KỲ 4

 

PHỦ DƯƠNG XUÂN MẤT TÍCH

* * * 

 

                   

          Nói đến lịch sử chùa Thiền Lâm là phải nói đến Phủ Dương Xuân của các chúa Nguyễn. Bởi v́ chùa Thiền Lâm như bài trước đă đề cập là nơi  tụng niệm của các chúa và gia đ́nh trong thời gian họ lên trú đông ở đây. Bởi thế, không những chùa Thiền Lâm “chồng chất những bí ẩn”, mà Phủ Dương Xuân cũng có lắm điều khó hiểu.   

          Từ xưa đến nay, Huế bị “trời hành cơn lụt mỗi năm”, dinh phủ của các chúa Nguyễn dựng ở Kim Long, Phú Xuân luôn bị ngập lụt. Ví dụ như tháng 8 năm Canh thân (1680) “gió băo, nước lụt ngập, mặt đất sâu hơn trượng, người và súc vật bị thương và chết nhiều"  [1]. V́ thế mà  “đầu bản triều khai quốc có dựng phủ ở g̣ Dương Xuân [2]  (tức là vùng g̣ đồi Lịch Đợi, Báo Quốc, Vạn Phước, Thiền Lâm hiện nay). Đến đời ông chúa thứ sáu là Nguyễn Phúc Chu, vào năm Canh th́n (1700), Phủ Dương Xuân được trùng tu. Lư do trùng tu được nhà Huế học L.Cadière giải thích rằng :

Năm 1698 ngày thứ hai trong tháng 11, một cơn băo lớn đă xảy ra, kèm theo mưa lớn và lụt. Minh Vương (tức Nguyễn Phúc Chu) cảm thấy nguy nan khi đang ngự trong Cung, đă t́m đến chỗ an ṭan trên một ngọn núi nhỏ. Ngọn núi này phải chăng là nơi ở cũ tại Dương Xuân, nơi Vơ Vương sau đó đă ở trong những tháng mùa đông, trong một cung điện, mà theo lời của Poivre, được xây dựng trên một cái g̣ (élévation). Phải chăng v́ sự báo động (lũ lụt) trong năm 1698 đă khiến Minh Vương có ư định xây dựng lại Phủ Dương Xuân vào năm 1700"  [3]

Khi người cháu nội của Minh Vương lên ngôi trị v́, chúa Vơ Vương Nguyễn Phúc Họat (cũng có sách viết là Khóat) (1738), ông bỏ dinh phủ cũ ở Phú Xuân (xây dựng từ năm 1687), xây lại Phủ chính ở bên tả phủ cũ  [4]. Sử nhà Nguyễn không thấy ghi chuyện Vơ Vương trùng tu phủ Dương Xuân, nhưng chúng ta có thể phỏng đóan khi  Vơ Vương đă bỏ cũ làm mới nhiều cung điện, chắc chắn nếu ông không phá bỏ hết cái Phủ Dương Xuân cũ để làm lại cái mới th́ chí ít ông cũng sửa sang lại Phủ Dương Xuân cho đẹp đẽ, khang trang, xứng đáng với những cung điện khác của ông để ông ở vào những tháng mùa đông như L.Cadière vừa nhắc trong đọan trích trên. L. Cadière  căn cứ trên Tạp chí Viễn Đông (Revue d’Extrême Orient, tome III, tr.98) để nhắc đến nhà buôn Pháp Pierre Poivre (xem A.029).

