THƠ ĐƯỜNG

 

********

 

Nguyên văn :


Phiên âm :

BỒI TỘC

Thúc h́nh bộ thị Lang

Hoa cập trung thư giả xá nhân

Chí du Động Đ́nh hồ

Dịch :

Tiếp chú em là H́nh bộ thị Lang

Và Trung Thư xá nhân giả chí

Khi du ngoạn hồ Động Đ́nh

 

 

Nguyên văn :

西

滿

Phiên âm :

Động Đ́nh hồ Tây thu nguyệt huy

Tiêu Tương giang Bắc tảo hồng phi    

Túy khách măn thuyền ca “Bạch Trữ”

Bất tri sương lộ nhập thu y

Lư Bạch

 

Dịch :

Động Đ́nh hồ Tây, trăng thu đầy

Tiêu Tương sông Bắc chim sớm bay

Khách say đầy thuyền cá “Bạch Trữ”

Sương đẫm áo thu đâu có hay

 

Chú giải :

BẠCH TRỮ : Tên một khúc ca cổ Nhạc phủ. Bạch Trữ là vải trắng vừa thô vừa rẻ tiền, chỉ cuộc sống nghèo nàn.

Phía Tây hồ Động Đ́nh, trăng thu sáng ngời. Phía Bắc sông Tiêu Tương, chim Hồng đă sớm bay về. Trên thuyền, mọi người đều say và ca bài “Bạch Trữ” – Măi ca, không để ư rằng sương rơi đă đẫm áo thu.

 

 

 

 

 

(T.2 )

 

Nguyên văn :

                                

                       

                       

             

               

                                               

Phiên âm :

LƯƠNG CHÂU TỪ     

Bồ đào (1) mỹ tửu dạ quang bôi (2)   

Dục ẩm tỳ bà mă thượng thôi (3)        

Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu      

Cổ lai chinh chiến kỷ (4) nhân hồi       

Vương Hàn         

Dịch :

CA KHÚC LƯƠNG CHÂU

I. Bồ Đào lưng chén dạ quang

Muốn dùng, đàn đă dục vang lên đường

Đừng cười say chốn xa trường

Xưa nay chinh chiến hồi hương mấy người

II. Chén dạ quang chứa lưng rượu Bồ Đào thơm phức

Muốn thưởng mùi, tiếng đàn đà rộn khúc quân hành

Cười mà chi !

Nơi sa trường, ta say giấc ngủ an lành

Tự muôn thuở chiến chinh, mấy ai đi ḥng trở lại ?

QL tử

Chú giải :

(1)    Bồ Đào : Rượu nho miền Tây vực, phía T-TB Trung Hoa.

(2)    Dạ quang bôi : Chén ngọc tỏa ánh sáng về đêm.

(3)    Thôi : Dục dă, thôi thúc.

(4)    Kỷ : Đă có bao nhiêu, bao nhiêu.

 

CÂU (1 – 4) : Rượu quư Bồ Đào (rót ra; uống bằng) chén ngọc dạ quang. Vừa muốn (nâng chén để) uống th́ tiếng đàn (nhạc trận) Tỳ Bà đă giục (người chiến sĩ) lên ngựa ra đi. Xin ai nấy chớ cười ta khi ta say vùi và nằm ngủ nơi giữa băi chiến trường. (Thử hỏi) : Xưa nay, kẻ chiến sĩ một khi ra trận th́ đă mấy ai về ?

 

 

 

(T.3)

 

Nguyên văn :

                          

             

               

               

               

Phiên âm :

PHÙ DUNG LÂU TỐNG TÂN TIỆM

Hàn vũ liên giang, dạ nhập Ngô

B́nh minh tống khách Sở, sơn cô      

Lạc Dương thân hu như tương vấn    

Nhất phiến băng tâm tại Ngọc Hồ       

Vương Xương Linh      

 

Dịch :LẦU PHÙ DUNG, TIỄN TÂN TIỆM

Sông lạnh, đêm mưa đến đất Ngô

Sớm đưa khách Sở, núi đơn cô

Lạc Dương, bè bạn, ai thăm hỏi ?

“Giá lạnh ḷng ta, chốn Ngọc Hồ”

QL tử

CÂU (1 – 4) : Mưa lạnh trên sông dài (thuyền) đến (địa phận) nước Ngô. Buổi sớm mai, tiễn đưa bạn về đất Sở, cảnh trí non nước cô liêu. Nếu như bạn bè ở Lạc Dương có hỏi [(ta về chuyện chính trường; chuyện triều đ́nh…)] (th́, xin thưa rằng) ḷng tôi đă lạnh ngắt như dải băng tại chốn Ngọc Hồ ! (tuyệt nhiên chẳng c̣n màng danh lợi)].

 

 

 

(T.4)

 

 Nguyên văn :

                  

             

                       

             

             

                                  

 

Phiên âm :

KHUÊ OÁN                      

Khuê trung thiếu phụ bất tri sầu,

Xuân nhật ngưng trang, thượng thúy lâu

Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc

Hối giao phu tế mịch phong hầu

Vương Xương Linh

Dịch :

CẢNH PH̉NG KHUÊ

Thiếu phụ pḥng khuê chửa biết sầu

Ngày xuân trang điểm vội lên lầu

Nhác coi hàng liễu xanh xanh rủ

Mới tiếc chàng sao kiếm tước hầu !

QL tử

Chú giải :

KHUÊ : Pḥng phụ nữ (sang trọng). MẠCH : Đường nhỏ. MỊCH : T́m kiếm. HẦU : Tước vị thứ nh́ trong năm tước : (Vương), Công Hầu, Bá, Tử, Nam. Những tước vị này được đặt chung với địa danh nơi sinh quán người được phong; hoặc địa danh nơi đất đai nhà vua cấp cho người được phong. Ví dụ : Vị Xuyên Bá là Ông Bá Tước làng Vị Xuyên, Triều Đ́nh bên Âu Châu cũng có những tước vị giống hệt như thế. Ví dụ : DUC D’ ORLEAN: Công tước thành D’ Orlean.

Duc (F) or Duck (E) = Công. Marquis = Hầu. Comte (F) or Count (E) = Bá. Vicomte (F) or Viscount (E) = Tử. Baron = Nam.

Ví dụ : “La Marquise de Sevigne” là “Bà Hầu Tước Sevigne” (theo tước chồng là “Marquis de Sevigne”). Những tước vị đều hoàn toàn giống nhau, bên Âu cũng như bên Á, lề lối phong tước cũng hoàn toàn giống nhau. Câu hỏi : Vậy bên nào : Âu hay Á đặt ra trước những vị này ?

 

 

 

 

(T.5)

 

Nguyên văn :

                                      

             

             

             

             

Phiên âm :

MANG SƠN                   

Bắc Mang Sơn hạ, liệt phần doanh

Vạn cổ thiên thu, đối Lạc Thành        

Thành trung nhật tịch ca chung khởi

Thử sơn duy văn tùng bách thanh

Trầm T. Kỳ        

Dịch :

MANG SƠN                

Bắc Mang la liệt mộ bao quanh

Vạn cổ ngàn thu đối Lạc Thành

Thành nội ca vang, chuông sớm tối

Non xanh, tùng bách vẳng âm thanh

QL tử

Chú giải :

MANG SƠN : Núi gần Lạc Dương, có nhiều lăng tẩm đời Hán và mồ mả danh thần đời Đường.

