con nhưng lại khiến cho con phải chịu khổ nạn bị đóng đinh trên cây thập giá, một h́nh phạt dă man nhất trong lịch sử nhân loại.  Bắt đứa con chịu khổ nạn, gọi là để chuộc tội cho nhân loại, để xóa sạch tội lỗi trên thế gian, để con người không c̣n chết v́ ĺa xa thiên chúa, nhưng thế gian vẫn đầy những tội lỗi, con người, kể cả những đại diện của Chúa trên trần (Vicars of Christ), vẫn chết như thường, và con người, càng ngày càng rời xa thiên chúa.  T́nh trạng lục địa Âu Châu ngày nay sống như là không hề có Thiên Chúa mà cũng chẳng cần tới sự cứu rỗi của Dê-su nữa , theo nhận định của Hội Đồng Giám Mục Âu Châu vào năm 1999, và lời than phiền của Giáo hoàng hiện thời, Benedict XVI.  Vậy sự hy sinh của Dê-su quả thật là vô ích.  Mà Dê-su có hy sinh quái ǵ đâu.  Giả vờ chết có chưa đầy ba ngày đă sống lại và không cần đeo hỏa tiễn cũng có thể bay lên trời, coi như sức hút của trái đất như không có.  Những luận điệu thần học có tính cách mạ lỵ đầu óc con người mà ngày nay vẫn c̣n nhiều người tin th́ kể cũng lạ.

 

            Hơn nữa, xét cho cùng th́ “tin vào Dê-su Ki Tô” là điều không cần thiết và trái với thuyết chuộc tội và cứu rỗi của Ki-tô Giáo.  Tại sao Dê-su lại bị đóng đinh trên thập giá?  Các nhà nghiên cứu Kinh Thánh cho rằng v́ Dê-su tự xưng láo lếu là Con của Thượng Đế , là Vua của Do Thái v..v..  Nền thần học Ki-tô Giáo khẳng định là Dê-su t́nh nguyện chịu chết để chuộc tội cho nhân loại và mang lại sự ḥa giải giữa Thượng đế và nhân loại, và nhân loại không c̣n chịu sự nóng giận và trừng phạt của Thượng đế hay Chúa Cha nữa.  Nếu Dê-su đă chuộc tội cho nhân loại bằng cái chết của ḿnh th́ tin vào Dê-su là điều thừa thăi, nếu không muốn nói là công cuộc chuộc tội của Dê-su vô giá trị.

 

   Mặt khác, câu Muốn được ơn cứu rỗi, con người cần ăn năn tội và tiếp nhận ơn tha thứ của Đức Chúa trời trong Đức Chúa Jesus Christ..” của Huỳnh Thiên Hồng viết ở trên phản ánh một niềm tin nhảm nhí của thời bán khai.  Chứng minh?

 

   Thứ nhất, Chúa Dê-su chết đă gần 2000 năm nay rồi.  Điều này không ai có thể phủ nhận.  Tại sao?  V́ Kinh Thánh viết rơ Dê-su tin chắc là ḿnh sẽ trở lại trần ngay trong thời đại của ông ta, khi mà một số người theo ông ta c̣n sống [Matthew 16: 27-28; 24:34; Mark 9:1; 13:30; Luke 21: 27,32; John 14:3], nhưng ông ta đă biệt tăm trong gần 2000 năm nay.  Điều này chứng tỏ ông ta đă nói láo, lừa dối hứa hẹn một sự cứu rỗi cho một số người tin theo ông ta.  Do đó, thực ra ông ta không phải là Chúa cứu dân tộc Do Thái, khoan nói đến chuyện cứu thế, mà chỉ là tự cho ḿnh là Chúa, là Vua của người Do Thái, một sự hoang tưởng bắt nguồn từ sự tin vào những điều viết trong Cựu Ước như nhiều nhà phân tích Kinh Thánh đă ghi nhận, và đây cũng là lư do mà ông ta bị đóng đinh trên cây thập giá, đồng hạng với hai tên ăn trộm cùng bị đóng đinh ở hai bên.

 

     Thứ nh́, nếu ông ta không phải là Chúa cứu thế của tất cả nhân loại th́ ông ta, cũng như bất cứ thần thánh nào trong tín ngưỡng nào khác, đều không có quyền tha thứ tội lỗi cho bất cứ ai.  Cho nên, tin rằng Dê-su có quyền tha tội cho nhân loại chỉ là điều tin nhảm tin nhí, không c̣n một giá trị nào trong thế giới hiện đại.  Nếu nền thần học Ki-tô giáo bảo rằng tội ở đây là tội tổ tông do Adam và Eve gây ra th́ có nghĩa là các tín đồ tin theo đă đi giật lùi trở lại thời kỳ đen tối trí thức, khi mà toàn thể Âu Châu đều tin vào thuyết sáng tạo trong Cựu Ước.  Chính giáo hoàng John Paul II đă công nhận thuyết Tiến Hóa và phát biểu năm 1996 như sau:

  

      “Thân xác con người có thể không phải là sự sáng tạo tức thời của Thượng đế, mà là kết quả của một quá tŕnh tiến hóa dần dần...Những kiến thức mới nhất dẫn đến việc phải chấp nhận Thuyết Tiến Hóa hơn chỉ là một giả thuyết.”

   (The human body may not have been the immediate creation of God, but is the product of a gradual process of evolution...Fresh knowledge leads to recognition of the theory of evolution as more than just a hypothesis).

 

Nếu con người không phải là tác phẩm “sáng tạo” tức thời của Thượng Đế như Giáo Hoàng John Paul II đă công nhận trước thế giới th́ làm ǵ có tội tổ tông?  Thật vậy, thuyết thần học Ki Tô về sự cứu chuộc và cứu rỗi của Chúa Giê-su đặt căn bản trên huyền thoại về tội tổ tông.  Nhưng ngày nay, trừ những  giáo dân ít học và kém hiểu biết, có c̣n ai tin vào huyền thoại "tội tổ tông" nữa đâu.  Malachi Martin, giáo sư tại viện nghiên cứu Thánh Kinh của giáo hoàng tại Rô-ma dưới triều đại giáo hoàng John XXIII (Professor at the Pontifical Biblical Institute of Rome, served in the Vatican under Pope John XXIII), đă viết trong cuốn "Sự Suy Thoái Và Sụp Đổ của Giáo Hội Rô-Ma" (The Decline and Fall of the Roman Church) như sau, trang 230:

 

   Giáo Hoàng John XXIII nói trong buổi khai mạc Công Đồng Vatican II  ngày 11 tháng 10, 1962, rằng "những giáo lư và quan niệm sai lầm vẫn c̣n tồn tại nhiều, nhưng ngày nay con người đă tự ư loại bỏ chúng... Nhưng nếu Roncalli (John XXIII)  không thấy là điều giảng dạy mới của ḿnh dẫn tới đâu, th́ hàng trăm nhà thần học và giám mục đă thấy.  Trong những thập niên 1960-70, sau khi Roncalli chết, họ đă từ bỏ niềm tin về tội tổ tông, về quỷ Satan, và về nhiều giáo lư căn bản khác.

  

   Tại sao các  nhà  thần học và  giám mục lại  từ  bỏ thuyết thần học về tội tổ tông?  V́ ngày nay, thuyết này không c̣n phù hợp với tŕnh độ hiểu biết tiến bộ của nhân loại, hơn nữa lại c̣n chứa những mâu thuẫn mà không nhà thần học nào có thể biện minh được.  Do đó, chúng ta có thể kết luận rằng, những kẻ nào, như vài kẻ tân ṭng Tin Lành như Lê Anh Huy, Huỳnh Thiên Hồng và Nguyễn Huệ Nhật, Trần Long chẳng hạn, c̣n tiếp tục nói về tội tổ tông, Satan, và cho rằng những điều viết trong Kinh Thánh tất nhiên phải đúng sự thật, chẳng qua chỉ là những kẻ thuộc loại đầu óc mụ mị, cuồng tín, mù ḷa tin bướng tin càn.

 

Nếu tin nhảm tin nhí, cho rằng Dê-su có quyền năng ban ơn tha thứ những tội ác thế gian như ăn cắp, giết người, loạn dâm v..v.., thường xảy ra trong đám tín đồ tin ông ta, trong giới Giáo hoàng cũng như trong giới các Hồng y, Tổng Giám mục, Giám mục, Linh mục trong Ca-tô Giáo Rô-ma, và trong giới các giám mục, mục sư Tin Lành, sau khi ông ta chết cách đây gần 2000 năm, th́ có phải là cho rằng ông ta đă mù quáng, khuyến khích, và có thể coi như là đồng lơa với những tội ác mà ông ta không hề biết là sẽ như thế nào và bao giờ sẽ xảy ra trong tương lai.  Thực tế cho thấy rằng, luật pháp thế gian, tùy theo mỗi quốc gia, đă coi ơn tha thứ của Dê-su như vô giá trị và trừng phạt những kẻ có tội đối với xă hội.  Những linh mục, mục sư loạn dâm, những người có Thánh Linh ngự trong người, vẫn bị ṭa án thế tục đưa ra xét xử và bắt ngồi tù, bất kể là Dê-su có ban ơn tha thứ cho những tôi tớ của Chúa như họ thường tưởng hay không.

 

            Phải chăng v́ trước những sự hiểu biết của con người thời nay về những điều phi lư trong thuyết cứu chuộc và cứu rỗi của Ki Tô Giáo mà Linh mục Ca-tô James Kavanaugh cũng như Giám mục Tin Lành John Shelby Spong, cũng như nhiều nhà thần học, học giả khác trong thế giới Tây phương đều đă bác bỏ thuyết này [Xin đọc bài Huyền Thoại Cứu Rỗi của Linh mục James Kavanaugh và Dê-su Như Là Đấng Cứu Thế: Một H́nh Ảnh Cần Phải Dẹp Bỏ của Giám mục Tin Lành John Shelby Spong trên trang nhà Giao Điểm]

 

            Huỳnh Thiên Hồng, cũng như bất cứ ai, đều có quyền tin vào Thượng đế cũng như vào cái bánh vẽ “cứu rỗi” của Ki-tô giáo.  Nhưng đưa ra những luận điệu ngớ ngẩn, thuộc loại mù ḷa tin bướng tin càn ra để mà quảng cáo cho Thượng đế hay cái bánh vẽ đó th́ chỉ tự chứng tỏ là ḿnh có đầu óc thuộc loại ḿ ăn liền.  Nếu đưa ra những luận cứ hợp lư trí, có tính cách thuyết phục th́ không ai có thể nói ǵ.  Nhưng nếu chỉ nói theo niềm tin của ḿnh mà thực sự lại không hiểu ǵ về chính niềm tin của ḿnh, th́ chỉ làm tṛ cười cho thiên hạ.  Qua những bài viết của Lê Anh Huy, Huỳnh Thiên Hồng, Nguyễn Huệ Nhật, và một vài tân ṭng Tin Lành khác ở trong nước như Phan Như Ngọc, Khuất Minh,  Nguyễn Hồng Ân, chúng ta thấy rơ là họ chỉ làm tṛ cười cho thiên hạ qua mớ kiến thức quá kém cỏi của họ, cũng như qua những luận điệu sặc mùi mê tín hoang đường phản ánh những đầu óc thuộc loại hạ căn, cuồng tín của thời Trung Cổ, thảm thay, vẫn c̣n sót lại trong thời đại văn minh tiến bộ của thế giới ngày nay.

 

 

    


 

 

HIỂM HỌA TIN LÀNH 

 

(Phần III - Trường hợp khảo sát : Nguyễn Huệ Nhật)

 

 

 

     Trong Phần I, tôi đă chứng minh thực chất của Tin Lành Lê Anh Huy chỉ là một trí thức dỏm, cuồng tín, kiến thức thấp kém v..v...  Trong Phần II, tôi đă phê b́nh vài đoạn của Tin Lành Huỳnh Thiên Hồng và chứng tỏ đầu óc của Huỳnh Thiên Hồng th́ đồng loại với đầu óc của Lê Anh Huy.  Trong Phần III này, tôi muốn nói đến Nguyễn Huệ Nhật.  Về Nguyễn Huệ Nhật th́ tư cách của ông ta không nên bàn tới.  Tự nhận là tu theo Phật Giáo trong 15 năm, bỏ Phật Giáo theo Tin Lành rồi quay lại bài bác Phật Giáo và đánh bóng Tin Lành.  Về phương diện trí thức, nếu Nguyễn Huệ Nhật bài bác Phật Giáo đúng và đánh bóng Ki-tô giáo đúng th́ không nói làm ǵ.  Nhưng v́ kiến thức của Nguyễn Huệ Nhật về đạo Phật cũng như về Ki-tô giáo thật là quá tệ, vô cùng hời hợt, cùng loại với Lê Anh Huy và Huỳnh Thiên Hồng, cho nên những ǵ ông ta viết về đạo Phật cũng như Ki-tô giáo chỉ có tác dụng làm cho độc giả thấy rơ tŕnh độ và con người của ông ta, một tŕnh độ vô tŕnh độ, và một con người không có tư cách của con người. Đây là điều rơ ràng nhất trong những bài viết của Nguyễn Huệ Nhật.

 

Tôi không đặt vấn đề Nguyễn Huệ Nhật hay bất cứ ai bỏ đạo Phật, v́ tôi cho đó là quyền tự do tín ngưỡng của con người.  Nhưng sau khi đọc những bài của Nguyễn Huệ Nhật tôi cảm thấy Nguyễn Huệ Nhật bỏ đạo Phật là một điều rất đáng mừng cho Phật Giáo.  V́ nếu ông ta ở lại đạo Phật và lên làm Tăng Sĩ Phật Giáo, th́ với kiến thức và tư cách như vậy ông ta chỉ dẫn Phật tử đi vào ma đạo.

 

Để chứng minh, chúng ta hăy điểm qua một vài câu của Nguyễn Huệ Nhật viết về đạo Phật cũng như về Ki-tô giáo để chứng minh kiến thức của Nguyễn Huệ Nhật về cả hai tôn giáo đều thuộc loại vô tŕnh độ, bất kể là ông ta tự nhận là đă tu theo Phật Giáo trong 15 năm và sau đó đă nhận được hồng ân Thiên Chúa của Tin Lành và nghe đâu, v́ vài bài viết thuộc loại nô lệ Kinh Thánh, đă được ban chức Mục sư của Tin Lành.  Mừng cho Tin Lành đă tuyển mộ được một Mục sư như Nguyễn Huệ Nhật.  Tội nghiệp cho các tín đồ Tin Lành đă có một Mục sư như Nguyễn Huệ Nhật.

 

            Trước hết là vài câu về Phật Giáo.  Nguyễn Huệ Nhật viết về quyết định xuất gia của Đức Phật như sau trong bài có đầu đề “Các Bạn Phật Tử Thân Mến”:

 

            “Đă là con người th́ không ai tuyệt đối thánh khiết vô tội cả.  Đă là con người th́ ai ai cũng mong ước được hoàn hảo.  Chính Thái tử cũng mong cho ḿnh như thế.  Ngài thao thức về chân lư.  Ngài muốn t́m cho ra lẽ đạo huyền vi mầu nhiệm.  Ngài muốn biết nguyên nhân nào đă đưa nhân loại đến t́nh trạng tranh chấp chém giết lẫn nhau để phải chuốc lấy khổ đau giữa thế gian này...”