Nhà buôn Pierre Poivre

        Qua t́m hiểu được biết nhà buôn Pháp nầy đă đến xứ Đàng Trong vào cuối năm 1749, sau khi mua hàng hoá ở Hội An xong, ông lên đường ra Huế th́ gặp chúa Nguyễn và được chúa Vơ Vương tiếp đón tử tế tại cung điện Mùa Đông (tức phủ Dương Xuân) vào ngày 29-11-1749. Nhưng sau v́ sự tranh chấp, Pierre Poivre đă bắt cóc một người phiên dịch Việt Nam bỏ lên tàu chở đi. Để trừng trị, chúa Nguyễn cho áp giải giáo sĩ Pháp Lefèbre vào Tourane để đuổi theo P. Poivre và trục xuất hết các giáo sĩ khác, chỉ trừ  J. Koffler đang làm y sĩ cho chúa trong Đô thành Phú Xuân. Đến năm 1752, J.Koffler cũng bị trục xuất luôn. Sang đến Bồ Đào Nha, thủ tướng Pombal không ưa ḍng Tên nên tống giam ông vào tù. Sống trong ngục thất, J.Koffler viết bộ Sử chí xứ Đàng Trong (Description historique de la Cochinchine). Là người sống trong Đô thành Phú Xuân lâu, J.Koffler biết rất rơ các dinh điện, cung thất ở đây. Ông cho biết: “outre cette demeure royale (c’est-à-dire le grand palais), il y a encore trois autre palais... Le second, oui sert au roi de résidence d’hiver, est construit sur la rive opposée du fleuve"  [5] (Ngoài chổ ở chính của chúa (có nghĩa là cung điện lớn) c̣n có ba cung điện khác...Cái thứ hai dùng làm cung điện Mùa Đông, được xây dựng ở bên kia sông.)

          Theo Pierre Poivre th́ cung điện Mùa Đông (tức phủ Dương Xuân) được xây dựng cũng theo qui cách của điện chính (ce palais d’ hiver est construit sur le modèle du grand...)  [6] Điện chính lúc ấy là Đô thành Phú Xuân (bên trong cửa Thượng Tứ bây giờ). Trong kỷ hành (voyage) của ḿnh, P. Poivre cho biết qui mô và vị trí phủ Dương Xuân so với Điện chính ở Phú Xuân là: “le second palais, qui est plus petit, est bâti sur une élévation un peu éloignée de la rivière et n’a qu’une aile qui regarde du côté de leau. Le Roy pense l’hiver ou la saison des pluies qui dure quatre mois"  [7]

(Cung điện thứ hai nhỏ hơn, được xây dựng trên cái g̣ hơi xa sông một chút và chỉ có một cánh nh́n ra phía sông. Chúa thường ngự ở đó vào mùa đông hay mùa mưa kéo dài đến bốn tháng.)

          Pierre Poivre được chúa Vơ Vương tiếp tại Phủ Dương Xuân, ông c̣n nhớ và ghi lại mấy chi tiết sau (theo BAVH, tháng 7-9, 1925, tr.139):

"Le Roy était descendu dans une petite salle bâtie pour les audiences à la potre du Palais... Le Roy... me prit par la main et me conduitit sur une terrasse élevé à l’extrémité du Palais, vis-à-vis un grand étang... Tandis que J’étais sur la terrasse du Palais avec le Roy, des pauvres misérables se sont prosternés de l’autre côté de l’étang...se sont mis à crier de toutes leurs forces: à l’injustice, à l’injustice».

(Ngài bước xuống một căn pḥng nhỏ dùng để tiếp tân ở ngay cửa Phủ (Chứng tỏ chỗ ông ở trên cao, cửa Phủ dưới thấp - NĐX). Ông cầm tay tôi (Poivre) và dẫn tôi đến một mô đất nằm ngoài cùng của Phủ, đối diện với một cái ao...Trong lúc tôi đang ngồi trên mô đất... th́ ở phía bờ ao bên kia, một đám dân nghèo đáng thương đang rạp người cúi lạy Ngài, rồi ráng sức gào lên: bất công ! bất công !)

 Pierre Poivre đă kể cho chúng ta biết Phủ Dương Xuân là cung điện thứ hai của chúa Nguyễn Phúc Khóat. Đă là cung điện thứ hai th́ chung quanh chúa c̣n có gia đ́nh vợ con, cha mẹ, văn vơ đ́nh thần, và cả bộ máy phục dịch đông đảo. Như vậy Phủ Dương Xuân là một tiểu triều đ́nh, một cung phủ có nhiều kiến trúc phải trải ra trên một diện tích tương đối rộng.