CÂU (1 – 4) : Phía Bắc, dưới núi Mang Sơn có rất nhiều mồ mả la liệt cả vùng. (Những nấm mồ này) nằm đối diện Lạc Thành măi ngàn thu. Trong thành, tiếng chuông, tiếng ca hát vang lên ngày đêm, sớm tối. Riêng tại núi này, chỉ nghe thấy tiếng thông, tiếng tùng reo vi vút (hai đối tượng : sống động và u tịch – thực và ảo).

 

 

(T.6)

 

 

Nguyên văn :                          

                                

            

                      

            

            

Phiên âm :

TỐNG LƯƠNG LỤC         

Ba Lăng nhất vọng Động Đ́nh thu     

Nhất kiến Cô Phong thủy thượng phù

Văn đạo thần tiên bất khả tiếp

Tâm tùy hồ thủy cộng du du    

Trương Duyệt                    

Dịch :

TIỄN LƯƠNG LỤC

Ba Lăng xa ngấm Động Đ́nh hồ

Trông thấy Cô Phong, nước nhấp nhô

Nghe nói thần tiên đâu dễ gặp

Ḷng ta : mây nước cơi hư vô

QL tử

Chú giải :

BA LĂNG : Tên Quận huyện, nay là Nhạc Châu phủ, thành Nhạc Dương. CÔ PHONG : tức CÔ SƠN, tức QUÂN SƠN là tên ngọn núi đứng đơn độc giữa hồ Động Đ́nh.

CÂU (1 – 4) :  Khi phóng tầm con mắt nh́n về hồ Động Đ́nh, từ Ba Lăng, th́ nh́n ngay thấy núi Cô Phong (chung quanh) sóng nước dập d́nh, sóng vỗ. Nghe nói, chẳng dễ ǵ mà gặp được thần tiên đâu. Tấm ḷng ta cũng trôi nổi đầy vơi chẳng khác ǵ sông nước đầy vơi.

 

 

 

(T.7)

 

Nguyên văn :                 

                           

             
             
             
             

Phiên âm :

HỒI HƯƠNG NGẪU THƯ

Thiếu tiểu ly gia, lăo đại hồi

Hương âm vô cải, mấn mao thôi         

Nhi đồng tương kiến bất tương thức

Tiếu vấn khách ṭng hà xứ lai ?

Dịch :

TRỞ LẠI QUÊ NHÀ, NGẪU HỨNG

Xưa kia, c̣n trẻ lên đường

Về già, nhớ đến quê hương, trở về

Hàn huyên, cũng vẫn giọng quê

Mà nay râu tóc năo nề : trắng phau !!!

Trẻ con cười nói với nhau

Hỏi rằng : “Già đến từ đâu ! hỡi già ?!?!

QL tử

 

 

(T.7.2)

 

Nguyên văn :

                          

                                          

            

            

            

    

Phiên âm :

HỒI HƯƠNG NGẪU THƯ

Ly biệt gia hương tuế, nguyệt đa

Cận lai nhân sự bán tiêu ma

Duy hữu môn tiền kính hồ thủy

Xuân phong hạ cải cựu thời ba

Hạ Tri Chương                           

Dịch :

 

Chú giải :

CÂU (1 – 4) : Rời nhà lúc c̣n nhỏ bé, đến già mới trở về. Giọng nói nơi quê không thay đổi, (c̣n ta th́) râu tóc đă đổi màu. (Gặp) đám trẻ nít nh́n nhau, mà chẳng biết ḿnh là ai ! Chúng cười hỏi : “Cụ từ đâu tới, hả cụ ?!?!?

Xin in lại sau đây vài bản dịch khác, để độc giả tiện khảo cứu hoặc sưu tra.

Bản dịch của Học giả TRẦN TRỌNG KIM :

 

VỀ NHÀ NGẪU VIẾT

Bé đi, già mới về nhà

Tiếng quê vẫn thế, tóc đà rụng thưa

Trẻ con trông thấy hững hờ

Cười ồ hỏi khách lại từ phương nao ?!?

Bản dịch của Ô. LÊ NGUYÊN LƯU

Đi thuở c̣n thơ, lại đă già,

Giọng quê không đổi, tóc sương pha.

Bạn kia từng gặp nay quên mất,

Cười hỏi : “Người đâu mới tới à ?”

Bản dịch của Ô. CHI ĐIỀN

VỀ LÀNG NGẪU HỨNG

Tuổi trẻ ra đi, già trở lại

Giọng quê không đổi, tóc pha sương

Thiếu niên gặp gỡ không ai biết

Cười hỏi từ đâu, khách viễn phương ?

 

 

 

(T.8)

 

Nguyên văn :                          

                                      

                                 

             

            

            

            

Phiên âm :

MỘ XUÂN QUY CỐ

SƠN THẢO ĐƯỜNG

Cốc khẩu xuân tàn, hoàng điểu hi

Tân di hoa tận hạnh hoa phi

Thỉ liên u trúc sơn song hạ

Bất cải thanh âm đăi ngă quy

Tiền Khởi

Dịch ư:

VỀ NƠI NHÀ CỎ NÚI XƯA, VÀO MỘT CHIỀU XUÂN MUỘN

Xuân tàn, cốc khẩu quạnh hiu

Chim oanh chẳng thấy dập d́u đón đưa

Tân di hoa rụng bao giờ

Mấy chùm hoa hạnh cũng trơ cánh vàng

Luống thương khóm trúc mơ màng

La đà vách núi bên hàng song thưa

Dăi dầu bao quản nắng mưa

Vẫn hằng rủ bóng như chờ đợi ta

QL tử

Chú giải :

CÂU (1 – 4) : Vào (ngày) xuân muộn, bên lạch suối, chim oanh vàng thưa thớt. Hoa Tân Di (hoa nở về mùa xuân) đă tàn, hoa hạnh cũng chẳng c̣n. Chỉ đáng thương đám trúc (quạnh hiu, lẻ loi) dưới hàng cửa sổ; vẫn thanh ấy, sắc ấy chờ đón ta về.

 

 

(T.9)

 

Nguyên văn :                          

                          

            

            

            

            

Phiên âm :

HỌA LUYỆN TÚ TÀI DƯƠNG LIỄU

Thủy biên Dương liễu lục yên ti

Lập mă phiền quân chiết nhất chi

Duy hữu xuân phong tối tương tích

Ân cần cánh hướng thủ trung xuy

Dương Cự Nguyên

Dịch :

HỌA BÀI DƯƠNG LIỄU CỦA LUYỆN TÚ TÀI

Bên bờ, tơ liễu rủ xanh xanh

Dừng ngựa, làm ơn bẻ một cành

Gió xuân sao măi c̣n thương tiếc

Trong tay, c̣n động mối tơ mành

QL tử

Chú giải :

CÂU (1 – 4) : Bên sông hàng liễu xanh lả lướt như tơ, làm ơn dừng ngựa bẻ cho một cành. Chỉ có gió xuân là c̣n quyến luyến măi, nằm trong tay mà cành liễu vẫn la đà.

(REF : chiết liễu = Theo tích cổ : bẻ cành liễu đem tặng bạn lên đường).