 

            Chúng ta có thấy ai viết bậy về đạo Phật như Nguyễn Huệ Nhật chưa?  Một Phật tử tầm thường, không cần phải tu 15 năm (sic) như Nguyễn Huệ Nhật tự nhận, cũng biết rằng Đức Phật xuất gia là t́m giải đáp cho những phiền năo của chúng sinh qua ba cảnh Thái tử đích thân chứng kiến: bệnh tật, già yếu, chết chóc, và động cơ thúc đẩy sự xuất gia của Đức Phật là vẻ siêu thoát, thong dong, từ tốn của người tu hành và Người đă chọn con đường đi t́m chân lư giải thoát trong cuộc đời tu hành.  Cuối cùng Người đă giác ngộ, t́m ra chân lư,  sau 6 năm tích cực sống trong cuộc đời của người xuất gia.  C̣n chúng ta “muốn biết nguyên nhân nào đă đưa nhân loại đến t́nh trạng tranh chấp chém giết lẫn nhau để phải chuốc lấy khổ đau giữa thế gian này...” th́ dễ thôi. Đó chính là do sự ngu dốt, ác độc của Thiên Chúa của Ki Tô Giáo như được viết rơ trong cuốn gọi là Kinh Thánh của Ki-tô Giáo, và tất nhiên, của những tôi tớ ngu dốt, ác độc của Thiên Chúa ngu dốt, ác độc này”.  Thật vậy, chúng ta chỉ cần mở cuốn Kinh Thánh của Ki-tô Giáo ra đọc, và đọc lịch sử của Ki-tô Giáo từ ngày ra đời đến nay, th́ thấy tất cả giải đáp nằm trong đó. Có cần tôi phải chứng minh không?

 

            Một câu khác viết láo lếu về Phật Giáo của Nguyễn Huệ Nhật như sau:

 

“Phật Giáo Việt Nam không phải là Phật Giáo chính cống.  Tôi chưa thấy Phật Giáo chính cống.  Thế nên tôi từ bỏ họ mà không tiếc ǵ cả.”

 

            Phải chăng Nguyễn Huệ Nhật đă biết tất cả về Phật Giáo Việt Nam và thế nào là Phật Giáo chính cống nên biết là “Phật Giáo Việt Nam không phải là Phật Giáo chính cống.”? Phật Giáo Việt Nam có bao nhiêu tông phái, bao nhiêu Tăng, Ni, Phật tử, ở bao nhiêu miền, bao nhiêu Tỉnh ở Việt Nam?  Một người tu 15 năm mà c̣n không biết đến lịch sử xuất gia của Đức Phật th́ làm sao có thể biết được thế nào là Phật Giáo chính cống?  Vả chăng, nếu đă biết thế nào là Phật Giáo chính cống th́ tại sao Huệ Nhật lại không tu theo Phật Giáo chính cống?.  Có phải là Huệ Nhật chỉ viết càn, viết bậy hay không?  “Họ” là ai ở đây?  Là Phật Giáo Việt Nam hay Phật Giáo chính cống?  “Họ” chỉ người hay chỉ Phật Giáo?  Viết một câu mà không biết cả cách dùng từ, chẳng thành văn, vô nghĩa, tổng quát hóa vấn đề một cách vô trách nhiệm v..v.. mà cũng đ̣i lên mặt phê b́nh Phật Giáo, thật không biết đến liêm sỉ là ǵ. 

 

            Chúng ta hăy đọc một câu khác bắt nguồn từ cái đầu óc bệnh hoạn của Nguyễn Huệ Nhật viết trả lời Trần Duy Phô:

 

            “TDP chứng minh dùm tôi các vị thiền tổ như ngài Hoằng Nhẫn, Huệ Năng, Thần Tú đă chứng ngộ thiền được không?”

 

            Tự nhận là tu theo Phật Giáo trong 15 năm mà đặt một câu hỏi hết sức ngớ ngẩn.  Chứng minh để làm ǵ?  Trong Phật Giáo, ai tu người ấy chứng.  Người khác có chứng ngộ thiền hay không, chẳng liên quan ǵ đến sự tu tập của bản thân. Trong cuốn Từ Áo Cà Sa Đến Thập Tự Giá Nguyễn Huệ Nhật đă từng thú nhận là v́ thấy vài tu sĩ Phật Giáo khác không tu, và điều này cũng chỉ là ư kiến cá nhân của Nguyễn Huệ Nhật, nên ḿnh cũng không tu.  Nguyễn Huệ Nhật cần ngó vào người khác để bắt chước theo. Nay Nguyễn Huệ Nhật thấy người khác tin nhảm tin nhí vào đạo Tin Lành nên bèn bắt chước theo, cũng đi tin nhảm tin nhí vào Tin Lành.  Điều này thật là rơ rệt, khi chúng ta đọc những điều ông ta viết về Ki tô Giáo.

 

            Trên đây chỉ là vài điều Nguyễn Huệ Nhật viết láo lếu về Phật Giáo trong số nhiều điều láo  lếu khác.  Trong bài này tôi không có ư định giảng cho Nguyễn Huệ Nhật về Phật Giáo, v́ tự nhận là 15 năm “tu theo Phật Giáo” mà Nguyễn Huệ Nhật chẳng học được cái ǵ của Phật Giáo, th́ chuyện giảng giải Phật Pháp cho Nguyễn Huệ Nhật là cả một chuyện phí công, vô ích.  Đầu óc thuộc loại hạ căn như của Nguyễn Huệ Nhật th́ chỉ thích hợp với Tin Lành.  V́ Nguyễn Huệ Nhật theo Tin Lành nên tôi nghĩ tốt hơn là giảng cho Nguyễn Huệ Nhật về chính đạo Tin Lành của ông ta.

 

            Điều rơ ràng là không những viết bậy về Phật Giáo mà Nguyễn Huệ Nhật c̣n viết bậy về Ki-tô Giáo rất nhiều.  Điều này chứng tỏ kiến thức tôn giáo của Nguyễn Huệ Nhật thuộc loại vô tŕnh độ, vô cùng hời hợt, sản phẩm của một khuôn đúc ngu dân của Tin Lành, một khuôn đúc đă tạo ra những mẫu người giống nhau về tŕnh độ hiểu biết tôn giáo như Lê Anh Huy, Huỳnh Thiên Hồng, Nguyễn Huệ Nhật v..v..., một tŕnh độ mà theo Mục sư Ernie Bringas, thuộc thế kỷ 17, luôn luôn phát dị ứng với những tiến bộ của nhân loại.  Chứng minh? 

 

Huệ Nhật viết bậy rất nhiều, ở đây tôi chỉ đưa ra vài điều điển h́nh và chúng ta sẽ thấy những người Tin Lành cuồng tín như Lê Anh Huy, Huỳnh Thiên Hồng và Nguyễn Huệ Nhật thật giống nhau ở điểm cùng có một luận điệu truyền đạo rất ấu trĩ, lỗi thời, hoàn toàn vô nghĩa trong thời đại ngày nay, phản ánh một tŕnh độ hiểu biết quá sơ đẳng về chính Ki-tô Giáo.  Chúng ta hăy nghe Nguyễn Huệ Nhật nhắc lại như con vẹt những điều Tin Lành dạy cho ông ta:

 

            “Nhân loại vốn sinh ra trong vực sâu tội lỗi.  Chúng ta cần được cứu ra khỏi tội lỗi, cần được ơn tha thứ của đức Chúa trời.  Những ai chưa trở về tiếp nhận ơn cứu rỗi của đức Chúa trời th́ vẫn c̣n ṃ mẫm trong sai lầm...

            Khi thắc mắc về Thượng đế và Kinh Thánh, chúng ta cần xem Kinh Thánh kỹ hơn để biết trong đó nói ǵ.  Kinh Thánh cho chúng ta thấy rằng: Đức Chúa trời dựng nên thế gian với đầy đủ mọi thứ.  Sau cùng Ngài dựng nên loài người và ban cho họ quyền quản     trị thiên nhiên để họ làm ích lợi cho ḿnh...

            Nhưng theo Kinh Thánh th́ Thượng đế dựng lên muôn vật.  Ngài là đấng tạo hóa hằng hữu, loài người là loài thọ tạo duy nhất được Ngài ban cho h́nh ảnh của Ngài.

Đọc những đoạn đầu trong sách Sáng Thế Kư, chúng ta có thể tin và cũng có thể không tin.  Nhưng dù tin hay không tin, suốt nhiều ngàn năm tri thức nhân loại không ai có thể chứng minh ngược lại để bài bác một cách cụ thể”

 

Chúng ta thấy ngay sự hiểu biết của Nguyễn Huệ Nhật về thế giới ngày nay thuộc loại hiểu biết của những tín đồ Ki-tô ngu dốt ở Âu Châu trong thời đại đen tối trí thức (dark ages) hay thời đại Trung Cổ.  Những câu tôi trích dẫn của Linh mục James Kavanaugh, Mục sư Tin Lành Ernie Bringas và Giám Mục Tin Lành John Shelby Spong trong Phần IPhần II của loạt bài về Hiểm Họa Tin Lành tưởng cũng đủ để dạy cho Nguyễn Huệ Nhật một bài học về những điều hoang đường thuộc nền thần học Ki-tô giáo như: sinh ra trong tội lỗi, ơn tha thứ của Dê-su, và thuyết sáng tạo trong Kinh Thánh. 

 

Tuy nhiên, để khai sáng đầu óc của Nguyễn Huệ Nhật một chút thôi, nếu trong đầu óc của ông ta c̣n chỗ để có thể được khai sáng sau khi đă bị cái bả Tin Lành làm cho mụ mị, tôi xin đặt vài vấn đề với Nguyễn Huệ Nhật.

 

Trước hết, Nguyễn Huệ Nhật viết: “Sau cùng Ngài (Thượng đế) dựng nên loài người và ban cho họ quyền quản trị thiên nhiên để họ (sic) làm ích lợi cho ḿnh...”

 

            Một câu hỏi được đặt ra là: Có thật là loài người có “quyền quản trị thiên nhiên để họ làm ích lợi cho ḿnh...” không?  Nguyễn Huệ Nhật hiểu “thiên nhiên” như thế nào?  Nói riêng về trái đất, loài người đă quản trị những trận băo lụt, cuồng phong, sóng thần, động đất, các dă thú, siêu vi trùng v..v.. để “họ làm ích lợi cho ḿnh” như thế nào? Mặt khác, thiên nhiên không chỉ là trái đất và những hiện tượng xảy ra trên trái đất, mà c̣n gồm cả vũ trụ rộng khoảng 13.7 tỷ năm ánh sáng trong đó có khoảng 100 tỷ thiên hà, mỗi thiên hà có hàng trăm tỷ ngôi sao v..v..  Vậy loài người quản trị “thiên nhiên” như thế nào?  Có làm ngưng được sự đang nở rộng của vũ trụ, có thay đổi được nhiệt độ trên trái đất để trên Bắc Cực th́ ấm, ở đường xích đạo th́ mát v..v.. hay không?  Nguyễn Huệ Nhật chép trong Kinh Thánh ra điều mê tín, hoang đường, ngớ ngẩn của thời bán khai mà thực sự không biết là ḿnh đang nói cái ǵ.

 

Nguyễn Huệ Nhật tin tất cả vào Kinh Thánh, nhưng lại không biết rằng Kinh Thánh chỉ là sản phẩm của những đầu óc chưa mở mang, chứa đầy sự mê tín trong thời đại chưa khai hóa (A product derived from primitive superstitions), do đó đă không c̣n mấy giá trị trong thế giới văn minh tiến bộ, cho nên cứ luôn luôn viện dẫn Kinh Thánh, làm như những điều viết trong Kinh Thánh phải có giá trị tuyệt đối, không thể sai lầm, không hề biết đến nhân loại đă ra khỏi, bỏ lại đàng sau Thời Đại Của Đức Tin (The Age of Faith = Thời Trung Cổ) để bước sang những Thời Đại Của Lư Trí (The Age of Reason = Thế kỷ 17), Thời Đại Cách Mạng Khoa Học (The Age of Scientific Revolution = Thế kỷ 17-18), Thời Đại Khai Sáng (The Age of Enlightenment = Thế kỷ 18), Thời Đại Của Hệ Tư Tưởng (The Age of Ideology = Thế Kỷ 19), và Thời Đại Phân Tích (The Age of Analysis = Thế Kỷ 20).  Những thời đại sau này, đặc biệt là thuyết Tiến Hóa của Charles Darwin vào giữa thế kỷ 19 và những hoàn chỉnh của thuyết này trong các bộ môn khoa học trong ṿng 150 nay,  đă bác bỏ mọi luận điệu thần học của Ki-tô giáo về sự hiện hữu của một Thiên Chúa, về thuyết sáng tạo trong Kinh Thánh, về công cuộc chuộc tội và cứu rỗi của Dê-su Ki Tô, và tước đoạt mọi quyền lực thế tục của Ki-tô Giáo, thu hẹp Ki-tô Giáo trong những ốc đảo mê tín lỗi thời, điển h́nh là tài sản đất đai rộng lớn của Ca-tô Giáo Rô-ma ở Âu Châu đă bị thu hẹp lại trong một diện tích bằng hai cái sân chơi banh, phạm vi của Vatican và Thánh Đường Phê-rô ngày nay, mười điều răn của Thượng đế Ki-tô không được phép trưng bày trong những nơi công cộng, thuyết Sáng Tạo không được phép dạy song song với thuyết Tiến Hóa trong các trường công lập v...v...  Nguyễn Huệ Nhật thật đúng là một loại ếch ngồi đáy giếng, coi trời bằng vung. 

 

Với những công cuộc khảo cứu hiện đại nhất về nhân vật Dê-su và với những kết quả khoa học không ai có thể phủ bác, kể cả ṭa thánh Vatican, về nguồn gốc vũ trụ và con người, th́ con người không sinh ra trong vực sâu tội lỗi, không cần đến sự "cứu rỗi" đầy tính hoang đường và huyễn hoặc của nền thần học Ki Tô Giáo dựng lên.  Trong Phần II tôi đă luận về cái gọi là “ơn cứu rỗi” trong Ki Tô Giáo.  Ngày nay chỉ c̣n những kẻ “ngụp lặn trong ngu si, cuồng tín, ṃ mẫm trong sai lầm” mới cần được cứu ra khỏi tội lỗi, cần được ơn tha thứ của đức Chúa trời, và “trở về (sic) tiếp nhận ơn cứu rỗi của đức Chúa trời”.  Hơn 4 tỷ người trên thế giới chưa bao giờ quan tâm đến điều mê tín của thời bán khai mang nhăn hiệu “ơn cứu rỗi”.  Tại sao?  Bởi v́ lịch sử thế giới đă chứng minh rằng:  Những ai chưa trở về tiếp nhận ơn cứu rỗi của đức Chúa trời th́ vẫn c̣n có đầu óc lành mạnh , sáng suốtTrái lại, những ai “đă “trở về (sic) tiếp nhận ơn cứu rỗi của đức Chúa trời” th́ tiếp tục có đầu óc mụ mị ṃ mẫm trong sai lầm...  Lịch sử các cuộc Thánh Chiến, Ṭa án xử dị giáo, săn lùng thiêu sống phù thủy (sic) và những kẻ lạc đạo (heretics) của Ca-tô Giáo Rô Ma; những cuộc cưỡng ép thổ dân cùng thiêu sống thổ dân Mỹ của Tin Lành; chính sách truyền đạo ngu đần vô đạo đức của Ca-tô và Tin Lành; và những cuộc chiến tranh triền miên giữa Ca-tô, Tin Lành, Chính Thống, Hồi Giáo, Do Thái Giáo là những bằng chứng hùng hồn nhất để chứng minh là những kẻ “đă “trở về (sic) tiếp nhận ơn cứu rỗi của đức Chúa trời” th́ vẫn c̣n tiếp tục “ ṃ mẫm trong sai lầm..”  Ai có thể xóa bỏ được những lời nói, hành động ác ôn của Thiên Chúa, Chúa Cha cũng như Chúa Con, trong Kinh Thánh Ki-tô Giáo?  Ai có thể xóa bỏ được lịch sử ác độc, đẫm máu của Ki-tô Giáo, tập đoàn của những người đă tiếp nhận “ơn cứu rỗi” của đức Chúa trời?  xin lên tiếng!!!