Đến đời chúa thứ chín Nguyễn Phúc Thuần, chúa Trịnh từ Đàng Ng̣ai xua quân vào đánh chiếm Phú Xuân (1774), Phủ Dương Xuân lọt vào tay quân Trịnh. Hơn mười năm sau (1786) Phú Xuân và Phủ Dương Xuân lại chuyền qua tay Phong trào Tây Sơn. Đến đầu triều Nguyễn, Phan Huy Chú tham khảo tài liệu do cụ thân sinh Phan Huy Ích để lại viết cuốn Dư Địa Chí trong bộ  Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí. Sách Dư Địa Chí có một đọan viết về Phủ Dương Xuân và các cung điện ở bờ nam sông Hương rằng:

Nam ngạn con sông và trên mạng thượng lưu, lại có phủ Dương Xuân, điện Trường Lạc, hiên Duyệt Vơ; ấy là những ṭa nhà nguy nga, mái đao rực rỡ, có hành lang bao quanh, tường thành vây bọc; cửa ngơ mở thông ra tứ phía, được chạm trổ và trang sức rất công phu. Các ṭa nhà được xây nền bằng gạch đá rất bằng phẳng, trên lát ván gỗ kiền kiền, dưới mái nhà có máng hứng nước từ trên chảy xuống; có cây cối trồng xen cạnh, những gốc sung, xoài, cây mít lớn vừa người ôm. Trong vườn sau có núi non bộ xây với những ḥn đá lạ mắt, lại có ao vuông, hồ bán nguyệt với những cây cầu vồng và nhà hóng mát (thủy tạ) cất ở giữa hồ. Những bức tường trong tường ngoài thảy được xây dày đến vài tất, lại có những h́nh tượng, rồng, hổ, lân, phượng và hoa cỏ đắp tô bằng mảnh sứ và vôi"  [8]

Ba kiến trúc Phủ Dương Xuân (ở g̣ Dương Xuân), điện Trường Lạc và Hiên Duyệt Vơ (ở cánh đồng phía trước lăng Tuy Lư Vương, Phường Đúc ngày nay) có những  nét chung đặc biệt như thế. Cùng thời với Phan Huy Chú, các sử thần triều Nguyễn tác giả Đại Nam Thực Lục Tiền Biên (khởi thảo 1821, viết xong 1844) cũng viết : “Ở thượng lưu sông Hương lại có Phủ Dương Xuân, Điện Trường Lạc, Hiên Duyệt Vơ. Đều chạm vẽ hết sức tinh xảo. Ở vườn hậu uyển th́ có non bộ, đá lạ, hồ vuông, hào cong, cầu vồng, thủy tạ...”  [9]

            Đến đời Tự Đức soạn Đại Nam Nhất Thống chí, soạn vừa xong th́ xảy ra sự kiện thất thủ Kinh đô năm Ất dậu (1885), đời Thành Thái - Duy Tân chỉnh lư lại và khắc in (1913), ở tập Thừa Thiên Phủ (t.Thượng) bộ sách trên đă nhắc đến Phủ Dương Xuân khi viết về G̣ Dương Xuân với một thông báo hết sức khó hiểu như sau.

«G̉ DƯƠNG-XUÂN. Ở phía tây bắc huyện (Hương Thủy) 15 dặm; thế g̣ bằng thẳng rộng răi, chỗ cao chỗ thấp, la liệt dài dặc độ vài dặm; phía nam g̣ có đàn Nam-Giao (NĐX nhấn mạnh), phía tây có nhiều danh-lam-cổ-sát, cũng xưng là nơi giai thắng.