 

 

 

(T.10)

 

 

Nguyên văn :

                                

             

             

             

             

Phiên âm :   

CUNG TRUNG TỪ

Tịch tịch hoa thời bế viện môn

Mỹ nhân tương tịnh lập quỳnh hiên

Hàm t́nh dục thuyết cung trung sự

Anh vũ tiền đầu bất cảm ngôn

Chu Khánh Dư

Dịch :

TÂM SỰ U ẨN NGƯỜI CUNG NỮ

Đóng cửa cài then, trộm ngắm hoa

Ngoài hiên quỳnh nở, bạn cùng ta

Ôm bầu tâm sự, toan vừa nói

Anh vũ lại ca, nói chẳng ra

QL tử

Chú giải :

CÂU (1 – 4) = Đóng cửa lại, rồi lặng lẽ ngắm hoa. Cùng người bạn (tức hai mỹ nhân) cùng đứng chơi ở hiên quỳnh; cả hai đều muốn bộc lộ với nhau tâm sự u ẩn trong ḷng, (nhưng) thấy con chim oanh, lại chẳng (dám) nói nữa. [(Cung cấm là nơi nghiêm ngặt, kỷ luật se sắt, phải tuyệt đối giữ ǵn lời ăn tiếng nói; đến trông thấy con chim mà c̣n phải sợ)].

 

 

(T.11)

 

Nguyên văn :                           

                                

              

             

             

             

   

Phiên âm :

KIM LŨY

Khuyến quân mạc tích kim lũ y

Khuyến quân tích thủ thiếu niên th́

Hoa khai kham chiết trực tu chiết

Mạc đăi vô hoa không chiết chi !

Đỗ Thu Nương

Dịch I – II & III :

ÁO TƠ VÀNG

I. Khuyên chàng đừng tiếc áo tơ vàng

Hăy tiếc tuổi son, kẻo lỡ làng !

Hoa nở trên cành sao chẳng hái

Bẻ cành hoa rụng, há bẽ bàng !!

II. Tiếc chi tấm áo tơ vàng                          

Có chăng tiếc tuổi của nàng c̣n xanh     

Bẻ hoa đương nở trên cành                     

Đừng chờ hoa rụng, bẻ cành trơ không ! 

III. Cớ sao tiếc áo tơ vàng ?

Thiếp thời đương độ sao chàng thẳng thương

Hoa hàm tiếu, đẹp khôn lường

Lại chờ hoa rụng đầy đường mới xin !

QL tử

 

Chú giải :

Đổ Thu Nương là Nữ sĩ đời Đường, làm lẽ Quan Tiết Độ Sứ Lư Kỳ và thường hát bài này mỗi khi hầu rượu chồng. Sau, Lư Kỳ làm phản và bị giết, vua xung nàng vào cung để dạy học các cung phi.

CÂU (1 – 4) = (Thiếp) khuyên chàng đừng tiếc áo tơ vàng. (mà) tiếc cái thuở đương th́ (của nàng con gái.) Lúc hoa đương độ có thể hái được, sao không hái ? Đừng chờ hoa rụng mà bẻ cảnh không !

 

 

 

(T.12)

 

 

Nguyên văn :

                               

            

            

            

            

Phiên âm : 

BẠC TẦN HOÀI

Yên lung hàn thủy, nguyệt lung sa

Dạ bạc Tần Hoài cận tửu gia

Thương nữ bất tri vong quốc hận

Cách giang do xướng Hậu-Đ́nh Hoa

Đỗ Mục

Dịch :

THUYỀN NEO BẾN TẦN HOÀI

Trăng nước lạnh lùng, băi cát dài

Neo thuyền đêm quạnh, bến Tần Hoài

Ca nhi nào hiểu niềm vong quốc

Hát khúc Hậu-Đ́nh rất chối tai

QL tử

Chú giải :

TẦN HOÀI : Tên sông ngoài thành Nam Kinh. HẬU Đ̀NH Hoa : Khúc hát do Hậu Chủ sáng tác khi c̣n tại vị (Trần Hậu Chủ v́ dâm ô và bạo ngược nên mất nước. Sau này, ca nhi vẫn hát bài ca đó là trái lẽ).

CÂU (1 – 4) : Nước lạnh chảy róc rách (bên thuyền) bóng trăng chiếu mờ mờ trên cát. Ban đêm neo thuyền trên bến Tần Hoài, cạnh quán rượu. Mấy ca nhi đâu hiểu niềm oán hận mất nước và cứ hát măi khúc Hậu Đ́nh Hoa, tiếng hát vẳng từ bên sông, là trái lẽ !

 

 

(T.13)

 

Nguyên văn :

                                               

             

             

             

             

Phiên âm :     

KHIỂN HOÀI

Lạc phách giang hồ, tái tửu hành

Sở yêu tiêm tế, chưởng trung khinh

Thập niên nhất giác Dương Châu mộng

Doanh đắc thanh lâu, bạc hănh danh

Đỗ Mục

Dịch :

GIẢI SẦU

Bạt mạng giang hồ, rượu một b́nh

Lưng thon gái Sở, nhẹ tênh tênh

Dương châu tỉnh mộng mười năm cũ

Lưu tiếng bạc t́nh, măi để danh

QL tử

Chú giải :

SỞ YÊU : Vua nước Sở chỉ chuộng cung nữ nào có lưng eo (rất thon, mảnh mai). Đời sau, cứ nói đến lưng thon th́ gọi là “Sở yêu”. CHƯỞNG TRUNG KHINH = Nàng Triệu Phi Yến đời Hán nổi tiếng đẹp v́ thân thể nhẹ nhàng, đi lại nhẹ nhàng; nhẹ đến nỗi như có thể đứng múa hát trên bàn tay lực sĩ ! DƯƠNG CHÂU = nơi Đỗ Mục lúc đương thời làm thứ Sử, vùng đất ngày nay bao gồm những tỉnh : Giang Tô, Giang Tây, Chiết Giang, Phúc Kiến.

CÂU (1 – 4) :  Con người giang hồ “lạc phách” (bạt mạng, vía cũng cho rơi : bạt phong long thổ, không coi ǵ là trọng !) đi đâu cũng mang b́nh rượu kè kè ! (chỉ yêu những mỹ nữ như) những cung phi nước Sở có lưng eo, người mảnh mai có thể nhảy múa trên ḷng bàn tay người lực sĩ ! Mười năm trôi mau mới chợt nhớ ra (cuộc sống) nơi Dương Châu chỉ là một giấc mộng, c̣n ǵ nữa đâu ! Có chăng chỉ c̣n được tăm tiếng là kẻ bạc t́nh nơi chốn lầu xanh !

 

 

(T.14)

 

Nguyên văn :

                      

             

             

             

             

Phiên âm :      

HOÀI THƯỢNG BIỆT CỐ NHÂN

Dương Tử giang đầu, dương liễu xuân

Dương hoa sầu sát độ giang nhân

Sổ thanh phong địch ly đ́nh văn

Quân hướng Tiêu Tương, ngă hướng Tần

Trịnh Cốc

Dịch I & II :

TỪ BIỆT BẠN CŨ NƠI BẾN HOÀI

I.   Dương Tử bên bờ, dương liễu xuân

Hoa dương súc động khách sang sông

Sáo chiều chợt vẳng ly đ́nh quán

Kẻ hướng Tiêu Tương, kẻ hướng Tần

II. Ngày xuân, dương liễu xanh xanh

Bóng in Dương Tử đầu ghềnh sông sâu

Qua sông, người đă u sầu

Hoa dương c̣n muốn giết bầu tâm can

Ly đ́nh dưới bóng chiều tàn

Thoảng nghe tiếng địch mơ màng đâu đây…

Đường Tần lầm lũi bóng gầy

Tiêu Tương lủi thủi, vơi đầy biệt ly

QL tử

Chú giải :

HOÀI THỦY : con sông phát nguyên từ dăy núi tỉnh Hà Nam, chảy qua tỉnh An Huy, Qua hồ Hồng Trạch địa phận tỉnh Giang Tô rồi ra biển. TIÊU TƯƠNG : sông do hai sông Tiêu và Tương hợp thành. TẦN : nước Tần.