 

            Nguyễn Huệ Nhật viết: Nhưng theo Kinh Thánh th́ Thượng đế dựng lên muôn vật.  Nếu thật quả như vậy th́ thật là tội nghiệp cho Thượng đế v́ ông ta đă tạo nên những mẫu người như Nguyễn Huệ Nhật.  Ở đây, để b́nh luận về điều mê tín của Nguyễn Huệ Nhật trong Kinh Thánh: “Nhưng theo Kinh Thánh th́ Thượng đế dựng lên muôn vật”  tôi tưởng nhắc lại một đoạn trong Phần I cũng không phải là vô ích:

 

James A. Haught đă đưa ra một nhận định bất khả phủ bác trong cuốn 2000 years of disbelief: famous people with the courage to doubt, trang 324, như sau, về Thượng đế của Nguyễn Huệ Nhật:  

 

     Qua luận lư, chúng ta có thể thấy... Nếu có một đấng thần linh sáng tạo ra muôn loài th́ ông ta đă làm ra ung thư vú cho phái nữ, bệnh hoại huyết cho trẻ con, bệnh cùi, bệnh AIDS, bệnh mất trí nhớ (alzheimer), và hội chứng down (khuyết tật tinh thần).  Ông ta ra lệnh cho những con cáo cắn xé nát những con thỏ ra từng mảnh, những con báo giết những hươu nai.  Không có một con người nào độc ác đến độ hoạch định những sự khủng khiếp như vậy.  Nếu một đấng siêu nhiên làm như vậy, ông ta là một con ác quỷ...  

     (Through logic, you can see that... If a divine maker fashioned everything that exists, he designed breast cancer for women, childhood leukemia, leprosy, aids, alzheimer's disease, and down's syndrome.  He madated foxes to rip rabbits apart and cheetahs to slaughter fawns.  No human would be cruel enough to plan such horrors.  If a supernatural being did so, he's a monster...)

 

Vậy th́, nếu Nguyễn Huệ Nhật tin rằng Thượng đế của ông ta trong Kinh Thánh dựng lên muôn vật th́ Nguyễn Huệ Nhật cũng phải tin Thượng đế của ông ta chính là một ác quỷ. Ngoài ra, Nguyễn Huệ Nhật cũng phải tin là Thiên Chúa hay Chúa Trời nhân từ, ḷng lành của Nguyễn Huệ Nhật đă có những hành động điển h́nh sau đây, hoặc là đích thân ra tay, hoặc đích thân chỉ huy, hoặc là ra lệnh cho tôi tớ làm:

 

- Thiên Chúa đ̣i hỏi và chấp nhận giết người để tế Thiên Chúa (Leviticus 27; Judges 11;  2 Samuel  21).

- Thiên Chúa giết đứa con đầu ḷng trong mọi gia đ́nh Ai Cập (Exodus 12)

- Thiên Chúa chấp nhận nô lệ (Exodus 21; Leviticus 25)

- Thiên Chúa chấp nhận việc bán con gái làm nô lệ (Exodus 21)

- Thiên Chúa ra lệnh giết các phù thủy và những kẻ lạc đạo (Exodus 22)

- Thiên Chúa xử chết những người vi phạm ngày lễ Sabbath (không nghỉ làm việc ngày thứ Bảy) (Exodus 31)

- Thiên Chúa giết 70000 người trong một dịch hạch do chính Chúa tạo ra (2 Samuel 24)

- Thiên Chúa cho 2 con gấu cắn nát 42 đứa trẻ v́ chúng chế riễu nhà tiên tri Elisha (2 Kings 2)

- Thiên Chúa tạo ra hồng thủy giết chết mọi người và mọi sinh vật, chỉ chừa lại gia đ́nh tên say rượu Noah và giống vật mỗi thứ một cặp, v́ Chúa thấy loài người, do chính Chúa “sáng tạo” ra,  tội lỗi (Genesis 6) [Dưới con mắt cận thị của Thiên Chúa th́ con người sa ngă, mang tội với Thiên Chúa, do đó Thiên Chúa tạo ra Hồng Thủy để giết hại hầu hết loài người. Nhưng thử hỏi, tại sao Thiên Chúa lại giết cả mọi sinh vật hoàn toàn vô tội, gồm có nhiều triệu chủng loại khác nhau, khi chúng do chính Chúa “sáng tạo” ra và không hề làm điều ǵ trái với ư của Thiên Chúa?]

-  Thiên Chúa ra lệnh giết vợ con, anh em nếu họ theo tôn giáo khác (Deuteronomy 13)

-  Thiên Chúa xử chết những đứa trẻ nào không cắt miếng da đầu dương vật  (Genesis 17)

 

Và đây chỉ là một số nhỏ trong vô số những hành động ác ôn tương tự mà Thiên Chúa của Nguyễn Huệ Nhật là thủ phạm, trực tiếp hay gián tiếp.  Có bao giờ Nguyễn Huệ Nhật cũng như những đồng đạo của ông ta biết đến những điều trên, đă được viết rơ trong Kinh Thánh của Ki-tô giáo không?

 

Nguyễn Huệ Nhật cùng các đồng đạo Tin Lành (sic)  hăy giải thích, hoặc đi hỏi các bề trên, để giải thích những hành động ác ôn của Thiên Chúa như trên, và cũng nên đọc sách Khải Huyền trong Tân ước để biết thêm là Thiên Chúa của Nguyễn Huệ Nhật và đồng đạo độc ác và khủng khiếp như thế nào, và cũng để biết không làm ǵ có chuyện Thiên Chúa “cứu rỗi” những người không phải là Do Thái mà Thiên Chúa đă từng coi họ như chó, không thể ném cái mẩu bánh “cứu rỗi” của người Do Thái cho chúng ăn.  Kinh Thánh viết rơ như vậy, Nguyễn Huệ Nhật và các đồng đạo hăy theo đúng lời của chính Nguyễn Huệ Nhật viết: Khi thắc mắc về Thượng đế và Kinh Thánh, chúng ta cần xem Kinh Thánh kỹ hơn để biết trong đó nói ǵNhưng thực ra đây chỉ là câu nói dỏm, vu vơ của Nguyễn Huệ Nhật, v́ rơ ràng là Nguyễn Huệ Nhật chưa từng đọc Kinh Thánh, hay chỉ đọc những đoạn được phép đọc và được phép hiểu theo “lư luận” của Tin Lành. Thật vậy, nếu đọc kỹ Kinh Thánh th́ chúng ta không ngần ngại ǵ mà không vứt bỏ nó đi, hoặc giữ làm tài liệu để “chống Ki-tô Giáo” như nhiều học giả, chuyên gia về Kinh Thánh đă làm. Khoa học gia Ira Cardiff đă đưa ra một nhận xét rất chính xác như sau:

 

“Nếu một người thông minh đọc cả cuốn Thánh kinh với một  óc phê phán  th́ chắc chắn họ sẽ vứt bỏ nó đi."

(If an intelligent man should critically read it (the Bible) all, he would certainly reject it.)

 

Tại sao lại phải vứt bỏ nó đi? Ruth Hurmence Green, một phụ nữ đă trưởng thành trong một gia đ́nh Ki-tô và trong nền giáo dục Ki-tô trong mấy chục năm đă trả lời thay cho chúng ta trong cuốn "The Book of Ruth", trg. 59-60, sau khi bà ta đọc kỹ cuốn Kinh Thánh, như sau:

 

 "Không có cuốn sách nào mà trong đó mạng sống con người, thật ra là mọi mạng sống, lại rẻ rúng như vậy.  Thiên Chúa ác ôn trong Cựu Ước ra lệnh cho dân Do Thái giết, cưỡng hiếp, và tra tấn không thương sót toàn thể dân chúng nhiều quốc gia, "trẻ thơ và sơ sinh, thiếu niên và trinh nữ, và người già cả."..

Không có một trang sách nào trong Kinh Thánh mà không làm tôi bất b́nh về một phương diện nào đó.  Thật ra, sau mỗi lần t́m hiểu Thánh Kinh tôi lại muốn đi tắm rửa sạch sẽ với xà bông "lye" của bà nội.  Và khi tôi thấy Kinh Thánh coi thường phụ nữ thường là tôi muốn quẳng nó ra cuối pḥng.   Tôi nguyện không bao giờ c̣n cầm cuốn Thánh Kinh một cách lộ liễu trên tay ở nơi công cộng.  Thomas Paine,  đấng  cứu  rỗi  thực sự của thế giới,  đă  tố cáo cuốn Thánh Kinh thay tôi:  "Tôi thành thật ghê tởm nó như là tôi ghê tởm mọi sự độc ác."...

 

Nếu luật kiểm duyệt được thi hành một cách chặt chẽ, cuốn Kinh Thánh sẽ phải bán dấu diếm dưới quầy hàng"

 

(There is no other book in which human life, all life in fact, is so cheap.  The fiendish Lord of the Old Testament orders the Jews to kill, rape, and torture without pity entire nations, "infant and suckling, young man and virgin, and the man with gray hair."

...There wansn't one page of this book that didn't offend me in some way.  In fact, after a session of searching the scriptures, I always wanted to take a bath with Grandma's lye soap.  And when I encountered the Bible's disdain for women, I very often almost pitched the good book across the room.  I vowed never to be seen in public with an unconcealed Bible in my hands.  Thomas Paine, the true savior of the world, denounced the Bible for me: "I sincerely detest it as I detest everything that is cruel."...

 

Strict censorship would mean that the Bible would have to be sold from under the counter.)

 

Nhưng có một điều mà Nguyễn Huệ Nhật và các đồng đạo Tin Lành của ông ta cũng như tuyệt đại đa số tín đồ Ki-tô Giáo không biết đến là nhân loại đă “đưa đám Thượng đế” từ cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19 [Xin đọc cuốn Đám Tang Thượng Đế (God’s Funeral) của A. N. Wilson, W. W. Norton and Company, Inc., New York, 1999] chứ không chờ đến lời tuyên bố “Thượng đế đă chết” (God is dead) của Friedrich Nietzsche.   Thật vậy, ngay từ cuối thế kỷ 18, Edward Gibbon với cuốn Lịch Sử Suy Thoái và Sụp Đổ Của Đế Quốc La Mă (The History of the Decline and Fall of the Roman Empire ), xuất bản làm 3 tập trong khoảng 1776-1788, và David Hume, với cuốn Đối Thoại Về Tôn Giáo Thiên Nhiên (Dialogues Concerning Natural Religion) năm 1779, đă khai tử Thượng đế của Ki Tô Giáo.  Khai tử như thế nào?

 

Quan điểm khoa học, ngay từ cuối thế kỷ 18, đă lay đổ nền tảng của một tôn giáo cũ kỹ tin rằng Thượng đế đă ban cho Adam quyền quản trị mọi vật thụ tạo của Thượng đế trên trái đất, và Thượng đế dựng nên con người theo h́nh ảnh của Thượng đế và giống như Thượng đế, rồi khi con người không tuân lệnh Thượng đế, chính cái ông Thượng đế cũng là Người này lại biến ḿnh thành Người, và tự xuống trần để chuộc tội những tội lỗi của chính ḿnh (Wilson, p.x: Scientific viewpoints shook the foundation of an old religion which believed that God had put Adam in charge of all His earthly creation, and made Man in His own image and likeness; even, when Man had disobeyed Him, this self-same God had Himself become Man, and come down to earth to redeem Him of His sins).  Tác phẩm của Gibbon, không những vạch trần những sự sa đọa và đạo đức giả của những Thánh vĩ đại nhất trong Ki-tô Giáo, những giáo hoàng và cột trụ thần học của giáo hội (greatest saints, popes and doctors of the Universal Church) mà c̣n khinh bỉ những lư tưởng cao quư nhất của họ (sheer contemptibility of their highest ideals).  C̣n tác phẩm Dialogues của Hume đă loại bỏ mọi sự cần thiết triết lư về niềm tin vào Thượng đế (remove any necessity for believing in God) và đă được một nhà b́nh luận đương đại coi như là một “giấy chứng tử” (death certificate) đối với Ki-tô giáo.  V́ vậy, những thập niên cuối thế kỷ 19 được coi như là thời đại đích thực của “cái chết của Thượng đế” (Wilson, p. 281: The closing decades of the 19th century were the true era of the “death of God”).

 

Kiến thức con người hiện đại đă bác bỏ dứt khoát quan niệm về một vị Thần toàn năng, sáng tạo ra muôn loài v́ quan niệm này cực kỳ phi lư trước những bằng chứng không ai có thể phủ bác của khoa vũ trụ học, sinh học, sinh hóa học, địa chất học v..v.... Nguyễn Huệ Nhật nhắm mắt tin vào Kinh Thánh mà không biết đến sự tiến bộ trí thức của nhân loại trong mấy thế kỷ nay. Nguyễn Huệ Nhật có vẻ như quên hẳn rằng thuyết Sáng Tạo trong Kinh Thánh không được chứng minh bởi bất cứ một sự kiện nào trong khi thuyết khoa học về nguồn gốc vũ trụ và thuyết Tiến Hóa đă được chứng minh bởi vô số những kết quả nghiên cứu trong nhiều bộ môn khoa học.  Thật vậy, chúng ta hăy so sánh sơ lược mức độ khả tín của niềm tin vào thuyết Sáng Tạo trong Kinh Thánh và những bằng chứng khoa học về vũ trụ:

 

Dựa theo những dữ kiện không thể sai lầm trong Kinh Thánh, Tổng Giám Mục James Ussher ở Ái Nhĩ Lan (Ireland) đă tính rất kỹ và xác quyết rằng Thượng đế đă sáng tạo ra vũ trụ muôn loài này vào tối ngày thứ Bảy, 22 tháng 10, năm 4004 Trước Thường  Lịch (TTL) (Archbishop James Ussher...concluded that God had made heaven and earth on the evening of Saturday, October 22, 4004 B.C.), nghĩa là cách đây khoảng hơn 6000 năm.

 

Nhưng ngay từ đầu thế kỷ 19, các nhà địa chất học (geologists) đă nhận thức được rằng, thế giới đă tiến hóa qua nhiều kỷ nguyên (aeons), không phải là do Thượng đế sáng tạo ra trong 6 ngày như được Thượng đế mạc khải trong sách Sáng Thế Kư, và thật là khó chịu cho những nhà thần học hơn nữa, vũ trụ mà chúng ta đang sống trong đó là một vũ trụ tàn nhẫn (pitiless universe).  Nhiều chủng loại đă tiến hóa để rồi bị tuyệt chủng, đây là thông điệp của những sinh vật hóa thạch.  Người ta tự hỏi, có ǵ bảo đảm là nhân loại, một chủng loại trong số nhiều triệu chủng loại hiện hữu, một ngày nào đó sẽ không chịu chung số phận của các chủng loại đă bị tuyệt chủng?  Niềm tin vào một Thượng đế đầy t́nh thương yêu, nhân từ và toàn năng thật khó mà có thể chấp nhận trước sự kiện hiển nhiên về một vũ trụ vô nhân tính, tàn nhẫn, và nhất là Thượng đế, nếu có một Thượng đế, chỉ có thể khoanh tay ngồi nh́n, hoàn toàn bất lực trước sự vận hành của vũ trụ và thiên nhiên.

 

Điều không ai có thể phủ nhận là khoa học ngày nay đă xác định tuổi của vũ trụ là vào khoảng 13.7 tỷ năm, tuổi của trái đất là vào khoảng từ 4 tỷ rưỡi đến 5 tỷ năm, và loài người đă có mặt trên địa cầu cả vài triệu năm, h́nh thành theo định luật tiến hóa.  Tất cả những điều này đều do sự tiến bộ trí thức của nhân loại khám phá ra và đều đă được chính Giáo hoàng John Paul II, đại diện cho khoảng 1 tỷ tín đồ của Ca-tô Giáo Rô-ma, công nhận.  Nhưng Nguyễn Huệ Nhật vẫn mù quáng viết rằng: “Đọc những đoạn đầu trong sách Sáng Thế Kư, chúng ta có thể tin và cũng có thể không tin.  Nhưng dù tin hay không tin, suốt nhiều ngàn năm tri thức nhân loại không ai có thể chứng minh ngược lại để bài bác một cách cụ thể” Thật là tội nghiệp cho những đầu óc thuộc loại như của Nguyễn Huệ Nhật nếu chúng ta đi làm một công việc ngớ ngẩn là so sánh đầu óc của ông ta với đầu óc của hàng ngàn thức giả trong những xă hội Tây phương cỡ Bertrand Russell, Thomas Paine, Thomas Jefferson, Victor Hugo, Voltaire v..v.., khoan kể đến những bậc lănh đạo trong Ki-tô Giáo như Giáo hoàng John Paul II, Giám mục John Shelby Spong, Linh mục James Kavanaugh, Mục sư Ernie Bringas, nhà thần học Hans Kung, Uta Ranke-Heinemann v..v..., tương tự như so sánh ánh sáng của một con đom đóm với ánh sáng của mặt trời.