Cẩn Án: Lúc đầu bản triều khái-quốc có dựng phủ ở g̣ Dương-Xuân nầy. Đời vua Hiển-Tôn năm Canh-th́n thứ 9 (1700) trùng tu, cơ Tả-Thủy, đào đất 1 cái ấn đồng có khắc chữ: “Trấn-Lỗ Tướng-Quân chi ấn” là ấn của Trấn Lỗ Tướng-Quân, nhân đó đặt tên phủ là Ấn-phủ. Từ sau khi bị binh hỏa đến nay, chỗ ấy mất tích không biết ở vào chỗ nào (Tự kinh binh lọan kim thất kỳ xứ)  [10].

Chiến tranh với Tây Sơn (hoặc họat động trả thù Tây Sơn) đă làm cho nhiều di tích ở vùng B́nh An ngày nay bị hư hại nặng, đặc biệt là các chùa. Nhưng chỉ hư hại về kiến trúc chứ địa điểm xây dựng, nền móng của các kiến trúc ấy làm sao có thể hư hại đến mức mất tích được ? Lúc ấy chiến tranh hai bên chưa có vũ khí hủy diệt như bom nguyên tử thả xuống Hirosima và Nagasaki trong Thế chiến hai. Mà bom nguyên tử có hủy diệt người ta cũng định vị được địa điểm những kiến trúc đă có trước đó ở chỗ nào. Sau khi nhất thống được đất nước, triều Nguyễn cho trùng tu, sửa chữa hết các chùa.  V́ sao nhà Nguyễn không cho t́m và phục hồi Phủ Dương Xuân ? Hơn một thế kỷ qua chưa một nhà sử học Việt Nam và ngọai quốc nào quan tâm và đặt ra câu hỏi đó cả.

*

*         *

Qua những tư liệu trên ta có thể biết được những đặc điểm của Phủ Dương Xuân như sau:

- Nằm trên g̣ Dương Xuân, phía Bắc đàn Nam Giao, cùng hướng với Cung điện Đan Dương và chùa Thiền Lâm ;

- Được xây dựng trên cái g̣ hơi xa sông một chút; và có một cánh nh́n ra phía sông ;

- Địa thế chỗ cao chỗ thấp ;

- Nhỏ hơn cung điện chính ở Phú Xuân nhưng có nhiều kiến trúc cung, thất;

- Trong khu vực phủ có một cái ao (bờ ao bên ngoài phủ dân chúng thời bấy giờ có thể đến bái lạy kêu oan) ;

- Chúa thường ngự ở đó vào mùa đông hay mùa mưa kéo dài đến bốn tháng.

Một dinh phủ quan trọng, to lớn như thế mà có thể mất tích được sao ?

Vậy Phủ Dương Xuân ở đâu trong thực tế Phường Trường An của Thành phố Huế ngày nay ?

Phủ Dương Xuân mất tích có liên quan ǵ đến phế tích dưới nền móng chùa Thiền Lâm mà thầy Chơn Trí phát lộ đă tŕnh bày trong bài trước không ?

 


Chú thích kỳ (4)

 

[1] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Thực Lục Tiền biên, bản dịch của Viện Sử học, t.1, HN. 1962, tr. 126

[2] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Nhất Thống Chí,

[3] Bulletin des Amis du Vieux Huế (BAVH), số tháng 7-9 năm 1925, tr. 143

[4] QSQ triều Nguyễn, ĐNTL Tiền biên, bản dịch Viện Sử học, t.1, HM 1962, tr.2001

[5] Bản dịch của P.Barbier, Revue Indochinoise, t.XV và XVI, 1911

[6] BAVH, số tháng 7-9 năm 1925, tr.138

[7] BAVH.....1925, tr.138

[8]Phan Huy Chú, “Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí, t.1 Dư Địa Chí, Nguyễn Thọ Dực dịch, Phủ QVKĐTVH, Sg 1972, tr.346

[9]QSQ triều Nguyễn, ĐNTL Tiền biên, bản dịch của Viện Sử học,. HN.1962, tr.126

[10] QSQ Triều Nguyễn,  ĐNNTC, Thừa Thiên Phủ,Tập Thượng, tr.56

 

.