CÂU (1 – 4) = Hàng Dương liễu trên đầu sông Dương Tử vào ngày xuân. Hoa dương liễu (rơi rụng tơi tả) (khiến) khách qua sông buồn thấu ruột thấu gan (sầu sát). Chợt nghe vài tiếng sáo (từ) quán chia tay (ly đ́nh) vào lúc chiều tà. Bạn đi về hướng Tiêu Tương, tôi về Tần.

 

 

(T.15)

 

Nguyên văn :  

                           

             

             

             

             

        

Phiên âm :

ĐÔNG DƯƠNG TỬU GIA TẶNG BIỆT

Thiên nhai phương thán dị hương thân

Hựu hướng thiên nhai biệt cố nhân

Minh nhật ngũ canh cô điếm nguyệt

Túy tỉnh hà xứ các triêm cân

Vi Trang

Dịch III & III :

CHIA TAY NƠI QUÁN ĐÔNG DƯƠNG

I.  Chân trời góc bể nghĩ thương thân

Lại hướng chân trời, biệt cố nhân

Sớm dậy lên đường, trăng quán lạnh

Say say tỉnh tỉnh lệ đầy khăn

II. Sớm mai thổn thức đầy vơi                     

Chia tay quán lạnh, nước trôi trăng mờ    

Say say tỉnh tỉnh như mơ                                 

Ai không lệ chảy ơ hờ thấm khăn            

III. Long đong góc bể chân trời

Thương ḿnh lận đận xa vời cố hương

Lại chia tay bạn lên đường

Lại t́m góc bể về phương chân trời

QL tử

Chú giải

CÂU (1 – 4) = Ở chốn chân trời, (ta) vừa than thân đang ở nơi xa quê; (Thế mà lại phải) hướng về chốn chân trời ra đi mà biệt cố nhân vào canh năm ngày mai nơi quán trọ lẻ loi dưới bóng trăng thanh. Trong t́nh huống này, th́ dù ở nơi nào cũng vậy, dù tỉnh hay say, ai cũng phải rỏ lệ ướt khăn.

 

 

 

(T.16)

 

 

Nguyên văn :

                           

             

滿              

             

             

Phiên âm :

XUÂN DẠ LẠC THÀNH VĂN ĐỊCH

Thùy gia ngọc địch ám phi thanh

Tán nhập xuân phong măn Lạc thành

Thử dạ khúc trung văn chiết liễu

Hà nhân bất khởi cố viên t́nh

Dịch :

ĐÊM XUÂN NGHE TIẾNG SÁO Ở THÀNH LẠC DƯƠNG

Nhà nao tiếng sáo vẳng âm thanh

Quyện gió xuân sang phủ Lạc thành

Đêm vắng có ai nghe chiết liễu

Niềm quê khỏi chạnh mối tơ t́nh

QL tử

Chú giải :

LẠC THÀNH = tức kinh đô Lạc Dương. CHIẾT LIỄU = theo tích, bẻ cành liễu tặng bạn dùng làm roi ngựa lên đường xa.

CÂU (1 – 4) : Tiếng sáo ngọc thổi từ nhà nào vẳng đến, (rồi) ḥa tan vào gió xuân mà lan khắp thành Lạc Dương. (Cho nên) đêm nay nghe rứt bài “Chiết Liễu” th́ có ai khỏi chạnh niềm quê ?

 

 

 

(T.17)

 

Nguyên văn :

                                    

滿             

            

            

            

Phiên âm : 

PHONG KIỀU DẠ BẠC

Nguyệt lạc ô đề sương măn thiên

Giang phong ngư hỏa đối sầu miên

Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự

Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền

Trương Kế

Dịch I – II :

ĐÊM VẮNG NEO THUYỀN NƠI BẾN PHONG KIỀU

I.  Tiếng quạ kêu sương bóng nguyệt mờ     

Hàng cây, đốm lửa luống sầu mơ            

Cô Tô chợt vẳng chuông thành ngoại               

Tự nẻo Hàn San đến khách thơ                         

II. Sương tơi tả, quạ than trăng rụng

Đèn hắt hiu sầu bóng hàng cây

Cô Tô, chuông vẳng canh chầy

Tự Hàn Sơn tự thoảng bay đến thuyền

QL tử

Chú giải :

PHONG KIỀU = một địa danh tại Ngô Huyện, tỉnh Giang Tô… CÔ TÔ = tên núi gần Phong Kiều (thời chiến quốc, vua Ngô Phù Sai xây một cung điện nguy nga ở đây cho nàng Tây Thi ở). HÀN SAN = ngôi chùa phía tây Phong Kiều.

CÂU (1 – 4) = Trăng tàn, quạ kêu, sương phủ đầy trời. Những hàng cây phong và những đốm lửa ở những thuyền chài gợi mối sầu miên man. Ngoài thành Cô Tô, (có) ngôi chùa Hàn San vào nửa đêm, tiếng chuông chùa vẳng đến khách dưới thuyền.

Bài này, v́ là một bản văn tuyệt bút, nên đă có nhiều vị dịch ra quốc văn, mỗi người một thể thơ. Xin in dưới đây vài bản để rộng đường tham khảo.

BẢN DỊCH CỦA TẢN ĐÀ

Trăng tà tiếng quạ kêu sương

Lửa chài, cây bến, sầu vương giấc hồ

Thuyền ai đậu bến Cô Tô

Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San

BẢN DỊCH CỦA TRẦN TRỌNG KIM

Quạ kêu, trăng lặn sương rơi

Lửa chài cây băi đối người nằm co

Con thuyền đậu bến Cô Tô

Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San

BẢN DỊCH CỦA TRẦN TRỌNG SAN

Trăng tà, tiếng quạ lẫn hơi sương

Sầu đượm hàng phong giấc lửa chài

Ngoài ải Cô Tô, chùa vắng vẻ

Nửa đêm chuông vẳng đến thuyền ai

BẢN DỊCH CỦA LÊ NGUYỄN LƯU

Sương mờ, quạ dục ánh trăng phai

Cây bến sầu mơ, ngọn lửa chài

Ngoài ngơ Cô Tô, chùa núi lạnh

Nửa đêm chuông vọng tới thuyền ai.

 

* * *

Vài câu chuyện liên quan đến bài thơ của Trương Kế. a/ Nguyệt lạc, tức trăng tàn, đă về sáng. Vậy không phải ½ đêm. Vậy sao gọi : Dạ bán ? Có truyền thuyết kể rằng : Khi tác giả làm được hai câu đầu th́ bí vận. Chợt có tiếng chuông chùa vẳng lại, và Trương Kế làm nốt được bài thơ đáng lưu hậu thế. Vẫn theo truyền thuyết th́ câu chuyện được tiếp nối như sau. Cũng đêm đó, sư cụ chùa Hàn San làm được hai câu thơ :

Sơ tam sơ tứ, nguyết mông lung

Bán tự ngân câu, bán tự cung

rồi sư cụ cũng bí vận và cụ kể cho chú tiểu đứng hầu. V́ ngẫu hứng, chú làm tiếp được hai câu cuối bài tứ tuyệt :

Nhất phiến ngọc hồ phân lưỡng đoạn

Bán tiềm thủy để, bán thiên không

 

(Trăng mồng ba mồng bốn mờ mờ, ½ giống móc câu ½ giống vành cung. Mảnh ngọc hồ chia hai’ ½ ch́m đáy nước và ½ lơ lửng trên không). Sư cụ rất hài ḷng đă hoàn tất được bài thơ và bảo chú tiểu gióng một hồi chuông để sư cụ tạ ơn Phật Tổ đă phù hộ độ tŕ qua cơn bí vận. V́ có tiếng chuông lúc trăng tà, nên Trương Kế mới hoàn tất được bài thơ bí vận.