 

Quyền chọn lựa là quyền tự do của con người.  Theo Nguyễn Huệ Nhật th́ chúng ta có thể tin hoặc không tin thuyết sáng tạo trong Kinh Thánh.  Nhưng thế nào là tin, và thế nào là không tin. Dựa vào đâu mà tin?  Và dựa vào đâu mà không tin?  Vấn đề chính là ngày nay chúng ta có 100% bằng chứng là trái đất đă h́nh thành cách đây hơn 4 tỷ năm, và 0% bằng chứng về một trái đất có tuổi từ  6 tới 10000 năm.   Như vậy, chúng ta đang đối diện với “100% đúng” của các bằng chứng khoa học và “100% sai” vô bằng chứng của thuyết Sáng Tạo trong Kinh Thánh, nếu chúng ta xét đến tổng hợp những kết quả nghiên cứu, đo lường trong vũ trụ học, địa chất học, hóa học, vật lư học, cổ sinh vật học, sinh học đưa đến việc xác định tuổi của trái đất.  “100% đúng” là kết quả của lư trí, và “100% sai” hay “0% đúng” là sản phẩm của đức tin.  Thật là thú vị khi chúng ta so sánh hai con số về tuổi của trái đất: nếu chúng ta biểu diễn tuổi thực của trái đất, thí dụ 4 tỷ rưỡi năm, bằng một đoạn giây dài 150 thước (m), th́ tuổi của trái đất trong Thánh Kinh, 10000 năm, chỉ mỏng bằng một tờ giấy.  Trong đức tin Tin Lành của Nguyễn Huệ Nhật, dựa vào vài điều viết láo lếu trong Kinh Thánh, phạm vi hiểu biết chỉ bằng bề dày của một tờ giấy; ngoài đức tin Tin Lành, kiến thức con người trải dài 150 m.  Đây là điều Lê Anh Huy, Nguyễn Huệ Nhật và Huỳnh Thiên Hồng cần biết để dạy lại cho những đồng đạo Tin Lành c̣n sống trong bóng tối của ngu si vô trí.

 

Như vậy, chúng ta thấy rằng, những người ngày nay c̣n tin vào thuyết Sáng Tạo và kế hoạch “cứu rỗi” của Dê-su KiTô như Nguyễn Huệ Nhật thật ra chỉ là những người không có mấy đầu óc, tự giam ḿnh trong những sai lầm vĩ đại.  Thật vậy, nếu Nguyễn Huệ Nhật đă đọc kỹ Kinh Thánh, đây là điều hầu như không thể có, và tin thuyết Sáng Tạo, và đối với Tin Lành, Kinh Thánh là những lời của Thượng đế (Words of God) nên không thể sai lầm, th́ Nguyễn Huệ Nhật cũng phải tin rằng trái đất thực sự phẳng, có 4 góc, mặt trời quay xung quanh trái đất, trời là một cái ṿm bằng đồng thau, trên có những cánh cửa để cho các thiên thần mở ra cho mưa rơi xuống khi Thượng đế muốn, Thượng đế làm cho mặt trời ngưng lại suốt một ngày, ngày tận thế đă xảy ra trong thời của Dê-su khi một số tông đồ của Dê-su c̣n sống v..v.. và tất cả những chuyện thuộc các loại sau đây chiếm hơn nửa cuốn Kinh Thánh: bạo hành giết người (Violence & Murder), giết người hàng loạt (Mass Killing), loạn luân (Incest), ăn thịt người (Human Cannibalism), độc ác đối với trẻ con (Child cruelty), tục tĩu quá mức (Scatology), trần truồng (Nakedness), đĩ điếm (Harlotry), hiếp dâm (Rape), thù hận tôn giáo và chủng tộc (Religious & Ethnic Hatred), nô lệ (Slavery), say rượu (Drunkeness) v..v.. [Xin đọc cuốn Tất Cả Những Chuyện Tục Tĩu Trong Kinh Thánh (All The Obscenities In The Bible) của Gene Kamar].

 

      Với một kiến thức tôn giáo thuộc loại vô tŕnh độ mà tôi vừa chứng minh ở trên, vậy mà Nguyễn Huệ Nhật dám huênh hoang viết: “Tôi sẵn sàng đối thoại với các anh trong t́nh yêu Thiên Chúa”. Với tŕnh độ của Nguyễn Huệ Nhật như vậy, ai lại đi tự hạ ḿnh để đối thoại với Nguyễn Huệ Nhật?  Riêng tôi, tôi xin được từ chối.  Bởi v́, đối thoại là giữa những người có tŕnh độ sấp sỉ nhau hoặc tương đương, chứ khoảng cách kiến thức cách nhau cả vài thế kỷ th́ làm sao có thể đối thoại được.     

 

     Người Ki-tô Giáo thường khoe rằng, cuốn Kinh Thánh là cuốn sách đă được dịch ra nhiều thứ tiếng nhất [nhưng hiển nhiên là ít được đọc nhất], và Ki-tô giáo có số tín đồ đông đảo nhất [hiển nhiên là tuyệt đại đa số tín đồ thuộc loại nghèo khổ, thấp kém, không có mấy đầu óc, ở các nước trong thế giới thứ ba] hàm ư Ki-tô Giáo tất nhiên phải có giá trị.  Lẽ dĩ nhiên, Ki-tô giáo có giá trị đối với những người có đầu óc như của Nguyễn Huệ Nhật.

 

Có hai câu hỏi thường được đặt ra:  Thứ nhất, tại sao, với nội dung cuốn Kinh Thánh như trên  mà cuốn “Kinh Thánh” vẫn được bày bán tự do và để trong thư viện các trường học trên đất Mỹ? 

Không có ǵ là khó hiểu.  V́ trong các nước Ki-tô Giáo trong thế giới tự do, nếu các loại sách khiêu dâm và cả các dụng cụ kích dâm, các phim ảnh đầy cảnh bạo tàn và t́nh dục, những chuyện hoang đường về ngày tận thế của Tim LaHaye  v...v... vẫn được bán tự do th́ không có lư do ǵ lại cấm bán cuốn “Kinh Thánh”.  Trong các nước này, cuốn “Kinh Thánh” là vật để thờ phụng tuy chẳng có mấy người đọc nó, cho nên nó vẫn được lưu trữ trong các thư viện, bên cạnh loại sách huyền thoại.  Một trong những lư do mà Gene Kamar viết cuốn All The Obscenities In The Bible nêu trên là để phản đối sự kiểm duyệt một số sách mà các nhà bảo thủ Ki-tô Giáo (fundamentalists) cho rằng không thích hợp để trong thư viện các trường công lập.  Gene Kamar chứng minh rằng cuốn “Holy Bible” c̣n tệ hơn nhiều so với những cuốn sách bị kiểm duyệt.  Lẽ dĩ nhiên Gene Kasmar không thành công trong ư định loại bỏ cuốn Kinh Thánh ra khỏi các thư viện công cộng, v́ đa số người dân Mỹ theo Ki-tô-giáo và các nhà bảo thủ Ki-tô Giáo viện lẽ đó là những lời mạc khải của God và chứa những điều đạo đức trong đó.  Chúng ta cũng không nên quên rằng, Ruth Hermence Green, một phụ nữ theo Ki-tô Giáo đă 50 năm, sau khi đọc kỹ cuốn Kinh Thánh đă viết: “Nếu luật kiểm duyệt được thi hành đứng đắn th́ cuốn Kinh Thánh phải được bán dấu diếm dưới quầy hàng.”  (Strict censorship would mean that the Bible would have to be sold from under the counter.)

 

    Thứ nh́,  tại sao một cái đạo ác ôn đă gây ra bao thảm họa cho nhân loại trong bao nhiêu thế kỷ như vậy lại có số tín đồ đông nhất?

 

Cách đây hơn 1 thế kỷ, Robert G. Ingersoll đă giải thích điều này. [Robert G. Ingersoll được coi như là một nhà hùng biện nổi danh của Mỹ (A celebrated orator of 19th century America).  Ông ta là bạn của 3 Tổng Thống Hoa Kỳ, là người đă có công nhất trong việc làm nở rộ quyền tự do tư tưởng ở Hoa Kỳ. (A personal friend of three U.S. presidents, the individual most responsible for the flowering freethought in the United States.). Bức tượng của ông, ghi công ông, nay được đặt ở Peoria, Illinois.  Edgar Lee Master, một thi sĩ, đă đưa ra nhận xét: "Đối với những người yêu chuộng tự do ở khắp nơi,  nhất là đối với giới trẻ ở Hoa Kỳ không biết đến Robert G. Ingersoll, hăy nhớ rằng ông ta đă giúp để cho quư vị được tự do." (To the lovers of liberty everywhere, but chiefly to the youth of America who did not know Robert G. Ingersoll, remember that he helped to make you free.)]  Ingersoll đă nói thẳng trước một cử tọa đông đảo mà mỗi người phải bỏ ra $2 (năm 1890) để nghe ông diễn thuyết (Joseph Lewis, Ingersoll: The Magnificient, p. 140):

 

    "Hăy để tôi nói thầm vào tai người Tin Lành:  Ca-Tô Giáo Rô-ma thật sống dai.  Điều này chứng tỏ cái ǵ?  Nó chứng tỏ rằng quần chúng th́ ngu dốt (ignorant) và các linh mục th́ xảo quyệt.

   Hăy để tôi nói thầm vào tai người Ca Tô Rô-ma: Tin Lành Giáo thật sống dai.  Điều này chứng tỏ cái ǵ?  Nó chứng tỏ là quần chúng th́ mê tín và các mục sư th́ đần độn (stupid).

   Hăy để cho tôi nói thầm vào tai tất cả mọi người: những người không theo Ki-tô Giáo  không có chết - họ đang mỗi ngày một lớn mạnh.  Và điều đó chứng tỏ cái ǵ?  Nó chứng tỏ là quần chúng càng ngày càng học hỏi được nhiều hơn - và họ đang tiến bộ - rằng đầu óc con người đang được giải thoát, và loài người đang văn minh lên.”

    (Let me whisper in the ear of the Protestant: Roman Catholicism dies hard.  What does that prove?  It proves that the people are ignorant and that the priests are cunning.

   Let me whisper in the ear of the Roman Catholic: Protestantism dies hard.  What does that prove?  It proves that the people are superstitious and the preachers stupid.

   Let me whisper in all your ears: Infidelity is not dying - it is growing - it increases every day.  And what does that prove?  It proves that the people are learning more and more - that they are advancing - that the mind is getting free, and that the human race is being civilized.)

 

 


 

HIỂM HỌA TIN LÀNH 

 

(Phần IV- Trường hợp khảo sát: Trần Long)

 

 

   Trong ba phần trên viết về Hiểm Họa Tin Lành qua ba bộ mặt của Lê Anh Huy, Huỳnh Thiên Hồng và Nguyễn Huệ Nhật, chúng ta đă thấy thực chất tŕnh độ hiểu biết của những Tin Lành trên là như thế nào.  Nhưng Tin Lành ở Việt Nam c̣n cuồng tín và tối tăm hơn nhiều.  Chúng ta hăy lấy một trường hợp điển h́nh.

 

   Một chuyện khôi hài nhất thế kỷ vừa xảy ra ở Việt Nam:  Mục Sư Tin Lành Trần Long thuộc Liên Đoàn Truyền Giáo Phúc Âm Việt Nam, lấy tư cách của một “môn đồ của Chúa Jesus” để gửi một “Thông Điệp Phước Lành” cho “Nhà Cầm Quyền Việt Nam”, một thông điệp, xin lỗi quư độc giả v́ tôi không kiếm được từ nào thích hợp hơn, có thể nói là ngu xuẩn và mê tín nhất thế gian, [ngu không có nghĩa là ít học hay thất học, mà là không biết rơ sự thật, không chấp nhận sự thật trước những bằng chứng hiển nhiên, và tiếp tục nhận giả làm chân, và xuẩn là hành động một cách vô ư thức v́ cái ngu của ḿnh] để kêu gọi nhà cầm quyền hăy từ bỏ nền văn hóa dân tộc để theo nền văn hóa Tin Lành, cũng là nền “văn hóa thiên đàng”, theo Trần Long (Ở trên thế giới này làm ǵ có cái gọi là “văn hóa Tin Lành” hay “văn hóa thiên đàng”, có chăng chỉ là nền văn hóa mù quáng, hay văn hóa mê tín, hay văn hóa hoang tưởng của các con cừu Tin Lành) mà mục sư Trần Long cho là nền văn hóa của cả nhân loại, có nghĩa là biến nước Việt Nam thành nước Tin Lành [Trần Long: Phục hồi bản sắc văn hóa của dân tộc là để văn hóa Tin Lành tuôn chảy trong ḷng dân tộc- v́ đây là văn hóa của dân tộc Việt Nam cũng là văn hóa toàn thế giới.]  Đây là một hành động của một kẻ không có đầu óc, cuồng tín cực đoan, muốn mang niềm tin thuộc thời bán khai của ḿnh mà ngày nay thế giới văn minh Âu Mỹ đang dần dần loại bỏ, để áp đặt trên toàn thể đất nước. Mục sư Trần Long theo Tin Lành, tin tất cả vào cuốn Tân Ước, nhưng chưa hề đọc đến cuốn “The Bad News Bible: The New Testament” [Cuốn Kinh Thánh Mang Tin Dữ: Cuốn Tân Ước] của Giáo sư đại học David Voas.  David Voas, Giáo sư đại học tiểu bang New Mexico (New Mexico State University), đă viết như sau, trg. 1 – 2:

 

   "Vấn đề là người ta nghĩ rằng người ta biết ở trong Thánh kinh có những ǵ, hoặc ít nhất là Thánh kinh chứa loại tài liệu ǵ.  Hầu hết đều lầm, họ  chỉ  quen thuộc với vài đoạn trích dẫn đă được giáo hội chấp thuận, và họ sẽ ngỡ ngàng khi thấy không những Thượng đế trong Cựu Ước khủng khiếp dễ sợ như thế nào, mà con của hắn  (nghĩa là Jesus. TCN) trong Tân Ước cũng c̣n ở dưới  mức hoàn hảo khá xa.  Thông điệp của Jesus không hẳn toàn là tin mừng, thiên đường nhiều nhất là một viễn cảnh không chắc chắn.  Xét về toàn bộ th́ đó rất có thể là cuốn Thánh kinh mang tới tin dữ"

   (The problem is that people think they know what's in the Bible, or at least what kind of material it contains.  Most of them are wrong: they are only familiar with a few church-approved extracts, and are astonished not just how awful God is in the Old Testament, but also at how much less than perfect his son seems in the New.  The message of Jesus isn't all good news; paradise is an uncertain prospect at best.  Taken as a whole, it could well be The Bad News Bible.)

 

   Như vậy, cái mà mục sư gọi là “Phước Lành” hay “Tin Lành”, thực ra chỉ là “Hiểm Họa” hay “Tin Dữ”.  Tin Dữ th́ tất nhiên mang họa dữ đến cho nhân loại.  Điều này đă thật là rơ ràng nếu chúng ta đọc qua cái lịch sử đẫm máu của Ki-tô Giáo, những hành động ác ôn của Ki-tô Giáo, tất cả đều nhân danh “Tin Lành”. Mục sư Trần Long muốn biến người Việt Nam thành những con cừu đi theo sự dẫn dắt của một đám gọi là Mục sư, đầu óc kém cỏi, cuồng tín như Trần Long, để tin nhảm tin nhí vào một người Do Thái đă chết mà bản chất là vô đạo đức, đạo đức giả, ác độc và ḷng đầy thù hận: Jesus.  Thủ đoạn truyền tà giáo của các mục sư như Trần Long là viết láo lếu về Kinh Thánh, Lịch Sử nhân loại, và trích dẫn lắt léo Kinh Thánh , làm như không ai biết đọc Kinh Thánh. [Những nhận định này sẽ được chứng minh trong một đoạn sau]. 