Tất cả chỉ là truyền thuyết, chẳng có ǵ đáng tin, và có lẽ cũng chẳng nên lưu tâm làm ǵ đến những chi tiết nhỏ nhặt làm chi !

 

 

 

(T.18)

 

Nguyên văn :

                      

             

             

             

             

Phiên âm :

ĐỀ TÍCH SỞ KIẾN XỨ

Khứ niên kim nhật thử môn trung

Nhân diện đào hoa tương ánh hồng

Nhân diện bất tri hà xứ khứ

Đào hoa y cựu tiếu xuân phong

Thôi Hộ

Dịch :

ĐỀ THƠ CHUYỆN NĂM TRƯỚC

Cửa này, năm ngoái ngày nào

Mặt hoa sánh với hoa đào thêm tươi

Mặt hoa nay vắng bóng rồi

Hoa đào năm ngoái c̣n cười gió đông

QL tử

Chú giải :  

SỰ TÍCH kể rằng : Năm trước, Thôi Hộ đi chơi qua một nhà có vườn đào nở hoa rất đẹp, xin vào xem hoa. Một mỹ nhân ra tiếp. Năm sau trở lại, chẳng thấy mỹ nhân, liền làm bài thơ này và dán vào cửa. Ít lâu sau, được biết, nàng xem thơ rồi cứ chờ mong, tương tư, đau sắp chết. Chàng vào thăm, Nàng tỉnh lại và sau, hai người cùng sánh duyên giai ngẫu !

 

 

 

(T.19)

 

Nguyên văn :

                                    

滿              

            

            

            

Phiên âm : 

THÍNH GIÁC TƯ QUY

Cố viên hoàng diệp măn thanh đài

Mộng phá thành đầu hiểu giác ai

Thử dạ đoạn trường nhân bất kiến

Khởi hành tàn nguyệt ảnh bồi hồi

Cố Huống

Dịch :

NGHE TIẾNG TÙ VÀ, NGHĨ MUỐN TRỞ VỀ

Rêu xanh ngập lá vàng rơi

Vườn xưa lối cũ thêm khơi mối sầu

Tù và rúc chốn thành đầu

Làm tan giấc mộng, âu sầu dưới trăng

QL tử

Chú giải :

GIÁC = Tù và.

CÂU (1 – 4) : Lá vàng phủ kín rêu xanh nơi vườn cũ. Buổi sáng (hiểu), tiếng tù và buồn bă ở đầu thành làm tan giấc mộng. Đêm nay buồn đứt ruột (mà) chẳng thấy ai. Người ra đi dưới bóng trăng tàn, h́nh bóng (bóng dáng = ảnh) (coi) buồn hiu hắt.

 

 

 

(T.20)

 

Nguyên văn :

                      

             

             

             

             

                                

Phiên âm :

LÂM GIANG TỐNG HẠ CHIÊM

Bi quân lăo biệt lệ triêm cân

Thất thập vô gia vạn lư thân

Sầu kiến chu hành phong hựu khởi

Bạch đầu lăng lư bạch đầu nhân

Bạch Cư Dị

Dịch :

BÊN SÔNG TIỄN HẠ CHIÊM

Bạn già ly biệt, lệ đầy khăn,

Góc bể chân trời, bảy chục xuân.

Gió lộng, đưa thuyền, buồn hiu hắt,

Bạc đầu như sóng, tóc phai lần

QL tử

Chú giải :

CÂU (1 – 4) = Thương bạn già lúc chia tay, lệ ướt khăn. Bẩy mươi tuổi rồi, không nhà, xa quê hàng vạn dặm. Buồn thấy thuyền trên sông (khi) gió nổi dậy. Sóng bạc đầu (trắng xóa) như tóc ḿnh.

 

 

(T.21)

 

Nguyên văn :

                                

             

             

使              

             

Phiên âm :

KHÁCH TRUNG TÁC

Lan Lăng mỹ tửu, uất kim hương

Ngọc uyển thính lai hổ phách quang

Đăn sử chủ nhân năng túy khách

Bất tri hà xứ thị tha hương

Lư Bạch

Dịch :

BÀI THƠ NƠI ĐẤT KHÁCH

Lan Lăng rượu quư uất kim hương

Hổ phách in màu, chén dạ quang

Nếu muốn khách say vừa ư chủ

Khách nào than thở cảnh tha hương

QL tử

Chú giải :

LAN LĂNG = một địa danh tỉnh Sơn Đông, nơi sản xuất rượu ngon có tiếng. UẤT KIM = loại cỏ có hoa rất thơm.

CÂU (1 – 4) = rượu ngon vùng Lan Lăng mùi vị hoa Uất Kim, đựng trong chén ngọc sáng rực màu hổ phách. Ví bằng chủ nhân ưa mời khách uống cho say; th́ khách sẽ chiều ḷng chủ và chẳng than thở ǵ cảnh xa quê ! (Sao Lư Bạch khôn thế!)

 

 

(T.21)

 

Nguyên văn :

                                     

             

             

滿 殿              

             

 

Phiên âm : 

VIỆT TRUNG LĂM CỔ

Việt Vương Câu Tiễn phá Ngô quy

Nghĩa sĩ hoàn gia tận cẩm y

Cung nữ như hoa măn xuân điện

Chỉ kim duy hữu chá cô phi

Lư Bạch

Dịch :

NGẮM CẢNH CŨ NƯỚC VIỆT

Phá Ngô, Câu Tiễn trở về trào

Vơ vơ văn văn chức cẩm bào (1)

Điện ngọc dập d́u đầy mỹ nữ

Mà nay chỉ thấy chá cô sao ?

QL tử

Chú giải : 

CÂU (1-4) : diệt nước Ngô rồi, Câu Tiễn đem quân về. Chiến sĩ về nhà, mặc toàn gấm vóc. Trong cung điện, những cung nữ đẹp như hoa đầy dẫy. Ngày nay chỉ thấy chim chá cô bay nhảy ! [(thời Chiến quốc, Câu Tiễn thua quân Ngô Phù Sai ở trận Cối Kê, phải đem thân sang Ngô làm kiếp tù đầy, chịu nhiều điều nhục nhă. Hai mươi năm sau, Câu Tiễn phục hận, diệt được nước Ngô và đức Vua Ngô Phù Sai phải tự ải. Nước Việt trung hưng, được làm Bá Chư hầu phương Nam… Nhưng, sau những biến thiên, rồi nước Việt cũng suy tàn, cung điện nguy nga đă thành băi g̣ hoang cho chim chóc bay nhảy)].

 

Chú thích (1) : Câu 2 trong bản dịch là nguyên văn câu đầu trong một bài thơ của vua Thành Thái làm khi tại vị, thời Pháp thuộc. Nhà vua nh́n văn vơ bá quan lộng lẫy triều phục mà cảm cảnh đất nước đang trong ṿng nô lệ.

 

 

(T.21)

 

Nguyên văn :

                                     

             

             

             

             

                                      

Phiên âm :

TỐNG VŨ VĂN LỤC

Hoa ánh thùy dương khê thủy thanh

Vi phong lâm lư nhất chi khinh

Tức kim Giang Bắc hoàn như thử

Sầu sát Giang Nam ly biệt t́nh

Thường Kiến

Dịch :

TIỄN ĐƯA VŨ VĂN LỤC

Hoa thắm liễu buồn, nước suối trong

Gió vờn lay động lá rừng phong

Hôm nay Giang Bắc buồn thê thiết

Mai xuống Giang Nam luống năo ḷng

QL tử

Chú giải :

SÀU SÁT : Ref bài “Hoài thương biệt cố nhân” của Trịnh Cốc, với câu (2) : “Dương hoa sầu sát độ giang nhân” +

CÂU (1 – 4) = Ánh hoa tươi thắm khoe tươi dưới hàng liễu rủ, bên ḍng nước suối trong veo. Làn gió nhẹ thổi vào hàng cây, lay động một nhánh cây nhỏ bé. Hôm nay ở Giang Bắc, cảnh vật và tâm hồn buồn như thế, th́ xuống Giang Nam, cảnh ly biệt c̣n thêm buồn đứt ruột đứt gan.

 

 

 

(T.21)

 

Nguyên văn :

                                

              

             

             

             

 

Phiên âm : 

TỐNG LƯƠNG LỤC         

Ba Lăng nhất vọng Động Đ́nh thu     

Nhất kiến Cô Phong thủy thượng phù 

Văn đạo thần tiên bất khả tiếp

Tâm tùy hồ thủy cộng du du    

Trương Duyệt

Dịch :

TIỄN ĐƯA LƯƠNG LỤC

Ba Lăng ngắm cảnh Động Đ́nh thu

Sớm thấy non cao trước mặt hồ

Nghe nói thần tiên không thể gặp

Bâng khuâng bến nước dạ ṿ tơ

QL tử

Chú giải :

ĐỘNG Đ̀NH =  một hồ lớn rất rộng, nổi tiếng là danh lam thắng cảnh thuộc phủ Nhạc Châu tỉnh Hồ Nam nối liền với các sông : Nguyên, Tiêu, Tương và Mịch La rồi thoát ra Trường Giang tức sông Dương Tử (hồ Động đ́nh nối với hồ Thanh Thảo vùng Ba Khâu, gần đầm Vân Mộng, cũng một địa danh nổi tiếng).

CÂU (1 – 4) = Vào một mùa thu, từ Ba Lăng nh́n về hồ Động Đ́nh. Ban ngày thấy rơ một ngọn núi chơ vơ trên mặt nước. Nghe nói có thần tiên mà không thể gặp được. (nh́n) mặt nước hồ thu mà ḷng bâng khuâng (với cảnh với người).

 

 

 

(T.25)

 

Nguyên văn :

                                               

             

             

             

             

                                 

Phiên âm :

XUẤT TÁI

Hoàng Hà viễn thượng bạch vân gian

Nhất phiến cô thành vạn nhận san

Khương địch hà tu oán dương liễu

Xuân phong bất độ Ngọc Môn Quan

Vương Chi Hoán

Dịch :

RA MIỀN QUAN ẢI

Hoàng Hà thăm thẳm khoảng không gian

Một giai cô thành, núi bạt ngàn

Hỏi : Sáo rợ Khương sao oán liễu

Hăy nương gió đến Ngọc Môn Quan !

QL tử

Chú giải :

HOÀNG HÀ = Chuyện xưa, Trương Khiên theo lệnh vua, đóng bè đi t́m nguồn sông này. Đi 8 tháng chưa thấy nguồn sông ở đâu, liền về tâu vua rằng, nguồn sông ở tít trên trời. (REF bài Tương Tiến Tửu của Lư Bạch với câu : Hoàng Hà chi thủy thiên thượng lai…) NGỌC MÔN QUAN = Cửu ải phía T.B Trung Quốc. Về mùa đông, chim nhạn từ phía Tây bay qua ải nên cũng gọi là Nhạn Môn Quan.

CÂU (1-4):  Sông Hoàng hà từ trên tầng mây cao thẳm chảy về. Một dải thành côi trên núi cao vạn nhận (1 nhận=3 thước 2). Tiếng địch rợ khương sao oán Dương Liễu mà không theo gió xuân tới ải Ngọc Môn.

 

 

 

(T.26)

 

Nguyên văn :

                                               

             

                       

             

             

                                 

Phiên âm :

TỐNG BIỆT

Túy biệt giang lâu quất dữu hương      

Giang phong dẫn vũ nhập thuyền lương

Ức quân dao tại Tương sơn nguyệt    

Sầu thính thanh viên mộng lư trường

Vương Xương Linh                             

Dịch :

TỐNG BIỆT

Say ! biệt lầu hoa ở bến sông

Gió mưa lạnh lẽo tới thuyền không

Núi Tương nhớ bạn, hồn theo mộng

Nghe vượn kêu than, thổn thức ḷng

QL tử

Chú giải :

TƯƠNG SƠN = núi ở đầu sông Tương, tỉnh Thiểm Tây. TƯƠNG GIANG = Sông phát nguyên từ Quảng Tây, qua Hồ Nam rồi vào hồ Động đ́nh. Văn chương Trung Quốc thường mượn sông Tương để ngụ t́nh ly biệt v́ trong T́nh Sử có câu : “Quân tại Tương giang đầu, Thiếp tại Tương Giang vỹ. Tương tư bất tương tiến. Đồng ẩm Tương Giang thủy. “Chàng ở đầu sông Tương; Thiếp ở cuối sông. Nhớ nhau mà chẳng gặp. Cùng uống nước một ḍng”.

Uống cho say để giă biệt mùi hoa quất trên đầu sông này. Gió trên sông đem về mưa tạt vào thuyền lạnh lẽo. Nhớ bạn lúc trước ở nơi xa xôi dưới vầng trăng núi Tương. Trong giấc mộng dài, nghe tiếng vượn kêu mà buồn mang mác.

 

 

 

(T.26)

 

Nguyên văn :

                                

                                               

             

             

             

             

KỲ II

             

             

             

             

                                

Phiên âm :

T̉NG QUÂN HÀNH

KỲ I

Phong hỏa thành biên bách xích lâu

Hoàng hôn độc tọa hải phong thu

Cánh xuy Khương địch quan san nguyệt

Vô ná kim khuê vạn lư sầu

 

Tỳ bà khởi vũ hoán tân thanh

Tổng thị quan san ly biệt t́nh

Liêu loạn biên sầu đàn bất tận

Cao cao thu nguyệt chiếu Trường Thành

Vương Xương Linh

Dịch :

CA KHÚC T̉NG QUÂN

KỲ I                                                           KỲ II

Trăm thước lầu thành, lửa rực trời                 Tỳ bà múa hát điệu tân thanh

Chiều thu ngồi hóng gió ngàn khơi                Khơi mối quan san, khúc biệt t́nh

Lại nghe Khương địch “trăng biên ải”            Biên ải sầu vương, đàn tiếp nối

Thổn thức pḥng khuê, kẻ cuối trời              Trăng thu vời vợi chiếu Trường Thành

QL tử

 

Chú giải :

PHONG HỎA ĐÀI – Đài, Trạm đốt lửa. Xưa, bên Trung Hoa, từ biên giới phía Bắc về đến Kinh Đô, từng xây những đài cao và khi giặc xâm phạm bờ cơi th́ đốt lửa lên làm hiệu, rồi đài nọ kế tiếp đài kia đốt lên đến kinh đô để làm hiệu.