 

   Cho tới nay, cái gọi là “thông điệp phước lành” của mục sư Trần Long gồm có 6 phần dài mấy chục trang nhưng không có một trang nào có thể đọc được.  Bởi v́ trong đó chỉ có toàn là một thứ thuộc loại mê tín hoang đường như “Chúa sáng tạo”, “Kính sợ Chúa”, “Biết ơn Chúa”, “Thờ phượng Chúa” “Nước Thiên Đàng vinh hiển”, “Đức Chúa Trời sẽ giáng họa” và vô số những điều tin nhảm nhí khác về Jesus, phản ánh một đầu óc mê muội chưa từng thấy.  Nếu phê b́nh hết cả thông điệp này th́ chắc đủ để thành một cuốn sách.  Ngoài ra, trong thông điệp, có đầy rẫy những câu bất thành văn, sai văn phạm, ư tưởng rất lộn xộn và mâu thuẫn, chứng tỏ tác giả là một người có tŕnh độ văn hóa và hiểu biết rất kém cỏi v…v…  Do đó, tôi chỉ lướt qua vài điểm điển h́nh của mục sư Trần Long để chúng ta thấy đầu óc của ông ta thuộc loại nào. 

 

   Trước hết, chúng ta hăy thử đọc một đoạn trong cái thông điệp quái gở này mà Nhà Nước phải kiên nhẫn chịu đựng sự lạm dụng quyền tự do một cách ngu xuẩn để viết bậy, viết nhảm nhí nấp sau b́nh phong tự do tín ngưỡng.  Nhà Nước nên nghe lời đề nghị của Charlie Nguyễn trước đây, không nên nhân nhượng với loại người coi thường chính quyền và dân tộc này.

 

Trần Long: Với tư cách là người Việt Nam và là môn đồ [sic] của Chúa Jesus; với tư cách là người của Đức Chúa Trời trong đất nước được gọi là tự do tín ngưỡng, tôi có trách nhiệm trên đất nước ḿnh đang ở, tôi phải tuân thủ luật pháp nhà nước mà Đức Chúa Trời đă bổ nhiệm nhà nước nầy cầm quyền, nhưng chúng tôi cũng có trách nhiệm tuân thủ luật pháp của Chúa Jesus – là lời Đức Chúa Trời.

 

   Với tư cách là một người Mỹ gốc Việt, không phải là môn đồ của Chúa Jesus, tôi xin có vài lời ngỏ cùng mục sư Trần Long.  Đất nước Việt Nam quả là một đất nước có tự do tín ngưỡng, cho nên ai muốn làm môn đồ [sic] của Chúa Jesus th́ cứ việc làm, không có ai ngăn cản.  Nhưng môn đồ của Chúa Jesus th́ không có tư cách ǵ ngoài tư cách của một con chiên.  Tại sao? V́ đối với mục sư Trần Long th́ Jesus là Chúa,  là Đức Chúa Trời,  nhưng đối với những người ngoại đạo như chúng tôi, chiếm hơn 90% dân số Việt Nam, và cả những người trí thức trong đạo Ki-Tô,  những người đă từng nghiên cứu kỹ Kinh Thánh của Ki Tô Giáo, th́ Jesus không có cái ǵ xứng đáng để gọi là Chúa hay Đức Chúa Trời.  Khoan kể đến hơn 4 tỷ người trên thế giới không biết hay không muốn biết Jesus là ai.  Do đó ông Trần Long chỉ có thể lấy tư cách của một công dân Việt Nam chứ không thể lấy tư cách của một môn đồ của Chúa Jesus, một người Do Thái đă chết tám hoánh từ 2000 năm nay,  để bàn quốc sự Việt Nam.  Chỉ có một điều sơ đẳng này mà mục sư Trần Long cũng không hiểu, tưởng rằng mang cái nhăn hiệu “môn đồ của Chúa Jesus” ra là vinh hạnh lắm, và có thể làm bất cứ điều ǵ.  Nếu mục sư biết rơ Jesus là ai th́ cái nhăn hiệu “môn đồ của Chúa Jesus” chẳng có ǵ là vinh hạnh mà rất có thể là một biểu hiện của sự ô nhục (a badge of shame).  Chứng minh?

 

   Ngày nay trên thế giới không thiếu những tác phẩm nghiên cứu về nhân vật Jesus, về cuốn Kinh Thánh, cũng như về chính đạo gọi là Tin Lành.  Tin vào Jesus là niềm tin cá nhân, tự nhận là môn đồ của Jesus là quyền tự do cá nhân, nhưng mục sư Trần Long không thể lấy tư cách của một môn đồ Jesus để gửi thông điệp cho Nhà Nước Việt Nam cũng như cho các cộng đồng tôn giáo ở Việt Nam và trên thế giới.  Tại sao?  V́ đó là một hành động vô cùng ngu xuẩn, cho rằng tiếng nói của một môn đồ Jesus tất nhiên phải là có giá trị, niềm tin của một môn đồ Jesus phải là niềm tin của mọi người khác.  Mục sư Trần Long mù quáng tin bướng tin càn vào một người Do Thái mà nền thần học Ki tô Giáo đôn lên làm Chúa cho những dân tộc bán khai, khai thác sự mê tín của quần chúng thấp kém, phù hợp với lịch sử và xă hội Do Thái trước đây 2000 năm, đó là quyền tự do cá nhân. Nhưng quyền tự do cá nhân này không cho phép mục sư Trần Long ăn nói bừa băi về cái đạo Tin Lành của ḿnh và xúc phạm đến nền văn hóa truyền thống của Việt Nam, và xúc phạm đến tuyệt đại đa số người dân không phải là Tin Lành, không cần biết Jesus là ai, nhất là khi mà giới thức giả Tây phương đă loại bỏ Jesu ra khỏi đầu óc của người dân trong những nước văn minh tiến bộ.  Ngày nay, những công cuộc nghiên cứu về nhân vật Jesus đă rất rơ ràng bởi những học giả ở trong cũng như ở ngoài Ki-tô Giáo.

 

   Nói ngắn gọn, Jesus chẳng qua chỉ là một nhân vật lai lịch không rơ ràng, chẳng ai biết ông ta sinh ra ngày nào, chết ngày nào, là con ai và đă làm ǵ trong khoảng thời gian từ 12 tuổi đến 30 tuổi.  Hơn 4 tỷ người trên thế gian không biết Jesus là ai, hơn 90% người Việt Nam cũng vậy, không biết và không tin Jesus, chỉ có 6% người theo Công Giáo và chưa tới 1% người theo Tin Lành là tin Jesus, tin là tin vậy thôi chứ đâu có biết Jesus chẳng qua chỉ là một người Do Thái tầm thường, được Ki-tô Giáo đôn lên làm Chúa. Lục địa Á châu rộng lớn như vậy nhưng chỉ chưa tới 2% người dân là biết đến Jesus.   Cho nên ngay cả Jesus cũng không có tư cách ǵ nổi bật trên đất nước Việt Nam, huống chi là một môn đồ của ông ấy như Trần Long. Mặt khác, Việt Nam không thể coi Jesus là Chúa hay là Đức Chúa Trời, dựa vào những tiến bộ trí thức của nhân loại ngày nay, và dựa vào chính tư cách của Jesus qua vài tài liệu nghiên cứu Tân Ước của một số học giả ở trong cũng như ở ngoài Ki-tô Giáo:

 

   Trước hết, đúng như Russell Shorto, một học giả Ki-tô, đă viết trong cuốn Sự Thật Phúc Âm (Gospel Truth), trang 14:

 

Điều quan trọng nhất là, tác động của quan điểm khoa học ngày nay đă khiến cho các học giả, ngay cả những người được giáo hội Ca-Tô bảo thủ cho phép nghiên cứu, cũng phải đồng ư là phần lớn những điều chúng ta biết về Jesus chỉ  là huyền thoại... Các học giả đă biết rơ sự thật từ nhiều thập niên nay – rằng Jesus chẳng ǵ khác hơn là một người thường sống với một ảo tưởng  – họ đă dạy điều này cho nhiều thế hệ các linh mục và mục sư. [Hiển nhiên là mục sư Trần Long chưa được dạy sự kiện này.  TCN]  Nhưng những vị này vẫn giữ kín không cho đám con chiên biết v́ sợ gây ra những phản ứng xúc động dữ dội trong đám tín đồ. Do đó, những người c̣n sống trong bóng tối là những tín đồ Ki Tô b́nh thường. [và cả những mục sư b́nh thường như Trần Long.  TCN].

(Most important, the impact of the scientific perspective is having now that even scholars working under a conservative Catholic imprimatur agree that much of what we know of Jesus is myth.... Scholars have known the truth – that Jesus was nothing more than a man with a vision – for decades; they have taught it to generations of priests and ministers, who do not pass it along to their flocks because they fear a backlash of anger.  So the only ones left in the dark are ordinary Christians.)

 

   Lẽ dĩ nhiên, mục sư Trần Long thuộc lớp những tín đồ b́nh thường vẫn c̣n sống trong bóng tối.  Thứ đến, về vấn đề đạo đức và trí tuệ của Jesus th́ không một người nào trong giới trí thức không biết đến nhận định của Bertrand Russell, một triết gia và khoa học gia nổi tiếng trên thế giới trong thế kỷ 20:

 

   “Riêng tôi, tôi thấy trong cả hai lănh vực trí tuệ và đạo đức, Chúa KiTô [Jesus] không thể đứng ngang hàng với những vĩ nhân khác của lịch sử.  Tôi cho Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và Socrate đứng cao hơn Ông ta trong hai lănh vực này.”

 (Russell, Bertrand, Why I Am Not A Christian, p. 19:  I cannot myself feel that either in the matter of wisdom or in the manner of virtue Christ stands quite as high as some other people known to history.  I think I should put Buddha and Socrates above Him in those respects. ) 

 

   Và Giám Mục John Shelby Spong th́ có những nhận định như sau về Jesus, Giám Mục Spong, thuộc một hệ phái Tin Lành tiến bộ, là người đă được mời lên TV nhiều lần, và được mời tới một số trường đại học để nói lên nhận định của ông về Jesus, về Ki-tô giáo v..v..

 

    Nhưng Jesus đă được “sinh ra từ một người đàn bà” [nghĩa là không phải sinh ra từ Maria đồng trinh]Sự sinh ra đời của Jesus cũng gây nhiều tai tiếng như cách ông ta chết.   Ông ta (Jesus) không là ai cả, một đứa trẻ ở Nazareth, chẳng có ǵ tốt đẹp có thể rút tỉa ra từ sự sinh ra đời này. Chẳng có ai biết cha ông ta (Jesus) là ai.  Rất có thể ông ta là một đứa con hoang.  Rải rác trong miền đất truyền thống Ki Tô lúc đầu (4 Phúc Âm), có những chi tiết chứng tỏ như vậy, giống như những thỏi chất nổ chưa kiếm ra và chưa nổ.

   (Spong, John Shelby, Born of a Woman: A Bishop Rethinks The Birth of Jesus, Harper, San Francisco, 1992, p. 35.: But he was “born of a woman”.. His origins were equally as scandalous as his means of death.  He was a nobody, a child of Nazareth out of which nothing good was thought to come.  No one seemed to know his father.  He might well have been illegitimate.  Hints of that are scattered like undetected and unexploded nuggets of dynamite in the landscape of the early Christian tradition.)

 

và:

 

Có những đoạn trong 4 Phúc Âm mô tả Jesus ở Nazareth như là một con người thiển cận, đầy hận thù, và ngay cả đạo đức giả.

(Spong, John Shelby, Rescuing The Bible From Fundamentalism, p. 21: There are passages in the Gospels that portray Jesus of Nazareth as narrow-minded, vindictive, and even hypocritical.)

 

   Giám Mục Spong là ai? Giám mục Spong đă phục vụ 45 năm trong Giáo hội Tân Giáo (Episcopal = Giáo hội Ki-tô Anh ở Mỹ) và ngày nay vẫn là một giám mục trong giáo hội này.  Ông là người có tư tưởng rất tiến bộ.  Những sách ông viết về Ki-tô Giáo nói chung đều thuộc loại sách bán chạy nhất.  Một trong những cuốn sách này có tên “Tại Sao Ki Tô Giáo phải Thay Đổi Không Th́ Chết?” (Why Christianity Must Change or Die?). Giám mục Spong đă được mời lên TV nhiều lần để bày tỏ tư tưởng của ông, và đă được mời đến thuyết tŕnh ở nhiều đại học.  Vậy người Việt Nam nên đọc Giám mục Spong hay là đọc Trần LongVà cái tư cách “môn đồ của Jesus” của Trần Long th́ có giá trị ǵ?

 

   Đó là vài nét điển h́nh về Đức Chúa Trời của mục sư Trần Long.  Không ai cấm ai tin vào Jesus, v́ đây là quyền tự do tín ngưỡng của mọi người.  Nhưng từ những sự thật về con người của Jesus như trên, và c̣n vô số điều đáng chê khác nữa, kết quả nghiên cứu của nhiều học giả ở trong cũng như ở ngoài các giáo hội Ki-tô, mà ngày nay mục sư Tin Lành Trần Long dám lấy tư cách của một môn đồ của một Jesus như vậy, để viết một thông điệp truyền đạo đượm màu mê tín và cuồng tín đến Nhà Nước Việt Nam và nhiều cơ quan quốc tế khác th́ chúng ta phải hiểu cái đám Tin Lành này ngu xuẩn như thế nào, và đă lộng hành như thế nào trên đất nước của chúng ta.  Nhà Nước nên nhốt chúng lại, giáo dục chúng, không phải v́ chúng chống Nhà Nước, hay v́ chúng theo Tin Lành, mà v́ chúng quá ngu đi, và lại mang cái ngu của ḿnh đi truyền đạo để đầu độc dân chúng.

 

   Nhà Nước cũng nên biết thực chất Tin Lành là như thế nào?  Tin Lành là một hệ phái trong Ki Tô Giáo, căn bản tín ngưỡng cũng như Công Giáo, chỉ không tin vào vai tṛ tự phong của Giáo hoàng Công Giáo và một số tín lư thuộc loại hoang đường mê tín của Công Giáo. Bản chất của Tin Lành cũng đầy sự mê tín như sẽ được tŕnh bày sau đây.  Nhưng Ki Tô Giáo nói chung là một tôn giáo như thế nào?  Chúng ta hăy đọc đoạn sau đây của Graham Lloyd:

 

   Trong gần 2000 năm nay, Ki Tô Giáo toan tính cứu rỗi chúng ta thay v́ văn minh hóa chúng ta, và nó đă đi đến một thế kỷ man rợ, một thời đại trong đó có tới 250 triệu tín đồ Ki Tô chết trong những cuộc chiến của Ki Tô Giáo. [Tin Lành cũng đă giết nhiều triệu thổ dân ở Mỹ Châu]

..Đó là Ki Tô Giáo, một tôn giáo đặt căn bản trên sự gian dối, thành lập bởi những kẻ điên và được củng cố bởi một tên sát nhân – Đại đế Constantine.

   (Graham, Lloyd, Deceptions & Myths of the Bible, p. 454: For nearly 2000 years Christianity has been trying to save us instead of civilizing us and it has ended in a century of savagery, an era in which 250 million Christians died in Christian wars...    Such is Christianity, a religion based on a fraud, founded by “fools” and confirmed by an assassin – Constantine the Great.)