KỲ (1) : Lửa hiệu từ biên cương được đốt lên trên những lầu cao trăm xích. Vào những buổi hoàng hôn, người lính chiến ngồi một ḿnh hứng gió thu từ biển cả… Rồi lại nghe tiếng địch rợ khương thổi bài “Trăng nơi quan san” th́ làm sao khuây được nỗi nhớ pḥng khuê xa vạn dặm.

KỲ (2) : Tiếng đàn tỳ bà trỗi lên khúc điệu múa hát, một khúc điệu mới. Nội dung vẫn chứa chan mối t́nh ly biệt nơi quan ải. Nỗi sầu thương ai oán nơi biên ải khiến đàn trỗi mại không thôi. Trăng cao ṿi vọi chiếu xuống Trường thành.

 

 

 

(T.26)

 

Nguyên văn :

                                               

             

             

使              

             

Phiên âm :

XUẤT TÁI

Tần th́ minh nguyệt, Hán th́ quan

Vạn lư trường chinh, nhân vị hoàn

Đăn sử Long Thành Phi tướng tại

Bất giao Hồ mă độ Âm San

Vương Xương Linh

Dịch :

RA MIỀN BIÊN ẢI

I. Trăng sáng Tần triều, ải Hán triều              II. Tần đại trăng xanh, Hán quan ải

Về từ chiến địa được bao nhiêu                     Hành quân vạn dặm, ai trở lại ?

Long Thành ví thử c̣n Phi tướng                 Ví thử Long thành, Lư quảng c̣n

Trấn thủ Âm Sơn, giặc dám liều ?                 Ngựa Hồ dám đến Âm Sơn tái ?

QL tử

Chú giải :

TÁI = chỗ biên giới có pḥng thủ. (ẢI = biên giới. QUAN = cửa ải). LONG THÀNH = Thành do Hung nô đắp tức Cổ Tàng thành 7x3 dặm, có h́nh thể như con rồng, sau được gọi là Long Thành. PHI TƯỚNG : chỉ Lư Quảng, người đời Hán, có sức khỏe, cầm quân giỏi. Năm 166TCG, ông ṭng quân đi đánh Hung Nô, lập nhiều công lớn… Hung Nô gọi ông là Tướng Bay = Phi Tướng. Cả cuộc đời binh nghiệp của ông đều liên quan đến cuộc chiến giữa hai nước Trung Hoa và Hung Nô. Người Hung Nô nghe danh ông rất sợ nên miền biên giới do ông trấn thủ vùng Nhạn Môn Quan được yên b́nh. ÂM SƠN = dăy núi phía Bắc TH dài hơn 1.000 dặm là nơi hiểm yếu đời Hán Đường, nay ở đặc khu Tuy Viễn và Nội Mông.

CÂU (1 – 4) =  Vùng trăng Sáng đời Tần; ải quan đời Hán (hai triều đại Tần Thủy Hoàng và nhà Hán qua thời gian chuyển tiếp của Sở Bá Vương Hạng Vơ) Trong những chuyến hành quân đường xa vạn dặm, người CHIẾN SĨ) CHƯA TRỞ VỀ. Ví bằng Phi Tướng Quân ở Long Thành c̣n sống th́ chẳng để ngựa rợ Hồ qua cửa Âm Sơn.

[(Xin xem hai bài Tái thượng khúc và Tái hạ khúc (Ngũ Ngôn cổ phong) cùng một tác giả : Vương Xương Linh)].

 

 

 

(T.29)

 

Nguyên văn :

            

             

             

             

             

                                     

Phiên âm :

TỐNG LƯ THỊ LANG PHÓ THƯỜNG CHÂU

Tuyết t́nh vân tán Bắc phong hàn

Sở thủy Ngô sơn đạo lộ nan

Kim nhật tống quân tu tận túy

Minh triêu tương ức lộ man man

Giả Chí

Dịch :

TIỄN LƯ THỊ LANG ĐI THƯỜNG CHÂU

Tuyết lạnh mây tan gió lạnh lùng

Non Ngô nước Sở, núi cùng sông

Hôm nay tiễn bạn nên say khướt

Mai sớm xa nhau, bước chập chùng

QL tử

Chú giải :

CÂU (1 – 4) = Tuyết hết rơi, mây đă tan : Gió thổi lạnh lùng. (Quăng đường) núi bên Ngô, sông bên Sở đường sá khó đi. Hôm nay, tiễn bạn ra đi ta nên ưống cho thật say (kẻo) sớm mai cùng tưởng nhớ nhau trên bước đường xa thẳm.

 

 

(T.30)

 

Nguyên văn :

                                

             

             

             

             

                                     

Phiên âm :

BIỆT ĐỒNG ĐẠI

Thập lư hoàng vân bạch nhật huân

Bắc phong xuy nhạn tuyết phân phân

Mạc sầu tiền lộ vô tri kỷ

Thiên hạ hà nhân bất thức quân

Cao Thích

Dịch :

TIỄN ĐƯA ĐỒNG ĐẠI

Mười dặm mây vàng dưới ánh chiều

Nhạn theo gió Bắc, tuyết tiêu điều

Đường xa đừng ngại không tri kỷ

V́ bạn trên đời lắm kẻ yêu

QL tử

Chú giải :

HUÂN = Ánh sáng ban chiều rời rớt khi mặt trời đă lặn.

CÂU (1 – 4) = Ánh sáng buổi chiều tà chiếu vào những thước mây vàng dài hàng mười dặm. Gió Bắc đuổi nhạn (về Nam) tuyết rơi lả tả. (Bạn) Đừng buồn v́ không người tri kỷ trên đường. Ai trên đời này chả biết đến bạn ? (Cao Thích muốn nói, chỉ riêng ông buồn v́ nỗi chia tay mà thôi).

 

 

(T.30)

 

Nguyên văn :

                                

殿              

             

             

             

                                 

Phiên âm :

TRƯỜNG TÍN OÁN

Phụng trửu b́nh minh kim điện khai

Tạm tương đoàn phiến cộng bồi hồi

Ngọc nhan bất cập hàn nha sắc

Do đới chiêu dương, nhật ảnh lai

Vương Xương Linh

Dịch :

NỖI OÁN HỜN, CUNG TRƯỜNG TÍN

Nâng chổi sớm mai mở điện vàng

Buông lơi tay quạt, dạ bàng hoàng

Mặt hoa sao sánh tài chim quạ

Mang ánh chiêu dương ánh nắng sang

QL tử

Chú giải :

Cúi đầu cầm chổi mở cửa điện vàng vào buổi sớm mai. Nương chiếc quạt tṛn, ḷng bùi ngùi tấc dạ. (V́ thầm nghĩ rằng) vẻ mặt ngọc ngà của ḿnh chẳng sánh tài chim quạ v́ nó c̣n được mang ánh nắng ở điện Chiêu Dương về.