 

   Bản chất sự mê tín của Tin Lành là đặt niềm tin vào ba điều chính: 1.  Chỉ tin tất cả vào Kinh Thánh, cho đó là những lời mạc khải của Thiên Chúa nên không thể sai lầm [Sola Scriptura]; 2. Tự ḿnh t́m hiểu Kinh Thánh [Priesthood of all believers]; và 3. Tin th́ Thiên Chúa sẽ tha tất cả tội ác và coi ḿnh như kẻ công chính [Sola Fida = Justification by "Faith Alone").   Sự mê tín của Tin Lành là một hiểm họa cho xă hội v́ những lư do sau:

 

Thứ nhất, tin tất cả vào Kinh Thánh. [Sola Scriptura]

 

   Một học giả, Neale Donald Walsch, đă nhận định trong cuốn The New Revelations, trang 51: “Những nhà bảo thủ Tin Lành tin rằng con đường tiến tới là con đường đi giật lùi, giật lùi về đúng những lời nguyên thủy của cuốn Kinh Thánh – một cuốn sách phải đọc nguyên văn, và áp dụng từng câu từng chữ.”  (Fundamentalists  believe that the way forward is the way backward, to the original and exact words of the Holy Scripture – to be read verbatim, and applied literally).

 

   Thật vậy, ngày nay giới nghiên cứu về Kinh Thánh của Ki-tô Giáo đă đồng thuận ở điểm: Kinh Thánh có rất nhiều điều sai lầm về thần học cũng như về khoa học, không hợp với thời đại, và có tính cách ngu dân.  Người ta đă có thể kiếm ra trên 170000 điều sai lầm trong Kinh Thánh. [Abhinyana in Because I Care, p. 93: Một số học giả nghiên cứu về Kinh Thánh Ki-Tô Giáo đă nói rằng trong đó có trên 170000 điều sai lầm.” (It is said now, by some scholars of the Christian Bible, that there are over 170000 errors in that book?). 

 

   Vấn nạn của những người Tin Lành tân ṭng Việt Nam là không biết đầu óc học đă bị điều kiện hóa như thế nào để đến nỗi trở thành những kẻ mê muội, cuồng tín, bất chấp sự tiến bộ trí thức của nhân loại, bất chấp những sư thực hiển nhiên về chính tôn giáo của họ.  Về phương diện tôn giáo, đầu óc họ có một điểm mù, khiến cho họ có những niềm tin của thời Trung Cổ. Đọc Trần Long chúng ta thấy rơ ông ta có một điểm mù tôn giáo, rất phù hợp với nhận định của Mục sư Ernie Bringas trong cuốn "Theo Đúng Như Trong Sách: Những Thảm Họa Trong Quá Khứ Và Hiện Tại Của Quyền Lực Thánh Kinh" (Going By the Book: Past and Present Tragedies of Biblical Authority): những người Ki Tô (Christians) thường có đầu óc cũ kỹ lỗi thời (astrolabe mind) nghĩa là có một “khuyết tật” trong đầu.  Điều này tôi đă giải thích rơ ràng trong 3 phần trên về “Hiểm Họa Tin Lành”, xin quư độc giả đọc lại để biết rơ thực chất Tin Lành là như thế nào.

 

   Gần đây, Công Giáo cũng như Tin Lành đều cố gắng đánh đồng quan niệm về “ông Trời” của Việt Nam với “Chúa Trời” của Ki-tô Giáo và đưa ra sự hoang tưởng là thờ Trời cũng như thờ Jesus.  Mục đích chính của mục sư Trần Long trong thông điệp này cũng vậy, đồng nhất hóa quan niệm về “Ông Trời” của Việt Nam với thiên chúa của Tin Lành.  Nhưng v́ Mục sư Trần Long không hiểu rơ thế nào là quan niệm về “Ông Trời” của Việt Nam và cũng không hiểu rơ thiên chúa của Tin Lành là như thế nào nên đă viết láo lếu và nhảm nhí về quan niệm “Ông Trời” của Việt Nam cũng như về thiên chúa của ông ấy.  Một thí dụ đơn giản là khi đồng nhất hóa  ông trời của người Việt Nam với thiên chúa của Tin Lành th́ mục sư Trần Long phải chấp nhận thiên chúa của ông ấy chẳng qua chỉ là cháu của một con cóc, v́ Việt Nam ta có câu Con cóc là cậu ông trời.”  Hơn nữa, người dân Việt Nam chưa từng xây “nhà thờ” để thờ trời, cũng như chẳng có  ai có “bàn thờ Trời” ở trong nhà. Ngoài ra, người Việt Nam c̣n gọi là “ông Trời” chú không phải là “Chúa Trời”. Trong bài này, tôi sẽ không giảng cho mục sư Trần Long những quan niệm về “ông trời” của người Việt Nam.  Đă có nhiều bài viết về vấn đề này rồi, thí dụ như bài “Quan Niệm “Ông Trời” Của Người Việt” của Charlie Nguyễn, một trí thức Công Giáo, hoặc bài “Chữ Trời Trong Tác Phẩm Của LM Cao Phương Kỷ” của Bùi Linh.   

 

   Cái gọi là “thông điệp” của Trần Long viết rất dài và lẩm cẩm, toàn là những điều mê tín đă lỗi thời, tôi không có cách nào phê b́nh hết trong bài này.  Cho nên tôi chỉ có thể luận về vài điểm mà mục sư Trần Long nêu ra về niềm tin của Tin Lành. 

 

Trần Long: Dầu mỗi dân tộc có quan điểm khác nhau về Trời nhưng tất cả đều hiểu Trời là Đấng Thiêng Liêng Tối cao đă dựng nên vũ trụ và muôn loài vạn vật.  Niềm tin của đạo Tin Lành cũng thờ Trời, là Đấng dựng nên trời đất, dựng nên muôn loài vạn vật trong đó có các cộng đồng dân tộc Việt nam. Người Tin Lành cám ơn Chúa Trời là Đấng ban cho gạo cơm, mưa nắng, sức khỏe, sự sống, và con cái. Người Tin Lành thờ Trời, thờ Chúa Jesus chính là tôn thờ Đấng mà cha ông ta có tâm hướng tôn thờ.

 

   Chỉ có những người truyền giáo Tin Lành tŕnh độ mẫu giáo, đầu óc mê muội mới cho rằng Trời là một Đấng thiêng liêng tối cao, tất nhiên là của Ki-tô Giáo, đă dựng nên vũ trụ và muôn loài vạn vật, và tất cả các dân tộc đều hiểu Trời là Đấng thiêng liêng tối cao đă tạo dựng nên vũ trụ và muôn loại vạn vật.  Mang cái niềm tin trong đầu óc mê muội của ḿnh đặt vào các dân tộc, chỉ có những người như mục sư Trần Long mới có can đảm viết lên một câu quá ư vô nghĩa như vậy.  Mục sư Trần Long không hề biết là trên thế giới có nhiều nền văn hóa khác nhau, và mỗi nền văn hóa đều có thuyết sáng tạo riêng, và chẳng có dính líu ǵ tới trời cả.  Thí dụ như thuyết sáng tạo của dân Eskimo, của dân Ấn Độ, Trung Quốc, Ba Tư v..v.. đều không dính líu ǵ đến ông trời cả.  Do đó, niềm tin của Tin Lành về một Đấng dựng nên trời đất, dựng nên muôn loài vạn vật v..v.. thật ra chỉ là niềm tin của Tin Lành, không hề có một căn bản nào để cho đó là niềm tin của cả nhân loại.  Nhưng vấn đề chính ở đây là niềm tin về một Đấng Thiêng Liêng Tối Cao của Tin Lành đă sáng tạo ra vũ trụ và muôn loài ngày nay chỉ là một niềm tin của người bán khai, may mắn lắm là niềm tin của thời Trung Cổ, và không c̣n giá trị ǵ trước sự tiến bộ trí thức của nhân loại, và trước những sự kiện khoa học bất khả phủ bác. 

 

   Thật vậy, cái ǵ là Đấng Thiêng Liêng Tối cao đă dựng nên vũ trụ và muôn loài vạn vật?  Từ năm 1981, ṭa thánh Vatican đă mời một số chuyên gia đến để cố vấn cho ṭa thánh về vũ trụ học.  Cuối cuộc hội thảo, các chuyên gia được giáo hoàng John Paul II tiếp kiến.  Ông ta nói với các khoa học gia là “cứ tự nhiên nghiên cứu sự tiến hóa của vũ trụ sau sự nổ lớn (big bang), nhưng không nên t́m hiểu về chính lúc nổ v́ đó là lúc sáng tạo, do đó là tác phẩm của Thượng đế.” (Stephen Hawking, A Brief History of Time, p. 116: He told us that it was all right to study the evolution of the universe after the big bang, but we should not inquire into the big bang itself because that was the moment of Creation and therefore the work of God).  Chúng ta nên để ư, Big Bang là hiện tượng nổ bùng của một dị điểm (singularity) vô cùng đặc, vô cùng nóng, nguồn gốc của vũ trụ ngày nay, và đă xảy ra cách đây khoảng 13.7 tỷ năm chứ không phải là chỉ có từ 6000-10000 năm do sự “sáng tạo” (sic) của Đấng Thiêng Liêng [sic] của Ki-tô giáo như được viết trong Kinh Thánh, được coi như những lời không thể sai lầm của Thiên Chúa.  Và giáo hoàng nói câu trên, một câu hoàn toàn vô nghĩa trong giới khoa học,  chẳng qua chỉ để vớt vát phần nào mặt mũi của Thiên Chúa, một mặt mũi đă không c̣n chỗ đứng trong thế giới tiến bộ trí thức và khoa học của nhân loại.

 

   Rồi, tháng 7 năm 1999, trước những khám phá xác tín nhất của khoa vũ trụ học, và trước những hiểu biết của con người ngày nay về cấu trúc của trái đất, Giáo Hoàng đă bắt buộc phải tuyên bố: "thiên đường không phải là một nơi trừu tượng mà cũng chẳng phải là một nơi cụ thể ở trên các tầng mây” (Heaven is neither an abstraction nor a physical place in the clouds), và “Hỏa ngục không phải là sự trừng phạt áp đặt từ bên ngoài bởi Thiên Chúa, mà là trạng thái hậu quả của những thái độ và hành động mà con người đă làm trong đời này” (Hell is not a punishment imposed externally by God, but the condition resulting from attitudes and actions which people adopt in this life).  Như vậy là Giáo Hoàng đă bác bỏ đức tin quan trọng nhất trong Ki-tô giáo:   Quyền năng “cứu rỗi” của Jesus, và hi vọng của các tín đồ Ki-tô về một cuộc sống đời đời trên thiên đường cùng Jesus, và sự luận phạt của Jesus đối với những người không tin ông ta. Như vậy, cái mà mục sư Trần Long gọi là “văn hóa thiên đàng” là cái văn hóa quái ǵ?

 

Thứ Nh́, Tự ḿnh t́m hiểu Kinh Thánh.

 

   Đây có thể nói là một sự tiến bộ của Tin Lành so với Công Giáo.  Trong Công Giáo, tín đồ không có quyền tự ḿnh t́m hiểu Kinh Thánh mà phải tuyệt đối nghe theo những lời diễn giảng về Kinh Thánh của các “bề trên”.  Tin Lành chủ trương tự ḿnh t́m hiểu Kinh Thánh nhưng thực ra họ chỉ chọn những phần giúp cho đức tin của họ và đi truyền bá những phần này chứ họ chưa hề đọc toàn bộ Kinh Thánh với một đầu óc phân tích trí thức.  Cũng v́ vậy mà Ira Cardiff, một khoa học gia, đă đưa ra nhận xét sau đây:

 

   "Hầu như không có ai thực sự đọc cuốn Thánh kinh.  Cá nhân mà tôi nói đến ở trên (một tín đồ thông thường như Trần Long) chắc chắn là có một cuốn Thánh kinh, có thể là cuốn sách duy nhất mà họ có, nhưng họ không bao giờ đọc nó - đừng nói là đọc cả cuốn.

   Nếu một người thông minh đọc cả cuốn Thánh kinh với một  óc phê phán  th́ chắc chắn họ sẽ vứt bỏ nó đi."

   (Virtually no one really reads the Bible.  The above mentioned individual doubtless has a Bible, perhaps the only book he owns, but he never reads it - much less reads all of it.

   If an intelligent man should critically read it all, he would certainly reject it.)

 

   Tại sao Ira Cardiff lại có thể viết như vậy.  V́ đọc kỹ Kinh Thánh, chúng ta không thể nào chấp nhận Thiên Chúa trong đó, Chúa Cha cũng như Chúa Con, là nhất mực nhân từ, yêu thương mọi loài.

   Những người Tin Lành đầu óc mụ mị, được nhồi sọ để tin rằng mọi sự tốt đẹp xảy ra cho họ là do Chúa ban cho:  [Trần Long: Người Tin Lành cám ơn Chúa Trời là Đấng ban cho gạo cơm, mưa nắng, sức khỏe, sự sống, và con cái]. Điều này nói lên tâm cảnh ích kỷ cùng cực của những người Tin Lành.  Họ không hề nghĩ đến những đứa trẻ sinh ra là quái thai, hoặc có khuyết tật, những thiên tai hàng ngày xảy ra trên thế giới, và vô số những cảnh nghèo khổ xảy ra trong ¾ thế giới.  Họ bị đầu độc bởi viên thuốc phiện Thiên Chúa, tạo cho họ một tâm cảnh hoàn toàn phụ thuộc vào cặp nạng thiên chúa, không bao giờ dám rời bỏ cặp nạng này, dù hàng bao tỷ người trên thế giới vẫn đứng vững trên trường đời mà không cần đến cặp nạng thiên chúa..  Họ được cấy vào đầu là mọi sự tốt lành trên thế gian này đều là do thiên chúa của họ tạo ra, không bao giờ buồn để ư đến những sự xấu ác, bất toàn trên thế giới.  Họ được dạy là thiên chúa ḷng lành, rất thương yêu thế gian, nhưng họ chưa từng đọc Kinh Thánh nên không biết rằng thiên chúa của họ trong đó ác ôn như thế nào.  [Xin đọc một số hành động ác ôn điển h́nh của Thiên Chúa trong Phần III]

 

   Tất cả những hành động ác ôn côn đồ của Thiên Chúa đều được giải thích một cách thuận tiện, phi lư trí, đối với những tín đồ ngu dốt là:  đầu óc của con người không thể nào hiểu được thiên chúa, tất cả những việc chúa làm đều có lư do mà chúng ta không thể nào hiểu nổi. Cứ giữ vững đức tin th́ thiên chúa sẽ xá hết tội và cho lên thiên đường (mù).

 

   V́ tùy tiện tự đọc Kinh Thánh nên, trong mục đích truyền đạo, những nhà truyền giáo như Trần Long tha hồ thay đổi Kinh Thánh để diễn đạt theo ư ḿnh.  Chúng ta hăy đọc Trần Long trích dẫn Kinh Thánh.

 

Trần Long: “Thật như ta hằng sống, ta chẳng lấy sự kẻ dữ chết làm vui, nhưng vui về nó xây bỏ đường lối ḿnh và được sống. Các ngươi – Đảng Cộng sản khá xây bỏ, xây bỏ đường lối xấu của ḿnh. Sao các ngươi muốn chết, hỡi các đảng viên không kính sợ Đức Chúa Trời ? (Ê-xê-chi-ên 33: 11)

 

   Câu trên là  Ezekiel 33: 11: “Thật như ta hằng sống, ta chẳng lấy sự kẻ dữ chết làm vui, nhưng vui về nó xây bỏ đường lối ḿnh và được sống. Hăy xây bỏ, xây bỏ  những đường ác của các ngươi! V́ đó là tại sao các ngươi phải chết, Hỡi nhà Israel” (“As I live”, says the Lord God, “I have no pleasure in the death of the wicked, but that the wicked turn from his way and live.  Turn, turn, from your evil ways! For why should you die, O house of Israel.”) Câu trên là Thiên Chúa của Do Thái nói với người Israel, một dân tộc được ông ta chọn, nhưng rồi lại hành hạ đủ điều, bắt làm nô lệ để người Ai Cập giáo dục theo ư tàn bạo của Thiên Chúa v..v.. Những việc ác của Hitler và những bạo Chúa trên thế gian th́ không thấm thía ǵ so với những việc ác của Thiên Chúa, như được viết trong Cựu Ước. Câu Ezekiel 33:11 ở trên chỉ để cho người Do Thái, chứ chẳng dính dáng ǵ đến người dân Việt Nam cả.  Nhưng Trần Long đă biến nhà Israel thành Đảng Cộng Sản, và người dân Israel thành đảng viên Cộng Sản.  Đó là sách lược truyền đạo và chống Cộng một cách rất xuẩn động của Tin Lành thời nay, muốn các đảng viên Cộng Sản phải kính sợ Đức Chúa Trời, cháu của con Cóc..

 

   Giống như Trần Mạnh Hảo, không biết ǵ về thuyết Tiến Hóa, nên đă viết bậy bạ về thuyết Tiến Hóa trong một bài góp ư với Nhà Nuớc về bản Dự Thảo Chính Trị Đại Hội X, cho rằng thuyết Darwin là “đấu tranh sinh tồn: cá lớn nuốt cá bé”, Trần Long cũng viết bậy bạ tương tự về thuyết Tiến Hóa như sau:

 

Trần Long: Chủ Nghĩa Duy Vật và Tiến Hóa là loại văn hóa cấp thấp, đẩy con người xuống tận cùng là con cái của loài động vật chuyên đấu tranh giết chóc lẫn nhau để tồn tại và cũng anh em của loài vượn bây giờ. Chủ nghĩa Mác-Lê và Thuyết Tiến Hoá không phù hợp với niềm tin của cha ông ta và với các dân tộc trên đất nước Việt Nam, bởi đă phủ nhận nguốn gốc siêu nhiên nhân dân Việt

 

   Sau đây là bài học vỡ ḷng cho Mục sư Trần Long về thuyết Tiến Hóa:

 

   Với sự hiểu biết hiện nay về nguồn gốc con người trên trái đất th́ Thuyết Tiến Hóa là một sự kiện vững chắc đă được xác nhận bởi khoa học, rất nhiều bộ môn khoa học, và lư trí.  Xin đừng nhầm lẫn, cho rằng Thuyết Tiến Hóa là của Charles Darwin.  Thuyết Tiến Hóa mà chúng ta hiểu ngày nay là sự tổng hợp của hàng núi những bằng chứng trong nhiều bộ môn khoa học, thí dụ như Sinh Học, Sinh Hóa Học, Cổ Sinh Vật Học, Nhân Chủng Học, Di Truyền Học, Khảo Cổ Học, Vật Lư Học, Vũ Trụ Học v..v.., có những bộ môn mà trong thời của Darwin chưa khám phá ra.

 

   Trái đất mà chúng ta sống trên đó không có ǵ đặc biệt.  Chúng ta cho nó là đặc biệt v́ chúng ta sống trên đó, nhưng trong thực tế, trái đất chỉ là một hạt bụi vũ trụ [Trái đất: đường kính 12728 km, so với vũ trụ rộng 13.7 tỷ năm ánh sáng]. Sự sống của chúng ta trên trái đất cũng không có ǵ là đặc biệt.  Chúng ta, hiện nay có trên 6 tỷ người, sống chung với cả tỷ tỷ [trillions] các loại sâu bọ, chưa kể hàng triệu các loại sinh vật khác.  Mọi sinh vật trên trái đất đều nằm trong luật Vô Thường: Sinh, Trụ, Hoại, Diệt, không có một loài sinh vật nào được miễn trừ, không có một quyền năng nào có thể thay đổi.  Con người chúng ta chỉ là một dạng sinh vật ở cấp tương đối cao, v́ chúng ta có lư trí, có đầu óc suy tư, từ đó con người đă tiến hóa từ thời đồ đá, đồ đồng, đồ sắt cho đến thời đại nguyên tử ngày nay. 

 

   Những người theo Thần Giáo tin rằng Thần của họ đă đặc biệt “sáng tạo” ra loài người nhưng họ quên rằng tai con chó thính hơn tai người, mũi con chó thính hơn mũi người, mắt con dơi sáng hơn mắt người trong đêm tối v..v.., và một loại vi-rút (virus) rất nhỏ nhoi cũng có thể giết cả triệu người như bệnh dịch hạch phát ra ở Âu Châu trước đây.  Khoan kể đến chuyện Thiên Chúa  “toàn năng” của Ki-Tô Giáo, hay bất cứ Thiên Chúa nào khác, cũng như chúng ta, đều hoàn toàn bất lực trước những thiên tai như băo lốc, Tsunamis, cuồng phong, núi lửa, lụt lội v..v.. và riêng đối với loài người th́ trước những quái thai, bào thai khuyết tật v..v.. sinh ra đời.  Những thiên tai này không chừa một ai, kể cả những người tin vào quyền năng của chính Thiên Chúa của họ.  Do đó, luận điệu Thần Học về một Đấng Tối Cao, sáng tạo ra muôn loài, đặc biệt sáng tạo ra loài người, và thương yêu chúng ta không c̣n đứng vững trong thời đại ngày nay.  Chúng ta đă đi từ thời bán khai, đến thời Trung Cổ, và bỏ lại đàng sau những ǵ thuộc các thời đại đó và không c̣n có giá trị ǵ hay thích hợp với chúng ta ngày nay.

 

   Tuy nhiên, những thắc mắc muôn đời như: con người từ đâu mà ra, sau khi chết sẽ đi về đâu v..v.. vẫn là những mối thắc mắc của con người, ngay trong thời đại này.  Và v́ vậy, con người, trải qua nhiều thế hệ đă đưa ra những giải đáp khác nhau, tùy theo mỗi nền văn hóa.  Những giải đáp thuộc lănh vực siêu h́nh dần dần mất đi tính cách thuyết phục, v́ không c̣n hợp với tŕnh độ hiểu biết của con người ngày nay.  Tri thức con người phát triển và tiến bộ, từ đó khoa học cũng phát triển theo và con người không c̣n tin vào những thuyết lư không thể kiểm chứng.  Con người phải nhờ đến khoa học để t́m hiểu về vũ trụ, nhân sinh.  Khoa học không phản đối niềm tin của bất cứ ai, mà chỉ t́m cách giải thích những thắc mắc trong thế giới vật lư của chúng ta, và khoa học sẵn sàng loại bỏ những giải thích nào không c̣n hợp thời, không c̣n đúng với những khám phá mới trong khoa học. 

 

   Cho tới ngày nay, tuyệt đại đa số trong giới khoa học đă chấp nhận thuyết Big Bang nói về nguồn gốc của vũ trụ, và thuyết Tiến Hóa nói về nguồn gốc của con người. Chấp nhận cho đến khi khám phá ra những bằng chứng mới chứng tỏ toàn bộ thuyết Big Bang và toàn bộ Thuyết Tiến Hóa không c̣n đúng. Các khoa học gia công nhận là trong thuyết Big Bang cũng như trong Thuyết Tiến Hóa c̣n có một số những chi tiết chưa giải đáp được.  Nhưng xét về toàn bộ th́ những thuyết này có tính cách thuyết phục nhất và các khoa học gia hi vọng trong tương lai, gần hay xa c̣n là một ẩn số, họ sẽ t́m ra những manh mối để giải thích dứt khoát chúng.  Những khám phá mới trong nhiều bộ môn khoa học đă chứng minh được rằng: Không c̣n nghi ngờ ǵ nữa, loài người chúng ta th́ liên hệ đến mọi sinh vật trên trái đất, và tất nhiên liên hệ tới cả vũ trụ này. 

 

   Trước hàng núi những bằng chứng khoa học về thuyết Tiến Hóa, một số nhân vật có uy tín trong lănh vực tôn giáo như Giáo Hoàng, Giám Mục, Linh Mục , Mục sư, học giả v..v.. cũng phải cúi đầu trước thuyết Tiến Hóa, khoan kể đến giới khoa học gia đă chấp nhận thuyết Tiến Hóa từ trên trăm năm nay rồi.  Sau đây chúng ta hăy đưa ra nhận định của một số nhân vật tôn giáo cũng như khoa học về Thuyết Tiến Hóa nói chung, trước những hiểu biết của chúng ta về Thuyết Tiến Hóa, và trước những bằng chứng trong khoa học:

 

Giáo Hoàng John Paul II  phát biểu năm 1996:

 

   Thân xác con người có thể không phải là sự sáng tạo tức thời của Thượng đế, mà là kết quả của một quá tŕnh tiến hóa dần dần... Những kiến thức mới nhất dẫn đến việc phải chấp nhận Thuyết Tiến Hóa hơn chỉ là một giả thuyết.

   (The human body may not have been the immediate creation of God, but is the product of a gradual process of evolution...Fresh knowledge leads to recognition of the theory of evolution as more than just a hypothesis).

 

2.  Linh mục ḍng Tên Teilhard de Chardin trong The Phenomenon of Man:

 

     Tiến Hóa là một thuyết, một hệ thống, hay một giả thuyết?  Nó c̣n nhiều hơn nữa: nó là một điều kiện tổng quát mà mọi thuyết, mọi giả thuyết, mọi hệ thống phải cúi đầu trước nó và phải phù hợp với nó nếu chúng muốn được nghĩ tới và coi là đúng.. Tiến Hóa là một ánh sáng soi sáng mọi sự kiện, một đường cong mà mọi đường thẳng phải theo nó...

    (Is evolution a theory, a system or a hypothesis?  It is much more: it is a general condition to which all theories, all hypotheses, all systems must bow and which they must satisfy henceforth if they are to be thinkable and true.  Evolution is a light illuminating all facts, a curve that all lines must follow...)

 

3. Mục sư Ernie Bringas trong cuốn: Going By The Book:   Past and Present Tragedies of  Biblical Authority:

 

   Thuyết Tiến Hóa là một trong những cấu trúc tuyệt vời và thành công nhất của tư tưởng con người.  Mọi ngành khoa học đều tiếp tục ủng hộ và kiểm chứng quan niệm về sự tiến hóa.  Thuyết Tiến Hóa , giống như Thuyết Tương Đối, không c̣n là một "thuyết" theo nghĩa thông thường nữa, mà là một nguyên lư khoa học đặt căn bản trên rất nhiều bằng chứng không c̣n phải bàn căi nữa.

   (The theory of evolution is among the most elegant and fruitful structures of human thought... All scientific disciplines continue to support and verify the concept of evolution.  The theory of evolution, like the theory of relativity, is no longer a "theory" in the popular sense, but a scientific principle based on considerable, indisputable evidence.)

 

4. Giám mục John Shelby Spong trong cuốn Why Christianity Must Change or Die:

 

   Thuyết Tiến Hóa làm cho Adam và Eve trở nên may nhất là những nhân vật  theo truyền thuyết.  Thuyết Tiến Hóa không dễ ǵ cho tổ chức  tôn giáo chấp nhận, và ngày nay vẫn c̣n những tiếng nói cất lên từ những miền hẻo lánh của thế giới để chống đối thuyết này.  Những tiếng nói này sẽ không bao giờ thành công.  Nhân loại rơ ràng là tiến hóa theo một quá tŕnh trải dài từ 4 tỷ rưỡi đến 5 tỷ năm.  Không làm ǵ có hai cha mẹ đầu tiên (nghĩa là Adam và Eve. TCN), và do đó cái hành động bất tuân lúc đầu của hai bậc cha mẹ đầu tiên không thể nào có ảnh hưởng đến toàn thể nhân loại.  Do đó cái huyền thoại về tội tổ tông đă bị một đ̣n khai tử, và cái câu chuyện vững chắc về sự cứu rỗi do những người bảo vệ Ki-tô giáo dựng lên qua nhiều thời đại đă bắt đầu chao đảo.

   (The theory of evolution made Adam and Eve legendary at best.  Evolution was not easy for the religious establishment to accept, and still voices are raised today in remote areas of the world to resit it.  Those voices will never succeed.  Human life clearly evolved over a four-and-a-half-to-five-billion-year process.  There were no first parents, and so the primeval act of disobedience on the part of first parents could not possibly have affected the whole human race.  The myth was thus dealt a blow, and the monolithic story of salvation built by Christian apologists over the age began to totter.)

 

   Chấp nhận thuyết Big Bang, thuyết tiến hóa, chấp nhận con người không phải là do Thượng đế tạo ra tức thời mà chính là kết quả của một quá tŕnh tiến hóa dần dần và lâu dài, giáo hoàng đă phá tan huyền thoại về Adam và Eve là tổ tông loài người do Thượng đế tạo dựng từ đất sét, và kéo theo không làm ǵ có chuyện Adam và Eve sa ngă tạo thành tội tổ tông.  Do đó, vai tṛ “chuộc tội” và “cứu rỗi” của Jesus chỉ là những luận điệu thần học lừa dối của giới giáo sĩ Ki Tô Giáo khi xưa, được tiếp tục đưa ra không ngoài mục đích khai thác ḷng mê tín của một số người, huyễn hoặc và khuyến dụ họ tin vào những điều không thực.  Và Trần Long chẳng qua cũng chỉ là một trong số người tin mà không hiểu là ḿnh tin cái ǵ.  Thật là tội nghiệp.

 

   Tại sao đạo Tin lành vẫn c̣n hấp dẫn với một số người như ở Việt Nam. Ingersoll đă nói thẳng trước một cử tọa đông đảo để nghe ông diễn thuyết (Joseph Lewis, Ingersoll: The Magnificient, p. 140):

 

"Tin Lành Giáo thật sống dai.  Điều này chứng tỏ cái ǵ?  Nó chứng tỏ là quần chúng th́ mê tín và các mục sư th́ đần độn (stupid).”

(Protestantism dies hard.  What does that prove?  It proves that the people are superstitious and the preachers stupid.)

  

   Hiểm họa Tin Lành là một sự kiện rơ như ban ngày, khó ai có thể chối căi. Sự mê tín và cuồng tín của Tin Lành đă lên đến mức phi lư trí, phi dân tộc.  Người Việt chúng ta có nên ngăn chận cái hiểm họa này, hay để cho cái tế bào ung thư này tự do lan rộng trong xă hội lành mạnh về tâm linh của chúng ta hay không?  

 

Thứ Ba, Đức Tin Tin Lành:

 

   Người Tin Lành tin rằng chỉ cần tin vào Jesus là họ sẽ trở thành người công chính (Justification by faith alone).  Đây là một tín điều rất hấp dẫn đối với những người Tin Lành.  Dù họ không phải là người công chính, dù họ là người ác, nhưng cứ tin vào Jesus là tức khắc họ trở thành công chính.  Tất cả là do đức tin và ân sủng của thiên chúa chứ không liên quan ǵ đến những hành động tốt xấu hàng ngày.  Cũng v́ vậy mà người Tin Lành đưa ra chính sách diệt chủng dân da đỏ ở Mỹ Châu, giết người hàng loạt, thiêu sống thổ dân, mang bệnh đậu mùa đến để diệt thổ dân  v..v.. nhưng vẫn tin rằng đối với thiên chúa ḿnh vẫn là người công chính.  Cho nên, cái nguy hại của Tin Lành chính là ở tín lư này, v́ họ có thể làm bất cứ điều ǵ miễn là giữ vững đức tin vào thiên chúa. 

 

   Ngoài ra, để hiểu đầu óc của người Tin Lành trong những niềm tin của họ, tôi xin trích dẫn sau đây một số điều viết trong cái gọi là “thông điệp phước lành” của mục sư Trần Long, để chúng ta có thể thấy đầu óc và kiến thức của họ tệ hại như thế nào.

 

-  Người mà Đức Chúa Trời cắt cử bổ nhiệm để quản trị, là người làm theo ḷng và ư muốn của Ngài. [Nhưng có ai biết được ư muốn của Đức Chúa Trời, một nhân vật trong những huyền thoại của người Do Thái, là như thế nào.  Tất cả chỉ là đoán ṃ.]

-  Tôi phải tuân thủ luật pháp nhà nước mà Đức Chúa Trời đă bổ nhiệm nhà nước nầy cầm quyền, nhưng chúng tôi cũng có trách nhiệm tuân thủ luật pháp của Chúa Jesus – là lời Đức Chúa Trời. [nghĩa là chính quyền Việt Nam hiện nay là do Đức Chúa Trời bổ nhiệm.  Nhưng nếu do Chúa Jesus bổ nhiệm, tức là chính quyền đă thực thi ư Chúa rồi, c̣n ǵ nữa?  Luật pháp của Chúa Jesus là như thế nào?  Có giá trị ǵ trong những xă hội văn minh tiến bộ ngày nay?]