 

 

(T.32)

 

Nguyên văn :

                                     

             

             

             

             

                                 

Phiên âm :

TRƯỜNG TÍN THU TỪ

Kim tỉnh Ngô đồng thu diệp hoàng

Châu liêm bất quyển dạ lai sương

Huân lung ngọc chẩm vô nhan sắc

Ngọa thính Nam cung thu lậu trường

Vương Xương Linh

Dịch :

BÀI THU TỪ CUNG TRƯỜNG TÍN

Ngô đồng bên giếng lá thu vàng

Chẳng cuốn rèm châu, ngại gió sương

Gối ngọc ḷ hương nào thêm sắc

Nam cung hồ điểm suốt canh trường

QL tử

Chú giải :

Bài “TỪ” (một thể thơ) về cung Trường tín làm vào mùa thu = Mùa thu bên giếng, lá Ngô đồng đă vàng. Không cuốn rèm châu (v́) sương đêm lọt vào. (dù có) ḷ hương (hay) gối ngọc (cũng) chẳng đẹp được. (măi) nằm nghe đồng hồ ở Cung Nam thánh thót.

 

 

 

(T.33)

 

Nguyên văn :

西                                      

             

殿              

             

             

Phiên âm :

TÂY CUNG THU OÁN

Phù Dung bất cập mỹ nhân trang

Thủy điện xuân lai châu thúy hương

Cốc hận hàm t́nh yểm thu thúy

Không huyền minh nguyệt đăi quân vương

Vương Xương Linh

Dịch :

THU OÁN CUNG TÂY

Mỹ nhân trang điểm, vẻ hoa nhường

Thủy điện đưa mùi ngọc thúy hương

Ôm mối hận ḷng, t́nh ấp ủ

Trăng vàng e ấp đợi quân vương

QL tử

Chú giải :

Hoa Phù Dung cũng chẳng bằng vẻ đẹp của mỹ nhân khi trang điểm (rồi). Từ Thủy Điện, gió đưa lại mùi hương ngào ngạt. Cố nén ôm niềm oán hận (tay cầm) che chiếc quạt thu. Vầng trăng tỏ cứ treo lơ lửng trên trời (trong khi ta) đợi quân vương (mà Người đâu tới) !

 

 

(T.34)

 

Nguyên văn :

西                                      

西              

             

             

             

Phiên âm :

TÂY CUNG XUÂN OÁN

Tây cung dạ tĩnh bách hoa hương

Dục quyển châu liêm xuân hận trường

Tà băo Vân Ḥa thâm kiến nguyệt

Mông lung thụ sắc ẩn Chiêu Dương

Vương Xương Linh

Dịch :

XUÂN OÁN CUNG TÂY

Cung Tây, đêm quạnh, ngát mùi hương

Định cuốn rèm châu, những đoạn trường

Ôm chiếc Vân Ḥa soi bóng nguyệt

Cỏ cây thấp thoáng điện Chiêu Dương

QL tử

Chú giải :

Đêm thanh vắng lạnh lùng ở cung Tây, trăm hoa tỏa hương thơm. Muốn cuốn rèm châu, mối hận mùa xuân (muốn) rộn tấc ḷng ôm măi dưới trăng chiếc đàn Vân Ḥa. Cỏ cây ẩn hiện che điện Chiêu Dương.

 

 

(T.35)

 

Nguyên văn :

            

             

             

             

             

Phiên âm :

BA LĂNG DẠ BIỆT VƯƠNG VIÊN NGOẠI

Liễu nhứ phi thời biệt Lạc Dương

Mai hoa phát hậu tại Tam Tương

Thế t́nh dĩ trục phù vân tán

Ly hận không tùy Giang thủy trường

Giả Chí

Dịch :

BAN ĐÊM Ở BA LĂNG, TỪ GIĂ VƯƠNG VIÊN NGOẠI

Phấn liễu tơi bời, biệt Lạc Dương

Hoa mai đua nở, tới Tam Tương

T́nh đời nào khác mây trôi nổi

Ly hận theo ḍng nước vấn vương

QL tử

Chú giải :

LIỄU NHỨ = Phấn hoa liễu. BA LĂNG = Tên quận, thuộc thành Lạc Dương, tỉnh Hồ Nam.

CÂU (1 – 4) : (ta) rời Lạc Dương khi phấn liễu bay tơi tả. Sau lúc hoa mai nở th́ (ta) đă ở Tam Tương. [(Thời gian từ trọng đông đến trọng xuân)] T́nh đời như làn mây nổi – lúc hợp lúc tan. Mối hận biệt ly man mác theo ḍng nước (sông Trường Giang) vương vấn.

 

 

(T.36)

 

Nguyên văn :

                                     

             

             

西              

             

                                     

Phiên âm :

TÔ ĐÀI LĂM CỔ

Cựu uyển hoang đài dương liễu tân

Lăng ca thanh xướng bất thăng xuân

Chỉ kim duy hữu tây giang  nguyệt

Tằng chiêu Ngô Vương cung lư nhân

Lư Bạch

Dịch :

NGẮM CẢNH HOANG TÀN ĐÀI CÔ TÔ

Vườn cũ, đài hoang, liễu nẩy mầm

Bài hát Lăng Ca trỗi khúc xuân

Nay c̣n xót lại Tây Giang nguyệt

Từng chiếu cung Ngô với mỹ nhân

QL tử

Chú giải :

CÔ TÔ  =  Tên núi có cung điện do Ngô Phù Sai xây cho Tây Thi ở; người đẹp được Vua Câu Tiễn Vườn Thượng uyển trong cung điện cũ có hàng liễu mơn mởn; (Xưa, khi) khúc hát Lăng ca nổi lên th́ dâng khi thua trận. LĂNG CA = bài hát dân gian thuở trước. TÂY GIANG = Trường Giang = Dương Tử giang.

CÂU (1 – 4) : tươi đẹp hơn cảnh xuân. Ngày nay chỉ c̣n lại vầng trăng trên sông Tây đă từng chiếu người trong cung Ngô Vương (tức nàng Tây Thi).

 

 

(T.37)

 

Nguyên văn :

                                

             

             

              

             

                                               

Phiên âm :

TẶNG UÔNG LUÂN

Lư Bạch thừa chu tương dục hành

Hốt văn ngạn thượng “Đạp Ca” thanh

Đào hoa đàm thủy thâm thiên xích

Bất cập Uông luân tống ngă t́nh

Lư Bạch

Dịch :

TẶNG UÔNG LUÂN

Lư Bạch trên thuyền sắp khởi hành

Chợt nghe trên bến “Đạp Ca” thanh

Đào Hoa thăm thẳm sâu ngàn thước

Đâu sánh Uông Luân, tấm thịnh t́nh

QL tử

Chú giải :

ĐẠP CA = Bài ca vừa hát vừa dậm chân làm nhịp.

CÂU (1-4) Lư Bạch lên thuyền vừa định khởi hành. Bỗng nghe trên bờ tiếng hát bài “Đạp Ca”. Đầm “Đào Hoa” sâu ngàn trượng cũng chẳng (sâu xa, nồng nàn)bằng t́nh Uông Luân đối với ta.

 

 

(T.38)

 

Nguyên văn :

                                     

             

             

             

             

                                               

Phiên âm :

SƠN TRUNG VẤN ĐÁP

Vấn dư hà sự thê bích san

Tiếu nhi bất đáp tâm tự nhàn

Đào hoa lưu thủy yểu nhiên khứ

Biệt hữu thiên địa phi nhân gian

Lư Bạch

Dịch :

HỎI NHAU TRONG NÚI

Hỏi rằng : “Sao ở núi cùng non” ?

Chỉ cười chẳng đáp : Tấm ḷng son !