-  Hễ ai tin Chúa Jesus theo tiêu chuẩn Kinh Thánh th́ trở nên công dân Thiên Quốc, trở nên con của Đức Chúa Trời. [Trở nên để làm ǵ, công dân Thiên Quốc th́ phải sống trong Thiên Quốc, mà Thiên Quốc này ở đâu?]

-  Sự khó khăn mà các tín hữu Tin Lành …lại đến từ ngay chính bậc cầm quyền của ḿnh [Th́ nhà cầm quyền do chính Chúa Jesus bổ nhiệm để thực thi ư Chúa, vậy phàn nàn cái ǵ?]

-  Tôi gởi đến quí cấp thông điệp nầy, nhắn nhủ Lời của Đức Chúa Trời dành cho quí cấp [Khi được Chúa Jesus bổ nhiệm th́ Chúa Jesus đă nhắn nhủ lời Chúa rồi.  Lời của Đức Chúa Trời là những lời bậy bạ của đám mục sư ngu dốt.  Chúa Trời c̣n không có, lấy đâu ra lời của Đức Chúa trời?]

Tài sản vô giá của Chúa ban cho nhân dân Việt Nam vẫn c̣n bị chiếm đoạt, mà đảng cộng sản t́m mọi cách bảo vệ ch́a khóa kho tàng đó, nhằm nhốt dân tộc Việt Nam trong ṿng nô lệ đời đời. [Viết với lách?  Thế này là thế nào?  Đảng cộng sản t́m mọi cách bảo vệ ch́a khóa kho tàng tài sản vô giá của Chúa ban cho nhân dân Việt Nam, nhằm nhốt dân tộc Việt Nam trong ṿng nô lệ đời đời đúng theo ư Chúa, thật không c̣n ǵ đúng hơn.  Lịch sử thế giới cho thấy tài sản của Chúa Jesus ban cho những tín đồ Ki-tô Giáo, nhất là tín đồ Tin Lành, chính là ṿng nô lệ đời đời]

-  Tổ tiên chúng ta khao khát dân tộc Việt Nam tin nhận Chúa Jesus để được cứu rỗi. V́ vậy, niềm tin vào Chúa Jesus phù hợp với tổ tiên của dân tộc Việt Nam. [Nói bậy, tổ tiên ta khao khát từ bao giờ, tổ tiên ta có biết Jesus là ai.  Cái tên Do Thái này mới được các thừa sai Công Giáo du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ 16, và hầu hết những người tin nhận Jesus thuộc thành phần thấp kém trong xă hội, ít học hay mù chữ, mù ḷa tin bướng tin càn, cam tâm đi làm nô lệ cho mấy tên cha cố để được ăn một cái bánh vẽ trên trời.  Những người Tin Lành ngày nay đa số cũng đều như vậy cả.]

-  Nên loại bỏ Chủ Nghĩa Duy Vật và Thuyết Tiến Hóa ra khỏi chương tŕnh chính quy; tư tưởng nầy không thể là tư tưởng chủ đạo, v́ nó dẫn con người đến chổ hư mất linh hồn đời đời. [Nếu Công Giáo hay Tin Lành lên cầm quyền ở Việt Nam th́ ngoài điều phải tin Chúa thờ phượng Chúa, không c̣n một môn học nào khác được dạy, v́ tất cả các bộ môn khoa học đều chống Chúa.  Trần Long viết ngu, không biết rằng thuyết Duy Vật và Thuyết Tiến Hóa ngày nay được dạy trong các trường học, từ Trung Học đến Đại Học, trên khắp thế giới, đặc biệt là trong các nước tân tiến nhất như Mỹ, Pháp, Đức, Anh v..v.., trong khi thuyết Tin Lành của Trần Long chỉ được dạy trong các nhà thờ để nhồi sọ đám dân ngu dốt]

-  Jesus là nhân vật lịch sử, nhân vật có thật, một nhân vật đầy quyền năng được kiểm chứng bằng cả thực nghiệm của hàng triệu con người mà quí cấp lại không tin. [Chẳng có ai kiểm chứng được quyền năng của Jesus, trái lại, giới học giả đă biết rơ Jesus chỉ là một người thường, sống với một ảo tưởng.  Ngoài ra, hơn 4 tỷ người trên thế giới không cần biết đến Jesus là ai, không thể tin Jesus v́ đầu óc c̣n sáng suốt, vậy việc ǵ phải tin theo mấy triệu người không có đầu óc, đi tin nhảm tin nhí]

-  Người Tin lành thừa nhận Đức Chúa Trời dựng nên Ađam và Êva. Đức Chúa Trời dựng nên loài người như h́nh Ngài; Ngài dựng nên loài người giống như h́nh Đức Chúa Trời; Ngài dựng nên người nam cùng người nữ. [Người Tin Lành, v́ đầu óc yếu kém, nên thừa nhận Đức Chúa Trời dựng nên Ađam và Êva, đó là chuyện của người Tin Lành.  Trước những bằng chứng khoa học ngày nay, nhất là thuyết Tiến Hóa đă được dạy trên khắp thế giới, chỉ c̣n những đầu óc hạ đẳng mới c̣n tin vào huyền thoại sáng tạo trong Kinh Thánh. Xin tặng mục sư Trần Long một đoạn của Giám Mục John Shelby Spong trong bài “Giê-su Như Là Đấng Cứu Thế: Một H́nh Ảnh Cần Phải Dẹp Bỏ” (Jesus As Rescuer: An Image That Has To Go) trong cuốn “Tại Sao Ki Tô Giáo Phải Thay Đổi Hay Chết” (Why Christianity Must Change or Die), xuất bản năm 1998:

 

..Toàn thể cái hệ thống thần học này, với những điều mà họ tin, đă bị tan ra thành từng mảnh trong thế giới hậu hiện đại  (post-modern) của chúng ta.  Hệ thống thần học này cần phải vứt bỏ ra khỏi đầu óc con người.  Sự tan ra từng mảnh này bắt đầu với nhận định là Adam và Eve không phải là hai tổ đầu tiên của nhân loại và rằng tất cả sự sống của con người không xuất phát từ hai người trên.  Thuyết Tiến Hóa đă làm cho câu chuyện về Adam và Eve nhiều nhất là một truyền thuyết.  Thuyết Tiến Hóa không dễ cho các tổ chức tôn giáo chấp nhận, và ngày nay, nhiều tiếng nói vẫn cất lên từ những ốc đảo xa xôi trong thế giới để chống đối.  Những tiếng nói này không bao giờ có thể thành công.

   Điều rơ ràng là sự sống của con người đă nằm trong một quá tŕnh tiến hóa trải dài từ 4 tỷ rưỡi đến 5 tỷ năm.  Không làm ǵ có 2 người đầu tiên, do đó cái hành động không vâng lời lúc ban đầu của 2 người đầu tiên đó không thể nào có ảnh hưởng ǵ đến nhân loại.  Huyền thoại cứu chuộc đă bị một đ̣n nặng khai tử (death blow), và cái câu chuyện vững chắc về cứu chuộc, xây dựng bởi giáo hội qua nhiều thời đại, bắt đầu chao đảo.

 

-  Qua Tin Lành của Chúa Jesus, con người thấy rơ ḿnh vốn xuất phát từ Đấng Tối Cao; nhưng v́ cớ phạm tội con người xa đă ĺa Thiên Chúa. [Lại xin mục sư Trần Long đọc tiếp Giám Mục Spong]:

 

…Nhân loại chúng ta không sống trong tội lỗi.  Chúng ta không sinh ra trong tội lỗi.  Chúng ta không cần phải rửa sạch cái t́ vết tội tổ tông trong lễ rửa tội.  Chúng ta không phải là những tạo vật sa ngă, mất đi sự cứu rỗi nếu chúng ta không rửa tội.  Do đó, một đấng cứu thế có nhiệm vụ khôi phục t́nh trạng tiền sa ngă của chúng ta chỉ là một sự mê tín trước thời -Darwin và một sự vô nghĩa sau thời -Darwin."

 (We human beings do not live in sin.  We are not born in sin.  We do not need to have the stain of our original sin washed away in baptism.  We are not fallen creatures who will lose salvation if we are not baptized.. A savior who restores us to our prefallen status is therefore pre-Darwinian superstition and post-Darwinian nonsense)

 

Cha ông ta không có loại văn hóa đem “Băng vệ sinh” lên màn ảnh. Thay v́ sử dụng, phô bày h́nh ảnh các anh hùng, các biểu tượng văn hóa phi vật thể th́ trưng bày h́nh ảnh phi văn hóa “băng vệ sinh phụ nữ: “Kotex”, “Diana”, “4 Teen” thật trơ trẻn và lố bịch. [Chắc mục sư Trần Long không biết rằng tất cả những sản phẩm trên đều được sản xuất từ Mỹ, một xứ đa số theo Tin Lành, và cũng luôn luôn xuất hiện trên màn ảnh TV quảng cáo ở trên khắp nước Mỹ]

 

   Tôi nghĩ trích dẫn vài điều điển h́nh trong thông điệp phước lành của mục sư Trần Long như trên cũng đủ để cho chúng ta thấy loại đầu óc Tin Lành như của mục sư Trần Long là như thế nào.  Tôi đă nói, trong mấy chục trang giấy của Trần Long không có một trang nào có thể đọc được, v́ ư tưởng lộn xộn, văn bất thành cú, rủa xả Việt Nam [Trần Long: Dân tộc Việt Nam bị Đức Chúa Trời rủa sả, đầy dẫy thiên tai, dịch lệ v́ cớ người lănh đạo đă đẩy dân tộc Việt Nam vào việc chống Trời, xui giục con người từ chối nguồn gốc siêu nhiên của họ là Đức Chúa Trời.] và rặt là những điều mê tín hoang đường của thời Trung Cổ.  Muốn kiểm chứng lời này xin quư độc giả hăy vào trong nhà YKIEN.NET t́m kiếm toàn văn bản  “thông điệp” của mục sư Trần Long mà đọc. 

 

   Vài Lời Kết,-  Trong Phần III, tôi đă đưa ra nhận định của Robert G. Ingersoll về Tin Lành như sau: Tin Lành Giáo thật sống dai.  Điều này chứng tỏ cái ǵ?  Nó chứng tỏ là quần chúng th́ mê tín và các mục sư th́ đần độn (stupid).   Ngận định trên đúng hay sai, xin để cho quư độc giả tự ḿnh phán xét, và tôi tin chắc những người Tin Lành ngoài phái bảo thủ cũng tự biết bản chất của tôn giáo ḿnh theo là như thế nào.  Riêng đối với tôi, đọc những bài của nhóm Tin Lành Việt Nam, từ Mục sư Trần Long cho tới những “trí thức” như Huỳnh Thiên Hồng, Lê Anh Huy, Nguyễn Huệ Nhật v..v.. chúng ta thấy rơ là nhận định của Ingersoll không sai một mảy may.  Hiện nay, Tin Lành đang mở chiến dịch chống phá Phật Giáo và từ bỏ nguồn gốc dân tộc Việt Nam, nhưng với loại kiến thức dỏm và đầu óc mê tín, đần độn như Ingersoll đă phê phán, họ làm sao có thể thành công được.  Một trong những sách lược rất ấu trĩ của Tin Lành là tung ra những nhân chứng dỏm, vô tên tuổi, chẳng ai biết đến, để bịa đặt tuyên bố là đă bỏ đạo Phật để trở về với Chúa của họ.  Họ đần độn đến độ không hiểu rằng, ai có thể tin được những nhân chứng dỏm này, khoan kể là lư luận tŕnh bày của những nhân chứng này không khác ǵ “lư luận” của Nguyễn Huệ Nhật et al...  Có người nào trong bọn họ có thể sánh nổi với Victor Hugo, Voltaire, Bertrand Russell, Albert Einstein, Carl Sagan, Stephen Hawking, Giám mục John Shelby Spong, Mục sư Ernie Bringas, Linh Mục James Kavanaugh và các nhà thần học nổi danh trên thế giới như Uta Ranke-Heinemann, Hans Kung cũng như hàng trăm học giả, chuyên gia về Ki Tô Giáo trên thế giới, những người đă thấy rơ bản chất mê tín, ác ôn, độc hại của Ki-tô Giáo?  Sự thật là Ki-tô Giáo đang xuống dốc không phương cứu chữa ở phương trời Âu Mỹ, và Phật Giáo đang phát triển mạnh mẽ trên khắp thế giới.  Vậy những lời chứng hay những bài viết vô giá trị của mấy nhân chứng quèn cũng như của mấy trí thức dỏm này có thể đi đến đâu??

           

   Chúng ta chỉ có một câu để hỏi những người đang ra công truyền đạo Tin Lành và đánh phá Phật Giáo:  “Quư vị quảng cáo cho cái đạo Chúa của quư vị.  Hay lắm.  Nhưng tại sao cái đạo Chúa của quư vị lại gây ra bao nhiêu tai họa cho nhân loại như lịch sử đă ghi rơ, trong khi Phật Giáo của chúng tôi, trên 2500 năm nay chưa hề làm đổ một giọt máu trong quá tŕnh truyền đạo?”

 

Qua ba bài phân tích của tôi về những bài của Lê Anh Huy, Huỳnh Thiên Hồng, Nguyễn Huệ Nhật, và Trần Long, tôi nghĩ chúng ta đă thấy rơ phần nào hiểm họa Tin Lành. Tuy nhiên, hiểm họa của Tin Lành không phải là ở chỗ tín đồ Tin Lành th́ mê tín, và các mục sư Tin Lành th́ đần độn, theo như nhận định của Ingersoll, mà là ảnh hưởng tác hại của sự đần độn và mê tín trên xă hội khi Tin Lành dùng mọi thủ đoạn và dựa vào ưu thế về kinh tế, và quân sự nếu có thể được, để áp đặt sự mê tín và đần độn trên những cộng đồng yếu kém về kinh tế, vật chất, và từ đó tạo nên một lực lượng chính trị để làm áp lực hoặc khuynh đảo các chính quyền địa phương sau b́nh phong, chiêu bài tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo, nhân quyền.  Mất chỗ đứng hay ít ra là không thể ép buộc tư tưởng người dân và chính quyền trong những xă hội văn minh tiến bộ Âu Mỹ, Tin Lành đang t́m cách xuất cảng những đồ phế thải trong những xă hội văn minh tiến bộ này sang các quốc gia yếu kém về kinh tế, ra công tuyển mộ những tín đồ không có mấy đầu óc, với hi vọng có thể đưa người dân trong những nước kém mở mang giật lùi trở về thời đại thần quyền đứng trên thế quyền ở Âu Châu khi xưa

 

Hiểm họa Tin Lành là một sự kiện rơ như ban ngày, khó ai có thể chối căi. Tai họa của Tin Lành thật là rơ rệt, nó có thể biến một người b́nh thường, và ngay cả một người tự coi ḿnh là trí thức, thành một kẻ vong bản, một kẻ mù quáng đến độ có thể nguyền rủa cả một dân tộc và tổ tiên của chính ḿnh.

Người Việt chúng ta có nên ngăn chận cái hiểm họa này, cái tế bào ung thư này lan rộng trong xă hội lành mạnh về tâm linh của chúng ta hay không? Tôi nghĩ, con cháu Lạc Hồng quyết không để cho con cháu của Do Thái Adam và Eve đưa chúng ta trở lại thời bán khai dưới bất cứ dưới h́nh thức nào.  Và đây chính là trách nhiệm bảo vệ nền văn hóa Việt Nam của Nhà Nước Việt Nam ngày nay, của các chính quyền Việt Nam mai sau, của toàn dân phi-Ki-tô trong nước, và của những người Việt Nam yêu nước trên khắp thế giới.

 

Trần Chung Ngọc

[Cập nhật 10/2009]